1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đặc điểm sinh trưởng phát triển, năng suất của một số giống đậu tương và ảnh hưởng của bào tử nấm beauveria bassiana kết hợp với chế phẩm emina đến giống đậu tương đvn6

93 250 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 1,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM NGUYỄN THỊ LUYẾN ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN, NĂNG SUẤT CỦA MỘT SỐ GIỐNG ĐẬU TƯƠNG VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA BÀO TỬ NẤM BEAUVERIA BASSIANA KẾT HỢP VỚI CHẾ PHẨM

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ LUYẾN

ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN, NĂNG SUẤT CỦA MỘT SỐ GIỐNG ĐẬU TƯƠNG VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA BÀO TỬ NẤM BEAUVERIA BASSIANA KẾT HỢP VỚI CHẾ PHẨM EMINA ĐẾN GIỐNG ĐẬU TƯƠNG ĐVN6 TRỒNG VỤ ĐÔNG 2014 TẠI YÊN PHONG- BẮC NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÀ NỘI - NĂM 2015

Trang 2

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ LUYẾN

ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN, NĂNG SUẤT CỦA MỘT SỐ GIỐNG ĐẬU TƯƠNG VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA BÀO TỬ NẤM BEAUVERIA BASSIANA KẾT HỢP VỚI CHẾ PHẨM EMINA ĐẾN GIỐNG ĐẬU TƯƠNG ĐVN6 TRỒNG VỤ ĐÔNG 2014 TẠI YÊN PHONG- BẮC NINH

Chuyên ngành : Khoa học cây trồng

Người hướng dẫn khoa học

TS Phạm Tuấn Anh

HÀ NỘI - NĂM 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong thí nghiệm nghiên cứu này là trung thực vẫn chưa được sử dụngg để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện nghiên cứu này đã được cảm ơn

và các thông tin trích dẫn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng 12 năm 2015

Học viên

Nguyễn Thị Luyến

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Với tấm lòng chân thành tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Phạm Tuấn Anh – người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, động viên tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài luận văn tốt nghiệp của mình

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong Bộ môn Sinh lý thực vật và khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi để hoàn thành báo cáo tốt nghiệp

Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành sâu sắc tới người thân và các anh chị em trong nhóm thực tập cùng nhiều bạn bè khác đã cộng tác, giúp đỡ và khích lệ tôi trong suốt quá trình tiến hành đề tài

Trong quá trình làm đề tài, cũng như học tập và bài khóa luận còn có những thiếu xót mong thầy cô và mọi người góp ý, bổ sung để đề tài nghiên cứu này được hoàn tất

Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 28 tháng 1 năm 2016

Học viên

Nguyễn Thị Luyến

Trang 5

1.2 Mục đích, yêu cầu của đề tài 2

2.1 Nguồn gốc và giá trị của cây đậu tương 4

2.1.2 Giá trị của cây đậu tương 5 2.2 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới và ở Việt Nam 5 2.2.1 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới 5 2.2.2 Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam 6 2.3 Tình hình nghiên cứu chọn tạo giống đậu tương trên thế giới và ở Việt Nam 8 2.3.1 Kết quả nghiên cứu chọn tạo giống đậu tương trên thế giới 8 2.3.2 Kết quả nghiên cứu chọn tạo giống đậu tương tại Việt Nam 9 2.4 Một số kết quả nghiên cứu về phân bón cho cây đậu tương 11 2.5 Kết quả nghiên cứu về chế phẩm emina 14 2.6 Kết quả nghiên cứu về nấm beauveria bassiana 16 2.7 Tình hình sản xuất nông nghiệp và đậu tương của tỉnh Bắc Ninh 20

Phần 3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 22

3.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 22 3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 22 3.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 23 3.2 Nội dung nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu 23

3.2.2 Phương pháp nghiên cứu 24

Trang 6

Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 30

4.1 Đặc điểm sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống đậu tương

trồng vụ đông - 2014 tại Yên Phong- Bắc Ninh 30 4.1.1 Động thái tăng trưởng chiều cao thân chính của các giống đậu tương 30 4.1.2 Độngthái ra lá của các giống đậu tương 31 4.1.3 Khả năg phân cành của các giống đậu tương 33 4.1.4 Khả năng hình thành nốt sần của các giống đậu tương 34 4.1.5 Đặc điểm diện tích lá (cm2/cây) và chỉ số diện tích lá LAI (m2lá/m2đất) của cây

4.1.6 Hiệu suất quang hợp của các giống đậu tương 37 4.1.8 C ác yếu tố cấu thành năng suất của các giống đậu tương 39 4.1.9 Năng suất của một số giống đậu tương 41 4.2 Ảnh hưởng của hỗn hợp bào tử nấm beauveria bassiana và chế phẩm emina

đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống đậu tương đvn6 trồng vụ đông 2013 tại Yên Phong- Bắc Ninh 43 4.2.1 Ảnh hưởng của hỗn hợp bào tử nấm Beauveria bassiana và chế phẩm EMINA

đến động thái tăng trưởng chiều cao thân chính của giống đậu tương ĐVN6 43 4.2.2 Ảnh hưởng của chế phẩm emina và bào tử nấm beauveria bassiana đến động

thái ra lá của giống đậu tương ĐVN6 44 4.2.3 Ảnh hưởng của chế phẩm EMINA và bào tử nấm Beauveria bassiana đến khả

năng phân cành của giống đậu tương ĐVN6 45 4.2.4 Ảnh hưởng của chế phẩm EMINA và bào tử nấm Beauveria bassiana đến sự

hình thành nốt sần của giống đậu tương ĐVN6 46 4.2.5 Ảnh hưởng của chế phẩm EMINA và bào tử nấm Beauveria bassiana đến diện tích

lá và chỉ số diện tích lá (m2lá/m2đất) của giống đậu tương ĐVN6 48

4 2.6 Ảnh hưởng của chế phẩm EMINA và bào tử nấm Beauveria bassiana đến hiệu

suất quang hợp của giống đậu tương ĐVN6 49 4.2.7 Ảnh hưởng của chế phẩm EMINA và bào tử nấm Beauveria bassiana đến các

yếu tố cấu thành năng suất của giống đậu tương ĐVN6 50 4.2.8 Ảnh hưởng của chế phẩm EMINA và bào tử nấm Beauveria bassiana đến năng

suất của giống đậu tương ĐVN6 51

Trang 7

4.2.9 Ảnh hưởng của chế phẩm EMINA và bào tử nấm Beauveria bassiana đến mức

độ nhiễm sâu bệnh hại của của giống đậu tương ĐVN6 52 4.2.10 Hiệu quả kinh tế của giống đậu tương ĐVN6 khi xử lý bào tử nấm Beauveria

bassiana kết hợp với chế phẩm EMINA 54

Trang 8

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT

HSQH : Hiệu suất quang hợp LAI : Chỉ số diện tích lá NSTS : Nốt sần tổng số NSHH : Nốt sần hữu hiệu NSLT : Năng suất lý thuyết NSTT : Năng suất thực thu

P 1000 hạt : Khối lượng 1000 hạt Trđ : Triệu đồng

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới từ năm 2003- 2013 5

Bảng 2.2 Tình hình sản xuất đậu tương của Việt Nam 7

Bảng 2.3 Tình hình sản xuất đậu tương từ 2010-2014 của Bắc Ninh 21

Bảng 4.1 Động thái tăng trưởng chiều cao thân chính của đậu tương 31

Bảng 4.2 Ảnh hưởng của một số chế phẩm đến động thái ra lá đậu tương 32

Bảng 4.3 Khả năng phân cành của các giống đậu tương 33

Bảng 4.4 Khả năng hình thành nốt sần của một số giống đậu tương 35

Bảng 4.5 Diện tích lá (LA, cm2/cây) và chỉ số diện tích lá (LAI, m2lá/m2đất) của một số giống đậu tương 36

Bảng 4.6 Hiệu suất quang hợp của các giống đậu tương 38

Bảng 4.8 Đặc điểm các yếu tố cấu thành năng suất của các giống đậu tương 40

Bảng 4.9 Đặc điểm năng suất của các giống đậu tương 42

Bảng 4.10 Ảnh hưởng của hỗn hợp bào tử nấm Beauveria bassiana và chế phẩm EMINA đến động thái tăng trưởng chiều cao thân chính của giống đậu tương ĐVN6 44

Bảng 4.11 Ảnh hưởng của chế phẩm EMINA và bào tử nấm B bassiana đến động thái ra lá của giống đậu tương ĐVN6 45

Bảng 4.12 Ảnh hưởng của chế phẩm EMINA và bào tử nấm B bassiana đến khả năng phân cành của giống đậu tương ĐVN6 46

Bảng 4.13 Ảnh hưởng của chế phẩm EMINA và bào tử nấm B bassiana đến sự hình thành nốt sần của giống đậu tương ĐVN6 47

Bảng 4.14 Ảnh hưởng của chế phẩm EMINA và bào tử nấm B bassiana đến diện tích lá và chỉ số diện tích lá của giống đậu tương ĐVN6 49

Bảng 4.15 Ảnh hưởng của chế phẩm EMINA và bào tử nấm B bassiana đến hiệu suất quang hợp của giống đậu tương ĐVN6 49

Bảng 4.16 Ảnh hưởng của chế phẩm EMINA và bào tử nấm Bb đến các yếu tố cấu thành năng suất của giống đậu tương ĐVN6 50

Bảng 4.17 Ảnh hưởng của chế phẩm EMINA và bào tử nấm B bassiana đến năng suất của giống đậu tương ĐVN6 52

Trang 10

Bảng 4.18 Ảnh hưởng của chế phẩm EMINA và bào tử nấm B bassiana đến mức độ

nhiễm sâu bệnh hại của giống đậu tương ĐVN6 53 Bảng 4.19 Hiệu quả kinh tế của của một số giống đậu tương 54

Trang 11

PHẤN 1 MỞ ĐẦU

1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Cây đậu tương (Glycine max (L.) Merrill) là cây thực phẩm, cây công nghiệp

ngắn ngày quan trọng có giá trị dinh dưỡng cao và có hiệu quả kinh tế lớn Đậu tương được sử dụng để cung cấp thực phẩm cho con người và là nguyên liệu cho công nghiệp chế biến

Cây đậu tương sinh trưởng được trên các loại đất khác nhau và có khả năng cải tạo đất tốt, nhờ sự hình thành nốt sần có vi khuẩn cộng sinh cố định đạm từ N2 khí, bộ

rễ đậu tương còn tiết ra các axit hữu cơ có tác dụng phân giải các hợp chất phân vô cơ khó tan thành dễ tan Cây đậu tương còn có có tác dụng cải tạo đất, sau khi thu hoạch, thân lá đậu tương cũng là nguồn phân xanh hữu cơ giúp tăng cường hàm lượng mùn, nâng cao độ phì nhiêu của đất (Đường Hồng Dật, 2012)

Trong những năm gần đây, các nhà khoa học đã quan tâm nghiên cứu tuyển chọn giống có năng suất và chất lượng cao để bổ sung các giống đậu tương mới có năng suất, phẩm chất cao hơn, chống chịu tốt, thời gian sinh trưởng ngắn phù hợp với cơ cấu mùa vụ phù hợp với điều kiện sinh thái của các vùng ở Việt Nam (Trần Đình Long và cs, 2002) Để công tác chọn giống có hiệu quả thì bước đầu là khảo sát tập đoàn, trên cơ sở đó đề xuất các dòng, giống góp phần cho công tác chọn tạo Tuy nhiên, để phát huy được tiềm năng, năng suất và chất lượng của giống thì cần áp dụng các biện pháp kĩ thuật bón phân, tưới nước hợp lý và kết hợp với kỹ thuật thâm canh tiên tiến như sử dụng các chế phẩm bón lá, chất điều tiết sinh trưởng cho cây đậu tương

Để đạt được mục tiêu trên ngoài việc tăng cây đậu tương ở cả diện tích, năng suất và sản lượng nhờ ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học và các tiến bộ khoa học

kỹ thuật mới nhằm thúc đẩy đậu tương phát triển và giảm thiểu ảnh hưởng của sâu bệnh gây ra thì một trong các ứng dụng mới trong sản xuất nông nghiệp hiện nay là sử dụng phân hữu cơ vi sinh, chế phẩm sinh học, nấm ký sinh với sâu hại (Nguyễn Quang Thạch và cs., 2001; Phạm Văn Toản, 2002; Phạm Thị Thùy và cs., 2004; Phạm Kim Hoàn, 2008; Lương Đức Phẩm, 2011) Việc sử dụng các chế phẩm sinh học để phòng và diệt trừ sâu bệnh hại cây trồng có ưu điểm vượt trội về độ thân thiện với môi trường, hệ sinh thái và sức khỏe con người Thuốc diệt côn trùng sinh học được coi là

sự lựa chọn có tiềm năng lớn trong xu hướng phát triển nền nông nghiệp bền vững

Trang 12

Nấm gây bệnh cho côn trùng là một nhân tố hữu dụng trong hệ thống quản lý sâu hại tổng hợp và đặc biệt là những vùng nhiệt đới ẩm Hơn nữa cơ chế gây hại của nấm là bào tử nấm nảy mầm và tấn công qua da côn trùng, vì vậy nấm gây bệnh cho côn trùng tấn công được cả các pha trứng và nhộng của một số loài côn trùng và đặc biệt quan trọng là chúng còn xâm nhập mạnh vào những côn trùng chích hút (Phạm Thị Thùy và cs 2004)

Việc ứng dụng đồng thời các chế phẩm sinh học vừa giúp cây hấp thu tốt các chất dinh dưỡng từ đất vừa mang tính chất cải tạo đất, nâng cao độ phì, vừa có thể phòng trừ sâu bệnh hại cây trồng mà vẫn đảm bảo an toàn cho môi sinh, môi trường

và mang lại hiệu quả kinh tế cao

Trên cơ sở đó, chúng tôi tiến hành đề tài: “Đặc điểm sinh trưởng phát triển,

năng suất của một số giống đậu tương và ảnh hưởng của bào tử nấm Beauveria bassiana kết hợp với chế phẩm EMINA đến giống đậu tương ĐVN6 trồng vụ Đông

2014 tại Yên Phong- Bắc Ninh”

1.2 MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI

1.2.1 Mục đích của đề tài

- Xác định được giống đậu tương có đặc điểm sinh trưởng phát triển,năng suất phù hợp cho vụ Đông ở Yên Phong- Bắc Ninh

- Đánh giá được ảnh hưởng của bào tử nấm Beauveria bassiana kết hợp với chế

phẩm EMINA cho giống đậu tương ĐVN6 trồng vụ Đông 2014 tại Yên Phong – Bắc Ninh từ đó góp phần vào việc xây dựng quy trình thâm canh tăng năng suất cây đậu tương

1.2.2 Yêu cầu của đề tài

- Tìm hiểu đặc điểm, sinh trưởng phát triển và năng suất của một số giống đậu tương trồng tại Yên Phong – Bắc Ninh

- Đánh giá ảnh hưởng của bào tử nấm Beauveria bassiana kết hợp với chế

phẩm EMINA đến sinh trưởng phát triển, năng suất và sâu bệnh hại đối với giống đậu tương ĐVN6 trồng vụ Đông năm 2014 tại Yên Phong- Bắc Ninh

1.2.3 Ý nghĩa của đề tài

- Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ bổ sung thêm tài liệu về những loại giống có tiềm năng năng suất cao và ảnh hưởng của các chế phẩm vi sinh vật đến sinh trưởng phát triển của cây đậu tương

Trang 13

- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ giúp lựa chọn được

giống tốt nhất và xác định được ảnh hưởng của bào tử nấm Beauveria bassiana kết

hợp với chế phẩm EMINA đến giống đậu tương ĐVN6 trồng vụ Đông tại Yên Phong- Bắc Ninh

1.2.4 Giới hạn đề tài

Đề tài giới hạn tiến hành với 05 số giống đậu tương và ảnh hưởng của bào tử

nấm Beauveria bassiana kết hợp với chế phẩm EMINA đến giống đậu tương ĐVN6

trồng vụ Đông 2014 tại Yên Phong- Bắc Ninh

Trang 14

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 NGUỒN GỐC VÀ GIÁ TRỊ CỦA CÂY ĐẬU TƯƠNG

2.1.1 Nguồn gốc

Căn cứ vào Thần nông bản thảo kinh và một số di tích cổ như hình khắc trên

đá, mai rùa, xương súc vật,…thì cây đậu đã được con người biết đến cách đây 5000 năm và được trồng trọt khoảng thế kỷ thứ XI trước công nguyên ( Đoàn Thị Thanh Nhàn và cs., 1996)

Đậu tương là cây trồng có nguồn gốc từ Trung Quốc Lịch sử đã ghi nhận là

đậu tương có mặt ở Châu Á cách đây trên 5000 năm Fukada (1933), Hymowitz

(1970) đã kết luận : Đậu tương xuất hiện đầu tiên ở dạng cây thuần hóa từ 1100 trước công nguyên, tại vùng Đông Bắc Trung Quốc Từ phía Bắc Trung Quốc đậu tương phát triển sang Triều Tiên, Nhật Bản, thế kỉ 17 thâm nhập sang Châu Âu Theo Nogata, cây đậu tương được nhập vào Triều Tiên và Nhật Bản khoảng 200 năm trước

và sau công nguyên (Dẫn theo oàn Thị Thanh Nhàn và cs., 1996)

Ở chây Mỹ, cây đậu tương được nói đến từ năm 1804, nhưng mãi đến đầu thế

kỷ XX (1924) mới được trồng, sau khi được coi là cây trồng có giá trị, sản xuất đậu tương ở Mỹ đã phát triển mạnh trong thế kỷ XX, và trong nhiều năm được coi là cây thức ăn gia súc quan trọng (Đoàn Thị Thanh Nhàn và cs., 1996)

Ở Viên (thủ đô Áo), Friedrich và Haberlandt đã tích cực tuyên truyền việc dùng đậu tương làm thực phẩm và thức ăn gia súc

Ở Việt Nam, đậu tương được trồng đã lâu đời, từ thế kỉ XIII Lê quý Đôn đã ghi chép lại trong sách “Vân đài loại ngữ” đậu tương trồng ở một số tỉnh vùng Đông Bắc, miền Bắc nước ta Với các sản phẩm chính của đậu tương được nhân dân chế biến phổ biến là: Đậu phụ, cháo, tương, dầu, sữa, làm bột trong một số loại thực phẩm và làm kẹo,

bánh,…( http://tailieu.vn/doc/nguon-goc-cay-dau-tuong )

Tính chất hiện đại của lịch sử trồng trọt đậu tương không những ở chỗ phát hiện ra công dụng nhiều mặt của hạt đậu tương mà còn do tính mới mẻ trên những địa bàn sản xuất mới và các tiến bộ khoa học đặt ra cho các nước sản xuất đậu tương cổ truyền nói riêng và các nước khác trên thế giới nói chung

Trang 15

2.1.2 Giá trị của cây đậu tương

Sản phẩm đậu tương được sử dụng dưới dạng khác nhau, chủ yếu là: hạt, bột và dầu Từ 3 sản phẩm chủ yếu của đậu tương, người ta có thể chế biến và sản xuất ra hàng trăm loại chế phẩm khác nhau phục vụ cho công nghiệp và cho người tiêu dùng

Trong sản xuất nông nghiệp ở nhiều nước trên thế giới, cây đậu tương giữ vị trí rất quan trọng vì giá trị nhiều mặt của loài cây trồng này Trong các giá trị khác nhau của cây đậu tương có thể nêu những giá trị chủ yếu: Cây đậu tương có giá trị kinh tế cao, là cây cho dầu thực vật quan trọng, hạt đậu tương là loại thức ăn giàu đạm để phát triển chăn nuôi, trồng đậu tương làm cho đất tốt lên, được sử dụng trong hệ thống luân canh, sản phẩm đậu tương là thực phẩm dinh dưỡng, ức chế khả năng phân hủy protein, và dùng sản phẩm đậu tương như vị thuốc phòng bệnh,

2.2 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT ĐẬU TƯƠNG TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM 2.2.1 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới

Đậu tương là cây lấy hạt, cây có dầu quan trọng bậc nhất của thế giới, đứng hàng thứ 4 sau cây lúa mì, lúa nước và ngô Do khả năng thích ứng khá rộng nên nó đã được trồng ở khắp năm châu lục, nhưng tập trung nhiều nhất là châu Mỹ 73,03%, tiếp đến là châu Á 23,15% …Hàng năm trên thế giới trồng khoảng 54-56 triệu ha đậu tương với sản lượng khoảng 103-114 triệu tấn (FAO,1992) Các nước trồng diện tích nhiều là Mỹ 23,6 triệu ha với sản lượng 59,8 triệu tấn, Braxin có 9,4 triệu ha với sản lượng là 9,7 triệu tấn Achentina 4,9 triệu ha với sản lượng là 11,3 triệu tấn (Phạm Văn Thiều, 2009)

Bảng 2.1 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới từ năm 2003- 2013

Năm Diện tích Năng suất Sản lượng

(triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn)

Trang 16

Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới trong những năm gần đây được thể hiện qua bảng trên:

Số liệu thống kê trên cho thấy, diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương trên thế giới có chiều hướng tăng liên tục qua các năm

Trong khoảng thời gian 10 năm, diện tích trồng đậu tương trên toàn thế giới năm 2013 là 111,27 triệu ha, tăng 19,68 triệu ha ( tăng 21,49% ) so với năm 2004 và 14,83 triệu ha (tăng 15.87% ) so với năm 2008 Cùng với việc mở rộng diện tích, năng suất đậu tương trên thế giới cũng không ngừng tăng cao Năng suất đậu tương bình quân của toàn thế giới năm 2013 đạt 24,84 tạ/ha tăng so với năm 2004 là 2.4 tạ/ha Đặc biệt năm 2010 năng suất đậu tương đã đạt 25,78 tạ/ha, đạt mức năng suất đậu tương bình quân thế giới cao nhất theo thống kê của FAO cho đến nay Sản lượng đậu tương trên thế giới tăng khá ổn định, đến năm 2010 đạt 265,04 triệu tấn, tăng gần 1,29 lần so với năm 2004 Sự phát triển của đậu tương trong giai đoạn này được giải thích bằng việc ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất Đến năm 2011, sản lượng đậu tương có xu hướng giảm nhẹ do năng suất bình quân giảm so với năm

2010 (giảm 0,55 tạ/ha) Tuy nhiên đến năm 2013, sản lượng đậu tương đã tăng đáng kể ( tăng 11,37 triệu tấn so với năm 2010) Theo thống kê mới nhất của FAO, diện tích đậu tương của thế giới tới năm 2013 đã đạt 111,27 triệu ha với năng suất 24,84 tạ/ha

và sản lượng 276,41 triệu tấn

Theo báo cáo Cung cầu Nông nghiệp của Mỹ năm 2013 thì sản lượng đậu tương của Mỹ là 89,48 triệu tấn, cao hơn so với năm 2012 điều này càng chứng tỏ cây đậy tương ngày càng được quan tâm và chú trọng phát triển Tính đến thới điểm năm 2013, Brazil là cường quốc đứng thứ 2 sau Mỹ về sản xuất đậu tương, diện tích trống đậu tương của Brazil là 27,86 triêu ha với năng suất 29,32 tạ/ha, đạt sản lượng 81,70 triệu tấn

2.2.2 Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam

Việt Nam có lịch sử trồng đậu tương lâu đời, nhưng trước đây sản xuất đậu tương chỉ bó hẹp trong phạm vi nhỏ thuộc các tỉnh phía Bắc như Cao Bằng, Lạng Sơn Hiện nay cả nước đã hình thành 7 vùng sản xuất đậu tương Trong đó, trung du miền núi phía Bắc là vùng có diện tích trồng đậu tương lớn nhất (chiếm 37,1% diện tích gieo trồng cả nước), tiếp theo là vùng đồng bằng sông Hồng với 27,21% Năng suất đậu tương cao nhất nước ta là vùng đồng bằng sông Cửu Long, bình quân 22,29 tạ/ha trong vụ Đông Xuân và 29,71 tạ/ha trong vụ Mùa Vùng trung du miền núi phía Bắc có diện tích trồng đậu tương lớn nhất cả nước lại có năng suất thấp nhất, chỉ đạt

Trang 17

trên 10 tạ/ha Theo nghiên cứu của Lê Quốc Hưng (2007) nước ta có tiềm năng rất lớn để mở rộng diện tích trồng đậu tương ở cả 3 vụ: vụ Xuân, vụ Hè và vụ Đông với diện tích có thể lên tới 1,5 triệu ha, trong đó trung du miền núi phía Bắc chiếm khoảng 400.000 ha

Tình hình sản xuất đậu tương ở nước ta trong những năm gần đây được thể hiện

ở bảng sau:

Việt Nam được xếp hàng thứ 6 về sản xuất đậu tương ở Châu Á (sau các nước Trung Quốc, Ấn Độ, Indonexia, Triều Tiên, Thái Lan) Trên 40% sản phẩm đậu tương của nước ta được sử dụng để sản xuất dầu thực vật, phần còn lại được dùng làm thực phẩm cho người, chế biến thức ăn chăn nuôi và để làm giống

Bảng 2.2: Tình hình sản xuất đậu tương của Việt Nam

Diện tích gieo trồng (nghìn ha) 181,1 119,6 117,8 120 130

và 3,2 triệu tấn năm 2015 Sản lượng dầu đậu tương của Việt Nam năm 2013 đã giảm 9,8% do nhu cầu nghiền đậu tương thấp hơn so với dự kiến, lượng xuất khẩu cũng giảm xuống còn 13% so với năm ngoái do sản lượng thấp

Năm 2013, nước ta nhập khẩu khoảng 1,26 triệu tấn đậu tương, giảm, giảm 13,7% so với năm trước do nhu cầu xay xát giảm, trong đó nhập khẩu từ Hoa kỳ khoảng 556 nghìn tấn, giảm 3,7% so với năm 2012 nhưng tăng 145% so với năm 2011 (do nhu cầu gia tăng từ hai cơ sở nghiền đậu tương và từ các ngành công nghiệp thực

Trang 18

phẩm và thức ăn chăn nuôi)

Điều kiện thời tiết không thuận lợi đã khiến sản lượng đậu tương nước ta năm

2013 giảm 3% so với năm 2012, xuống còn 168 nghìn tấn Mưa bão nặng nề và kéo dài suốt năm đã khiến năng suất cây trồng và diện tích thu hoạch đậu tương (bảng 2.2) Quy mô sản xuất nhỏ lẻ so với các loại cây trồng khác chính là nguyên nhân khiến ngành đậu tương vẫn không đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ trong nước

Ngày 16 tháng 5 năm 2013, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Thông

tư số 08/2013/TT-BTNMT quy định trình tự, thủ tục cấp và thu hồi Giấy chứng nhận

an toàn sinh học đối với cây trồng biến đổi gen, từ đó cho phép người nông dân được canh tác các loại cây này Sau khi được chấp thuận, các giống ngô sinh học đã được canh tác thương mại tại Việt Nam Như vậy, sản lượng trên mỗi héc-ta cho các giống ngô mới sẽ vượt so với đậu tương và càng khiến cho khả năng cạnh tranh của đậu tương suy giảm

Từ khi gia nhập Hiệp hội bảo hộ giống cây trồng quốc tế (UPOV) năm 2006, Việt Nam đã đăng kí 90 giống/loại cây trồng, bao gồm đậu tương và lạc (chủ yếu là các giống địa phương) để bảo vệ giống cây trồng Đến năm 2016, theo cam kết với UPOV, Việt Nam phải hoàn thành bảo hộ cho tất cả các loài cây trồng Điều này sẽ thúc đẩy các nhà khoa học Việt Nam tiếp tục nghiên cứu để cho ra các loại giống tốt hơn, trong đó có đậu tương

2.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CHỌN TẠO GIỐNG ĐẬU TƯƠNG TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM

2.3.1 Kết quả nghiên cứu chọn tạo giống đậu tương trên thế giới

Hiện nay, trên thế giới ở những quốc gia có nền khoa học kỹ thuật tiên tiến, những nghiên cứu mới nhất về đậu tương đều tập trung về tích hợp hệ gen, xác lập bản

đồ di truyền qua đó tìm hiểu chức năng gen, xác định gen ứng cử viên của từng tính trạng và sử dụng phương pháp marker phân tử để chọn tạo giống mới có đặc tính mong muốn, trong đó đóng góp nhiều nhất có Mỹ và Trung Quốc Theo tác giả Trần Đình Long (2002), hiện nay nguồn gen đậu tương của thế giới được lưu trữ chủ yếu ở

14 nước: Mỹ, Trung Quốc, Australia, Pháp, Nigienia, Ấn Độ, Indonexia, Nhật Bản, Triều Tiên, Nam Phi, Thụy Điển, Thái Lan và Liên Xô cũ với tổng 45.038 giống Nhìn chung những quốc gia sản xuất cũng như xuất – nhập khẩu đậu tương lớn trên thế giới cũng đồng thời là những nước rất chú trọng nghiên cứu về cây trồng này

Đối với khu vực châu Á, Trung tâm rau màu châu Á (AVRDC) đã thiết lập hệ thống đánh giá (Soybean – Evaluation tricel – Aset), giai đoạn 1 đã phân phát được

Trang 19

trên 20.000 giống đến 546 nhà khoa học của 164 quốc gia nhiệt đới và á nhiệt đới Kết quả đánh giá giống đậu tương của Aset đã được đưa vào mạng lưới sản xuất được 21 giống ở trên 10 quốc gia (Nguyễn Thị Út, 2003)

Từ năm 1949 – 2003, Trung Quốc đã chọn tạo thành công khoảng 1000 giống đậu tương và liên tục đưa vào sản xuất Hầu hết các giống này đều có tiềm năng năng suất cao, chất lượng tốt có khả năng chống chịu sâu bệnh và điều kiện bất thuận của môi trường đặc biệt là giống Xindadou

2.3.2 Kết quả nghiên cứu chọn tạo giống đậu tương tại Việt Nam

Với tiềm năng phát triển cây vụ Đông đặc biệt là trên các vùng đất trồng 2 vụ lúa của vùng đồng bằng Bắc Bộ Trong thời gian gần đây, các nhà khoa học đã tập trung cho việc chọn tạo các giống đậu tương cho vụ Đông, cũng như các biện pháp thâm canh đậu tương phù hợp với từng vùng sinh thái, địa phương khác nhau Với những nổ lực đó, đã có một số giống đậu tương phù hợp cho vụ Đông tại đồng bằng Sông Hồng, tuy nhiên số lượng giống đang còn hạn chế

Ở Việt Nam, công tác chọn tạo giống được quan tâm nhiều kể từ khi đất nước được đổi mới, đặc biệt là trong những năm gần đây nhiều giống đậu tương được chọn tạo ra bằng các con đường khác nhau như lại hữu tính, xử lí đột biến, chọn lọc cá thể, thu thập và nhập nội phương pháp sử dụng có hiệu quả là lai hữu tính

Trong những năm gần đây, công tác chọn tạo giống đậu tương liên tục được phát triển, nhiều giống đậu tương mới được đưa vào sản xuất đồng thời các phương pháp chọn tạo giống mới cũng rất phong phú, nhất là lai hữu tính đã thu được nhiều thành công đáng kể, các giống đậu tương được tạo ra bằng lai hữu tính như D140, DT93, TL57 Bằng phương pháp lai hữu tính tác giả Vũ Đình Chính và các cộng sự năm 1982 đã lai tạo ra giống đậu tương D140 từ tổ hợp lai DL02 x ĐH4

Viện Di truyền Nông nghiệp đã tạo ra dòng lai từ tổ hợp DT80 x DT76, đặc điểm là cứng cây, hạt to (180-220g), không nứt hạt, năng suất cao, thời gian sinh trưởng 93-96 ngày, thích hợp với vụ Xuân và vụ Đông Năm 1999, Bộ môn cây công nghiệp trường Đại Học Nông nghiệp Hà nội và Viện khoa học kĩ thuật nông nghiệp Việt Nam đã chọn từ tổ hợp lai (821 x 134 Nhật Bản) tạo giống ĐT93 thích hợp cho

vụ hè Bên cạnh đó, Viện cây lương thực và cây thực phẩm đã chọn ra từ tổ hợp lai ĐH4 x TH84 tạo ra giống ĐT93 thích hợp cho vụ xuân vùng đồng bằng sông Hồng, giống TL57 cũng do Viện này tạo ra có khả năng chịu rét, năng suất 15-20 tạ/ha, thích hợp cho vụ xuân đồng bằng Bắc Bộ

Trang 20

Tác giả Nguyễn Thị Văn (1996) chọn lọc từ tổ hợp lai ĐH4 x cúc Lục Ngạn đã tạo ra giống DN42, giống được chọn lọc từ vụ xuân 1998-1990 bằng phương pháp chọn lọc cá thể

Bên cạnh việc chọn tạo giống bằng phương pháp lai hữu tính, việc sử dụng các tác nhân đột biến cũng được các nhà chọn tạo giống quan tâm Một trong những người đầu tiên thành công trong phương pháp này là Viện sĩ, TSKH Trần Đình Long Năm

1978, tác giả dùng tia Y và các tác nhân gây đột biến tác động vào vật liệu nghiên cứu

từ đó phân lập ra các dòng, đánh giá, chọn lọc các dòng có năng suất cao, chịu được khí hậu nóng như M103 được chọn từ dòng đột biến của giống V70 năm 1987 (Ngô Thế Dân và cộng sự,1999)

Năm 1985, Mai Quang Vinh và cộng sự bằng phương pháp xử lí đột biến các tác nhân tia Y, nguồn Co60 đã tạo ra giống DT84 từ dòng lai 8-33 Năm 1987, Viện Khoa học kĩ thuật nông nghiệp Việt Nam đã chọn được giống AK03 từ dòng G2261 nhập nội có thời gian sinh trưởng 80-85 ngày, năng suất trung bình 13-16 tạ/ha thích hợp cho vụ đông Trung tâm nghiên cứu đậu đỗ Viện khoa học kĩ thuật nông nghiệp Việt Nam đã chọn lọc được giống đậu tương AK06 từ nguồn nguyên liệu do trường đại học nông nghiệp cung cấp, qua 5 năm khảo nghiệm(1990-1996) được đánh giá là giống có khả năng sinh trưởng phát triển tốt, năng suất cao và ổn định có thể trồng 3 vụ/năm, nhiễm nhẹ các loại sâu bệnh, chống chịu với điều kiện bất thuận Tập thể tác giả Tạ Kim Bích, Trần Đình Long, Nguyễn Văn Viết và Nguyễn Thị Bình đã chọn lọc

cá thể mẫu giống GC00138 kết quả đã tạo ra giống ĐT2000

Các nhà khoa học trường đại học James cook CSIRO, trường đại học Thái Nguyên, trung tâm nghiên cứu Hưng Lộc và Viện KHKT miền Nam đã chọn ra một số giống thích hợp với điều kiện Việt Nam, tốt nhất là dòng 95389, được đăng kí với tên giống mới là ĐT21 là giống có tiềm năng năng suất cao ở vùng đồng bằng sông Hồng Năm 2006 đưa ra giống khảo nghiệm qua 4 vụ có triển vọng là Đ2501 và ĐT24 cho sản xuất thử, hai giống ĐT2006 và ĐVN10 được đưa vào khảo nghiệm sản xuất

Đầu năm 2008, các nhà chọn giống Viện Di truyền Nông nghiệp (DTNN) đã chọn tạo thành công giống đậu tương DT2008, là kết quả chọn tạo bằng phương pháp lai + đột biến phóng xạ từ năm 2002 của để tài “Chọn tạo giống đậu tương đột biến chịu hạn” mà Viện DTNN là cơ quan đại diện cho Việt Nam tham gia phối hợp trong khuôn khổ Diễn đàn Hợp tác Hạt nhân châu Á (FMCA) về chương trình chọn giống đột biến phóng xạ,

Trang 21

Từ nhiều năm các nhà chọn tạo giống đậu tương Việt nam đã chọn tạo được nhiều giống đậu tương mới có nhiều ưu điểm như: năng suất cao, phẩm chất tốt, thích ứng rộng với các vùng sinh thái khác nhau, chống chịu tốt với sâu bệnh hại Tuy nhiên, yêu cầu chú trọng đầu tư hơn nữa để tạo ra bộ giống phong phú, chất lượng

2.4 MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ PHÂN BÓN CHO CÂY ĐẬU TƯƠNG

Ở Việt Nam, cây đậu tương được trồng trọt và nghiên cứu từ lâu, đặc biệt nhu

cầu dinh dưỡng cho cây đậu tương cũng là một vấn đề rất được quan tâm

Tác giả Nguyễn Văn Bộ & cs (1999) cho biết: Một tấn hạt đậu tương cùng với thân lá lấy đi từ đất 81 kg N, 17 kg P2O5, 36 kg K2O, 25kg CaO, 18 kg MgO, 3 kg S, ngoài ra cây đậu tương còn hút khá nhiều các nguyên tố vi lượng khác như Zn, Cu, B,

Mo Lượng phân bón cho đậu tương trong thực tế sản xuất phải tùy thuộc vào thời vụ, chân đất, cây trồng vụ trước và giống cụ thể mà bón cho thích hợp (Trần Thị Trường

và cs., 2006) Do đó không thể áp dụng một công thức bón chung cho đậu tương trong mọi điều kiện trồng trọt (vùng sinh thái, thời vụ, đất đai…)

Theo tác giả Võ Minh Kha (1996), khi nghiên cứu tại Việt Nam cho thấy đất đồi chua có hàm lượng sắt nhôm cao, bón phân lân và đạm có tác dụng nâng cao năng suất đậu tương rõ rệt Trên đất tương đối nhiều dinh dưỡng bón đạm làm tăng năng suất đậu tương lên 10 – 20%, trên đất thiếu dinh dưỡng bón đạm làm tăng năng suất lên đến 40 – 50% Bón đạm cho cây có tầm quan trọng để tăng năng suất lên tối đa nhưng bón nhiều có thể gây dư thừa NO3 trong đất và cây, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người nên cần có nhiều thêm các nghiên cứu đưa ra được các khuyến cáo có tác dụng bền vững

Nghiên cứu về ảnh hưởng của liều lượng và thời kì bón đạm đến khả năng cố định đạm và năng suất đậu tương tại Thái Nguyên cho thấy: Bón đạm cho giai đoạn 4 – 5 lá kép với lượng 20 – 50 kg N/ha sẽ làm tăng sự phát triển của rễ cũng như số lượng nốt sần (Luân Thị Đẹp và cs., 1999)

Bón lân làm tăng khả năng hình thành nốt sần cho cây đậu tương Hiệu lực của lân tùy thuộc vào giống, thời tiết và giai đoạn sinh trưởng, phát triển của cây Vùng nhiệt đới thường sản xuất đậu tương trên đất dốc, đất chua, khô hạn Trên các loại đất này, hàm lượng độc tố và nhôm do đất chua là các yếu tố hạn chế cơ bản cho các loại cây trồng Các độc tố này ảnh hưởng đến sự phát triển của rễ, đặc biệt là khả năng hút lân của cây (Alva A K.,1987)

Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Dần (1996) trên đất bạc màu Hà Bắc, bón lân

Trang 22

cho lạc và đậu tương đem lại hiệu quả kinh tế cao Nghiên cứu của Nguyễn Tứ Xiêm

và Thái Phiên (1998) cho biết: Hiệu quả của việc bón các loại phân N, P, K cho cây trồng trên đất đồi chua xác định là P cho hiệu quả cao nhất Lân cũng là một trong các yếu tố làm hạn chế năng suất các loại các loại cây trồng cạn như sắn, lúa mì…

Hiệu lực của K thường liên quan đến P, năng suất đậu tương tăng lên khi bón P

và K riêng biệt, tuy nhiên năng suất đạt cao nhất khi bón kết hợp P và K Theo Vũ Đình Chính (1998) trên đất dốc, bạc màu nghèo dinh dưỡng, bón phân cho đậu tương với mức 90 kg P2O5/ha trên nền phân bón 40kg N/ha đã làm tăng lượng nốt sần, số quả chắc/cây và năng suất hạt

Hàm lượng phốt pho trong đất ở hầu hết các loại đất Việt Nam đều rất thấp

từ 0,02 – 0,15% ở lớp đất trồng từ 0 – 30cm không đủ cho các loại cây trồng Các loại phân lân hóa học như: Super lân, lân nung chảy hay phân lân tự nhiên apatit, phosphorit cũng khó tan trong dung dịch đất, còn super lân sau một thời gian bón vào đất cũng bị kết tủa thành không tan Do vậy, phân lân nếu không bón kèm với

phân hữu cơ hoai mục, thì hiệu quả đạt được khi sử dụng thấp

Phân hữu cơ vi sinh được sử dụng để bón lót, bón thúc và bón đại trà cho các loại cây trồng, thâm canh nuôi trồng thủy sản, có tác dụng cải tạo đất thông qua hoạt động của tập đoàn vi sinh vật có ích, bồi dưỡng tăng khả năng thấm nước, giữ ẩm, chống rửa trôi các chất dinh dưỡng Sử dụng các loại phân HCVS hiện đang rất được quan tâm trong canh tác nông nghiệp với nhiều lợi ích thiết thực Phân HCVS là sản phẩm chứa vi sinh vật sống đã được tuyển chọn có mật độ phù hợp với tiêu chuẩn ban hành, thông qua các hoạt động sống của chúng tạo nên các chất dinh dưỡng mà cây trồng có thể sử dụng được (N, P, K, S, Fe ) hay các hoạt chất sinh học hay đối kháng vi khuẩn, vi nấm gây bệnh vùng rễ để góp phần nâng cao năng suất, chất lượng nông sản Phân vi sinh phải đảm bảo không gây ảnh hưởng xấu đến người, động vật, thực vật, môi

trường sinh thái và chất lượng nông sản (Viện Nông hóa Thổ nhưỡng, 2005)

Phân HCVS với thành phần chất hữu cơ được bổ sung vi sinh vật có ích có ảnh hưởng rất lớn đến độ phì nhiêu của đất và năng suất cây trồng Phân hữu cơ không chỉ trực tiếp cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng mà còn có tác dụng quyết định cải thiện các tính chất lý hóa sinh của đất, điều hòa dinh dưỡng trong cơ chế tăng khả năng hấp thụ của đất bằng việc tăng chất và lượng các hợp chất hữu cơ khoáng trong đất, tạo cho đất có khả năng giữ chặt chất dinh dưỡng, hạn chế sự mất dinh dưỡng do rửa trôi

và bốc hơi, chuyển hóa các hợp chất khó tan thành dễ tan, cung cấp thêm dinh dưỡng

Trang 23

cho cây trồng mà rõ nhất là chuyển hóa lân khó tiêu thành dễ tiêu Bên cạnh đó, phân hữu cơ còn có tác dụng khắc phục những yếu tố hạn chế trong đất như Fe, Al, Mn… bằng cách tạo phức với các ion tự do gây độc của kim loại làm giảm độ độc hại của chúng (Phạm Tiến Hoàng và cs., 1999)

Thường xuyên bổ sung chất hữu cơ cũng như các nguồn vi sinh vật có lợi cho đất sẽ làm giảm tác nhân gây bệnh, tạo điều kiện thuận lợi cho bộ rễ phát triển Phân hữu cơ vi sinh tuy có tác dụng đến cây trồng chậm hơn phân hóa học nhưng có ưu điểm lớn mà phân hóa học không có được đó là chứa các chủng vi sinh vật hữu ích và các chất hữu cơ có tác dụng làm tăng độ phì nhiêu của đất và cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng một cách bền vững và lâu dài Theo Nguyễn Xuân Thành và cs (2003), phân sinh học (bao gồm phân hữu cơ vi sinh) có tác dụng rất lớn trong tạo nền thâm canh để tăng năng suất cây trồng, nhưng chỉ có phân sinh học thôi thì không thể cung cấp đầy

đủ dinh dưỡng cho cây trồng để có năng suất cao, khó đảm bảo đủ lương thực, thực phẩm cho nhân loại Do đó cần sử dụng tổng hợp các loại phân sinh học và hóa học

một cách cân đối

Trong thời gian qua, nước ta đã có một số công trình nghiên cứu bón phân hữu cơ

và phân hữu cơ vi sinh nói riêng cho cây đậu tương được thực hiện Theo Nguyễn Xuân Thành & cs (2003), kết quả khảo nghiệm phân vi khuẩn nốt sần tại Thuận Thành – Bắc Ninh cho thấy, bón phân hữu cơ vi sinh cho đậu tương làm tăng năng suất đậu tương 6,26 kg/sào, tương đương 12% so với đối chứng

Theo Phạm Văn Dân (2012), tổ hợp phân bón đối với 2 giống đậu tương ĐVN6 và ĐT26 cho năng suất cao và hiệu quả kinh tế cao nhất là 40 kg N + 90 kg

P2O5 + 60 kg K2O trên nền bón 500 kg hữu cơ vi sinh và 300 kg vôi/ha Khi áp dụng

tổ hợp phân bón này giống ĐVN6 đạt được 23,4 tạ/ha và thu được lãi thuần là 8,247 triệu đồng/ha; giống ĐT26 năng suất hạt đạt được 24,8 tạ/ha và thu được lãi thuần là 9,927 triệu đồng/ha

Theo nhóm tác giả của trường Đại học Tây Bắc tiến hành đánh giá tác động của

EM trên cây đậu tương DT84 tại vườn thực nghiệm Đại học Tây Bắc cho thấy việc sử dụng EM kích thích sự phát triển của nốt sần Khối lượng tươi tăng 111,4% so với đối chứng khi phun EM 1lần/1tuần và tăng 79,7% nếu phun EM 2 tuần một lần Năng suất hạt khô tăng 19,1 - 22,2% so với đối chứngNgoài việc nghiên cứu xác định bộ giống thích hợp cho từng vụ, từng vùng sản xuất thì việc xác định liều lượng phân bón hợp

lý với từng thời vụ, điều kiện đất đai, từng giống là một trong những biện pháp hàng

Trang 24

đầu đẩy mạnh sản xuất Từ đó góp phần hoàn thiện quy trình thâm canh đậu tương và thúc đẩy việc mở rộng diện tích sản xuất đậu tương ở nước ta

2.5 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ CHẾ PHẨM EMINA

Theo nhóm tác giả của trường Đại học Tây Bắc tiến hành đánh giá tác động của

EM trên cây đậu tương DT84 tại vườn thực nghiệm Đại học Tây Bắc cho thấy việc sử dụng EM kích thích sự phát triển của nốt sần Khối lượng tươi tăng 111,4% so với đối chứng khi phun EM 1lần/1tuần và tăng 79,7% nếu phun EM 2 tuần một lần Năng suất hạt khô tăng 19,1 - 22,2% so với đối chứngNgoài việc nghiên cứu xác định bộ giống thích hợp cho từng vụ, từng vùng sản xuất thì việc xác định liều lượng phân bón hợp

lý với từng thời vụ, điều kiện đất đai, từng giống là một trong những biện pháp hàng đầu đẩy mạnh sản xuất Từ đó góp phần hoàn thiện quy trình thâm canh đậu tương và thúc đẩy việc mở rộng diện tích sản xuất đậu tương ở nước ta

Dựa trên nguyên tắc hoạt động và phối chế của chế phẩm vi sinh vật hữu hiệu

EM (Efectivie Microorganisms), Viện Sinh học Nông nghiệp – Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam đã sản xuất ra chế phẩm EMINA Chế phẩm đã được thử nghiệm và ứng dụng có hiệu quả trên nhiều lĩnh vực nông nghiệp và môi trường Chế phẩm có chất lượng tương đương với chế phẩm EM nhập nội, nhưng giảm được 1/3 giá thành sản xuất nên đã được sử dụng rộng rãi ở thị trường trong nước với nguồn tiêu thụ hàng nghìn lít một năm (Phạm Thị Kim Hoàn, 2008)

Đặc điểm:

EMINA (Effective Microorganism Institute of Agrobiology) gốc là chế phẩm dạng dung dịch màu nâu vàng, vị chua ngọt, mùi thơm dịu, độ pH < 4,5 Hàm lượng vi sinh vật tổng số: 107 CFU/ml, an toàn tuyệt đối khi sử dụng EMINA gốc được bảo quản ở nơi khô ráo, nhiệt độ bình thường, tránh ánh sáng trực tiếp của mặt trời Thời gian bảo quản là 6 tháng kể từ ngày sản xuất (Nguyễn Quang Thạch và cs., 2001) Nguyên liệu chủ yếu để điều chế các chế phẩm EMINA bao gồm nước sạch, rỉ

đường và các chất hữu cơ có nguồn gốc động – thực vật cùng một số phụ gia khác

Chế phẩm là hỗn hợp các chủng vi sinh vật hữu hiệu, đặc biệt là các nhóm sau:

- Vi khuẩn quang hợp (photosynthetic bacteria): đây là nhóm vi khuẩn quang tự

dưỡng có khả năng sử dụng năng lượng ánh sáng mặt trời chuyển thành năng lượng hóa học trong các liên kết cao năng của cơ thể có tác dụng thúc đẩy các vi sinh vât hữu ích và

làm tăng thêm hiệu quả của các vi sinh vật đó

Trang 25

- Vi khuẩn axit lactic (lactic acid bacteria): Có tác dụng khử trùng mạnh, tiêu

diệt các vi sinh vật có hại và làm tăng sự phân hủy các chất hữu cơ

- Nấm men (yeasts): tham gia vào quá trình chuyển hóa vật chất, phân hủy các

chất hữu cơ trong đất Nấm men còn tổng hợp các chất kháng sinh có ích cho sự sinh trưởng của cây trồng từ axit amin và đường được tạo thành trong quá trình trao đổi chất

của vi khuẩn quang hợp, góp phần tăng năng suất cây trồng

- Vi khuẩn Bacillus: có vai trò thủy phân tinh bột và protein

- Nấm sợi (fermentinss fungi): Có tác dụng khử mùi, khử độc, ngăn ngừa các

côn trùng có hại

Như vậy, EMINA hoàn toàn có bản chất tự nhiên, các vi sinh vật hữu hiệu dùng làm nguyên liệu sản xuất chế phẩm đều được phân lập từ tự nhiên, không độc hại với người, động vật và môi trường, không chứa các chất hoá học, bất cứ sinh vật lạ hoặc

biến đổi di truyền nào, vì thế EMINA hoàn toàn đảm bảo tính “an toàn sinh học”

Tác dụng:

EMINA vừa là một loại nông dược phòng ngừa dịch bệnh, làm tăng sức đề kháng

và khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh cho các loài động vật vừa là chất khử trùng, giúp ngăn chặn quá trình gây thối, mốc và làm sạch môi trường (Lương Đức Phẩm, 2007)

Đặc biệt EMINA có ứng dụng rất lớn trong trồng trọt EMINA có tác dụng với hầu hết các loại cây trồng (cây lương thực, cây rau, cây ăn quả…) ở mọi giai đoạn sinh trưởng, phát triển khác nhau Những thí nghiệm trước đây cho thấy EMINA có tác dụng kích thích sinh trưởng, làm tăng năng suất và chất lượng cây trồng, cải tạo chất

lượng đất, cụ thể như sau:

- Làm tăng sức sống cho cây trồng, tăng khả năng chịu hạn, chịu úng, chịu nhiệt

- Kích thích sự nảy mầm, ra hoa, kết quả và làm chín (đẩy mạnh quá trình

đường hóa)

- Tăng cường khả năng quang hợp của cây trồng

- Tăng khả năng hấp thụ và hiệu suất sử dụng các chất dinh dưỡng

- Kéo dài thời gian bảo quản, làm hoa trái tươi lâu, tăng chất lượng bảo quản

các loại nông sản tươi sống

- Cải thiện môi trường đất, làm cho đất trở nên tơi xốp, phì nhiêu

- Hạn chế sự phát triển của cỏ dại và sâu bệnh (Lương Đức Phẩm, 2007)

Trang 26

2.6KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ NẤM BEAUVERIA BASSIANA.

Theo tài liệu của tác giả Phạm Thị Thùy (2004) Sau những phát hiện đầu tiên của Balisneri (1709) về nấm gây bệnh trên côn trùng cũng là lúc ra đời ngành khoa học nghiên cứu về bệnh lý côn trùng Thế kỷ thứ XVIII mới có những tác giả nghiên cứu ban đầu về nấm côn trùng, họ khẳng định nấm côn trùng chính là vi sinh vật gây bệnh đầu tiên được chứng minh về khả năng lan truyền bệnh từ ký chủ này sang ký chủ

khác Năm 1815, Agostino Bassi đã phát hiện ra nấm trắng Muscardin gây bệnh trên

tằm, thời gian ấy tuy Bassi chưa có đầy đủ kiến thức về ngành nấm học để phân loại, nhưng tác giả đã phân biệt được mô của ký chủ với nấm ký sinh bằng cách đưa ra phương pháp lan truyền cũng như điều kiện gây bệnh và chính tác giả đã đưa ra biện pháp phòng trừ bằng nấm côn trùng Như vậy có thể coi Agostino Bassi là nhà bệnh lý học côn trùng đầu tiên Sau Bassi thì xuất hiện ngày càng nhiều công trình nghiên cứu

và ứng dụng nấm côn trùng để phòng trừ các loại sâu hại cây trồng đạt hiệu quả

Hiện nay, đã có trên 700 loài nấm được phát hiện có liên quan đến các bệnh trên côn trùng , chúng chủ yếu nằm trong 2 lớp là Hyphomycetes (Deuteromycotina)

và Entomophthorales (Zygomycotina) Với những tiềm năng cho việc ứng dụng phòng trừ sâu hại rất lớn, tuy nhiên với chỉ một số rất ít loài được nghiên cứu và phát triển cho việc phòng trừ sâu hại Trong vài thập kỷ qua, với sự gia tăng số lượng đăng

ký thương mại hóa trên toàn thế giới về các loài nấm côn trùng Hyphomycetes với

nhiều dạng khác nhau, các loài nấm chủ yếu là: Beauveria bassiana, B Brongniartii, Metarhizium anisopliae, Nomuraea rileyi, Paecilomyces fumosoroseus

Verticillium lecanii Các chế phẩm này được sử dụng để phòng trừ phổ rộng trên

các loài sâu hại như thuộc bộ cánh màng, cánh cứng, cánh vảy, cánh thẳng và hai cánh (dẫn theo Phạm Văn Nhạ, 2013 và Tuan Anh PHAM, 2012)

Theo Phạm Văn Nhạ (2013), ở Mỹ người ta cũng sử dụng nấm để phòng trừ sâu hạicây trồng, tác giả Mark Jacson et al (2011) đã nghiên cứu công nghệ lên men dịch

thể ở quy mô công nghiệp các loài nấm Beauveria bassiana, B Brongniartii, Metarhizium anisopliae, Paecilomyces fumosoroseus Snoi (1888) tiến hành một loạt các thí nghiệm nấm trắng Muscardin (nay là Beauveria bassiana) để phòng trừ bọ xít (Blisus leucoterus) hại lúa mì Ở các nước Châu Mỹ La Tinh và Bắc Mỹ cũng có

nhiều công trình nghiên cứu về nấm diệt côn trùng: Ramosca (1982) trường đại học Kansas đã thí nghiệm gây bệnh dịch cho muỗi (Culex quique faciatus) bằng nấm M anisopliae Tác giả Lai et al.đã sử dụng 6 chủng nấm để thử khả năng diệt

Trang 27

loài mối Coptotermes formosanus Các nhà khoa học còn sử dụng các chủng nấm diệt côntrùng để phòng trừ sâu non loài Leptinotasa decemlineatavà phòng trừ bọ cánh cứng Anthonomus grandis qua đông trong đất, phòng trừ sâu đục thân ngô Ostrinia nubinalis (Bing, Lewwis, 1993) Các chủng nấm M anisopliae và B bassiana cũng được các tác giả Krueger (1991), Villani (1990) thí nghiệm khả năng gây bệnh của chúng đối với côn trùng nhóm Scarab sống trong đất (Popilila japonica

và Rhizotropus majalis)

Dẫn theo Phạm Van Nhạ (2013) các nước châu Mỹ la tinh có xu hướng sử dụng

các chủng vi nấm M anisopliae và B bassiana để phòng trừ côn trùng sống trong đất (Quitela et al., 1992) như cá thể trưởng thành của sâu khoai lang (Cylas puncticollis), nghiên cứu phòng trừ cá thể trưởng thành của côn trùng bộ Coleoptera,

tập trung bởi tác giả Brasil (Lobolima, 1990) Ở Australia, việc phòng trừ sâu hại mía (Milner, 1992), ấu trùng sống trong đất và loài mối Coptotermes(Milner, 1991) cũng

được thử nghiệm bằng các chủng nấm M anisopliae Trong thời gian này, ở Châu Âu

cũng tiếp tục công bố những công trình ứng dụng vi nấm diệt côn trùng, như Cộng hòa liên bang Đức, với một loạt công trình nghiên cứu về ứngdụng nấm M anisopliaeđể phòng trừ loài mối Nasutitermes exitiosus(Hil) Công trình nghiên cứu của Trung Quốc (Fan et al., 1990) sử dụng nấm M anisopliaeđể phòng trừ sâu róm thông Dendrolimus tabulacformis Nhật Bản cũng sử dụng nấm B bassiana để phòng trừ sâu Ostrinia furnacalisđục hạt quả táo Một số tác giả ở Bắc Âu như Thụy Sỹ, Hà Lan và Phần Lan cũng sử dụng nấm diệt côn trùng để phòng trừ một số sâu hại Ngày càng nhiều các công trình nghiên cứu hiệu lực gây chết của vi nấm trên nhiều loại côn trùng và kết quả là 11 chế phẩm vi nấm diệt côn trùng đã được đưa vào sử dụng trong đó có 3 chế phẩm từ Metarhizium: BioBlast của Mỹ dùng để diệt mối đất Đài Loan (Coptotermes formosanus); chế phẩm Green muscle của Nam Phi để diệt châu chấu, chế phẩm Biogreen của Úc diệt bọ hại ngô đầu đỏ (red-headed cokchafer) Ngoài

ra còn có một số chế phẩm đang trong quá trình sản xuất thử nghiệm trên quy mô rộng lớn của nước Úc để phòng trừ sâu xám, chế phẩm Green Guard sản phẩmsản xuất theo phương pháp lên men từ nấm Metarhizium trên môi trường xốp cũng đã được thử nghiệm để phòng trừ dịch châu chấu ở Úc Badilla, F F và Ales, S.B (1991)

cũng sử dụng các chủng nấm B bassiana và B brongniartii để phòng trừ vòi voi Sphenophrus levis Vauria (Coleoptera: Curculionidae) hại mía

Nấm ký sinh côn trùng trong tự nhiên có thể gây chết thường xuyên với tỷ lệ cao cho nhiều loài côn trùng gây hại và còn là yếu tố điều hòa quần thể vi sinh vật trong tự

Trang 28

nhiên rất hiệu quả Côn trùng chết do nấm rất dễ nhận biết bằng mắt thường, vì các sợi nấm mọc qua vỏ cơ thể và bao phủ toàn bộ cơ thể bề mặt ngoài của cơ thể côn trùng

Cơ thể côn trùng chết do nấm không bị tan rã mà thường giữ nguyên được hình dạng ban đầu và toàn bộ bên trong cơ thể chứa đầy sợi nấm

Đặc điểm hình thái:

Theo Phạm Thị Thùy, 2004: Vì nấm Beauveria bassiana (B.bassiana) có màu

trắng nên người Trung Quốc và người Việt Nam gọi là nấm trắng hay nấm bạch cương Trên môi trường thạch đĩa hoặc thạch nghiêng, nấm bạch cương có sợi màu trắng đến màu crem có pha một ít màu đỏ, da cam, đôi khi pha một ít màu lục, có thể tiết vào môi trường sắc tố màu vàng, màu đỏ nhạt hoặc màu xanh da trời Sợi nấm phân nhánh có vách ngăn, sợi nấm dài khoảng 3- 5 µm phát triển dày đặc trên môi trường, về sau xuất hiện chi chit các cuống sinh bào tử Trên cơ thể tằm và các côn trùng khác, sợi nấm mọc nhanh và chẳng mấy chốc đã phủ kín trên bề mặt cơ thể, sợi

nấm có dạng phấn trắng khi khô biến thành màu vàng sữa Nấm B bassiana sinh ra

những bào tử trần đơn bào không màu, trong suốt không ngăn vách từ hình cầu (đường kính 1 – 4µm) đến hình trứng (kích thước 1,5 – 5,5 µm) Tế bào sinh bào tử trần đơn hoặc trong vòng xoắn, phát sinh từ sợi sinh dưỡng mọc thành từng đám, có cuống phình ra Tế bào sinh bào tử trần có hình zic zắc nhưng là mấu dạng răng nhỏ phát sinh bởi sự kéo dài của gốc ghép Phần gốc của tế bào sinh bào tử trần hình cầu hoặc hình chai (kích thước 2,5 – 3,5 x 3,0 – 6,0 µm ), khi thời gian nuôi cấy kéo dài, trong môi trường những bào tử trần sinh ra sẽ mảnh và kết chặt với nhau

Đặc điểm nuôi cấy:

Điều kiện cần thiết cho quá trình hình thành bào tử cũng như hệ sợi nấm

B.bassiana nói riêng và nấm côn trùng nói chung là nhiệt độ, ẩm độ, độ pH trong môi

trường, cũng như phương pháp nuôi cấy Trong quá trình nảy mầm để hình thành bào

tử nấm B bassiana cần các nguồn carbon và nitơ Sự phát triển của nấm phụ thuộc vào

các chất ức chế khác nhau Môi trường thích hợp nhất cho nấm phát triển là môi trường có chứa kitin làm nguồn cacbon, nếu bổ sung thêm chất kitin và glucoza thì

trong quá trình nuôi cấy, nấm B bassiana sẽ thu được số lượng bào tử cao, bởi vì

thành phần kitin trong môi trường nuôi cấy là rất cần thiết đối với các loại nấm, nó

giúp cho sự phát triển và hình thành bào tử dính (Conidiospore) và bào tử trần (Blastoospore) (Phạm Thị Thùy, 2004)

Nhiệt độ 25-30oC, ẩm độ cao, pH 5,5- 6,0, ánh sáng yếu, hàm lượng ôxi thích hợp, hàm lượng nước 30- 50% là thích hợp nhất cho sự nảy mầm, phát triển và tạo bào tử của

Trang 29

nấm B bassiana Nấm này phân bố rộng khắp và có khả năng phát tán rộng trong thiên

nhiên thông qua các hoạt động phóng bào tử bằng cơ học, lan truyền nhờ dòng nước, không khí và côn trùng (Nguyễn Ngọc Tú & Nguyễn Cửu Thị Hương Giang, 1997) Theo các tác giả Rombach, Basto Cruz và cs., Hegedus và cs., Miao và cs., Jenkins & Prior, Shimazu và cs., thì sử dụng phương pháp nuôi cấy chìm để sản xuất nấm côn trùng sẽ thu được kết quả tốt nhất, vì xác định được khả năng sinh bào tử chồi

và lượng sinh khối sinh được của chủng nấm B bassiana

Nấm B bassiana thuộc loại yếm khí Trong điều kiện ánh sáng yếu, nhiệt độ

thuộc phạm vi 25 - 30 oC, hàm lượng nước từ 30 – 50 % và pH 5,5 – 6 là thích hợp nhất cho sự nảy mầm , phát triển và tạo ra nhiều bào tử nấm (Nguyễn Ngọc Tú & Nguyễn Cửu Thị Hương Giang, 1997)

Độc tố:

Theo PGS.TS Phạm Thị Thùy, 2004: Năm 1696 R.L Hamill và cs, đã xác định

được độc tố diệt côn trùng của nấm bạch cương B bassiana và đặt tên cho độc tố này

là Beauvericin Năm 1971 Y.A Ovehinnokov và cs, đã tổng hợp lại độc tố này, tác giả

Jame và cs, đã xác định bản chất của độc tố sinh ra trong quá trình trao đổi chất đó là vòng peptid có các sắc tố màu vàng tenelin và basianin, những sắc tố này có thể do hydroxylat progesteron và những phần nhỏ tách ra từ testosteron (C19H28O2) sinh ra

Về mặt hóa học, độc tố Beauvericin có danh pháp là xyclo (N – metyl L –

phenylalanin – D – α – hydroxy – izovaleryl) Đây là một loại depxipeptid vòng, có điểm sôi khoảng 93 – 94oC Từ một lít môi trường nuôi cấy nấm B basiana, các nhà

khoa học Trung Quốc ở trường Đại học Tổng hợp Nam Khai (Thiên Tân) đã tách được

1,5g độc tố Beauvericin và từ 1 kg môi trường đặc các tác giả đã tách ra được 3,8g Beauvericin

Cơ chế tác động:

Trong tự nhiên, khi bào tử nấm B bassiana rơi vào cơ thể côn trùng gặp điều

kiện thuận lợi, chỉ sau 12 – 24 giờ thì bào tử nấm nảy mầm Chúng hình thành sợi nấm đâm xuyên qua lớp vỏ kitin và sau đó phát triển bên trong cơ thể côn trùng hại Côn

trùng hại phải huy động hết các tế bào bạch huyết để chống lại nhưng nấm B bassiana

đã tiết ra độc tố Beauvericin và các chất khác làm phá hủy tế bào bạch huyết Sợi nấm

mọc rất nhiều bên trong cơ thể làm cho cơ thể cứng lại, sau một thời gian thì nấm mọc

ra ngoài, lớp bào tử phủ lên côn trùng hại và lớp bào tử này gặp điều kiện gió đưa vào

cơ thể côn trùng khác thì cơ chế tác động như trên lại được tiếp diễn

Trang 30

Triệu chứng của sâu nhiễm bệnh:

Triệu chứng đặc trưng nhất là sự thay đổi các di động của côn trùng, sự di động này tùy theo mức độ phát triển của bệnh Khi bị bệnh các mô dần dần bị phá hủy từng phần, lúc đầu côn trùng di động yếu sau ngừng hẳn nằm im một chỗ cho đến khi chết Khi bị bệnh nấm, vận động của côn trùng ngừng từ 2 – 3 ngày thậm chí một tuần trước khi nấm phát triển đầy trong thân côn trùng Chỉ những côn trùng bị thương hay bị bệnh nấm, màu

sắc toàn thân mới thay đổi và xuất hiện những vết đen Khi sâu hại bị bệnh do nấm B bassiana ở chỗ bào tử bám vào, nấm phát triển vào bên trong thân sâu tạo nên một vệt đen

không có hình thù nhất định Côn trùng chết do nấm thường có màu hồng, vàng nhạt, trắng và toàn thân cứng lại Khi bị bệnh nấm thân côn trùng bị ngắn lại hoặc khô là do hệ thống tiêu hóa bị tổn thương hoặc do thiếu thức ăn Vi sinh vật gây bệnh trên côn trùng

thường tác động đến những mô nhất định, côn trùng bị nấm B bassiana ký sinh thì các

tuyến mỡ và các mô khác bị hòa tan là do emzym lipaza và proteaza của nấm tiết ra, cũng chính nhờ đặc điểm đó mà người ta có thể xác định được côn trùng bị bệnh là do động vật

nguyên sinh hay là do nấm bậc thấp (Coelomycidium, Entomophyhora…) gây ra Hiện

tượng chết hoặc gắn liền với hiện tượng tiêu hủy mô là đặc trưng của bệnh nấm, quá trình này tiến triển qua hai giai đoạn:

- Hiện tượng chấn thương: Do nấm từ bên ngoài gây ra, các lympho máu đọng

lại và mô tái sinh được tạo nên trên bề mặt thân côn trùng bị chấn thương

- Hiện tượng nhiễm trùng máu: Do lympho máu chứa đầy sợi nấm

Yêu cầu về tính ổn định của chế phẩm nấm B bassiana:

- Chất lượng chế phẩm nấm đạt 109 bt/g

- Hàm lượng ẩm trong chế phẩm là 7 – 10%

- Hiệu quả diệt sâu trên 70% sau 10 – 15 ngày thí nghiệm

- Thời gian bảo quản từ 1 – 2 năm

2.7 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP VÀ ĐẬU TƯƠNG CỦA TỈNH BẮC NINH

Theo các báo cáo của Ủy ban Nhân dân tỉnh Bắc Ninh về tình hình kinh tế xã hội năm 2012, 2013, 2014 và kế hoạch 2015 cho thấy mặc dù đã có chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp và hạ tầng nông thôn giai đoạn 2014-2020 trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh cho sản xuất lúa, cây vụ Đông, rau màu vụ Xuân và vụ mùa, rau an toàn theo VietGAP, … Diện tích đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp do chuyển đổi mục đích sử dụng và quy hoạch cho xu thế công nghiệp hóa của tình Sản xuất nông

Trang 31

nghiệp gặp nhiều khó khăn do thời tiết, sâu bệnh phát sinh nhiều hơn năm trước; giá giống, vật tư, dịch vụ nông nghiệp vẫn ở mức cao nên hiệu quả thấp Bên cạnh đó, do thu nhập từ nông nghiệp thấp nên xu hướng nông dân bỏ ruộng để chuyển sang các ngành dịch vụ ngày càng gia tăng, nhất là ở các địa phương có các KCN tập trung

Trong đó diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương của Bắc Ninh liên tục giảm sút trong 5 năm gần đây (bảng 2.3)

Bảng 2.3 Tình hình sản xuất đậu tương từ 2010-2014 của Bắc Ninh

Số liệu từ Tổng cục thống kê tháng 12 năm 2015

Chủ trương của tỉnh Bắc Ninh về đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp; đưa vào sử dụng giống mới năng suất cao, chất lượng, có khả năng kháng bệnh, khuyến khích áp dụng biện pháp “3 giảm, 3 tăng” để hạ giá thành sản xuất lúa, tăng giá trị sản xuất trên mỗi đơn vị diện tích canh tác; tập trung đầu tư, hình thành các vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa, vùng nguyên liệu phục vụ sản xuất, nhà máy chế biến, bảo quản, tiêu thụ nông sản phẩm cho người nông dân, trong đó chú ý đến vùng nguyên liệu cung cấp cho các nhà máy trên địa bàn như vùng đậu tương cung cấp cho nhà máy sữa đậu lành Vinasoy, vùng khoai tây cung cấp cho nhà máy Orion, vùng dược liệu cho công ty dược phẩm vẫn chưa thấy có chuyển biến

Theo kế hoạch năm 2015-2020, toàn tỉnh Bắc Ninh cần phải thúc đẩy hơn nữa cho việc phát triển ngành nông nghiệp hiệu quả, bền vững với các sản phẩm sạch, sản phẩm xanh; thực hiện chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn; nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững; xây dựng các mô hình sản xuất nông sản an toàn kết hợp hình thành chuỗi giá trị từ sản xuất, chế biến và tiêu thụ, nâng cao hiệu quản sản xuất nông nghiệp; khuyến khích hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn

Trang 32

PHẦN 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Gi ống D140

Giống đậu tương D140 là con lai của tổ hợp DL02 x ĐH4 Trong đó mẹ DL02 là dòng lai giữa V73 x V74 có đặc điểm chịu rét thích hợp gieo trồng trong vụ xuân và vụ đông, còn bố ĐH4 là giống có nguồn gốc Trung Quốc có đặc điểm chịu nóng thích hợp gieo trồng trong vụ hè Giống D140 được công nhận tạm thời năm

2000, được công nhận giống quốc gia theo quyết định số 5310 –QDD/BNN-KHCN, ngày 29/11/2002

Gi ống ĐT26

Giống đậu tương ĐT26 được chọn lọc từ tổ hợp lai giữa ĐT2000 x ĐT12 Được công nhận giống cho sản xuất thử năm 2008 theo Quyết định số 111/QĐ-TT-CCN ngày 03 tháng 06 năm 2008

Trang 33

Kali dùng ở dạng kaliclorua (60%K2O)

- Phân lân hữu cơ vi sinh: Thành phần P2O5>=3%, axit Humic và Fulic>=5,6%, độ ẩm <=30%, vi sinh vật có ích khoảng 5.106 con, các yếu tố trung lượng, vi lượng,…

Chế phẩm EMINA gốc là dung dịch có màu nâu vàng, vị chua, có mùi thơm dịu, pH<4 Hàm lượng vi sinh vật tổng số: 107 CFU/ml An toàn tuyệt đối khi sử dụng Khi dung dịch có mùi thối hoặc pH>4,5 thì được coi là hỏng, không dùng được EMINA gốc được bảo quản ở nhiệt độ bình thường, nơi khô ráo, tránh ánh sang trực tiếp của mặt trời Thời gian bảo quản 6 tháng kể từ ngày sản xuất

- Bào tử nấm Beauveria bassiana: Là một loại nấm trắng gây bệnh cho côn

trùng gây hại Cũng giống như các bệnh nấm khác, chúng đòi hỏi phải có độ ẩm cao, kéo dài để các bào tử lây lan Nấm hủy hoại các mô mềm và dịch cơ thể của ký chủ và khi chuẩn bị hình thành bào tử phát tán chúng phát triển ra bên ngoài ký chủ Bào tử

có màu phấn trắng

Bào tử nấm chủng Beauveria basiana KK5 sử dụng trong đề tài là dạng bột

1,4×1012 conidia/g, có màu phấn trắng, độ ẩm <5%, khả năng nảy mầm trên 90%, bảo quản ở 4°C được cung cấp bởi TS Phạm Tuấn Anh, Bộ môn Sinh lý thực vật từ kết quả nghiên cứu đề tài luận án”Development of a Mycoinsecticide for Aphid Control and Its Combined Effct with Phant Extract” tại trường Đại học Suwon- Hàn Quốc

3.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Địa điểm: Thí nghiệm được tiến hành tại Yên Phong- Bắc Ninh

Thời gian: T ừ tháng 9 năm 2014 đến tháng 01 năm 2015

3.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.2.1 Nội dung nghiên cứu

- Nội dung 1: Đặc điểm sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống đậu tương trồng vụ Đông 2014 tại Yên Phong- Bắc Ninh

Trang 34

- Nội dung 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của hỗn hợp bào tử nấm Beauveria bassiana và chế phẩm EMINA đến giống đậu tương ĐVN6 trồng vụ Đông 2014 tại

Yên Phong- Bắc Ninh

3.2.2 Phương pháp nghiên cứu

Thí nghiệm bố trí ngẫu nhiên hoàn toàn với 4 công thức, 3 lần nhắc lại, mỗi lần nhắc lại 5 m2

- Công thức 1: Đối chứng (nước lã)

Trang 35

- Công thức 2: Xử lý EMINA 2%

- Công thức 3: Xử lý hỗn hợp EMINA 2% và 107 bào tử B.bassiana/ml

- Công thức 4: Xử lý hỗn hợp EMINA 2% và 2x107 bào tử B.bassiana/ml

Sơ đồ thí nghiệm 2:

Quy trình kỹ thuật chăm sóc

- Kỹ thuật làm đất: Làm đất bằng máy, kết hợp xới xáo thủ công

- Mật độ và khoảng cách trồng: Hàng x hàng: 30- 35cm, cây x cây: 5-6 cm, mật độ: 45cây/m2

- Các công thức bố trí trên nền phân bón: 30 kg N/ha + 90 kg P2O5/ha (lân vi sinh 2 tấn + 30 kg P2O5) + 60 kg K2O/ha + vôi 200kg/ha

- Thí nghiệm 1: Các công thức trong thí nghiệm đều được xử lý bằng chế phẩm

EMINA nồng độ 2% vào 3 giai đoạn:

Trang 36

Giai đoạn 1: Cây 3-4 lá thật, lượng xử lý 280 lít/ha

Giai đoạn 2: Cây bắt đầu ra hoa, lượng xử lý 420 lít/ha

Giai đoạn 3: Bắt đầu hình thành quả non (sau khi tắt hoa khoảng 10 ngày), lượng xử lý 560 lít/ha

- Thí nghiệm 2: Các ô thí nghiệm của công thức đối chứng xử lý nước lã; các ô

thí nghiệm của công thức 2, 3, 4 được xử lý hỗn hợp bào tử nấm Beauveria bassiana

và chế phẩm EMINA theo nồng độ của các công thức vào 3 giai đoạn:

Giai đoạn 1: Cây 3-4 lá thật, lượng xử lý 280 lít/ha

Giai đoạn 2: Cây bắt đầu ra hoa, lượng xử lý 420 lít/ha

Giai đoạn 3: Bắt đầu hình thành quả non (sau khi tắt hoa khoảng 10 ngày), lượng xử lý 560 lít/ha

b Các chỉ tiêu theo dõi

Các chỉ tiêu về sinh trưởng phát triển

- Chiều cao thân chính (cm): Mỗi ô thí nghiệm lấy ngẫu nhiên 5 cây, đánh dấu bằng cọc, theo dõi trên 3 lần nhắc lại, định kỳ 1 tuần theo dõi 1 lần Đo từ gốc cây tính

từ cổ rễ đến đỉnh sinh trưởng ngọn

Tổng chiều cao cây

Chiều cao cây trung bình = - (cm/cây)

Tổng cây theo dõi

- Số lá/ cây: Đếm số lá kép trên cây (cành/cây)

Tổng số lá

Số lá/cây = - - - (lá/cây)

Tổng số cây theo dõi

- Số cành cấp 1 và cành cấp 2 trên cây ( cành/cây): Mỗi ô theo dõi 5 cây, đếm

số cành trên cây định kỳ 1 tuần 1 lần

Tổng số cành

Số cành trung bình/cây = - - - (cành/cây)

ΣTổng số cây theo dõi

- Nốt sần: Một ô lấy 3 cây để đếm, chia làm 3 giai đoạn: ra hoa , quả non và quả mẩy

Trang 37

P1Diện tích lá (dm2/cây) = - - -

P2

- Chỉ số diện tích lá (m2 lá/m2 đất) (LAI): Diện tích lá/cây x Số cây /m2

- Hiệu suất quang hợp (HSQH) (g chất khô/m2 lá/ ngày đêm)

P2-P1

HSQH = - - -

½ x (L1+L2) x T Trong đó: P1, P2: Khối lượng chất khô cân lần 1, lần 2 (g)

L1,L2: Diện tích lá theo dõi lần 1, lần 2 (m2)

T: Thời gian giữa 2 lần lấy mẫu (ngày đêm)

Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất

- Các yếu tố cấu thành năng suất

Lấy ngẫu nhiên 10 cây trong 1 lần nhắc lại đếm lần lượt số quả/cây, số quả chắc/cây, số quả 1 hạt, số quả 2 hạt, số quả 3 hạt

Tổng số quả

Tổng số quả/cây = - - - (quả/cây)

Tổng số cây theo dõi

Trang 38

Tổng số quả chắc

Số quả chắc/cây = - - - (quả/cây)

Tổng số cây theo dõi

Mức độ nhiễm sâu bệnh hại

Lấy ngẫu nhiên 10 cây trên một ô thí nghiệm theo phương pháp 5 điểm chéo góc, điều tra tình hình sâu bệnh hại định kỳ 1 tuần theo dõi một lần

Đối với sâu hại

Tổng số điểm có sâu

Mức độ phổ biến của sâu (%) = - - - x 100

Tổng số điểm điều tra

Tổng số cây bị hại

Tỉ lệ cây bị hại (%) = - - - x 100

Tổng số cây điều tra

Tổng số sâu điều tra

Mật độ sâu hại (con/m2) = - - -

Tổng diện tích điều tra

Trang 39

Đối với bệnh hại

Tổng số cây hoặc bộ phận của cây bị bệnh

Tỷ lệ bệnh (%) = - - - x 100

Tổng số cây hoặc bộ phận của cây điều tra

* Phân cấp bệnh theo các bảng phân cấp sau:

Cấp 1: từ vết bệnh đến 10% diện tích thân, cành, quả

Cấp 3: vết bệnh lan rộng > 10 - 20% diện tích thân, cành, quả

Cấp 5: vết bệnh lan rộng > 20% - 40% diện tích thân, cành, quả

Cấp 7: vết bệnh lan rộng > 40% - 60% diện tích thân, cành, quả

Cấp 9: vết bệnh lan rộng > 60% diện tích thân, cành, quả

Phương pháp xử lý số liệu

- Số liệu được xử lý trên phần mềm IRISTAT (5.0) và Microsoft Excel

Trang 40

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CỦA MỘT SỐ GIỐNG ĐẬU TƯƠNG TRỒNG VỤ ĐÔNG - 2014 TẠI YÊN PHONG- BẮC NINH 4.1.1 Động thái tăng trưởng chiều cao thân chính của các giống đậu tương

Chiều cao thân chính là một trong những chỉ tiêu quan trọng phản ánh trung

thực quá trình sinh trưởng, phát triển của cây trồng trong những điều kiện canh tác nhất định Thân là một bộ phận rất quan trọng với các chức năng nâng đỡ dẫn truyền

Ở cây đậu tương, thân là nơi vận chuyển các sản phẩm quang hợp từ lá xuống hệ thống

rễ và vận chuyển các chất khoáng từ rễ lên bộ phận trên mặt đất Đối với cây đậu tương, chiều cao của thân có liên quan trực tiếp đến một số đặc điểm sinh trưởng sinh học khác như: tổng số cành, tổng số lá, số đốt hữu hiệu, số hoa, số quả trên cây… từ

đó ảnh hưởng đến năng suất của cây trồng Nếu thân cây đậu tương sinh trưởng, phát triển tốt sẽ tạo điều kiện cho các cơ quan, bộ phận khác sinh trưởng phát triển tốt qua

đó ảnh hưởng tích cực tới năng suất đậu tương khi thu hoạch

Chính vì vậy việc nghiên cứu về chỉ tiêu chiều cao thân chính của cây đậu tương là rất cần thiết Chiều cao thân chính phụ thuộc vào bản chất di truyền của giống, điều kiện canh tác, điều kiện kỹ thuật và các biện pháp kỹ thuật hỗ trợ khác Trên một nền phân bón như nhau cùng với việc xử lý chế phẩm EMINA với nồng độ

và liều lượng giống nhau trên tất cả các ô thí nghiệm ở các lần nhắc lại trong vụ Đông trên đất Yên Phong- Bắc Ninh Kết quả về động thái tăng trưởng chiều cao thân chính của các giống đậu tương khác nhau được trình bày trên bảng 3.1

Kết quả trên bảng số liệu cho thấy: Chiều cao cây ở các giống đậu tương là khác nhau Chiều cao thân chính ở tất cả các giống đều tăng dần qua các thời kỳ theo dõi và đạt tối đa ở chiều cao cây theo dõi cuối cùng Trong suốt quá trình theo dõi từ

10 ngày sau trồng đến 45 ngày sau trồng cây luôn có sự tăng trưởng chiều cao và ở thời điểm 45 ngày sau trồng thì chiều cao đạt tối đa

Ở lần theo dõi đầu tiên, khi cây có 2 đến 3 lá kép (10 ngày sau trồng), các giống

có chiều cao thân chính cây đậu tương đạt từ 4,81cm đến 5,72cm Đây là thời kỳ cây con , sự sinh trưởng của các cây đậu tương còn chậm, chiều cao thân chính giữa các giống không có sự khác nhau nhiều.Trong đó, giống ĐVN6 có chiều cao lớn nhất đạt 5,72cm

Ngày đăng: 28/05/2016, 15:11

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới từ năm 2003- 2013 - đặc điểm sinh trưởng phát triển, năng suất của một số giống đậu tương và ảnh hưởng của bào tử nấm beauveria bassiana kết hợp với chế phẩm emina đến giống đậu tương đvn6
Bảng 2.1. Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới từ năm 2003- 2013 (Trang 15)
Sơ đồ thí nghiệm 1: - đặc điểm sinh trưởng phát triển, năng suất của một số giống đậu tương và ảnh hưởng của bào tử nấm beauveria bassiana kết hợp với chế phẩm emina đến giống đậu tương đvn6
Sơ đồ th í nghiệm 1: (Trang 34)
Sơ đồ thí nghiệm 2: - đặc điểm sinh trưởng phát triển, năng suất của một số giống đậu tương và ảnh hưởng của bào tử nấm beauveria bassiana kết hợp với chế phẩm emina đến giống đậu tương đvn6
Sơ đồ th í nghiệm 2: (Trang 35)
Bảng 4.4. Khả năng hình thành nốt sần của một số giống đậu tương - đặc điểm sinh trưởng phát triển, năng suất của một số giống đậu tương và ảnh hưởng của bào tử nấm beauveria bassiana kết hợp với chế phẩm emina đến giống đậu tương đvn6
Bảng 4.4. Khả năng hình thành nốt sần của một số giống đậu tương (Trang 45)
Bảng 4.5: Diện tích lá (LA, cm 2 /cây) và chỉ số diện tích lá (LAI, m 2 lá/m 2 đất) của - đặc điểm sinh trưởng phát triển, năng suất của một số giống đậu tương và ảnh hưởng của bào tử nấm beauveria bassiana kết hợp với chế phẩm emina đến giống đậu tương đvn6
Bảng 4.5 Diện tích lá (LA, cm 2 /cây) và chỉ số diện tích lá (LAI, m 2 lá/m 2 đất) của (Trang 46)
Bảng 4.6. Hiệu suất quang hợp của các giống đậu tương - đặc điểm sinh trưởng phát triển, năng suất của một số giống đậu tương và ảnh hưởng của bào tử nấm beauveria bassiana kết hợp với chế phẩm emina đến giống đậu tương đvn6
Bảng 4.6. Hiệu suất quang hợp của các giống đậu tương (Trang 48)
Bảng 4.7. Đặc điểm về các giai đoạn phát dục của các giống đậu tương - đặc điểm sinh trưởng phát triển, năng suất của một số giống đậu tương và ảnh hưởng của bào tử nấm beauveria bassiana kết hợp với chế phẩm emina đến giống đậu tương đvn6
Bảng 4.7. Đặc điểm về các giai đoạn phát dục của các giống đậu tương (Trang 49)
Bảng 4.8: Đặc điểm các yếu tố cấu thành năng suất của các giống đậu tương - đặc điểm sinh trưởng phát triển, năng suất của một số giống đậu tương và ảnh hưởng của bào tử nấm beauveria bassiana kết hợp với chế phẩm emina đến giống đậu tương đvn6
Bảng 4.8 Đặc điểm các yếu tố cấu thành năng suất của các giống đậu tương (Trang 50)
Bảng 4.9: Đặc điểm năng suất của các giống đậu tương - đặc điểm sinh trưởng phát triển, năng suất của một số giống đậu tương và ảnh hưởng của bào tử nấm beauveria bassiana kết hợp với chế phẩm emina đến giống đậu tương đvn6
Bảng 4.9 Đặc điểm năng suất của các giống đậu tương (Trang 52)
Bảng 4.10. Ảnh hưởng của hỗn hợp bào tử nấm Beauveria bassiana và chế phẩm  EMINA đến động thái tăng trưởng chiều cao thân chính của giống đậu tương ĐVN6 - đặc điểm sinh trưởng phát triển, năng suất của một số giống đậu tương và ảnh hưởng của bào tử nấm beauveria bassiana kết hợp với chế phẩm emina đến giống đậu tương đvn6
Bảng 4.10. Ảnh hưởng của hỗn hợp bào tử nấm Beauveria bassiana và chế phẩm EMINA đến động thái tăng trưởng chiều cao thân chính của giống đậu tương ĐVN6 (Trang 54)
Bảng 4.15 Ảnh hưởng của chế phẩm EMINA và bào tử nấm B. bassiana đến - đặc điểm sinh trưởng phát triển, năng suất của một số giống đậu tương và ảnh hưởng của bào tử nấm beauveria bassiana kết hợp với chế phẩm emina đến giống đậu tương đvn6
Bảng 4.15 Ảnh hưởng của chế phẩm EMINA và bào tử nấm B. bassiana đến (Trang 59)
Bảng 4.14 Ảnh hưởng của chế phẩm EMINA và bào tử nấm B. bassiana đến diện - đặc điểm sinh trưởng phát triển, năng suất của một số giống đậu tương và ảnh hưởng của bào tử nấm beauveria bassiana kết hợp với chế phẩm emina đến giống đậu tương đvn6
Bảng 4.14 Ảnh hưởng của chế phẩm EMINA và bào tử nấm B. bassiana đến diện (Trang 59)
Bảng 4.16 Ảnh hưởng của chế phẩm EMINA và bào tử nấm Bb đến các yếu - đặc điểm sinh trưởng phát triển, năng suất của một số giống đậu tương và ảnh hưởng của bào tử nấm beauveria bassiana kết hợp với chế phẩm emina đến giống đậu tương đvn6
Bảng 4.16 Ảnh hưởng của chế phẩm EMINA và bào tử nấm Bb đến các yếu (Trang 60)
Bảng 4.17 Ảnh hưởng của chế phẩm EMINA và bào tử nấm B. bassiana - đặc điểm sinh trưởng phát triển, năng suất của một số giống đậu tương và ảnh hưởng của bào tử nấm beauveria bassiana kết hợp với chế phẩm emina đến giống đậu tương đvn6
Bảng 4.17 Ảnh hưởng của chế phẩm EMINA và bào tử nấm B. bassiana (Trang 62)
Bảng 4.19: Hiệu quả kinh tế của của một số giống đậu tương - đặc điểm sinh trưởng phát triển, năng suất của một số giống đậu tương và ảnh hưởng của bào tử nấm beauveria bassiana kết hợp với chế phẩm emina đến giống đậu tương đvn6
Bảng 4.19 Hiệu quả kinh tế của của một số giống đậu tương (Trang 64)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm