1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu xác định giống và lượng lân bón đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống lạc trên vùng đất bán ngập hồ thác bà, huyện yên bình, tỉnh yên bái

111 265 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 19,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM NGUYỄN THỊ NGÀ NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH GIỐNG VÀ LƯỢNG LÂN BÓN ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CỦA MỘT SỐ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ NGÀ

NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH GIỐNG VÀ LƯỢNG LÂN BÓN ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CỦA MỘT SỐ GIỐNG LẠC TRÊN VÙNG ĐẤT BÁN NGẬP HỒ THÁC BÀ, HUYỆN YÊN BÌNH, TỈNH YÊN BÁI

LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÀ NỘI, NĂM 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ NGÀ

NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH GIỐNG VÀ LƯỢNG LÂN BÓN ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CỦA MỘT SỐ GIỐNG LẠC TRÊN VÙNG ĐẤT BÁN NGẬP HỒ THÁC BÀ, HUYỆN YÊN BÌNH, TỈNH YÊN BÁI

CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC CÂY TRỒNG

MÃ SỐ: 60.62.01.10

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NINH THỊ PHÍP

HÀ NỘI, NĂM 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

- Tôi xin cam đoan rằng, đây là công trình nghiên cứu khoa học do bản thân tôi thực hiện tại xã Xuân Lai, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Ninh Thị Phíp từ tháng 02/2015 đến tháng 7/2015

- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2015

Tác giả luận văn

NGUYỄN THỊ NGÀ

Trang 4

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Ban quản lý đào tạo sau Đại học, Khoa Nông học, đặc biệt là các thầy cô giáo trong Bộ môn Cây công nghiệp, cây thuốc - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tạo điều kiện thuận lợi giúp tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn những người thân, người bạn, đồng nghiệp đã thường xuyên ủng hộ, động viên tôi trong suốt quá trình công tác, học tập và nghiên cứu để hoàn thành nhiệm vụ học tập và hoàn thành luận văn này

Hà Nội, ngày ….tháng … năm 2015

Tác giả luận văn

NGUYỄN THỊ NGÀ

Trang 5

MỤC LỤC

1.3 Một số kết quả nghiên cứu về cây lạc trên thế giới và trong nước 11

1.4 Điều kiện tự nhiên và tình hình sản xuất lạc của tỉnh Yên Bái 20

Trang 6

1.5 Điều kiện tự nhiên và tình hình sản xuất lạc của huyện Yên Bình 23

1.5.3 Những thuận lợi, khó khăn và giải pháp để phát triển sản xuất lạc ở

2.3.1 Thí nghiệm 1: Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống lạc tại vùng đất bán ngập hồ Thác Bà, huyện Yên Bình,

2.3.2 Thí nghiệm 2: Đánh giá ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của hai giống lạc L14 và TB25 trong

3.1 Kết quả nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống lạc vụ xuân 2015 tại vùng đất bán ngập hồ Thác Bà, huyện Yên Bình,

3.1.1.Thời gian sinh trưởng của các giống lạc thí nghiệm và tỷ lệ mọc mầm 37

Trang 7

3.1.2 Khả năng sinh trưởng phát triển các giống lạc 38

3.1.6 Mức độ nhiễm sâu bệnh hại chính của các giống lạc vụ xuân 2015 46 3.1.7 Các yếu tố cấu thành năng suất của các giống lạc thí nghiệm 48

3.2 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của hai giống lạc L14 và TB25 trong điều kiện

3.2.1 Ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến khả năng mọc mầm và thời gian

3.2.2 Ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến khả năng sinh trưởng, phát triển

3.2.3 Ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến số lượng nốt sần hữu hiệu 59 3.2.4 Ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến chỉ số diện tích lá (LAI) 62 3.2.5 Ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến khả năng tích lũy chất khô 64 3.2.6 Ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến mức độ nhiễm sâu bệnh 66 3.2.7 Ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến các yếu tố cấu thành năng suất

3.2.8 Ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến năng suất của hai giống lạc thí

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Diện tích, năng suất và sản lượng lạc của một số nước trên thế giới 9

Bảng 1.4 Diện tích, năng suất và sản lượng lạc của huyện Yên Bình 26 Bảng 3.1 Thời gian sinh trưởng và tỷ lệ mọc mầm của các giống lạc 37 Bảng 3.2 Động thái tăng trưởng chiều cao thân chính của các giống lạc 39 Bảng 3.3 Khả năng phân cành và chiều dài cành cấp 1 của các giống lạc trong 40 Bảng 3.4 Khả năng hình thành nốt sần hữu hiệu và khối lượng nốt sần của các 42 Bảng 3.5 Chỉ số diện tích lá (LAI) của các giống lạc ở 3 thời kỳ sinh trưởng

Bảng 3.11 Ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến tỷ lệ mọc mầm và thời gian 54 Bảng 3.12 Ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến động thái tăng trưởng 56 Bảng 3.13 Ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến khả năng phân cành và 58 Bảng 3.14 Ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến số lượng và khối lượng nốt 60 Bảng 3.15 Ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến chỉ số diện tích lá của hai 63 Bảng 3.16 Ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến khả năng tích lũy chất khô 65

Bảng 3.18 Ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến các yếu tố cấu thành năng 69 Bảng 3.19 Ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến năng suất của hai giống lạc 71 Bảng 3.20 Ảnh hưởng của liều lượng phân bón đến thu nhập thuần của hai

Trang 10

MỞ ĐẦU

1.1 Đặt vấn đề

Cây lạc (Arachis hypogaea L.) là cây công nghiệp, thực phẩm ngắn ngày

có giá trị kinh tế cao, giá trị dinh dưỡng cao và có khả năng cải tạo đất tốt

Lạc là cây trồng dễ tính, có khả năng thích ứng rộng, không kén đất, không đòi hỏi bón nhiều phân đạm vì bộ rễ có khả năng sống cộng sinh cùng vi khuẩn có khả năng cố định đạm, tạo ra lượng đạm sinh học cung cấp cho cây và làm tăng độ phì nhiêu của đất, thường là cây trồng tiên phong trong cải tạo đất, là cây trồng quan trọng trong nhiều hệ thống luân canh cây trồng

Yên Bình là huyện vùng thấp nằm ở phía nam của tỉnh Yên Bái, có tổng diện tích đất tự nhiên 77.319 ha; trong đó đất nông lâm nghiệp 57.653,91 ha, chiếm 74,54%; diện tích mặt nước hồ Thác Bà là 15.975,1 ha, chiếm 20,6% tổng diện tích tự nhiên, trong đó có 1.331 hòn đảo lớn nhỏ với diện tích 3.100 ha Hồ Thác Bà ngoài chức năng là hồ thuỷ điện còn là hồ chứa nước ngăn lũ sông chảy vào mùa mưa bão từ tháng 7 đến tháng 12 và điều tiết nước tưới phục vụ sản xuất nông nghiệp vùng đồng bằng Bắc bộ trong vụ Đông Xuân từ tháng 1 đến tháng 6 hàng năm Với đặc điểm đó, trên địa bàn huyện vào vụ xuân có diện tích đất bán ngập dưới cốt 58 hồ Thác Bà khoảng trên 2.000 ha Vùng đất này trải rộng theo ven hồ ở hầu hết các xã, thị trấn trong huyện, có tầng canh tác dày trên 1m, độ

ẩm 85% rất thuận lợi cho việc sản xuất các loại cây màu trong vụ xuân Trong định hướng mục tiêu phát triển kinh tế nông lâm nghiệp của huyện Yên Bình giai đoạn 2011-2015 và định hướng đến năm 2020, cây lạc được xác định là một cây trồng chiến lược trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên vùng đất bán ngập,

mở rộng diện tích phát triển thành vùng sản xuất hàng hoá góp phần xoá đói giảm nghèo cho bà con nông dân trong huyện

Năm 2005, huyện Yên Bình phối hợp với Trung tâm Chuyển giao Công nghệ và Khuyến nông nghiên cứu đưa một số giống lạc mới, có năng suất cao, chất lượng tốt như L14, MD7 vào sản xuất, góp phần tăng năng suất lạc của huyện từ 1,2 tấn/ha năm 2004 lên 1,8 tấn/ha năm 2009 đưa cây lạc trở thành cây

Trang 11

màu chính sau cây ngô và cây sắn, góp phần thúc đẩy tốc độ tăng trưởng nông nghiệp, nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất Tuy nhiên, do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, thời tiết mưa bão diễn biến bất thường trong mấy năm gần đây làm cho mực nước hồ Thác Bà thay đổi không theo quy luật, gây khó khăn trong cho sản xuất lạc trên vùng đất bán ngập, đặc biệt là với các giống lạc dài ngày khi chưa đến thời kỳ thu hoạch đã bị nước ngập gây mất trắng Đồng thời, hàm lượng lân dễ tiêu tại vùng đất bán ngập hộ Thác Bà ở mức thấp trong khi tập quán canh tác của người dân trên địa bàn huyện chủ yếu là khai thác các chất dinh dưỡng sẵn

có trong đất để gieo trồng lạc, chưa chú trọng bón phân cho đất đặc biệt là phân lân Dẫn đến năng suất sản lượng lạc của huyện còn thấp

Để phát triển cây lạc trên vùng đất bán ngập của huyện Yên Bình thành vùng sản xuất hàng hoá đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng thì việc nghiên cứu xác định các giống lạc mới cho năng suất cao, chất lượng tốt, có thời gian sinh trưởng phù hợp với điều kiện của địa phương và xác định được lượng lân bón phù hợp cho cây lạc là việc rất cần thiết Xuất phát từ thực tế trên, chúng

tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu xác định giống và lượng lân bón

đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống lạc trên vùng đất bán ngập hồ Thác Bà, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái”

1.2 Mục đích - yêu cầu

1.2.1 Mục đích

Nghiên cứu đề tài nhằm xác định được giống lạc cho năng suất cao, thời gian sinh trưởng phù hợp và lượng lân bón hợp lý cho cây lạc trong điều kiện vụ xuân để nâng cao năng suất, sản lượng lạc cho vùng đất bán ngập hồ Thác Bà

1.2.2 Yêu cầu

- Đánh giá các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển, mức độ nhiễm sâu bệnh hại

và năng suất của một số giống lạc trong điều kiện vụ xuân tại vùng đất bán ngập

hồ Thác Bà, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái

- Đánh giá ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến sinh trưởng, phát triển

và năng suất và hiệu quả kinh tế đối với hai giống lạc L14 và TB25

Trang 12

1.3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

1.3.1 Ý nghĩa khoa học

- Xác định có cơ sở khoa học một số giống lạc có năng suất cao, chất lượng tốt và liều lượng lân bón hợp lý cho cây lạc trên vùng đất bán ngập hồ Thác Bà, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái

- Kết quả của đề tài sẽ bổ sung những dẫn liệu khoa học phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu và chỉ đạo sản xuất lạc trên vùng đất bán ngập hồ Thác

Bà, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Việc xác định được giống Lạc mới có năng suất cao, thích ứng tốt … giúp cho người dân có nhiều sự lựa chọn về giống cây trồng hơn để nâng cao hiệu quả kinh tế trên cùng một diện tích đất canh tác

- Góp phần hoàn thiện quy trình thâm canh lạc, thúc đẩy việc phát triển sản xuất lạc tại vùng đất bán ngập của huyện theo hướng hàng hóa, đồng thời góp phần bảo vệ môi trường

1.4 Giới hạn của đề tài

Đề tài tập trung nghiên cứu sự sinh trưởng, phát triển và năng suất của các giống lạc: L14, L23, L18, L19, L26, TB25, TK10 trong điều kiện vụ xuân trên vùng đất bán ngập hồ Thác Bà, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái

Đề tài giới hạn nghiên cứu ảnh hưởng của 5 mức lân bón đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của 2 giống lạc L14 và TB25 trong điều kiện vụ xuân trên vùng đất bán ngập hồ Thác Bà, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

1.1.1 Vai trò của cây lạc trong hệ thống cây trồng

Bên cạnh giá trị dinh dưỡng và kinh tế, lạc còn đóng vai trò quan trọng trong việc cải tạo đất nhờ khả năng cố định đạm Rễ lạc có thể tạo các nốt sần do

vi sinh vật cộng sinh cố định đạm đó là Rhizobium vigna hình thành Trong điều kiện thuận lợi có thể cố định được lượng đạm tương đối lớn từ 200-260 kg N/ha Chính nhờ khả năng cố định đạm, thành phần hoá tính của đất trồng sau khi thu hoạch lạc được cải thiện rõ rệt, lượng đạm trong đất tăng và hệ vi sinh vật hảo khí trong đất được tăng cường có lợi đối với các cây trồng sau, nhất là đối với các loại cây trồng cần sử dụng nhiều N Cây đậu đỗ thực phẩm từ lâu đã được coi

là thành phần quan trọng trong hệ thống cây trồng vùng nhiệt đới và á nhiệt đới

Nó thích hợp cho nhiều hệ thống trồng trọt khác nhau

Kết quả nghiên cứu cơ cấu cây trồng tại Trung Quốc, đặc biệt là việc thử nghiệm công thức luân canh các cây trồng cạn với lúa đã rút ra những kết luận có

ý nghĩa khoa học và thực tiễn là: Khi đưa các cây họ đậu vào luân canh với lúa, giúp cho cải thiện tính chất lý, hoá của đất một cách rõ rệt, làm thay đổi pH của đất, tăng hàm lượng chất hữu cơ, cải tạo thành phần cơ giới, tăng lượng lân, kali

dễ tiêu trong đất (Fu Hsiung Lin, 1990)

Các cây trồng luân canh phổ biến ở vùng sản xuất lạc là: lúa nước, mía, ngô… Ở vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ, do vụ hè trùng với mùa mưa, địa hình thuận lợi cho cấy lúa mùa cho nên vùng sản xuất lạc thường trồng lạc xuân luân canh với lúa mùa (2 vụ/năm) hoặc thêm cây vụ đông (ở vùng sản xuất được 3 vụ/năm) Vùng không cấy được lúa thường luân canh lạc với ngô, mía, bông, khoai sọ …

Kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Tiến Mạnh cho thấy: trên đất bạc màu nhờ nước trời thì sản xuất lạc đạt hiệu quả kinh tế cao nhất Trên đất cát ven biển trong vụ xuân nếu trồng các cây như lạc, lúa, ngô, khoai lang thì cây lạc có hiệu quả kinh tế cao nhất (Nguyễn Tiến Mạnh, 1995)

Trang 14

Yên Bình là huyện vùng thấp nằm ở phía nam của tỉnh Yên Bái, là huyện trọng điểm của tỉnh trong sản xuất nông nghiệp Trong đó hồ Thác Bà có diện tích là 15.975,1 ha có chức năng là hồ thuỷ điện còn là hồ chứa nước ngăn lũ sông chảy vào mùa mưa bão từ tháng 7 đến tháng 12 và điều tiết nước tưới phục

vụ sản xuất nông nghiệp vùng đồng bằng Bắc bộ trong vụ Xuân từ tháng 1 đến tháng 6 hàng năm Với đặc điểm đó, trên địa bàn huyện vào vụ xuân có diện tích đất bán ngập dưới cốt 58 hồ Thác Bà khoảng trên 2.000 ha Vùng đất này trải rộng theo ven hồ ở hầu hết các xã, thị trấn trong huyện, có tầng canh tác dày trên 1m hàng năm được bồi đắp rất thuận lợi cho việc sản xuất các loại cây màu trong

vụ xuân Trong định hướng mục tiêu phát triển kinh tế nông lâm nghiệp của huyện Yên Bình giai đoạn 2011-2015 và định hướng đến năm 2020, cây lạc được xác định là một cây trồng chiến lược trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên vùng đất bán ngập, mở rộng diện tích phát triển thành vùng sản xuất hàng hoá góp phần xoá đói giảm nghèo cho bà con nông dân trong huyện

1.1.2 Cơ sở khoa học của bón phân cho cây lạc

1.2.3.1 Nhu cầu về đạm

Nitơ có vai trò quan trọng đối với sự sinh trưởng, phát triển và năng suất lạc bởi nó tham gia vào thành phần của nhiều hợp chất hữu cơ quan trọng trong các hoạt động sống của cây như: protein, diệp lục, ADN, ARN…

Do đó, thiếu đạm cây sinh trưởng kém, lá vàng, thân có màu đỏ, chất khô tích luỹ bị giảm, số quả và khối lượng quả đều giảm Thiếu đạm nghiêm trọng dẫn tới lạc ngừng phát triển quả và hạt (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông

thôn, 2005)

Vì vậy, đạm là yếu tố dinh dưỡng có tác dụng rất lớn đối với sự sinh trưởng, phát triển thân, lá, cành của cây lạc và số quả, số hạt và khối lượng hạt nên có ảnh hưởng đến năng suất của cây lạc (Vũ Công Hậu và cs., 1995)

Lạc được cung cấp đạm bởi 2 nguồn: đạm do bộ rễ hấp thu từ đất và đạm

cố định ở nốt sần do hoạt động cố định N2 của vi khuẩn cộng sinh cố định đạm Chính nhờ hoạt động cố định đạm của vi khuẩn nốt sần mà nguồn đạm cố định được có thể đáp ứng được 50 - 70% nhu cầu đạm của cây (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2005) Vì vậy, lượng đạm bón cho lạc thường giảm, đặc biệt

Trang 15

trên đất có thành phần cơ giới nhẹ, thoát nước tốt và pH trung tính (Lê Song Dự và Trần Nghĩa, 1995)

Tuy nhiên, quá trình cộng sinh cố định đạm sinh học giữa vi khuẩn và cây lạc xảy ra có ý nghĩa nhất khi lạc ra hoa rộ, đâm tia Ở giai đoạn đầu khi cây có

3, 4 lá thật, tại nốt sần lạc là quan hệ ký sinh về phía vi khuẩn nên trong cây trở nên thiếu đạm, cần bón cho lạc một lượng đạm nhỏ tạo điều kiện cho cây sinh trưởng mạnh, cũng như thúc đẩy sự phát triển gia tăng của khối lượng và số

lượng vi khuẩn cố định đạm (Rhizobium Vigna - loại vi khuẩn chuyên tính không

cao và có tỷ lệ vi khuẩn hữu hiệu cao, đạt tới lượng đạm cộng sinh tối đa ở giai đoạn sau

Lượng đạm lạc hấp thu rất lớn: để đạt 1 tấn lạc quả khô cần sử dụng tới 50 - 70

kg N Thời kỳ lạc hấp thu đạm nhiều nhất là thời kỳ ra hoa - làm quả và hạt Thời kỳ này chỉ chiếm 25% thời gian sinh trưởng của lạc nhưng hấp thu tới 40 - 45% nhu cầu đạm của cả chu kỳ sinh trưởng (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2005)

1.2.3.2 Nhu cầu về lân

Lân là yếu tố dinh dưỡng quan trọng đối với lạc Ngoài những vai trò sinh

lý bình thường như đối với cây trồng khác, lân còn đóng vai trò rất lớn đối với sự

cố định đạm và với sự tổng hợp lipit ở hạt lạc trong thời kỳ chín Lân cũng có tác dụng kéo dài thời kỳ ra hoa, tăng tỷ lệ hoa có ích và khả năng chịu hạn, chống chịu sâu bệnh hại cho cây lạc Do đó, cây lạc thiếu lân, có bộ rễ kém phát triển,

hoạt động cố định N giảm (Vũ Công Hậu và cs., 1995)

Lân có trong thành phần của phân tử cao năng ATP, có ý nghĩa làm tăng

số lượng và mật độ nốt sần, làm nốt sần sinh trưởng nhanh và tăng lượng đạm cố định được trên 1g nốt sần Bón phân lân cũng có thể tăng đáng kể việc hút các chất dinh dưỡng khác và chất dinh dưỡng hút lên có hiệu lực hơn

Tuy lượng lân cây hấp thu không lớn, để đạt một tấn quả khô, lạc chỉ sử dụng 2 - 4 kg P2O5 nhưng việc bón lân cho lạc ở nhiều loại đất trồng là rất cần thiết và lượng phân lân bón cho lạc đòi hỏi tương đối cao vì lạc có khả năng hấp thu lân kém Bón phân lân thường là mấu chốt tăng năng suất ở nhiều vùng trồng lạc (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2005) Mặc dù, cây lạc hút lân

Trang 16

trong suốt quá trình sinh trưởng nhưng lạc hút lân nhiều nhất ở giai đoạn từ ra hoa đến hình thành hạt Trong giai đoạn này, cây lạc hút tới 45% tổng nhu cầu

lân của cây Sự hút lân giảm rõ rệt ở thời kỳ chín (Vũ Công Hậu và cs., 1995)

Trong điều kiện đất đai của Việt Nam, đa số đất thuộc loại feralit nên lân thường bị keo đất giữ lại trên bề mặt làm khó khăn cho việc hút lân của rễ lạc Để tăng hiệu lực hút lân của lạc, cần phải ủ lân với phân chuồng, tạo ra kết hợp tạm thời giữa lân và phân chuồng dùng để bón lót cho lạc Trong quá trình phân giải, lân sẽ được giải phóng, thuận lợi cho rễ lạc hút trực tiếp và đồng thời các chất

dinh dưỡng từ phân chuồng và lân

1.2.3.3 Nhu cầu về Kali

Mặc dù Kali không có vai trò cấu tạo nên một chất hữu cơ nào của cây nhưng Kali có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh các hoạt động trao đổi chất và các hoạt động sinh lý của cây Vai trò quan trọng nhất của K là xúc tiến quang hợp và sự phát triển của quả Ngoài ra, Kali làm tăng cường mô cơ giới, tăng tính chống đổ của cây, tăng khả năng chịu hạn và đặc biệt tăng khả năng

chống chịu sâu bệnh hại cho cây lạc (Vũ Công Hậu và cs., 1995)

Do đó, thiếu Kali thân cây lạc chuyển thành màu đỏ sẫm và lá chuyển màu xanh nhạt Tác hại lớn nhất của thiếu Kali là cây bị lùn, khả năng quang hợp và hấp thu nitơ giảm, tỷ lệ quả 1 hạt tăng, khối lượng hạt giảm và năng suất lạc giảm

rõ rệt (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2005) Mặt khác, thiếu Kali các quá trình tổng hợp đường đơn và tinh bột, sự vận chuyển gluxit, khử nitrat, tổng hợp protein và phân chia tế bào không thực hiện được bình thường (Lê Song Dự

và cs., 1995)

Cây hấp thu Kali tương đối sớm và có 60% nhu cầu K của cây được hấp thu trong thời kỳ ra hoa - làm quả Thời kỳ chín, nhu cầu về K hầu như không đáng kể (5 - 7% tổng nhu cầu K)

Lạc có khả năng hút lượng K rất lớn, trong môi trường giàu K nó có khả năng hấp thu K quá mức cần thiết Lượng K lạc hấp thu cao hơn lượng lân nhiều, khoảng 15 kg K2O/1tấn quả khô (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2005)

Trang 17

1.2.3.4 Nhu cầu về Canxi

Canxi là một nguyên tố không thể thiếu khi trồng lạc Ngoài tác dụng ngăn ngừa sự tích luỹ nhôm và các cation gây độc khác, Canxi còn tạo điều kiện làm môi trường trung tính thuận lợi cho vi khuẩn nốt sần hoạt động nên làm tăng nguồn đạm cho cây Mặt khác, Canxi giúp cho sự chuyển hoá N trong hạt nên có tác dụng chống lốp đổ và tăng khối lượng hạt Vì vậy, Canxi có ảnh hưởng lớn đến năng suất và chất lượng hạt (Vũ Công Hậu và cs., 1995) Hiện tượng quả lép thường xảy ra khi lượng Canxi hữu hiệu trong đất thấp và do ảnh hưởng xấu có thể gây ra bởi các loại phân khoáng hoặc thời tiết đến sự hút Canxi của quả (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2005)

Trong thời kỳ hình thành quả, nếu thiếu Canxi quả không chắc hay có quả một nhân hoặc quả lép, năng suất, chất lượng và tỷ lệ quả chắc cũng giảm Ở đất chua, hoạt động cố định đạm của vi khuẩn nốt sần kém, nếu bón nhiều vôi cho lạc thì phải bón nhiều lần Tuy nhiên, tránh bón quá nhiều vôi cho lạc vì thừa vôi

có thể làm cho cây còi cọc Thiếu Canxi sẽ ảnh hưởng đến quá trình hình thành hoa, đậu quả, quả ốp, hạt không mẩy (Nguyễn Thị Dần và Thái Phiên, 1991)

1.2 Tình hình sản xuất lạc trên thế giới và trong nước

1.2.1 Tình hình sản xuất lạc trên thế giới

Cây lạc (Arachis Hypogaea L) là cây lấy dầu có giá trị kinh tế cao và

chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế thế giới Cây lạc mặc dù có nguồn gốc

từ Nam Mỹ nhưng hiện nay được phân bố rộng trong phạm vi từ 40o vĩ Bắc đến

40o vĩ Nam (Nguyễn Xuân Hồng và Nguyễn Thị Yến, 2000)

Theo số liệu thống kê của Faostat, 2014 được trình bày ở Bảng 1.1, diện tích trồng lạc của thế giới niên vụ 2011, 2012, 2013 đã đạt 24,74 - 24,59 - 25,44 triệu ha, năng suất bình quân đạt 1,64 - 1,65 -1,77 tấn/ha và sản lượng đạt 40,57 - 40,47 - 45,22 triệu tấn

Ấn Độ tuy là nước đứng đầu thế giới về diện tích trồng lạc (5,31 triệu ha) nhưng năng suất lạc bình quân của Ấn Độ còn thấp (1,31 tấn/ha) do cây lạc được trồng chủ yếu trong điều kiện khô hạn Kinh nghiệm của Ấn Độ cho thấy, nếu chỉ áp dụng giống mới mà vẫn áp dụng kỹ thuật canh tác cũ thì năng suất chỉ tăng lên

Trang 18

khoảng 26- 30% Nếu áp dụng kỹ thuật canh tác tiến bộ nhưng vẫn dùng giống cũ thì năng suất lạc chỉ tăng 20- 43% Nhưng khi áp dụng giống mới kết hợp với kỹ thuật canh tác tiến bộ đã làm tăng năng suất lạc từ 50 - 63% trên đồng ruộng của nông dân Vì vậy, Ấn Độ rất quan tâm đến công tác nghiên cứu và thử nghiệm các tiến bộ kỹ thuật trồng lạc trên đồng ruộng của nông dân với sự tham gia trực tiếp của người dân Phương pháp nghiên cứu chuyển giao này đã thực sự đem lại hiệu quả ở Ấn

Độ và hiện nay đang được nhiều quốc gia khác ở Châu Á áp dụng trong công tác chuyển giao kỹ thuật tiến bộ vào sản xuất

Năm 2012, diện tích trồng lạc của Trung Quốc là 4,71 triệu ha chiếm 22,65 % tổng diện tích trồng lạc của thế giới, là nước đứng thứ 2 sau Ấn Độ về diện tích trồng lạc Tuy nhiên, sản lượng lạc của Trung Quốc lại đứng hàng đầu thế giới (đạt 16,85 triệu tấn), chiếm 45,58% tổng sản lượng toàn thế giới và năng suất lạc đạt 3,57 tấn/ha cao gấp 2 lần năng suất lạc bình quân của thế giới

Mỹ là nước tuy có diện tích trồng lạc không lớn, với 0,65 triệu ha nhưng năng suất lạc bình quân đạt cao nhất thế giới với 4,49 tấn/ha và sản lượng lạc đứng thứ 3 thế giới (đạt 3,05 triệu tấn)

Bảng 1.1 Diện tích, năng suất và sản lượng lạc của một số nước trên thế giới Nước/

Trang 19

rộng lớn trồng lạc của Trung Quốc Ngoài ra, nhờ mạng lưới khuyến nông hoạt động mạnh mẽ, nhiều giống lạc mới và biện pháp kỹ thuật nhằm đạt năng suất cao đã được nông dân Trung Quốc chấp nhận và áp dụng rộng rãi Các biện pháp

kỹ thuật canh tác đó là: cày sâu, bón phân cân đối phù hợp cho từng loại đất, mật

độ trồng thích hợp, đặc biệt là kỹ thuật che phủ nilon được coi là “Cuộc cách mạng trắng trong sản xuất lạc” đã góp phần làm tăng năng suất, sản lượng lạc của Trung Quốc

Tóm lại, thành công trong tăng năng suất, sản lượng lạc, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế ở các nước trên thế giới đầu tư cho công tác nghiên cứu và ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất, trong đó chú trọng tới yếu tố giống mới năng suất, chất lượng và thích nghi tốt với điều kiện sinh thái Đồng thời áp dụng đồng bộ các biện pháp kỹ thuật thâm canh tăng năng suất như: phân bón, mật độ, phương thức gieo, biện pháp che phủ

1.2.2 Tình hình sản xuất lạc ở Việt Nam

Ở nước ta, cây lạc được trồng rộng rãi khắp các vùng trong cả nước, trên nhiều loại đất và địa hình khác nhau Diện tích trồng lạc nhìn chung có xu hướng giảm Năm 2007, diện tích trồng lạc của cả nước đạt cao nhất 254,5 nghìn ha, tuy nhiên theo số liệu sơ bộ năm 2013, diện tích lạc của nước ta chỉ còn 216,3 nghìn

ha (Niên giám thống kê, 2014)

Năng suất lạc ở Việt Nam còn ở mức thấp so với các nước trồng lạc trên thế giới cũng như trong khu vực Đông Nam Á Tuy nhiên, năng suất lạc trong giai đoạn 2007 - 2013 có chiều hướng gia tăng và đạt 22,8 tạ/ha năm 2013, tăng 57,2% so với năm 2000 (năng suất 14,5 tạ/ha)

Sản lượng lạc ở nước ta trong giai đoạn 2007-2013 có sự biến động do sự thay đổi năng suất Năm 2008 sản lượng lạc của cả nước đạt cao nhất là 530,2 nghìn tấn, tăng 49,2% so với năm 2000 (sản lượng 355,3 nghìn tấn), sau đó sản lượng lạc có xu hướng giảm; sơ bộ năm 2013, sản lượng lạc của Việt Nam chỉ đạt 492,6 nghìn tấn (Tổng cục thống kê, 2014)

Sản xuất lạc được phân bố ở trên tất cả các vùng sinh thái nông nghiệp Việt Nam Theo tổng cục thống kê những vùng trồng lạc chính của nước ta hiện nay là

Trang 20

Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung (92,7 nghìn ha năm 2013), Trung du và miền núi phía Bắc (38,2 nghìn ha), Đồng Bằng sông Hồng (19,3 nghìn ha), Tây Nguyên (11,3 nghìn ha) và Đông Nam Bộ (19,4 nghìn ha) Các tỉnh có diện tích trồng lạc trên 10 nghìn ha năm 2013 là Nghệ An (19,6 nghìn ha), Hà Tĩnh (17,3 nghìn ha), Thanh Hoá (13,5 nghìn ha) và Bắc Giang (11,7 nghìn ha) Các tỉnh có sản lượng lạc hàng năm lớn nhất là Nghệ An (44,5 nghìn tấn năm 2013), Hà Tĩnh (40,8 nghìn tấn), Bình Định (30 nghìn tấn), Bắc Giang (28,8 nghìn tấn), Thanh Hoá (27,6 nghìn tấn) (Tổng cục thống kê, 2014) Năng suất lạc ở phía Bắc thường thấp hơn năng suất lạc ở các tỉnh phía Nam Tuy nhiên, bước đầu đã có một số tỉnh đạt năng suất lạc bình quân cao như: Nam Định 39,2 tạ/ha nhờ áp dụng giống mới

và kỹ thuật che phủ nilon; Tuyên Quang 25,7 tạ/ha

Bảng 1.2 Diện tích, năng suất và sản lượng lạc ở Việt Nam

Năm Diện tích

(nghìn ha)

Năng suất (tạ/ha)

1.3 Một số kết quả nghiên cứu về cây lạc trên thế giới và trong nước

1.3.1 Các kết quả nghiên cứu về cây lạc trên thế giới

1.3.2 Kết quả nghiên cứu về chọn tạo giống lạc

Giống là một trong những yếu tố giữ vai trò quan trọng hàng đầu góp phần nâng cao năng suất Việc cải tiến giống lạc, tạo ra các giống mới có năng suất cao, phẩm chất tốt, kháng được sâu bệnh, thích ứng rộng với điều kiện ngoại cảnh đã góp phần đáng kể vào việc tăng năng suất và sản lượng lạc trên thế giới

Do đó, việc nghiên cứu về chọn tạo giống lạc đang ngày càng được chú trọng Về

Trang 21

tập đoàn giống lạc: Mỹ là nước có tập đoàn lạc phong phú nhất (29.000 mẫu giống); sau đó là ICRISAT (14.310 mẫu giống) thu thập từ 92 nước trên thế giới; Australia cũng là nước có tập đoàn lạc đa dạng (12.160 mẫu giống); Ân Độ, Trung Quốc hàng năm vẫn duy trì 5.000 - 6.000 mẫu giống

Từ nguồn vật liệu đa dạng và phong phú, các nhà chọn tạo giống đã sử dụng trong công tác cải tiến giống theo các mục tiêu khác nhau: Chọn tạo giống chín sớm cho vùng tăng vụ, né tránh thiên tai; giống chịu hạn cho vùng nước trời; giống kháng sâu bệnh; giống năng suất cao; giống có hàm lượng dầu cao

Trong các mẫu giống đã thu thập, bằng các đặc tính hình thái - nông học, sinh lý - sinh hoá và khả năng chống chịu sâu bệnh ICRISAT đã phân lập theo các nhóm tính trạng khác nhau phục vụ cho nghiên cứu chọn tạo giống như: nhóm kháng bệnh, nhóm chống chịu hạn, nhóm hàm lượng dầu cao, nhóm chín trung bình, nhóm chín muộn, nhóm chín sớm… Trong đó, các giống chín sớm điển hình là Chico, 91176, 91776, ICGS (E)71 (Fang Zengguo, 2009), các giống có năng suất cao như: ICGV-SM83005 (Naik KSS, Basha SM, 2008), ICGV88438, ICGV89214, ICGV91098 (Hadjichristodoulou A., 1997) Hiện nay giống lạc ICGV 91114 với ưu điểm cho năng suất cao đang được phát triển rộng rãi ở các bang AndraPradesh và

Chhattisgarh của Ấn Độ (Songri P et al., 2005)

Trung Quốc là nước có nhiều thành tựu trong công tác chọn tạo giống lạc Trong hai năm 2003 và 2004, Trung Quốc đã công nhận 17 giống lạc mới, trong

đó điển hình là các giống Yueyou 13, Yueyou 29, Yueyou 40, 01-2101, Yuznza

9614, 99-1507, R1549 có năng suất trung bình là 46-70 tạ/ha (ICRISAT, 2005)

Sử dụng nguồn gen để mở rộng nền tảng di truyền của lạc trồng, Upadhyaya

HD và cộng sự đã sử dụng thành công phương pháp lai hữu tính để cải tiến các đặc điểm nông học như chín sớm, tăng khối lượng 100 hạt và năng suất trong tạo

giống kháng sâu bệnh (Upadhyaya H D et al., 2008)

Các nhà khoa học ở Brazil, ICRISAT, Mỹ, Pháp, Senegal và Đan Mạch lai hữu tính nhân tạo để đưa các alen của lạc dại vào lạc trồng bằng việc tạo ra các

dòng lạc có đoạn nhiễm sắc thể thay thế (Bertioli DJ et al., 2008)

Nghiên cứu chọn tạo giống chịu hạn, các nhà khoa học ở trường đại học

Trang 22

Kasetsart, Thái Lan cho rằng điều kiện hạn không ảnh hưởng đến kiểu phân bố hoa nhưng làm chậm sự xuất hiện của những hoa lứa đầu và thời gian hoa nở Qua đánh giá 12 dòng lạc cho thấy sự suy giảm năng suất khác nhau ở các dòng lạc trong điều kiện hạn phụ thuộc nhiều vào tập tính ra hoa khac nhau Những giống lạc ra hoa lượng lớn tập trung vào lứa hoa đầu cho năng suất cao hơn (Songri P etal, 2005)

Mỹ đã đưa vào sản xuất 16 giống lạc mới (9 giống thuộc loại hình Runer,

5 giống thuộc loại hình Virginia, 2 giống thuộc loại hình Spanish) (Progrees

report January - June, 2009) Hiện đang có 3 chương trình nghiên cứu sử dụng

lạc dại lai với lạc trồng để tạo ra giống chống chịu sâu bệnh ở Carolina Oklahoma và Texas

Kết quả sàng lọc các kiểu gen lạc được lai tạo ở Mỹ giữa giống lạc địa phương Nama của Burkina Faso với giống lạc Texas bằng phương pháp công nghệ sinh học nhằm tạo giống kháng bệnh lá Kết quả kiểm tra trong điều kiện đồng ruộng ở Burkina Faso cho thấy một số giống trình diễn tốt hơn giống địa phương, có những giống năng suất tương đương nhưng kháng bệnh tốt (M’Bi Bertin Zagr etal, 2009)

Viện nghiên cứu nông nghiệp quốc gia Berlin đã chọn được hai giống lạc chín sớm đó là: ICGV - SM83011 và ICGV 86072 cho năng suất cao (2 tấn/ha)

và rất ổn định (Monstafa Adomou, 1995),

Giống lạc mới dạng bụi TMV(Gn)13 đã được các nhà khoa học Ấn Độ chọn ra từ dòng thuần của giống lạc đỏ địa phương Pollachi Giống lạc này có năng suất 16,13 tạ/ha cao hơn giống đối chứng địa phương VRI2 12,8% và kháng trung bình với bệnh lá, ít bị sâu ăn lá (Muralidharan V etal, 2008)

Các nhà khoa học của Trường Đại học nông nghiệp Acharya NG Ranga,

Ấn Độ và Trường đại học A&M Florida, Mỹ đã chọn tạo ra giống lạc K1375 qua lai tạo giữa giống lạc Kadiri 4 X Vemana Giống lạc này đã giúp bảo đảm năng suất ổn định trong vùng bị hạn của Ấn Độ (Naik KSS, 2008)

Holbrook C.C và cộng sự đã sử dụng sự chọn lọc có trợ giúp của chỉ thị phân tử để tạo giống kháng bệnh với tỷ lệ O/L (axit oleic/linoleic) cao Sự phối

Trang 23

hợp chặt chẽ giữa các nhà chọn giống truyền thống và các nhà di truyền học phân

tử là cần thiết để sử dụng công cụ di truyền hiện đại có hiệu quả trong phát triển giống lạc (Holbrook CC1 etal, 2009)

Những cố gắng trong chọn tạo giống lạc bằng kết hợp phương pháp truyền thống và phân tử ở Ghana nhằm cải tiến các giống lạc địa phương có năng suất thấp và nhiễm với các bệnh đốm lá, đốm hoa thị (Asibuo JY et al, 2009)

Nhóm nghiên cứu của 2 trường đại học ở Ai Cập đã nghiên cứu cải tiến năng suất lạc trong điều kiện đất nhiễm mặn qua đột biến 4 giống lạc Giza 5, Giza 6, NC 9 và Gregory bằng tia Gamma và hoá chất NaN3 Thế hệ M6 chọn được 3 dòng M6-13, M6-18 và M6 - 30 cho năng suất cao, nhiều quả và hạt trên cây hơn giống mẹ (Ahmed M.S.H and Mohamed S.M.S., 2009)

1.3.3 Kết quả nghiên cứu về bón phân cho lạc

Vấn đề bón phân cho lạc được nghiên cứu rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới Việc bón phân cho lạc có hiệu quả kinh tế, dù trong điều kiện nước trời Kết quả của 200 thí nghiệm bón phân cho lạc ở Ấn Độ dẫn tới kết luận là bón trên 22

kg N cho một ha thì không có hiệu quả Theo Nguyễn Thị Chinh và cs (2002) trên đất nhẹ hoặc trung bình, khi bón phối hợp 11,0 kg N/ha, 10 kg P2O5/ha và 19

kg K2O/ha tăng năng suất lạc nước trời 154% so với đối chứng và cao hơn một cách có ý nghĩa khi bón đơn độc N, P và K hoặc khi bón cùng lúc 2 trong 3 yếu

tố trên

Ở Ấn Độ, kết quả các thí nghiệm phân bón cho thấy, việc bón phối hợp 30

kg N/ha với 17 kg P2O5/ha thì năng suất lạc tăng gấp đôi so với chỉ bón 30 kg N/ha (Kanwar J.S,1977)

Ở Trung Quốc, Dong Xiao-xia etal cho rằng: bón phân N, P, K tỷ lệ (1:1:3), sử dụng chất điều hoà sinh trưởng cây trồng P333, mật độ trồng thích hợp đã cho thu hoạch 6,0-6,75 tấn/ha trên giống giống Luhua 12, Luhua 13 và Qinglan 2 Kết quả nghiên cứu các nguyên tố dinh dưỡng vi lượng cho lạc tại bán đảo Jiaodong, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc cho thấy bên cạnh N, P, K thì kẽm và Magie là những yếu tố hạn chế chính đến năng suất lạc Các công thức không bón Kali thì hàm lượng Kali trong thân lá thấp hơn những công thức khác

Trang 24

Qua phân tích số liệu điều tra nông dân ở các vùng trồng lạc khác nhau

của tỉnh Sơn Đông, Fang Zengguo et al đã xác định được tình trạng và những

vấn đề sử dụng phân bón cho lạc là tỷ lệ bón không cân đối (N : P2O5 : K2O = 1 : 0.72 : 0.74) và lượng phân đạm và lân được nông dân bón quá nhiều đã làm giảm hiệu quả kinh tế trồng lạc

Nghiên cứu ảnh hưởng của các công thức phân bón khác nhau đến năng

suất và chất lượng lạc, Zhang Xiang et al kết luận lượng phân bón N :K2O thích hợp cho vùng đất đen Shajang là 120 kg/hm2: 150 kg/hm2; hiệu lực của Bo tốt hơn Molipden; hiệu lực của bón Canxi sulphat cao hơn so với bón loại Canxi khác, các công thức bón phân khác nhau cũng cho chất lượng lạc tốt hơn

Bón lượng Kali thích hợp đã thúc đẩy sinh trưởng và tăng tích luỹ chất khô, cải thiện các đặc tính kinh tế, tăng năng suất quả và hiệu quả kinh tế Khi bón Kali với lượng 180 kg/ha thì năng suất tăng lên 4260,5 kg/ha, lợi nhuận thuần cao nhất lên đến 9482 nhân dân tệ/ha Khi bón Kali với lượng trên 270

kg/ha năng suất lạc và lợi nhuận kinh tế bị giảm (LI Wei-feng et al., 2004) Các tác giả ZHOU Lu-ying et al kết luận: bón tăng tỷ lệ đạm cải thiện năng

suất quả lạc một cách rõ rệt, năng suất đạt cao nhất khi bón tỷ lệ P, K, Ca ở mức trung bình (150 P, 300 K và 300 Ca) Bón phân có thể làm tăng chất lượng hạt lạc nhờ tăng hàm lượng axit béo, protêin và amino axit tự do Khi tăng hàm lượng Kali lên 450 kg/ha làm giảm axits béo trong hạt Bón Canxi làm tăng tỷ lệ axit oleic/axit linoleic còn bón Kali làm tăng hàm lượng đường hoà tan trong hạt lạc

1.3.4 Những kết quả nghiên cứu về cây lạc ở trong nước

1.3.4.1 Kết quả nghiên cứu về chọn tạo giống lạc

Trong những năm vừa qua, công tác chọn tạo giống ở Việt Nam đã thu được nhiều thắng lợi Nhiều giống mới đã được tạo ra và đưa vào sản xuất góp phần làm tăng năng suất và sản lượng lạc trong cả nước

Trước năm 1985, trong sản xuất chỉ có một số giống lạc như: Sen Nghệ An, Chùm Nghi Lộc, Cúc Nghệ An, Bạch Sa, Trạm Xuyên… năng suất thấp, khả năng chống chịu sâu bệnh kém Từ năm 1990 trở lại đây, công tác nghiên cứu chọn tạo giống lạc đã đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ với sự ra đời của trên 20 giống

Trang 25

lạc được công nhận là giống quốc gia và giống tiến bộ kỹ thuật trong đó 15 giống nhập nội; 04 giống chọn tạo bằng con đường lai hữu tính (Sen lai 75/23, BG78, L12, L20); 02 giống chọn tạo qua tác nhân đột biến (4329, V79)

Các giống mới có năng suất cao (L23, L18, L14, L02) đã phát triển trên quy mô hàng trăm ngàn ha; giống có thời gian sinh trưởng ngắn (L05); giống

có chất lượng phục vụ xuất khẩu (L26); giống kháng bệnh héo xanh vi khuẩn (MD7); giống kháng bệnh lá (L02); giống chịu hạn khá như V79, L12 đã góp phần tăng năng suất lạc cả nước (Nguyễn Văn Thắng và cs., 2001; Nguyễn Văn Thắng và cs., 2002; Nguyễn Văn Thắng và cs., 2004; Nguyễn Thị Chinh và cs., 2008)

Những thành tựu đáng ghi nhận trong công tác chọn tạo giống ở Việt Nam đã và đang tập trung vào các mục tiêu: năng suất cao thích hợp với từng vùng sinh thái, thời gian sinh trưởng khác nhau phù hợp với các công thức luân canh cây trồng trong đó chú trọng giống có thời gian sinh trưởng ngắn (dưới 120 ngày), giống có khả năng kháng/chống chịu với bệnh trên lá (gỉ sắt, đốm đen), với bệnh héo xanh vi khuẩn, giống có khả năng chịu hạn, giống kháng bệnh mốc

vàng (Aspegillus ssp), giống chịu sâu, giống có chất lượng cao phục vụ cho ép

dầu và xuất khẩu hạt (Nguyễn Thị Dần và Thái Phiên, 1991)

Giống lạc L18 được Trung tâm Nghiên cứu & Phát triển Đậu đỗ chọn ra

từ tập đoàn nhập nội, đã được công nhận giống năm 2009 Giống có thân đứng, tán gọn, chống đổ tốt; quả to vỏ lụa màu hồng sáng, tiềm năng năng suất quả 50-

70 tạ/ha, kháng bệnh lá và héo xanh vi khuẩn trung bình (Nguyễn Văn Bộ và cs.,2009; Nguyễn Văn Thắng và cs., 2004)

Giống lạc L23 được Trung tâm Nghiên cứu & Phát triển Đậu đỗ chọn lọc ra

từ tập đoàn nhập nội năm 2001 Giống lạc L23 thân đứng, tán gọn, chống đổ tốt, lá xanh đậm, sinh trưởng khoẻ, ra hoa kết quả tập trung, kháng bệnh lá (đốm nâu, đốm đen, gỉ sắt) và kháng héo xanh vi khuẩn (chết ẻo) và chịu hạn khá, tiềm năng năng suất từ 50 - 55 tạ/ha, chịu thâm canh cao Giống L23 có thể trồng được cả 2 thời vụ trong năm (vụ xuân và vụ thu đông) (Nguyễn Thị Chinh và cs., 2008)

Kết quả bước đầu khả quan trong công tác chọn tạo giống lạc bằng công tác lai hữu tính và đột biến ở Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Đậu đỗ, năm

Trang 26

2008 đã chọn ra được nhiều dòng ưu tú (từ thế hệ F5-F8) theo các hướng: năng suất cao, khả năng chống chịu bệnh héo xanh vi khuẩn, khả năng chịu hạn Vụ xuân 2008 đã chọn được 4 dòng (D8, 0401.66, D8.1 và ĐBĐ0401.8) có năng suất cao hơn giống đối chứng L14 và 02 dòng (0403.1 và ĐBĐ 0301.16.1) năng suất cao hơn đối chứng L18, 33 dòng ưu tú ở thế hệ thấp hơn có thời gian sinh trưởng trung bình cho năng suất cao hơn đối chứng L14 và L18 Vụ thu đông

2008 đã chọn được 16 dòng lạc có năng suất vượt đối chứng (L12, L14 và L18) đây là những dòng lạc có triển vọng đang đề nghị khảo nghiệm và nghiên cứu ở các vụ tiếp theo Đã đánh giá khả năng kháng nhiễm bệnh héo xanh vi khuẩn của

94 dòng giống lạc và tìm ra được 5 giống kháng cao và trung bình

Kế thừa các kết quả nghiên cứu từ năm 2001, năm 2008 Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Đậu đỗ đã xác định được một số giống lạc mới, triển vọng cho ra sản xuất giai đoạn 2010-2015 như dòng lạc 0401.57.3 (L19) được chọn tạo từ

tổ hợp lai L18 /L16 có năng suất cao hơn giống L18 trong điều kiện thâm canh Dòng 0009.9.1 được chọn tạo từ tổ hợp lai QĐ9 (L15)/V79, có năng suất cao hơn giống L12 và L14 từ 16-28% trong điều kiện canh tác nước trời (Ngô Thế Dân và cs., 2000)

Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Bắc Trung Bộ đã tập trung nghiên cứu lai tạo và tuyển chọn bộ giống lạc có năng suất cao và chất lượng cao phù hợp với sinh thái của vùng Đến năm 2008, đã xác định được bộ giống lạc thích hợp cho vùng bao gồm các giống: L08, L14, L20, L23 và V79 (Nguyễn Văn Bộ

và cs., 2009)

Tại miền Nam, kết quả đánh giá 15 giống ngắn ngày của Viện Khoa học Nông nghiệp Miền Nam cho thấy, 3 giống: ICGV87883, 87391, 90068 là những giống có triển vọng Tại Viện Cây có dầu Miền Nam, Ngô Thị Lam Giang và cs (1990) đã đánh giá trên 400 mẫu giống nhập nội, lai tạo và chọn lọc ra một số giống có triển vọng là: VD1, VD2, VD3, VD4, VD5, VD9 (Dẫn theo Nguyễn Thị Dần và cs., 1991)

Xuất phát từ quan điểm nhập công nghệ tiên tiến từ nước ngoài để cải tiến,

áp dụng phục vụ phát triển sản xuất, thời gian qua trong khuôn khổ chương trình đậu đỗ Quốc gia đã nhập nội hàng nghìn mẫu giống với các đặc tính quí, trong đó

Trang 27

có những giống đặc biệt ưu việt như: Năng suất cao, thời gian sinh trưởng ngắn, chất lượng xuất khẩu cao, kháng bệnh héo xanh vi khuẩn…đã góp phần quan trọng trong công tác cải tiến giống lạc trong nước

Giống lạc L08 được chọn lọc theo phương pháp chọn lọc quần thể từ dòng lạc mang tên QĐ2 trong tập đoàn nhập nội của Trung Quốc năm 1996 Giống lạc L08 đã được Hội đồng Khoa học Công nghệ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận là giống tiến bộ kỹ thuật năm 2004 Ở hầu hết các điểm khảo nghiệm, giống L08 có ưu điểm nổi bật so với các giống khác là có tỷ lệ nhân, khối lượng 100 quả và khối lượng 100 hạt cao, hạt to đều, vỏ lụa hồng cánh sen đẹp đạt tiêu chuẩn xuất khẩu và thích hợp với thị hiếu người tiêu dùng Giống L08 có năng suất cao và thích hợp với chân đất có thành phần cơ giới nhẹ, tơi xốp và có thể thâm canh (Nguyễn Xuân Hồng và cs., 2003)

Giống lạc MD7 được chọn lọc từ tập đoàn nhập nội của Trung Quốc năm

1996 theo hướng kháng héo xanh vi khuẩn Ưu điểm nổi bật của MD7 là khối lượng hạt lớn, tỷ lệ nhân cao 70 - 75%, kháng héo xanh vi khuẩn, thích ứng rộng, năng suất trung bình từ 30 - 35 tạ/ha Giống lạc MD7 được công nhận giống tiến

bộ kỹ thuật năm 2002 (Nguyễn Xuân Hồng và cs., 2004; Đinh Thái Hoàng và Vũ Đình Chính, 2011)

Giống lạc L14 được chọn lọc theo phương pháp chọn lọc quần thể từ dòng lạc mang tên QĐ5 trong tập đoàn nhập nội của Trung Quốc năm 1996 Giống L14 có thời gian sinh trưởng thuộc nhóm trung ngày (110 - 120 ngày), tỷ lệ nhân

73 - 75%, năng suất ổn định từ 30 - 40 tạ/ha trong vụ xuân và 20 - 25 tạ/ha trong

vụ thu đông, có khả năng chịu hạn khá, kháng bệnh lá cao L14 được công nhận giống tiến bộ kỹ thuật năm 2002 (Nguyễn Văn Thắng và cs., 2001)

Mặt khác, từ những nguồn vật liệu nhập nội, nhiều giống mới đã được cải tiến bằng con đường lai hữu tính đã có những đóng góp nhất định trong sản xuất lạc như: Giống lạc Sen lai 75/23 được chọn tạo từ tổ hợp lai giữa Trạm Xuyên x Mộc Châu trắng; Giống lạc L12 được chọn lọc từ tổ hợp lai giữa V79 x ICGV

87157 năm 1992, được công nhận giống Quốc gia năm 2004 (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2005), (Nguyễn Văn Thắng và cs., 2002)

Trang 28

Lê Song Dự và Trần Nghĩa (1995) đã nghiên cứu thành công giống lạc V79 bằng cách dùng tia Rơnghen gây đột biến giống Bạch Sa (Trung Quốc) Giống lạc V79 thuộc nhóm chín trung bình, năng suất cao hơn giống địa phương

từ 15 - 25%, vỏ mỏng, tỷ lệ nhân cao như Sen Nghệ An, thích hợp trên chân đất cát pha, phụ thuộc nước trời Giống lạc V79 được Hội đồng khoa học Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận là giống Quốc gia năm 1995

Từ 1996 - 1998, Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Đậu đỗ đã đánh giá

bộ giống kháng bệnh lá nhập nội từ ICRISAT thấy rằng, có 6 giống vừa có năng suất khá vừa kháng bệnh là: ICGV 91227, 87846, 91234, 98256, 91215, 91222 (Nguyễn Thị Dần và Thái Phiên, 1991)

1.3.4.2 Kết quả nghiên cứu về bón phân cho lạc

Hầu hết các loại đất trồng lạc của nước ta có hàm lượng chất dinh dưỡng thấp, nông dân lại ít chú trọng đến việc bổ sung phân bón nên năng suất lạc thấp Xuất phát từ thực tế sản xuất, nhiều công trình nghiên cứu về phân bón ở Việt Nam đã được ưu tiên giải quyết

Kết quả nghiên cứu sử dụng phân bón N, P, K hợp lý cho lạc xuân và lạc thu trên đất bạc màu Bắc Giang cho thấy: Nền 10 tấn phân chuồng và 30kg N + 90kg P2O5 + 60kg K2O vừa cho năng suất cao, vừa cho hiệu quả kinh tế cao hơn những công thức khác (Nguyễn Thị Chinh và cs., 2002)

Phân Kali thường có hiệu lực đối với lạc trồng trên các loại đất có thành phần cơ giới nhẹ và nghèo dinh dưỡng như đất cát thô ven biển, đất bạc màu Hiệu suất 1kg K2O trong các thí nghiệm biến động từ 5,0 - 11,5 kg quả khô Lượng kali bón thích hợp cho lạc ở các tỉnh phía Bắc là 40kg K2O trên nền 20kg

N và 80kg P2O5 (Lê Song Dự và Trần Nghĩa, 1995)

Vũ Công Hậu và cs (1995) nhận định rằng, lượng phân bón nguyên chất bón cho 1 ha lạc thường tuỳ theo loại đất trồng Đối với các đất bạc màu, đất xám, đất cát, bón cho lạc với lượng: 25 - 40kg N + 50 - 80kg P2O5 + 60 - 90kg K2O Còn trên các loại đất khác thì bón với lượng: 20 - 30kg N + 40 - 60kg P2O5 + 40 - 60kg K2O

Tạ Quốc Tuấn và cs (1995) khi nghiên cứu ảnh hưởng của các mức bón N,

P khác nhau đến sinh trưởng và năng suất lạc trên nền đất lúa vùng Tứ Giác Long

Trang 29

Xuyên đã thấy rằng, sự phối hợp giữa các mức bón 60, 90, 120kg P2O5/ha trên cùng một mức bón 20kg N/ha đều cho năng suất cao tương tự với việc đầu tư thêm phân đạm ở mức 40kg N/ha trên cùng các mức lân

Nghiên cứu về hiệu lực của phân lân đối với lạc trên đất xám bạc màu vùng Đông Nam Bộ cho thấy, trên nền đất xám bạc màu, lân dễ tiêu thấp nên khi bón lân với liều lượng 60 - 90kg P2O5, khối lượng nốt sần tăng 22 - 34%, khối lượng hạt tăng 3 - 6%, năng suất tăng 10 - 23% so với không bón Hiệu suất 1kg

P2O5 đạt 6,3 - 9,2kg lạc vỏ với giống lạc Lỳ (Nguyễn Như Hà, 2006)

Cũng theo Nguyễn Thị Dần và Thái Phiên (1991) thì việc bón kali cho lạc trên đất bạc màu đã mang lại hiệu quả cao Hiệu suất 1kg K2SO4 trên đất cát biển

là 6kg lạc vỏ và trên đất bạc màu là 8 - 10kg lạc vỏ

Để đưa ra mức phân bón N, P, K thích hợp cho giống lạc L18, Nguyễn Văn Thắng và cs đã tiến hành nghiên cứu các mức bón khác nhau cho L18 từ: 0kg N, 15kg N, 30kg N, 45kg N, 60kg N, 75kg N phối hợp với P, K theo tỷ lệ 1N: 3P: 2K kết hợp bón với 20 tấn phân chuồng + 500 kg vôi bột cho 1 ha ở cả 2

vụ xuân và thu đông Kết quả cho thấy ở mức phân bón 45kg N + 135kg P2O5 + 90kg K2O giống L18 cho năng suất cao nhất trong thí nghiệm (Nguyễn Văn Thắng và cs., 2004)

1.4 Điều kiện tự nhiên và tình hình sản xuất lạc của tỉnh Yên Bái

1.4.1 Điều kiện tự nhiên

Trang 30

nghèo, đặc biệt khó khăn của cả nước…

Với vị trí địa lý là cửa ngõ miền Tây Bắc, lại nằm trên trung điểm của một trong những tuyến hành lang kinh tế chủ lực Trung Quốc - Việt Nam: Côn Minh

- Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, có hệ thống giao thông tương đối đa dạng đã tạo cho Yên Bái có điều kiện và cơ hội thuận lợi để tăng cường hội nhập và giao lưu kinh tế thương mại, phát triển văn hóa xã hội…không chỉ với các tỉnh trong vùng, các trung tâm kinh tế lớn trong cả nước mà còn cả trong giao lưu kinh tế quốc tế, đặc biệt là với các tỉnh Tây Nam Trung Quốc

1.4.1.2 Đặc điểm địa hình và tính chất đất đai

Yên Bái nằm ở vùng núi phía Bắc, có đặc điểm địa hình cao dần từ Đông Nam lên Tây Bắc và được kiến tạo bởi 3 dãy núi lớn đều có hướng chạy Tây Bắc

- Đông Nam: phía Tây có dãy Hoàng Liên Sơn - Pú Luông nằm kẹp giữa sông Hồng và sông Đà, tiếp đến là dãy núi cổ Con Voi nằm kẹp giữa sông Hồng và sông Chảy, phía Đông có dãy núi đá vôi nằm kẹp giữa sông Chảy và sông Lô Địa hình khá phức tạp nhưng có thể chia thành 2 vùng lớn: vùng cao và vùng thấp Vùng cao có độ cao trung bình 600 m trở lên, chiếm 67,56% diện tích toàn tỉnh Vùng này dân cư thưa thớt, có tiềm năng về đất đai, lâm sản, khoáng sản, có khả năng huy động vào phát triển kinh tế - xã hội Vùng thấp có độ cao dưới 600

m, chủ yếu là địa hình đồi núi thấp, thung lũng bồn địa, chiếm 32,44 % diện tích

sử dụng vào mục đích khác Trong tổng diện tích đất chưa sử dụng thì đất bằng chưa

sử dụng là 713,06 ha; đất đồi núi chưa sử dụng là 45.620,90 ha, còn lại là núi đá

Trang 31

không có rừng cây Đất Yên Bái chủ yếu là đất xám (chiếm 82,37%), còn lại là đất mùn alít, đất phù sa, đất glây, đất đỏ…

1.4.1.3 Tài nguyên khí hậu

Yên Bái nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình là

22 - 230C; lượng mưa trung bình 1.500 - 2.200 mm/năm; độ ẩm trung bình 83 - 87%, thuận lợi cho việc phát triển nông - lâm nghiệp Dựa trên yếu tố địa hình khí hậu, có thể chia Yên Bái thành 5 tiểu vùng khí hậu Tiểu vùng Mù Cang Chải với độ cao trung bình 900 m, nhiệt độ trung bình 18 - 200C, có khi xuống dưới

00C về mùa đông, thích hợp phát triển các loại động, thực vật vùng ôn đới Tiểu vùng Văn Chấn - nam Văn Chấn, độ cao trung bình 800 m, nhiệt độ trung bình 18

- 200C, phía Bắc là tiểu vùng mưa nhiều, phía Nam là vùng mưa ít nhất tỉnh, thích hợp phát triển các loại động, thực vật á nhiệt đới, ôn đới Tiểu vùng Văn Chấn - Tú

Lệ, độ cao trung bình 200 - 400 m, nhiệt độ trung bình 21 - 320C, thích hợp phát triển các loại cây lương thực, thực phẩm, chè vùng thấp, vùng cao, cây ăn quả và cây lâm nghiệp Tiểu vùng nam Trấn Yên, Văn Yên, thành phố Yên Bái, Ba Khe,

độ cao trung bình 70 m, nhiệt độ trung bình 23 - 240C, là vùng mưa phùn nhiều nhất tỉnh, có điều kiện phát triển cây lương thực, thực phẩm, cây công nghiệp, lâm nghiệp, cây ăn quả Tiểu vùng Lục Yên - Yên Bình độ cao trung bình dưới 300 m, nhiệt độ trung bình 20 - 230C, là vùng có mặt nước nhiều nhất tỉnh, có hồ Thác Bà rộng 19.050 ha, có điều kiện phát triển cây lương thực, thực phẩm, cây công nghiệp, lâm nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản, có tiềm năng du lịch

1.4.2 Tình hình sản xuất lạc trên địa bàn tỉnh Yên Bái

Tại Yên Bái, theo số liệu của tổng cục thống kê, sản xuất lạc của tỉnh trong những năm qua có xu hướng giảm về diện tích và tăng về năng suất, sản lượng Nhìn chung, năng suất lạc của tỉnh đạt trung bình so với mặt bằng cả nước Năm 2010, năng suất lạc bình quân toàn tỉnh đạt 14,14 tạ/ha và đến năm

2014 đạt 17,13 tạ/ha, tăng 21,1% so với năm 2010 (Tổng cục thống kê, 2015)

Có được kết quả này là do tỉnh đã có nhiều chính sách đầu tư phát triển nông nghiệp nói chung và sản xuất lạc nói riêng Nhiều giống mới như L14, MD7,

Trang 32

TB25 và các tiến bộ kỹ thuật mới như: kỹ thuật che phủ nilon, vụ lạc mới thu đông đã được đưa vào ứng dụng trong sản xuất Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu về khảo nghiệm so sánh giống mới cùng với liều lượng lân bón cụ thể cho từng vùng sinh thái

Hầu hết các giống lạc nêu trên đều thích nghi tốt với điều kiện thâm canh, chủ động nước tưới, vì vậy khi trồng tại các vùng nước trời đã bộc lộ nhiều hạn chế như: chịu hạn kém, nhiễm sâu bệnh nhiều dẫn tới năng suất thấp Mặt khác, quy trình kỹ thuật sản xuất lạc áp dụng cho từng vùng sinh thái của tỉnh chưa được nghiên cứu cụ thể

Bảng 1.3 Diện tích, năng suất và sản lượng lạc của tỉnh Yên Bái

(ha)

Năng suất (tạ/ha)

là rất cần thiết

1.5 Điều kiện tự nhiên và tình hình sản xuất lạc của huyện Yên Bình

1.5.1 Điều kiện tự nhiên của huyện Yên Bình

Yên Bình là huyện miền núi nằm ở phía đông nam tỉnh Yên Bái Trung tâm huyện cách thành phố Yên Bái 8 Km về phía đông nam, cách thủ đô Hà Nội 170Km về phía tây bắc, phía đông nam giáp huyện Đoan Hùng của tỉnh

Trang 33

Phú Thọ, phía tây nam giáp thành phố Yên Bái, phía tây bắc giáp thành phố Yên Bái, huyện Trấn Yên và Huyện Văn Yên, phía đông bắc giáp huyện Hàm Yên của tỉnh Tuyên Quang, phía bắc giáp huyện Lục Yên Trên địa bàn có tuyến quốc lộ 70 từ Hà Nội đi Yên Bái và đi Lào Cai chạy qua trung tâm và một số xã của huyện

Hình 1.1 Bản đồ hành chính huyện Yên Bình

Huyện Yên Bình có tổng diện tích tự nhiên là 77.319,67 ha trong đó diện tích đất nông nghiệp có 57.653,91 ha chiếm 74,57% tổng diện tích tự nhiên Yên Bình nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa có nhiệt độ trung bình hàng năm

là 22,90C Lượng mưa bình quân hàng năm là 2.121,2mm, số ngày mưa trung bình là 136 ngày, tập trung từ tháng 5 đến tháng 9 hàng năm Độ ẩm trung bình là 37% và không có sương muối Do đặc điểm là huyện có diện tích mặt nước nhiều (hồ Thác Bà 15.975,1 ha) nên khí hậu vùng này mang tính chất vùng hồ: mùa đông ít lạnh, mùa hè mát mẻ, thuận lợi cho việc phát triển nông, lâm nghiệp, trồng rừng phòng hộ và rừng nguyên liệu; trồng cây công nghiệp (chè, cao su, cây ăn quả,…), cây công nghiệp ngắn ngày (lạc, đậu tương,…) và là tiềm năng

Trang 34

để phát triển ngành nuôi trồng thuỷ sản, phát triển du lịch dịch vụ

Địa hình của huyện Yên Bình khá phức tạp, với đặc điểm địa hình chuyển tiếp từ Trung du lên miền núi, địa hình cao dần từ Đông Nam lên Tây Bắc được tạo bởi hai dãy núi: Cao Biền nằm phía tả ngạn sông Chảy (phía Đông hồ Thác Bà) và Con Voi nằm phía hữu ngạn sông Chảy (phía Tây hồ Thác Bà )

Đặc điểm đất đai thổ nhưỡng của Yên Bình là nhiều loại đất, nhóm đất đỏ vàng (Feralit) là nhóm đất chiếm phần lớn diện tích trong huyện (61%) gồm nhiều loại đất có khả năng phát triển cây công nghiệp (chè, cà phê, cao su, cây ăn quả), cây lương thực, thực phẩm, cây công nghiệp ngắn ngày (mía, lạc ) và phát triển đồng cỏ để chăn nuôi đại gia súc Nhóm đất dốc phân bổ rải rác ở các thung lũng sông suối có khả năng cải tạo thâm canh trồng cây lương thực, thực phẩm

và cây công nghiệp ngắn ngày Nhóm đất phù sa phân bố dọc hai bên bờ sông Chảy và dưới cốt 58 hồ Thác Bà có đặc tính độ phì cao của phù sa đáp ứng được yêu cầu của các loại cây màu (ngô, lạc, đậu đỗ,…) và cây lương thực

Các tài nguyên thiên nhiên của huyện khá phong phú, ngoài tài nguyên nước và tài nguyên rừng còn kể đến một số khoáng sản: đá vôi hoa hoá có độ trắng cao, đá vôi vật liệu xây dựng, chì, kẽm, pyrit, cao lanh, fenpat; ngoài ra

có đá quý, bán đá quý và các loại cát, quặng vàng, than nâu những loại tài nguyên này đều có trữ lượng khá lớn

Là địa phương có nhiều lợi thế so sánh về vị trí địa lý, là đầu mối giao lưu kinh tế quan trọng của Tỉnh Yên Bái và Lào Cai với Hà Nội, là cửa ngõ của vùng Tây Bắc,đó là thuận lợi quan trọng để phát triển kinh tế dịch vụ Huyện có nhiều tiềm năng để phát triển nông nghiệp: đất đai, thổ nhưỡng phù hợp với nhiều loại cây ăn quả có múi, cây lương thực, cây trồng công nghiệp, cây màu trong đó đặc biệt là cây lạc

1.5.2 Tình hình sản xuất lạc trên địa bàn huyện Yên Bình

Đối với huyện Yên Bình lạc là một trong những cây trồng chính được trồng với diện tích lớn trong vụ xuân đặc biệt là ở những vùng đất bán ngập hồ Thác Bà

Kết quả điều tra cho thấy: Trong những năm qua diện tích trồng lạc tại

Trang 35

huyện Yên Bình dao động từ 600-670 ha, với lợi thế có diện tích đất bán ngập dưới cốt 58 hồ Thác Bà hàng năm vào vụ xuân khi nước rút nhân dân trong huyện có thể tận dụng để trồng lạc với diện tích trên 400 ha, chiếm trên 60% tổng diện tích lạc cả năm của huyện Kết quả điều tra cũng chỉ ra: Về thời vụ: lạc được gieo trồng ở 2 vụ là vụ chính là xuân và vụ hè thu, ngoài ra còn có 1 số diện tích nhỏ trồng lạc trong vụ thu đông

Bảng 1.4 Diện tích, năng suất và sản lượng lạc của huyện Yên Bình

(ha)

Năng suất (tạ/ha)

(Nguồn: Niên giám thống kê, 2014)

Vụ lạc xuân: gieo từ 10/2 - 25/2, thu hoạch 10/6 - 25/6 Đầu vụ thường gặp rét và hạn làm ảnh hưởng xấu đến khả năng mọc mầm và tỷ lệ mọc của cây lạc Cuối vụ có mưa lớn và nhiệt độ cao dễ làm cho lạc mọc mầm ngay trên ruộng, gây ảnh hưởng lớn đến năng suất, chất lượng và việc thu hoạch, bảo quản lạc Đồng thời, do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu có những năm mưa lũ đến sớm vào trung tuần tháng 6 mực nước hồ đã dâng cao, ảnh hưởng đến tiến độ thu hoạch lạc, đặc biệt có nhiều diện tích bị mất trắng Do vậy việc nghiên cứu xác định giống lạc phù hợp để sản xuất trên vùng đất bán ngập là việc làm hết sức cần thiết

Vụ lạc hè thu gieo từ 15/6 - 5/7, thu hoạch từ 10 - 25/9, đây là thời vụ không thuận lợi cho lạc sinh trưởng phát triển do gặp mưa nhiều, nhiệt độ cao, sâu bệnh hại, năng suất thấp

Vụ lạc thu đông: thời vụ gieo từ 30/8 - 30/9, thu hoạch 15/12 - 25/12 Sản phẩm lạc của vụ này chủ yếu được sử dụng để cung ứng giống cho vụ xuân trên địa bàn của huyện Tuy nhiên, vụ lạc đông gặp phải một số khó khăn về điều kiện

Trang 36

thời tiết như: nhiệt độ cao, kèm theo mưa bão vào đầu vụ nên lạc dễ bị thối, ảnh hưởng xấu đến tỷ lệ mọc Nếu gieo muộn sang đến tháng 10, lạc thu hoạch vào tháng 1 thì thường có mưa phùn, độ ẩm không khí cao, gây khó khăn cho việc phơi giống Với trình độ thâm canh của người dân địa phương còn nhiều hạn chế nên vụ lạc này thường được sản xuất với diện tích rất ít

Về cơ cấu giống lạc: trước đây chủ yếu là giống lạc đỏ địa phương Năm

2005, huyện Yên Bình phối hợp với Trung tâm Chuyển giao Công nghệ và Khuyến nông nghiên cứu đưa một số giống lạc mới, có năng suất cao, chất lượng tốt như L14, MD7 vào sản xuất, góp phần tăng năng suất lạc của huyện Do việc

sử dụng nguồn giống người dân tự để trong các vụ vào sản xuất, nên hiện tại giống lạc ở huyện Yên Bình đã bị lẫn tạp, thoái hóa dẫn đến năng suất thấp và không ổn định Chưa có một nghiên cứu chính thức nào để tìm ra giống lạc mới năng suất cao, chống chịu tốt với sâu bệnh hại phù hợp với điều kiện đất đai, khí hậu tại vùng đất bán ngập của huyện

Về phân bón: Phần lớn nông hộ bón phân hữu cơ cho lạc với lượng từ 3 -

5 tấn/ha; 60% nông hộ bón phân đạm cho lạc với lượng 60 - 80 kg urê/ha, 40% bón với lượng thấp hơn, bón thúc chủ yếu vào giai đoạn làm cỏ đợt 1; 30% nông

hộ bón phân lân cho lạc với lượng 300 - 400 kg super lân/ha, bón lót toàn bộ; 85

% nông hộ bón phân kali cho lạc với lượng từ 60 - 80 kg kaliclorua/ha, chủ yếu bón thúc khi làm cỏ đợt 1 Ngoài ra 40 - 60% hộ sử dụng bón phân NPK tổng hợp với lượng từ 20 - 40kg/sào Bắc Bộ Lượng vôi bột cũng được bà con nông dân sử dụng khác nhau, 50% nông hộ bón vôi trước khi trồng với lượng 400 kg/ha, có 10% hộ không sử dụng vôi, còn lại là mức bón không xác định

Nhìn chung mức đầu tư phân bón cho cây lạc của người dân tại địa phương ở mức trung bình và chưa quan tâm tới việc bón l cho cây lạc

Việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật trên cây lạc của huyện (kỹ thuật che phủ nilon) được áp dụng chủ yếu trong vụ thu đông (chiếm khoảng 10%) Nguyên nhân người dân không áp dụng kỹ thuật che phủ nilon là do các hộ gặp khó khăn

về kinh tế, nhiều nơi còn thiếu thị trường cung ứng sản phẩm

Về phòng trừ sâu bệnh: Các loại sâu hại gồm: Sâu cuốn lá, sâu xanh, sâu

Trang 37

khoang, sâu xám; các loại bệnh hại gồm: Bệnh gỉ sắt, bệnh thối đen cổ rễ, bệnh héo xanh vi khuẩn, bệnh đốm lá (đốm nâu, đốm đen) Bệnh thối đen cổ rễ, bệnh héo xanh vi khuẩn gây hại lạc từ khi cây lạc được 3 - 4 lá đến ra hoa, bệnh đốm

lá (đốm nâu, đốm đen), bệnh gỉ sắt gây hại lạc từ khi lạc bắt đầu ra hoa đến khi quả chín Phần lớn nông dân trong vùng trồng lạc ít quan tâm đến việc phòng trừ sâu bệnh hại lạc Chỉ có 30- 40 % nông hộ trong vùng tiến hành phòng trừ sâu bệnh khi có sâu bệnh gây hại nặng

Về cơ cấu luân canh: Trong vùng đất bán ngập hồ Thác Bà do đặc thù nước rút từ 1 đến tháng 6 hàng năm nên người dân địa phương chỉ tận dụng trồng được 1 vụ lạc trong 1 năm

Như vậy, lạc là một trong những cây trồng chính ở vùng đất bán ngập hồ Thác Bà của huyện, tuy nhiên việc đầu tư thâm canh và ứng các tiến bộ kỹ thuật cho cây lạc vẫn còn thấp và chưa đồng bộ

1.5.3 Những thuận lợi, khó khăn và giải pháp để phát triển sản xuất lạc ở vùng đất bán ngập hồ Thác Bà huyện Yên Bình

1.5.3.1 Thuận lợi trong sản xuất lạc ở vùng đất bán ngập hồ Thác Bà huyện Yên Bình

Tiềm năng về đất đai: Yên Bình có diện tích đất bán ngập khá lớn (trên 2.000 ha) thuận lợi để phát triển sản xuất các loại cây màu trong vụ xuân trong

đó có cây lạc

Vị trí địa lý khá thuận lợi cho việc giao lưu, phát triển sản xuất và tiêu thụ sản phẩm hàng hóa giữa các tỉnh trung du miền núi phía bắc: Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Tuyên Quang, Lao Cai

Lạc là cây trồng chính của nông dân trong vùng, vừa góp phần đa dạng hoá cây trồng, vừa đem lại hiệu quả kinh tế cao và thu nhập cho người dân Tỉnh Yên Bái và huyện Yên Bình có nhiều chủ trương và chính sách khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp, trong đó cây lạc được xác định là cây có nhiều lợi thế trong chuyển dịch cơ cấu cây trồng nhằm nâng cao hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp

1.5.3.2 Khó khăn trong sản xuất lạc ở vùng đất bán ngập hồ Thác Bà huyện Yên Bình

Qua phân tích tình hình sản xuất lạc ở huyện Yên Bình cho thấy: năng suất,

Trang 38

sản lượng lạc chưa ổn định có xu hướng giảm dần mặc dù vùng có nhiều tiềm năng để nâng cao năng suất và sản lượng lạc Nguyên nhân được nhận định là: Thiếu bộ giống phù hợp, đặc biệt những giống mới có năng suất cao, có thời gian sinh trưởng phù hợp với điều kiện của vùng đất bán ngập hồ Thác Bà trong vụ Xuân

Biện pháp kỹ thuật áp dụng trong trồng lạc chưa được người dân quan tâm đầu tư đúng mức: lượng lân bón chưa hợp lý dẫn đến năng suất còn thấp

Kinh tế hộ không đồng đều, đầu tư giống và kỹ thuật canh tác thiếu đồng

bộ, mức độ đầu tư thâm canh còn nhiều hạn chế

Cơ sở hạ tầng của huyện còn nhiều thiếu thốn, còn thiếu hệ thống các nhà kho, nhà sấy, hệ thống bảo quản nông sản sau thu hoạch

1.5.3.3 Giải pháp để phát triển sản xuất lạc ở vùng đất bán ngập hồ Thác Bà huyện Yên Bình

Trên cơ sở xác định được các yếu tố hạn chế, việc nghiên cứu các biện pháp khắc phục cho sản xuất lạc vùng đất bán ngập hồ Thác Bà của huyện là rất cần thiết Một số giải pháp như: nghiên cứu xác định một số giống lạc có năng suất cao, chất lượng tốt phù hợp với điều kiện canh tác và khí hậu vùng đất bán ngập hồ Thác Bà; nghiên cứu lượng phân bón hợp lý để nâng cao năng suất trong sản xuất lạc; nghiên cứu mật độ trồng thích hợp cho một số giống lạc có năng suất cao; nghiên cứu xác định thời vụ trồng thích hợp cho vùng đất bán ngập hồ Thác Bà Nhưng vì điều kiện có hạn nên chúng tôi chỉ thực hiện được hai giải pháp sau:

- Xác định một số giống lạc có năng suất cao, chất lượng tốt và phù hợp với điều kiện canh tác và khí hậu của vùng đất bán ngập hồ Thác Bà

- Nghiên cứu lượng lân bón hợp lý để nâng cao năng suất trong sản xuất lạc

Trang 39

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.1.1 Vật liệu nghiên cứu

* Thí nghiệm bao gồm 7 giống:

1 Giống L14: Do Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển đậu đỗ - Viện Cây

lương thực và Cây thực phẩm tuyển chọn (đối chứng) Giống được công nhận chính thức là giống TBKT theo Quyết định số 5310/BNN- KHKT ngày 29 tháng

11 năm 2002 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

2 Giống lạc L23: Do Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển đậu đỗ - Viện

Cây lương thực và Cây thực phẩm tuyển chọn Giống được chọn ra từ nguồn thu thập năm 2001 và được công nhận cho sản xuất thử năm 2008 theo Quyết định số 111/QĐ-TT-CCN ngày 03 tháng 6 năm 2008

3 Giống lạc L18: Do Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển đậu đỗ - Viện

Cây lương thực và Cây thực phẩm tuyển chọn Giống được công nhận tạm thời năm 2004 theo Quyết định số 2182 QĐ/BNN-KHCN ngày 29 tháng 7 năm 2004

và đã được hội đồng công nhận giống chính thức của Cục Trồng trọt năm 2009

4 Giống lạc L19: Do Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển đậu đỗ - Viện

Cây lương thực và Cây thực phẩm tuyển chọn, đã được Cấp Bằng bảo hộ giống

cây trồng mới năm 2013

5 Giống lạc L26: Do Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển đậu đỗ - Viện

Cây lương thực và Cây thực phẩm tuyển chọn Giống được công nhận cho sản xuất thử theo Quyết định số 233/QĐ-TT-CCN, ngày 14 tháng 7 năm 2010 của

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

6 Giống lạc TB25: Do Tổng công ty Giống cây trồng Thái Bình chọn tạo

và được công nhận cho sản xuất thử năm 2008 theo Quyết định số CCN ngày 03 tháng 6 năm 2008

112/QĐ-TT-7 Giống lạc TK10: Do Viện Bảo vệ Thực vật tuyển chọn, được Bộ

NN-PTNT công nhận là giống sản xuất thử từ tháng 9 năm 2009 ở các tỉnh khu vực phía Bắc

Trang 40

2.1.2 Thời gian, địa điểm và điều kiện đất đai nghiên cứu

* Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 02/2015 đến tháng 7/2015

* Địa điểm nghiên cứu: xã Xuân Lai, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái

* Điều kiện đất đai nghiên cứu: Vùng đất bán ngập dưới cốt 58 hồ Thác Bà

2.2 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống lạc tại vùng đất bán ngập hồ Thác Bà, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái

- Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến khả năng sing trưởng, phát triển và năng suất của hai giống lạc L14 và TB25

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Thí nghiệm 1: Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống lạc tại vùng đất bán ngập hồ Thác Bà, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái

Ngày đăng: 28/05/2016, 15:11

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Diện tích, năng suất và sản lượng lạc của một số nước trên thế giới  Nước/ - nghiên cứu xác định giống và lượng lân bón đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống lạc trên vùng đất bán ngập hồ thác bà, huyện yên bình, tỉnh yên bái
Bảng 1.1. Diện tích, năng suất và sản lượng lạc của một số nước trên thế giới Nước/ (Trang 18)
Bảng 1.2. Diện tích, năng suất và sản lượng lạc ở Việt Nam - nghiên cứu xác định giống và lượng lân bón đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống lạc trên vùng đất bán ngập hồ thác bà, huyện yên bình, tỉnh yên bái
Bảng 1.2. Diện tích, năng suất và sản lượng lạc ở Việt Nam (Trang 20)
Hình 1.1. Bản đồ hành chính huyện Yên Bình - nghiên cứu xác định giống và lượng lân bón đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống lạc trên vùng đất bán ngập hồ thác bà, huyện yên bình, tỉnh yên bái
Hình 1.1. Bản đồ hành chính huyện Yên Bình (Trang 33)
Bảng 1.4. Diện tích, năng suất và sản lượng lạc của huyện Yên Bình - nghiên cứu xác định giống và lượng lân bón đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống lạc trên vùng đất bán ngập hồ thác bà, huyện yên bình, tỉnh yên bái
Bảng 1.4. Diện tích, năng suất và sản lượng lạc của huyện Yên Bình (Trang 35)
Bảng 3.1. Thời gian sinh trưởng và tỷ lệ mọc mầm của các giống lạc - nghiên cứu xác định giống và lượng lân bón đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống lạc trên vùng đất bán ngập hồ thác bà, huyện yên bình, tỉnh yên bái
Bảng 3.1. Thời gian sinh trưởng và tỷ lệ mọc mầm của các giống lạc (Trang 46)
Bảng 3.7. Mức độ nhiễm một số loại sâu bệnh hại chính của các giống lạc vụ - nghiên cứu xác định giống và lượng lân bón đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống lạc trên vùng đất bán ngập hồ thác bà, huyện yên bình, tỉnh yên bái
Bảng 3.7. Mức độ nhiễm một số loại sâu bệnh hại chính của các giống lạc vụ (Trang 56)
Bảng 3.8. Các yếu tố cấu thành năng suất của các giống lạc thí nghiệm trong - nghiên cứu xác định giống và lượng lân bón đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống lạc trên vùng đất bán ngập hồ thác bà, huyện yên bình, tỉnh yên bái
Bảng 3.8. Các yếu tố cấu thành năng suất của các giống lạc thí nghiệm trong (Trang 57)
Bảng 3.10. Chi phí sản xuất và thu nhập thuần của các giống lạc tham gia - nghiên cứu xác định giống và lượng lân bón đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống lạc trên vùng đất bán ngập hồ thác bà, huyện yên bình, tỉnh yên bái
Bảng 3.10. Chi phí sản xuất và thu nhập thuần của các giống lạc tham gia (Trang 61)
Bảng 3.11. Ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến tỷ lệ mọc mầm và thời gian sinh - nghiên cứu xác định giống và lượng lân bón đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống lạc trên vùng đất bán ngập hồ thác bà, huyện yên bình, tỉnh yên bái
Bảng 3.11. Ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến tỷ lệ mọc mầm và thời gian sinh (Trang 63)
Bảng 3.13. Ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến khả năng phân cành và chiều - nghiên cứu xác định giống và lượng lân bón đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống lạc trên vùng đất bán ngập hồ thác bà, huyện yên bình, tỉnh yên bái
Bảng 3.13. Ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến khả năng phân cành và chiều (Trang 67)
Bảng 3.16. Ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến khả năng tích lũy chất - nghiên cứu xác định giống và lượng lân bón đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống lạc trên vùng đất bán ngập hồ thác bà, huyện yên bình, tỉnh yên bái
Bảng 3.16. Ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến khả năng tích lũy chất (Trang 74)
Bảng 3.18. Ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến các yếu tố cấu thành - nghiên cứu xác định giống và lượng lân bón đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống lạc trên vùng đất bán ngập hồ thác bà, huyện yên bình, tỉnh yên bái
Bảng 3.18. Ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến các yếu tố cấu thành (Trang 78)
Bảng 3.19. Ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến năng suất của hai giống - nghiên cứu xác định giống và lượng lân bón đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống lạc trên vùng đất bán ngập hồ thác bà, huyện yên bình, tỉnh yên bái
Bảng 3.19. Ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến năng suất của hai giống (Trang 80)
Hình 3: Thí nghiệm phân lân - nghiên cứu xác định giống và lượng lân bón đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống lạc trên vùng đất bán ngập hồ thác bà, huyện yên bình, tỉnh yên bái
Hình 3 Thí nghiệm phân lân (Trang 89)
Hình 5: Khu thí nghiệm xác định giống giai đoạn ra hoa rộ - nghiên cứu xác định giống và lượng lân bón đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống lạc trên vùng đất bán ngập hồ thác bà, huyện yên bình, tỉnh yên bái
Hình 5 Khu thí nghiệm xác định giống giai đoạn ra hoa rộ (Trang 89)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w