Theo Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 4 tháng 6 năm 2010 về Phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới đã đưa ra mục tiêu về xây dựng nông thôn mới như sau: “Xây dựn
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN THỊ THU HÀ
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP THỰC HIỆN QUY HOẠCH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THÔNG NÔNG, TỈNH CAO BẰNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2015
Trang 2HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN THỊ THU HÀ
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP THỰC HIỆN QUY HOẠCH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THÔNG NÔNG,
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất
kỳ công trình nào khác
Tôi cũng cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ
rõ nguồn gốc và mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thu Hà
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và nghiên cứu đề tài, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình và những lời chỉ bảo chân tình của các thầy cô giáo trường Học viện Nông nghiệp Việt Nam, từ các đơn vị và cá nhân cả trong và ngoài ngành nông nghiệp Tôi xin ghi nhận và bày tỏ lòng biết
ơn tới những tập thể, cá nhân đã dành cho tôi sự giúp đỡ quý báu đó
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và kính trọng sự giúp đỡ nhiệt tình của Thầy giáo – PGS.TS Đỗ Nguyên Hải là người trực tiếp hướng dẫn
và giúp đỡ tôi về mọi mặt để hoàn thành đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy,
cô trong Khoa Quản lý đất đai
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của UBND huyện Thông Nông, phòng Tài nguyên & Môi trường, phòng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn huyện Thông Nông và Uỷ ban nhân dân các xã đã tạo điều kiện về thời gian
và cung cấp số liệu cho đề tài này
Tôi xin chân thành cảm ơn các bạn đồng nghiệp đã giúp đỡ trong quá trình học tập và thực hiện luận văn này
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thu Hà
Trang 5MỤC LỤC
1.1.7 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình xây dựng nông thôn mới 13 1.1.8 Quan điểm, mục tiêu về xây dựng nông thôn mới qua các chính
1.2.1 Thực trạng về xây dựng nông thôn mới ở một số quốc gia trên thế
Trang 62.3 Nội dung nghiên cứu 37 2.3.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Thông Nông 37 2.3.2 Thực trạng xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Thông
2.3.3 Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới xã
2.3.4 Đề xuất giải pháp thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới
2.4.1 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu, tài liệu thứ cấp 38
2.4.3 Phương pháp điều tra sơ cấp thông qua phiếu phỏng vấn 38
3.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội huyện Thông Nông 40 3.1.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và cảnh quan môi trường 40
3.2 Thực trạng xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Thông Nông 50 3.2.1 Đánh giá thực trạng thực hiện bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng
Trang 73.3.3 Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới
huyện Thông Nông (chọn xã Vị Quang và Đa Thông làm điểm
3.4 Đề xuất giải pháp thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới
3.4.2 Giải pháp đào tạo, bồi dưỡng năng lực cho đội ngũ cán bộ huyện và xã 99
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt : Chữ viết đầy đủ
Trang 9DANH MỤC BẢNG
3.4 Tình hình thực hiện tiêu chí Quy hoạch và thực hiện quy hoạch
3.9 Tình hình thực hiện tiêu chí Cơ sở vật chất văn hoá của huyện 60
3.15 Tình hình thực hiện tiêu chí Tỷ lệ lao động có việc làm thường
3.16 Tình hình thực hiện tiêu chí Hệ thống tổ chức chính trị - xã hội
chương trình xây dựng NTM của cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở 95
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nông nghiệp, nông thôn có vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế -
xã hội của mỗi quốc gia Việt Nam là nước nông nghiệp, dân số sống ở khu vực nông thôn chiếm gần 70% dân số cả nước Vì vậy, phát triển nông nghiệp, nông thôn có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, Đảng và Nhà nước ta đã rất quan tâm đến phát triển nông nghiệp nông thôn
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển nhanh chóng nền kinh
tế của đất nước, kinh tế khu vực nông thôn đã có nhiều khởi sắc rõ rệt Kết cấu
hạ tầng kinh tế - xã hội ở nông thôn còn yếu kém, lạc hậu và không đồng bộ Kết cấu hạ tầng chưa đảm bảo yêu cầu phát triển kinh tế; Cơ cấu hạ tầng kết nối giữa các khu vực còn yếu kém Trước tình hình đó, để thúc đẩy sự phát triển kinh tế bền vững và giải quyết những bất cập mà khu vực nông thôn đang gặp, Đảng và Nhà nước đã đưa ra nhiều chủ trương, chính sách về đầu tư phát triển cho khu vực nông thôn Để vấn đề đầu tư được hiệu quả cao thì công tác quy hoạch cho khu vực nông thôn phải đi trước một bước
Xây dựng nông thôn mới là chương trình mục tiêu quốc gia chiếm vị trí hết sức quan trọng Thực hiện Quyết định số 193/QĐ-TTg ngày 02/02/2010 và Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/06/2010 của Thủ tướng Chính Phủ Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Xây dựng, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
đã có văn bản hướng dẫn các địa phương triển khai công tác lập quy hoạch xây dựng nông thôn mới Theo đó, quy hoạch xây dựng nông thôn mới phải gắn với đặc trưng vùng miền và các lợi thế của từng địa phương là nhằm đáp ứng sự phát triển theo các tiêu chí nông thôn mới do Chính phủ ban hành tại Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/04/2009
Huyện Thông Nông nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Cao Bằng cách trung tâm thành phố Cao Bằng 50 km theo đường tỉnh lộ 204, có độ cao từ 600m – 1300m
so với mặt biển Huyên có 10 đơn vị hành chính cấp xã và 01 thị trấn, gồm nhiều dân tộc như Tày, Nùng, Dao, H’mông, Sán, Chao, Kinh… kinh tế hiện nay chủ
Trang 11yếu là nông nghiệp, 60 -70% dựa vào nước trời, đất đai phân tán, đất có độ dốc cao, độ màu mỡ của đất tương đối tốt
Trong những năm qua, huyện Thông Nông đã có bước chuyển biến tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội, nhất là việc xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn như: Điện, đường, trường, trạm, Vấn đề chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, nông thôn của huyện đang tạo ra một bộ mặt mới theo hướng rất tích cực Tuy nhiên, do huyện vẫn là một huyện nông nghiệp, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, cơ sở hạ tầng còn hạn chế, giá trị tăng thêm bình quân đầu người đạt thấp, đặc biệt trên địa bàn thường chịu ảnh hưởng bởi lũ lụt và mưa bão Vì vậy, công tác xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện là rất cần thiết, là chìa khóa cho sự liên kết giữa không gian sống, không gian sinh hoạt và không gian sản xuất thêm chặt chẽ
Xuất phát từ nhu cầu thực tế trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp thực hiện quy hoạch Xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Thông Nông - tỉnh Cao Bằng”
3 Yêu cầu của đề tài
- Nắm được thực trạng việc thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện
- Số liệu điều tra phải đầy đủ, chính xác, khách quan, trung thực
- Giải pháp đưa ra phải phù hợp với thực trạng và định hướng của huyện về xây dựng nông thôn mới
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở lý luận về xây dựng nông thôn mới
1.1.1 Các khái niệm có liên quan về nông thôn mới
1.1.1.1 Khái niệm nông thôn và phát triển nông thôn
a Khái niệm nông thôn
Nông thôn có vai trò và vị trí quan trọng trong sự phát triển chung của mỗi quốc gia Đặc biệt đối với Việt Nam, một nước có nền sản xuất nông nghiệp làm nền tảng, sự đóng góp của nông thôn vào sự phát triển chung của quốc dân càng to lớn Khái niệm nông thôn thường đồng nghĩa với làng xóm, thôn bản… Trong tâm thức người Việt, đó là một môi trường kinh tế sản xuất với nghề trồng lúa nước cổ truyền, không gian sinh tồn, không gian xã hội và cảnh quan văn hóa xây đắp nên nền tảng tinh thần, tạo thành lối sống, cốt cách và bản lĩnh người Việt
Nông thôn là địa bàn sản xuất và cung cấp lương thực thực phẩm cho tiêu dùng của cả xã hội đồng thời cũng là thị trường quan trọng để tiêu thụ sản phẩm của khu vực thành thị hiện đại Người nông dân ở nông thôn sản xuất lương thực, thực phẩm để nuôi sống họ và cung cấp cho nhân dân cả nước Sự gia tăng dân
số là sức ép to lớn đối với sản xuất nông nghiệp trong việc cung ứng đủ lương thực, thực phẩm cho toàn xã hội Vì vậy, sự phát triển bền vững nông thôn sẽ góp phần đáp ứng nhu cầu lương thực, thực phẩm tiêu dùng cho toàn xã hội
Như vậy có thể thấy rằng, khái niệm về nông thôn chỉ mang tính chất tương đối, thay đổi theo thời gian và theo tiến trình phát triển kinh tế, xã hội của các quốc gia trên thế giới Khái niệm nông thôn bao gồm nhiều mặt có quan hệ chặt chẽ với nhau
Có thể hiểu: “Nông thôn là vùng khác với vùng đô thị là ở đó có một cộng đồng chủ yếu là nông dân làm nghề chính là nông nghiệp, có mật độ dân cư thấp hơn, có cơ cấu hạ tầng kém phát triển hơn, có mức độ phúc lợi xã hội thua kém hơn, có trình độ dân trí, trình độ tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hoá thấp hơn”
Trang 13b Khái niệm phát triển nông thôn
Trước hết ta cần hiểu Phát triển là gì? Phát triển được coi như là sự chuyển biến của xã hội, là chuỗi những biến chuyển có mối quan hệ qua lại với nhau Phát triển theo khái niệm chung nhất là việc nâng cao hạnh phúc của người dân, bao hàm cả nâng cao các chuẩn mực sống, cải thiện điều kiện giáo dục, sức khỏe…
Năm 1975 Ngân hàng Thế giới đã đưa ra định nghĩa về phát triển nông thôn như sau: “Phát triển nông thôn là một chiến lược nhằm cải thiện các điều kiện sống
về kinh tế - xã hội của một nhóm người cụ thể (người nghèo ở vùng nông thôn), nó giúp những người nghèo nhất trong những người dân sống ở các vùng nông thôn được hưởng lợi ích từ sự phát triển.” Có quan điểm lại cho rằng PTNT nhằm nâng cao vị thế về kinh tế - xã hội cho người dân ở nông thôn thông qua việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của địa phương (nhân lực, vật lực và trí tuệ)
Ta thấy rằng khái niệm PTNT mang tính toàn diện, đảm bảo tính bền vững về môi trường Thông qua các chiến lược về kinh tế - xã hội của Chính phủ trong điều kiện của nước ta, PTNT được hiểu: Là quá trình cải thiện có chủ ý một cách bền vững về kinh tế, xã hội, văn hoá và môi trường nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân nông thôn, có sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước và các tổ chức khác.” (Mai Thanh Cúc và cộng sự, 2005)
1.1.1.2 Khái niệm nông thôn mới
Trước hết cần nhận thức về nội dung chức năng nông thôn mới XHCN Việt Nam Vậy nông thôn mới là gì?
Theo Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 4 tháng 6 năm 2010 về Phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới đã đưa ra mục tiêu về xây dựng nông thôn mới như sau: “Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp và dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; dân trí được nâng cao; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh
Trang 14trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa”
Vậy, “Nông thôn mới là nông thôn có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện
đại cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, xã hội dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc, đời sống vật chất và tinh thần được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ, an ninh trật tự được giữ vững”
1.1.1.3 Mối liên hệ giữa phát triển nông thôn và xây dựng nông thôn mới
a, Vị trí và phạm vi của PTNT
Như được phân tích ở trên, PTNT bao gồm các hoạt động đa ngành nhằm mục tiêu cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của dân cư nông thôn Theo cách đánh giá phục vụ các mục tiêu khác nhau, nội dung liên quan trong PTNT cũng thay đổi khác nhau tương ứng Tuy vậy nhìn chung, nội dung PTNT là rất rộng lớn, có thể bao gồm các hoạt động đa ngành, liên quan đến nhiều cấp độ khác nhau diễn ra chủ yếu tại khu vực nông thôn Như vậy tất cả các hoạt động nhằm đến mục tiêu cuối cùng, có tác động đến việc cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của bộ phận dân
cư, của các cộng đồng nông thôn một cách bền vững, đều có thể coi là hoạt động,
nội dung của PTNT
b, Vị trí và phạm vi của xây dựng NTM
Xây dựng nông thôn mới NTM có thể tạm coi là một bộ phận, hợp phần của tổng thể PTNT Nếu căn cứ vào diễn giải ngôn từ, nông thôn mới sẽ khác biệt với nông thôn hiện nay hoặc với nông thôn trước kia Sự khác biệt đó hàm ý sự thay đổi theo hướng tích cực của vùng nông thôn Các thay đổi có thể về bộ mặt nông thôn thể hiện ra bên ngoài nói chung, nhưng cũng có thể là các thay đổi về chất lượng, về tinh thần tạo ra động lực thúc đẩy PTNT tại vùng phạm vi địa lý nhất định Nếu PTNT là vấn đề phát triển chung, có sự thống nhất tương đối và có thể chia sẻ giữa các nước khác nhau trên thế giới, thì xây dựng NTM có tính chất đặc thù Không
nhiều nước sử dụng và phát triển nội dung này thành công trong PTNT
c, Vị trí và phạm vi của chương trình NTM
Xây dựng NTM là việc tập trung thực hiện các nội dung PTNT tại cấp cơ
sở Trong đó có sự tham gia của nhiều bên liên quan khác nhau Sự tham gia của
Trang 15Nhà nước có vai trò rất quan trọng để có thể thúc đẩy PTNT cấp cơ sở ở vùng nông thôn trên phạm vi cả nước, đưa đến một mặt bằng chung, nhất là có thể tạo
ra động lực cho sự phát triển mạnh mẽ về chất trong các giai đoạn tiếp theo
Nhà nước cần thiết kế và xây dựng một chương trình NTM nằm trong bối cảnh xây dựng NTM Chương trình NTM là một chương trình do Nhà nước chủ trì, thực hiện hỗ trợ một số lĩnh vực cụ thể về quản lý, kỹ thuật và nguồn lực trong việc xây dựng NTM Các lĩnh vực, cách thức hỗ trợ của Nhà nước trong chương trình NTM phải là thiết yếu, có hiệu quả, tạo ra tác động tích cực trong xây dựng NTM cấp cơ sở Nếu như xây dựng NTM là một quá trình lâu dài thì
chương trình NTM được thực hiện trong một khung thời gian nhất định
Như vậy, chương trình NTM do Nhà nước khởi xướng và thiết kế chương trình, trong đó có phần hỗ trợ quan trọng và phù hợp của Nhà nước nhắm đến việc xây dựng NTM Chương trình NTM thường có khung thời gian trong giai
đoạn 5 - 10 năm đầu của quá trình xây dựng NTM
1.1.2 Đặc trưng của nông thôn mới
Đơn vị cơ bản của nông thôn mới là làng – xã Làng xã là một cộng đồng, trong đó công tác quản lý của nhà nước không can thiệp sâu vào đời sống nông thôn trên tinh thần tôn trọng tính tự quản của người dân thông qua hương ước lệ làng Quản lý nhà nước và tự quản của nông dân được kết hợp hài hòa các giá trị truyền thống làng xã được phát huy tối đa nhằm hình thành môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế nông thôn
Nông thôn mới đáp ứng yêu cầu của sản xuất hàng hóa, đô thị hóa Đó là quá trình chuẩn bị những điều kiện vật chất tinh thần giúp nông dân làm ăn sinh sống và trở nên thịnh vượng ngay trên mảnh đất mà họ gắn bó lâu đời
Nông thôn biết khai thác hợp lý và nuôi dưỡng nguồn lực Tăng trưởng kinh
tế cao và bền vững, môi trường sinh thái được giữ gìn khai thác tốt tiềm năng sẵn
có, khôi phục ngành nghề truyền thống Vận dụng công nghệ về quản lý, sinh học, các hoạt động kinh tế đạt hiệu quả, cơ cấu kinh tế phát triển hài hòa
Dân chủ nông thôn được mở rộng và đi vào thực chất Các chủ thể nông thôn tham gia tích cực trong quá trình ra quyết định về phát triển nông thôn,
Trang 16thông tin minh bạch thông suốt và hiệu quả giữa các tác nhân có liên quan, người nông dân thực sự được tự do và tự quyết định trên luống đất mà họ sở hữu, lựa chọn phương án sản xuất kinh doanh làm giàu cho mình, cho quê hương đúng chủ chương, đường lối của Đảng và Nhà nước
Nông dân, nông thôn có văn hóa phát triển, trí tuệ nâng lên, sức lao động được giải phóng, người nông dân có cuộc sống ổn định, trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật và tay nghề cao, lối sống văn minh, hiện đại nhưng vẫn giữ được giá trị văn hóa bản sắc truyền thống dân tộc
1.1.3 Chức năng của nông thôn mới
1.1.3.1 Chức năng sản xuất nông nghiệp hiện đại
Nông thôn là nơi diễn ra phần lớn các hoạt động sản xuất nông nghiệp của các quốc gia Có thể nói nông nghiệp là chức năng tự nhiên của nông thôn Chức năng cơ bản của nông thôn là sản xuất dồi dào các sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao Khác với nông thôn truyền thống, sản xuất nông nghiệp của nông thôn mới bao gồm cơ cấu các nghành nghề mới, các điều kiện sản xuất nông nghiệp hiện đại hoá, ứng dụng phổ biến khoa học kỹ thuật tiên tiến và xây dựng các tổ chức nông nghiệp hiện đại (Cù Ngọc Hưởng, 2006)
Tại Việt Nam, ngành nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong mục tiêu đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, xóa đói giảm nghèo, ổn định kinh tế xã hội tại Việt Nam thông qua tạo việc làm cho người dân nông thôn (chiếm 70% dân số), tạo nguồn cung lương thực thực phẩm đầy đủ, ổn định giá cả Nông nghiệp cũng là ngành mũi nhọn của Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu
Để phát triển nông thôn cũng như nền sản xuất nông nghiệp, Việt Nam cần phải thay đổi tư duy về nông nghiệp, nông thôn Phải xóa bỏ tư tưởng coi nông dân, nông nghiệp là thấp kém, và coi phát triển nông thôn chỉ là xóa đói giảm nghèo Phải tập trung vào việc “phát triển và làm giàu” ở nông thôn, lấy nền tảng là nông nghiệp và phục vụ cho lợi ích của người nông dân; coi nông nghiệp,nông thôn là động lực cho tăng trưởng và xây dựng lợi thế cạnh tranh quốc gia Điều này đòi hỏi thay đổi nền tảng trong chiến lược phát triển quốc gia về xây dựng nông nghiệp, nông thôn
Trang 171.1.3.2 Chức năng giữ gìn văn hóa truyền thống
Nền văn hoá truyền thống của Việt Nam mang đậm màu sắc thôn quê
đã được sản sinh trong một hoàn cảnh đặc biệt Các phương thức sản xuất, sinh sống cũng như cơ cấu tổ chức mang tính đặc thù của xã hội nông thôn chính là nhân tố quyết định nền văn hoá mang đậm bản sắc của dân tộc ta Do vậy, các truyền thống văn hoá quý báu này đòi hỏi phải được giữ gìn và phát triển trong một hoàn cảnh đặc thù Môi trường thành thị là nơi có tính mở cao, con người cũng có tính năng động cao, vì thế văn hoá quê hương ở đây sẽ không còn tính kế tục Chính vì vậy, chỉ có nông thôn với đặc điểm sản xuất nông nghiệp và tụ cư theo dân tộc mới là môi trường thích hợp nhất để giữ gìn và kế tục văn hoá quê hương (Cù Ngọc Hưởng, 2006)
Từ khi Đảng ta lãnh đạo và khởi xướng công cuộc đổi mới, đất nước ta đã
có những bước phát triển to lớn, đáng mừng, đặc biệt là gần đây khi chúng ta gia nhập WTO Tuy nhiên, mặt trái của cơ chế thị trường đã tác động trực tiếp đến các giá trị văn hóa truyền thống, làm biến đổi và gây sức ép không nhỏ trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa đó Hiểu được tính cấp bách, cũng như tính chiến lược, lâu dài của công tác xây dựng nông thôn mới, Đảng và Nhà nước
ta đã ban hành nhiều nghị quyết, chính sách nhằm phát triển nông nghiệp, nông thôn trong giai đoạn hội nhập đặc biệt là nghị quyết trung ương 7 khóa X về
“nông nghiệp, nông dân, nông thôn” nhằm phát triển nền kinh tế nông thôn nhưng vẫn giữ được nét truyền thống của làng quê Việt
1.1.3.3 Chức năng sinh thái
Nền văn minh công nghiệp đã phá vỡ mối quan hệ hài hoà vốn có giữa con người với thiên nhiên, dẫn đến phá vỡ môi trường một cách nghiêm trọng Quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá khiến con người ngày càng xa rời tự nhiên, dẫn đến những ô nhiễm trong môi trường nước và không khí
Một hệ thống sinh thái nông nghiệp hợp lý, có khoa học vừa có thể đáp ứng các nhu cầu về sản phẩm lương thực cho con người; vừa đáp ứng được các yêu cầu về môi trường tự nhiên Bên cạnh đó đất đai, hệ thống thuỷ lợi,… trong
hệ sinh thái nông nghiệp sẽ phát huy các tác dụng sinh thái như điều hoà khí hậu, giảm ô nhiễm tiếng ồn, cải thiện nguồn nước, phòng chống xâm thực đất đai, làm
Trang 18sạch đất Thông qua sự tuần hoàn của tự nhiên và năng lượng, cuối cùng, thành thị cũng là nơi thu được lợi ích từ chức năng sinh thái của nông thôn
Nông thôn có thể bù đắp được những thiếu hụt sinh thái của thành thị, đây cũng chính là nguyên nhân khiến cho các khu du lịch sinh thái xung quanh các khu đô thị ngày càng phát triển Do vậy, xây dựng nông thôn mới với các mô hình sản xuất nông nghiệp tiên tiến, phù hợp với tiềm năng của từng vùng chính là đóng góp tích cực cho môi trường sinh thái của toàn khu vực (Cù Ngọc Hưởng, 2006)
1.1.4 Các nguyên tắc xây dựng nông thôn mới
Để thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới Đảng và Nhà nước ta đã đề
ra bộ tiêu chí xây dựng nông thôn mới và được thực hiện dựa trên 6 nguyên tắc sau:
Thứ nhất, Các nội dung hoạt động của chương trình xây dựng nông thôn
mới phải được hướng tới mục tiêu thực hiện 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia
về nông thôn mới ban hành tại Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16 tháng 4 năm
2009 của Thủ tướng Chính phủ
Thứ hai, Phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư địa phương là
chính, Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các tiêu chí, quy chuẩn, chính sách, cơ chế hỗ trợ, đào tạo cán bộ và hướng dẫn thực hiện Các hoạt động
cụ thể do chính cộng đồng người dân ở thôn, xã bàn bạc dân chủ để quyết định
và tổ chức thực hiện
Thứ ba, Kế thừa và lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia, chương
trình hỗ trợ có mục tiêu, các chương trình, dự án khác đang triển khai trên địa bàn nông thôn
Thứ tư, Thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới phải gắn với kế
hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, có quy hoạch và cơ chế đảm bảo thực hiện các quy hoạch xây dựng nông thôn mới đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt
Thứ năm, Công khai, minh bạch về quản lý, sử dụng các nguồn lực, tăng
cường phân cấp, trao quyền cho cấp xã quản lý và tổ chức thực hiện các công trình, dự án của chương trình xây dựng nông thôn mới, phát huy vai trò làm chủ
Trang 19của người dân và cộng đồng, thực hiện dân chủ cơ sở trong quá trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và giám sát, đánh giá
Thứ sáu, Xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và
toàn xã hội, cấp ủy Đảng, chính quyền đóng vai trò chỉ đạo, điều hành quá trình xây dựng quy hoạch, đề án, kế hoạch và tổ chức thực hiện Mặt trận tổ quốc và các tổ chức chính trị, xã hội vận động mọi tầng lớp nhân dân phát huy vai trò chủ thể trong xây dựng nông thôn mới
1.1.5 Các nội dung xây dựng nông thôn mới
Nội dung xây dựng nông thôn mới được thể hiện trong chương trình MTQG xây dựng NTM (Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/06/2010 gồm 11 nội dung sau:
- Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu
- Quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội - môi trường; phát triển các khu dân cư mới và chỉnh trang các khu dân cư hiện có trên địa bàn xã
* Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội
- Hoàn thiện hệ thống giao thông trên địa bàn thôn, xóm, xã, liên xã đảm bảo phục vụ hiệu quả trong sản xuất và đời sống ở nông thôn
- Hoàn thiện hệ thống các công trình đảm bảo cung cấp điện phục vụ sinh hoạt và sản xuất trên địa bàn
- Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ nhu cầu về hoạt động văn hóa thể thao trên địa bàn
- Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ việc chuẩn hóa về y tế, giáo dục trên địa bàn
- Cải tạo, xây mới hệ thống thủy lợi trên địa theo tiêu chuẩn quy định đảm bảo hạn chế tối đa thiệt hại về người và tài sản do hạn hán, lũ lụt gây ra
- Trụ sở xã xây dựng ở nơi trung tâm, thuận tiện đối nội, đối ngoại, diện tích khuôn viên tối thiểu 1.000m2, diện tích sử dụng của trụ sở đối với khu vực đồng bằng, trung du tối thiểu 500m2, khu vực miền núi hải đảo tối thiểu 400m2; mật độ xây dựng dưới 50%, mật độ cây xanh trên 30%
- Chỉnh trang các khu dân cư hiện có; xóa nhà tạm, dột nát, xây dựng, hoàn thành nhà ở nông thôn đạt tiêu chuẩn của Bộ xây dựng và phù hợp với quy hoạch
Trang 20* Chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng phát triển sản xuất hàng hóa, có hiệu quả kinh tế cao
- Tăng cường công tác khuyến nông; đẩy nhanh nghiên cứu, ứng dụng tiến
bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông - lâm - nghiệp
- Cơ giới hóa nông nghiệp, giảm tổn thất sau thu hoạch trong sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp
- Bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống theo phương châm “mỗi làng một sản phẩm”, phát triển làng nghề theo thế mạnh của địa phương
- Đẩy mạnh đào tạo nghề cho lao động nông thôn, đưa công nghiệp vào nông thôn, giải quyết việc làm và chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn
* Giảm nghèo và an sinh xã hội
- Thực hiện có hiệu quả chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững
- Tiếp tục triển khai chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo
- Thực hiện an sinh xã hội
* Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả ở nông thôn
- Phát triển kinh tế hộ gia đình, trang trại, hợp tác xã dịch vụ
- Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ
- Thúc đẩy liên kết kinh tế giữa các loại hình kinh tế ở nông thôn
* Phát triển giáo dục và đào tạo ở nông thôn
Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục và đào tạo:
- Đạt và duy trì chuẩn quốc gia về phổ cập tiểu học, chống mù chữ
- Phổ cập giáo dục trung học
- Nâng cao tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở được tiếp tục học THPT
- Đẩy mạnh đào tạo nghề, tạo việc làm cho lao động nông thôn
* Phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân
- Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về y tế
- Nâng cao tỷ lệ người dân tham gia các hình thức bảo hiểm y tế
* Xây dựng đời sống văn hóa, thôn tin và truyền thông
- Tiếp tục thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa Phấn đấu
Trang 21xã có trên 70% số thôn đạt tiêu chuẩn “làng văn hóa”
- Thực hiện thông tin và truyền thông nông thôn Xã có đài truyền thanh
xã hoạt động có hiệu quả
* Cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn
- Thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn
- Thực hiện các yêu cầu về bảo vệ và cải thiện môi trường trên địa bàn xã
* Nâng cao chất lượng tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội trên địa bàn
- Thành lập, duy trì đủ các tổ chức trong hệ thống chính trị; đảm bảo không có trình trạng “trắng” các tổ chức này ở các thôn
- Tổ chức đào tạo cán bộ đạt chuẩn theo quy định của Bộ Nội vụ
- Thu hút cán bộ trẻ về công tác tại xã
- Xây dựng ban hành các quy định về chức năng, nhiệm vụ và cơ chế hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị phù hợp với yêu cầu xây dựng NTM
- Nâng cao chất lượng của các tổ chức trong hệ thống chính trị, phấn đấu hàng năm, tổ chức đảng, chính quyền đạt “trong sạch vững mạnh”, các tổ chức khác đạt danh hiệu tiên tiến trở lên theo quy định của từng tổ chức
* Giữ vững an ninh, trật tự xã hội ở nông thôn
- Ban hành, thực hiện nội quy, quy ước làng xóm về trật tự, an ninh; phòng chống các tệ nạn xã hội và các hủ tục lạc hậu
- Hàng năm Đảng ủy có nghị quyết, UBND có kế hoạch về công tác an ninh, xã đạt đơn vị khá trở lên trong “Phong trào toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc”, công an xã đạt danh hiện “đơn vị tiên tiến” trở lên
- Đảm bảo cho lực lượng an ninh xã, thôn, xóm hoàn thành nhiệm vụ đảm bảo an ninh, trật tự xã hội trên địa bàn theo yêu cầu xây dựng nông thôn mới
- Không để xẩy ra các hoạt động chống đối; không để xẩy ra mâu thuẫn, tranh chấp trong nhân dân, các loại tội phạm, tai nạn giao thông giảm
1.1.6 Trình tự xây dựngvà các tiêu chí nông thôn mới
Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới được Thủ tướng Chính phủ
Trang 22phê duyệt tại Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 gồm 5 nhóm với 19 tiêu chí Ngày 20/02/2013 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 342/QĐ-TTg
về việc sửa đổi một số tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về NTM
* 5 nhóm tiêu chí xây dựng NTM
- Nhóm I: Quy hoạch (có 1 tiêu chí: Quy hoạch và thực hiện quy hoạch)
- Nhóm II: Hạ tầng kinh tế - xã hội (có 8 tiêu chí: Giao thông, Thuỷ lợi, Điện, Trường học, Cơ sở vật chất văn hóa, Chợ nông thôn, Bưu điện, Nhà ở dân cư)
- Nhóm III: Kinh tế và tổ chức sản xuất (có 4 tiêu chí: Thu nhập, Tỷ lệ hộ nghèo, Tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên, Hình thức tổ chức sản xuất)
- Nhóm IV: Văn hóa - xã hội - môi trường (có 4 tiêu chí: Giáo dục, Y tế, Văn hóa, Môi trường)
- Nhóm V: Hệ thống chính trị (có 2 tiêu chí: Hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh; An ninh, trật tự xã hội)
Trình tự xây dựngnông thôn mới gồm các bước:
Bước 1: Thành lập Ban chỉ đạo và Ban quản lý Chương trình NTM
Bước 2: Tổ chức tuyên truyền, học tập nghiên cứu các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về xây dựng NTM
Bước 3: Khảo sát đánh giá thực trạng nông thôn theo 19 tiêu chí
Bước 4: Lập đề án (kế hoạch) xây dựng NTM
Bước 5: Xây dựng quy hoạch NTM của xã
Bước 6: Tổ chức thực hiện đề án
Bước 7: Giám sát, đánh giá và báo cáo định kỳ về tình hình thực hiện dự án
1.1.7 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình xây dựng nông thôn mới
1.1.7.1 Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội
Trong xây dựng NTM công tác quy hoạch là nội dung phải được triển khai thực hiện trước một bước để làm cơ sở thực hiện các nội dung khác Vì vậy khi quy hoạch xây dựng NTM cần được rà soát, kế thừa, điều chỉnh, bổ sung phù hợp, đồng bộ, dài hạn Đặc biệt với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội theo chuẩn NTM của xã cần lấy ý kiến đóng góp rộng rãi đến toàn thể người dân, đảm bảo chất lượng, phù hợp với từng địa bàn và sự phát triển chung của huyện, tỉnh, và vùng lân cận
Trang 231.1.7.2 Chính sách đầu tư của nhà nước và huy động vốn xã hội
- Chính sách đầu tư vốn của nhà nước: Ngày 04/6/2010 Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình MTQG xây dựng NTM giai đoạn 2010 - 2020 tại Quyết định số 800/QĐ-TTg quy định việc đầu tư vốn để thực hiện chương trình theo 19 tiêu chí quốc gia về NTM trong đó có những tiêu chí được Nhà nước đầu
tư vốn 100% như: công tác quy hoạch, làm đường giao thông đến trung tâm các
xã, xây dựng trụ sở xã, xây dựng trường học, trạm y tế đạt chuẩn, công tác đào tạo kiến thức về xây dựng nông thôn mới cho cán bộ thôn, xóm; có những tiêu chí Nhà nước chỉ đầu tư một phần như: đường giao thông thôn, giao thông nội đồng, kênh mương nội đồng, nhà văn hoá thôn, xóm; có những tiêu chí người dân tự thực hiện như chỉnh trang nhà cửa, thu gom rác thải, xây dựng cảnh quan môi trường xanh, sạch đẹp Vì vậy, nhu cầu vốn cho thực hiện các tiêu chí rất lớn, nhất là những tiêu chí liên quan đến xây dựng cơ sở hạ tầng cần có sự đóng góp vốn của địa phương (tỉnh, huyện, xã) và của cộng đồng dân cư nông thôn
- Huy động vốn xã hội: Ngoài chính sách đầu tư từ Trung ương, tỉnh, huyện, xã cho xây dựng NTM nhằm tạo cơ sở cho việc phát triển khu vực nông thôn tiến kịp với thành phố Bên cạnh đó cần quan tâm đến việc huy động vốn của các tổ chức, doanh nghiệp thông qua các hình thức xã hội hóa đầu tư đồng thời tuyên truyền, vận động nhân dân đóng góp kinh phí để đầu tư xây dựng một
số hạng mục công trình mà người dân chính là người hưởng lợi Từ đó góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, tạo việc làm, nâng cao thu nhập phát huy được nội lực của người dân trong việc xây dựng NTM
1.1.7.3 Năng lực tổ chức và quản lý của cán bộ trong xây dựng NTM
Đội ngũ cán bộ quản lý thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới là yếu tố quan trọng đóng vai trò quyết định đến chất lượng, hiệu quả việc đầu tư thực hiện xây dựng nông thôn mới Do đó năng lực quản lý, điều hành việc thực hiện xây dựng nông thôn mới cũng như trình độ chuyên môn của cán bộ từ Trung ương đến địa phương sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến mức độ hoàn thành các tiêu chí
về nông thôn mới
Trang 241.1.7.4 Vai trò của người dân trong xây dựng NTM
Người dân được coi là nhân tố quan trọng, quyết định sự thành công của quá trình xây dựng nông thôn mới Khi tham gia xây dựng NTM với sự hỗ trợ của Nhà nước theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân đóng góp, dân làm, dân kiểm tra, dân quản lý và dân hưởng lợi” phù hợp với quan điểm của Đảng ta “lấy dân làm gốc” Qua đó người dân sẽ được tăng cường kỹ năng, năng lực trong quản lý, vì vậy mức độ tham gia vào quá trình xây dựng NTM của cộng đồng có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả thực hiện các tiêu chí trong xây dựng NTM
1.1.7.5 Các chính sách khác và căn cứ pháp lý thực hiện NTM
- Chính sách về phát triển kinh tế: Với mục tiêu xây dựng nông thôn có kết
cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã khẳng định quyết tâm của Đảng và Nhà nước trong việc xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam Việc xây dựng các cơ chế chính sách và cách thức tiến hành phù hợp sẽ tạo đồng lực cho việc thực hiện tốt các chỉ tiêu đề ra, tuy nhiên nếu chủ quan, nóng vội sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của quá trình xây dựng NTM
- Chính sách về đất đai: Sản xuất nông nghiệp hiện nay còn manh mún gây ảnh hưởng trực tiếp đến công tác dồn điền đổi thửa và quá trình tích tụ ruộng đất
Vì vậy để đáp ứng được yêu cầu về công nghiệp hoá hiện đại hoá trong sản xuất nông nghiệp thì công tác quy hoạch bố trí lại đất nông nghiệp là rất cần thiết cho sản xuất nông nghiệp hàng hoá tập trung
- Chính sách về đào tạo nguồn nhân lực: Lao động có vai trò, vị trí quan
trọng góp phần đẩy nhanh tiến trình thực hiện xây dựng nông thôn mới Phần lớn các lao động nông nghiệp ở nông thôn hiện nay không qua đào tạo việc tổ chức sản xuất dựa vào kinh nghiệm là chính và mang tính tự phát không có kế hoạch trong đầu tư sản xuất dẫn đến tính canh tranh của hàng hoá trên thị trường thấp
- Các căn cứ pháp lý
Trang 25+ Thông tư số 09/2010/TT-BXD ngày 04/8/2010 của Bộ Xây dựng Quy định việc lập nhiệm vụ, đồ án quy hoạch và quản lý quy hoạch xây dựng xã nông thôn mới
+ Thông tư liên tịch số: 13/2011/TTLT-BXD- BNNPTNT-BTN&MT ngày
28 tháng 10 năm 2011 quy định việc lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch xây dựng xã nông thôn mới
+ Quyết đinh số 569/QĐ-UBND ngày 13 tháng 5 năm 2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng về việc Phê duyệt nội dung kế hoạch vốn sự nghiệp thực hiện Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ năm 2015, huyện Thông Nông
+ Nghị quyết số 04-NQ/HU ngày 06 tháng 7 năm 2011, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Đảng bộ huyện (khoá XIII) về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011 – 2020 và chỉ đạo thành lập Ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới cấp huyện và xã; thành lập tổ giúp việc huyện, tổ khảo sát cấp xã thôn bản
+ Kế hoạch số 86/KH-BCĐXDNTM ngày 28 tháng 03 năm 2011 về thực hiện chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011-2015
+ Kế hoạch số 214/KH-BCĐ ngày 10 tháng 5 năm 2013 về triển khai di chuyển chuồng trại, gắn với vệ sinh môi trường nông thôn
+ Văn bản số 790/HD-UBND ngày 06/5/2011 của UBND tỉnh Cao Bằng về việc Hướng dẫn quy trình và các tiêu chí, chỉ tiêu chủ yếu về quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Cao Bằng
+ Văn bản số 1441/HD-UBND ngày 15/6/2012 của UBND tỉnh Cao Bằng
về việc Hướng dẫn Việc lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch xây dựng xã nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Cao Bằng
+ Báo cáo kết quả triển khai chương trình MTQG xây dựng NTM trong 3 năm và năm 2014 của UBND huyện Thông Nông
1.1.8 Quan điểm, mục tiêu về xây dựng nông thôn mới qua các chính sách của Đảng và Nhà nước
1.1.8.1 Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05 tháng 8 năm 2008 Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa X về nông nghiệp, nông dân và nông thôn
a Quan điểm
Trang 26Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước
Các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn phải được giải quyết đồng
bộ, gắn với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân phải dựa trên cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phù hợp với điều kiện của từng vùng, từng lĩnh vực, để giải phóng và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội, trước hết là lao động, đất đai, rừng và biển; khai thác tốt các điều kiện thuận lợi trong hội nhập kinh tế quốc tế cho phát triển lực lượng sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn; phát huy cao nội lực; đồng thời tăng mạnh đầu tư của Nhà nước và xã hội, ứng dụng nhanh các thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến cho nông nghiệp, nông thôn, phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí nông dân
Giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; trước hết, phải khơi dậy tinh thần yêu nước, tự chủ, tự lực tự cường vươn lên của nông dân Xây dựng xã hội nông thôn ổn định, hoà thuận, dân chủ, có đời sống văn hoá phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc, tạo động lực cho phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, nâng cao đời sống nông dân
b Mục tiêu
Không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn, hài hoà giữa các vùng, tạo sự chuyển biến nhanh hơn ở các vùng còn nhiều khó khăn; nông dân được đào tạo có trình độ sản xuất ngang bằng với các nước tiên tiến trong khu vực và đủ bản lĩnh chính trị, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới Xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hoá lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia cả trước mắt và lâu dài
Trang 27Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu kinh
tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường Xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh công nhân - nông dân - trí thức vững mạnh, tạo nền tảng kinh tế - xã hội và chính trị vững chắc cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam
Đổi mới mạnh mẽ cơ chế, chính sách để huy động cao các nguồn lực, phát triển nhanh kinh tế nông thôn, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, phát huy sức
mạnh của các đoàn thể chính trị - xã hội ở nông thôn, nhất là hội nông dân
1.2 Cơ sở thực tiễn về xây dựng nông thôn mới
1.2.1 Thực trạng về xây dựng nông thôn mới ở một số quốc gia trên thế giới
1.2.1.1 Hàn Quốc
Vào những năm 60 Hàn Quốc là nước chậm phát triển, nông nghiệp là hoạt động kinh tế chủ yếu với khoảng 2/3 dân số ở khu vực nông thôn Do vậy những chính sách mới mẻ về phát triển nông thôn ra đời nhằm khắc phục tình trạng về
Trang 28cuộc sống nghèo khổ của người dân nơi đây Nhờ hiệu quả của phong trào Saemaul Undong mà Hàn Quốc từ một nước nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu trở thành một quốc gia giàu có, hiện đại bậc nhất châu Á
Phong trào Saemaul Undong của hàn Quốc: nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực đến khu vực kinh tế nông thôn khi thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ I (1962 – 1966) và thứ II (1966 – 1971) với chủ chương công nghiệp hóa hướng đến xuất khẩu, tháng 4 năm 1970, Chính phủ Hàn Quốc phát động phong trào Saemaul undong Mục tiêu của phong trào này là “nhằm biến đổi cộng đồng nông thôn cũ thành cộng đồng nông thôn mới: mọi người làm việc và hợp tác với nhau xây dựng cộng đồng mình ngày một đẹp hơn và giàu có hơn Cuối cùng là để xây dựng một quốc gia ngày một giàu mạnh hơn” (Tuấn Anh, 2012)
1.2.1.2 Trung Quốc
Từ đầu những năm 80 của thế kỷ 20, Trung Quốc đã chọn hướng phát triển nông thôn bằng cách phát huy những công xưởng nông thôn thừa kế được của những công xã nhân dân trước đây, thay đổi sở hữu và phương thức quản lý để phát triển mô hình “công nghiệp hưng trấn” Các lĩnh vực như chế biến nông lâm sản, hàng công nghiệp nhẹ, máy móc nông cụ phục vụ sản xuất nông nghiệp đang ngày càng được đẩy mạnh
Nguyên tắc của Trung Quốc là quy hoạch đi trước, định ra các biện pháp thích hợp cho từng nơi, đột phá trọng điểm, làm mẫu đường Chính phủ hỗ trợ, nông dân xây dựng Với mục tiêu “ly nông bất ly hương” Trung Quốc đã thực hiện đồng thời 3 chương trình phát triển nông nghiệp và phát triển nông thôn
- Chương trình đốm lửa: điểm khác biệt của chương trình này là trang bị cho hàng triệu nông dân các tư tưởng, tiến bộ khoa học, bồi dưỡng nhân tài đốm lửa, nâng cao tố chất nông dân Sau 15 năm thực hiện, chương trình đã bồi dưỡng được 60 triệu thanh niên nông thôn thành một đội ngũ cán bộ khoa học cốt cán, tạo ra một động lực tiềm năng thúc đẩy nông thôn phát triển theo kịp với thành thị
- Chương trình được mùa: chương trình này giúp đại bộ phận nông dân áp dụng khoa học tiên tiến, phương thức quản lý hiện đại để phát triển nông nghiệp, nông thôn Trong 15 năm sản lượng lương thực của Trung Quốc đã tăng lên 3 lần
Trang 29so với những năm đầu 70 Mục tiêu phát triển nông nghiệp là sản xuất các nông sản chuyện dụng, phát triển chất lượng và tăng cường chế biến nông sản phẩm
- Chương trình giúp đỡ vùng nghèo: mục tiêu là nâng cao mức sống của các vùng nghèo, vùng miền núi, dân tộc ít người; mở rộng ứng dụng thành tựu khoa học tiên tiến, phổ cập tri thức khoa học công nghệ và bồi dưỡng cán bộ khoa học cốt cán cho nông thôn xa xôi, tăng sản lượng lương thực và thu nhập của nông dân Sau khi thực hiện chương trình, ở những vùng này, số dân nghèo giảm từ 1,6 triệu người xuống còn 5 vạn người, diện nghèo khó giảm từ 47% xuống còn 1,5%
Tại hội nghị toàn thể Trung Ương lần thứ 5 khóa XVI của Đảng Cộng Sản Trung Quốc, năm 2005, lần đầu tiên Trung Quốc đưa ra quy hoạch “Xây dựng nông thôn mới xã hội chủ nghĩa” Đây là kế hoạch xây dựng mới đã được Trung Quốc đưa vào kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm năm lần thứ XI (2006-2010) Mục tiêu của quy hoạch là: “sản xuất phát triển, cuộc sống dư dật, làng quê văn minh, thôn xã sạch sẽ, quản lý dân chủ” Xây dựng nông thôn mới Trung Quốc tạo nên một hình ảnh mới đầy ấn tượng về một “nông thôn Trung Quốc” đầy vẻ đẹp tráng lệ
Tuy vậy, dù với rất nhiều cố gắng, phát triển nông thôn cấp cơ sở và nông thôn mới tại Trung Quốc cũng chưa đạt được các mục tiêu đề ra để thúc đẩy phát triển khu vực nông thôn Mô hình nông thôn mới của Trung Quốc chưa được coi
là thành công khi hiện nay, khoảng cách giữa khu vực thành thị và nông thôn vẫn đang ngày càng rộng ra Còn tồn tại nhiều vấn đề trong khu vực nông nghiệp, nông thôn Trung Quốc
Trang 30phát triển nguồn nhân lực Trong đó, nhấn mạnh đến vai trò của chính quyền địa phương trong việc hỗ trợ kỹ thuật, quảng bá, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm được xác định là thế mạnh Sau 20 năm áp dụng OVOP, Nhật bản đã có 329 sản phẩm đặc sản địa phương có giá trị thương mại cao như nấm hương Shitake, rượu Shochu lúa mạch, cam Kabosu… giúp nâng cao thu nhập của nông dân địa phương (Phương Ly, 2010)
1.2.1.4 Thái Lan
Thái Lan vốn là một nước nông nghiệp truyền thống với dân số nông thôn chiếm khoảng 80% dân số cả nước Để thúc đẩy sự phát triển bền vững nền nông nghiệp, Thái Lan đã áp dụng một số chiến lược như: Tăng cường vai trò của cá nhân và các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp; đẩy mạnh phong trào học tập, nâng cao trình độ của từng cá nhân và tập thể bằng cách mở các lớp học và các hoạt động chuyên môn trong lĩnh vực nông nghiệp
và nông thôn; tăng cường công tác bảo hiểm xã hội cho nông dân, giải quyết tốt vấn đề nợ trong nông nghiệp; giảm nguy cơ rủi ro và thiết lập hệ thống bảo hiểm rủi ro cho nông dân
Đối với các sản phẩm nông nghiệp, Nhà nước đã hỗ trợ để tăng sức cạnh tranh với các hình thức, như tổ chức hội chợ triển lãm hàng nông nghiệp, đẩy mạnh công tác tiếp thị; phân bổ khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách khoa học và hợp lý,
từ đó góp phần ngăn chặn tình trạng khai thác tài nguyên bừa bãi và kịp thời phục hồi những khu vực mà tài nguyên đã bị suy thoái; giải quyết những mâu thuẫn có liên quan đến việc sử dụng tài nguyên lâm, thủy hải sản, đất đai, đa dạng sinh học, phân bổ đất canh tác Trong xây dựng kết cấu hạ tầng, Nhà nước đã có chiến lược trong xây dựng và phân bố hợp lý các công trình thủy lợi lớn phục vụ cho nông nghiệp Hệ thống thủy lợi bảo đảm tưới tiêu cho hầu hết đất canh tác trên toàn quốc, góp phần nâng cao năng suất lúa và các loại cây trồng khác trong sản xuất nông nghiệp Chương trình điện khí hóa nông thôn với việc xây dựng các trạm thủy điện vừa và nhỏ được triển khai rộng khắp cả nước…
Về lĩnh vực công nghiệp phục vụ nông nghiệp, chính phủ Thái Lan đã tập trung vào các nội dung sau: Cơ cấu lại ngành nghề phục vụ phát triển công
Trang 31nghiệp nông thôn, đồng thời cũng xem xét đến các nguồn tài nguyên, những kỹ năng truyền thống, nội lực, tiềm năng trong lĩnh vực sản xuất và tiếp thị song song với việc cân đối nhu cầu tiêu dùng trong nước và nhập khẩu
Thái Lan đã tập trung phát triển các ngành mũi nhọn như sản xuất hàng nông nghiệp, thủy, hải sản phục vụ xuất khẩu, thúc đẩy mạnh mẽ công nghiệp chế biến nông sản cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, nhất là các nước công nghiệp phát triển Ngành công nghiệp chế biến thực phẩm ở Thái Lan phát triển rất mạnh nhờ một số chính sách sau:
- Chính sách phát triển nông nghiệp: Một trong những nội dung quan trọng nhất của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ 2000-2005 là kế hoạch cơ cấu lại mặt hàng nông sản của Bộ Nông nghiệp Thái Lan, nhằm mục đích nâng cao chất lượng và sản lượng của 12 mặt hàng nông sản, trong đó có các mặt hàng: gạo, dứa, tôm sú, gà và cà phê Chính phủ Thái Lan cho rằng, càng có nhiều nguyên liệu cho chế biến thì ngành công nghiệp chế biến lương thực thực phẩm mới phát triển và càng thu được nhiều ngoại tệ cho đất nước Nhiều sáng kiến làm gia tăng giá trị cho nông sản được khuyến khích trong chương trình Mỗi làng một sản phẩm và chương trình Quỹ làng
- Chính sách bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm: Chính phủ Thái Lan thường xuyên thực hiện chương trình quảng bá vệ sinh an toàn thực phẩm Năm
2004, Thái Lan phát động chương trình “Năm an toàn thực phẩm và Thái Lan là bếp ăn của thế giới” Mục đích chương trình này là khuyến khích các nhà chế biến và nông dân có hành động kiểm soát chất lượng vệ sinh thực phẩm để bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Bên cạnh đó, Chính phủ thường xuyên hỗ trợ cho doanh nghiệp cải thiện chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm Do đó, ngày nay, thực phẩm chế biến của Thái Lan được người tiêu dùng ở các thị trường khó tính, như Hoa Kỳ, Nhật Bản và EU, chấp nhận
- Mở cửa thị trường khi thích hợp: Chính phủ Thái Lan đã xúc tiến đầu tư, thu hút mạnh các nhà đầu tư nước ngoài vào liên doanh với các nhà sản xuất trong nước để phát triển ngành công nghiệp chế biến thực phẩm, thông qua việc
mở cửa cho các quốc gia dù lớn hay nhỏ vào đầu tư kinh doanh Trong tiếp cận
Trang 32thị trường xuất khẩu, Chính phủ Thái Lan là người đại diện thương lượng với chính phủ các nước để các doanh nghiệp đạt được lợi thế cạnh tranh trong xuất khẩu thực phẩm chế biến Bên cạnh đó, Chính phủ Thái Lan có chính sách trợ cấp ban đầu cho các nhà máy chế biến và đầu tư trực tiếp vào kết cấu hạ tầng như: Cảng kho lạnh, sàn đấu giá và đầu tư vào nghiên cứu và phát triển; xúc tiến công nghiệp và phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ Xúc tiến công nghiệp là trách nhiệm chính của Cục Xúc tiến công nghiệp thuộc Bộ Công nghiệp, nhưng việc xúc tiến và phát triển công nghiệp chế biến thực phẩm ở Thái Lan do nhiều
cơ quan cùng thực hiện Chẳng hạn, trong Bộ Nông nghiệp và Hợp tác xã, cùng với Cục Xúc tiến nông nghiệp, Cục Hợp tác xã giúp nông dân xây dựng hợp tác
xã để thực hiện các hoạt động, trong đó có chế biến thực phẩm; Cục Thủy sản giúp đỡ nông dân từ nuôi trồng, đánh bắt đến chế biến thủy sản Cơ quan Tiêu chuẩn sản phẩm công nghiệp thuộc Bộ Công nghiệp xúc tiến tiêu chuẩn hoá và
hệ thống chất lượng; Cơ quan Phát triển công nghệ và khoa học quốc gia xúc tiến việc áp dụng khoa học và công nghệ cho chế biến; Bộ Đầu tư xúc tiến đầu tư vào vùng nông thôn (Tuấn Anh, 2012)
1.2.2 Thực trạng xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam
Tính đến năm 2014, Chương trình xây dựng nông thôn mới đang được triển khai diện rộng trên khắp cả nước, bước đầu đã thực hiện và đạt được những kết quả nhất định
1.2.2.1 Về tổ chức bộ máy triển khai chương trình
Đã hình thành bộ máy chỉ đạo và quản lý Chương trình đồng bộ ở các cấp
từ Trung ương tới cơ sở:
a Ở Trung ương:
- Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định thành lập BCĐ và Thường trực BCĐ Chương trình MTQG xây dựng NTM Trung ương do Phó Thủ tướng Chính phủ là Trưởng Ban Thường trực BCĐ Trung ương đã có quyết định thành lập Văn phòng Điều phối Trung ương
- Nhiều Bộ, ngành, tổ chức chính trị - xã hội thành lập bộ phận thường trực để chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ được phân công Bộ Nông nghiệp và Phát
Trang 33triển nông thôn đã thành lập BCĐ chương trình của Bộ, phân công nhiệm vụ cụ thể cho các đơn vị trực thuộc
b Ở các tỉnh, thành phố
Các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đều thành lập BCĐ chương trình do đồng chí Bí thư tỉnh/thành ủy hoặc Chủ tịch UBND tỉnh/thành phố trực tiếp làm trưởng Ban BCĐ các tỉnh, thành phố đều thành lập bộ phận giúp việc theo một trong 03 hình thức:
- Ban Xây dựng NTM tương đương cấp sở (05 tỉnh, thành phố);
- Văn phòng điều phối NTM tỉnh (54 tỉnh, thành phố);
Hệ thống chỉ đạo mạnh, đồng bộ như đã nêu trên là yếu tố quan trọng thúc đẩy triển khai thực hiện Chương trình
Tuy vậy, mô hình tổ chức hiện nay vẫn có sự thiếu thống nhất Việc thiếu cán bộ chuyên trách ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng công tác tham mưu và
tổ chức triển khai thực hiện Chương trình
1.2.2.2 Về ban hành văn bản hướng dẫn
Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Bộ tiêu chí quốc gia làm cơ sở định hướng chỉ đạo xây dựng NTM trên địa bàn xã và 05 quyết định về cơ chế, chính sách để thực hiện chương trình Các Bộ, ngành đã ban hành 05 quyết định và 52
thông tư hướng dẫn thực hiện các cơ chế chính sách, nội dung chương trình
Vận dụng chính sách của Trung ương, các tỉnh, thành phố đã ban hành thêm nhiều cơ chế chính sách phù hợp với địa phương, như chính sách cấp xi măng để dân tự làm đường ở Thái Bình, Tuyên Quang, Hà Tĩnh, Vĩnh Phúc,
Trang 34Nam Định; chính sách hỗ trợ lãi suất để khuyến khích nông dân vay chuyển đổi
cơ cấu sản xuất của Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Lâm Đồng hoặc mua máy móc làm đất, máy gặt đập liên hợp của An Giang, Đồng Tháp, Thái Bình; chính sách phát triển mỗi làng một sản phẩm của Quảng Ninh
Tuy vậy, tới nay vẫn còn một số cơ chế chính sách của Trung ương chậm được ban hành hoặc chậm sửa đổi, bổ sung để phù hợp với thực tế như: Chính sách cho các vùng đặc thù, cơ chế lồng ghép các chương trình, dự án trên địa bàn xã; Tổ chức bộ máy giúp việc Ban Chỉ đạo (BCĐ) chương trình các cấp; Hướng dẫn thực hiện tiêu chí về cơ sở vật chất văn hóa; nhà ở dân cư đạt chuẩn; Hướng dẫn về quy chế quản lý xây dựng nông thôn…
1.2.2.3 Về một số hoạt động
a, Công tác tuyên truyền, vận động
Các cơ quan Trung ương và địa phương đã tích cực tổ chức quán triệt về mục đích, nội dung của chương trình Đến cuối năm 2011 có 100% cấp ủy đảng, chính quyền và các tổ chức đoàn thể các cấp đã triển khai công tác tuyên truyền tới người dân tại thôn, bản
Năm 2011, Thủ tướng Chính phủ đã trực tiếp phát động phong trào thi đua
“Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” Nhiều tỉnh, thành phố, Bộ, ngành
đã hưởng ứng, cụ thể hóa thành phong trào thi đua ở địa phương, đơn vị
Ban Thi đua khen thưởng Trung ương đã có văn bản hướng dẫn thực hiện công tác thi đua trong xây dựng NTM và phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn, tổng hợp kết quả thi đua
Ban Chỉ đạo Chương trình ở các địa phương đã chủ động chỉ đạo biên tập, ban hành sổ tay hướng dẫn, xây dựng phim tư liệu, bản tin, tập san riêng về xây dựng NTM phát đến các cơ quan và cán bộ tham gia chỉ đạo xây dựng NTM Nhiều đài, báo Trung ương và địa phương đã tăng thời lượng, mở chuyên trang, chuyên mục tuyên truyền, phổ biến về các hoạt động của chương trình
Các tổ chức chính trị - xã hội đã tích cực vận động các thành viên, hội viên tham gia thực hiện chương trình Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam chỉ đạo tiếp tục đẩy mạnh thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời
Trang 35sống văn hóa ở khu dân cư” gắn với xây dựng NTM; Trung ương Hội liên hiệp Phụ nữ đã chỉ đạo triển khai nhiều mô hình thực hiện chương trình: “Phụ nữ chung sức xây dựng NTM”
Công tác tuyên truyền vận động được coi trọng đã góp phần rất quan trọng giúp cán bộ và nhân dân có nhận thức đúng về Chương trình, thay đổi nếp nghĩ, khắc phục một bước tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào Nhà nước, khơi dậy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong nhân dân, tạo động lực to lớn biến chương trình thành một phong trào ngày càng lan rộng
b, Công tác kiểm tra, giám sát
* Ban chỉ đạo Trung ương
- Ban Chỉ đạo Trung ương đã chủ động xây dựng kế hoạch, chương trình công tác; phân công các thành viên kiểm tra, đôn đốc các địa phương Nhờ đó, đã phát hiện các vướng mắc kịp thời đề xuất bổ sung các hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ, ngành tạo điều kiện thuận lợi cho địa
phương tổ chức thực hiện (công tác quy hoạch; thực hiện tiêu chí giao thông, điện,
chợ nông thôn ….)
- Ban Chỉ đạo Trung ương đã tổ chức Hội nghị sơ kết 03 năm thực hiện
Chương trình ở các vùng (miền núi phía Bắc; Đồng bằng sông Cửu long; Duyên
hải nam Trung bộ, Đông nam Bộ và Tây Nguyên) đánh giá kết quả, làm rõ tính
đặc thù của từng vùng, từ đó có cơ chế chính sách và giải pháp phù hợp, thúc đẩy thực hiện chương trình
- Các Bộ, ngành đã tổ chức nhiều đoàn khảo sát, các hội nghị sơ kết để đánh giá kết quả, kịp thời ban hành, sửa đổi, bổ sung các cơ chế chính sách, giải pháp
thực hiện hiệu quả hơncác nhiệm vụ thuộc phạm vi quản lý nhà nước của ngành
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã chỉ đạo Văn phòng Điều phối sớm ban hành Sổ tay hướng dẫn xây dựng NTM, các đơn vị chuyên ngành của
Bộ đã xây dựng Sổ tay hướng dẫn chuyên ngành, tổ chức các lớp tập huấn cho
Trang 36cán bộ vận hành chương trình và tập trung chỉ đạo xây dựng mô hình điểm về các nội dung thuộc phạm vi quản lý nhà nước của ngành
* Ở các địa phương
Công tác kiểm tra, chỉ đạo được coi trọng Nhiều địa phương đã quy định
cụ thể thời gian kiểm tra địa bàn của BCĐ các cấp
Tuy nhiên, việc chỉ đạo từ Trung ương hầu như mới chỉ tập trung vào cấp tỉnh và cấp xã, ít chú ý chỉ đạo cấp huyện Vì vậy, vai trò của cấp huyện trong quy hoạch, thúc đẩy phát triển các vùng sản xuất hàng hóa tập trung quy mô lớn, chỉ đạo xây dựng NTM ở cấp xã chưa thật rõ nét
1.2.2.4 Về kết quả thực hiện các tiêu chí của Chương trình nông thôn mới tại các địa phương
a Về huy động nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới
bố trí cho năm 2014 với 4.765 tỷ đồng Hiện nay, các địa phương đang tích cực
hoàn chỉnh phương án phân bổ để sớm triển khai thực hiện ngay từ Quí I/2014
* Mặt hạn chế:
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nguồn ngân sách bố trí cho chương trình còn thấp so Avới nhiệm vụ đề ra; Đầu tư của doanh nghiệp trong nước và đầu tư của
Trang 37nước ngoài vào nông thôn rất thấp; Thiếu cơ chế lồng ghép hiệu quả các chương
trình, dự án trên địa bàn nông thôn
1.2.2.5 Về quy hoạch và lập đề án nông thôn mới
Quy hoạch được xác định là nội dung phải được triển khai trước một bước
để định hướng cho xây dựng NTM Ngày 02/02/2010, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 193/QĐ-TTg phê duyệt chương trình rà soát quy hoạch xây dựng NTM, hỗ trợ ngân sách Trung ương để các địa phương thực hiện Đến quý 1/2014 đã có 93,7% số xã của cả nước đã hoàn thành việc phê duyệt quy hoạch xây dựng xã NTM (trước khi có Quyết định 193/QĐ-TTg, toàn quốc mới chỉ đạt 23,4%)
Các tỉnh đã hoàn thành 100% công tác lập quy hoạch xây dựng xã NTM gồm: Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Thái Bình, Hà Nam, Nam Định, Nghệ
An, Đà Nẵng, Phú Yên, Gia Lai, Đắk Nông, Bến Tre, Vĩnh Long, An Giang, Sóc Trăng…Một số địa phương đạt thấp như Nam Định, Bắc Kạn, Điện Biên, Sơn
La Đồng thời các xã đã tiến hành lập Đề án xây dựng NTM xác định mục tiêu và giải pháp thực hiện các nhiệm vụ ưu tiên Đến nay đã có 81% số xã phê duyệt xong đề án
Tuy vậy, chất lượng công tác quy hoạch ở nhiều nơi còn thấp Nhiều xã
mới dừng ở quy hoạch chung, thiếu cụ thể hóa cần thiết Nhiều Đề án nặng về tính toán đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, chưa chú trọng đúng mức tới phát triển sản xuất, văn hoá, bảo vệ môi trường, thiếu giải pháp thực hiện, tính toán huy động nguồn lực còn thiếu tính thực tiễn
1.2.2.6 Về phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội
Các địa phương đã ưu tiên dành nhiều nguồn lực cho xây dựng hạ tầng, là yếu tố quan trọng nhất để đổi mới bộ mặt nông thôn, tạo đà cho phát triển kinh tế
- xã hội và tăng hưởng thụ trực tiếp cho người dân Nhiều địa phương đã chủ động ban hành cơ chế hỗ trợ linh hoạt, phù hợp điều kiện cụ thể của từng vùng để huy động nguồn lực đầu tư cho lĩnh vực này
Trang 38- Phát triển giao thông được xác định là khâu đột phá, đáp ứng yêu cầu
bức xúc của người dân nên được chú trọng đầu tư, người dân đồng tình và tự nguyện thực hiện Nhiều địa phương đã có chính sách hỗ trợ, thu hút nguồn lực phù hợp nên đã huy động được sự tham gia của người dân và toàn xã hội Tỉnh Tuyên Quang đã có chính sách hỗ trợ bình quân 170 tấn xi măng, 02 triệu đồng
và toàn bộ cống qua đường (bằng 50% chi phí) để xây dựng 01 km đường bê tông, nhân dân tự nguyện đóng góp tiền, ngày công, hiến đất, dịch chuyển cổng, tường rào để làm đường Các tỉnh Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, Nam Định, Bắc Giang, Thanh Hóa, Phú Thọ, Hà Tĩnh… cũng có chính sách tương tự Phong trào làm đường giao thông phát triển rất cao Cả nước đã và đang triển khai xây dựng trên 5 ngàn công trình với khoảng 70.000 km
Đã có 11,6% số xã đạt tiêu chí giao thông
- Về thủy lợi đã xây dựng tu bổ sửa chữa, nâng cấp hơn 3.000 công trình
thủy lợi gồm bờ bao, cống, trạm bơm phục vụ tưới tiêu, trong đó nạo vét, tu sửa gần 7 ngàn km kênh mương Tỉnh Thái Bình đã tập trung nguồn lực để hỗ trợ cứng hoá toàn bộ hệ thống kênh mương thuỷ lợi nội đồng cho các xã điểm
Đã có 31,7% số xã đạt tiêu chí thủy lợi
- Điện nông thôn tiếp tục được nâng cấp và mở rộng Từ năm 2010-2013
nguồn vốn huy động đầu tư cải tạo và xây dựng mới hệ thống điện nông thôn khoảng 15.205 tỷ đồng, chủ yếu là vốn của ngành điện và các các dự án vay vốn nước ngoài Người dân đóng góp đất xây dựng hành lang an toàn lưới điện Tới nay,
tỷ lệ xã có điện đạt 98,6% và tỷ lệ hộ dân nông thôn có điện đạt 96,6% (tăng 1,3%
so với năm 2010), trong đó có 16 tỉnh, thành phố đạt 100% số hộ nông thôn có điện
Đã có 67,2% số xã đạt tiêu chí về điện
- Về nước sạch, vệ sinh môi trường nông thôn: Đã nâng cấp hơn 1.000
công trình nước sạch tập trung, 500 bãi thu gom rác thải, 1200 cống rãnh thoát nước thải vệ sinh Đã có 40% xã lập tổ thu gom rác thải tăng 10% so với trước khi thực hiện chương trình
Đã có 14,9% số xã đạt tiêu chí về môi trường
Trang 39- Cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin đã phát triển đến các xã vùng sâu,
vùng xa Internet tốc độ cao đã đến được hầu hết các điểm bưu điện văn hóa xã, khoảng 55% số xã có điểm truy cập Internet công cộng, vùng phủ sóng 3G đã đạt trên 80% dân số, tỷ lệ xã có điện thoại công cộng là 97% Hầu hết người dân khu vực nông thôn được sử dụng các dịch vụ bưu chính, viễn thông phổ cập
Đã có 77% số xã đạt tiêu chí về bưu điện
- Chợ nông thôn: Tổng số vốn đầu tư cải tạo, xây dựng chợ nông thôn các
năm 2010-2013 đạt 2.783 tỷ đồng, chủ yếu là vốn xã hội hóa (gần 80%) Các tỉnh
có đầu tư kinh phí lớn như: Thái Bình, Hải Phòng, Hải Dương, Nam Định, Nghệ
An, Quảng Nam, Thành phố Hồ Chí Minh, Bình phước, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu Tới nay đã có 57,6% số xã có chợ; trong đó, có 84 chợ đầu mối nông sản cấp vùng và cấp tỉnh Về mô hình quản lý chợ, bên cạnh hình thức ban quản
lý chợ truyền thống, đã có 194 HTX, 401 doanh nghiệp tham gia kinh doanh, quản lý chợ
Đã có 30,2% số xã đạt tiêu chí về chợ nông thôn
- Trường học các cấp từng bước xây dựng theo chuẩn và xã hội hoá Đã
xây mới thêm 198 trường Trung học phổ thông; xây dựng bổ sung 25.794 phòng học mầm non, 39.480 phòng học cho tiểu học, 21.899 phòng học cho THCS, 5.018 phòng học cho THPT; trẻ em đi nhà trẻ tăng 15,8% so với năm 2008; trẻ
em đi mẫu giáo tăng 11,4% so với năm 2008 Hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú ngày càng được hoàn thiện, giải quyết được 07 - 12% học sinh dân tộc vào học Chính sách hỗ trợ học phí cho con em đồng bào dân tộc, miền núi, chính sách cho vay vốn để học tập được điều chỉnh tạo thuận lợi cho học sinh, sinh viên
từ các vùng nông thôn Đã có 21,9% xã đạt tiêu chí trường học (với 289 trường mẫu giáo, 1.910 trường mầm non, 5.254 trường tiểu học và 2.164 trường trung học cơ sở đạt chuẩn quốc gia)
- Hệ thống các trạm y tế được tăng cường cả về số lượng và bổ sung nhân
viên y tế Đã có 99,51% số xã có trạm y tế, 72% trạm y tế xã có bác sĩ, trên 95% trạm y tế xã có nhà hộ sinh, khoảng 78,8% trạm y tế xã đã thực hiện khám chữa bệnh bằng bảo hiểm y tế Tỷ lệ thôn, bản có nhân viên y tế hoạt động đạt trên
Trang 4086% Công tác chăm sóc sức khỏe tuyến cơ sở được đổi mới, mở rộng dịch vụ y
tế cho tuyến xã, thí điểm thực hiện quản lý một số bệnh mãn tính, góp phần giảm tải cho tuyến trên
Đã có 45,9% xã đạt chuẩn quốc gia về y tế
- Cơ sở vật chất văn hóa được chú trọng xây dựng và nâng cấp Đã có 44,8%
số xã có Trung tâm văn hoá - Thể thao xã, 46% số thôn có nhà văn hoá/nhà sinh hoạt cộng đồng, 48,65% thôn được công nhận là làng văn hoá, có 36.141 sân vận động và sân bóng đá do cấp xã quản lý, 1.593 nhà thi đấu và nhà tập luyện, 348 bể bơi và hồ bơi tự tạo, 38.371 câu lạc bộ TDTT cơ sở được thành lập
Đã có 7,7% số xã đạt chuẩn về cơ sở vật chất văn hóa
Tuy nhiên, phát triển kết cấu hạ tầng cấp xã còn chưa đồng bộ và chưa đồng đều giữa các vùng Các địa phươn g Miền núi phía Bắc, Đồng bằng sông Cửu Long có tốc độ phát triển kết cấu hạ tầng chậm do điều kiện địa hình chia cắt, suất đầu tư lớn, trong khi nguồn lực còn hạn chế
Việc quản lý, duy tu và bảo dưỡng các công trình hạ tầng còn nhiều bất cập, chưa có cơ chế tài chính để thực hiện
1.2.2.7 Về văn hóa - xã hội - môi trường
- Về văn hóa: Các hoạt động văn hóa văn nghệ, thể thao quần chúng
được đa dạng hóa và đẩy mạnh Nhiều hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa được đẩy mạnh Sinh hoạt cộng đồng đã được quan tâm thực hiện
và từng bước đi vào nền nếp
Trên cơ sở tiếp tục nâng cao chất lượng cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” đã động viên, khơi dậy trong các tầng lớp nhân dân tinh thần đoàn kết giúp nhau phát triển kinh tế, chung sức xây dựng nông thôn mới Phong trào xây dựng gia đình văn hóa ngày càng phát triển sâu rộng Năm 2013 có 47% làng, thôn, ấp, bản văn hóa đạt chuẩn cơ sở vật chất;
16 triệu gia đình đạt danh hiệu “Gia đình văn hóa”
Đã có 47,5% số xã đạt tiêu chí về văn hóa
- Về đảm bảo an ninh trật tự ở nông thôn: Đã phát huy sức mạnh tổng hợp
của cả hệ thống chính trị, thường xuyên nắm bắt kịp thời tâm tư, tình cảm,