1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đánh giá việc thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất để xây dựng nhà ở trên địa bàn huyện đông anh, thành phố hà nội

104 393 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 9,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc điểm của quá trình bồi thường giải phóng mặt bằng Trong công tác giải phóng mặt bằng thì chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đảm bảo việc bồi hoàn đất đai, tài sản trên đất

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

- -

NGUYỄN THÙY DUNG

ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN CÔNG TÁC BỒI THƯỜNG,

HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT

ĐỂ XÂY DỰNG NHÀ Ở TRÊN ĐỊA BÀN

HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÀ NỘI, 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

- -

NGUYỄN THÙY DUNG

ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN CÔNG TÁC BỒI THƯỜNG,

HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT

ĐỂ XÂY DỰNG NHÀ Ở TRÊN ĐỊA BÀN

HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CHUYÊN NGÀNH : QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

MÃ SỐ: 60.85.01.03

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS ĐỖ THỊ TÁM

HÀ NỘI, 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trung thực, kết quả nghiên cứu trong luận văn chưa được công bố trong bất kì công trình khoa học nào khác Các thông tin trích dẫn đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2015

Tác giả luận văn

Nguyễn Thùy Dung

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình điều tra, nghiên cứu để hoàn thành luận văn, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự hướng dẫn nhiệt tình, chu đáo của các nhà khoa học, các thầy cô giáo và sự giúp đỡ nhiệt tình, chu đáo của cơ quan, đồng nghiệp và nhân dân địa phương

Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn trân trọng tới giáo viên hướng dẫn khoa học TS.Đỗ Thị Tám đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn

Tôi xin trân trọng cảm ơn sự góp ý chân thành của các thầy, cô giáo Khoa Quản lý đất đai - Học viện Nông nghiệp Việt Nam, cán bộ ủy ban nhân dân xã Nguyên Khê, xã Tiên Dương Xin chân thành cảm ơn tới gia đình, những người thân, cán bộ đồng nghiệp và bạn bè đã tạo điều kiện về mọi mặt cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài này

Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2015

Tác giả luận văn

Nguyễn Thùy Dung

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cam đoan ii

Lời cảm ơn iii

Mục lục iv

Danh mục các chữ viết tắt vii

Danh mục bảng viii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Yêu cầu của đề tài 2

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Cơ sở lý luận về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 3

1.1.1 Khái quát về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 3

1.1.2 Đặc điểm của quá trình bồi thường giải phóng mặt bằng 6

1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 7

1.2.1 Một số yếu tố cơ bản trong quản lý Nhà nước về đất đai 7

1.2.2 Yếu tố giá đất và định giá đất 9

1.2.3 Thị trường bất động sản 10

1.3 Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của một số nước và tổ chức trên thế giới 11

1.3.1 Chính sách bồi thường của Hàn Quốc 11

1.3.2 Chính sách bồi thường của Trung Quốc 12

1.3.3 Chính sách bồi thường của Nhật Bản 13

1.3.4 Quy định bồi thường của các tổ chức tài trợ (ADB, WB) 13

1.4 Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại Việt Nam 14

1.4.1 Cơ sở pháp lý về chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư qua các thời kỳ 14

Trang 6

1.4.2 Cơ sở pháp lý về chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư

hiện hành 25

1.4.3 Tình hình thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở Việt Nam 27

1.5 Tình hình thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại Thành phố Hà Nội 30

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35

2.1 Đối tượng nghiên cứu 35

2.2 Phạm vi nghiên cứu 35

2.3 Nội dung nghiên cứu 35

2.3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Đông Anh 35

2.3.2 Tình hình quản lý và sử dụng đất của huyện Đông Anh 35

2.3.3 Đánh giá việc thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất để xây dựng nhà ở trên địa bàn huyện Đông Anh tại 02 dự án 36

2.3.4 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trong thời gian tới 36

2.4 Phương pháp nghiên cứu 36

2.4.1 Phương pháp điều tra số liệu sơ cấp 36

2.4.2 Phương pháp điều tra số liệu thứ cấp 37

2.4.3 Phương pháp thống kê, tổng hợp 37

2.4.4 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 37

2.4.5 Phương pháp so sánh 37

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 39

3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội huyện Đông Anh 39

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 39

3.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội 43

3.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội 46

3.2 Tình hình quản lý, sử dụng đất đai trên địa bàn huyện Đông Anh 48

3.2.1 Hiện trạng sử dụng đất đai 48

Trang 7

3.2.2 Tình hình quản lý đất đai tại huyện Đông Anh 49

3.3 Tình hình thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trên địa bàn huyện Đông Anh 54

3.3.1 Các văn bản hướng dẫn thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư 54

3.3.2 Công tác tổ chức thực hiện 57

3.3.3.Kết quả thực hiện công tác thu hồi đất, BTHT&TĐC 2013 – 2014 62

3.4 Đánh giá việc thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại 02 dự án nghiên cứu trên địa bàn huyện Đông Anh 62

3.4.1 Giới thiệu khái quát và cơ sở pháp lý để thực hiện 02 dự án nghiên cứu 63

3.4.2 Kết quả xác định đối tượng và điều kiện được bồi thường tại 02 dự án 66

3.4.3 Việc xác định giá bồi thường về đất và tài sản trên đất 69

3.4.4 Các chính sách hỗ trợ và tái định cư 75

3.4.5 Kết quả đạt được và những vướng mắc, tồn tại ở 2 dự án nghiên cứu 81

3.4.6 Đánh giá chung về công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trên địa bàn huyện Đông Anh thông qua 2 dự án 82

3.5 Đề xuất một số giải pháp cho việc thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư 84

3.5.1 Hoàn thiện về chính sách 84

3.5.2 Tăng cường công tác quản lý đất đai 85

3.5.3 Công tác tuyên truyền, vận động 85

3.5.4 Việc tổ chức thực hiện 85

3.5.5 Các giải pháp cụ thể 85

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 87

Kết luận: 87

Kiến nghị: 89

TÀI LIỆU THAM KHẢO 91

PHỤ LỤC 93

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1 ADB Ngân hàng phát triển Châu Á

2 BTHT&TĐC Bồi thường hỗ trợ và tái định cư

3 CNH Công nghiệp hóa

16 TNMT Tài nguyên môi trường

17 UBND Uỷ ban nhân dân

18 WB Ngân hàng thế giới

19 XHCN Xã hội chủ nghĩa

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Số bảng Tên bảng Trang

3.1 Cơ cấu kinh tế của huyện Đông Anh qua một số năm 43

3.2 Tổng hợp tình hình dân số từ năm 2007 đến năm 2014 45

3.3 Hiện trạng sử dụng đất năm 2014 huyện Đông Anh 49

3.4 Tình hình thu hồi đất, GPMB trên địa bàn huyện Đông Anh từ năm 2013-2014 62

3.5 Khái quát sơ lược về 02 dự án nghiên cứu 63

3.6 Tổng hợp kinh phí bồi thường, hỗ trợ của 02 dự án 66

3.7 Tổng hợp kết quả xác định đối tượng được bồi thường và không được bồi thường 67

3.8 Ý kiến của người dân có đất bị thu hồi trong việc xác định đối tượng và điều kiện được bồi thường 68

3.9 Kết quả bồi thường về đất tại 02 dự án 70

3.10 Chênh lệch giữa giá đất bồi thường và giá thị trường ở 02 dự án 70

3.11 Kết quả bồi hường về tài sản trên đất tại 02 dự án 73

3.12 Ý kiến của người có đất bị thu hồi trong việc xác định giá bồi thường đất và tài sản trên đất tại 02 dự án 73

3.13 Tổng hợp kinh phí các chính sách hỗ trợ của 02 dự án 77

3.14 Ý kiến của người có đất bị thu hồi trong việc thực hiện các chính sách hỗ trợ của 02 Dự án; 77

3.15 Kết quả thực hiện chính sách tái định cư 79

3.16 Ý kiến của người có đất bị thu hồi trong việc thực hiện các chính sách Tái định cư của 02 Dự án; 80

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng của môi trường sống, là địa bàn phân bố dân cư, xây dựng

cơ sở kinh tế, văn hoá, an ninh quốc phòng Trải qua hàng nghìn năm dựng nước

và giữ nước ông cha ta đã đổ bao xương máu để bảo vệ đất nước Vì vậy đất đai

là tài sản thiêng liêng của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc

Hiện nay, nước ta đang phát triển mạnh mẽ theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá thúc đẩy quá trình đô thị hoá Nhiều đô thị mới, khu công nghiệp, khu kinh tế, khu du lịch…được hình thành Hệ thống hạ tầng cấp quốc gia, cấp

đô thị, cấp địa phương được chỉnh trang, mở rộng Điều này tạo ra tình trạng nhóm đất phi nông nghiệp hiện có không đủ để có thể đáp ứng được nhu cầu của phát triển của đất nước, vì vậy cần phải chuyển đổi một phần đất nông nghiệp và đất chưa sử dụng để mở rộng diện tích của nhóm đất này và thậm chí trong nội

bộ đất phi nông nghiệp cũng có sự chuyển đổi thông qua nhiều biện pháp trong

đó có biện pháp thu hồi đất

Đông Anh là huyện ngoại thành, nằm ở phía bắc Thành phố Hà Nội đang chuyển mình mạnh mẽ trên đà phát triển công nghiệp hoá, đô thị hoá Theo quy hoạch chung xây dựng thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến 2050 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt (tại Quyết định số: 1259/QĐ-TTg ngày 26/7/2011) thì phần lớn diện tích đất tự nhiên của huyện Đông Anh sẽ là các phân khu đô thị lõi, đô thị trung tâm, khu công nghiệp hiện đại của Thủ đô Tuy nhiên, theo quy luật, chỉ sau khi hệ thống giao thông chính được xây dựng, các khu đô thị, khu công nghiệp mới thực sự phát triển Vì vậy, trong những năm qua hàng loạt các dự án giao thông đã được triển khai thực hiện trên địa bàn huyện Đông Anh như: Đường 5 kéo dài, Đường Quốc lộ 3 mới, Quốc lộ 18, Quốc lộ 23, Cầu và đường nối cầu Nhật Tân đi sân bay quốc tế Nội Bài…

Vấn đề thu hồi đất đang là vấn đề lớn, bức xúc cả về phương diện lý luận

và thực tiễn, vi mô lẫn vĩ mô, chính sách và thực thi chính sách đối với người dân

Trang 11

cũng như với các cấp chính quyền Việc bồi thường đất đai, giải phóng mặt bằng, tái định cư đang là vấn đề hết sức nhạy cảm, phức tạp tác động đến mọi mặt của đời sống kinh tế - chính trị - xã hội Trong điều kiện quỹ đất ngày càng hạn hẹp, giá đất ngày càng tăng cao, nhịp độ phát triển ngày càng lớn thì nhu cầu giải phóng mặt bằng càng trở nên cấp thiết và quan trọng Có thể thấy hiện nay việc bồi thường hỗ trợ giải phóng mặt bằng và công tác tái định cư đều gặp rất nhiều vướng mắc, khó khăn cho việc thực hiện các dự án, không những gây thiệt hại cho Nhà nước mà còn là nguyên nhân của những vụ khiếu kiện đông người và kéo dài Điều này khiến ta phải suy nghĩ tìm hiểu nguyên nhân là ở đâu? ở những người thực hiện chính sách hay vấn đề chính trong các chính sách?

Xuất phát từ những yêu cầu đó, việc nghiên cứu đề tài: “Đánh giá

việc thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để xây dựng nhà ở trên địa bàn huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội” là rất cần thiết

3 Yêu cầu của đề tài

- Các số liệu, tài liệu điều tra thu thập phải phản ánh đúng quá trình thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở các

dự án trên địa bàn huyện Đông Anh

- Các giải pháp phải phù hợp, có tính khả thi cao

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Cơ sở lý luận về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư

1.1.1 Khái quát về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư

1.1.1.1 Khái niệm

a Bồi thường

Bồi thường là đền bù những tổn hại đã gây ra Đền bù là trả lại tương xứng với giá trị hoặc công lao (Trung tâm ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam, 1998) Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền

sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất Trong đó, giá trị quyền sử dụng đất là giá trị bằng tiền của quyền sử dụng đất đối với một diện tích đất xác định trong thời hạn sử dụng đất xác định (Quốc Hội, 2003)

c Tái định cư

Tái định cư là việc di chuyển đến một nơi khác với nơi ở trước đây để sinh sống và làm ăn Tái định cư bắt buộc đó là sự di chuyển không thể tránh khỏi khi Nhà nước thu hồi đất hoặc trưng thu đất đai để thực hiện các dự án phát triển

Tái định cư được hiểu là một quá trình từ bồi thường về đất, tài sản, di chuyển đến nơi ở mới và các hoạt động hỗ trợ để xây dựng lại cuộc sống thu nhập, cơ sở vật chất tinh thần tại đó

Như vậy, tái định cư nhằm giảm nhẹ các tác động xấu về kinh tế, xã hội đối với một bộ phận dân cư đã gánh chịu vì sự phát triển chung

Trang 13

Hiện nay ở nước ta, khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở thì người sử dụng đất được bố trí tái định cư bằng một trong các hình thức sau:

- Bồi thường bằng nhà ở;

- Bồi thường bằng giao đất ở mới;

- Bồi thường bằng tiền để người dân tự lo chỗ ở (Chính Phủ , 2004) Tái định cư là một bộ phận không thể tách rời và giữ vị trí rất quan trọng trong chính sách bồi thường GPMB

1.1.1.2 Các quan điểm chính sách về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư

a Bồi thường về đất đai

Người bị thu hồi loại đất nào thì được bồi thường bằng việc giao đất mới

có cùng mục đích sử dụng, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm có quyết định thu hồi (Quốc Hội, 2003)

Khi giao đất mới ở khu tái định cư, nếu giá trị đất khu tái định cư nhỏ hơn thì được nhận tiền chênh lệch, nếu giá trị đất khu tái định cư lớn hơn thì bù tiền chênh lệch trừ trường hợp hộ nhận đất ở, nhà ở tái định cư mà giá trị nhỏ hơn một suất tái định cư tối thiểu thì được hỗ trợ phần chênh lệch đó Trường hợp đất nông nghiệp vượt hạn mức không được cơ quan thẩm quyền phê duyệt, chứng nhận, đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích, đất nhận giao khoán được bồi thường chi phí đầu tư còn lại (Chính phủ, 2009)

b Bồi thường về hoa màu

Bồi thường cây hàng năm được tính bằng giá trị sản lượng của vụ thu hoạch theo vụ có năng suất cao nhất trong 3 năm và giá trung bình tại thời điểm thu hồi

Đối với cây lâu năm nếu đang thời kỳ kinh doanh được bồi thường bằng giá trị hiện có của vườn cây, nếu cây trồng chưa thu hoạch nhưng có thể di chuyển thì bồi thường chi phí di chuyển, thiệt hại do di chuyển và chi phí trồng lại (Chính Phủ, 2004)

Đối với vật nuôi, đến thời điểm thu hoạch thì không bồi thường, chưa đến

kỳ thu hoạch được bồi thường do phải thu hoạch sớm, nếu di chuyển được thì bồi thường chi phí di chuyển và thiệt hại khi di chuyển (Chính Phủ, 2004)

Trang 14

c Bồi thường công trình trên đất

Đối với nhà ở, công trình phục vụ sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân được bồi thường bằng giá trị xây dựng mới, do UBND cấp tỉnh quy định Đối với nhà, công trình xây dựng khác thì mức bồi thường tính bằng tổng giá trị hiện có của công trình bị thiệt hại và khoản tiền tính bằng tỷ lệ phần trăm theo giá trị hiện có của công trình, nhưng tối đa không lớn hơn 100% giá trị xây dựng mới của công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương (Chính phủ, 2009)

d Hỗ trợ ổn định đời sống

Hỗ trợ ổn định đời sống bằng lương thực đối với các hộ gia đình bị thu hồi từ 30% đến 70% đất nông nghiệp đang sử dụng được hỗ trợ trong thời gian 6 tháng nếu không phải di chuyển chỗ ở và trong thời gian 12 tháng nếu phải di chuyển chỗ ở; trường hợp phải chuyển đến các địa bàn có điều kiện KT-XH khó khăn hoặc có điều kiện KT-XH đặc biệt khó khăn thì thời gian hỗ trợ tối đa là 24 tháng

Đối với các hộ bị thu hồi trên 70% đất nông nghiệp đang sử dụng thì được

hỗ trợ ổn định đời sống trong thời gian 12 tháng nếu không phải di chuyển chỗ ở

và trong thời gian 24 tháng nếu phải di chuyển chỗ ở; trường hợp phải di chuyển đến địa bàn có điều kiện khó khăn thì thời gian hỗ trợ tối đa là 36 tháng

Mức hỗ trợ cho một nhân khẩu được tính bằng tiền tương đương với 30 kg gạo trong thời gian một tháng theo thời giá trung bình tại thời điểm hỗ trợ của địa phương (Chính phủ, 2009)

e Hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm

Đối với hộ chuyển đổi nghề nghiệp, ngoài việc bồi thường đất bị thu hồi bằng tiền còn được hỗ trợ từ 1,5-5 lần giá đất nông nghiệp đối với diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi (không vượt quá định mức giao đất nông nghiệp tại địa phương) hoặc một suất đất ở, hoặc một căn hộ chung cư, hoặc một suất đất kinh doanh phi nông nghiệp Nếu có nhu cầu đào tạo được miễn phí đào tạo một khoá học đối với các đối tượng trong độ tuổi lao động (Chính phủ, 2009)

f Hỗ trợ khác

Ngoài các khoản hỗ trợ theo quy định, căn cứ vào tình hình thực tế của địa phương, Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định biện pháp hỗ trợ khác để đảm

Trang 15

bảo có chỗ ở, ổn định đời sống và sản xuất cho người bị thu hồi đất (Chính phủ, 2009)

1.1.2 Đặc điểm của quá trình bồi thường giải phóng mặt bằng

Trong công tác giải phóng mặt bằng thì chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đảm bảo việc bồi hoàn đất đai, tài sản trên đất bị thu hồi đúng đối tượng, đúng chính sách và hơn nữa là đảm bảo ổn định đời sống cho người bị thu hồi đất bằng những chính sách phù hợp để tạo hướng phát triển nghề nghiệp ổn định

Có thể thấy bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất là một quá trình đa dạng và phức tạp nó không đơn thuần là bồi thường về vật chất

mà còn phải đảm bảo được lợi ích của các bên tham gia và lợi ích của toàn xã hội Quá trình bồi thường giải phóng mặt bằng có các đặc điểm sau:

- Tính đa dạng thể hiện ở: Mỗi dự án được tiến hành trên một vùng đất khác nhau với điều kiện tự nhiên kinh tế, xã hội và trình độ dân trí nhất định Ở khu vực nội thành, khu vực ven đô, khu vực ngoại thành, mật độ dân cư khác nhau, ngành nghề đa dạng và đều hoạt động sản xuất theo một đặc trưng riêng của vùng đó (Phạm Phương Nam, 2011)

- Tính phức tạp thể hiện ở: Đất đai là tài sản có giá trị cao, có vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội đối với mọi người dân Ở khu vực nông thôn, dân cư chủ yếu sống nhờ vào hoạt động sản xuất nông nghiệp mà đất đai lại

là tư liệu sản xuất quan trọng trong khi trình độ sản xuất của nông dân thấp, khả năng chuyển đổi nghề nghiệp khó khăn do đó tâm lý người dân là giữ được đất

để sản xuất, thậm chí họ cho thuê đất còn được lợi nhuận cao hơn là sản xuất nhưng họ vẫn không cho thuê

Đối với đất ở lại càng phức tạp hơn vì:

- Đất ở là tài sản có giá trị lớn, gắn bó trực tiếp với đời sống sinh hoạt của người dân Cộng thêm tâm lý người dân là ngại di chuyển chỗ ở, thay đổi môi trường sống

- Nguồn gốc hình thành đất đai khác nhau do tồn tại chế độ cũ để lại và do

cơ chế chính sách không đồng bộ dẫn đến tình trạng lấn chiếm đất đai, xây nhà trái phép gây khó khăn cho việc xác định diện tích đủ điều kiện bồi thường

Trang 16

- Dân cư một số vùng sống chủ yếu bằng nghề buôn bán nhỏ và sống bám vào các trục đường giao thông của khu dân cư làm kế sinh nhai nay chuyển đến ở khu vực mới điều kiện sống thì bị thay đổi nên họ không muốn di chuyển (Phạm Phương Nam, 2011)

Từ các đặc điểm trên cho thấy công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại mỗi địa bàn khác nhau và những đặc điểm khác nhau Từ đó phải có những phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư sao cho phù hợp và thỏa đáng đối với chủ sử dụng đất bị thu hồi đất

1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

1.2.1 Một số yếu tố cơ bản trong quản lý Nhà nước về đất đai

1.2.1.1 Việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện các văn bản đó

Đất đai là đối tượng quản lý phức tạp, luôn biến động theo sự phát triển của nền kinh tế - xã hội Để thực hiện tốt chức năng quản lý Nhà nước về đất đai đòi hỏi các văn bản pháp luật liên quan đến lĩnh vực này phải mang tính ổn định cao và phù hợp với tình hình thực tế

Ở Việt Nam, sau khi ban hành Luật Đất đai 1993 đến nay, Chính phủ đã bốn lần trình Quốc hội Luật sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật Đất đai (1998, 2001, 2003 và 2013 ) nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội đất nước Theo đó, chính sách bồi thường, GPMB cũng luôn được Chính phủ không ngừng hoàn thiện, sửa đổi cho phù hợp với yêu cầu thực tế triển khai Với những đổi mới về pháp luật Đất đai, thời gian qua công tác GPMB đã đạt được những

kết quả đáng khích lệ, đã cơ bản đáp ứng được nhu cầu về mặt bằng cho việc phát

triển các dự án đầu tư Tuy nhiên, do tính chưa ổn định, chưa thống nhất của pháp luật đất đai qua các thời kỳ mà công tác bồi thường, GPMB đã gặp khá nhiều khó khăn và cản trở Thực tiễn triển khai cho thấy việc ban hành các văn bản quy phạm về quản lý, sử dụng đất đai có ảnh hưởng rất lớn đến công tác bồi thường, GPMB (Tôn Gia Huyên, Nguyễn Đình Bồng, 2006)

Trang 17

Bên cạnh việc ban hành các văn bản quy phạm về quản lý, sử dụng đất đai, việc tổ chức thực hiện các văn bản đó cũng có vai trò rất quan trọng Kết quả kiểm tra thi hành Luật Đất đai năm 2007 của Bộ Tài nguyên và Môi trường cho thấy: nhận thức của người dân và kể cả một bộ phận không nhỏ cán bộ quản lý đất đai ở địa phương về chính sách pháp luật nhìn chung còn hạn chế; trong khi

đó việc tuyên truyền, phổ biến của các cơ quan có trách nhiệm chưa tốt Nhận thức pháp luật chưa đến nơi đến chốn, thậm chí lệch lạc của một số cán bộ quản

lý đất đai cùng với việc áp dụng pháp luật còn thiếu dân chủ, không công khai, công bằng ở các địa phương chính là nguyên nhân làm giảm hiệu lực thi hành pháp luật, gây mất lòng tin trong nhân dân cũng như các nhà đầu tư và ảnh hưởng trực tiếp tiến độ GPMB (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2007)

1.2.1.2 Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Đất đai nằm trong nhóm tài nguyên hạn chế của Việt Nam nhưng lại là điều kiện không thể thiếu được trong mọi quá trình phát triển Vì vậy, việc sử dụng thật tốt nguồn tài nguyên đất không chỉ sẽ quyết định tương lai của nền kinh tế đất nước mà còn là sự đảm bảo cho mục tiêu ổn định chính trị và phát triển xã hội Quy hoạch sử dụng đất được xem là một giải pháp tổng thể định hướng cho quá trình phát triển và quyết định tương lai của nền kinh tế Thông qua quy hoạch sử dụng đất, Nhà nước can thiệp vào các quan hệ đất đai, khắc phục những nhược điểm do lịch sử để lại hay giải quyết những vấn đề mà quá trình phát triển đang đặt ra (Nguyễn Đức Minh, 2001)

Thông qua việc lập, xét duyệt và điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất để tổ chức việc bồi thường, GPMB thực sự trở thành sự nghiệp của cộng đồng mà Nhà nước đóng vai trò tổ chức Bất kỳ một phương án bồi thường, GPMB nào đều dựa trên một quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất nhằm đạt được các yêu cầu như là phương án có hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất Quy hoạch sử dụng đất không chỉ

là công cụ “tạo cung” cho thị trường mà còn là phương tiện quan trọng nhất thực hiện các mục tiêu chính trị - xã hội hóa về công bằng, dân chủ, văn minh trong bồi thường, GPMB và cũng là công việc mà hoạt động quản lý nhà nước có ảnh hưởng nhiều nhất, hiệu quả nhất, đúng chức năng nhất (Nguyễn Đức Minh, 2001)

Trang 18

Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất có tác động tới chính sách bồi thường đất đai trên hai khía cạnh:

- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một trong những căn cứ quan trọng nhất để thực hiện việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, mà theo quy định của Luật Đất đai năm 2003, việc giao đất, cho thuê đất chỉ được thực hiện khi có quyết định thu hồi đất đó của người đang sử dụng

- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một trong những nhân tố ảnh hưởng tới giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất; từ đó tác động tới giá đất tính bồi thường

1.2.1.3 Đăng ký đất đai (ĐKĐĐ), lập và quản lý hồ sơ địa chính cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ)

Theo quy định của các nước, đất đai là một trong các tài sản phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng Ở Việt Nam, theo quy định của Luật Đất đai, người sử dụng đất phải đăng ký quyền sử dụng đất với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là chứng thư pháp lý khẳng định quyền sử dụng đất của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đối với những mảnh đất (lô đất) cụ thể, làm căn cứ cho việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất và giải quyết các tranh chấp liên quan tới quyền sử dụng đất Trong công tác bồi thường, GPMB, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là căn cứ để xác định đối tượng được bồi thường, loại đất, diện tích đất tính bồi thường Hiện nay, công tác đăng ký đất đai

ở nước ta vẫn còn yếu kém, đặc biệt là đăng ký biến động về sử dụng đất; việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn chưa hoàn tất Chính vì vậy mà công tác bồi thường, GPMB đã gặp rất nhiều khó khăn Làm tốt công tác đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì công tác bồi thường, GPMB sẽ

thuận lợi, tiến độ GPMB nhanh hơn

1.2.2 Yếu tố giá đất và định giá đất

Một trong những vấn đề đang gây ách tắc cho công tác bồi thường, GPMB

hiện nay đó là giá bồi thường cho người có đất bị thu hồi

Giá đất là số tiền tính trên một đơn vị diện tích đất do Nhà nước quy định hoặc được hình thành trong giao dịch về quyền sử dụng đất Theo quy định của pháp Luật Đất đai 2003 tại Điều 55 thì giá đất được hình thành trong các trường hợp sau đây:

Trang 19

- Do UBND các tỉnh, thành phố Trung ương (gọi chung là UBND cấp tỉnh) quy định (căn cứ vào nguyên tắc, phương pháp xác định giá đất và khung giá đất do Chính phủ quy định) và được công bố công khai vào ngày 01 tháng 01 hàng năm

- Do đấu giá quyền sử dụng đất hoặc đấu thầu dự án có sử dụng đất

- Do người sử dụng đất thỏa thuận về giá đất với những người có liên quan khi thực hiện các quyền chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất

Để xác định được giá đất chính xác và đúng đắn chúng ta cần phải có những hiểu biết về định giá đất Định giá đất đó là những phương pháp kinh tế nhằm tính toán lượng giá trị của đất bằng hình thái tiền tệ tại một thời điểm khi chúng tham gia trong một thị trường nhất định Hay nói cách khác, định giá đất được hiểu là sự ước tính về giá trị quyền sử dụng đất bằng hình thái tiền tệ cho một mục đích cụ thể đã được xác định tại một thời điểm xác định Khi định giá đất người định giá phải căn cứ vào mục đích sử dụng của từng loại tại thời điểm định giá để áp dụng phương pháp định giá đất cho phù hợp với thực tế Hiện nay, việc định giá đất chủ yếu sử dụng hai phương pháp truyền thống như các nước trên thế giới thực hiện, đó là phương pháp so sánh trực tiếp và phương pháp thu nhập

Giá đất tính bồi thường về đất là thước đo phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nước, người bị thu hồi đất và nhà đầu tư Theo quy định của Luật Đất đai năm 2003, nguyên tắc định giá đất là phải sát với giá thị trường trong điều kiện bình thường Tuy nhiên, tình hình phổ biến hiện nay là giá đất do các địa phương quy định và công bố đều không theo đúng nguyên tắc đó, dẫn tới nhiều trường hợp ách tắc về bồi thường đất đai và phát sinh khiếu kiện (Quốc hội, 2003)

1.2.3 Thị trường bất động sản

- Thị trường bất động sản là nơi giải quyết quan hệ về cung - cầu bất động sản trong một thời gian và không gian nhất định Việc hình thành và phát triển thị trường bất động sản góp phần giảm thiểu việc thu hồi đất để thực hiện các dự án đầu tư (do người đầu tư có thể đáp ứng nhu cầu về đất đai thông qua các giao dịch trên thị trường); đồng thời, người bị thu hồi đất có thể tự mua hoặc thuê đất

Trang 20

đai, nhà cửa mà không nhất thiết phải thông qua Nhà nước thực hiện chính sách TĐC và bồi thường

- Giá cả của bất động sản được hình thành trên thị trường và nó sẽ tác động tới giá đất tính bồi thường (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2005)

1.3 Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của một số nước và tổ chức trên thế giới

1.3.1 Chính sách bồi thường của Hàn Quốc

Đối với các dự án do Nhà nước đầu tư như đường cao tốc, khu đô thị, khu công nghiệp và các dự án cơ sở hạ tầng quan trọng khác thì Nhà nước quyết định trưng mua đất đai của người đang có quyền sở hữu Diện tích đất dự án do Nhà nước quyết định trưng mua thực hiện theo quy hoạch sử dụng đất Việc bồi thường khi Nhà nước trưng mua đất thực hiện theo Luật trưng mua Chính sách bồi thường bao gồm bồi thường đất và tài sản gắn với đất, hỗ trợ tạm cư nếu thu hồi đất liên quan đến nhà ở, hỗ trợ thiệt hại thu nhập do bị thu hồi đất Giá đất bồi thường được xác định theo cơ chế thị trường do tổ chức hoặc cá nhân hành nghề định giá thực hiện; tổ chức được giao nhiệm vụ bồi thường thực hiện hiệp thương với người sở hữu đất và tài sản gắn với đất trên cơ sở giá đất và tài sản do

tổ chức hoặc cá nhân hành nghề định giá xác định Trường hợp chỉ hiệp thương được với đại bộ phận chủ sở hữu đất (trên 85%) thì phần diện tích đất còn lại Nhà nước thực hiện cưỡng chế thu hồi

Hàn Quốc cũng đạt nhiều thành tựu từ việc phát triển quỹ đất Việc thu hồi đất để tạo quỹ đất sạch phục vụ dự án khu đô thị, khu công nghiệp và các dự

án cơ sở hạ tầng quan trọng của quốc gia, do Tổng Công ty Phát triển đất Hàn Quốc thực hiện Tổng Công ty Phát triển đất Hàn Quốc là doanh nghiệp nhà nước hạch toán độc lập, trực thuộc Bộ Đất đai, Giao thông và Biển Hàn Quốc Tổng Công ty Phát triển đất Hàn Quốc có nhiệm vụ thực hiện bồi thường và giải phóng mặt bằng tạo quỹ đất sạch, tổ chức đấu giá chọn nhà đầu tư sử dụng đất thực hiện dự án, thực hiện thông tin về đất đai Nguồn vốn từ phát triển đất đai của Tổng Công ty năm 1975 là 28 triệu USD, năm 2009 đã đạt con số rất ấn

tượng là 33,3 tỉ USD (Bộ Tài Nguyên và Môi Trường, 2012)

Trang 21

1.3.2 Chính sách bồi thường của Trung Quốc

Ở Trung Quốc đất đai thuộc chế độ công hữu, gồm sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể Đất đai thuộc khu vực thành thị và đất xây dựng thuộc sở hữu Nhà nước Đất đai thuộc khu vực nông thôn và đất nông nghiệp thuộc sở hữu tập thể, nông dân lao động Theo quy định của Luật đất đai Trung Quốc năm 1998, trong trường hợp Nhà nước thu hồi đất của người dân đang sử dụng vào mục đích công cộng, lơi ích quốc gia thì Nhà nước có chính sách bồi thường và tổ chức tái định cư cho người bị thu hồi

Vấn đề bồi thường cho người có đất bị thu hồi được pháp luật đất đai Trung Quốc quy định như sau:

Về thẩm quyền thu hồi đất: Chỉ có Chính phủ (Quốc vụ viện) và chính

quyền tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương mới có quyền thu hồi đất Quốc vụ viện có thẩm quyền thu hồi đất nông nghiệp từ 35ha trở lên và 70ha trở lên với các loại đất khác Dưới mức này thì do chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ra quyết định thu hồi đất Đất nông nghiệp sau khi bị thu hồi sẽ được chuyển từ sở hữu tập thể sang sở hữu Nhà nước

Về trách nhiệm bồi thường: Pháp luật đất đai Trung Quốc quy định, người

nào sử dụng đất thì người đó có trách nhiệm bồi thường Phần lớn tiền bồi thường

do người sử dụng đất trả Tiền bồi thường bao gồm cả các khoản lệ phí sử dụng đất phải nộp cho Nhà nước và các khoản tiền trả cho người có đất bị thu hồi

Về nguyên tắc bồi thường: các khoản tiền bồi thường phải đảm bảo cho

người dân bị thu hồi đất có chỗ ở bằng hoặc cao hơn nơi ở cũ

Về công tác tổ chức thực hiện và quản lý giải tỏa mặt bằng: Cục quản lý

tài nguyên đất đai ở các địa phương thực hiện việc giải tỏa mặt bằng Người nhận khu đất thu hồi sẽ thuê một đơn vị xây dựng giải tỏa mặt bằng khu đất đó, thường

là các đơn vị chịu trách nhiệm thi công công trình trên khu đất giải tỏa

Nhìn chung hệ thống pháp luật về bồi thường và tái định cư của Trung Quốc đều nhằm bảo vệ những người mà mức sống có thể bị giảm do việc thu hồi

đất thực hiện các dự án (Đào Trung Chính, 2013)

Trang 22

1.3.3 Chính sách bồi thường của Nhật Bản

Luật trưng dụng đất đai của Nhật Bản ban hành năm 1951 quy định việc trưng dụng đất có bồi thường để xây dựng công trình hạ tầng trọng yếu được pháp luật cho phép, chẳng hạn đường xá, công viên, đê điều, hồ chứa nước, cảng biển Khuyến khích mọi trường hợp sử dụng đất, kể cả trường hợp thuộc diện trưng dụng đất thực hiện chuyển đổi đất đai tự nguyện qua việc giao dịch đất đai thông thường Nhà nước sẽ quay trở lại biện pháp trưng dụng đất khi giao dịch đất đai thông thường bị trở ngại và phải được người có thẩm quyền cho phép khi thấy phù hợp lợi ích công cộng và hội đủ điều kiện cần thiết

Trình tự trưng dụng qua các bước: Xin phép trưng dụng; Đăng ký đất đai

và công trình trong diện trưng dụng; Bên trưng dụng và bên bị trưng dụng thương lượng thoả thuận; Trình Hội đồng trưng dụng thẩm định; Ra quyết định trưng dụng; Hoàn tất trưng dụng

Việc bồi thường thực hiện bằng tiền Mức bồi thường tính toán tại thời điểm công bố trưng dụng, có điều chỉnh cho phù hợp với biến động giá trước lúc

ra quyết định trưng dụng Nội dung bồi thường gồm: Bồi thường thiệt hại tài sản theo giá thị trường; Bồi thường thiệt hại thông thường khác do nguyên nhân trưng dụng; Bồi thường thiệt hại do phải sống tách rời cộng đồng ban đầu; Bồi thường thiệt hại do phải chuyển nghề; Bồi thường thiệt hại do môi trường kém đi như

tiếng ồn, khí thải, nước thải (Đào Trung Chính, 2013)

1.3.4 Quy định bồi thường của các tổ chức tài trợ (ADB, WB)

Theo Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB), Ngân hàng thế giới (WB) và các tổ chức phi chính phủ thì bản chất của việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất phục vụ mục đích an ninh quốc phòng, lợi ích công cộng, lợi ích quốc gia phải đồng thời đảm bảo những lợi ích của người bị ảnh hưởng để họ có một cuộc sống tốt hơn trước về mọi mặt Trên tinh thần giảm thiểu đến mức thấp nhất các tác động của việc thu hồi đất đến đời sống người dân

và có chính sách thỏa đáng, phù hợp đảm bảo cho người bị thu hồi đất không gặp bất lợi hay khó khăn trong cuộc sống Để thực hiện được phương châm đó, khi

Trang 23

thực hiện tài trợ vào Việt Nam, WB và ADB đã đàm phán với Chính phủ Việt Nam để ban hành khung chính sách riêng cho các dự án với một số chính sách chủ yếu sau:

- Theo chính sách của WB và ADB thì việc bồi thường, hỗ trợ và tái định

cư bao giờ cũng phải hoàn thành trước khi tiến hành công trình xây dựng Trước khi thực hiện thu hồi đất, chính quyền không những phải thông báo đầy đủ các thông tin về dự án cũng như chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của dự

án cho các hộ dân mà còn phải tham khảo ý kiến và tìm mọi cách thỏa mãn các yêu cầu chính đáng của họ trong suốt quá trình thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư

- Việc giám sát nội bộ, cơ quan thực hiện dự án phải do một tổ chức bên ngoài giám sát độc lập để đảm bảo những thông tin là khách quan Nhiệm vụ của

cơ quan giám sát độc lập là phải kiểm tra xem các hoạt động tái định cư có được triển khai đúng không, Từ đó có những kiến nghị biện pháp giải quyết sao cho công tác tái định cư đạt được mục tiêu cuối cùng là giải quyết những vướng mắc nảy sinh(Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2012)

1.4 Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại Việt Nam

1.4.1 Cơ sở pháp lý về chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư qua các thời kỳ

1.4.1.1 Trước khi có Luật Đất đai năm 1993

Ngay khi hòa bình được lập lại ở miền Bắc (1954), Đảng và Nhà nước đã khẳng định con đường tất yếu của Cách Mạng Việt Nam là xây dựng chủ nghĩa

xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam Để đáp ứng nhiệm vụ đất nước trong giai đoạn cách mạng mới năm 1953, Nhà nước ta thực hiện cải cách ruộng đất nhằm phân phối lại ruộng đất cho nhân dân với khẩu hiệu: “Người cày

có ruộng” và từ đó luật cải cách ruộng đất được ban hành Đồng thời Nhà nước ta cũng khẳng định đất đai được tồn tại dưới 3 hình thức đó là: sở hữu Nhà nước, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân

Hiến pháp năm 1959, Nhà nước thừa nhận tồn tại ba hình thức sở hữu đất

Trang 24

đai ở nước ta, gồm có sở hữu Nhà nước, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân Thời

kỳ này quan hệ đất đai trong bồi thường chủ yếu là thoả thuận, sau đó thống nhất giá trị bồi thường mà không cần cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt phương án bồi thường hay ban hành giá bồi thường (Hiến pháp năm 1959)

Nghị định 151/TTg ngày 14/4/1959 của Thủ tướng Chính phủ “Quy định thể lệ tạm thời về trưng dụng ruộng đất”, là văn bản pháp quy đầu tiên liên quan đến việc bồi thường và tái định cư ở Việt Nam Nghị định này quy định những nguyên tắc cơ bản trong việc trưng dụng ruộng đất của nhân dân trong việc xây dựng các công trình do Nhà nước quản lý đó là: “đảm bảo kịp thời và đủ tiện ích cần thiết cho xây dựng công trình, đồng thời chiếu cố đúng mức quyền lợi và đời sống của người có ruộng đất Những người có ruộng đất được trưng dụng được bồi thường và trong những trường hợp cần thiết được giúp giải quyết công ăn việc làm, hết sức tiết kiệm ruộng đất cày cấy, trồng trọt, tận dụng đất hoang để không phải trưng dụng hoặc chỉ trưng dụng ít ruộng đất của nhân dân Hết sức tránh những nơi dân cư đông đúc, nghĩa trang liệt sĩ, nhà thờ, đền chùa, trường hợp đặc biệt phải bàn kỹ với nhân dân địa phương”

Về mức và cách tính bồi thường, Nghị định 151/TTg có quy định:

- Đối với ruộng đất nếu không thể đổi bằng đất thì sẽ bồi thường bằng một

số tiền bằng từ 1 đến 4 năm sản lượng thường niên của đất bị trưng dụng

- Đối với nhà cửa và kiến trúc thì được giúp đỡ xây dựng cái khác

- Đối với hoa màu đã trồng mà chưa thu hoạch phải bồi thường thiệt hại đúng mức

- Đối với mồ mả căn cứ và tình hình cụ thể, phong tục tập quán của địa phương mà giúp cho họ số tiền thích đáng làm phí tổn di chuyển

Có thể nói, những nguyên tắc cơ bản của việc bồi thường thiệt hại trong Nghị định 151/TTg là rất đúng đắn, đáp ứng nhu cầu trưng dụng đất đai trong những năm 1960 Tuy nhiên, Nghị định chưa quy định cụ thể mức bồi thường thiệt hại mà chỉ quan tâm đến sự thoả thuận của các bên Tiếp đó là Thông tư số 1792/TTg ngày 11-01-1970 của Thủ tướng Chính phủ quy định một số điểm tạm thời “Về bồi thường nhà cửa, đất đai, cây lưu niên, các hoa mầu cho nhân dân ở

Trang 25

những vùng xây dựng kinh tế, mở rộng thành phố” trên nguyên tắc: “Phải đảm

bảo thoả đáng quyền lợi hợp pháp của Hợp tác xã và của nhân dân” Tuy nhiên

Thông tư này mới chỉ dừng lại ở việc quy định bồi thường về tài sản trên đất mà chưa đề cập cụ thể đến chính sách bồi thường về đất đai

Hiến pháp năm 1980 quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý, ngày 01 tháng 07 năm 1980 Hội đồng Chính phủ ra Quyết

định số 201/CP quy định về việc “Không được phát canh, thu tô, cho thuê, cầm

cố hoặc bán nhượng đất dưới bất cứ hình thức nào ,không được dùng để thu những khoản lợi không do thu nhập mà có, trừ trường hợp do Nhà nước quy định” Quan hệ đất đai thời kỳ này đơn thuần chỉ là quan hệ “giao – thu” giữa

Nhà nước với người sử dụng đất (Hiến pháp, 1980)

Luật Đất đai năm 1988 không nêu cụ thể việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất mà chỉ nêu tại phần nghĩa vụ của người sử dụng đất (Điều 48):

“Bồi thường thiệt hại cho người sử dụng đất để giao cho mình, bồi hoàn thành quả lao động và kết quả đầu tư đã làm tăng giá trị của đất đó theo quy định của pháp luật”

Thực tế các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Đất đai 1988 không hướng dẫn nội dung về bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất mà chỉ tập trung vào việc bồi thường thiệt hại đất nông nghiệp, đất có rừng khi chuyển sang mục đích khác Thực chất đây lại là quy định việc thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước khi được giao đất (mà sau này khi thực hiện Luật Đất đai năm 1993 được coi là tiền sử dụng đất), trong đó phần nhỏ được phân bổ cho người bị thu hồi đất

Nghị định số 186/HĐBT ngày 31 tháng 05 năm 1990 của Hội đồng Bộ trưởng quy định về việc bồi thường đất nông nghiệp, đất có rừng khi chuyển sang mục đích khác Tại Điều 1 của Nghị định này nêu rõ: Mọi tổ chức, cá nhân được giao đất nông nghiệp, đất có rừng để sử dụng vào mục đích khác phải đền bù về đất nông nghiệp, đất có rừng cho Nhà nước Tiền bồi thường tài sản trên mặt đất

và tài sản trong lòng đất cho chủ sử dụng hợp pháp không thuộc các khoản tiền thiệt hại về đất Khung mức giá bồi thường để UBND tỉnh, thành phố, đặc khu kinh tế thuộc Trung ương quy định cụ thể, mức bồi thường đối với từng quận,

Trang 26

huyện, thành phố thuộc tỉnh sát với giá đất ở địa phương nhưng không được thấp hơn hoặc cao hơn khung định mức bồi thường của Chính phủ

Hiến pháp năm 1992 đã công nhận và bảo vệ quyền sử dụng đất của các tổ chức, cá nhân và quyền sở hữu cá nhân về tài sản và sản xuất cụ thể:

+ Tại Điều 17 Hiến pháp quy định về quyền sở hữu đối với đất đai: “Đất

đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển thềm lục địa và vùng trời đều thuộc sở hữu toàn dân”

+ Tại Điều 18 Hiến pháp quy định về quyền quản lý của Nhà nước đối với đất đai theo quy hoạch và pháp luật, bảo đảm việc sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả; đồng thời quy định việc giao đất cho các tổ chức, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài và có trách nhiệm, nghĩa vụ của người được Nhà nước giao cho sử dụng đất (tổ chức và cá nhân có trách nhiệm bảo vệ, bồi thường khai thác hợp lý,

sử dụng tiết kiệm đất, được chuyển quyền sử dụng đất do Nhà nước giao theo các quy định của pháp luật)

+ Tại Điều 23 Hiến pháp năm 1992 quy định: “Tài sản hợp pháp của cá

nhân, tổ chức không bị quốc hữu hoá, trong trường hợp thật cần thiết vì lý do An ninh Quốc phòng, lợi ích quốc gia mà Nhà nước trưng mua hay trưng dụng, có bồi thường tài sản của cá nhân hay tổ chức theo thời giá của thị trường” (Hiến

pháp năm 1992)

1.4.1.2 Từ khi có Luật đất đai 1993 đến trước Luật đất đai 2003

Hiến pháp năm 1992 đã đặt nền móng cho việc xây dựng chính sách bồi thường GPMB qua những điều 17, 18, 23

Trên cơ sở Hiến pháp 1992, Luật đất đai 1993 được Quốc hội thông qua

và có hiệu lực từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 với quy định “ đất có giá” và người

sử dụng đất có các quyền và nghĩa vụ Đây là sự đổi mới có ý nghĩa rất quan trọng đối với công tác bồi thường GPMB (Quốc hội, 1993)

Những quy định về bồi thường GPMB của Luật đất đai năm 1993 đã thu được những thành tựu quan trọng trong giai đoạn đầu thực hiện, nhưng càng về sau, do sự chuyển biến mau lẹ của tình hình kinh tế – xã hội nó đã dần mất đi vai trò làm động lực thúc đẩy phát triển Để tạo điều kiện đẩy nhanh tốc độ GPMB

Trang 27

đẩy nhanh tiến độ thi công công trình đồng thời đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người sử dụng đất, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật đất đai đã được thông qua ngày 29 tháng 6 năm 2001 (Quốc hội, 2001)

Để cụ thể hóa các quy định của Luật đất đai năm 1993 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai năm 2001, nhiều văn bản quy định về chính sách bồi thường GPMB đã được ban hành, bao gồm:

- Nghị đinh 90/CP ngày 17/8/1994 của Chính phủ quy định về việc bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng Xét về tính chất và nội dung, Nghị định 90/CP đã đáp ứng được một số yêu cầu nhất định so với các văn bản trước Nghị định này là văn bản pháp lý mang tính toàn diện cao và cụ thể hóa việc thực hiện chính sách bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, việc đền bù bằng đất cùng mục đích sử dụng, cùng hạng đất…Tuy nhiên trên thực tế, trong quá trình thực hiện lại cho thấy một số điểm bất cập như việc người bị ảnh hưởng thu hồi gặp rất nhiều khó khăn

- Nghị định 87/CP ngày 17/8/1994 ban hành khung giá các loại đất

- Nghị định 22/1998/NĐ - CP ngày 24/4/1998 của Chính phủ về việc bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng,

an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng Nghị định này quy định chi tiết, hoàn chỉnh, toàn diện, tiến bộ và hợp lý hơn Nghị định 90/CP Chi tiết hơn vì phạm vi

áp dụng quy định thêm một số chính sách hỗ trợ mới về TĐC, giá đất để tính đền

bù thiệt hại được xác định trên cơ sở giá đất của địa phương ban hành theo quy định của Chính phủ nhân với hệ số K

Tuy nhiên trong quá trình triển khai Nghị định 22/1998/NĐ – CP còn có những hạn chế nhất định Nó chưa đáp ứng được các yêu cầu của thực tế, chưa phù hợp với thực tiễn và gây ra phát sinh nhiều khiếu kiện cho Nhà nước… Đặc biệt chưa giải quyết được những tồn tại do yếu tố lịch sử để lại khi thực hiện chính sách đền bù thiệt hại cho chủ sử dụng đất có tài sản, nhà cửa nằm trên đất không đủ điều kiện được bồi thường…

Trang 28

1.4.1.3 Từ khi có luật Đất đai 2003 đến trước Luật đất đai 2013

Tại kỳ họp thứ tư Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật đất đai năm 2003, Luật này có hiêụ lực từ ngày 01/7/2004 (Quốc Hội, 2003)

Luật đất đai năm 2003 có rất nhiều nội dung mới trong đó có vấn đề bồi thường, hỗ trợ GPMB và tái định cư: khắc phục cơ bản những bất cập trong chính sách pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế thông qua cơ chế giá đất bồi thường, chính sách tái định cư và hạn chế phạm vi dự án phải thu hồi

Sau khi Luật đất đai 2003 được ban hành, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản dưới luật như Nghị định, Thông tư cụ thể hoá các điều luật về giá đất, bồi thường, hỗ trợ thu hồi đất; thì chính sách đền bù, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất đi vào bước hoàn thiện, có tác dụng trong việc đảm bảo cân đối

và ổn định cho phát triển, khuyến khích được nhà đầu tư và tương đối giữ được nguyên tắc công bằng, người bị thu hồi đất được đặt vào vị trí trung tâm để giải quyết mọi xung đột, các lợi ích phi vật thể bắt đầu được quan tâm, các hiệu quả

xã hội - môi trường do việc thu hồi đất mang lại được chú ý khi đánh giá các dự

án xây dựng có thu hồi đất và đền bù, hỗ trợ, tái định cư

1.4.1.4 Từ khi có Luật đất đai 2013 đến nay

Nhằm đảm bảo tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị thu hồi đất, khắc phục bất cập và điều tiết hài hòa giữa lợi ích Nhà nước, người sử dụng đất và nhà đầu tư, đồng thời giảm thiểu và hạn chế các khiếu kiện của công dân trong việc bồi thường, giải phóng mặt bằng khi bị thu hồi đất Luật Đất đai năm 2013 vừa tiếp tục kế thừa, luật hóa những quy định còn phù hợp đã và đang đi vào cuộc sống của pháp luật đất đai năm 2003, nhưng đồng thời đã sửa đổi, bổ sung một số quy định định mới nhằm tháo gỡ những hạn chế, bất cập của Luật Đất đai năm 2003, đưa chính sách về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trong Nghị quyết số 49-NT/TW ngày 31/10/2012 của Hội nghị lần thứ sáu, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI “về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước

Trang 29

công nghiệp theo hướng hiện đại” đi vào cuộc sống Một số nội dung chủ yếu mang tính đổi mới về lĩnh vực bồi thường, hỗ trợ, tái định cư quy định trong Luật Đất đai năm 2013 so với Luật Đất đai năm 2003 như sau:

Thứ nhất: Về các nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất Các chế định bồi thường về đất, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trong Luật Đất đai năm 2003 được quy định tại 3 điều (Điều 41, 42 và 43) và trên thực tế không thể thể chế, truyền tải hết các quy định mang tính nguyên tắc để thực hiện thống nhất khi xử lý những vấn đề phức tạp phát sinh trong thực tiễn thu hồi đất, bồi thường về đất, hỗ trợ và tái định cư tại các địa phương, các bộ, ngành Khắc phục hạn chế này, Luật Đất đai năm 2013 đã tách nguyên tắc bồi thường về đất và nguyên tắc bồi thường thiệt hại về tài sản, ngừng sản xuất, kinh doanh khi Nhà nước thu hồi đất thành 02 điều riêng biệt (Điều 74 và Điều 88) Trong đó quy định cụ thể các nguyên tắc bồi thường vế đất và các nguyên tắc bồi thường thiệt hại

về tài sản gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất để các bộ, ngành, địa phương và người thu hồi đất căn cứ vào đó thống nhất thực hiện Cụ thể:

Điều 74 Nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất

1 Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật này thì được bồi thường

2 Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất

3 Việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất phải bảo đảm dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, kịp thời và đúng quy định của pháp luật” Và:

Điều 88 Nguyên tắc bồi thường thiệt hại về tài sản sản xuất, kinh doanh khi Nhà nước thu hồi đất

1 Khi Nhà nước thu hồi đất mà chủ sở hữu tài sản hợp pháp gắn liền với đất bị thiệt hại về tài sản thì được bồi thường

2 Khi Nhà nước thu hồi đất mà tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải ngừng sản

Trang 30

xuất, kinh doanh mà có thiệt hại thì được bồi thường thiệt hại”

Thứ hai: Quy định cụ thể và làm rõ các điều kiện để được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng đối với từng loại đối tượng mà Nhà nước thu hồi đất

Trong đó Luật bổ sung thêm 02 trường hợp được bồi thường về đất quy định tại Điều 75, cụ thể:

- Bổ sung bồi thường đối với các trường hợp sử dụng đất thuê trả tiền một lần cho cả thời gian thuê nhằm đảm bảo sự bình đẳng giữa người sử dụng đất theo hình thức thuê đất trả tiền một lần cho cả thời gian thuê với người được giao đất có thu tiền sử dụng đất (có cùng nghĩa vụ tài chính như nhau)

- Bổ sung bồi thường đối với trường hợp Cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng đang sử dụng đất mà không phải là đất do Nhà nước giao, cho thuê và có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này

mà chưa được cấp

Vấn đề này, Luật Đất đai năm 2003 chưa quy định việc bồi thường, hỗ trợ đất đối với đất do cơ sở tôn giáo đang sử dụng đất vào mục đích nông nghiệp, sản xuất lâm nghiệp, sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp, làm cơ sở hoạt động từ thiện không phải là đất do Nhà nước giao mà có nguồn gốc do nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho hợp pháp hoặc khai hoang trước ngày 01/7/2004 nên gây vướng mắc trong việc thực hiện tại các địa phương

Thứ ba: Thể chế hóa các cơ chế, chính sách bồi thường về đất, chi phí đầu

tư vào đất còn lại thông qua các quy định chi tiết đối với từng loại đất, gồm: đất nông nghiệp, đất ở, đất phi nông nghiệp không phải là đất ở và theo từng loại đối tượng sử dụng đất (từ Điều 77 đến Điều 81 của Luật)

Trong đó, theo quy định của Luật Đất đai năm 2013, việc xác định mức bồi thường cho người có đất thu hồi đối với sử dụng có thời hạn không chỉ căn cứ loại đất, đối tượng sử dụng đất mà còn phải căn cứ thời hạn sử dụng đất còn lại của người sử dụng đất đối với đất đó

Thứ tư: Quy định cụ thể về bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại (Điều

Trang 31

76) cho một số trường hợp không được bồi thường về đất

Những trường hợp được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước thu hồi đất, bao gồm:

- Đất được Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất, trừ trường hợp đất nông nghiệp được Nhà nước giao cho hộ gia đình, cá nhân quy định tại Khoản 1, Điều 54;

- Đất được Nhà nước giao cho tổ chức thộc trường hợp có thu tiền sử dụng đất nhưng được miễn tiền sử dụng đất;

- Đất được Nhà nước cho thuê trả tiền thuê đất hàng năm; đất thuê trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê nhưng được miễn tiền thuê đất, trừ trường hợp

hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất thuê do thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng;

- Đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn;

- Đất nhận khoán để sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối

Thứ năm: Bổ sung quy định về việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với các dự án đặc biệt

Điều 87 của Luật quy định nội dung này theo hướng:

- Bổ sung trường hợp thu hồi đất ở trong khu vực bị ô nhiễm môi trường có nguy cơ đe dọa tính mạng con người; Đất ở có nguy cơ sạt lở, sụt lún, bị ảnh hưởng bởi hiện tượng thiên tai khác đe dọa tính mạng con người thì người có đất thu hồi được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư để ổn định đời sống sản xuất theo quy định của Chính phủ

- Đối với dự án đầu tư do Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư, Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chủ trương đầu tư mà phải di chuyển cả cộng đồng dân

cư, làm ảnh hưởngđến toàn bộ đời sống, kinh tế - xã hội, truyền thống văn hóa của cộng đồng, các dự án thu hồi đất liên quan đến nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thì Thủ tướng Chính phủ quyết định khung chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

- Đối với dự án sử dụng vốn vay của các tổ chức quốc tế, nước ngoài mà

Trang 32

Nhà nước Việt Nam có cam kết về khung chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thì thực hiện theo khung chính sách đó

Thứ sáu Về chính sách hỗ trợ

Luật Đất đai năm 2013 bổ sung các quy định:

- Quy định về nguyên tắc hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất tại Khoản 1, Điều

83 Cụ thể:

“1 Nguyên tắc hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất:

a) Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất ngoài việc được bồi thường theo quy định của Luật này còn được Nhà nước xem xét hỗ trợ;

b) Việc hỗ trợ phải bảo đảm khách quan, công bằng, kịp thời, công khai và đúng quy định của pháp luật”

- Quy định về hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm cho hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp mà không có đất nông nghiệp để bồi thường tại Khoản 1, Điều 84 Cụ thể:

“Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp mà không có đất nông nghiệp để bồi thường thì ngoài việc được bồi thường bằng tiền còn được hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm

Trường hợp người được hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm trong độ tuổi lao động có nhu cầu được đào tạo nghề thì được nhận vào các cơ sở đào tạo nghề; được tư vấn hỗ trợ tìm kiếm việc làm, vay vốn tín dụng ưu đãi để phát triển sản xuất kinh doanh”

- Quy định về hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ở kết hợp kinh doanh, dịch vụ mà nguồn thu nhập chính từ hoạt động kinh doanh dịch vụ khi Nhà nước thu hồi đất ở mà phải di chuyển chổ ở tại Khoản 2, Điều 84 Cụ thể: “Đối với hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ở kết hợp kinh doanh dịch vụ mà nguồn thu nhập chính là từ hoạt động kinh doanh dịch vụ, khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở thì được vay vốn tín dụng ưu đãi để phát triển sản xuất, kinh doanh; trường hợp người có đất thu hồi còn trong độ tuổi lao động thì được hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề nghiệp, tìm kiếm việc làm”

Trang 33

Thứ bảy: Về tái định cư

Nhằm khắc phục tình trạng một số khu vực tái định cư chất lượng còn thấp, không đồng bộ về cơ sở hạ tầng, chưa đảm bảo tiêu chí có điều kiện phát triển bằng hoặc tố hơn nơi ở cũ Nhiều địa phương chưa lập khu tái định cư chung cho các dự

án tại địa bàn nên nhiều dự án chưa có khu tái định cư đã thực hiện thu hồi đất ở, thậm chí có những dự án mà người có đất bị thu hồi phải đi thuê nhà để ở nhiều năm

mà vẫn chưa được bồ trí vào khu tái định cư, Luật Đất đai năm 2013 đã có những quy định mới như sau:

- Bổ sung quy định cụ thể vế lập và thực hiện dự án tái định cư tại Điều 85 theo hướng:

“1 Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm tổ chức lập và thực hiện dự án tái định cư trước khi thu hồi đất

2 Khu tái định cư tập trung phải xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ, bảo đảm tiêu chuẩn,quy chuẩn xây dựng, phù hợp với điều kiện, phong tục, tập quán của từng vùng, miền

3 Việc thu hồi đất ở chỉ được thực hiện sau khi hoàn thành xây dựng nhà ở hoặc cơ sở hạ tầng của khu tái định cư”

Và Luật đã giao Chính phủ quy định chi tiết điều này

- Sửa đổi và bổ sung quy định về bố trí tái định cư cho người bị thu hồi đất

ở mà phải di chuyển chỗ ở tại Điều 86, cụ thể:

2 Người có đất thu hồi được bố trí tái định cư tại chỗ nếu tại khu vực thu hồi đất có dự án tái định cư hoặc có điều kiện bố trí tái định cư Ưu tiên vị trí thuận lợi cho người có đất thu hồi sớm bàn giao mặt bằng, người có đất thu hồi là người có công với cách mạng

3 Giá đất tính thu tiền sử dụng đất tại nơi tái định cư, giá bán nhà ở tái định

cư do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định

4 Trường hợp người có đất thu hồi được bố trí tái định cư mà tiền bồi thường, hỗ trợ không đủ để mua một suất tái định cư tối thiểu thì được Nhà nước hỗ trợ tiền đủ để mua một suất tái định cư tối thiểu”

Đồng thời Luật đã giao Chính phủ quy định cụ thể suất tái định cư tối thiểu

Trang 34

cho phù hợp với điều kiện từng vùng, miền và địa phương

Với những nội dung sửa đổi, bổ sung quan trọng như đã nêu trên, trong thời gian tớiquyền và lợi ích hợp pháp cho người bị thu hồi đất sẽ được đảm bảo Từ đó các cơ quan có thẩm quyền của nhà nước có cơ chế pháp lý chặt chẽ, phù hợp để tổ chức thực hiện việc thu hồi đất nhằm mục đích phát triển kinh tế - xã hội cũng như lợi ích công cộng, an ninh quốc phòng Đồng thời hạn chế được tình trạng khiếu kiện, khiếu nại đối với chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi bị thu hồi đất như trong thời gian vừa qua (Lê Kim Chinh, 2014)

1.4.2 C ơ sở pháp lý về chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư hiện

hành

1.4.2.1 Các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước ở Trung ương ban hành

Ngày 29 tháng 11 năm 2013, tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa VIII, Quốc hội

đã biểu quyết thông qua Luật Đất đai năm 2013 Luật Đất đai năm 2013 có 14 chương với 212 điều trong đó có 14 điều ( từ Điều 74 đến Điều 87) quy định về chính sách bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi nhà nước thu hồi đất

Sau khi Luật Đất đai 2013 được ban hành, Nhà nước đã ban hành nhiều các văn bản dưới luật như Nghị định, Thông tư cụ thể hoá các điều luật về giá đất, bồi thường, hỗ trợ thu hồi đất, cụ thể:

- Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Đất đai

- Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định về giá đất

- Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định về thu tiền sử dụng đất

- Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

- Thông tư số 37/2014/TT-BTNMT ngày 30 tháng 6 năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

Trang 35

1.4.2.2 Các văn bản quy phạm pháp luật do Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội ban hành

- Quyết định số 108/2009/QĐ-UBND, ngày 29 tháng 9 năm 2009, của UBND Thành phố Hà Nội, quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hà Nội

- Quyết định số 48/2011/QĐ-UBND ngày 26/12/2011 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định ban hành kèm theo Quyết định số 02/2010/QĐ-UBND ngày 18/01/2010 của UBND Thành phố về thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư và làm nhà ở nông thôn tại điểm dân cư nông thôn trên địa bàn thành phố Hà Nội

- Quyết định số 02/2013/QĐ-UBND ngày 7/01/2013 của UBND Thành phố

Hà Nội về việc sửa đổi một số điều của Quy định ban hành kèm theo Quyết định số 108/2009/QĐ-UBND ngày 29/9/2009 của UBND thành phố Hà Nội ban hành quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hà Nội

- Quyết định số 27/2013/QĐ-UBND ngày 18/7/2013 của UBND thành phố

Hà Nội về việc quy định chi tiết việc xác định giá đất ở, giá bán nhà tái định cư làm căn cứ bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hà Nội

- Hà Nội là địa phương đi đầu “Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố” Ngày 20/6/2014, UBND Thành phố ban hành Quyết định số 23/2014/QĐ-UBND về quy định các nội dung thuộc thẩm quyền của UBND Thành phố Hà Nội do Luật Đất đai 2013 và các Nghị định của Chính phủ giao cho về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hà Nội

- Quyết định này có hiệu lực từ ngày 01/7/2014 và thay thế Quyết định số 108/2009/QĐ-UBND ngày 29/9/2009, Quyết định số 02/2013/QĐ-UBND ngày 07/01/2013 và Quyết định số 27/2013/QĐ-UBND ngày 18/7/2013 của UBND Thành phố Theo đó, UBND Thành phố ủy quyền cho UBND cấp quận, huyện phê

Trang 36

duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đối với các trường hợp UBND Thành phố ra quyết định thu hồi đất; ủy quyền cho sở Xây dựng quyết định phê duyệt giá bán nhà ở chung cư tái định cư cho từng tầng, loại nhà, theo vị trí cụ thể đảm bảo cân đối với chính sách giá bồi thường, hỗ trợ đất tại nơi thu hồi đất

- Quy định này nêu rõ các nội dung như: bồi thường đất; bồi thường, hỗ trợ

về tài sản; các chính sách hỗ trợ khác; tái định cư; trình tự, thủ tục thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Quy định cũng nêu rõ trách nhiệm của các tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng; trách nhiệm của UBND các quận, huyện

và xã, phường và trách nhiệm của các sở, ngành Thành phố Trong đó, Thanh tra Thành phố được giao tổ chức xác minh, kết luận, giải quyết các đơn thư khiếu nại,

tố cáo thuộc thẩm quyền đối với các tổ chức, cá nhân có liên quan đến công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định của Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo; đồng thời đôn đốc UBND cấp quận, huyện, các sở, ngành có liên quan trong việc giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo có liên quan đến bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

1.4.3 Tình hình thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở Việt Nam

1.4.3.1 Thực tiễn của việc bồi thường giải phóng mặt bằng

a) Về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế

Theo báo cáo chưa đầy đủ của 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, sau gần 7 năm triển khai thực hiện Luật Đất đai (2004-2010) , tổng diện tích đất

đã thu hồi là 728 nghìn ha (trong đó có 536 nghìn ha đất nông nghiệp) của 826.012 hộ gia đình, cá nhân để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế Các tỉnh, thành phố thu hồi diện tích đất lớn là Đắk Lăk (114.524 ha), Điện Biên (66.944 ha), Sơn La (61.334 ha), Nghệ An (33.357 ha), Bình Phước (27.109 ha), Quảng Nam (24.541 ha), Quảng Ninh (13.529 ha), Gia Lai (12.301 ha) Tỉnh thu hồi diện tích đất ít là

Trang 37

Vĩnh Long (325 ha), Tiền Giang (448 ha), Hậu Giang (974 ha), (Bộ Tài nguyên

b) Thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai

Theo kết quả tổng hợp báo cáo của 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thì trong gần 7 năm, các địa phương đã quyết định thu hồi 50.906 ha của 1.481 tổ chức và 598 hộ gia đình, cá nhân vi phạm pháp luật về đất đai Những tỉnh thu hồi nhiều đất do vi phạm pháp luật về đất đai như: Bình Phước 6.070 ha, Phú Yên 5.813 ha, Đắk Nông 5.791 ha, Quảng Nam 5.217 ha, Gia Lai 2.719 ha, Quảng Ninh 2.245 ha, Khánh Hòa 604 ha, Hà Nội 594 ha Đây được coi là một tiến bộ nổi bật trong công tác quản lý đất đai so với thời gian trước đây (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2012)

c) Tạo quỹ "đất sạch" để đấu giá quyền sử dụng đất

Một số Bộ, ngành và địa phương, đặc biệt là các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng đã đánh giá cao hoạt động của Tổ chức phát triển quỹ đất trong công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và tạo quỹ "đất sạch" để đấu giá quyền sử dụng đất Cơ chế tạo "đất sạch" do Tổ chức phát triển quỹ đất thực hiện tại nhiều địa phương bước đầu đã phát huy hiệu quả, góp phần nâng cao giá trị, hiệu quả sử dụng đất, đồng thời minh bạch hóa công tác giao đất, cho thuê đất, hạn chế tình trạng tham nhũng trong quản lý đất đai (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2012)

1.4.3.2 Những vướng mắc, bất cập và nguyên nhân

Việc thu hồi đất để thực hiện các dự án vẫn là một trong những vấn đề nổi

Trang 38

cộm ở nhiều địa phương, làm chậm tiến độ triển khai nhiều dự án đầu tư, gây bức xúc cho cả người sử dụng đất, nhà đầu tư và chính quyền nơi có đất thu hồi do các nguyên nhân sau:

- Việc thực hiện cơ chế tự thỏa thuận đã tạo điều kiện cho nhà đầu tư chủ động quỹ đất thực hiện dự án, rút ngắn thời gian GPMB, hạn chế khiếu kiện, đồng thời giảm tải cho các cơ quan hành chính nhà nước các cấp trong việc thu hồi đất Tuy nhiên, đã tạo ra sự chênh lệch lớn về giá đất so với dự án do Nhà nước thu hồi trong cùng khu vực

- Việc thu hồi đất, BTHT&TĐC còn bất cập, chưa có cơ chế giải quyết một cách rõ ràng, minh bạch, hài hòa về lợi ích giữa Nhà nước, người có đất bị thu hồi và nhà đầu tư Chưa quy định việc sử dụng tư vấn giá đất, giải quyết khiếu nại về giá đất và cơ chế bắt buộc để đảm bảo có quỹ đất, có nguồn vốn xây dựng khu tái định cư trước khi thu hồi đất

- Các quy định về BTHT&TĐC thường xuyên thay đổi dẫn tới tình trạng không đồng nhất chính sách, so bì, khiếu nại của người có đất bị thu hồi qua các

dự án hoặc trong một dự án nhưng thực hiện thu hồi đất qua nhiều năm

- Giá đất bồi thường chủ yếu thực hiện theo bảng giá nên còn thấp so với giá đất thị trường; còn tình trạng không thống nhất về cơ chế bồi thường giữa các

dự án đầu tư có nguồn vốn trong nước và dự án từ vốn vay của các ngân hàng nước ngoài (ADB, WB)

- Việc chuẩn bị công tác BTHT&TĐC chưa được các cấp chính quyền quan tâm đúng mức, nhất là phương án giải quyết việc làm cho người bị thu hồi đất

- Một số địa phương thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành; chưa làm tốt công tác tuyên truyền, vận động, giải thích cho nhân dân hiểu rõ quy định của pháp luật hoặc né tránh, thiếu cương quyết, không giải quyết dứt điểm, làm cho việc giải phóng mặt bằng bị kéo dài nhiều năm

- Nhà nước thiếu vốn để giao cho các tổ chức chuyên nghiệp thực hiện nên phổ biến vẫn thực hiện thu hồi đất và giao chỉ định cho chủ đầu tư, cho phép chủ đầu tư ứng vốn để trả trước tiền BT, GPMB dễ dẫn đến khiếu kiện của người dân

Trang 39

- Thẩm quyền thu hồi đất đã phân cấp cho UBND cấp tỉnh, cấp huyện, trong đó có nhiều dự án thu hồi diện tích lớn, thu hồi đất trồng lúa, đất rừng để chuyển sang đất phi nông nghiệp ảnh hưởng đến đời sống và việc làm của nhiều

hộ dân nhưng thực hiện còn thiếu cân nhắc, tính toán, trong khi việc kiểm tra, giám sát của cơ quan cấp trên còn thiếu chặt chẽ

- Luật Đất đai đã quy định các trường hợp không sử dụng, chậm sử dụng hoặc sử dụng đất không đúng mục đích thì Nhà nước thu hồi và không bồi thường về đất, nhưng được bồi thường đối với tài sản đã đầu tư gắn liền với đất

đã gây khó khăn cho Nhà nước trong việc thu hồi đất (xác định chi phí đã đầu tư, kinh phí để bồi thường) để giao lại cho các nhà đầu tư có năng lực

- Mặc dù, chính sách, pháp luật về khiếu nại, tố cáo, tố tụng hành chính, tố tụng dân sự đã được đổi mới từ khi Quốc hội ban hành Luật Đất đai năm 2003 nhưng bất cập chủ yếu tại địa phương hiện nay là tình trạng khiếu kiện về thu hồi đất, BTHT&TĐC, trong đó có vướng mắc trong thực hiện cưỡng chế thu hồi đất

(Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2012)

1.5 Tình hình thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại Thành phố Hà Nội

Ngay từ đầu năm 2014, chương trình công tác GPMB các dự án đầu tư, với nhiều yêu cầu tiến độ thời gian hoàn thành đối với các dự án trọng điểm, đã được UBND Thành phố quán triệt chỉ đạo, đề ra các giải pháp cụ thể và phân giao nhiệm vụ để các Sở, Ban, ngành và UBND các quận, huyện, Thị xã triển khai thực hiện, trong đó đã tổ chức Hội nghị tổng kết, trao đổi, thảo luận về các nội dung điều chỉnh, bổ sung cơ chế chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư giữa lãnh đạo Thành phố với lãnh đạo các Quận, Huyện, Thị xã, lãnh đạo các Sở, Ban, ngành, đoàn thể chính trị của Thành phố

Việc kiểm tra, đôn đốc đẩy nhanh tiến độ và giải quyết, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình tổ chức thực hiện công tác GPMB tại các dự án, nhất là các dự án trọng điểm, dự án dân sinh bức xúc tiếp tục được Thành phố quan tâm, giải quyết kịp thời để UBND các quận, huyện, Thị xã và các chủ đầu tư triển khai thực hiện

Trang 40

Việc cải cách hành chính trong công tác GPMB của Thành phố tiếp tục được các Sở, Ngành, các quận, huyện, Thị xã quan tâm thực hiện, thể hiện ở các nội dung như: sự phối kết hợp giữa các Sở, Ngành Thành phố, trong việc tham mưu, đề xuất UBND Thành phố giải quyết các đề xuất, kiến nghị của UBND cấp huyện khi có các vướng mắc phát sinh, tiếp tục được phát huy và đạt hiệu quả cải cách hành chính cao, rút ngắn thời gian chỉ đạo, giải quyết các vướng mắc của Thành phố hay như việc thẩm định, phê duyệt phương án của Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của một số quận, huyện, Thị xã đã đi vào nề nếp, rút ngắn nhiều thời gian so với cách làm cũ

Việc tiếp dân, hướng dẫn và giải quyết đơn thư, kiến nghị của công dân liên quan đến công tác thu hồi đất GPMB được các các cấp, các ngành từ Thành phố đến cơ sở chủ động quan tâm, giải quyết theo thẩm quyền, chủ động đối thoại và trả lời trực tiếp cho người có kiến nghị, góp phần làm giảm bức xúc và hạn chế thấp nhất các vụ việc khiếu kiện đông người lên các cơ quan Trung ương

Việc tập huấn, bồi dưỡng, hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ trực tiếp làm công tác GPMB tại các Ban bồi thường GPMB, các Trung tâm PTQĐ cấp huyện và 01 số chủ đầu tư tiếp tục được Ban Chỉ đạo GPMB Thành phố quan tâm thực hiện, cùng với đó là việc phối hợp với các tổ chức đoàn thể, tổ chức chính trị - xã hội tổ chức các buổi trao đổi, tọa đàm về các

cơ chế chính sách về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của Thành phố, qua đó góp phần nâng cao trình độ nghiệp vụ, nâng cao nhận thức về tầm quan trọng và ý nghĩa của việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của Thành phố

Tính đến thời điểm ngày 31/12/2014, UBND các quận, huyện, thị xã đã phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo thẩm quyền cho 18.956

tổ chức, hộ gia đình, cá nhân; chi trả hơn 9.859 tỷ đồng tiền bồi thường, hỗ trợ; phê duyệt bố trí tái định cư cho 1.438 hộ gia đình, cá nhân phải di chuyển chỗ ở;

Đã thu hồi và nhận bàn giao mặt bằng hơn 998 ha đất tại 279 dự án Trong đó

một số địa bàn có kết quả thực hiện công tác GPMB tốt, với diện tích đất đã thu hồi đạt khối lượng cao như: Cầu Giấy, Tây Hồ, Nam Từ Liêm, Đông Anh Thạch

Ngày đăng: 28/05/2016, 15:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. Nguyễn Đức Minh (2001), “Quy hoạch đất đai và thị trường bất động sản”. Hội thảo Một số vấn đề hình thành và phát triển thị trường bất động sản Việt Nam ngày 15-16/11/2001, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch đất đai và thị trường bất động sản
Tác giả: Nguyễn Đức Minh
Năm: 2001
1. Ban chỉ đạo GPMB Thành phố Hà Nội (2014). Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ công tác GPMB năm 2014; nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm năm 2015 Khác
2. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2007). Báo cáo kiểm tra thi hành Luật Đất đai Khác
3. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2012). Báo cáo Tổng kết tình hình thi hành Luật Đất đai 2003 và định hướng sửa đổi Luật Đất đai Khác
4. Lê Kim Chinh (2014). Những điểm mới của Luật đất đai năm 2013 về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, stp.binhdinh.gov.vn Khác
5. Chính phủ (2004). Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất Khác
6. Chính phủ (2004). Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 về bồi thường thiệt hại và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Khác
7. Chính phủ (2007). Nghị định số 123/2007/NĐ-CP ngày 27/7/2007 sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất Khác
8. Chính phủ (2009). Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/08/2009 quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, hỗ trợ và tái định cư Khác
9. Đào Trung Chính (2010), Thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư – Kinh nghiệm quốc tế và bài học áp dụng vào Việt Nam Khác
10. Đào Trung Chính (2013). Nghiên cứu thực trạng và đề xuất đổi mới pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Luận án Tiến sĩ, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Khác
11. Tôn Gia Huyên và Nguyễn Đình Bồng (2006). Đổi mới hệ thống quản lý đất đai để hình thành và phát triển thị trường bất động sản ở Việt Nam, ĐTCNN 6-2005 Khác
13. Phạm Phương Nam (2013). Thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, tạp chí Tài nguyên & Môi trường, số 10(168) Khác
14. Quốc hội, Hiến pháp 1959, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà nội -1959 Khác
15. Quốc hội, Hiến pháp 1980, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà nội -1980 Khác
16. Quốc hội, Hiến pháp 1992, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà nội -1992 Khác
17. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, (1987). Luật Đất đai, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
18. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, (1993). Luật Đất đai, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
19. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, (2001). Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Khác
20. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, (2003). Luật Đất đai năm, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.2. Tổng hợp tình hình dân số từ năm 2007 đến năm 2014 - đánh giá việc thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất để xây dựng nhà ở trên địa bàn huyện đông anh, thành phố hà nội
Bảng 3.2. Tổng hợp tình hình dân số từ năm 2007 đến năm 2014 (Trang 54)
Bảng 3.5. Khái quát sơ lược về 02 dự án nghiên cứu - đánh giá việc thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất để xây dựng nhà ở trên địa bàn huyện đông anh, thành phố hà nội
Bảng 3.5. Khái quát sơ lược về 02 dự án nghiên cứu (Trang 72)
Bảng 3.7. Tổng hợp kết quả xác định đối tượng được bồi thường - đánh giá việc thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất để xây dựng nhà ở trên địa bàn huyện đông anh, thành phố hà nội
Bảng 3.7. Tổng hợp kết quả xác định đối tượng được bồi thường (Trang 76)
Bảng 3.8. Ý kiến của người dân có đất bị thu hồi trong việc xác định đối - đánh giá việc thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất để xây dựng nhà ở trên địa bàn huyện đông anh, thành phố hà nội
Bảng 3.8. Ý kiến của người dân có đất bị thu hồi trong việc xác định đối (Trang 77)
Bảng 3.10. Chênh lệch giữa giá đất bồi thường và giá thị trường ở 02 dự án - đánh giá việc thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất để xây dựng nhà ở trên địa bàn huyện đông anh, thành phố hà nội
Bảng 3.10. Chênh lệch giữa giá đất bồi thường và giá thị trường ở 02 dự án (Trang 79)
Bảng 3.9. Kết quả bồi thường về đất tại 02 dự án - đánh giá việc thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất để xây dựng nhà ở trên địa bàn huyện đông anh, thành phố hà nội
Bảng 3.9. Kết quả bồi thường về đất tại 02 dự án (Trang 79)
Bảng 3.11. Kết quả bồi hường về tài sản trên đất tại 02 dự án. - đánh giá việc thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất để xây dựng nhà ở trên địa bàn huyện đông anh, thành phố hà nội
Bảng 3.11. Kết quả bồi hường về tài sản trên đất tại 02 dự án (Trang 82)
Bảng 3.13. Tổng hợp kinh  phí các chính sách hỗ trợ của 02 dự án - đánh giá việc thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất để xây dựng nhà ở trên địa bàn huyện đông anh, thành phố hà nội
Bảng 3.13. Tổng hợp kinh phí các chính sách hỗ trợ của 02 dự án (Trang 86)
Bảng 3.15. Kết quả thực hiện chính sách tái định cư - đánh giá việc thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất để xây dựng nhà ở trên địa bàn huyện đông anh, thành phố hà nội
Bảng 3.15. Kết quả thực hiện chính sách tái định cư (Trang 88)
Bảng 3.16. Ý kiến của người có đất bị thu hồi trong việc thực hiện - đánh giá việc thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất để xây dựng nhà ở trên địa bàn huyện đông anh, thành phố hà nội
Bảng 3.16. Ý kiến của người có đất bị thu hồi trong việc thực hiện (Trang 89)
Bảng 2. Đơn giá bồi thường, hỗ trợ tài sản trên đất của 02 Dự án - đánh giá việc thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất để xây dựng nhà ở trên địa bàn huyện đông anh, thành phố hà nội
Bảng 2. Đơn giá bồi thường, hỗ trợ tài sản trên đất của 02 Dự án (Trang 102)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm