Thời điểm thi học kì sắp diễn ra rồi, với rất nhiều môn bạn sẽ không thể học trọn vẹn tất cả các kiến thức được Đối với những môn tự nhiên sẽ dễ dàng hơn, bạn chỉ cần vận dụng tư duy logic của mình. Nhưng đối với những môn xã hội thì thật khó khi phải học thuộc tất cả trong thời gian ngắn. Một bộ môn xã hội khiến hầu hết học sinh đều ngán ngẩm đó chính là môn Lịch Sử. Vậy làm thế bào để học thuộc Lịch Sử nhanh đây? Sắp tới ngày thi rồi
Trang 1Đại học huế Trung tâm đào tạo từ xa
Trang 2Mục lục
Mục lục 2
Chương 1 6
Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc tiến hành bài tập lịch sử ở trường phổ thông 6
I - "Bài tập" và "Bài tập lịch sử" ở trường phổ thông 6
II - Vai trò, ý nghĩa của bài tập trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông 11
III - Các loại bài tập lịch sử ở trường phổ thông 17
IV - Yêu cầu thực tế và tình hình nhận thức, sử dụng bài tập lịch sử trong trường phổ thông nước ta hiện nay 25
Chương 2 30
Xây dựng hệ thống bài tập lịch sử ở trường phổ thông 30
I - Các loại bài tập lịch sử cần phải xây dựng 30
II - Quy trình thiết kế, xây dựng bài tập lịch sử 36
III - Nội dung các loại bài tập lịch sử ở trường phổ thông 39
Chương 3 64
Phương pháp tiến hành bài tập lịch sử ở trường phổ thông 64
I - Các hình thức tổ chức tiến hành bài tập lịch sử 64
II - phương pháp tiến hành bài tập để kiểm tra đánh giá kết quả học tập lịch sử của học sinh ở trường phổ thông 67
Tài liệu tham khảo chủ yếu 87
Phụ Lục 88
Phụ lục 1 89
Phụ lục 2 92
Trang 3L ời giới thiệu
Trong đổi mới về PPDH, quan niệm đúng và biết cách tiến hành bài tập là
điều quan trọng, vì đây là một khâu quan trọng trong quá trình dạy học : MụC TIÊU – NộI DUNG – PHƯƠNG PHáP – KIểM TRA, ĐáNH GIá Nhiều môn học khác ở trường Trung học (Trung học cơ sở và Trung học phổ thông) đã thực hiện tốt việc kiểm tra, đánh giá Nhờ đó mà kết quả học tập được nâng cao hơn, góp phần hình thành ở học sinh khả năng nhận thức và thực hành những kiến thức đã tiếp nhận được Quá trình này sẽ góp phần khắc phục tình trạng học vẹt, học nhồi sọ, tách lí thuyết với thực hành Điều này cũng có ý nghĩa đối với việc giáo dục đạo đức, hình thành nhân cách tốt đẹp cho học sinh ; bởi vì : "kiến thức khi được học sinh vận dụng thì được củng cố và là công cụ phát triển, công cụ giáo dục và công cụ thu nhận kiến thức mới, chúng trở thành phương pháp nhận thức hiện tượng của đời sống xã hội".( )1 Nó hoàn thiện việc nhận thức (học tập) của học sinh gồm các khâu : tiếp nhận, tư duy, củng cố, vận dụng tự kiểm tra, tự
đánh giá và được kiểm tra đánh giá
Như vậy, việc kiểm tra ư đánh giá có nhiệm vụ làm rõ mức độ lĩnh hội kiến thức, sự thành thạo về kĩ năng, kĩ xảo của học sinh ; bổ sung và làm sâu sắc, củng cố, hệ thống hoá, khái quát hoá kiến thức đã học, chuẩn bị cho việc tiếp tục nhận thức sâu sắc hơn kiến thức mới Nó còn giúp giáo viên tự đánh giá việc giảng dạy của mình và học sinh tự đánh giá kết quả học tập của các em Thông qua kiểm tra, học sinh "biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo"
Đối với bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông, việc đánh giá hiệu quả học tập, rèn luyện của học sinh không chỉ kiểm tra học sinh phải "biết" (sự kiện diễn ra như thế nào ?) mà chính là việc học sinh phải "hiểu" (vì sao sự kiện lại diễn ra và tác động như thế ?), phải "vận dụng" kiến thức đã học để giải thích những điều
đã biết nhằm tiếp thu kiến thức mới và vận dụng vào thực tế cuộc sống, học tập, lao động, rèn luyện phẩm chất đạo đức, tư tưởng chính trị
Với chức năng, nhiệm vụ của mình, bài tập lịch sử được xem là một phương tiện dạy học có hiệu quả, đồng thời là công cụ không thể thiếu được để kiểm tra và
đánh giá toàn diện, đúng đắn, chính xác, hiệu quả học tập lịch sử của học sinh nói riêng, dạy học lịch sử ở trường phổ thông nói chung
Xuất phát từ những lí do chủ yếu trên, chúng tôi đánh giá cao việc chọn và
giải quyết vấn đề Bài tập lịch sử ở trường phổ thông của các tác giả Đặng Văn
Trang 4Hồ và Trần Quốc Tuấn Đây là vấn đề có ý nghĩa thiết thực nhằm đáp ứng yêu cầu thực tế đang đặt ra đối với việc nâng cao chất lượng bộ môn Lịch sử ở trường THPT ; đồng thời cũng góp phần vào việc xây dựng lí luận về PPDH lịch sử Kết quả của công trình "Bài tập lịch sử ở trường phổ thông" của Đặng Văn
Hồ và Trần Quốc Tuấn là sự kết hợp khá nhuần nhuyễn, công phu của việc nghiên cứu lí luận hiện đại, cập nhật, có chọn lựa những tài liệu đã công bố trong
và ngoài nước với thực tiễn giáo dục lịch sử ở trường phổ thông mà các tác giả đã thực hiện theo ý tưởng, mục tiêu của mình Nội dung sách gồm có hai phần rõ rệt : cơ sở lí luận và biện pháp sư phạm cụ thể, sách tránh được tình trạng hoặc nặng nề về
lí thuyết, mang tính tư biện giáo điều, hoặc chỉ là tạo hợp các loại bài tập Sách vừa nâng cao trình độ lí thuyết, vừa xây dựng cơ sở thực tiễn để có thể thực hiện một cách sáng tạo, phù hợp với thực tế dạy học lịch sử
Chuyên khảo "Bài tập lịch sử ở trường phổ thông" đòi hỏi sinh viên khi sử dụng phải nắm vững cơ sở lí thuyết và từ đó vận dụng vào thực tiễn dạy học, bằng cách ra các loại bài tập vừa nâng cao trình độ học sinh, vừa phù hợp với
điều kiện dạy học ở địa phương Rõ ràng điều này đòi hỏi sinh viên phải biết kết hợp khoa học giáo dục với khoa học lịch sử và nhiều kiến thức khoa học có liên quan ; kết hợp lí thuyết với thực hành
Theo chúng tôi, giá trị chuyên khảo này thể hiện ở mấy vấn đề sau :
ư Trình bày nhận thức đúng đắn, khoa học về vấn đề bài tập trong môn lịch
sử ở trường phổ thông, như bản chất của khái niệm bài tập lịch sử, vị trí ý nghĩa của bài tập lịch sử, những vấn đề lí luận và thực tiễn của bài tập lịch sử
ư Xác định những yêu cầu có tính nguyên tắc và xây dựng quy trình thiết kế bài tập lịch sử phục vụ cho việc dạy học bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông (có minh hoạ việc biên soạn hệ thống các bài tập lịch sử qua từng bài, chương và cả khoá trình thuộc chương trình, sách giáo khoa lịch sử THPT)
ư Xác định nguyên tắc sư phạm, đề xuất hình thức, biện pháp đưa bài tập dạy học môn Lịch sử ở trường phổ thông phù hợp với điều kiện cụ thể ở nước ta kể cả trong nội khoá, ngoại khoá và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập lịch sử của học sinh
Với loại Chuyên khảo được biên soạn công phu, có chất lượng tốt cùng với việc tổ chức, hướng dẫn học tập tốt đối với sinh viên Ngoài việc sử dụng làm giáo trình giảng dạy cho sinh viên hệ "đào tạo từ xa" sách còn dùng làm tài liệu bồi dưỡng giáo viên, tài liệu tham khảo cho học viên thạc sĩ và nghiên cứu sinh
Trang 5
Lời nói đầu
Do nhu cầu của công tác đào tạo giáo viên Lịch sử cho trường THPT, được sự đồng ý và tạo điều kiện của Ban Giám đốc, Phòng Giáo vụ Trung tâm Đào tạo từ xa của Đại học Huế,
chúng tôi biên soạn chuyên khảo "Bài tập lịch sử ở trường phổ thông"
Nội dung của sách bám sát chương trình bộ môn "Phương pháp dạy học lịch sử" gồm có
4 phần như sau :
Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc tiến hành bài tập lịch sử ở trường phổ thông
Chương 2 Xây dựng hệ thống bài tập lịch sử ở trường phổ thông
Chương 3 Phương pháp tiến hành bài tập lịch sử ở trường phổ thông
Phụ lục
Để đảm bảo tính chất chuyên đề về phương pháp dạy học lịch sử, chúng tôi kết hợp trình bày cơ sở lí luận và hướng dẫn thực hành, tránh tính trạng như GS Phan Ngọc Liên trong lời tựa đã chỉ rõ : hoặc thuần lí thuyết hoặc là một tập hợp các bài tập cụ thể
Trong khi biên soạn, chúng tôi được sự giúp đỡ tận tình của GS Phan Ngọc Liên, PGS
TS Nguyễn Thị Côi, PGS TS Trịnh Đình Tùng, TS Trần Vĩnh Tường, TS Nguyễn Anh Dũng, TS Nguyễn Hữu Chí, TS Phạm Kim Anh (Viện Khoa học giáo dục), TS Hoàng Thanh Hải (Đại học Hồng Đức), TS Trần Viết Lưu (Sở Giáo dục và Đào tạo Thanh Hoá),
TS Trần Viết Thụ (Đại học Sư phạm Vinh) Riêng GS Phan Ngọc Liên đã viết lời giới thiệu và chỉnh sửa toàn bộ quyển sách
Chúng tôi rất mong các đồng nghiệp và các sinh viên góp ý để cuốn sách ngày càng hoàn thiện hơn
các tác giả
Trang 6Chương 1
Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc tiến hành bài tập lịch sử
ở trường phổ thông
Chương này tập trung làm sáng tỏ một số vấn đề về lí luận cũng như thực tiễn của việc tiến hành bài tập lịch sử ở trường phổ thông hiện nay, nhằm xây dựng cơ sở cho việc nhận thức đúng và hình thành kĩ năng xây dựng, hướng dẫn làm bài tập cho học sinh
I - "Bài tập" và "Bài tập lịch sử" ở trường phổ thông
Theo nghĩa chung nhất, thuật ngữ "bài tập" (tiếng Anh và Pháp : "Exercise) dùng để chỉ một hoạt động nhằm rèn luyện thể chất và tinh thần (trí tuệ) cho người học Ví dụ : bài tập thể dục, bài tập xướng âm, bài tập đại số Như vậy, thuật ngữ "bài tập" được sử dụng trong
nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó có lĩnh vực giáo dục (dạy học) Từ điển Tiếng Việt xác
định nội dung "bài tập" trong dạy học như sau : Bài tập là bài ra cho học sinh làm để vận dụng những điều đã học Ví dụ : bài tập đại số, ra bài tập, làm bài tập ở lớp
Cách định nghĩa trên chỉ mới giải thích về mặt ngữ chứ chưa làm rõ bản chất của khái niệm "bài tập" Theo Nguyễn Ngọc Quang, khi xem xét khái niệm "bài tập", ta không thể tách rời nó với người làm bài tập đó Bài tập chỉ có thể là "bài tập" khi nó trở thành đối tượng hoạt động của một chủ thể, nghĩa là có một người nào đó, có nhu cầu chọn nó làm đối tượng hoạt động với mong muốn giải bài tập đó – tức là có một "người giải"
Vì vậy, "bài tập" và "người giải" trở thành một hệ thống toàn vẹn, thống nhất, liên hệ chặt chẽ và tác động qua lại với nhau
Hệ thống bài tập bao gồm hai phần : "bài tập" ư đối tượng và "người giải" – chủ thể Vậy hai phần này được biểu hiện như thế nào ? Có mối quan hệ ra sao ?
Cũng Theo Nguyễn Ngọc Quang, bài tập là một hệ thống thông tin xác định, bao gồm hai tập hợp gắn bó chặt chẽ và tác động qua lại với nhau Đó là :
Những điều kiện, tức tập hợp những dữ liệu xuất phát trạng thái ban đầu của bài tập, từ
đó mà tìm ra phép giải ; theo ngôn ngữ thông dụng thì đây được gọi là "cái cho"
Những yêu cầu là trạng thái mong muốn đạt tới của đối tượng, là cái đích mà chủ thể phải hướng tới để thoả mãn nhu cầu của mình, theo ngôn ngữ thông dụng thì đây gọi là "cái phải tìm"
Hai tập hợp này tạo thành bài tập, nhưng chúng lại không phù hợp với nhau, thậm chí mâu thuẫn với nhau Từ đó, xuất hiện nhu cầu cần phải biến đổi chúng để khắc phục sự không phù hợp hay mâu thuẫn này
Trang 7Còn người giải với tư cách là chủ thể của bài tập, bao gồm hai thành tố : cách giải hay còn gọi là phép giải và phương tiện giải hay còn gọi là các thao tác trí tuệ
Chúng ta có thể minh hoạ hệ bài tập bằng sơ đồ sau :
Hệ bài tập
Bài tập Người giải Những điều kiện Phép giải
Những yêu cầu Phương tiện giải
Hình 1 ư Sơ đồ cấu trúc của hệ thống bài tập
Qua sự phân tích trên, chúng ta có thể định nghĩa khái niệm "bài tập" trong dạy học như
sau : Bài tập là một hệ thống thông tin xác định bao gồm những dữ liệu và những yêu cầu được
đưa ra trong quá trình dạy học, đòi hỏi người học một lời giải đáp về toàn bộ hoặc từng phần không ở trạng thái có sẵn tại thời điểm mà bài tập được đưa ra
Từ định nghĩa "bài tập" trong dạy học nêu trên, có thể hiểu "bài tập lịch sử" là một khái niệm dùng để chỉ một hệ thông tin xác định về lịch sử nhằm tổ chức việc hình thành, củng cố tri thức lịch sử được lĩnh hội, đồng thời kiểm tra, đánh giá kết quả lĩnh hội tri thức lịch sử của học sinh Để thực hiện điều này, học sinh phải tiếp nhận và giải quyết toàn bộ hoặc từng
phần vấn đề được nêu trong bài tập Nói một cách cụ thể, nội hàm của khái niệm "bài tập lịch sử" bao gồm :
ư Một hệ thông tin quy định nhiệm vụ mà học sinh phải thực hiện hay là mục đích mà giáo viên và học sinh cần phải hoàn thành trong dạy học lịch sử
ư Những dữ liệu hay điều kiện, những yêu cầu hay câu hỏi
Bài tập lịch sử được tiến hành ở một khâu quan trọng của quá trình dạy học gồm nghiên cứu tài liệu mới, củng cố, khái quát hoá, hệ thống hoá, kiểm tra, đánh giá kiến thức kĩ năng,
kĩ xảo (nói cách khác, nó là công cụ truyền đạt thông tin và liên hệ nghịch)
Bài tập lịch sử, đặc biệt là bài tập nhận thức là phương tiện chính yếu, chủ đạo của dạy học nêu vấn đề, một trong những kiểu cơ bản của phương pháp dạy học nhằm phát huy năng lực tư duy độc lập, sáng tạo của học sinh
Bài tập lịch sử là phương tiện thúc đẩy sự nỗ lực tự học của học sinh, giúp các em tiếp cận dần với các phương pháp tự học, tự nghiên cứu
Trong thực tế dạy học nói chung, dạy học lịch sử nói riêng, việc kiểm tra, đánh giá có nhiều yếu tố, cách tiến hành khác nhau Vì vậy, cần làm rõ mối liên hệ giữa "câu hỏi", "bài
Trang 8Trong thực tiễn dạy học cũng như trong nhiều tài liệu khoa học, có một số thuật ngữ thường được sử dụng, như "câu hỏi", "câu hỏi lịch sử", "bài tập", "bài tập lịch sử", "bài toán", "bài toán lịch sử" Vậy, chúng có mối quan hệ với nhau như thế nào ?
Trước hết, là mối quan hệ giữa "câu hỏi" và "bài tập"
"Câu hỏi" (tiếng Anh và Pháp là "question", tiếng Nga : "bonpoc") là thuật ngữ dùng để chỉ việc nêu vấn đề trong nói hoặc viết, đòi hỏi phải có cách giải quyết Câu hỏi được sử dụng phổ biến trong cuộc sống cũng như trong dạy học Tuy nhiên, câu hỏi trong cuộc sống không hoàn toàn giống với câu hỏi trong dạy học Trong cuộc sống, khi người ta muốn hỏi
ai một điều gì thì người hỏi chưa biết điều đó, hoặc chưa biết được rõ ràng Những câu hỏi
mà giáo viên đưa ra trong quá trình dạy học là vấn đề mà giáo viên đã biết và học sinh đã học hoặc trên cơ sở những kiến thức đã học mà trả lời một cách thông minh, sáng tạo Vì vậy, câu hỏi trong dạy học bao giờ cũng mang yếu tố mở, yếu tố nhận biết, khám phá hoặc khám phá lại dưới dạng một thông tin khác, bằng cách cho học sinh tìm ra các mối quan hệ, các quy tắc, các con đường tạo ra một câu hỏi hoặc một cách giải quyết mới
Từ nhận thức trên, có thể nhận thấy câu hỏi và bài tập có điểm giống nhau và khác nhau,
đồng thời có mối quan hệ với nhau
Về mặt chức năng dạy học, câu hỏi và bài tập trong môn Lịch sử có cùng bản chất và
đều là phương tiện để tổ chức hoạt động nhận thức và kiểm tra, đánh giá kết quả nhận thức, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo bộ môn cho học sinh
Về hình thức (cấu trúc), câu hỏi và bài tập lại khác nhau Câu hỏi thể hiện yêu cầu (hoặc nhiệm vụ) mà học sinh cần trả lời, còn trong bài tập vừa có dữ liệu (điều kiện) vừa có yêu cầu (hoặc câu hỏi) để giải quyết bài tập, học sinh cần căn cứ vào những dữ liệu (điều kiện)
đã cho để tìm ra yêu cầu (hoặc câu hỏi) xác đáng Ví dụ, câu hỏi là : "Trình bày tình hình nước Pháp năm 1789." ; còn bài tập là : "Thông qua tình hình kinh tế, chính trị – xã hội, văn hoá ư tư tưởng của nước Pháp trước năm 1789, hãy xác định (nêu) những nguyên nhân dẫn
đến sự bùng nổ cuộc Cách mạng tư sản Pháp năm 1789" Hoặc câu hỏi : "Cuộc sống vật chất của người nguyên thuỷ như thế nào ?" khác với bài tập : "Trình bày về đời sống của người nguyên thuỷ để giải thích tại sao cuộc sống của người nguyên thuỷ thường đói khổ, bấp bênh"
Như vậy, so với câu hỏi, bài tập phức tạp hơn, học sinh cần phải đầu tư thời gian và công sức để giải quyết vấn đề được đặt ra Do đó, tác dụng của bài tập đối với nhận thức của các
em cũng cao hơn
Qua phân tích, so sánh như trên, chúng ta có thể đi đến những kết luận sau đây :
ư Câu hỏi và bài tập là hai loại hình dùng để củng cố, kiểm tra kiến thức của học sinh ở những mức độ khác nhau, nhưng có cùng bản chất và có mối quan hệ mật thiết với nhau
ư Bài tập chứa đựng câu hỏi (hoặc yêu cầu) : có thể có một hoặc nhiều câu hỏi hoặc nhiều yêu cầu trong một bài tập, nhưng không phải bất cứ câu hỏi nào cũng đều được xem là
Trang 9bài tập cả Trong bài tập, ngoài câu hỏi (hoặc yêu cầu) còn có những dữ liệu (điều kiện) khác
ư Có những câu hỏi là bài tập, nhưng không phải tất cả câu hỏi đều là bài tập Câu hỏi chỉ trở thành bài tập hoặc mang tính chất bài tập khi nào nó mang yếu tố "vấn đề" và đặt ra yêu cầu giải quyết vấn đề đó
Một số thực nghiệm sau đây sẽ minh hoạ cho các kết luận nêu trên, Khi nghiên cứu về việc phát minh ra lửa của con người, trong bài "Xã hội nguyên thuỷ" ở lớp 10 Giáo viên thực nghiệm đã đề ra những câu hỏi như : "Con người phát minh ra lửa từ khi nào ?" ;
"Những phương thức tạo ra lửa của con người nguyên thuỷ" ; "ý nghĩa của việc tìm ra lửa của con người trong xã hội nguyên thuỷ là gì ?" Khi ra bài tập (ở đây là "bài tập nhận thức"), giáo viên lại nêu tiếp vấn đề : "Chúng ta đã biết người thượng cổ dùng cách cọ xát hai vật cứng để lấy lửa Một số bộ lạc tìm ra lửa bằng cách đập hai hòn đá vào nhau ; chỉ trong các cuộc hội hè, họ mới dùng cách cọ xát để lấy lửa Vậy thì cách lấy lửa nào cổ xưa hơn ? Vì sao em nghĩ như vậy ?" Từ sự kiện lịch sử "con người tìm được lửa", học sinh lí giải được bằng cách nào mà từ rất sớm con người đã biết lấy lửa và sử dụng lửa
Khi giảng dạy bài "Cách mạng tư sản Pháp năm 1789" ở lớp 10, giáo viên đặt một số câu hỏi : "Tại sao gọi cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỉ XVIII là cuộc Đại cách mạng ?" ;
"Bằng những kiến thức đã học, hãy chứng minh Cách mạng tư sản Pháp năm 1789 là cuộc cách mạng tư sản triệt để nhất." Những câu hỏi trên có ý nghĩa nêu vấn đề để học sinh tự suy nghĩ, lí giải trước khi học bài mới, nên chúng lại mang "tính chất bài tập" Hay khi giáo viên nói : Các em đã học "Cách mạng tư sản Anh giữa thế kỉ XVII" và biết rằng đó là cuộc cách mạng ở thời kì đầu của lịch sử thế giới cận đại ; sau đó đã học "Chiến tranh giành độc lập của 13 thuộc địa Anh ở Bắc Mĩ" và hiểu thực chất đó là cuộc cách mạng tư sản Hôm nay, chúng ta tìm hiểu cuộc Cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỉ XVIII mà như Lê-nin đã nhận xét : "Cách mạng Pháp xứng đáng là một cuộc Đại cách mạng Đối với giai cấp tư sản nó đã làm được rất nhiều việc, khiến cho toàn bộ thế kỉ XIX, thế kỉ đã đem lại văn minh, văn hoá cho toàn thể nhân loại diễn ra dưới dấu hiệu của cách mạng Pháp" Giáo viên
đặt vấn đề : Là một cuộc cách mạng tư sản, Cách mạng tư sản Pháp 1789 có những nét nào giống với các cuộc cách mạng tư sản ở Anh, ở Bắc Mĩ ? Tại sao nó được gọi là một cuộc
"Đại cách mạng" ? Đây có phải là một cuộc cách mạng tiến bộ nhất trong lịch sử chưa ? Bằng cách nào để có thể hiểu được những vấn đề trên ? Cách tốt nhất và đúng nhất là phải căn cứ vào tiến trình của cuộc cách mạng đó
Cách đặt vấn đề trước khi vào bài mới như trên có tác dụng vừa củng cố kiến thức đã học, vừa nêu vấn đề để học sinh so sánh, đối chiếu, rút ra kết luận khi theo dõi bài giảng của giáo viên Câu hỏi mang tính chất bài tập này chưa đòi hỏi học sinh phải tự trả lời ngay, song thu hút sự chú ý của các em khi nghe giảng, nó phát huy trí thông minh, độc lập suy nghĩ của học sinh
Thứ hai, mối quan hệ giữa "bài tập" và "bài toán"
Trang 10Trong nhiều tài liệu dạy học, các thuật ngữ "bài tập", "bài tập lịch sử" được sử dụng với
các thuật ngữ "bài toán" và "bài toán lịch sử" Trong Từ điển Tiếng Việt, hai thuật ngữ " bài
tập" và "bài toán" được giải nghĩa khác nhau : "bài tập" là bài ra cho học sinh làm để tập vận dụng những điều đã học ; còn "bài toán" là vấn đề được đặt ra cần giải quyết bằng các phương pháp khoa học Tuy nhiên, trong một số tài liệu về lí luận dạy học các môn khoa học tự nhiên, thường người ta dùng thuật ngữ "bài toán" là để chỉ những bài tập định lượng (có tính toán) mà học sinh phải thực hiện những phép toán nhất định Hình thức này không phù hợp với nội dung và phương pháp dạy học các môn khoa học xã hội, trong đó có môn Lịch sử
Theo các tài liệu về lí luận dạy học của Liên Xô trước đây, thuật ngữ "bài toán" trong tiếng Nga là "Zađatra" được dùng theo mấy nghĩa sau đây :
Trong Lí luận dạy học đại cương, GS Nguyễn Ngọc Quang đã trình bày về thuật ngữ
"bài toán" và "bài toán nêu vấn đề ư Ơrictic" Theo tác giả, "bài toán" dùng để chỉ cho dạng bài tập nói chung còn "bài toán nêu vấn đề ư Ơrictic" là một dạng bài tập đặc biệt được ra trong quá trình tạo tình huống có vấn đề để kích thích tư duy của học sinh và đòi hỏi học sinh phải tiến hành hoạt động sáng tạo
Từ sự trình bày trên, có thể thấy rằng thuật ngữ "bài tập" có tính chất chung hơn thuật ngữ
"bài toán", vì nó bao hàm cả yếu tố "bài toán" Đối với bộ môn Lịch sử, thuật ngữ "bài toán lịch sử" được hiểu là một bài tập lịch sử đặc biệt mà I.I.Lecne gọi là "bài tập nhận thức", N.G.Đairi lại gọi là "bài tập tư duy", "bài tập logic", "bài tập chỉ dẫn" được sử dụng trong quá trình dạy học nêu vấn đề Nhưng nó không phải là loại bài tập duy nhất trong môn Lịch sử ở trường phổ thông, vì ngoài ra có những dạng bài tập khác như bài tập thực hành, bài tập tái hiện, bài tập trắc nghiệm
Như vậy, "bài tập lịch sử" và "bài toán lịch sử" là hai thuật ngữ khác nhau, nhưng có mối quan hệ với nhau, thể hiện ở các điểm sau :
Thứ nhất, bài tập bao hàm bài toán nhưng có nội dung rộng hơn
Thứ hai, bài tập và bài toán đều chứa đựng những tài liệu (điều kiện) và yêu cầu (hoặc
câu hỏi) để giải quyết
Thứ ba, bài toán lịch sử là một bài tập nhận thức có tính chất tìm tòi sáng tạo, "mà việc
độc lập giải quyết nó sẽ dẫn đến chỗ tạo ra được sự hiểu biết mới về lịch sử xã hội bằng
Trang 11những phương thức giải quyết đã biết hoặc tạo ra được phương thức giải quyết mới mà trước
đó học sinh chưa biết"
Trong chuyên đề này, thuật ngữ "bài tập lịch sử" được sử dụng vì nó mang tính chất chung hơn thuật ngữ "câu hỏi lịch sử" và thuật ngữ "bài toán lịch sử" Bài tập lịch sử bao hàm cả bài toán lịch sử và câu hỏi lịch sử Tuy nhiên, trong quá trình dạy học Lịch sử ở trường phổ thông, tuỳ theo từng trường hợp, yêu cầu, đối tượng cụ thể và nghệ thuật sư phạm của giáo viên mà có sự chuyển hoá từ "câu hỏi" thành "bài tập" từ "bài tập" thành "bài toán" và ngược lại theo sơ đồ sau :
Hình 2 ư Sơ đồ biểu diễn mối quan hệ giữa "câu hỏi", "bài tập" và "bài toán"
Việc hiểu rõ những thuật ngữ khoa học trên giúp chúng ta xác định rõ nội dung các loại bài tập khác nhau, để từ đó xác định các phương pháp tiến hành phù hợp
II - Vai trò, ý nghĩa của bài tập trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông
Vai trò, ý nghĩa của bài tập lịch sử được quy định bởi việc thực hiên mục tiêu giáo dục Mục tiêu giáo dục được các Đại hội của Đảng Cộng sản Việt Nam đề cập và hoàn chỉnh
trong Luật giáo dục (12 ư 1999) Mục tiêu này nhằm : "đào tạo con người Việt Nam phát
triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mĩ và nghề nghiệp ; trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất
và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc".( )1
Mục tiêu giáo dục đòi hỏi hoạt động giáo dục phải thực hiện theo nguyên lí "học đi đôi với hành", "giáo dục kết hợp với lao động sản xuất", "lí luận gắn liền với thực tiễn", "giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và xã hội" và quy định phương pháp giáo dục ở nhà trường phổ thông phải "phát huy tính tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học", "bồi dưỡng phương pháp tự học, tự rèn luyện kĩ năng ", "tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh"( )2
Phương pháp giáo dục đó đòi hỏi việc dạy học ở trường phổ thông phải gắn lí luận với thực tiễn ; đảm bảo việc cung cấp lí thuyết hợp trình độ, chú trọng thực hành, rèn luyện ; giảm bớt việc truyền thụ tri thức "một chiều" của giáo viên, tăng cường hoạt động nhận thức độc lập của học sinh Trong dạy học lịch sử, cần phải bồi dưỡng phương pháp tự học cho học sinh, làm cho học sinh tự giác, thích thú trong việc thực hiện nhiệm vụ học tập dưới sự hướng dẫn
(1) Luật giáo dục, NXB Chính trị Quốc gia, H., 1998, tr 8
Trang 12của giáo viên, bồi dưỡng phương pháp tự học cho học sinh, chứ không phải ngồi học theo kiểu
"xem người khác học" hoặc chờ việc "bú mớm" kiến thức của thầy giáo Trong quá trình học tập, đòi hỏi học sinh phải biết đặt câu hỏi tự kiểm tra, đánh giá kết quả lĩnh hội tri thức của mình, cũng như biết sửa chữa những sai sót trong bài làm của mình
Để đáp ứng những yêu cầu trên, vấn đề sử dụng bài tập trong dạy học nói chung, dạy học Lịch sử nói riêng có vai trò, ý nghĩa vô cùng quan trọng, được thể hiện ở nhiều mặt
Trước hết, bài tập góp phần thực hiện mục tiêu dạy học lịch sử ở trường phổ thông
ở trường phổ thông, việc dạy học lịch sử không chỉ dừng ở chỗ cung cấp một số sự kiện, một vài mẩu chuyện về quá khứ mà phải trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản của một khoa học – khoa học Lịch sử Bản thân lịch sử là hiện thực khách quan đã xảy ra, tồn tại
độc lập, không lệ thuộc vào nhận thức của con người Con người có khả năng nhận thức lịch
sử và nhận thức đúng đắn nhất là nhận thức tiếp cận chân lí, phản ảnh đúng hiện thực lịch
Giá trị sư phạm của hai câu thơ trên chính là ở chỗ phân biệt hai khâu trong quá trình học tập, có quan hệ mật thiết với nhau trong dạy học lịch sử là "biết" và "tường" (tức là "hiểu sâu sắc") Đó là hai bậc của quá trình nhận thức lịch sử mà từ trước đến nay nhiều người đã đồng nhất Thậm chí, không ít giáo viên đã quan niệm và thực hiện một cách sai lầm trong việc "thu gọn" cách học tập lịch sử của học sinh trong phạm vi "biết" và "nhớ"
Cũng như trong học tập những môn học khác ở trường phổ thông, học tập lịch sử cần có trí nhớ, song nhớ không phải là mục đích cuối cùng của học lịch sử mà là cơ sở để hiểu và vận dụng kiến thức đã học một cách thông minh, sáng tạo Trí nhớ rất cần thiết trong học tập cũng như trí nhớ, tư duy là điều không thể thiếu được trong học tập bất cứ môn học nào Ví dụ, khi học về
"Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945", học sinh phải nhớ những sự kiện cơ bản như Hội nghị toàn quốc của Đảng, Đại hội Quốc dân Tân Trào, khởi nghĩa giành chính quyền ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn và một số địa phương khác Đồng thời, học sinh phải hiểu và lí giải được một số vấn đề
"biểu hiện cụ thể của thời cơ bùng nổ cách mạng" ; "vì sao gọi là thời cơ nghìn năm có một ?" ; phân tích câu nói của Hồ Chí Minh : "Dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn, cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập" Có hiểu được những điều trên mới nhận thấy con đường diễn ra
(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 3, NXB Chính trị Quốc gia, H., 1996, tr 220
Trang 13Cách mạng tháng Tám 1945 ở nước ta như thế nào ; tham gia Cách mạng tháng Tám bao gồm những lực lượng nào
Như vậy, trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông phải thực hiện chu trình : Biết – Hiểu
ư Vận dụng Chu trình này giúp cho việc nắm kiến thức của học sinh thêm sâu sắc, tự giác
và có hiệu quả ; nắm những nét bản chất, mới của kiến thức, làm nổi bật mối liên hệ giữa kiến thức lí thuyết và thực tiễn, biết vận dụng kiến thức vào thực tiễn, trau dồi, củng cố những thao tác tư duy và một số kĩ năng, kĩ xảo, nâng cao hứng thú học tập của học sinh
Mục tiêu hiểu – biết – vận dụng kiến thức của học sinh trong học tập lịch sử ở trường
PTTH chỉ có thể thực hiện và đem lại hiệu quả thiết thực khi giáo viên tăng cường sử dụng bài tập và thực hành Chính vì vậy, cần phải loại bỏ quan niệm không đúng đã tồn tại khá lâu trong cán bộ chỉ đạo bộ môn cũng như giáo viên và học sinh là trong dạy học lịch sử không có và cũng không cần có bài tập thực hành mà chỉ cần đưa ra câu hỏi để kiểm tra việc ghi nhớ, học thuộc lòng các sự kiện lịch sử một cách máy móc, đơn điệu, tẻ nhạt Quan niệm và hành động sai lầm như vậy, gây tác động tiêu cực đến việc nâng cao chất lượng môn học
Thứ hai, bài tập lịch sử góp phần đổi mới phương pháp dạy học theo hướng "tích cực hoá hoạt động nhận thức" của học sinh
Quá trình dạy học là quá trình nhận thức ; quá trình này không chỉ có mục đích, nội dung
mà còn có phương pháp dạy học và các nhân tố khác nữa Việc đổi mới nội dung phải gắn liền với việc đổi mới về phương pháp Bởi vì, phương pháp dạy học bao giờ cũng gắn với nội dung dạy học và được chỉ đạo bởi mục tiêu môn học, nhằm góp phần hình thành nhân cách toàn diện cho học sinh Tuy nhiên, trong thực tế dạy học các môn học nói chung, môn học Lịch sử nói riêng, sự đổi mới về phương pháp còn quá chậm so với sự thay đổi hệ thống giáo dục và nội dung khoa học Một trong những vấn đề mà chúng ta chưa đạt được nhiều kết quả trong cải cách giáo dục là chưa thực sự đổi mới về phương pháp dạy học, vẫn còn theo "đường mòn lạc hậu" về nhiều mặt Vì vậy, đổi mới, cải tiến phương pháp dạy học nói chung, dạy học lịch
sử nói riêng là yêu cầu cấp thiết hiện nay
Đổi mới, cải tiến phương pháp dạy học nói chung, dạy học lịch sử nói riêng như thế nào
là một vấn đề khoa học có ý nghĩa thực tiễn lớn, chứ không phải là "kinh nghiệm", "thủ thuật", là sự "chắp vá một vài biện pháp, thủ thuật vặt vãnh, hình thức" như nhiều người quan niệm
Về đại thể, từ trước đến nay, phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông đã trải qua ba giai đoạn phát triển :
Giai đoạn 1 : Thầy đóng vai trò trung tâm, quyết định chất lượng học tập của học sinh ; học sinh học tập thụ động, không thông minh sáng tạo
Giai đoạn 2 : Thầy và trò đều là chủ thể của quá trình dạy học, đều có vai trò trung tâm, nhưng thầy vẫn giữ vai trò quyết định chất lượng của quá trình dạy học
Trang 14Giai đoạn 3 : Thầy và trò đều là chủ thể, nhưng trò trở thành trung tâm của quá trình dạy học và thầy giữ vai trò quan trọng không thể thiếu được đối với việc nâng cao chất lượng của quá trình dạy học
Ba giai đoạn này không hoàn toàn tách rời nhau Trong giai đoạn một đã nhen nhóm các yếu
tố mới của giai đoạn sau, ngược lại ở các giai đoạn sau vẫn còn tồn tại những yếu tố của giai đoạn trước – vừa có yếu tố tích cực cần tiếp thu và phát huy, vừa có những mặt hạn chế cần khắc phục Việc phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học nói chung, trong dạy học lịch sử nói riêng đòi hỏi giáo viên không nên dạy học theo kiểu "nhồi nhét" kiến thức, mà làm cho các em hiểu và biến kiến thức đó thành vốn hiểu biết của mình, sau khi đã được kiểm tra,
đánh giá Tham dự hay quan sát một giờ học Lịch sử ở trường THPT, chúng ta thấy rằng giáo viên đã thực hiện quy trình biết – hiểu – vận dụng – kiểm tra, đánh giá Khi dạy bài "Cách mạng tư sản Anh" ở lớp 10, giáo viên lần lượt trình bày, giảng giải và cho học sinh ghi các kiến thức : 1 Nguyên nhân bùng nổ cách mạng ; 2 Diễn biễn của cuộc cách mạng ; 3 Tính chất và ý nghĩa của cách mạng Sau đó, giáo viên nêu lên những câu hỏi để kiểm tra sự ghi nhớ, nắm kiến thức của học sinh : "Cách mạng tư sản Anh nổ ra là do những nguyên nhân nào ?" ; "Hãy nêu những sự kiện cơ bản thể hiện diễn biến chủ yếu của Cách mạng tư sản Anh thế kỉ XVII ?" ; "ý nghĩa trong nước và quốc tế của Cách mạng tư sản Anh được thể hiện ở những điểm nào ?"
Kiểu dạy học như vậy làm cho học sinh không thụ động, hạ thấp vị trí, nhiệm vụ của bộ môn trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo, mà đòi hỏi các em tự kiểm tra kiến thức đã tiếp nhận và vận dụng những kiến thức ấy để giải quyết các vấn đề được đặt ra trong các câu hỏi hay bài tập
Trong dạy học "lấy học sinh làm trung tâm", giáo viên coi trọng việc rèn luyện cho học sinh phương pháp tự học, phát huy tính độc lập tìm tòi, sáng tạo thông qua nghe giảng, trao
đổi, thảo luận, thí nghiệm, thực hành, làm bài tập, thâm nhập thực tế Giáo viên quan tâm
sử dụng vốn hiểu biết và kinh nghiệm của từng học sinh và của cả lớp để xây dựng bài học
Ví dụ, khi dạy bài "Công xã Pari", giáo viên củng cố bài học qua việc tổ chức cho học sinh trao đổi các vấn đề cơ bản của cách mạng tư sản, như mục đích, lực lượng tham gia, lãnh
đạo, kết quả Từ việc tạo ra sự xung đột về mặt kiến thức của học sinh, giáo viên có thể đặt câu hỏi : "Dựa vào những vấn đề cơ bản này, các em nghiên cứu bài mới để tìm hiểu xem cuộc khởi nghĩa ngày 18ư3ư1871 ở Pari có khác gì với các cuộc cách mạng tư sản đã học ư
đặc biệt là Cách mạng tư sản Pháp năm 1789 ; vì sao lại gọi đó là cách mạng vô sản ?" ;
"Dẫn ra những sự kiện chứng tỏ khởi nghĩa 18ư3ư1871 ở Pari là cuộc cách mạng vô sản ?",
"Tại sao nói Công xã Pari là nhà nước kiểu mới ?" Học sinh nhớ các sự kiện đã học ở các bài cách mạng tư sản để trao đổi, nhận xét và đánh giá vấn đề này, rồi đi đến xác định những nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự bùng nổ các cuộc cách mạng Giáo án thiết kế theo kiểu phân nhánh được giáo viên linh hoạt điều chỉnh theo diễn biến của tiết học với sự tham gia tích cực của các học sinh Thực hiện giờ học phân hoá theo trình độ và năng lực của học sinh, tạo điều kiện thuận lợi cho sự bộc lộ và phát triển tiềm năng của học sinh
Trang 15Việc đổi mới, cải tiến phương pháp dạy học theo quan niệm trên xuất hiện nhiều xu hướng khác nhau, như dạy học giải quyết vấn đề, lí thuyết tình huống, dạy học phân hoá, lí thuyết kiến tạo Nhưng tất cả đều hội tụ ở điểm chung là "tích cực hoá và cá nhân hoá quá trình lĩnh hội" của học sinh Do những điều kiện khách quan và chủ quan trong dạy học ở trường phổ thông nước ta, các nhà nghiên cứu quan tâm nhiều đến xu hướng "tích cực hoá hoạt động nhận thức" của học sinh Vì vậy trong hiện tại và tương lai, việc tích cực hóa hoạt
động nhận thức của học sinh vẫn là một trong những phương hướng cơ bản của việc cải tiến phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông
Đổi mới việc dạy học nói chung, dạy học lịch sử nói riêng theo nguyên tắc phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh, phù hợp với mục tiêu đào tạo và yêu cầu đổi mới phương pháp giáo dục ư đào tạo của Đảng Thực ra, nguyên tắc phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh không phải là điều hoàn toàn mới lạ trong lịch sử dạy học ở nước ta Những khẩu hiệu : "Biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo", "Tất cả vì học sinh thân yêu của chúng ta", "Thầy chủ đạo, trò chủ động", "Học sinh là chủ thể sáng tạo" đã được đề ra và thực hiện trong ngành Giáo dục từ những năm 60 của thế kỉ XX Ngày nay, nguyên tắc này cần được khẳng định và quán triệt trong mọi yếu tố của quá trình dạy học (mục tiêu, nội dung, chương trình, sách giáo khoa, phương pháp, hình thức, kiểm tra, đánh giá ) Trong việc
đổi mới phương pháp dạy học lịch sử theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh, việc tiến hành các loại bài tập lịch sử đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo nói chung, mục tiêu môn học nói riêng Không tiến hành bài tập lịch sử sẽ rơi vào tình trạng thầy giảng, trò ghi rồi nói lại những điều thầy nói, có trong sách giáo khoa như cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nhiều lần nhắc nhở
Đó cũng chính là yêu cầu cấp thiết đặt ra trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học Lịch sử hiện nay theo hướng tăng cường tổ chức hoạt động nhận thức của học sinh Để đạt
được yêu cầu này đòi hỏi trong hiện tại và tương lai, việc đào tạo, bồi dưỡng, tự bồi dưỡng, nâng cao tay nghề cho các giáo viên giảng dạy Lịch sử cần chú ý đến kĩ năng tạo lập, thiết
kế, sử dụng những loại bài tập khác nhau, đặc biệt là bài tập nhận thức và kĩ năng tạo lập, thiết kế, sử dụng những loại bài tập khác nhau, đặc biệt là những bài tập nhận thức và kĩ năng tạo tình huống có vấn đề
Thứ ba, bài tập lịch sử góp phần hoàn thiện việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập lịch
sử của học sinh ở trường phổ thông
Dạy học là một quá trình tác động qua lại giữa việc giảng dạy của giáo viên và học tập của học sinh Quá trình này diễn ra trong sự thống nhất của hai khâu dạy và học Hiệu quả của việc giảng dạy chủ yếu được phản ánh ở kết quả học tập của học sinh Đánh giá việc giảng dạy của giáo viên cũng căn cứ vào kết quả học tập của các em Vì vậy, kiểm tra, đánh giá là biện pháp rất quan trọng để xem xét kết quả học tập của học sinh, đồng thời cũng là
sự phản ánh hiệu quả sư phạm của giáo viên
Trang 16Kiểm tra, đánh giá là khâu cuối cùng, đồng thời cũng khởi đầu cho một chu trình khép kín tiếp theo với một chất lượng cao hơn của quy trình dạy học Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh có quan hệ hữu cơ với các nhân tố (mục tiêu, nội dung, phương pháp ), vừa chịu sự chi phối, vừa đóng vai trò phản hồi, góp phần hoàn thiện các nhân tố
Quá trình dạy học
Kiểm tra,
đánh giá
kết quả
học tập
Hình 3 ư Sơ đồ về vai trò phản hồi của kiểm tra và đánh giá
Tuy nhiên, nhà trường phổ thông hiện nay mới chỉ chú trọng việc đổi mới mục tiêu, nội dung, chương trình và phần nào về phương pháp, mà chưa cải tiến nhiều phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh Từ đó đã dẫn đến những thiếu sót trong nhận thức và hành động của giáo viên cả về tổ chức, quy trình, phương pháp, hình thức, lẫn nội dung kiểm tra, đánh giá Như vậy, thay đổi một chương trình hoặc những kĩ thuật giảng dạy
mà không thay đổi phương pháp kiểm tra đánh giá chắc chắn sẽ không đánh giá đúng kết quả học tập của học sinh Thay đổi phương pháp kiểm tra, đánh giá mà không thay đổi chương trình giảng dạy có thể có những tác động tích cực đến chất lượng học tập hơn là làm một sự sửa đổi chương trình mà không quan tâm đến đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá, thi cử
Khắc phục những hạn chế, thiếu sót, sự bảo thủ, trì trệ trong đổi mới phương pháp dạy học lịch sử, việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh phổ thông cần quán triệt
đầy đủ các yêu cầu sau :
ư Kiểm tra, đánh giá phải được tiến hành thường xuyên, nhằm làm cho học sinh nắm vững kiến thức, củng cố, bổ sung và làm phong phú những điều đã học, là cơ sở cho tiếp thu kiến thức mới và hoạt động thực tiễn Có nhiều hình thức kiểm tra, đánh giá : kiểm tra trong giờ học (kiểm tra đầu giờ trong khi học và sau khi học bài mới) ; kiểm tra ngoài giờ học (kiểm tra việc tự học ở nhà) và kiểm tra thông qua các hoạt động ngoại khoá (ở trong và ngoài nhà trường)
Nội dung kiểm tra, đánh giá phải toàn diện, bao gồm :
+ Các kiến thức học sinh cần nắm (sự kiện, niên đại, nhân vật, khái niệm, nguyên lí, quy luật, bài học )
+ Các quan điểm phương pháp luận phù hợp với yêu cầu và trình độ của học sinh
Trang 17+ Các phương pháp nhận thức lịch sử của học sinh – tức là phải xét đến khả năng của học sinh đến mức độ nào trong việc tạo biểu tượng, hình thành khái niệm, nêu quy luật và rút ra bài học lịch sử
+ Kiểm tra kết quả học tập lịch sử của học sinh trong cuộc sống về các mặt nhận thức,
đánh giá hành vi
Hình thức kiểm tra cũng phải phong phú đa dạng, được thực hiện xen kẽ nhau, bao gồm: kiểm tra miệng (vấn đáp), kiểm tra viết (tự luận), kiểm tra theo kiểu trắc nghiệm khách quan, bình luận, đánh giá (nhân vật, sự kiện, tài liệu lịch sử ), so sánh, đối chiếu, liên hệ, nêu và giải quyết vấn đề (do giáo viên hay học sinh đặt ra), lập đề cương, dàn bài về một sự kiện, kĩ năng thực hành bộ môn
Để thực hiện các yêu cầu trên đạt được hiệu quả, việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh ở trường phổ thông không thể dừng lại ở việc đề ra "câu hỏi", chỉ đòi hỏi học sinh ghi nhớ sự kiện, nhân vật, niên đại, địa danh, số liệu một cách chi tiết hoặc chỉ trả lời
là "có" hay "không", "đúng" hay "sai", mà phải bao gồm các loại câu hỏi kiểm tra trí thông minh của các em trong việc "biết" sự kiện diễn ra như thế nào, "hiểu" vì sao lại diễn ra như vậy và "vận dụng" sự kiện đó như thế nào để đạt kết quả về mặt tư duy và hoạt động thực tiễn Ngoài ra, như đã trình bày, phải sử dụng nhiều loại bài tập khác nhau : bài tập trắc nghiệm, bài tập nhận thức, thực hành , trong đó đặc biết chú ý đến "bài tập nhận thức" – loại bài tập còn khá mới mẻ đối với chúng ta hiện nay
III - Các loại bài tập lịch sử ở trường phổ thông
Việc phân loại bài tập lịch sử ở trường phổ thông tuỳ thuộc vào mục tiêu đào tạo nói chung, mục tiêu môn học nói riêng Như đã biết, lịch sử tuy là một quá trình thống nhất, phát triển theo quy luật, nhưng lại có nhiều vẻ khác nhau, đầy mâu thuẫn Cho nên, phải có các loại bài tập phù hợp với tính đa dạng của lịch sử Việc học tập lịch sử của học sinh cũng
là một quá trình nhận thức, qua các giai đoạn từ cảm tính đến nhận thức lí tính nên cũng cần
có những loại bài tập khác nhau phù hợp mục đích, trình độ nhận thức của các em
Trên đại thể có các loại bài tập lịch sử sau :
Thứ nhất, giới thiệu cho học sinh một đoạn trích dẫn (từ tài liệu có nội dung liên quan
đến bài học), rồi hướng dẫn cho các em minh hoạ nội dung tài liệu bằng các sự kiện đã học, kèm theo sự phân tích, đánh giá tài liệu phù hợp với trình độ của mình Đây là loại bài tập tìm hiểu, phân tích, bình luận tài liệu Ví dụ, khi dạy mục 1 "Điều kiện tự nhiên và sản xuất ban đầu" trong bài "Các quốc gia cổ đại phương Đông" ở lớp 10 – THPT, giáo viên nêu lên một số điều khoản trong hai bộ luật Hammurabi và Manu : "Nếu ai vì cẩu thả trong việc giữ gìn đê đập của mình, không củng cố đê đập, để đê đập có lỗ hổng để nước ngập thì người có
đê đập có lỗ hổng đó phải đền bù cho người bị hại" (điều 53 luật Hammurabi) ; "Nếu người
đó không có thóc đền bù thì phải bán thân mình và tài sản của mình để lấy bạc và những chủ ruộng lúa hỏng sẽ chia số bạc ấy với nhau" (điều 54 luật Hammurabi) ; "Phải đem ngâm thân hoặc bị xử trảm kẻ phá hoại đập nước các ao hồ, hoặc là phải cho người đó phải làm lại
Trang 18cái bị phá hoại và buộc phải nộp phạt cao nhất" (điều 279 luật Manu) ; "Người nào lấy trộm nước ao có từ thời xưa hoặc cản trở việc cung cấp nước thì kẻ đó phải nộp phạt nặng nhất" (điều 281 luật Manu) Qua giới thiệu những giai đoạn trích trên, giáo viên yêu cầu học sinh nêu lên sự quan tâm của các nhà nước cổ đại Lưỡng Hà, ấn Độ đối với công tác thuỷ lợi như thế nào Trong câu trả lời, các em tỏ ra hình dung được tầm quan trọng của công tác thuỷ lợi
đối với đời sống kinh tế, xã hội của các quốc gia phương Đông thời cổ đại Trên cơ sở hiểu biết của học sinh về những điều khoản của hai bộ luật đó, giáo viên nêu tiếp câu hỏi : "Vì sao trong các bộ luật của nhà nước cổ đại phương Đông có nhiều điều khoản liên quan tới công tác thuỷ lợi và quy định hình phạt rất nặng đối với những ai vi phạm đến các điều khoản này ?" Học sinh đã tỏ rõ sự hiểu biết đúng đắn của mình về vai trò của thuỷ lợi trong nông nghiệp ở các nước phương Đông cổ đại Phương pháp nêu trên được sử dụng khi đánh giá kết quả nhận thức của học sinh sau bài học về các quốc gia cổ đại
Thứ hai, dựa trên cơ sở dữ liệu, số liệu, giáo viên ra những bài tập thực hành và hướng
dẫn học sinh tự xây dựng các loại đồ thị, niên biểu, bảng thống kê, sơ đồ
Thứ ba, tổ chức cho học sinh lập hồ sơ học tập Hồ sơ học tập của học sinh được đánh
giá, khen thưởng và góp phần xây dựng phòng học bộ môn hay làm hồ sơ giảng dạy của giáo viên ở mỗi bài, chương, khoá trình, giáo viên tự sưu tầm và hướng dẫn học sinh sưu tầm các tài liệu có liên quan (tranh, ảnh, thơ văn, tài liệu lịch sử, bản đồ )
Thứ tư, bài tập về vận dụng các kiến thức đã học để tiếp thu kiến thức mới hay giải thích
những vấn đề trong cuộc sống hiện tại Trên cơ sở những tài liệu đã học, học sinh phân tích,
đối chiếu, liên hệ, so sánh, những sự kiện đã xảy ra với tình hình hiện tại của đất nước và thế giới Những bài tập này có ý nghĩa giáo dục rất lớn Ví dụ, khi giảng dạy bài "Chiến tranh thế giới thứ nhất" ở lớp 11 – THPT, giáo viên ra bài tập và hướng dẫn học sinh : "So sánh thái độ của Mĩ và của nước Nga Xô viết trẻ tuổi đối với cuộc chiến tranh này Qua giải quyết bài tập, học sinh thấy rõ tính hiếu chiến, vụ lợi của đế quốc Mĩ và tinh thần hiếu hoà của nước Nga Xô viết (thể hiện qua việc kí Hoà ước Brét Litốp) Từ đó, có thể liên hệ với Chiến tranh thế giới thứ hai và cuộc đấu tranh giải trừ quân bị hiện nay nhất định sẽ thu
được thắng lợi Qua bài "Hội nghị Giơnevơ" ở lớp 12 – THPT, giáo viên ra bài tập yêu cầu học sinh phân tích, so sánh thái độ của ta và của bọn đế quốc Pháp – Mĩ Trên cơ sở đó, giúp cho các em hiểu rõ nguồn gốc, bản chất, của chính quyền Ngô Đình Diệm, của chế độ
"Việt Nam cộng hoà" ở miền Nam Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975
Những loại bài tập trên phải góp phần phát triển tư duy, gây hứng thú học tập bộ môn cho học sinh Theo I.F.Khalamốp, hứng thú trong học tập là nhu cầu nhuốm màu sắc xúc cảm, đi trước giai đoạn gây động cơ và làm cho hoạt động của con người có tính hấp dẫn Tuy nhiên, hứng thú trong nhận thức không phải là sự "tuỳ thích", "ngẫu hứng" mà là sự
"định hướng" được chọn lựa nhằm mục đích giúp học sinh vươn lên nắm kiến thức học tập sâu sắc và toàn diện, đồng thời biết "vận dụng" kiến thức đó vào cuộc sống Hứng thú trong học tập không phải là hiện tượng "bẩm sinh" của một số học sinh, mà được hình thành trong quá trình giảng dạy của giáo viên Kinh nghiệm cho thấy, nếu nội dung bài giảng của giáo viên nghèo nàn, đơn điệu, tẻ nhạt thì không thể nào làm cho học sinh say mê, hứng thú học
Trang 19tập Do đó, giáo viên rất cần phải chú ý việc kích thích ý thức, bồi dưỡng khả năng tìm tòi, sáng tạo của các em
Cũng như các môn học khác ở trường phổ thông, môn Lịch sử cũng gây được hứng thú học tập cho học sinh Nhưng thực tế hiện nay chỉ rõ, đa số học sinh không muốn hoặc chưa quan tâm đến việc học tập lịch sử Điều này không phải do môn Lịch sử gây ra, mà chính do quan niệm và phương pháp dạy học của chúng ta còn nhiều thiếu sót Bản thân lịch sử loài người và nhu cầu nhận thức lịch sử là nguồn cảm hứng, là chất kích thích sự say mê học tập của học sinh Nhưng không phải dạy như thế nào cũng gây được hứng thú cho học sinh ; bởi vì giáo dục lịch sử là công việc đòi hỏi phải sáng tạo, không phải bất cứ ai biết lịch sử và dạy được lịch sử, cũng như không phải chỉ biết nghe nhạc đã có thể trở thành nhạc sĩ
Việc gây hứng thú cho học sinh trong học tập lịch sử phải được tiến hành trên tất cả các mặt : nội dung, chương trình sách giáo khoa, phương tiện và điều kiện học tập, phù hợp với tình hình cụ thể của nước ta Sự gây hứng thú trong học tập Lịch sử phải dẫn tới phát triển tư duy cho học sinh và là một trong những nhiệm vụ quan trọng của giáo dục phổ thông Vậy phát triển tư duy lịch sử là gì, nó có đặc trưng như thế nào, cần có biện pháp quan trọng nào
để phát triển tư duy học sinh trong dạy học lịch sử ? Đó là những vấn đề cần giải quyết để khẳng định bài tập lịch sử có khả năng góp phần phát triển tư duy cho học sinh
Môn học nào ở trường phổ thông cũng góp phần hình thành cho học sinh tư duy bộ môn Nhà tâm lí học Liên Xô M.N.Sađacốp đã nhiều lần nhấn mạnh rằng : Học sinh học tập suy nghĩ theo những quy luật chung của tư duy con người, nhưng bên cạnh, do sự khác nhau của nội dung dạy học, nên mỗi môn học góp phần phát triển tư duy học sinh theo đặc trưng riêng Ví dụ, học sinh được rèn luyện tư duy toán học qua học tập môn Toán, hay tư duy sử học qua học tập môn Lịch sử Vậy tư duy lịch sử có những đặc trưng gì ? Nhiều nhà tâm lí học, nhà lí luận dạy học bộ môn đã nhấn mạnh các điểm và đặc trưng của tư duy lịch sử, đó
là :
ư Biết miêu tả, khôi phục những sự kiện lịch sử quá khứ đúng như nó tồn tại với một số tài liệu cơ bản được lựa chọn
ư Nêu được nguyên nhân xuất hiện, phát minh, phát triển của bất cứ sự kiện nào
ư Xác định điều kiện, hoàn cảnh những mối liên hệ của các sự kiện
ư Nhận biết tính chất, ý nghĩa, bài học kinh nghiệm của sự kiện, nhất là những sự kiện tiêu biểu, quan trọng
ư Làm rõ những biểu hiện đa dạng của các quy luật lịch sử
ư Xác định động cơ hoạt động của những tầng lớp, tập đoàn hay cá nhân trong lịch sử
ư Biết liên hệ, so sánh, đối chiếu tài liệu lịch sử với đời sống hiện nay và rút ra bài học kinh nghiệm.( )1
Trang 20Để thực hiện các yêu cầu trên, có nhiều biện pháp khác nhau, trong đó sử dụng bài tập lịch sử nói chung, bài tập nhận thức (bài tập tư duy, bài tập lôgíc ) nói riêng là quan trọng nhất Bởi vì, hoạt động nhận thức của học sinh được tích cực hoá trên cơ sở họ tự giải quyết
"bài tập nhận thức" cũng như dưới ảnh hưởng của các "câu hỏi có vấn đề" các "bài tập nêu vấn đề" các "bài tập có tính chất nghiên cứu"
Khi giải quyết các bài tập, đặc biệt là các bài tập nhận thức (bài tập lôgic, bài tập tư duy, bài tập nêu vấn đề ), học sinh phải sử dụng các thao tác tư duy như như phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, liên hệ, quy nạp, diễn dịch Nội dung của bất kì bài tập nhận thức nào cũng chứa đựng những mâu thuẫn giữa điều đã biết và điều chưa biết, đòi hỏi phải huy động toàn bộ những thao tác và phán đoán, khả năng về vốn trí tuệ và thực tiễn có tính chất trung gian giữa câu hỏi và câu trả lời của bài tập để giải quyết Giải quyết bài tập nhận thức, học sinh phải nắm vững kiến thức, có phương pháp xác đáng, đạt hiệu quả trong việc tìm ra câu trả lời một cách độc lập và được chứng minh rõ ràng Chứng minh là một điểm quan trọng của việc giải quyết bài tập nhận thức Ví dụ, khi giảng về tầm quan trọng của lao động đối với sự hình thành và phát triển của ý thức con người, giáo viên hướng dẫn học sinh làm bài tập nhận thức sau : "Khi khai quật di chỉ của người nguyên thuỷ, các nhà khảo
cổ đã tìm thấy những mảnh đá (không được dùng đến vì không thích hợp cho việc chế tác công cụ lao động) ở tại địa điểm làm công cụ Từ đó, có thể rút ra được những kết luận về sự phát hiện này ? Hãy chứng minh những ý nghĩ của em bằng sự kiện cụ thể."
Học sinh phải trải qua một quá trình suy nghĩ, lập luận từng bước, dưới sự gợi ý, hướng dẫn của giáo viên và lần lượt nêu những cách giải thích sau đây :
1 Người nguyên thuỷ đã chế tạo những công cụ bằng đá
2 Trong quá trình chế tạo những công cụ bằng đá (ví dụ cái rìu tay), họ đã vứt những mảnh đá không dùng được sang một bên
3 Như vậy, người nguyên thuỷ đã biết phân biệt những mảnh đá dùng làm công cụ được với những mảnh không dùng được
4 Như thế, chứng tỏ người nguyên thuỷ đã biết suy nghĩ trong quá trình làm việc chế tạo công cụ
5 Do đó, chúng ta có thể kết luận : ý nghĩ (tư duy) của người nguyên thuỷ ngày càng
được hoàn thiện thông qua quá trình lao động
Những loại bài tập lịch sử như trên góp phần hình thành, củng cố tri thức, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo và giáo dục học sinh, cụ thể là góp phần hoàn thiện ba nhiệm vụ dạy học Thể hiện ở những mặt sau đây :
Thứ nhất, dạy học các môn học nói chung, môn Lịch sử nói riêng trước hết là cung cấp,
trang bị cho học sinh hệ thống tri thức cơ bản, phổ thông, hiện đại, cập nhật bằng nhiều nguồn và phương tiện khác nhau, như tài liệu, sách giáo khoa, đồ dùng trực quan, sự truyền
đạt của giáo viên, hoạt động tự lực của học sinh, thực tế cuộc sống và học sinh cần tiếp thu, củng cố hệ thống tri thức đó một cách bền vững chứ không là sự ghi nhớ, học thuộc một cách máy móc
Trang 21Nắm vững tri thức cần phải hiểu đúng nội hàm, ngoại diên của khái niệm, xác định vị trí, tác dụng của tri thức ấy trong hệ thống tri thức cơ bản đã tiếp thu và vận dụng nó vào thực tiễn V.I.Lênin chỉ rõ : Không phải chỉ nắm vững kiến thức một cách máy móc, hình thức mà phải hết sức sáng tạo tức là làm sao cho những kiến thức thu nhận được cải biến trong ý thức con người tạo thành một hệ thống nhất định có thể vận dụng vào thực tế
Để nắm tri thức một cách sâu sắc, trong học tập học sinh phải thực hiện một chu trình
đầy đủ những hoạt động trí tuệ, bao gồm những hoạt động tri giác tài liệu nghiên cứu (trực tiếp và gián tiếp), thông hiểu nó, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo bằng những bài luyện tập và cuối cùng là những hành động khái quát hoá và hệ thống hoá kiến thức Giáo viên cần chú ý tổ chức cho học sinh làm những loại bài tập ở trên lớp và tự học ở nhà, nhằm làm cho học sinh nắm vững kiến thức đã học và có thể vận dụng một cách thành thạo kiến thức đó vào việc hoàn thành những bài tập lí thuyết và thực hành Ví dụ, khi dạy mục 2 "Công xã Pari – Nhà nước kiểu mới" trong bài "Công xã Pari" ở lớp 11 PTTH giáo viên không chỉ đưa ra các câu hỏi như : "Bộ máy Công xã Pari bao gồm những cơ quan nào ?", "Những biện pháp mà Công xã Pari đã đề ra là gì ?" và các bài tập thực hành như : "Vẽ sơ đồ bộ máy Công xã để trình bày nhận xét của mình", hoặc bài tập : "Sau khi được thành lập, Công xã Pari đã đề ra những biện pháp sau đây :
1 Giải tán quân đội và cảnh sát cũ, thay bằng lực lượng vũ trang và lực lượng an ninh nhân dân
2 Cấm các lò bánh mì làm việc ban đêm
3 Cải thiện tình trạng của những người thuê nhà
4 Chuyển cho tập thể công nhân quản lý các xí nghiệp mà chủ bỏ trốn
5 Hoãn trả tiền thuê nhà, đưa những gia đình công nhân bị bom đến những phòng không
có người ở
6 Xây dựng hệ thống giáo dục thống nhất, bắt buộc và không phải trả tiền học
Trong một số biện pháp trên, theo em biện pháp nào là chủ yếu, phản ánh bản chất giai cấp Công xã Pari ?"
Rõ ràng, bài tập trên đòi hỏi học sinh phải nắm kiến thức một cách sâu sắc, phải phân tích để hiểu được bản chất giai cấp của Công xã Pari được thể hiện ở biện pháp chủ yếu nào Các em tranh luận để giải thích biện pháp được xem là chủ yếu : Giải tán bộ máy chính quyền cũ thay bằng chính quyền cách mạng của giai cấp công nhân, hay chuyển cho công nhân các xí nghiệp vắng chủ Từ đó các em có thể trả lời được câu hỏi : "Tại sao Công xã Pari là nhà nước kiểu mới ?" mà giáo viên đưa ra ngay đầu giờ học Cách ra bài tập và hướng dẫn giải quyết bài tập như vậy đã củng cố kiến thức cho học sinh, giúp các em rèn luyện kĩ năng phân tích, lí giải sự kiện lịch sử, nên việc tiếp thu bài học rất sâu sắc
Trên cơ sở củng cố, khắc sâu những kiến thức lịch sử cơ bản, những loại bài tập lịch sử nêu trên góp phần thực hiện nhiệm vụ giáo dục cho học sinh
Trang 22Nhiệm vụ giáo dục của bài tập lịch sử mà các phương tiện khác khó có thể thay thế được
là ở chỗ : Trong quá trình vận dụng một cách sáng tạo những quan điểm, kiến thức lịch sử
để giải quyết một vấn đề đặt ra, học sinh tiếp cận được với chân lí – phản ánh đúng hiện thực lịch sử và qua đó, xây dựng được niềm tin vững chắc vào sự phát triển hợp quy luật của lịch sử Điều này có tác dụng không chỉ củng cố kiến thức mà cả về giáo dục ý thức thông qua học tập bộ môn Để chứng minh điều này, khi dạy mục "Nguyên nhân thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945" trong bài "Tổng khởi nghĩa tháng Tám – 1945", chúng tôi
đưa ra bài tập như sau : Có ý kiến cho rằng, Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam giành thắng lợi là "một sự ăn may" Các em có đồng ý với ý kiến đó không, tại sao ? Học sinh sẽ suy nghĩ trao đổi và phát biểu ý kiến, sau đó giáo viên tổng kết để rút ra nguyên nhân thắng lợi của Cách mạng tháng Tám và bác bỏ luận điểm sai trái trên Khi dạy xong bài "Cách mạng tư sản Pháp thế kỉ XVIII" ở lớp 10 THPT, giáo viên nêu bài tập nhận thức sau : "Thông qua những kiến thức mà các em đã học, hãy nêu những căn cứ để khẳng định
"Cách mạng Pháp 1789 là cuộc cách mạng tư sản" Vì sao gọi đó là cuộc "Đại cách mạng" ? Thực chất đó có phải là cuộc cách mạng triệt để nhất trong lịch sử chưa ?" Giải quyết bài tập này, học sinh không chỉ nhớ lại kiến thức đã học, vận dụng quan điểm lí luận khoa học, phù hợp với trình độ của mình để nhận thấy Cách mạng năm 1789 ở Pháp là cuộc cách mạng tư sản (đánh đổ chế độ phong kiến, xác lập sự thắng lợi của chủ nghĩa tư bản) có ý nghĩa lịch sử lớn (ảnh hưởng lan rộng đến nhiều nước châu Âu – "thế kỉ XIX diễn ra dưới dấu hiệu cách mạng Pháp 1789" – (Các Mác) nên được Lênin đánh giá là "cuộc Đại cách mạng" Giáo viên dẫn ra các sự kiện để so sánh với các cuộc cách mạng tư sản đã học, qua đó giúp học sinh thấy Cách mạng tư sản Pháp triệt để hơn, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế (chưa giải quyết triệt để quyền lợi cho giai cấp nông dân, chưa xoá bỏ hoàn toàn ách áp bức bóc lột mà chỉ thay hình thức bóc lột phong kiến bằng hình thức bóc lột tư bản )
Ngoài ra, thông qua việc giải các bài tập lịch sử, học sinh được rèn luyện những đức tính tốt đẹp như tinh thần tự lực, tính cẩn thận, tính kiên trì, tinh thần vượt khó, tính trung thực Cuối cùng, các loại bài tập lịch sử nêu trên góp phần phát triển khả năng tư duy và rèn luyện năng lực thực hành cho học sinh
Nhiệm vụ phát triển trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông bao gồm phát triển năng lực tư duy và năng lực hành động cho học sinh Vậy bài tập có vai trò, ý nghĩa như thế nào trong việc phát triển khả năng tư duy và hành động của học sinh ? Việc phát triển khả năng tư duy đã được hình thành ở trên Rèn luyện kĩ năng thực hành cũng là một nhiệm vụ quan trọng của việc dạy học môn lịch sử ở trường phổ thông Đây là một trong những biện pháp cần thiết để tăng cường hoạt động nhận thức, độc lập, sáng tạo cho học sinh, góp phần nâng cao năng lực trí tuệ, thực hiện nguyên lí giáo dục của Đảng "học đi đôi với hành"
Tuỳ theo đặc trưng, nội dung, chức năng, nhiệm vụ, phương pháp cơ bản và chương trình cấp học của từng bộ môn mà nội dung và yêu cầu rèn luyện kĩ năng có sự khác nhau Đối với
bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông, cần phải rèn luyện cho học sinh các loại kĩ năng sau :
Trang 231 Kĩ năng nắm vững sự kiện lịch sử điển hình một cách có hệ thống (ghi nhớ, miêu tả, tường thuật)
2 Kĩ năng nắm bản chất sự kiện, hiện tượng lịch sử (phân tích rút ra nhận xét, đánh giá
sự kiện, nhân vật, hình thành khái niệm, xác định nguyên nhân tính chất ý nghĩa của sự kiện sử )
3 Kĩ năng sử dụng các đồ dùng, phương tiện dạy học (tài liệu tham khảo, sách giáo khoa, bản đồ, sơ đồ, tranh ảnh, bảng biểu )
4 Kĩ năng hoạt động ngoại khoá bộ môn (dạ hội, trò chơi, tham quan, sưu tầm tư liệu, nghiên cứu )
5 Kĩ năng kiểm tra kiến thức đã học, tiếp thu kiến thức mới và vận dụng trong cuộc sống
Rèn luyện kĩ năng bộ môn chính là rèn luyện những phương pháp học tập thích hợp nhất, phù hợp với quy luật nhận thức, làm cho học sinh tích cực hoạt động tại lớp, biết phương hướng và phương pháp hoạt động tự lập để chủ động tiếp thu bài, lĩnh hội các kiến thức một cách sâu sắc và biết vận dụng vào thực tế cuộc sống Vì vậy, rèn luyện kĩ năng học tập và thực hành bộ môn Lịch sử cho học sinh là một công việc cần được quan tâm và tiến hành thường xuyên trong quá trình dạy học Lịch sử
Có nhiều hình thức và biện pháp khác nhau để thực hiện việc rèn luyện kĩ năng bộ môn cho học sinh qua dạy học lịch sử, trong đó sử dụng bài tập là một trong những biện pháp chủ yếu và mang lại hiệu quả cao nhất Qua các tài liệu lịch sử, học sinh phải vận dụng các kĩ năng khác nhau để giải quyết những vấn đề nêu ra Ví dụ, để rèn luyện cho học sinh kĩ năng tìm nguyên nhân thắng lợi hay thất bại của một cuộc cách mạng, một cuộc khởi nghĩa hay một cuộc chiến tranh, giáo viên có thể ra bài tập, yêu cầu các em lập dàn ý xác định :
"Nguyên nhân thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945" Các em sẽ suy nghĩ, trao đổi và cùng nhau lập đề cương :
1 Nguyên nhân chủ quan :
ư Vai trò của nhân dân Truyền thống dân tộc
ư Vai trò lãnh đạo của Đảng, của lãnh tụ
2 Nguyên nhân khách quan :
ư Tình hình quân Nhật - Pháp ở Việt Nam và Đông Dương
ư Tác động của tình hình thế giới, thời cơ
Hoặc sau khi học xong phần "Lịch sử thế giới hiện đại từ năm 1917 đến năm 1945" ở lớp 11 – THPT, nhằm rèn luyện kĩ năng thực hành bộ môn cho học sinh, giáo viên đưa ra và hướng dẫn các em làm hệ thống các bài tập như :
1 Lập bảng thống kê về tình hình phát triển thế giới giữa hai cuộc chiến tranh
2 Lập bảng so sánh về sự phát triển của công nghiệp Liên Xô và phe tư bản chủ nghĩa từ năm
Trang 243 Đánh giá một nhân vật hay một sự kiện lịch sử : Vai trò của Lênin trong Cách mạng tháng Mười Nga và cách mạng thế giới, hoặc vai trò của Liên Xô trong Chiến tranh thế giới thứ hai
4 Lập bảng so sánh hai cuộc chiến tranh thế giới về các mặt
5 Dùng bản đồ xác định những địa danh xảy ra những trận đánh tiêu biểu hoặc tường thuật một chiến thắng lớn nào đó của Liên Xô và quân Đồng minh trong Chiến tranh thế giới thứ hai
Thông qua làm bài tập còn rèn luyện cho học sinh kĩ năng làm bài Kĩ năng làm bài tập bao gồm kĩ năng xác định yêu cầu nội dung của đề bài, kĩ năng xác định phương pháp làm bài
và kĩ năng làm bài (Vấn đề này sẽ được trình bày đầy đủ hơn ở chương III) Rèn luyện kĩ năng làm bài chính là giúp học sinh hiểu được một cách nhanh nhất, đúng nhất yêu cầu nội dung của đề bài và phương pháp làm bài đạt hiệu quả nhất
Một cách tổng hợp, chúng ta thấy rõ rằng, các loại bài tập đã nêu ở trên góp phần tăng cường hoạt động tự học cho học sinh Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của
Đảng ta và Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ hai (khoá VIII) nêu rõ : "Tập trung sức nâng cao chất lượng dạy và học, tạo ra năng lực tự học sáng tạo của học sinh"( )1 và "đảm bảo điều kiện và thời gian tự học tự nghiên cứu cho học sinh, phát triển phong trào tự học – tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp trong phòng trào toàn dân"( )2
Để khắc phục lối "dạy học tự động", "truyền thụ một chiều", "thầy giảng – trò ghi nhớ"
đang chiếm ưu thế trong nhà trường chúng ta hiện nay và vận dụng phương pháp "thầy hướng dẫn – trò tự học", việc thực hiện "tư tưởng tự học" ngày càng được chú trọng trong công tác giáo dục, đào tạo nói chung, trong việc dạy học các bộ môn, trong đó có môn Lịch
sử nói riêng
Bồi dưỡng và phát triển năng lực tự học của học sinh trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông được tiến hành qua các khâu của quá trình dạy học (trên lớp, ở nhà, hoạt động ngoại khoá ) Trong đó, "bài giảng trên lớp chỉ là bước mở đầu cho công việc tiếp tục tự học ở nhà để hiểu vấn đề" chứ không phải là sự cung cấp kiến thức đầy đủ, hoàn chỉnh cho việc học tập của học sinh Có thể diễn đạt quá trình học trên lớp và việc tự học bằng sơ đồ( )3sau :
(1) Văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VIII, NXB Chính trị Quốc gia, H.1999, tr 109
(2) Nghị quyết Hội nghị BCH TW Đảng lần thứ hai, khoá VIII, NXB Chính trị Quốc gia, H.1997, tr 17
(1) Phan Ngọc Liên, Đổi mới phương pháp dạy học lịch sử, tài liệu bồi dưỡng giáo viên Bộ Giáo dục và Đào tạo,
1996, tr 124
Trang 25Thông tin kiến thức trên lớp
đồng thời là quá trình làm nảy sinh Vấn đề (cần đi sâu, không biết)
Tìm các điều kiện để giải quyết
Tiến hành các phương thức để giải quyết (ở nhà, trên lớp, nhóm)
Qua hệ thống câu hỏi, bài tập thực hành, khi ôn tập về những cuộc cách mạng tư sản buổi đầu thời cận đại ở lớp 10 ư Cách mạng tư sản Anh, Pháp, Mĩ , giáo viên có thể nêu lên các câu hỏi, bài tập thực hành sau đây :
1 Vì sao nước Anh chỉ tiến hành cách mạng tư sản một lần dù đó là cuộc cách mạng tư sản không triệt để ?
2 Cách mạng tư sản Pháp năm 1789 là cuộc cách mạng tư sản triệt để, nhưng tại sao sau
đó nước Pháp lại tiếp tục làm những cuộc Cách mạng 1830 và Cách mạng 1848 ?
3 Lập bảng hệ thống các giai đoạn phát triển của Cách mạng tư sản Pháp 1789
4 Tìm hiểu tính chất hai mặt của tầng lớp quý tộc mới ở nước Anh
5 Sưu tầm những tài liệu của Mác, Ăngghen, Lênin và Hồ Chí Minh nói về các cuộc cách mạng trên
6 So sánh Cách mạng tư sản Anh thế kỉ XVII và Cách mạng tư sản Pháp 1789 về các mặt : nguyên nhân bùng nổ, giai cấp lãnh đạo, vai trò của quần chúng nhân dân, ý nghĩa Những bài tập trên đều được học sinh thực hiện bằng cách giải thích vấn đề đặt ra trên cơ sở sự kiện cụ thể, so sánh các cuộc cách mạng có liên quan đến bài tập, sưu tầm tài liệu, lập hồ sơ Điều đó chứng tỏ các em hứng thú học tập, tích cực, nỗ lực để làm bài tập
Như vậy, việc sử dụng bài tập trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông có vai trò, ý nghĩa nhiều mặt Nó đảm bảo thực hiện mục tiêu bộ môn một cách toàn diện ; là biện pháp quan trọng nhằm tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh, là một công cụ để hoàn thiện việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập lịch sử ; là phương tiện không thể thiếu được trong việc hình thành, củng cố kiến thức, rèn luyện kĩ năng học tập và thực hành bộ môn, góp phần phát triển năng lực nhận thức và khả năng hành động cho học sinh
IV - Yêu cầu thực tế và tình hình nhận thức, sử dụng bài tập lịch
sử trong trường phổ thông nước ta hiện nay
Qua nhiều nguồn thông tin trực tiếp hoặc gián tiếp thu nhận từ các nước khác nhau trong khu vực và trên thế giới như : Xingapo, Thái Lan, Ôtxtrâylia, Pháp, Đức, Liên Xô (trước
Trang 26đây) có thể thấy rằng từ lâu nay bài tập lịch sử đã được nhận thức đúng và đưa vào sử dụng trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông, đem lại những kết quả đáng khích lệ, góp phần nâng cao chất lượng môn học Trong số tài liệu phục vụ cho việc dạy học và học lịch
sử ở các nước này, sách bài tập là một công cụ không thể thiếu được Ngoài ra, ở mỗi cuốn sách giáo khoa Lịch sử của tất cả các khối lớp đều có một số bài tập bên cạnh những câu hỏi
ở cuối chương, bài Việc giảng dạy trên lớp của giáo viên lịch sử không thể trình bày, thông báo, giải thích mà còn dành thời gian cần thiết cho việc tổ chức, hướng dẫn học sinh tiếp thu kiến thức thông qua hệ thống câu hỏi, bài tập Mặt khác, trong phân phối chương trình môn học Lịch sử số tiết thực hành, làm bài tập chưa được bố trí với tỉ lệ thích hợp Trong việc thi tốt nghiệp tú tài môn Lịch sử ở trường Trung học Pháp, câu hỏi thường đặt ra dưới dạng một bài tập – câu hỏi nghị luận, lí giải, phân tích Ví dụ, một đề thi tú tài của Pháp như sau :
"Những chủ nghĩa quốc gia và những nền độc lập trong những nước của thế giới thứ ba
từ năm 1945 đến cuối những năm 70"
Anh (chị) nêu lên một cách ngắn gọn những nguồn gốc của các chủ nghĩa quốc gia đối mặt với sự thống trị ở các thuộc địa và hãy lấy một vài ví dụ để so sánh những con đường khác nhau để đi đến độc lập
Anh (chị) hãy gợi lên những vấn đề mà các nước mới giành được độc lập đã gặp phải và vai trò của các nước này trong những mối quan hệ quốc tế
Niên đại hướng dẫn :
1947 : ấn Độ và Pakixtan giành được độc lập
1955 : Hội nghị Băng đung
1956 : Nasser quốc hữu hoá kênh Xuyê
1954 ư 1962 : Chiến tranh Angiêri
1957 ư 1963 : Hội nghị thượng đỉnh các nước không liên kết ở Angiêri nêu lên "một trật
tự kinh tế quốc tế mới"
1976 : Quân đội Cu Ba tiến vào Ănggôla( )1
Như đã nêu trên, ở Việt Nam, trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông từ lâu đã có ý thức về việc sử dụng các loại bài tập , nhưng chưa thực hiện được Đã có nhiều lời giải đáp
về tình trạng này Trên đại thể, nhiều nhà nghiên cứu giáo dục lịch sử và các giáo viên đều nhất trí về các nguyên nhân chủ yếu sau :
ư Việc nhận thực về bài tập lịch sử chưa sâu sắc, nên không quyết tâm thực hiện
ư Chưa có sự chỉ đạo thống nhất từ Vụ THPT và các Phòng giáo dục phổ thông ở các Sở Giáo dục và Đào tạo
ư Các tài liệu biên soạn phục vụ cho việc thi tốt nghiệp, bộ đề thi và hướng dẫn làm bài thi vào các trường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học trước đây chỉ dừng lại ở
(1) Đề thi tú tài ở Amiens (Pháp).
Trang 27mức độ yêu cầu học thuộc, ghi nhớ kiến thức mà chưa đòi hỏi nhiều đến năng lực tư duy và thực hành
ư Trong việc tổ chức học tập, thi cử chưa quan tâm đến việc sử dụng và làm bài tập lịch
sử
Tình hình trên đã dần được khắc phục Trong một số tài liệu, giáo trình về phương pháp dạy học lịch sử, hướng dẫn ôn tập bộ môn vấn đề bài tập lịch sử đã được đề cập nhiều hơn trước Giải quyết tốt vấn đề bài tập thực sự là một "biện pháp tích cực" trong đổi mới việc dạy học lịch sử ở trường phổ thông, đòi hỏi sự tập trung công sức và quyết tâm để thực hiện Qua tìm hiểu thực tế, có thể nêu khái quát rằng đa số giáo viên nhận thức được vai trò, ý nghĩa của bài tập trong môn Lịch sử ở trường phổ thông, nhưng mới dừng lại ở nhận thức cảm tính, chưa sâu sắc, đặc biệt còn lúng túng trong việc xác định và sử dụng bài tập trong dạy học lịch sử Điều này là do giáo viên chưa nắm vững nội hàm khái niệm "bài tập lịch sử" Không ít giáo viên chưa phân biệt được "câu hỏi" với "bài tập" trong môn Lịch sử Họ cho rằng : "Tất cả các câu hỏi trong sách giáo khoa và câu hỏi mà giáo viên đưa ra cho học sinh làm đều được xem là bài tập lịch sử" Nhiều khi việc kiểm tra bài cũ được thực hiện bằng những câu hỏi chỉ yêu cầu học sinh thuộc một số sự kiện mà không đòi hỏi phải suy nghĩ để giải thích Trong quá trình giảng bài mới, giáo viên chủ yếu dành thời gian cho thông báo, miêu tả, giải thích sự kiện, ghi bảng hoặc đọc cho học sinh chép Nếu có phát huy trí lực của học sinh, gây sự chú ý các em, giáo viên cũng chỉ nêu câu hỏi đơn giản để nhắc lại ý đã có trong sách giáo khoa như : "Xã hội có giai cấp đầu tiên bao gồm những tầng lớp nào ?" (lớp 10) ; "Nền văn minh Đại Việt được hình thành trên những cơ sở nào ?" (lớp 11) ; "Hãy nêu những nguyên nhân dẫn đến thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945" (lớp 12) Cuối giờ học, giáo viên căn dặn học sinh về nhà học bài và trả lời những câu hỏi trong sách giáo khoa Giáo viên đã đồng nhất "câu hỏi" và "bài tập", tất cả các câu hỏi trong sách giáo khoa hoặc câu hỏi do giáo viên đưa ra đều được xem là bài tập
Cũng không ít giáo viên cho rằng "câu hỏi" khác với "bài tập", nhưng lại quan niệm đơn giản rằng bài tập trong môn Lịch sử chính là những bài tập thực hành như : vẽ bản đồ, trình bày bản đồ, lập niên biểu, bảng so sánh, bảng thống kê Do đó, họ cho rằng trong môn Lịch sử chỉ có một số bài tập thực hành, còn lại đều là câu hỏi cả Một số giáo viên nhận thức tương đối chính xác về khái niệm "bài tập lịch sử" khi nói rằng bài tập trong môn Lịch
sử bao gồm nhiều loại khác nhau, ngoài bài tập thực hành còn có các bài tập trắc nghiệm, bài tập nhận thức nhưng sử dụng các loại bài tập này như thế nào để đem lại hiệu quả thì còn lúng túng
Tình hình phổ biến hiện nay là giáo viên ít quan tâm đến vấn đề bài tập lịch sử, nếu có
sử dụng thì hình thức cũng nghèo nàn, không sinh động, thường là bài tập thực hành, rất ít
có bài tập nghị luận, trắc nghiệm Do chưa nhận thức được vai trò, ý nghĩa của các bài tập trong dạy học lịch sử, nên việc cải tiến đổi mới phương pháp dạy học bộ môn, thông qua biện pháp sử dụng bài tập lịch sử chưa có chuyển biến mạnh mẽ Trước tình hình đó và với mong muốn được bắt kịp yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học, giáo viên đề nghị cung cấp sách bài tập lịch sử và những tài liệu tham khảo, tài liệu hướng dẫn về việc biên soạn và sử dụng bài tập trong môn Lịch sử Theo một số giáo viên "các loại bài tập sử dụng chưa phong phú, đa dạng vì chưa hình dung đầy đủ về các tài liệu lịch sử và gặp khó khăn trong việc xây
Trang 28nhất định dành cho việc tổ chức học sinh làm bài tập, thực hành bộ môn Nhiều giáo viên yêu cầu cần có quy định về việc sử dụng bài tập lịch sử, đặc biệt là đưa bài tập vào kiểm tra,
đánh giá kết quả học tập lịch sử của học sinh Họ cho rằng để cho việc sử dụng bài tập trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông được thực hiện nghiêm túc, nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn, cần phải cải tiến việc ra đề kiểm tra, thi, nhất là đề thi tốt nghiệp hằng năm, tức là cần phải có phần bài tập lịch sử Giáo viên lịch sử đều có nguyện vọng được tổ chức các lớp tập huấn để bồi dưỡng trao đổi kinh nghiệm lí luận nhằm nâng cao trình độ, đáp ứng yêu cầu trình độ hiện nay ; bởi vì : "Bài tập trong dạy học các môn khoa học xã hội nói chung, môn Lịch sử nói riêng là những vấn đề mới và khó Nếu chưa
được trao đổi, thảo luận một cách kĩ lưỡng thì khó có thể sử dụng rộng rãi và mang lại hiệu quả cao"
Những bức xúc, bất cập của giáo viên về vấn đề bài tập trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông, cần được sớm giải quyết : trang bị lí luận, hướng dẫn phương pháp tiến hành, các phương tiện thực hiện góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn
Đối với học sinh ở trường phổ thông, qua tìm hiểu cũng thấy rằng, học sinh ít hứng thú với bài tập lịch sử Theo họ "làm bài tập khó quá mà chưa quen", thỉnh thoảng giáo viên mới
đưa ra bài tập, chủ yếu là bài tập thực hành như vẽ bản đồ, lập bảng biểu, sưu tầm tài liệu, tranh ảnh và làm ở nhà, còn việc tổ chức hướng dẫn làm bài tập và kiểm tra, đánh giá kết quả làm bài tập của các em chưa được thầy cô tiến hành thường xuyên, chu đáo nên chưa tạo ra
động lực kích thích hứng thú cho các em
Hứng thú đối với bài tập lịch sử liên quan chặt chẽ và chịu sự ảnh hưởng lớn của thái độ học sinh đối với việc học tập lịch sử Tuy nhiên, sự hứng thú học tập lịch sử nói chung và làm bài tập lịch sử nói riêng phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, nhưng phương pháp giảng dạy theo hướng "tích cực hoá" hoạt động nhận thức của học sinh bằng việc đưa ra hệ thống câu hỏi, bài tập của giáo viên là yếu tố quan trọng hàng đầu Công việc này chưa được chú trọng nhiều trong dạy học lịch sử ; giáo viên chưa tạo điều kiện cho học sinh làm việc, tìm tòi phát hiện ra kiến thức mới bằng chính hoạt động tư duy của mình dưới
sự tổ chức, hướng dẫn, gợi ý của thầy
Do đó, việc sử dụng bài tập trong dạy học lịch sử để nâng cao chất lượng dạy học bộ môn là
điều cấp thiết, phải tiến hành thường xuyên cả ở trên lớp, ở nhà, đặc biệt trong kiểm tra, thi cử
*
* * Việc nghiên cứu những vấn đề lí luận và thực tiễn có liên quan đến vấn đề bài tập trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông, giúp chúng ta những định hướng để xác định các loại bài tập và phương pháp sử dụng
Trước hết, bài tập trong dạy học các môn học nói chung, môn Lịch sử nói riêng là một phương tiện dạy học quan trọng, có vai trò, tác dụng về nhiều mặt, góp phần hoàn thiện mục tiêu, nhiệm vụ môn học Nó là công cụ đắc lực trong việc hình thành, củng cố kiến thức và rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo bộ môn ư đặc biệt là phát triển tư duy độc lập, sáng tạo cho học sinh ; đồng thời là công cụ hiệu nghiệm để kiểm tra, đánh giá và tự kiểm tra, đánh giá kết quả học tập lịch sử của học sinh Do đó, cải tiến, đổi mới phương pháp dạy học lịch sử theo hướng "tích cực hoá" hoạt động nhận thức học sinh nhằm nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử
ở trường phổ thông không thể không tiến hành tốt bài tập Bài tập cần phải trở thành và đang
Trang 29dần dần trở thành phương tiện cơ bản để tổ chức - điều khiển việc giảng dạy và học tập ở mọi môn học - trong đó có môn Lịch sử
Cần làm cho giáo viên, cán bộ quản lý, chỉ đạo giáo dục nhận thức về vai trò, ý nghĩa, của bài tập lịch sử ; khả năng nâng cao hiệu quả sử dụng bài tập trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông như phân loại bài tập lịch sử, thiết kế quy trình biên soạn các loại bài tập lịch sử, xác định nguyên tắc, hình thức và phương pháp tiến hành bài tập lịch sử
Bài tập trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông nói chung, THPT nói riêng là vấn đề còn tương đối mới mẻ ở nước ta hiện nay Vì vậy cần có chương trình nghiên cứu nghiêm túc, lâu dài và vận dụng từng bước thận trọng ; đồng thời phải tham khảo, kế thừa, tiếp thu kinh nghiệm sử dụng bài tập trong các môn học khác để đạt hiệu quả cao
Những kết luận trên đây chính là những cơ sở khách quan khoa học mang tính chỉ đạo để đi
đến xác định các loại bài tập lịch sử, vạch ra quy trình thiết kế xây dựng và phương pháp tổ chức sử dụng bài tập trong dạy học lịch sử sẽ được đề cập ở chương 2 và chương 3 của chuyên khảo này
Trang 30Chương 2
Xây dựng hệ thống bài tập lịch sử
ở trường phổ thông
I - Các loại bài tập lịch sử cần phải xây dựng
Sự phân chia các loại bài tập nêu trên cũng mang tính chất tương đối, giữa chúng có liên quan và hỗ trợ cho nhau, vì trong bất kì một loại bài tập nào cũng chứa đựng một vài yếu tố của một hay nhiều loại bài tập khác Ví dụ như : loại bài tập cung cấp kiến thức mới có thể bao gồm nhiều loại bài tập khác nhau như bài tập về nắm vững niên đại, địa danh, nhân vật hay khái niệm lịch sử
Bài tập dùng để kiểm tra, đánh giá có thể là dạng bài tập tự luận, bài trắc nghiệm khách quan hay bài tập thực hành, bài tập nhận thức Các loại bài tập này vừa bổ sung cho nhau, vừa có thể chuyển đổi, thay thế cho nhau, làm cho việc sử dụng bài tập để củng cố kiến thức, phát huy tư duy, kiểm tra, đánh giá được linh hoạt, có hiệu quả trong việc nâng cao chất lượng dạy học bộ môn Ví dụ, bài tập biến đổi chính là bài tập huấn luyện ; còn bài tập tương tự, bài tập biến đổi chính là bài tập rèn luyện, bài tập nhận thức tìm tòi Một cách cụ thể, khi học về "Tình hình xã hội của các nước" (thuộc một thời kì lịch sử nào đó) học sinh phải nắm được địa vị của từng giai cấp và mối quan hệ giữa các giai cấp đó trong xã hội Để giúp cho học sinh có được kĩ năng này giáo viên ra bài tập mẫu (hay bài tập huấn luyện) :
"Vẽ sơ đồ về mối quan hệ giữa các giai cấp trong xã hội cổ đại phương Đông" Thông qua bài tập này, giáo viên hướng dẫn học sinh tiến hành những thao tác cơ bản lập thành những yếu tố cần thiết để giải quyết bài tập Sau đó, khi học đến những nội dung kế tiếp trong chương trình , giáo viên ra một số bài tập tương tự để rèn luyện học sinh, như : "Vẽ sơ đồ về mối quan hệ các giai cấp trong xã hội Trung Quốc thời phong kiến" Trên cơ sở ấy, giáo viên ra bài tập biến đổi (bài tập nhận thức tìm tòi), dùng các kiến thức đã học để giải quyết vấn đề mới : "Vẽ sơ đồ về mối quan hệ giữa các đẳng cấp trong xã hội Pháp trước Cách mạng Pháp 1789" Đây là bài tập phù hợp với trình độ của học sinh Để làm tốt những bài tập thuộc nhóm này, các em phải vận dụng các thao tác của tư duy, như phân tích, minh hoạ, giải thích, lập luận một cách lôgíc, chặt chẽ, khoa học Nhóm bài tập này rèn luyện cho học sinh năng lực tư duy độc lập, sáng tạo trong việc giải quyết vấn đề của bài tập đưa ra – một
số ý kiến đơn giản, riêng lẻ, diễn ra trong một thời điểm và không gian nhất định ; những sự kiện phức tạp diễn ra trong thời gian dài và không gian rộng lớn Ví dụ : "Cách mạng tư sản Pháp diễn ra năm nào, bắt đầu ở đâu ? Tính chất triệt để của nó thể hiện như thế nào ?" (vấn
đề thời gian), "Tại sao nói : Cách mạng tháng Tám 1945 diễn ra và giành thắng lợi trong 15 ngày, nhưng phải trải qua quá trình chuẩn bị tới 15 năm ?" (vấn đề phức tạp), hoặc bài tập nhận thức sau : "Trong 2 ngày 18 và 19 ư 12 ư 1946, tại thị xã Hà Đông, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã họp và quyết định phát động toàn quốc kháng chiến chống thực dân
Trang 31Pháp xâm lược Theo em, sự kiện xảy ra trước hay sau khi thực dân Pháp "bội ước" Hãy phân tích vì sao có sự kiện đó ?"
Nhóm bài tập này được thiết kế dựa theo nội dung vấn đề trong một đoạn trích tài liệu, câu nói, nhận định của các sách báo, của một nhân vật hay một tác giả và yêu cầu học sinh phải chứng minh, phân tích, bình luận, nhận xét, đánh giá, nêu mối quan hệ Nó thường
được sử dụng trong dạy học nêu vấn đề, nên còn gọi là ‘bài tập nêu vấn đề" hay "bài tập lôgíc", "bài tập tư duy" Nhóm này bao gồm hệ thống các dạng, loại bài tập cụ thể sau :
ư Bài tập xác định, phân tích bản chất của sự kiện, hiện tượng lịch sử (tiến bộ hay phản động, bản chất giai cấp ) Ví dụ, có bài tập sau :
Trong "Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền" năm 1791 của Pháp đã nêu lên một số
điều cơ bản :
1 Mọi người sinh ra đều được bình đẳng
2 Mục đích của liên minh nhà nước là bảo đảm những quyền tự nhiên của con người
3 Quyền tư hữu là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm, nên không ai có quyền tước
bỏ
Trong số những điều trên, điều nào là chủ yếu thể hiện bản chất giai cấp của Cách mạng tư sản Pháp ? Hãy giải thích câu trả lời của em Qua đó phân tích tính chất tiến bộ và hạn chế của cuộc cách mạng này."
ư Bài tập xác định mối quan hệ nhân quả các sự kiện hiện tượng lịch sử Ví dụ : "Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc các nước thắng trận họp nhau tại Vécxai để phân chia thị trường thế giới và những quyền lợi về kinh tế, chính trị Theo em, sự việc đó có liên quan gì đến nguyên nhân của cuộc chiến tranh đó không ? Hãy phân tích
ư Bài tập xác định tính kế thừa giữa các sự kiện, thời kì, giai đoạn, quá trình phát triển của lịch sử Ví dụ, bài tập về sự kế thừa của các giai đoạn cách mạng 1930 ư 1936, 1936
ư 1939, 1939 ư 1945 trong lịch sử Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng
ư Bài tập tìm hiểu xu hướng phát triển của một sự kiện, hiện tượng lịch sử, một thời đại hay xã hội nói chung Ví dụ : "Để tiến hành những cuộc chiến tranh mở rộng lãnh thổ, vua Sáclơmanhơ (768 ư 811) đã công bố sắc lệnh giải phóng những người bị bắt lệ thuộc hoàn toàn vào nhà thờ và lãnh chúa phong kiến Theo em, vì sao Sáclơmanhơ ra sắc lệnh này ? Sắc lệnh này có được thực hiện không ? Vì sao ?"
ư Bài tập xác định mức độ tiến bộ của sự kiện, hiện tượng lịch sử Ví dụ : "Vào giữa thế
kỉ XIX, trong lúc xã hội Việt Nam đang lâm vào tình trạng khủng hoảng toàn diện, sâu sắc
và đứng trước nguy cơ xâm lược của bọn đế quốc thực dân, triều đình nhà Nguyễn (vua Tự
Đức) lại chủ trương "đóng cửa" và "cấm đạo" Theo em :
1 Việc thực hiện chính sách như thế có lợi cho sự phát triển của đất nước không ? Vì sao ?
Trang 322 Có thể nói rằng, chủ trương "đóng cửa" và "cấm đạo" chứng tỏ sự khôn khéo của triều
đình nhà Nguyễn không ? Hãy giải thích câu trả lời của em"
ư Bài tập tìm hiểu cấu trúc của một tổ chức xã hội và phân tích những mối quan hệ qua lại giữa các tập đoàn, giai cấp trong xã hội Ví dụ, bàn về chế độ xã hội ở Pháp trước năm
1789 có ý kiến cho rằng : "Quý tộc phục vụ nhà vua bằng cung kiếm, tăng lữ phục vụ nhà vua bằng kinh cầu nguyện (kinh thánh), còn đẳng cấp thứ ba phục vụ nhà vua bằng của cải
và tiền bạc" Dựa vào ý kiến đó, em có thể rút ra những kết luận gì về mối quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp trong xã hội Pháp lúc bấy giờ"
ư Bài tập so sánh để rút ra cái chung và cái riêng, giống nhau và khác nhau, tiêu biểu và
đặc thù của các sự kiện, thời kì lịch sử Ví dụ, "Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là kết quả tất yếu của sự kết hợp ba nhân tố : chủ nghĩa Mác – Lênin, phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam Theo em :
1 Các nhân tố đó có điểm gì khác so với sự ra đời của đảng cộng sản ở các nước tư bản chủ nghĩa không ?
2 Trên cơ sở đó, có thể rút ra được quy luật gì ?"
ư Bài tập xác định mối tương quan giữa sự kiện, hiện tượng lịch sử với thời đại Ví dụ:
"Các nhà khảo cổ đã tìm thấy một ngôi mộ, trong đó có hài cốt của một người đã được chôn
từ lâu Người này nằm trong tư thế của một người ngủ nằm nghiêng, hai chân co lại và mặc quần áo Bên cạnh đó có vũ khí, bát đĩa và dấu vết của thức ăn Vậy, ngôi mộ đó thuộc về thời kì trước hay sau khi tôn giáo xuất hiện? Hãy chứng minh câu trả lời trên của em."
ư Bài tập xác định mục đích xã hội của các sự kiện ở một giai đoạn, thời kì lịch sử Ví dụ: "Tại Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (5ư1941) của Đảng Cộng sản Đông Dương đã quyết
định thành lập Việt Nam độc lập đồng minh (Mặt trận Việt Minh) Theo em :
1 Tên gọi đó có phù hợp với tình hình thực tế không ?
2 Tên gọi đó có lợi cho phong trào cách mạng nước ta nói riêng, cách mạng Đông Dương và thế giới nói chung không ? Vì sao ?"
ư Bài tập tìm hiểu ý nghĩa của sự kiện, hiện tượng lịch sử, rút ra bài học kinh nghiệm
đối với hiện tại Trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông, giáo viên nên tận dụng mọi khả năng để ra những bài tập dạng này, nhằm lôi cuốn học sinh tích cực tìm hiểu ý nghĩa các sự kiện,
hiện tượng lịch sử đang học để giải thích và hành động đúng trong hiện tại Trong các bài tập loại này, có những câu hỏi như : "Tại sao phải học tập kiến thức này ?", "Kiến thức này giúp chúng ta hiểu về thời đại ngày nay như thế nào ?" Những câu hỏi đó đòi hỏi học sinh phải nhận thức tìm tòi vì đó là vấn đề khác so với những bài tập trên, nhưng để giải quyết không thể không hiểu biết về các vấn đề tương tự đã học Khi giải quyết bài tập này, học sinh sẽ nhận thức cao hơn, giải quyết các vấn đề đặt ra như sự khác nhau giữa "đẳng cấp" và "giai cấp" trong xã hội Pháp trước Cách mạng 1789
Trang 33Mỗi cách phân loại bài tập nêu trên đều có những ưu điểm và nhược điểm nhất định khi
xây dựng những bài tập cụ thể Có cách phân loại gắn với hình thức sử dụng hoặc liên quan
chặt chẽ với nội dung tri thức cơ bản của bộ môn Lịch sử, nhưng lại chưa phân biệt rõ hình
thức và mức độ khác nhau của bài tập, gây khó khăn cho học sinh trong việc nhận dạng và
làm quen với phương pháp tiến hành giải quyết bài tập Ngược lại, cách phân loại giúp học
sinh nắm được hình thức, phương pháp giải quyết bài tập và mức độ khác nhau của bài tập,
nhưng lại chưa gắn với nội dung kiến thức cơ bản của môn học và phương pháp hình thành
kĩ năng giải bài tập cho các em
Xuất phát từ quan điểm toàn diện, hệ thống về phân loại bài tập trong môn Lịch sử nêu trên,
thông qua tiến hành thực nghiệm, khảo sát ở trường phổ thông cho thấy cần xây dựng các loại
bài tập sau đây để tiến hành có hiệu quả, phù hợp với yêu cầu, điều kiện dạy học lịch sử ở nước
ta
Thứ nhất, nhóm bài tập nhận biết lịch sử
Đây là nhóm bài tập ở trình độ thấp, chủ yếu để tái tạo hình ảnh quá khứ, qua đó rèn
luyện cho học sinh kĩ năng ghi nhớ, tái hiện một cách đúng đắn, chính xác về những sự
kiện, hiện tượng, niên đại, nhân vật, địa danh lịch sử trong chương trình, sách giáo khoa,
bài giảng mà các em đã học, đã đọc, đã nghe Tuy nhiên, để giải quyết những loại bài tập
này, học sinh không chỉ thuộc, ghi nhớ máy móc mà còn phải suy nghĩ, lựa chọn quyết đoán
một cách khoa học, hợp lí
Nhóm bài tập này chủ yếu được thiết kế xây dựng dưới hình thức trắc nghiệm khách
quan, bao gồm nhiều loại, dạng khác nhau tạo thành hệ thống như sau :
a) Loại bài tập lựa chọn
Gồm có những dạng sau :
+ Bài tập lựa chọn "đúng" hay "sai" Ví dụ : "Hãy điền chữ Đ (nếu câu đúng) hoặc chữ S
(nếu câu sai) vào ô trống :
F Người tinh khôn xuất hiện cách ngày nay khoảng 4000 năm
F Công xã Pari là cuộc cách mạng vô sản đầu tiên trên thế giới giành thắng lợi
+ Bài tập xác định mối quan hệ giữa sự kiện và địa danh lịch sử Ví dụ: Hãy cho biết
những sự kiện lịch sử sau đây xảy ra ở nước nào ? Hãy đánh dấu ì vào cột có tên nước đó
ư Cải cách nông nô
ư Cải cách Minh Trị duy tân
ư Chiến tranh li khai
(1861ư1865)
ư Thống nhất đất nước "từ
Trang 34dưới lên"
ư Thống nhất đất nước "từ
trên xuống"
ư Thành lập Quốc tế thứ nhất
Để tăng độ khó của bài tập thuộc loại này, chúng ta có thể đưa thêm dữ liệu vào bài tập
Ví dụ : bài tập xác định mối quan hệ giữa sự kiện, nhân vật và niên đại lịch sử, hoặc bài tập xác định mối quan hệ giữa sự kiện, niên đại, địa danh lịch sử, hoặc bài tập xác định mối quan hệ giữa sự kiện, niên đại, nhân vật và địa danh lịch sử
b) Loại bài tập lựa chọn kết hợp với việc giải thích ngắn gọn mối quan hệ giữa các nội dung kiến thức đã lựa chọn Ví dụ : "Trong các nhóm kiến thức dưới đây, hãy chọn ra ba kiến thức trong từng nhóm có quan hệ gắn bó với nhau và giải thích ngắn gọn mối quan hệ
đó
1 Khoảng 4 vạn năm :
ư Người tinh khôn ư Người thượng cổ
2 Phan Bội Châu ư Phan Chu Trinh
ư Duy Tân hội ư Phong trào Đông du
3 Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên ưTân Việt cách mạng đảng
ư Đông Dương Cộng sản đảng
ư An Nam Cộng sản đảng"
Ngoài ra, ở nhóm này còn có những loại bài tập yêu cầu học sinh phân loại hay sắp xếp
sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử theo thứ tự niên đại theo từng nhóm, theo tính chất hoặc có cùng bản chất
Thứ hai, nhóm bài tập nhận thức lịch sử
ư Đây là nhóm bài tập đòi hỏi học sinh tìm tòi, sáng tạo trong nhận thức lịch sử : "Tại sao phải hiểu biết điều mà chúng ta học tập hôm nay ?" Ví dụ : "Qua học tập về hai cuộc chiến tranh thế giới, các em có hiểu biết gì nguyên nhân và hậu quả của nó ? Làm thế nào để ngăn ngừa chiến tranh, bảo vệ hoà bình trong thời đại ngày nay ?" ; "Qua học tập, tìm hiểu về nguyên nhân sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu trong những năm cuối thập kỉ 80 của thế kỉ XX, các em có thể rút ra những bài học kinh nghiệm gì trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay ?"
ư Bài tập xác định những sự kiện và hiện tượng mới trên cơ sở những sự kiện, hiện tượng lịch sử khác Ví dụ : "ở La Mã cổ đại có hàng vạn nô lệ được sử dụng làm đấu sĩ để mua vui cho các chủ nô Qua đó, em có thể rút ra kết luận gì về xã hội La Mã cổ đại" ; "Ngày 18ư12ư1946, thực dân Pháp gửi tối hậu thư đòi Chính phủ ta giải tán lực lượng chiến đấu, giao quyền kiểm soát Thủ đô cho quân đội của chúng Nếu không thực hiện thì ngày 20ư12ư1946 quân đội chúng sẽ tấn công Trên cơ sở sự việc đó, theo em Chính phủ ta có hấp nhận không ?Vì sao ? Chính phủ ta phải hành động như thế nào trong hoàn cảnh ấy ?"
Trang 35ư Bài tập khôi phục trình độ của đời sống tinh thần căn cứ vào các di vật của văn hoá vật chất
Thứ ba, nhóm bài tập thực hành lịch sử
Nhóm bài tập này nhằm rèn luyện kĩ năng thực hành bộ môn ; đồng thời làm cho học sinh biết phân tích, giải thích, trình bày nhận xét của mình về kết quả thực hành đó Nhóm bài tập này gồm những loại, dạng sau đây :
ư Bài tập thực hành về xây dựng, sử dụng đồ dùng trực quan như bản đồ, lược đồ, sơ đồ, biểu đồ, đồ thị (bao gồm vẽ, trình bày, giải thích, nhận xét, xác định địa danh, ghi kí hiệu ) ; các loại bảng biểu (bao gồm bảng biên niên, bảng so sáng, bảng thống kê ) ; tranh
ảnh, hiện vật Ví dụ : "Vẽ lược đồ chiến dịch Biên giới thu - đông 1950 Hãy xác định và ghi những địa điểm phòng thủ của địch trên Đường số 4 Trên cơ sở đó, hãy lí giải tại sao Đảng, Chính phủ và Hồ Chí Minh chọn Đông Khê làm điểm đánh mở màn chiến dịch"
ư Bài tập thực hành về sưu tầm hiện vật, tranh ảnh, tài liệu nhất là tài liệu lịch sử địa phương Ví dụ : "Sưu tầm, đọc những tài liệu lịch sử địa phương và trên cơ sở đó hãy trình bày quá trình Tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở địa phương em (xã, huyện hoặc tỉnh) trong thời kì Cách mạng tháng Tám năm 1945"
ư Bài tập thực hành về lập hồ sơ học tập Ví dụ, khi học về Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917, giáo viên ra bài tập yêu cầu học sinh sưu tầm những tài liệu, tranh ảnh liên quan
ư Phân tích, chứng minh, lí giải
ư Tìm hiểu ý nghĩa, rút ra kết luận, bài học lịch sử
ư Xây dựng, sử dụng các loại đồ dùng trực quan
ư Sưu tầm tài liệu, hiện vật, tranh
ảnh
ư Lập hồ sơ học tập
Trang 36II - Quy trình thiết kế, xây dựng bài tập lịch sử
Thiết kế, xây dựng bài tập nói chung, bài tập lịch sử nói riêng cần đảm bảo theo một quy trình Quy trình này là gì ?
Quy trình thiết kế bài tập lịch sử là tổng hợp trình tự (lôgíc) các hoạt động (các bước) tiến hành xây dựng các loại bài tập để sử dụng vào dạy học lịch sử nhằm đạt được mục đích, yêu cầu của môn học
Quy trình thiết kế, xây dựng bài tập lịch sử bao gồm các bước sau đây :
Bước 1 : Khởi đầu của quy trình là xác định mục đích thiết kế xây dựng bài tập : Sử
dụng bài tập lịch sử nhằm cải tiến, đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng giáo dục bộ môn Do đó, bài tập lịch sử phải gắn với mục tiêu của từng bài học, từng chương, khoá trình và cả chương trình Có loại bài tập cho từng đơn vị kiến thức, có loại bài tập cho toàn bài, toàn chương, thậm chí có loại bài tập dùng cho cả khoá trình, cho toàn bộ chương trình của từng khối lớp hoặc toàn cấp Mặt khác, có loại bài tập cung cấp kiến thức mới, có loại bài tập dùng để củng cố kiến thức, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo, có loại bài tập sử dụng trên lớp trong giờ học bài mới, có loại bài tập cho về nhà
Bước 2 : Tiến hành nghiên cứu chương trình, sách giáo khoa Lịch sử thật kĩ lưỡng, chu
đáo, bao gồm : đọc, phân tích nội dung, xác định mục đích yêu cầu, xác định hệ thống kiến thức cơ bản của từng bài, từng chương và cả khoá trình để xác định những kiến thức cần thiết kế, xây dựng trong bài tập
Bước 3 : Xác lập hệ thống các loại bài tập cần thiết kế, xây dựng qua từng đơn vị kiến
thức, bài, chương và cả khoá trình cho thích hợp
Bước 4 : Xác định nguồn tài liệu cần nghiên cứu, tìm hiểu, lựa chọn để xây dựng bài tập
: Bao gồm nội dung sách giáo khoa Lịch sử (cả kênh hình, kênh chữ và bài đọc thêm), trích dẫn trong sách, báo, tài liệu tham khảo (cả tài liệu viết, hiện vật, tranh ảnh )
Bước 5 : Tiến hành thiết kế, xây dựng bài tập
Bước 6 : Kiểm tra bài tập sau khi xây dựng và lập kế hoạch sử dụng
Chúng tôi mô hình hoá quy trình thiết kế, xây dựng bài tập lịch sử như sau :
Bước 1 : Xác định mục đích thiết kế, xây dựng bài tập Lịch sử, cải tiến, đổi mới phương
pháp dạy học lịch sử, nâng cao chất lượng giáo dục bộ môn
Bước 2 : Nghiên cứu chương trình, sách giáo khoa lịch sử, lựa chọn kiến thức cơ bản cần
thiết kế, xây dựng bài tập
Bước 3 : Xác lập hệ thống các bài tập lịch sử, phù hợp với từng kiến thức bài, chương Bước 4 : Xác định nguồn tài liệu để thiết kế, xây dựng bài tập lịch sử thông qua nhiều nguồn
khác nhau (sách giáo khoa, tài liệu tham khảo)
Trang 37Bước 5 : Tiến hành thiết kế bài tập lịch sử Đảm bảo nguyên tắc, yêu cầu thiết kế, xây
dựng
Bước 6 : Kiểm tra bài tập và lập kế hoạch sử dụng
Việc thiết kế, xây dựng bài tập lịch sử cần tuân thủ những nguyên tắc sau :
Thứ nhất, đảm bảo sự thống nhất giữa bài tập với mục tiêu dạy học lịch sử : biết – hiểu –
vận dụng để thực hiện nhiệm vụ giáo dưỡng (cung cấp kiến thức), giáo dục (đạo đức, chính trị, tư tưởng ) và phát triển (tư duy, thực hành) của bộ môn
Thứ hai, đảm bảo sự thống nhất giữa bài tập với nội dung kiến thức cơ bản của môn học
: sự kiện, nhân vật, niên đại, địa danh, khái niệm, quy luật, nguyên lí
Thứ ba, đảm bảo sự thống nhất giữa mục đích sử dụng với hình thức và nội dung của bài
tập lịch sử : phải phong phú đa dạng về hình thức lẫn nội dung, về lí luận lẫn thực hành Bài tập lịch sử không chỉ yêu cầu học sinh nhắc lại kiến thức đã học mà phải huy động nhiều nguồn kiến thức khác nhau để tái tạo, giải thích, bình luận, chứng minh nhưng kiến thức
đó cũng không thể vượt ra ngoài phạm vi của chương trình một cách tuỳ tiện Khi thiết kế, xây dựng bài tập phải bám sát chương trình, sách giáo khoa Trong trường hợp cần thiết có thể mở rộng, phát triển nhưng phải dựa trên cơ sở chương trình, sách giáo khoa, không nên vượt ra ngoài quá xa
Thứ tư, thiết kế xây dựng bài tập lịch sử phải đảm bảo tính thống nhất của nó Bài tập
lịch sử có nhiều nhóm, mỗi nhóm bao gồm các loại, dạng khác nhau và có quan hệ với nhau
Do đó, các loại bài tập này được sắp xếp theo hệ thống, từ cụ thể đến khái quát, từ đơn giản
đến phức tạp, từ dễ đến khó, từ nhận biết đến nhận thức và vận dụng ; từ đơn vị kiến thức
đến bài, chương, khoá trình và khối lớp và thể hiện tính toàn diện của lịch sử : kinh tế, chính trị, xã hội, quân sự, văn hoá, giáo dục, y tế
Thứ năm, thiết kế, xây dựng bài tập lịch sử phải phù hợp với năng lực của học sinh, với
từng đối tượng cụ thể : khá, giỏi, trung bình, yếu, ở từng khu vực, cấp học khác nhau
Thứ sáu, thiết kế, xây dựng bài tập lịch sử phải đảm bảo việc phát huy tính tích cực, độc
lập nhận thức của học sinh Bài tập lịch sử không phải là sự đánh đố, mà chủ yếu kích thích hứng thú học tập, phát triển năng lực độc lập suy nghĩ, tính sáng tạo của học sinh
Để thực hiện đúng quy định và những nguyên tắc trên, việc thiết kế, xây dựng bài tập lịch sử cần phải chú ý những yêu cầu sau :
Một là, chọn nguồn kiến thức để thiết kế, xây dựng bài tập lịch sử Nguồn kiến thức đó
có thể trong phạm vi một đơn vị kiến thức, từng bài học hoặc cả khoá trình, chương trình Ví
dụ, trong bài "Những phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến hết Chiến tranh thế giới thứ nhất" (sách giáo khoa Lịch sử lớp 11 ư THPT) một trong những đơn
vị kiến thức cần chọn để xây dựng bài tập là "Phan Bội Châu và khuynh hướng bạo động của
ông" vì nó liên quan đến nhiều sự kiện, niên đại, thuật ngữ, nhân vật lịch sử như : Duy tân hội, phong trào Đông Du, Việt Nam Quang phục hội, Tăng Bạt Hổ, Lương Khải Siêu, Khang
Trang 381940 Hoặc với bài "Cách mạng tư sản Pháp 1789" (sách giáo khoa lịch sử lớp 10 – THPT), những kiến thức cần chọn để xây dựng bài tập là : Chế độ đẳng cấp ở Pháp trước cách mạng, Rôbespie và nền chuyên chính dân chủ Giacôbanh, tính chất triệt để và ảnh hưởng của Cách mạng tư sản Pháp 1789
Hai là, mỗi đơn vị kiến thức, mỗi bài, mỗi chương có thể xây dựng các loại bài tập với
những mức độ khác nhau, phù hợp với từng đối tượng học sinh Ví dụ, cũng là đơn vị kiến thức
về Phan Bội Châu và khuynh hướng bạo động của ông chúng ta có thể biên soạn hệ thống các loại bài tập từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp như :
Bài tập 1 : Đánh dấu ì vào ô trống trước ý có nội dung gắn với nhân vật Phan Bội
Châu
F Đã sang Pháp F Đã sang Nhật
F Sáng lập hội Duy tân F Sáng lập Việt Nam Quang phục hội
F Đề xướng phong trào Đông Du F Chủ trương cải cách duy tân đất nước
F Viết Hải ngoại huyết thư F Viết Thất điều trần
F Bị bắt ở Việt Nam F Bị bắt ở Thái Lan
F Khuynh hướng bạo động F Khuynh hướng cải cách
Bài tập 2 : Trong mỗi nhóm kiến thức dưới đây, hãy chọn ra 3 kiến thức có quan hệ
gần gũi với nhau và nêu ngắn gọn mối quan hệ đó
1 Phan Bội Châu – hội Duy tân – Cải cách Duy tân – Phong trào Đông du
2 Phan Bội Châu – hội Duy Tân – Quân chủ lập hiến – Cộng hoà dân chủ
3 Phan Bội Châu – Quân chủ lập hiến – Việt Nam Quang phục hội– Cộng hoà dân chủ
4 Phan Bội Châu – 1904 – 1905 – Duy tân hội
5 Phan Bội Châu – 1904 – 1905 – Phong trào Đông du
6 Phan Bội Châu – Nhật Bản – Hải ngoại huyết thư – Thất điều trần
7 Phan Bội Châu – Phan Châu Trinh – Tăng Bạt Hổ – Nhật Bản
8 Phan Bội Châu – Phan Châu Trinh – Lương Khải Siêu – Khang Hữu Vi
9 Phan Bội Châu – Phan Châu Trinh – Khuynh hướng bạo động – Khởi nghĩa Duy tân
10 Phan Bội Châu – Phan Châu Trinh – Khuynh hướng cải cách ư Đông Kinh nghĩa thục
Bài tập 3 : Có ý kiến cho rằng trước khi Nguyễn ái Quốc xuất hiện (trước 1925) thì
Phan Bội Châu là lãnh tụ tiêu biểu nhất trên vũ đài chính trị Việt Nam Em có đồng ý với ý kiến đó không ? Hãy phân tích và chứng minh câu trả lời của em
Trang 39Ba là, bài tập lịch sử phải trình bày rõ ràng, dễ hiểu, phù hợp với từng nhóm, loại, dụng
cụ nhất định (trắc nghiệm khách quan, nghị luận, bình luận, phân tích, trích dẫn tài liệu, thực hành)
Bốn là, nội dung của bài tập lịch sử về cơ bản không được thoát li khỏi giới hạn của nội
dung chương trình, sách giáo khoa, làm sao cho các bài tập thực hiện được các chức năng giáo dưỡng, giáo dục và phát triển đã đề ra
Trên cơ sở thực nghiệm sư phạm ở một số trường THPT đã cho thấy rằng những yêu cầu xây dựng các loại bài tập này là hợp lí, mang tính khả thi và có hiệu quả Học sinh có hứng thú với môn học và cố gắng làm tốt các loại bài tập được nêu ra Các bài tập vừa sức khơi dậy tính độc lập học tập của các em Kết quả kiểm tra học sinh chứng tỏ rằng những yêu cầu biên soạn trên là đúng
III - Nội dung các loại bài tập lịch sử ở trường phổ thông
Mỗi loại bài tập lịch sử được xây dựng cần có những nội dung cơ bản sau đây, theo từng nhóm :
1 Nhóm bài tập nhận biết lịch sử
Do chức năng chủ yếu là ghi nhớ, nhận biết, tái hiện kiến thức, hệ thống các loại bài tập thuộc nhóm này được trình bày dưới hình thức trắc nghiệm khách quan Nội dung của nó đòi hỏi :
ư Phải trình bày một cách mạch lạc với những chỉ dẫn rõ ràng, ngôn ngữ sử dụng chính xác, phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh
ư Phải đảm bảo tính chính xác, độ tin cậy cao Tránh dùng những câu tối nghĩa, ý tưởng không rõ ràng Tránh câu vừa có ý đúng vừa có ý sai
ư Không nên tăng mức độ khó của bài tập bằng cách sử dụng những câu hỏi phức tạp Tránh dùng những câu đan cài với nhau hay phụ thuộc vào nhau, tránh câu có tính chất
"đánh đố" học sinh
ư Sắp xếp các dữ kiện đúng, sai một cách ngẫu nhiên để học sinh suy nghĩ, xác định
ư Cần đảo lộn các thứ tự các bài tập trong các bài kiểm tra (kể cả phần chỉ dẫn và phần lựa chọn) để tránh việc "quay cóp" của học sinh khi làm bài
Có thể tiến hành các loại bài tập trắc nghiệm khách quan như sau :
Thứ nhất, loại bài tập lựa chọn
Trước hết là loại bài tập lựa chọn "đúng" hay "sai" Đây là loại bài tập đơn giản, không
tốn nhiều công sức để biên soạn được trình bày dưới hình thức những câu xác định và học sinh trả lời bằng cách lựa chọn "đúng" hay "sai"
Trang 40Ví dụ : lớp 10, giáo viên đề nghị học sinh làm bài tập : Trong các câu dưới đây, câu nào
đúng, câu nào sai ? Hãy điền chữ Đ (nếu đúng) hay chữ S (nếu sai) vào ô vuông
F Con người xuất hiện cách ngày nay khoảng 1 triệu năm
F Xã hội có giai cấp đầu tiên xuất hiện ở các quốc gia cổ đại phương Đông
F Tổ chức đầu tiên của loài người là "bầy người nguyên thuỷ"
F Xã hội có giai cấp và nhà nước xuất hiện sớm trên lưu vực các dòng sông lớn ở châu
á và châu Phi
F Vua là người có quyền lực tối cao ở tất cả các quốc gia trong thời cổ đại
F Người tinh khôn xuất hiện cách ngày nay khoảng 4 vạn năm
F Chế độ chiếm hữu nô lệ là chế độ xã hội có giai cấp đầu tiên trong lịch sử
F Lãnh tụ tiêu biểu của khởi nghĩa nô lệ là Xpáctacút
F Nền dân chủ cổ đại là nền dân chủ của nhân dân
ở lớp 11, giáo viên ra bài tập : Ghi chữ Đ (đúng) hay chữ S (sai) vào các ô vuông sau :
F Nền văn minh Văn Lang ư Âu Lạc còn gọi là nền văn minh sông Hồng
F Nền văn minh Văn Lang ư Âu Lạc hình thành cách ngày nay khoảng 4000 năm
F Nền văn minh Đại Việt tồn tại từ thế kỉ X đến thế kỉ XVIII
F Nền văn minh Văn Lang ư Âu Lạc là của những cư dân nông nghiệp trồng lúa nước, sống trong các cộng đồng làng xóm
F Giai đoạn phát triển thịnh đạt của văn minh Đại Việt thuộc thời Lý – Trần, nên văn minh Đại Việt còn gọi là văn minh Lý – Trần
F Nền văn minh Đại Việt được hình thành trên cơ sở văn minh Văn Lang ư Âu Lạc, có
kế thừa ảnh hưởng văn hoá bên ngoài (Trung Quốc, Cham-pa)
F Truyền thống ý thức dân tộc và truyền thống dân tộc là một
F Truyền thống ý thức dân tộc là một truyền thống nổi bật của truyền thống dân tộc, nó bao quát và có ý nghĩa rộng hơn những truyền thống khác
F Văn minh Việt Nam là văn minh của dân tộc Việt (Kinh)
F Hơn 1000 năm đô hộ của phong kiến phương Bắc, nền văn hoá của dân tộc ta đã "bị
đồng hoá"
Đối với học sinh lớp 12, giáo viên có thể ra bài tập : Ghi chữ Đ (đúng) hay chữ S (sai) vào các ô vuông sau :
F Mĩ là nước đầu tiên phóng thành công vệ tinh nhân tạo lên khoảng không vũ trụ
F "Chiến tranh lạnh" là "chiến tranh không nổ súng" nhưng luôn gây ra tình trạng căng thẳng, đối đầu trên thế giới từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai