HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM ĐỖ THỊ THANH THỦY NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC CHUYỂN ĐỔI ĐẤT NÔNG NGHIỆP SANG ĐẤT PHI NÔNG NGHIỆP ĐẾN THU NHẬP VÀ VIỆC LÀM CỦA NGƯỜI NÔNG DÂN TẠI QUẬN H
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
ĐỖ THỊ THANH THỦY
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC CHUYỂN ĐỔI ĐẤT NÔNG NGHIỆP SANG ĐẤT PHI NÔNG NGHIỆP ĐẾN THU NHẬP VÀ VIỆC LÀM CỦA NGƯỜI NÔNG DÂN
TẠI QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Mã số: 60.85.01.03
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN NHƯ HÀ
HÀ NỘI, NĂM 2015
Trang 2Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page ii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Đỗ Thị Thanh Thủy
Trang 3Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page iii
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự hướng dẫn nhiệt tình, chu đáo của các nhà khoa học, các thầy cô giáo và
sự giúp đỡ nhiệt tình, những ý kiến đóng góp quý báu của nhiều cá nhân và tập thể để hoàn thành bài luận văn này
Nhân dịp này, tôi xin chân thành cảm ơn PGS TS Nguyễn Như Hà đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong thời gian thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn sự góp ý chân thành của các thầy, cô giáo Khoa Quản lý đất đai – Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Bồi thường GPMB quận Hà Đông, Phòng Tài nguyên và Môi trường quận Hà Đông, UBND các phường Văn Quán, Hà Cầu, Phú Lãm, đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong thời gian nghiên cứu thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tới gia đình, những người thân, cán bộ, đồng nghiệp và bạn bè đã tạo điều kiện về mọi mặt cho tôi trong thời gian thực hiện đề tài này
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Đỗ Thị Thanh Thủy
Trang 4Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page iv
MỤC LỤC
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục iv
Danh mục các chữ viết tắt vii
Danh mục bảng vii
Danh mục hình ix
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Yêu cầu của đề tài 2
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Cơ sở lý luận của việc thu hồi đất nông nghiệp và ảnh hưởng đến việc làm, đời sống của người dân 3
1.1.1 Khái niệm về thu hồi đất, bồi thường hỗ trợ, việc làm và sinh kế 3
1.1.2 Sự cần thiết phải chuyển đổi đất nông nghiệp sang phi nông nghiệp trong quá trình phát triển ở nước ta 4
1.1.3 Sự cần thiết phải giải quyết việc làm cho người dân có đất sản xuất nông nghiệp bị chuyển đổi 6
1.1.4 Các chính sách thu hồi, bồi thường đất nông nghiệp và tạo việc làm cải thiện đời sống cho người có đất nông nghiệp bị thu hồi 7
1.2 Ảnh hưởng của chuyển đổi đất nông nghiệp sang phi nông nghiệp đến thu nhập và việc làm của các hộ nông dân 11
1.2.1 Ảnh hưởng của chuyển đổi đất nông nghiệp sang phi nông nghiệp đến thu nhập của các nông hộ 11
1.2.2 Ảnh hưởng của chuyển đổi đất nông nghiệp sang phi nông nghiệp đến việc làm của các nông hộ 12
1.2.3 Ảnh hưởng của chuyển đổi đất nông nghiệp sang phi nông nghiệp đến đời sống của hộ nông dân 14
1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến lao động, đời sống, việc làm 15
Trang 5Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page v
1.3 Thực tiễn giải quyết việc làm, ổn định đời sống cho người dân có
đất nông nghiệp bị thu hồi 19
1.3.1 Thực tiễn giải quyết việc làm cho người dân khi bị thu hồi đất của các nước trên thế giới 19
1.3.2 Thực tiễn giải quyết việc làm cho người dân khi bị thu hồi đất nông nghiệp ở Việt Nam 23
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 30
2.2 Nội dung nghiên cứu 30
2.2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội của quận Hà Đông 30
2.2.2 Thực trạng chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp tại quận Hà Đông giai đoạn 2005-2014 30
2.2.3 Đánh giá tác động của việc chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp đến việc làm và đời sống của người nông dân bị thu hồi đất 30
2.3 Phương pháp nghiên cứu 31
2.3.1 Phương pháp chọn điểm và hộ nghiên cứu 31
2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu 31
2.3.3 Phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu 32
2.3.4 Phương pháp so sánh 32
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 33
3.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của quận Hà Đông 33
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên của quận Hà Đông 33
3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội của quận Hà Đông 34
3.2 Thực trạng chuyển đổi đất nông nghiệp sang phi nông nghiệp tại quận Hà Đông 41
3.2.1 Thực trạng diện tích đất nông nghiệp chuyển đổi sang phi nông nghiệp ở quận Hà Đông 41
3.2.2 Tình hình thu hồi đất trên địa bàn quận Hà Đông 46
Trang 6Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page vi
3.3 Đánh giá ảnh hưởng của việc chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất
phi nông nghiệp đến thu nhập, việc làm của người nông dân bị thu
hồi đất 51
3.3.1 Đánh giá ảnh hưởng của việc chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp đến thu nhập và điều kiện sống của người nông dân bị thu hồi đất 51
3.3.2 Đánh giá tác động của việc chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp đến lao động và việc làm của người nông dân bị thu hồi đất 57
3.3.3 Thực trạng của các chính sách hỗ trợ đào tạo nghề giải quyết việc làm cho người có đất nông nghiệp bị thu hồi tại quận Hà Đông 63
3.3.4 Đánh giá chung về ảnh hưởng của việc chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp đến việc làm và đời sống của người nông dân bị thu hồi đất 66
3.4 Đề xuất giải pháp giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho nông dân có đất nông nghiệp bị thu hồi trên địa bàn quận Hà Đông 68
3.4.1 Nâng cao chất lượng lao động, mở rộng hệ thống dịch vụ việc làm 68
3.4.2 Tiếp tục đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm 68
3.4.3 Hỗ trợ trực tiếp và khuyến khích người lao động tự tạo việc làm, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm 69
3.4.4 Hướng dẫn người dân sử dụng tiền bồi thường, hỗ trợ một cách có hiệu quả 69
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 70
Kết luận 70
Kiến nghị 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
Trang 7Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page vii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT Chữ viết tắt Ý nghĩa chữ viết tắt
Trang 8Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page viii
DANH MỤC BẢNG
Số bảng Tên bảng Trang
3.1 Dân số, Lao động quận Hà Đông qua giai đoạn 2005 - 2014 37
3.2: Cơ cấu đất đai của quận Hà Đông năm 2014 40
3.3: Cơ cấu các loại đất quận Hà Đông giai đoạn 2005 - 2014 41
3.4: Biến động diện tích đất quận Hà Đông giai đoạn 2005 - 2014 42
3.5: Diện tích đất nông nghiệp chuyển đổi sang phi nông nghiệp 44
3.6: Cơ cấu các loại đất nông nghiệp quận Hà Đông giai đoạn 2005 - 2014 45
3.7: Tổng hợp diện tích đất bị thu hồi từ 2005-2014 quận Hà Đông 46
3.8 Thực trạng chuyển đổi đất nông nghiệp ở 03 phường giai đoạn 2005 - 2014 47
3.9 Kết quả điều tra các chỉ tiêu về thu hồi đất nông nghiệp 49
3.10: Thu nhập bình quân của người dân tại địa bàn điều tra 51
3.11 Tình hình sử dụng tiền bồi thường 53
3.12 Bình quân thu nhập trước và sau chuyển đổi đất 54
3.13 Kết quả điều tra về thay đổi thu nhập sau khi chuyển đổi đất 55
3.14 Kết quả điều tra khảo sát về tình hình tiếp cận cơ sở hạ tầng, phúc lợi xã hội 56
3.15 Thay đổi đất sản xuất nông nghiệp trong nhóm hộ điều tra 58
3.16 Tình hình lao động của các hộ trước và sau chuyển đổi đất nông nghiệp 60
3.17 Tình trạng việc làm trước và sau khi chuyển đổi đất của người lao động 62
3.18: Tổng hợp lao động, việc làm, thu nhập trước và sau chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp 66
Trang 9Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page ix
DANH MỤC HÌNH STT Tên hình Trang
3.1: Sơ đồ vị trí quận Hà Đông, thành phố Hà Nội 33
3.2: Cơ cấu kinh tế quận Hà Đông năm 2014 35
3.2: Lao động quận Hà Đông qua các năm 36
3.3: Cơ cấu đất đai quận Hà Đông năm 2014 38
3.4 Diện tích đất NN trước và sau khi thu hồi đất tại địa bàn điều tra 48
Trang 10Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 1
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH) và đô thị hoá (ĐTH) là con đường phát triển của mọi quốc gia trên thế giới Vì là nhân tố quyết định làm thay đổi phương thức sản xuất, chuyển đổi cơ cấu kinh tế từ sản xuất nông nghiệp là chủ yếu sang thương mại, dịch vụ và xây dựng
Để đẩy mạnh CNH, HĐH, ĐTH cần phải thực hiện việc thu hồi đất cho
xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, các công trình công cộng phục vụ lợi ích quốc gia.Việc thu hồi đất nông nghiệp cho xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, các công trình công cộng dẫn đến đất dành cho sản xuất nông nghiệp của người dân
bị thu hẹp, phải thay đổi điều kiện sống
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện thu hồi đất nông nghiệp chuyển đổi sang đất phi nông nghiệp đã phát sinh nhiều vấn đề bức xúc trong đời sống nhân dân và phần nào ảnh hưởng tới tình hình xã hội ở nhiều địa phương, đặc biệt vấn
đề giải quyết việc làm cho người nông dân có đất nông nghiệp bị thu hồi
Thời gian qua, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách và được các địa phương nỗ lực vận dụng để giải quyết các vấn đề bồi thường, hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề và ổn định đời sống cho người dân có đất bị thu hồi Tuy nhiên,
tình trạng thiếu việc làm, thất nghiệp và không chuyển đổi được nghề nghiệp, khó
khăn trong cuộc sống sinh hoạt của bộ phận dân cư bị thu hồi đất nông nghiệp vẫn đang là vấn đề bức xúc trong xã hội
Quận Hà Đông là một trọng điểm phát triển kinh tế, xã hội phía Nam thành phố Hà Nội, trong thời gian gần đây diện tích đất nông nghiệp của quận nhanh chóng bị thu hẹp nhường chỗ cho các khu đô thị, trong khi lao động nông nghiệp còn chiếm tỷ lệ lớn thì vấn đề đảm bảo điều kiện sống và việc làm cho nông dân trở nên gay gắt và bức xúc
Xuất phát từ yêu câu cấp thiết của thực tế trên, chúng tôi thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu ảnh hưởng của việc chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp đến thu nhập và việc làm của người nông dân tại quận Hà Đông, TP Hà Nội”
Trang 11Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 2
2 Mục đích nghiên cứu
- Đánh giá ảnh hưởng của việc chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp đến việc làm và đời sống của người nông dân trên địa bàn quận Hà Đông, thành phố Hà Nội
- Đề xuất các giải pháp khắc phục những bất cập của chính sách hỗ trợ đào tạo nghề giải quyết việc làm, tăng thu nhập trước mắt và lâu dài cho nông dân có đất nông nghiệp bị thu hồi trên địa bàn quận Hà Đông
3 Yêu cầu của đề tài
- Tập trung làm rõ việc thu hồi đất nông nghiệp phục vụ cho các dự án xây dựng khu đô thị, hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật, đến tình trạng việc làm, đời sống của nông dân có đất bị thu hồi tại quận Hà Đông, thành phố Hà Nội
- Đề xuất các giải pháp giải quyết việc làm, tăng thu nhập, ổn định đời sống cho nông dân bị thu hồi đất phù hợp với thực tế cụ thể tại quận Hà Đông
và có tính khả thi cao
Trang 12Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở lý luận của việc thu hồi đất nông nghiệp và ảnh hưởng đến việc làm, đời sống của người dân
1.1.1 Khái niệm về thu hồi đất, bồi thường hỗ trợ, việc làm và sinh kế
- Chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp có thể hiểu là chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ phục vụ cho hoạt động sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối, sang mục đích phi nông nghiệp (làm đất ở; đất chuyên dùng; đất tôn giáo, tín ngưỡng; đất nghĩa trang, nghĩa địa; )
- Khoản 11, Điều 3, Luật Đất đai (2013) nêu rõ “thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được trao quyền sử dụng đất, hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai”
- Khoản 12, Điều 3, Luật Đất đai (2013) nêu rõ “bồi thường về đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất thu hồi cho người
sử dụng đất”
- Khoản 14, Điều 3, Luật Đất đai (2013) nêu rõ “hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trợ giúp cho người có đất thu hồi để ổn định đời sống, sản xuất và phát triển”
- Khoản 19, Điều 3, Luật Đất đai (2013) nêu rõ “giá đất là giá trị của quyền sử dụng đất tính trên một đơn vị diện tích đất”
- Thu nhập có thể hiểu là cơ hội tiêu dùng và tiết kiệm mà một đối tượng
có trong một khoảng thời gian cụ thể Với đối tượng là hộ gia đình, cá nhân thì thu nhập là tổng của lương, tiền công, lợi nhuận, tiền lãi, địa tô và những lợi tức khác mà họ có được trong một khoảng thời gian nhất định
- Điều 9, Bộ luật Lao động (2012) nêu rõ “việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm”
- Nguyễn Thị Thuận An (2012) nêu khái niệm về sinh kế có thể miêu tả như là một tập hợp của các nguồn lực và khả năng của con người có thể kết hợp được với những quyết định và những hoạt động mà họ sẽ thực hiện để không những kiếm sống mà còn đạt đến mục tiêu và ước nguyện (tham vọng) của họ
Trang 13Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 4
Xuất phát những khái niệm trên ta có thể thấy sinh kế là dùng để chỉ kế sinh nhai hay phương cách kiếm sống của một hộ dân hay một cộng đồng, mà ở đây đối tượng sẽ là cộng đồng nông dân bị thu hồi đất do phát triển công nghiệp
và đô thị
Kế sinh nhai và thu nhập của người dân được gọi là bền vững khi con người với khả năng của mình có thể đối phó, phục hồi lại được sinh kế của mình sau các áp lực và những tổn thương (từ các cú sốc, từ các khuynh hướng và từ thay đổi của kỳ vụ) và đồng thời có thể duy trì hoặc thậm chí nâng cao khả năng nguồn lực con người và thiên nhiên
1.1.2 Sự cần thiết phải chuyển đổi đất nông nghiệp sang phi nông nghiệp trong quá trình phát triển ở nước ta
Thực tiễn phát triển của nhiều quốc gia trong những năm gần đây cho thấy, CNH, HĐH, ĐTH là nhân tố quyết định làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất, chuyển nền kinh tế từ sản xuất nông nghiệp truyền thống, tiểu nông sang phương thức sản xuất mới, hiện đại, do đó cũng làm thay đổi nội dung kinh tế - xã hội nông thôn Trong nền kinh tế hiện đại, CNH - HĐH có sự gắn bó chặt chẽ với nhau, tạo thành một tiến trình thống nhất thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội (Phạm Thị Thủy, 2014)
Trong quá trình CNH - HĐH, tiến trình phát triển xã hội đã có sự thay đổi
cơ bản đó là: phát triển đô thị kèm theo sự thu hẹp xã hội nông thôn, làm thay đổi căn bản xã hội nông thôn theo hướng công nghiệp Hiện tượng ĐTH được coi là một trong những nét đặc trưng nhất của sự biến đổi xã hội trong thời đại ngày nay Cùng với quá trình CNH, HĐH thì ĐTH được coi như một khía cạnh quan trọng của sự vận động đi lên của xã hội ĐTH là một quá trình lịch sử trong đó nổi lên một vấn đề kinh tế - xã hội là nâng cao vai trò của đô thị trong sự phát triển mọi mặt của xã hội Quá trình này bao gồm sự thay đổi trong phân bố lực lượng sản xuất, trước hết là trong sự phân bố dân cư, trong kết cấu nghề nghiệp - xã hội, kết cấu dân số, trong lối sống, văn hoá
Đối với nước ta, từ một nền kinh tế nông nghiệp truyền thống muốn trở thành nước có nền công nghiệp hiện đại, thì phải đẩy mạnh CNH - HĐH đất
Trang 14Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 5
nước, đó là con đường để sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao đời sống, vật chất và tinh thần của nhân dân Cũng như ở các quốc gia khác, CNH - HĐH ở nước ta tất yếu kéo theo quá trình đô thị hoá Tốc độ CNH càng nhanh thì trình độ ĐTH càng cao Đô thị hoá là quan hệ hệ quả tất yếu của CNH - HĐH Đô thị hoá và sự hình thành các đô thị hiện đại là một trong những chỉ tiêu cơ bản phản ánh trình độ hiện đại hoá Về thực chất, CNH - HĐH là quá trình cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng phát triển mạnh khu vực công nghiệp, dịch vụ, giảm mạnh lao động nông nghiệp Như vậy, phần lớn lao động nông thôn làm nông nghiệp sẽ phải chuyển sang làm phi nông nghiệp, dân sống ở nông thôn trở thành dân thành thị
Đến nay, tuy mức độ CNH - HĐH ở Việt Nam đã và đang được đẩy mạnh, nhưng so với thế giới thì Việt Nam vẫn ở mức thấp Do đó, Việt Nam phải đẩy mạnh hơn nữa quá trình CNH - HĐH, như là một yêu cầu khách quan và cấp bách của sự phát triển Trên thực tế, đối với nước ta quá trình CNH - HĐH đang diễn ra với quy mô lớn và tốc độ nhanh, góp phần quan trọng phát triển các cơ sở sản xuất, kinh doanh và dịch vụ nhất là doanh nghiệp ngoài quốc doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các trung tâm thương mại và dịch vụ là yếu tố quan trọng duy trì tăng trưởng kinh tế ở mức cao, tạo việc làm ở các khu vực chính với chất lượng công việc và giá trị lao động ngày càng cao
Việc chuyển đổi đất nông nghiệp sang phi nông nghiệp mà chủ yếu là thu hồi đất để xây dựng các KCN, khu đô thị, kết cấu hạ tầng kinh tế - kỹ thuật ở nước ta được tiến hành mạnh mẽ từ khi thực hiện đường lối đổi mới, chuyển nền kinh tế từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Quá trình này được thúc đẩy nhanh hơn từ những năm 1990, khi nền kinh
tế nước ta bước vào giai đoạn đẩy mạnh CNH - HĐH Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã xác định rõ: “Đẩy mạnh CNH - HĐH, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ,… tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công
nghiệp theo hướng hiện đại” (Văn kiện Đại hội đại biểu toán quốc lần thứ IX, 2011)
Việc thu hồi đất nông nghiệp ở nước ta trong khoảng 20 năm gần đây là
sự chuyển đổi mục đích sử dụng của các loại đất Nhờ đó đã xây dựng được
Trang 15Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 6
nhiều KCN, các cụm công nghiệp, mở rộng và xây dựng mới các khu đô thị, hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội giao thông, cấp điện, cấp thoát nước, thông tin liên lạc, trường học, bệnh viên,… hoàn thiện và phát triển các cơ sở dịch vụ như khách sạn, nhà hàng, siêu thị, trung tâm thương mại, trung tâm dịch vụ, du lịch; mở rộng và xây dựng mới các khu vui chơi giải trí, công viên, cây xanh,… chính điều đó làm cho quá trình CNH - HĐH có bước tiến đáng kể, quá trình đô thị
hoá diễn ra mạnh mẽ hơn (Nguyễn Đạo Huy, 2013)
Như vậy, trong quá trình CNH, HĐH, ĐTH tất yếu phải chuyển đổi mục đích sử dụng đất, tại Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng diện tích đất
chuyển đổi lớn nhất là đất sản xuất nông nghiệp
1.1.3 Sự cần thiết phải giải quyết việc làm cho người dân có đất sản xuất nông nghiệp bị chuyển đổi
a Đối với xã hội
Trong thời đại CNH, HĐH hiện nay, quốc gia nào cũng muốn thoát khỏi tình trạng kinh tế nông nghiệp lạc hậu để chuyển sang nền kinh tế công nghiệp, nhằm có được tăng năng suất, đời sống của con người được nâng cao, từ đó mới
có thể đưa được nền kinh tế của xã hội phát triển Sự chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế tác động không nhỏ đến sự chuyển dịch cơ cấu lao động Khi đất nước ngày càng áp dụng nhiều công nghệ khoa học kỹ thuật mới nhằm tạo ra các hoạt động sản xuất mới, máy móc thay thế cho lao động, khi đó tình trạng thất nghiệp
sẽ xảy ra Việc tạo việc làm là một yếu tố cần thiết nhằm giảm tình trạng thất nghiệp, giúp giảm gánh nặng cho xã hội trong việc ổn định cuộc sống cho người lao động Đồng thời, tạo việc làm còn giúp cho chất lượng cuộc sống của người dân được nâng cao, hạn chế được những vấn đề tiêu cực do những người lao động dư thừa trong xã hội gây nên, đồng thời góp phần xóa đói giảm nghèo và giúp giải quyết được các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội
b Đối với người nông dân có đất nông nghiệp bị chuyển đổi
Tạo việc làm cho người nông dân bị thu hồi đất chính là biện pháp cải thiện giúp người nông dân sớm ổn định được đời sống cũng như góp phần nâng cao thu nhập cho bản thân và gia đình của nông dân Khi đó, ý thức của người
Trang 16Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 7
nông dân trong việc nâng cao trình độ, nhận thức tăng lên, biết đầu tư nhiều hơn vào đào tạo cho tầng lớp con em họ Đồng thời, điều này cũng giúp giảm sự phân hóa giàu nghèo giữa các tầng lớp trong xã hội
Hiện nay, nước ta đang ngày càng phát triển, rất cần đến sự đóng góp không nhỏ của lực lượng lao động Vì vậy, việc tạo việc làm cho nông dân bị thu hồi đất là rất cần thiết Đối với một đất nước thuần nông như nước ta nếu người dân bị thu hồi đất canh tác, trở nên thất nghiệp, sự phát triển kinh tế có thế bị chững lại, mọi bước đi đều trở nên chông chênh Nhà nước cần tạo ra các chính sách giáo dục đào tạo, đặc biệt hướng vào đối tượng thành niên, bởi đây chính là lực lượng nòng cốt, là xương sống để phát triển nền kinh tế hiện nay Nếu đẩy mạnh quá trình CNH, HĐH, ĐTH mà không gắn liền với quyền lợi và việc làm của người nông dân bị thu hồi đất thì sẽ tạo ra sự mất ổn định trong xã hội, làm chậm tiến trình CNH Việc đưa lao động dư thừa sau khi bị thu hồi đất, sử dụng đúng chỗ, đúng sách giúp chúng ta có thể tăng năng suất sản xuất, tạo sự đi lên
về kinh tế
Tạo việc làm cho người dân bị chuyển đổi đất nông nghiệp là một nhân tố quan trọng cho sự phát triển kinh tế của đất nước Sự phát triển này phụ thuộc vào nhiều nhân tố như tài nguyên, vốn, lao động, công nghệ,… Hiện nay, chúng
ta đang có nhiều dự án phát triển, dẫn đến việc tồn tại một lượng lớn người lao động sau khi chuyển đổi đất đất không có việc làm Việc để không một lực lượng lớn lao động không sử dụng dẫn đến gây lãng phí lớn cho xã hội, nhất là một đất nước có mức dân số vàng và đang trên đà phát triển như Việt Nam Chính vì vậy tạo việc làm cho người nông dân bị thu hồi đất là hoạt động đóng vai trò hết sức quan trọng
1.1.4 Các chính sách thu hồi, bồi thường đất nông nghiệp và tạo việc làm cải thiện đời sống cho người có đất nông nghiệp bị thu hồi
Qua nghiên cứu cách chính sách thu hồi đất nông nghiệp ở nước ta cho thấy các quy định của pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp ngày càng phù hợp hơn với yêu cầu thực tế cũng như yêu cầu của các quy luật kinh tế Các chính sách được thể hiện qua các giai đoạn của quá trình áp dụng LĐĐ, cụ thể như sau:
Trang 17Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 8
a Trước khi có Luật đất đai 1993:
Ngày 14/4/1959, Thủ tướng chính phủ đã ban hành Nghị định 151/TTg quy định thể lệ tạm thời về trưng dụng ruộng đất Thông tư 1792/TTg ngày 11/01/1970 của Thủ tướng Chính phủ quy định một số điểm tạm thời về bồi thường thiệt hại nhà cửa, đất đai, cây cối hoa màu cho nhân dân ở những vùng xây dựng kinh tế, mở rộng thành phố trên nguyên tắc “Phải đảm bảo thoả đáng quyền lợi kinh tế của hợp tác xã và của nhân dân”
Trong giai đoạn từ năm 1980 đến năm 1993 nhà nước chỉ mới có một số quy định về đền bù chứ chưa quy định về chính sách thu hồi đất, do đó nhà nước không bồi thường thiệt hại khi thu hồi đất Nguyên nhân là khi đó đất đai chỉ được xem là tài nguyên có giá trị sử dụng, mặt khác do nền kinh tế có nhiều khó khăn nên nhu cầu thu hồi đất cũng không lớn Các quy định cụ thể là:
Thi hành Hiến pháp năm 1980, Luật Đất đai được Quốc hội thông qua ngày 29/2/1987 quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước giao đất cho các đối tượng có nhu cầu để sử dụng ổn định lâu dài, có thời hạn hoặc tạm thời theo quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất được duyệt Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giao đất nào thì có quyền thu hồi đất đó
Ngày 31/5/1990, Hội đồng Bộ trưởng ban hành quyết định số 186/HĐBT
về việc đền bù đất nông nghiệp, đất có rừng khi bị chuyển mục đích sử dụng vào mục đích khác thì phải đền bù UBND các tỉnh, thành phố quy định cụ thể mức bồi thường thiệt hại của địa phương mình sát với giá đất thực tế ở địa phương nhưng không thấp hơn hoặc cao hơn khung giá định mức Tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất nông nghiệp, đất có rừng để sử dụng vào mục đích khác thì phải bồi thường về đất nông nghiệp, đất có rừng cho Nhà nước
b Sau khi có Luật Đất đai 1993 đến nay:
Điều 23, Hiến pháp (1992) quy định “đất đai thuộc sở hữu toàn dân và Nhà nước giao đất, cho thuê đất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định, trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của cá nhân hoặc
tổ chức theo thời giá thị trường”
Trang 18Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 9
Giai đoạn này việc thu hồi và bồi thường thiệt hại khi nhà nước thu hồi đất
đã có điều chỉnh so với giai đoạn trước trên cơ sở thực hiện LĐĐ năm 1993 xác lập quyền sử dụng đất của hộ dân Chính phủ ban hành Nghị định 90/CP ngày 17/8/1994 của Chính phủ quy định về việc bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất sử dụng vào mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng thay thế tất cả các văn bản, chính sách trước đây của Nhà nước về bồi thường giải phóng mặt bằng
Nhìn chung việc bồi thường đất nông nghiệp trong giai đoạn này có sự thay đổi cơ bản về chủ thể đối với quyền sử dụng đất, nhưng vì giá bồi thường thiệt hại
đất nông nghiệp còn thấp (mới đảm bảo đủ chi phí cho việc khai hoang xây dựng đồng ruộng) chưa phù hợp với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất Việc thu hồi
đất để thực thi các dự án đầu tư còn gặp nhiều khó khăn Nội dung của Nghị định 90/CP còn rất sơ sài, chưa gắn với cơ chế thị trường
Ngày 24/4/1998 Chính phủ ban hành Nghị định số 22/1998/NĐ-CP về việc bồi thường thiệt hại khi nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích thu hồi đất để sử dụng vào mục đích an ninh quốc phòng, lợi ích quốc gia và lợi ích công cộng để thay thế cho Nghị định số 90/1994/NĐ - CP Nghị định gồm 6 chương 40 điều quy định rõ phạm vi, đối tượng được bồi thường thiệt hại; Nguyên tắc, giá đất đền bù, chính sách hỗ trợ, Đây là các văn bản quy định việc thu hồi và đền bù khi nhà nước thu hồi đất rất rõ ràng, đầy đủ nhất từ trước đến năm 1998 ở nước ta
Tuy vậy, việc quy định giá đất để đền bù còn hạn chế ở cách tính hệ số K cho từng dự án để nhân với giá đất chung Chính phủ quy định Việc tính hệ số K ở mỗi dự án, mỗi địa phương rất phức tạp về cách tính toán và thủ tục hành chính, việc thực thi đền bù đất bị kéo dài, trong khi giá cả thị trường về quyền sử dụng đất luôn biến động nên nảy sinh nhiều mâu thuẫn trong nhân dân
Trên cơ sở LĐĐ sửa đổi ngày 26/11/2003, Chính phủ ban hành Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi đất gồm 7 chương, 51 điều
Nghị định 197/2004 và Nghị định 22/1998 có bố cục về cơ bản thống nhất
Trang 19Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 10
với nhau, nhưng Nghị định 197 đã khắc phục được những tồn tại trong Nghị định
22, trong đó quy định "giá đất để tính bồi thường là giá đất theo mục đích đang
sử dụng" do UBND tỉnh quy định
Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27 tháng 01 năm 2006 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai Điểm mới là quy định trường hợp tại thời điểm có quyết định thu hồi đất mà giá đất chưa sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường thì UBND cấp tỉnh quyết định giá đất cụ thể cho phù hợp
Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai
Khắc phục những bất cập trong hỗ trợ và ổn định đời sống, sản xuất cho người dân bị thu hồi đất nông nghiệp, mới đây Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009 của Chính phủ, quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ tái định cư là một trong những chính sách được người dân mong mỏi, đón chờ nhất Mức giá bồi thường và chính sách hỗ trợ cho người bị thu hồi đất theo nghị định này cao hơn so với các quy định trước đây
Gần đây nhất Quốc hội đã thông qua Luật Đất đai 2013 ngày 29 tháng 11 năm 2013 với nhiều điểm mới Luật xác định rõ và quy định cụ thể những trường hợp mà Nhà nước phải thu hồi đất (như Hiến pháp vừa mới được thông qua) nhằm khắc phục, loại bỏ những trường hợp thu hồi đất làm ảnh hưởng đến quyền
và lợi ích của người sử dụng đất đồng thời khắc phục một cách có hiệu quả những trường hợp thu hồi đất mà không đưa vào sử dụng, gây lãng phí, tạo nên các dư luận xấu trong xã hội Luật quy định cụ thể và đầy đủ từ việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ tái định cư đảm bảo một cách công khai, minh bạch và quyền lợi của người có đất thu hồi; đồng thời khắc phục và điều tiết một cách hài hòa lợi ích giữa Nhà nước là chủ sở hữu về đất đai, người sử dụng đất và nhà đầu tư
Trang 20Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 11
- Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
- Thông tư số 37/2014/TT-BTNMT ngày 30 tháng 6 năm 20114 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thi hồi đất
1.2 Ảnh hưởng của chuyển đổi đất nông nghiệp sang phi nông nghiệp đến thu nhập và việc làm của các hộ nông dân
CNH, HĐH là quá trình tất yếu diễn ra không chỉ đối với nước ta mà còn đối với tất cả các nước trên thế giới, nhất là đối với các nước châu Á Nền kinh tế càng phát triển thì quá trình CNH, HĐH diễn ra ngày càng nhanh CNH, HĐH góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội của khu vực, nâng cao đời sống nhân dân Tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực, quá trình CNH, HĐH cũng phát sinh nhiều vấn đề cần giải quyết như vấn đề thu nhập, việc làm cho nông dân bị thu hồi đất phục vụ cho các dự án xây dựng khu công nghiệp, khu đô thị, trung tâm thương mại,…; phương thức đền bù giải phóng mặt bằng; cách thức di dân; giãn dân… Nếu không có một chiến lược và giải pháp cụ thể, chúng ta sẽ gặp nhiều vướng mắc và lúng túng trong quá trình giải quyết, đôi khi làm nảy sinh những vấn đề ngày càng phức tạp
Như vậy, quá trình chuyển đổi đất nông nghiệp sang phi nông nghiệp trong quá trình CNH, HĐH, ĐTH đã ảnh hưởng đến việc làm và đời sống của các
hộ dân ở một số nội dung:
1.2.1 Ảnh hưởng của chuyển đổi đất nông nghiệp sang phi nông nghiệp đến thu nhập của các nông hộ
a Ảnh hưởng tích cực
Thu nhập thể hiện rõ khả năng kinh tế của hộ gia đình cho sản xuất và sinh hoạt Khi chuyển đổi đất nông nghiệp sang phi nông nghiệp, việc thu hồi đất sản xuất nông nghiệp giúp người dân nhận được tiền bồi thường, hỗ trợ; đây là cơ hội để những người bị thu hồi đất tăng thu nhập của gia đình Nguồn thu nhập
Trang 21Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 12
này đối với hộ nông dân là rất quan trọng, đây là nguồn vốn để nông hộ trang trải, đầu tư cho sản xuất và phát triển kinh tế, xây dựng và sửa chữa nhà ở, mua sắm các phương tiện đi lại phục vụ cho sản xuất và đời sống Thực tế cho thấy, sau khi bị thu hồi đất, vốn tiền mặt tích lũy của hộ nông dân trên địa bàn
quận tăng, thu nhập khác và mức sống của người dân cũng tăng theo
1.2.2 Ảnh hưởng của chuyển đổi đất nông nghiệp sang phi nông nghiệp đến việc làm của các nông hộ
a Ảnh hưởng tích cực
Tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa tất yếu phải chuyển
đổi đất và diện tích đất chuyển đổi chủ yếu là đất sản suất nông nghiệp Việc thu hồi đất để đầu tư hạ tầng, xây dựng các khu đô thị lớn tạo sự chuyển đổi giữa các loại đất với nhau; do đó làm thay đổi cơ cấu các loại đất trong vùng, trong đó diện tích đất nông nghiệp giảm mạnh, diện tích đất đô thị và đất giao thông tăng cao Đây là cơ hội thuận lợi để các doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất, thương mại, người nông dân có cơ hội chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang dịch vụ - công nghiệp, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong vùng, đáp ứng các nhu cầu về đời sống, văn hóa xã hội của người dân trong vùng, nâng cao mức sống, trình độ dân trí của người dân
Trên thực tế hiện nay cho thấy quá trình giảm dần quỹ đất canh tác do CNH, HĐH và ĐTH đã kéo theo một bộ phận lao động nông nghiệp chuyển
Trang 22Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 13
sang hoạt động phi nông nghiệp, qua đó số lao động công nghiệp và lao động trong các ngành thương mại, dịch vụ tăng lên Đây là một xu hướng tốt rất phù hợp với đường lối của Đảng và Nhà nước ta (Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IX) nêu rõ “Đưa GDP năm 2010 lên ít nhất gấp đôi năm
2000 Trong đó tỷ trọng GDP của nông nghiệp chiếm 16 - 17%, công nghiệp chiếm 40 - 41% Tỷ lệ lao động nông nghiệp còn khoảng 50%” Như vậy quá trình CNH, HĐH đã có tác động tích cực đến sản xuất hộ nông dân (Nguyễn Đạo Huy, 2013)
b Ảnh hưởng tiêu cực
Quá trình CNH, HĐH và đô thị hóa đã lấy đi một phần đất nông nghiệp để xây dựng cơ sở hạ tầng nhằm mục đích phát triển kinh tế, đem lại hiệu quả kinh
tế cao cho xã hội Đó là lợi ích chung mà cả xã hội được hưởng Tuy nhiên, khi
cả xã hội được hưởng lợi ích do quá trình chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp, thì một bộ phận nông dân lại bị thiệt thòi do quá trình đó gây
ra Đó là những người nông dân trực tiếp bị thu hồi đất nông nghiệp cho việc xây dựng các khu công nghiệp và đô thị Những người này sẽ phải thay đổi việc làm của họ Vì vậy họ sẽ gặp không ít khó khăn trong việc chuyển đổi nghề nghiệp và tìm kiếm việc làm Chính sách của Nhà nước phải bù đắp cho họ đỡ bị thiệt thòi Những năm qua, công tác đền bù và giải phóng mặt bằng tuy vẫn đảm bảo thực hiện, song nó vẫn luôn là vấn đề nóng bỏng ở tất cả các địa phương (Nguyễn Đạo Huy, 2013)
Quá trình ĐTH nhanh đã làm cho nhu cầu về sử dụng đất chuyên dùng xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng và đất đô thị tăng lên rất nhanh Điều này dẫn đến tình trạng sụt giảm mạnh hoặc mất hết những diện tích đất sản xuất nông nghiệp Đồng thời sự suy giảm diện tích đất sản xuất nông nghiệp đã ảnh hưởng không nhỏ tới việc cải thiện mức sống của một bộ phận người dân không có khả năng chuyển đổi nghề nghiệp, họ trở nên thiếu phương tiện lao động và kế sinh nhai truyền thống; đất đai bị khai thác nhiều mà không được quan tâm đến việc tái tạo, phục hồi, bảo
vệ chất lượng đất nông nghiệp
Trang 23Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 14
1.2.3 Ảnh hưởng của chuyển đổi đất nông nghiệp sang phi nông nghiệp đến đời sống của hộ nông dân
a Ảnh hưởng tích cực
CNH, HĐH và ĐTH sẽ tạo điều kiện cho người lao động chuyển đổi cơ cấu việc làm, từ thuần nông thu nhập thấp sang việc làm mới ổn định và có thu nhập cao hơn trước
Mặt khác khi CNH, HĐH và ĐTH được xây dựng sẽ giải quyết một lượng lao động vào làm việc tại khu công nghiệp với mức thu nhập cao hơn và ổn định hơn Ngoài ra khi thực hiện giải phóng mặt bằng phục vụ CNH, HĐH và ĐTH các
hộ nông dân sẽ có một khoản tiền lớn từ việc đền bù đất đai Đây sẽ là một khoản thu nhập rất lớn đối với những hộ nông dân Số tiền này sẽ lại càng trở nên ý nghĩa hơn với những hộ biết sử dụng đồng vốn một cách có hiệu quả
Quá trình CNH, HĐH đã tạo điều kiện cho phát triển kinh tế và hệ thống
hạ tầng kỹ thuật vùng nông thôn Nhìn chung khi địa phương nào có khu công nghiệp và khu chế xuất hay những đô thị mới thì ở đó sẽ có một hệ thống đường giao thông rất tốt Cơ sở hạ tầng phát triển, hệ thống đường, điện, trường học, bệnh viện,… được đầu tư hiện đại Tuy nhiên không phải nó không có những tác động xấu tới cơ sở vật chất kỹ thuật và môi trường sống
b Ảnh hưởng tiêu cực
Việc chuyển đất nông nghiệp sang xây dựng các khu công nghiệp cũng gây ra không ít khó khăn cho những hộ trực tiếp bị thu hồi đất sản xuất Cuộc sống từ bao đời nay của họ vẫn gắn liền với công việc đồng áng Nay bắt họ rời
xa nó, chuyển sang một lĩnh vực hoạt động sản xuất khác quả thực là một thách thức đối với những hộ thuần nông Như ở trên đã nói, khi có khu công nghiệp hay đô thị mới thì sẽ có một số lao động được tuyển vào làm việc trong các nhà máy, công ty nhưng để được vào làm việc ở đó người lao động phải qua đào tạo, phải có trình độ chuyên môn kỹ thuật thích ứng với những công việc mới Nếu chỉ là lao động phổ thông đơn thuần thì thu nhập thấp, thậm chí không đủ đảm bảo cuộc sống
Tuy một số hạng mục công trình đã được đầu tư, song đã xuống cấp nhanh
Trang 24Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 15
chóng Đặc biệt là các công trình thuỷ lợi, công trình điện Nguyên nhân là do sau khi đầu tư xong lại không có sự bảo dưỡng thường xuyên, không có kế hoạch khai thác tiết kiệm và triệt để
Ngoài ra khi tiến hành xây dựng cơ sở hạ tầng mới đã ảnh hưởng xấu tới những công trình cũ thậm chí còn phá hỏng các công trình cũ Về mặt môi trường, khu công nghiệp đã gây ra những hậu quả rất đáng lo ngại cho môi trường đặc biệt là môi trường nước và không khí Trước hết là ô nhiễm nước thải gồm nước thải công nghiệp, nước thải bệnh viện, nước thải sinh hoạt… đây là những chất thải rất có hại cho sức khỏe con người Nếu không được xử lý tốt đây sẽ
là nguồn gây bệnh rất đáng lo ngại Ô nhiễm môi trường không khí chủ yếu do các khí CO2, SO2, …gây ra
1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến lao động, đời sống, việc làm
a Các yếu tố ảnh hưởng đến lao động
Lao động , trong kinh tế học, được hiểu là một yếu tố sản xuất do con người tạo ra và là một dịch vụ hay hàng hóa Người có nhu cầu về hàng hóa này là người sản xuất Còn người cung cấp hàng hóa này là người lao động Cũng như mọi
hàng hóa và dịch vụ khác, lao động được trao đổi trên thị trường, gọi là thị trường lao động Giá cả của lao động là tiền công thực tế mà người sản xuất trả cho người
lao động Mức tiền công chính là mức giá của lao động (Nguyễn Văn Nam , 2005) Nguyễn Đạo Huy (2013) đưa ra những yếu tố tác động lên lao động :
- Thị trường lao động: Thị trường lao động cũng có tính thời vụ, nhất là thị trường lao động nông nghiệp, có lúc cầu nhiều, cung ít và ngược lại, dẫn đến giá cả thuê khác nhau trong quan hệ cung cầu đó Dẫn đến hình thành nhiều thị trường lao động tùy theo trình độ tay nghề và các điều kiện, yếu tố khác
- Trình độ lao động: Hoạt động sản xuất nông nghiệp gồm những người
thuộc nhiều lứa tuổi có trình độ rất chênh lệnh và khả năng tổ chức sản xuất kém, thực tế ngay cả những người trong độ tuổi lao động thì trình độ vẫn thấp hơn so với lao động trong các nghành kinh tế khác Do trình độ thấp nên việc tổ chức quản lý sản xuất kém hơn và năng suất lao động trong nông nghiệp thấp hơn so với năng suất lao động trong các ngành kinh tế khác
Trang 25Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 16
Trình độ lao động nông nghiệp thấp hơn một phần là do ưu đãi của tự nhiên với những quy luật sinh học gán cho sản xuất nông nghiệp, người sản xuất nông nghiệp có thể không cần chăm sóc hoặc ít quan tâm đến cây trồng, vật nuôi
mà vẫn có sản phẩm thu hoạch Từ đó tạo ra trạng thái trì trệ không chịu vận động, không sáng tạo của lao động nông nghiệp nông thôn Nếu so sánh với lao động trong công nghiệp thì có sự khác nhau rõ nét về tính chất công việc và trình
độ cần có của lao động Đối với sản xuất công nghiệp, lao động phải hoạt động một cách liên tục mới có được sản phẩm cuối cùng hoàn chỉnh mà sản phẩm công nghiệp lại luôn biến đổi về mẫu mã và chất lượng nên lao động trong công nghiệp phải luôn vận động, sáng tạo trong công việc để có những sản phẩm mới, chất lượng cao hơn (Nguyễn Đạo Huy, 2013)
Như vậy, phương thức sản xuất nông nghiệp quyết định trình độ của lao động nông nghiệp là thấp hơn trình độ lao động thuộc các khu vực kinh tế khác
Dễ dàng thấy rằng trong quá trình phát triển của xã hội, nền kinh tế nói chung và nền nông nghiệp nói riêng, trình độ lao động nông nghiệp ngày càng được nâng cao do nhu cầu của con người về sản phẩm nông nghiệp, do tiến bộ trong khoa học, công nghệ Những yếu tố đó có tác động mạnh mẽ đến sản xuất nông nghiệp Bên cạnh đó sự phát triển của các ngành, các lĩnh vực kinh tế khác có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của sản xuất nông nghiệp, nó đòi hỏi trrình
độ lao động nông nghiệp nông thôn phải nâng cao hơn để thích ứng Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường hiện nay sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá với quy mô lớn Sản phẩm nông nghiệp sản xuất ra phải được trao đổi, mua bán trên thị trường thì trình độ của lao động trong nông nghiệp phải đạt ở một mức độ nhất định mới có thể tổ chức sản xuất một cách có hiệu quả, nếu không sẽ bị loại khỏi khu vực sản xuất và trở thành lao động dư thừa trong khu vực nông nghiệp, nông thôn Tuy nhiên lao động dư thừa còn do nhiều yếu tố khác tác động như: tính thời vụ trong sản xuất nông nghiệp
b Các yếu tố ảnh hưởng tới việc làm
- Tình hình kinh tế - xã hội: Tình hình kinh tế - xã hội phát triển, kinh tế thịnh vượng, kéo theo sự phát triển của các doanh nghiệp và đã tạo nhiều cơ hội
Trang 26Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 17
việc làm cho người lao động Sự suy thoái kinh tế, nhiều doanh nghiệp phải giảm, tạm dừng sản xuất kinh doanh hoặc phá sản, kéo theo hàng vạn lao động thất nghiệp, không có cơ hội tìm kiếm việc làm
- Chính sách lao động và việc làm trong xã hội: Đây là một trong những chính sách cơ bản của mỗi quốc gia nhằm góp phần đảm bảo an toàn, ổn định
và phát triển xã hội chính sách việc làm còn bao gồm các giải pháp trợ giúp cho các loại đối tượng đặc biệt (người tàn tật, đối tượng tệ nạn xã hội, người hồi hương ) có cơ hội và điều kiện được làm việc
Cũng như các chính sách xã hội khác, chính sách việc làm rất đa dạng và phong phú, có thể phân loại như: các chính sách ở tầng vĩ mô, có mục đích mở rộng và phát triển việc làm cho lao động toàn xã hội bao gồm chính sách tín dụng, chính sách đất đai, chính sách thuế, chính sách lựa chọn công nghệ sử dụng nhiều lao động; các chính sách khuyến khích phát triển những lĩnh vực, ngành nghề có khả năng thu hút được nhiều lao động như chính sách phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, chính sách phát triển khu vực kinh tế phi hình thức, chính sách di dân phát triển vùng kinh tế mới, chính sách tự do di chuyển lao động và hành nghề, chính sách đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài… chính sách việc làm cho các đối tượng đặc biệt (người tàn tật, đối tượng tệ nạn xã hội) (Nguyễn Hữu Đoàn và Nguyễn Đình Hương, 2002)
Mặt khác, trong quá trình chuyển sang cơ chế thị trường, tình trạng thất nghiệp là điều khó tránh Để hạn chế thất nghiệp một mặt phải tạo ra chỗ làm mới, mặt khác phải tránh cho người lao động đang làm việc lâm vào tình trạng thất nghiệp Ngoài ra phải có hệ thống bảo hiểm cho người lao động khi họ bị thất nghiệp Thực hiện tốt các chính sách việc làm, nguồn lao động được sử dụng có hiệu quả thì hiện tượng thất nghiệp sẽ giảm đi, sẽ giảm được chi phí cho các trợ cấp thất nghiệp Ngược lại, khi chính sách việc làm chưa được giải quyết tốt, nhất là vào thời kỳ kinh tế suy thoái, nạn thất nghiệp sẽ tăng lên và các tệ nạn xã hội sẽ dễ dàng phát sinh Khi đó gánh nặng của chính sách về bảo đảm xã hội, an ninh xã hội sẽ tăng lên Đặc biệt nếu giải quyết không tốt chính sách việc làm còn có thể gây bất ổn về chính trị xã hội (Tìm việc cho nông dân mất đất, 2005)
Trang 27Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 18
- Thị trường lao động: Thị trường lao động là một bộ phận của hệ thống
thị trường, trong đó diễn ra quá trình trao đổi giữa một bên là người lao động
tự do và một bên là người có nhu cầu sử dụng lao động Sự trao đổi này được thoả thuận trên cơ sở mối quan hệ lao động như tiền lương, tiền công, điều kiện làm việc thông qua một hợp đồng làm việc bằng văn bản hay bằng miệng (Nguyễn Thị Hải Vân, 2005)
Điều kiện tự nhiên và cơ sở hạ tầng: Đất đai cùng tài nguyên sinh vật trên đất vừa là đối tượng vừa là tư liệu sản xuất đặc biệt của con người tác động vào
nó tạo ra của cải vật chất phục vụ cho nhu cầu phát triển của xã hội Diện tích đất canh tác, mặt nước càng lớn tài nguyên nông lâm sản càng phong phú thì khả năng tạo việc làm càng nhiều
- Cơ sở hạ tầng kỹ thuật bao gồm hệ thống đường giao thông, thuỷ lợi, điện, thông tin liên lạc cũng là yếu tố gián tiếp góp phần tạo việc làm và nâng cao hiệu quả việc làm Việc phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở các cộng đồng dân cư sẽ tạo khả năng thu hút nhiều lao động trực tiếp và gián tiếp tạo môi trường phát triển việc làm trong từng cộng đồng (Nguyễn Thị Hải Vân, 2005)
- Dân số - nguồn lao động: Dân số và việc làm vừa có quan hệ tương hỗ, vừa hạn chế lẫn nhau Quy mô dân số lớn, dân số tăng nhanh tất yếu sẽ làm tăng nguồn lao động và đồng nghĩa với tăng sức ép về giải quyết việc làm với mỗi thành viên và cộng đồng gây ra tình trạng thất nghiệp trong xã hội Mặt khác, lao động là nguồn lực rất cơ bản để phát triển kinh tế Khi kinh tế phát triển thì khả năng tạo việc làm trong xã hội càng nhiều Giải quyết mối quan hệ dân số và việc làm là vấn đề nan giải của mỗi quốc gia Chính phủ phải luôn đối phó với xu hướng gia tăng số lượng lao động với quy mô lớn hơn tốc độ gia tăng số chỗ việc làm không kém phần quan trọng là phải nâng cao chất lượng nguồn lao động - một yếu tố tác động trực tiếp đến khả năng giải quyết việc làm trong xã hội (Đinh Thị Như Trang, 2012)
- Trình độ lao động: Người lao động chủ quan trong việc đầu tư đạo tạo nghề, thiếu đào tạo hoặc không được đào tạo cơ bản; trình độ văn hoá thấp, nhận thức hiểu biết về khoa học kỹ thuật không cao, chưa có kinh nghiêm trong tổ
Trang 28Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 19
chức và sản xuất (Nguyễn Đạo Huy, 2013)
- Sức khỏe của người lao động: Đây là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng lao động và ảnh hưởng đến việc làm của người lao động (Nguyễn Đạo Huy, 2013)
c Các yếu tố ảnh hưởng đến đời sống
Thu nhập của một cá nhân hay hộ gia đình quy ra tiền trong một khoảng thời gian nhất định là số tiền chi cho tiêu dùng cộng với sự thay đổi giá trị của tài sản tính bằng tiền trong khoảng thời gian đó Thu nhập bằng tiền là luồng tiền mà một cá nhân hay gia đình nhận được từ mọi nguồn như lương, lợi nhuận doanh nghiệp, lợi tức từ vốn tài chính như tiền lãi, lãi cổ phần, chuyển giao, vv
Có liên quan đến sự phát triển và thỏa mãn nhu cầu của xã hội nói chung
và nhu cầu của con người nói riêng Chất lượng của cuộc sống bao gồm không chỉ về thu nhập, sự giàu có và việc làm, mà còn là môi trường xã hội, môi trường sống, sức khỏe (về thể chất và tinh thần), giáo dục, giải trí và cuộc sống riêng tư
1.3 Thực tiễn giải quyết việc làm, ổn định đời sống cho người dân có đất nông nghiệp bị thu hồi
1.3.1 Thực tiễn giải quyết việc làm cho người dân khi bị thu hồi đất của các nước trên thế giới
a Thực tiễn giải quyết việc làm cho người dân khi bị thu hồi đất ở Trung Quốc
Nguyễn Đạo Huy (2013) chỉ ra rằng trong thời kỳ đầu cải cách và mở cửa, xây dựng nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, tốc độ đô thị hoá của Trung Quốc diễn ra rất nhanh chóng Diện tích đất canh tác ngày càng bị thu hẹp do tác động của quá trình đô thị hoá, trong khi dân số tăng nhanh làm cho tỷ lệ thất nghiệp ở các vùng nông thôn ngày càng tăng Trong những năm 1990, Trung Quốc có khoảng từ 100 - 120 triệu lao động nông thôn thiếu việc làm, hàng năm con số này lại tăng thêm từ 6 - 7 triệu người
Với lực lượng lao động nông thôn dư thừa này, hàng năm có đến hàng triệu người nhập cư vào các vùng thành thị Thực trạng này cũng gây ra rất nhiều
Trang 29Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 20
khó khăn cho công tác quản lý đô thị về các mặt như quản lý dân cư, lao động việc làm, an ninh, sức khoẻ, kế hoạch hoá gia đình, giáo dục và rất nhiều các vấn
đề xã hội khác Để giải quyết vấn đề lao động, việc làm trong quá trình ĐTH, Trung Quốc đã tập trung thực hiện một số biện pháp sau:
- Phát triển các xí nghiệp địa phương để thu hút lao động
- Xây dựng các đô thị vừa và nhỏ để giảm bớt lao động nhập cư vào các thành phố
Tuy nhiên, có nhiều quan điểm khác nhau về sự phát triển của các đô thị nhỏ, một số người cho rằng, việc phát triển đô thị nhỏ mang lại những khó khăn nhiều hơn mang lại thuận lợi, nhưng ngược lại số khác lại coi việc phát triển những đô thị nhỏ là một giải pháp cho việc thu hút lao động nông nghiệp dư thừa
Chính phủ Trung Quốc chủ trương tạo điều kiện để hình thành hơn 19.000
đô thị nhỏ Trong những năm 1990, các đô thị nhỏ đã thu hút trên 30 triệu lao động nông nghiệp dư thừa, chiếm hơn 30% tổng số lao động nông thôn dư thừa Tuy nhiên, khả năng thu hút lao động dư thừa hiện nay của mỗi đô thị nhỏ ở Trung Quốc chỉ là 1.600 người Nếu số đô thị nhỏ được tăng lên gấp đôi thì sẽ thu hút được thêm 30 triệu lao động (Nguyễn Đạo Huy, 2013)
Trung Quốc chủ trương thúc đẩy sự phát triển của các ngành công nghiệp địa phương, đẩy nhanh quá trình hình thành các đô thị nhỏ ở các vùng nông thôn Chính sách này đã góp phần thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa thành thị và nông thôn, tạo ra điều kiện quan trọng cho việc giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình đô thị hoá Ngoài ra Trung Quốc chủ trương tạo ra một mô hình phát triển đô thị mới Nội dung của mô hình này là xây dựng các đô thị giữa các thành phố có quy
mô lớn và vừa như thành phố Hạ Môn, Quảng Châu, Thượng Hải, Bắc Kinh,
b Thực tiễn giải quyết việc làm cho người dân khi bị thu hồi đất ở Đài Loan
Quá trình công nghiệp hoá của Đài loan khởi đầu từ khu vực nông thôn Chính quyền Đài Loan đã dành ưu tiên hàng đầu về vốn đầu tư, cơ chế, chính sách cho nông nghiệp, nông thôn Trong những năm 1950, 2/3 viện trợ từ Mỹ được dành cho phát triển kết cấu hạ tầng và nông nghiệp, chỉ 1/5 cho công nghiệp Vào những năm 1950, do đất đai hạn chế cộng với số dân di cư từ Đại
Trang 30Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 21
lục sang dẫn đến nguy cơ thất nghiệp lớn ở nông thôn, nhưng nhờ công nghiệp nông thôn phát triển nên đã thu hút được nhiều lao động Lao động nông nghiệp
từ chỗ chiếm trên 50% những năm 1950 đã giảm xuống còn 14,2% năm 1988 Lao động được chuyển sang hoạt động phi nông nghiệp đã không gây ra tình trạng di dân số lượng lớn từ nông thôn vào thành thị mà họ có thể làm việc ngay tại các nhà máy ở vùng lân cận (Nguyễn Đạo Huy, 2013) Có thể khái quát những kinh nghiệm của Đài Loan trong việc giải quyết việc làm khu vực nông thôn trong quá trình ĐTH như sau:
- Nông nghiệp được ưu tiên phát triển làm cơ sở để phát triển công nghiệp nông thôn, trước hết là công nghiệp chế biến nông sản
- Chú trọng phát triển doanh nghiệp nông thôn quy mô vừa và nhỏ, lấy công nghệ sử dụng nhiều lao động là chính
- Công nghiệp nông thôn phát triển không tập trung nhưng vẫn có liên kết với nhau và liên kết với các công ty lớn ở đô thị
- Chính quyền có chính sách khuyến khích đầu tư xây dựng công nghiệp nông thôn, phát triển kết cấu hạ tầng và nguồn nhân lực ở nông htôn
- Chính quyền có kế hoạch và chính sách phát triển nông nghiệp gắn với quy hoạch phát triển các cơ sở nông- công nghiệp sẽ được bố trí ở nông thôn, với vùng nguyên liệu và các nhà máy chế tạo máy nông nghiệp
- Tạo môi trường chính sách vĩ mô thuận lợi cho công nghiệp hoá nông thôn thông qua các chính sách về lãi suất, tiền lương, tỷ giá, khuyến khích sản xuất nông sản, trợ giá đầu vào cho chế biến thức ăn gia súc và chăn nuôi,… Từ
đó khuyến khích chuyển lao động sang hoạt động phi nông nghiệp
- Chú trọng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nhằm nâng cao khả năng
sử dụng công nghệ
- Chính quyền tăng cường đầu tư kết cấu hạ tầng nông thôn nhằm khuyến khích phát triển kinh tế nông thôn
c Thực tiễn giải quyết việc làm cho người dân khi bị thu hồi đất ở Nhật Bản
Quá trình công nghiệp hoá ở Nhật Bản cũng bắt đầu bằng thời gian dài tăng trưởng trong nông nghiệp Việc chú trọng phát triển công nghiệp thu hút
Trang 31Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 22
nhiều lao động trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá đã cơ bản giải quyết được vấn để việc làm cho lao động nông nghiệp, mặc dù diện tích đất canh tác ngày càng giảm Sau khi công nghệ hiện đại thu hút nhiều vốn đã phát triển, các công nghệ thu hút lao động vẫn được coi trọng Ngoài ra Nhật Bản còn phân
bố các ngành công nghiệp, các nhà máy về nông thôn để tạo việc làm phi nông nghiệp cho lao động nông thôn
Chính phủ Nhật bản đã thành lập mạng thông tin việc làm trên khắp đất nước với mục đích cung cấp đầy đủ các thông tin về việc làm từ các tổ chức, doanh nghiệp qua Internet đến với những người đang tìm việc, giúp họ có những
sự lựa chọn phù hợp với năng lực, điều kiện của mình Chính phủ cũng bồi thường những công nhân có tay nghề cao qua việc hỗ trợ tài chính, tạo cơ hội phát triển năng lực, nâng cao chất lượng các tổ chức giáo dục đào tạo trên cơ sở nhu cầu của mỗi vùng, phát triển nguồn nhân lực và kỹ thuật kết nối thông tin trong những khu vực mới hoặc đang phát triển (Nguyễn Đạo Huy, 2013)
Hoạt động giải quyết việc làm cho người cao tuổi được chú trọng để xoá bỏ những bất cân đối về việc làm do tuổi tác Luật về ổn định việc làm của người lao động cao tuổi nhấn mạnh yêu cầu các công ty kéo dài tuổi về hưu bắt buộc và thuê mướn lại những người cao tuổi có năng lực, kinh nghiệm tại các công ty hiện đại hoặc từ các công ty chi nhánh Nhiều chính sách được đưa ra như các chính sách về đào tạo lại, nâng cao tay nghề cho lao động trung niên Các loại hình tuyển dụng và thuê mướn được đa dạng hoá, coi trọng các công việc làm thêm không chính thức như làm bán thời gian, tạm thời hoặc bất thường Chế độ tuyển dụng thay đổi theo khu vực, không tập trung chủ yếu tại các đô thị lớn như trước kia mà chuyển sang các khu vực lân cận và các địa phương (Nguyễn Đạo Huy, 2013)
Trong những năm 1960, 1970, các lĩnh vực như phúc lợi y tế, công nghệ tin học và môi trường đang giữ một vai trò quan trọng then chốt trong việc mở ra những thị trường mới ở Nhật Bản Đồng thời, các ngành công nghiệp mới và các dịch vụ liên quan được khuyến khích phát triển Việc phát triển khoa học và công
Trang 32Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 23
nghệ địa phương được đẩy mạnh thông qua việc tận dụng đặc thù mỗi vùng Chính phủ Nhật Bản đã có những bước đi thích hợp nhằm ổn định chính thị trường lao động ở tầm vĩ mô, nhưng để có thể tham gia được vào thị trường lao động thì bản thân mỗi người lao động cũng phải tự phát triển năng lực nghề nghiệp của mình thông qua việc tự đào tạo lại; các công ty, tổ chức cũng phải ủng hộ điều này một cách tích cực (Nguyễn Đạo Huy, 2013)
1.3.2 Thực tiễn giải quyết việc làm cho người dân khi bị thu hồi đất nông nghiệp ở Việt Nam
a Thực tiễn giải quyết việc làm cho người dân khi bị thu hồi đất nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai
Nguyễn Dũng Anh (2014) cho rằng Đồng Nai là một trong số ít địa phương có quá trình CNH, ĐTH diễn ra nhanh nhất của nước ta Đồng thời với
sự phát triển đó, vấn đề thu hồi đất sản xuất nông nghiệp cũng diễn ra tương tự Đến năm 2008, Đồng Nai đã thu hồi hơn 150.000 ha đất các loại để phát triển các công trình công nghiệp, dịch vụ, đô thị và cũng có hơn 100.000 lao động nông nghiệp bị ảnh hưởng bởi quá trình này Để giải quyết việc làm cho người lao động nông nghiệp bị thu hồi đất, lãnh đạo tỉnh Đồng Nai đã có nhiều biện pháp rất tích cực, vừa nhanh chóng ổn định đời sống của người dân tái định cư, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho những lao động bị thu hồi đất nhanh chóng ổn định việc làm Và đến nay, vấn đề giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất ở địa phương này có những thành công nhất định Thể hiện ở một số mặt như sau: Thứ nhất, tập trung các nguồn lực để có thể nhanh chóng ổn định đời sống của người dân trong diện di dời, thu hồi đất cho phát triển CNH, ĐTH Việc tập trung ổn định chốn ăn ở và việc làm cho người trong diện di dời, giải tỏa, thu hồi đất để phát triển công nghiệp, đô thị là ưu tiên hàng đầu của của lãnh đạo tỉnh trong việc tiến hành quy hoạch và xét duyệt triển khai các dự án Vào những năm trước năm 2000, vấn đề này tuy có được đặt ra, song do nhiều nguyên nhân, nên
sự quan tâm chưa đúng mức, làm cho nhiều lao động trong diện thu hồi đất phải rất gay go trong vấn đề tìm kế sinh nhai ở các khu tái định cư mới Nhưng từ sau
Trang 33Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 24
năm 2000, với các nguồn lực tỉnh có được đủ đền bù thỏa đáng cho người dân, cùng với ý thức của người dân được nâng lên, cuộc sống và việc làm của đại bộ phận lao động này nhanh chóng được ổn định, thu nhập và đời sống của nhiều hộ dân có khá hơn trước
Thứ hai, ưu tiên giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất Đây là ưu tiên được tỉnh cam kết mạnh mẽ đối với những lao động này Thực tế cho thấy, nếu những lao động nào quyết tâm học nghề để chuyển đổi nghề thì tỉnh đều có hướng dẫn cụ thể, nhất là đối với những lao động trên 35 tuổi Dù đây
là lứa tuổi rất khó tìm kiếm việc làm ở các nhà máy, các khu công nghiệp (KCN),… Nhưng nhờ sự quan tâm của chính quyền các cấp và việc tích cực học nghề của người lao động nên đã có hàng chục ngàn lao động chuyển đổi thành công nghề, trở thành những công nhân thực thụ của môi trường công nghiệp và dịch vụ
Thứ ba, thường xuyên hướng dẫn các cách thức, biện pháp tạo ra việc làm cho người lao động, để bản thân họ có thể tự tạo việc làm cho mình và cho người khác Đối với những lao động lớn tuổi hoặc những lao động không thích làm việc
ở các nhà máy, xí nghiệp, chỉ thích tự do tìm kiếm những việc làm phù hợp như
mở các cơ sở kinh doanh, dịch vụ, hoặc mở các quán ăn,… Chính quyền các cấp đều tích cực hỗ trợ từ cho vay vốn ưu đãi, tư vấn sản xuất, kinh doanh, cho đến hướng dẫn các cách thức làm ăn sao cho vừa bảo toàn vốn, vừa có lãi để tiếp tục phát triển sản xuất kinh doanh Nhờ vậy, đã có hàng ngàn lao động sau khi thu hồi đã thành công trong môi trường làm ăn mới, trong đó nhiều người đã tích lũy vốn đầu tư phát triển những doanh nghiệp sử dụng hàng trăm lao động
Thứ tư, kêu gọi và khuyến khích các doanh nghiệp ưu tiên tuyển dụng lao động bị thu hồi đất cho phát triển công nghiệp, đô thị Các doanh nghiệp tích cực
và chủ động tạo điều kiện cho người lao động tham gia học nghề ở doanh nghiệp mình, sau đó tuyển dụng vào làm việc Nhiều doanh nghiệp đã đến tận phường,
xã tuyển lao động hoặc đã thông qua công nhân đang làm việc tại doanh nghiệp
Trang 34Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 25
Các chính sách ưu đãi trong tuyển dụng có nhiều điểm mới có lợi cho người lao động như: Hỗ trợ ăn, ở, đi lại; nâng mức lương khởi điểm; đào tạo nghề miễn phí Ngoài ra, họa động thường xuyên theo định kỳ hàng tháng của sàn giao dịch việc làm tỉnh cũng đã tạo cơ hội gặp gỡ giữa nhà doanh nghiệp và người lao động, giúp cho doanh nghiệp và người lao động dễ dàng gặp nhau trong quá trình tìm kiếm và giải quyết việc làm
b Thực tiễn giải quyết việc làm cho người dân khi bị thu hồi đất nông nghiệp ở tỉnh Thái Bình
Nguyễn Dũng Anh (2014) cho rằng Thái Bình là tỉnh thuần nông có tính điển hình của nông thôn Việt Nam, và cũng là một trông những vựa lúa của khu vực đồng bằng Bắc bộ Dù là một tỉnh có tốc độ CNH, ĐTH diễn ra không nhanh như Hải Dương, Vĩnh Phúc, Hải Phòng,… nhưng cùng với sự phát triển, quá trình CNH, ĐTH đã làm cho diện tích đất nông nghiệp của tỉnh ngày càng bị thu hẹp, ảnh hưởng nhiều đến thu nhập và việc làm của lao động nông nghiệp, nông thôn Để giải quyết tình trạng thiếu việc làm do quá trình CNH, ĐTH diễn ra nhanh, lãnh đạo các cấp chính quyền của tỉnh đã ban hành nhiều biện pháp, chính sách thiết thực nhằm hỗ trợ những lao động thuần nông bị thu hồi đất có thể tiếp tục có việc làm ổn định cuộc sống
Cũng như nhiều địa phương khác, lao động không có thay nghề buộc phải học nghề thì mới có thể tìm kiếm được việc làm nhưng việc học nghề chỉ lựa chọn những lao động dưới 35 tuổi, số lao động còn lại không thể tiếp tục học nghề vì các doanh nghiệp không tuyển dụng, nên phải tự bươn chải băng cách đi làm thuê, đi buôn bán hàng rong, hoặc đi đến các thành phố lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh,… để làm các nghề phổ thông khác Những công việc không ổn định như thế có nguồn thu nhập thấp và không ổn định, ảnh hưởng đến đời sống và phát triển của bản thân và gia đình họ Có thể thấy một số biện pháp tích cực, đó là: Thứ nhất, đẩy mạnh phát triển các ngành nghề truyền thống để thu hút lao động dôi dư từ nông nghiệp Để người nông dân có thể tìm kiếm việc làm để mưu sinh, nhất là đối với lao động lớn tuổi, vốn là lao động trụ cột gia đình,
Trang 35Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 26
chính quyền các cấp của tỉnh đã có nhiều biện pháp vận động, hỗ trợ tạo điều kiện cho lao động bị thu hồi đất tham gia các hoạt động kinh tế kiếm sống, nhằm giúp họ tiếp tục ổn định cuộc sống Cùng với việc tích cực vận động số lao động trẻ tuổi học nghề để chuyển đổi nghề, việc tập trung phát triển các ngành nghề truyền thống, các ngành nghề thủ công phi nông nghiệp cũng được các địa phương tích cực thực hiện Thứ hai, chủ động xây dựng các phương án đào tạo nghề để mở rộng công tác đào tạo, chuyển đổi nghề cho người lao động, tạo điều kiện cho lao động sau khi bị thu hồi đất có thể tiếp cận các việc làm mới
Thực tế ở Thái Bình cho thấy, việc chủ động xây dựng các phương án đào tạo nghề cho người lao động từ sớm (trước khi thu hồi đất) đã giúp địa phương chủ động trong việc tìm kiếm các cách thức mở rộng đào tạo nghề, tạo thuận lợi cho lao động nông nghiệp trong vùng dự án học nghề, giúp họ tìm kiếm việc làm sau khi bị thu hồi đất thuận lợi hơn
Thứ ba, đa dạng hóa và lồng ghép các chương trình, dự án hỗ trợ giải quyết việc làm Để giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất một cách hiệu quả, việc lồng ghép các chương trình, dự án hỗ trợ việc làm sẽ tạo thuận lợi cho lao động bị thu hồi đất có nhiều cơ hội, điều kiện tiếp cận và có việc làm
Thứ tư, thường xuyên tổ chức, vận động người lao động tìm kiếm các biện pháp tự tạo việc làm Biện pháp này vừa giảm áp lực giải quyết việc làm đối với chính quyền địa phương, vừa khắc phục tư tưởng ỷ lại của người lao động trong việc tìm kiếm việc làm mới
c Thực tiễn giải quyết việc làm cho người dân khi bị thu hồi đất nông nghiệp ở tỉnh Vĩnh Phúc
Vĩnh Phúc là tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ và là một trong những địa phương có tốc độ CNH, ĐTH nhanh chóng Theo tính toán sơ bộ, từ năm 1997 đến năm 2007 Vĩnh Phúc đã thu hồi gần 5.000 ha đất, trong đó đất nông nghiệp chiếm tới 70% để thực hiện 619 dự án phát triển các KCN, KĐT mới Việc thu hồi đất nông nghiệp đã làm ảnh hưởng đến khoảng 80.000 lao động, trong đó 1/3 chưa được giải quyết việc làm ổn định Tuy nhiên, Vĩnh Phúc được xem là tỉnh đạt được nhiều kết quả trong tạo việc làm cho người lao động,
Trang 36Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 27
đặc biệt là lao động thuộc diện thu hồi đất nông nghiệp (Nguyễn Dũng Anh, 2014) Qua nghiên cứu về thực trạng tạo việc làm cho người lao động nông nghiệp sau khi thu hồi đất ở tỉnh này, có thể rút ra các bài học kinh nghiệm như:
Thứ nhất, đào tạo nghề cho người lao động sau thu hồi đất nông nghiệp
Để chuyển đổi việc làm cho lao động nông nghiệp sau khi thu hồi đất, tỉnh Vĩnh Phúc đã rất chú trọng công tác đào tạo nghề Trong đề án dạy nghề cho lao động nông thôn có ghi rõ “Cùng với sự phát triển của các KCN, khu du lịch và KĐT tập trung, diện tích đất canh tác bị thu hẹp dần dẫn đến một bộ phận lao động nông nghiệp cần được chuyển sang khu vực phi nông nghiệp Các lao động này cần được đào tạo nghề” Với nhiều hình thức đào tạo bao gồm cả đào tạo ngắn hạn ở các trung tâm, doanh nghiệp và đào tạo tài hạn ở các trường dạy nghề từ năm 2001 – 2005 cả tỉnh đào tạo được 9.000 lao động/năm được đào tạo tại các doanh nghiệp Vào thời điểm đó toàn tỉnh đã có 27 cơ sở dạy nghề, trong đó có
06 trường và 10 trung tâm dạy nghề, 08 trường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, 02 trung tâm dịch vụ việc làm, 01 trung tâm hướng nghiệp có dạy nghề (Nguyễn Dũng Anh, 2014)
Thứ hai, tỉnh yêu cầu các doanh nghiệp có dự án đầu tư phải bố trí cho lao động thuộc diện thu hồi đất nông nghiệp vào làm việc trong các doanh nghiệp
Để thu hút các dự án đầu tư, nhiều tỉnh đã trải thảm đỏ, tạo mọi điều kiện cho các doanh nghiệp về vị trí, cơ sở hạ tầng, giải phóng mặt bằng,… mà không có yêu cầu gì từ phía các doanh nghiệp Tuy nhiên, cũng có nhiều tỉnh yêu cầu các doanh nghiệp có dự án đầu tư trên địa bàn phải tuyển dụng lao động địa phương vào làm việc trong các doanh nghiệp như Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh, Hà Nội, Đà Nẵng,… So với các tỉnh khác thì Vĩnh Phúc là tỉnh được đánh giá thực hiện có hiệu quả chủ trương này, không những tạo được việc làm nâng cao thu nhập cho người lao động mà còn làm thay đổi diện mạo của chính địa phương đó (Nguyễn Dũng Anh, 2014)
Thứ ba, xuất khẩu lao động được xem là một trong những giải pháp quan trọng để giải quyết việc làm cho người lao động nói chung và người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp nói riêng Xuất khẩu lao động từ lâu được tỉnh Vĩnh
Trang 37Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 28
Phúc xem là một trong những giải pháp quan trọng để tạo việc làm cho người lao động Để thúc đẩy hoạt động XKLĐ, tỉnh Vĩnh Phúc đã ban hành Quyết định số 4118/QĐ-UBND về các quy định khuyến khích XKLĐ như hỗ trợ kinh phí cho người lao động học nghềm ngoại ngữ để đi lao động có thời hạn ở nước ngoài là 350.000 đồng/người Riêng đối với lao động thuộc diện thu hồi đất thì được hỗ trợ 1.000.000 đồng/người Cùng với sự hỗ trợ về vật chất, tỉnh còn cung cấp các thông tin tư vấn cho người lao động về việc làm, điều kiện tiền lương, điều kiện đảm bảo hợp đồng ở nước ngoài,… để người lao động lựa chọn Từ năm 2001 –
2006 toàn tỉnh đã có 8.157 lao động đi làm việc nước ngoài và gửi về nước 31,3 triệu USD (khoảng 500 tỷ đồng Việt Nam) (Nguyễn Dũng Anh, 2014)
Thứ tư, tạo việc làm cho lao động lớn tuổi thông qua phát triển dịch vụ ngay trong khu công nghiệp, khu chế xuất, khu đô thị mới Khi bị thu hồi đất, mất việc làm truyền thống thì đối tượng chịu ảnh hưởng nhiều nhất là những lao động đã lớn tuổi hoặc có sức khỏe yếu Vì vậy, tỉnh Vĩnh Phúc đã có chính sách dành một phần đất trong các dự án hoặc gần với dự án để phát triển dịch
vụ phục vụ công nghiệp, tạo việc làm cho những hộ có diện tích đất bị thu hồi
từ 40% trở lên (Nguyễn Dũng Anh, 2014)
d Thực tiễn giải quyết việc làm cho người dân khi bị thu hồi đất nông nghiệp ở Hà Nội
Theo báo cáo của UBND TP.Hà Nội, các cơ chế chính sách của Trung ương và thành phố Hà Nội về hỗ trợ học nghề, tạo việc làm cho người dân nông nghiệp bị thu hồi đất chưa đồng bộ và hiệu quả, dẫn tới nguy cơ về mất việc làm, thất nghiệp rất lớn Một bộ phận hộ gia đình nông dân sau khi bị thu hồi đất trên 30% đã trở thành hộ nghèo Chính sách bồi thường, hỗ trợ mới quan tâm đến thiệt hại vật chất và được chi trả trực tiếp cho người dân, khiến người dân sử dụng khoản tiền này chưa hợp lý, ít quan tâm đến học nghề, chuyển đổi nghề và việc làm để đảm bảo ổn định cuộc sống khi Nhà nước thu hồi đất Hà Nội đã đưa
ra các giải pháp thực hiện chủ trương chuyển đổi cơ cấu kinh tế đi liền với chuyển đổi cơ cấu lao động, tạo việc làm, tăng thu nhập, phát triển nông thôn, ổn định đời sống cho nhân dân vùng thu hồi đất (Đàm Huy Phường, 1995)
Trang 38Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 29
Giải pháp đầu tiên được đưa ra là việc thành lập Quỹ Hỗ trợ ổn định đời sống, phổ cập giáo dục, học nghề và việc làm cho các hộ dân bị thu hồi trên 30% đất sản xuất nông nghiệp được giao theo Nghị định 64/CP.Theo đó, ngân sách TP cấp ban đầu là 50 tỉ đồng; trích 50% nguồn kinh phí hỗ trợ của các nhà đầu tư cho TP khi được giao đất; kêu gọi, vận động đóng góp của chủ đầu tư được giao đất sản xuất kinh doanh, dịch vụ TP hỗ trợ trong 3 năm tiền học phí và tiền đóng góp cơ sở vật chất trường học cho học sinh ở độ tuổi phổ cập phổ thông ;
hỗ trợ 100% kinh phí bảo hiểm y tế cho người trên 60 tuổi đối với nam và 55 tuổi với nữ; trợ cấp khó khăn cho người già, cô đơn có hoàn cảnh đặc biệt, mức tương đương 30kg gạo/người/tháng Ngoài ra, TP sẽ hỗ trợ học nghề một lần kinh phí đào tạo một nghề cho người trong độ tuổi lao động, có nhu cầu học nghề bằng hình thức cấp thẻ học nghề, nhưng không chi trực tiếp cho người học, với mức tối đa không quá 6 triệu đồng/thẻ (Nguyễn Đạo Huy, 2013)
Các giải pháp còn lại được UBND TP thực hiện là: Xây dựng, ban hành quy chế ưu tiên đấu thầu kinh doanh dịch vụ tại các khu đô thị, KCN dịch vụ mới hình thành; xã hội hoá các hoạt động dịch vụ tại các khu đô thị và KCN khi xây dựng trên diện tích đất nông nghiệp chuyển đổi mục đích sử dụng cho người dân
có đất nông nghiệp bị thu hồi được tham gia kinh doanh, ưu tiên cho lao động trong các hộ bị thu hồi trên 30% đất sản xuất nông nghiệp được giao; có cơ chế
về đầu tư xây dựng hạ tầng nông thôn tại các khu vực thu hồi nhiều đất nông nghiệp (trên 30%) để tạo điều kiện kinh doanh dịch vụ, phục vụ các khu công nghiệp, đô thị, giải quyết việc làm tại chỗ, đồng thời đảm bảo sự gắn kết hạ tầng của khu đô thị và công nghiệp hiện đại với vùng dân cư cũ (thôn, xã, tổ dân phố, phường) (Nguyễn Đạo Huy, 2013)
Trang 39Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 30
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các hộ nông dân chịu ảnh hưởng của việc chuyển đổi đất nông nghiệp sang phi nông nghiệp tại quận Hà Đông, thành phố Hà Nội
- Phạm vi nghiên cứu: quận Hà Đông, thành phố Hà Nội giai đoạn 2005 – 2014
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội của quận Hà Đông
- Đặc điểm tự nhiên
- Đặc điểm kinh tế - xã hội
2.2.2 Thực trạng chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp tại quận Hà Đông giai đoạn 2005-2014
- Diện tích đất chuyển đổi
- Thực trạng thu hồi đất
nông nghiệp đến việc làm và đời sống của người nông dân bị thu hồi đất
- Các tiêu chí dùng để đánh giá ảnh hưởng đến thu nhập, đời sống gồm:
thu nhập bình quân của hộ, thu nhập bình quân đầu người trước và sau chuyển đổi; tình hình sử dụng tiền bồi thường của hộ; sự thay đổi về mức thu nhập của các nhóm hộ; tình hình tiếp cận cơ sở hạ tầng và phúc lợi xã hội
- Các tiêu chí dùng để đánh giá ảnh hưởng đến việc làm gồm: Sự thay đổi
về diện tích đất nông nghiệp; số lao động có việc làm, không có việc làm và tình trạng việc làm trước và sau khi chuyển đổi
- Hiệu quả và những bất cập của các chính sách hỗ trợ đào tạo nghề giải quyết việc làm, tạo việc làm và tăng thu nhập cho người có đất nông nghiệp bị thu hồi
Trang 40Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 31
2.2.4 Đề xuất các giải pháp giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho nông dân có đất nông nghiệp bị thu hồi trên địa bàn quận Hà Đông
- Các giải pháp trước mắt nhằm khắc phục những khó khăn, hạn chế trong tạo việc làm và thu nhập của nông hộ sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp;
- Các giải pháp lâu dài nhằm khác phục những bất cập của chính sách hỗ trợ đào tạo nghề giải quyết việc làm
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp chọn điểm và hộ nghiên cứu
a Chọn điểm nghiên cứu
Việc lựa chọn điểm nghiên cứu có ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu quá trình chuyển đổi đất nông nghiệp sang xây dựng khu đô thị tới việc làm của hộ nông dân sau khi bàn giao đất Do vậy, để đạt được mục tiêu nghiên cứu tôi tiến hành chọn điểm nghiên cứu dựa trên thời điểm chuyển đổi đất nông nghiệp, diện tích đất nông nghiệp chuyển đổi mạnh mẽ nhất Chủ yếu tập trung vào nhóm thu hồi đất nông nghiệp xong và đã bàn giao cho các dự án xây dựng khu đô thị, trung tâm thương mại hoặc phục vụ mục đích công công Địa bàn nghiên cứu được chọn là 03 phường Văn Quán, Phú Lãm, Hà Cầu Đây là những phường mà trong khoảng 10 năm gần đây có tốc độ chuyển dịch đất nông nghiệp sang phát triển đô thị mạnh và có số hộ bị tác động bởi việc chuyển đổi đất nông nghiệp sang phi nông nghiệp chịu ảnh hưởng rõ ràng nhất
b Chọn hộ nghiên cứu
- Chọn hộ nghiên cứu: Để thuận tiện cho quá trình điều tra nghiên cứu, căn cứ vào quy mô dân số và diện tích của 03 phường điều tra tôi tiến hành điều tra 90 hộ dân Số hộ dân điều tra được phân bổ cho các phường như sau:
Phường Văn Quán: 30 hộ
Phường Phú Lãm: 30 hộ
Phường Hà Cầu: 30 hộ
2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu
a Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
- Thu thập số liệu từ các báo cáo kinh tế xã hội của quận; báo cáo và tài liệu