Quá trình trưởng thành nàycũng chính là quá trình xã hội hoá cá nhân con người, quá trình hình thành nhâncách, tạo lập nhiều mối quan hệ tốt đẹp, ổn định, lâu bền theo các loại hình gia
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Hôn nhân gia đình và trẻ em gắn bó với nhau, luôn luôn đóng một vai trò quantrọng và có ý nghĩa chiến lược trong quá trình phát triển của các quốc gia Khi đứatrẻ cất tiếng khóc chào đời, báo hiệu thêm một con người trên trái đất, thêm một vịtrí trên bản đồ xã hội, báo hiệu một quan hệ thiêng liêng nhất trong một giáo dục:quan hệ “mẫu tử” Đó cũng là kết quả ban đầu của hôn nhân, hình thành một giađình đầy đủ Lúc này, “chồng - vợ và con”, là những thành viên cốt lõi của một giađình hai thế hệ - nói như P.H Chambart de Lauwe rất đúng rằng: “Chồng - vợ vàcon - đó là ba người, ba diễn viên, phân tích trong đó cuộc sống riêng có cả cuộcsống của toàn xã hội” [1,34]
Đứa trẻ sinh ra, lớn lên và trưởng thành từ trong gia đình, hưởng thụ, kế thừa
và sau đó tham gia vào quá trình sáng tạo không ngừng Quá trình trưởng thành nàycũng chính là quá trình xã hội hoá cá nhân con người, quá trình hình thành nhâncách, tạo lập nhiều mối quan hệ tốt đẹp, ổn định, lâu bền theo các loại hình gia đìnhtruyền thống hoặc gia đình hiện đại trong mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau của sựphát triển xã hội Quá trình này cũng tạo lập nên nhiều mô hình, nhiều khuôn mẫugia đình, từ mô hình hôn nhân đến mô hình nuôi dạy con cái Nhiều câu hỏi đượcđặt ra trong các cuộc sống gia đình, từ gia đình nghèo khó đến gia đình giàu sang, từgia đình viên chức đến gia đình buôn bán, từ gia đình đầy đủ đến gia đình có khuyếttật Gia đình đã trở thành một biểu tượng văn hoá, chính trị trong nhiều quốc gia.Năm 1992, gia đình chính thức được công nhận như một trong các thang giá trị của
xã hội Mỹ, trong đó vấn đề “thiên chức” của người mẹ đã được đề cao Gia đìnhgắn bó với xã hội thông qua nhiều mối quan hệ, hỗ trợ cho cuộc sống hàng ngày của
xã hội, từ việc tái sản sinh ra con người đến việc nuôi dưỡng, duy trì lực lượng laođộng và các công việc cơ bản khác mà xã hội và cộng đồng giao phó Vì vậy, nếunảy sinh những bối cảnh khủng hoảng, ly hôn, khuôn mẫu gia đình ổn định bị suytàn sẽ tạo nên biết bao những vấn đề phức tạp trong cuộc sống của mỗi con người
Do nhận thấy sự bất ổn từ hậu quả của ly hôn, cũng như những kiến thức tiếpthu được trong quá trình học tập và nghiên cứu chuyên ngành Công tác xã hội, tôi
quyết định tiến hành nghiên cứu đề tài “Thực trạng về trẻ em trong gia đình sau ly
Trang 2hôn tại Hải Phòng (nghiên cứu trường hợp tại huyện An Lão, thành phố Hải Phòng)”.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài này tôi đã nhận được sự hướng dẫn và giúp
đỡ tận tình của thầy giáo, thạc sĩ Nguyễn Văn Thành, giảng viên khoa Tâm lý –Giáo dục học; sự chia sẻ, trợ giúp về mặt kiến thức và kĩ năng của các thầy cô giáokhoa Tâm lý – Giáo dục học; sự hợp tác giúp đỡ của các cán bộ địa phương huyện
An Lão, thành phố Hải Phòng; sự giúp đỡ, cởi mở chia sẻ từ những đối tượng đượckhảo sát, phỏng vấn tại huyện An Lão, thành phố Hải Phòng đã giúp tôi hoàn thành
đề tài này
Trong đề tài này, do hạn chế về kiến thức và điều kiện của bản thân nênkhông tránh khỏi những thiếu sót và sự đào sâu nghiên cứu các vấn đề được đề cậpđến trong đề tài, kính mong nhận được sự đóng góp, nhận xét từ các thầy cô
Hải Phòng, ngày 20 tháng 04 năm 2016
NGƯỜI NGHIÊN CỨU
Đỗ Thành Công
Trang 3MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
MỞ ĐẦU 6
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 6
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 7
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU 8
4 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC 8
5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 8
6 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 9
7 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 9
THỰC TRẠNG VỀ TRẺ EM TRONG CÁC GIA ĐÌNH SAU LY HÔN TẠI THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 11
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRẺ EM 11
TRONG CÁC GIA ĐÌNH SAU LY HÔN 11
1.1 LỊCH SỬ CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 11
1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM 12
1.3 MỘT SỐ LÝ THUYẾT VỀ TRẺ EM TRONG CÁC GIA ĐÌNH SAU LY HÔN 15
1.4 MỘT SỐ QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VỀ GIA ĐÌNH, HÔN NHÂN, BẢO VỆ VÀ CHĂM SÓC, GIÁO DỤC TRẺ EM 23
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỀ TRẺ EM 26
2.1 ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ VĂN HOÁ XÃ HỘI TỪ KHI ĐỔI MỚI ĐẾN NAY 26
2.2 ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH LY HÔN TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY 26
2.3 THỰC TRẠNG CỦA TRẺ EM TRONG CÁC GIA ĐÌNH SAU LY HÔN 31
2.4 MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIẢM THIỂU ẢNH HƯỞNG TIÊU CỰC CỦA LY HÔN ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH CỦA TRẺ 61
2.4.2 NHÓM GIẢI PHÁP TÁC ĐỘNG ĐẾN CÁC GIA ĐÌNH SAU LY HÔN 63
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 64
1 KẾT LUẬN 64
2 KHUYẾN NGHỊ 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Số vụ ly hôn từ 2010 đến 2015 27
Bảng 2.2 Nghề nghiệp của các gia đình ly hôn 29
Bảng 2.3 Số phụ nữ đứng đơn ly hôn qua các năm 2010 - 2012 29
Bảng 2.4 Số vụ ly hôn do bạo lực gia đình 30
Bảng 2.5 Tỷ lệ % các vụ ly hôn do ngoại tình tại Hải Phòng qua các năm 30
Bảng 2.6 Số lượng trẻ em trong các gia đình ly hôn ngày càng tăng 32
Bảng 2.7 Nơi ở của các em sau khi bố mẹ ly hôn 35
Bảng 2.8 Thái độ của các em về cuộc sống hiện tại sau khi bố mẹ ly hôn 36
Bảng 2.9 Tương quan giữa nơi ở của các em và thái độ với cuộc sống sau khi bố mẹ ly hôn 37
Bảng 2.10 Ăn uống của các em 40
Bảng 2.11 Sức khỏe của các em trong gia đình sau ly hôn 42
Bảng 2.12 Việc học tập của các em trong các gia đình sau ly hôn 43
Bảng 2.13 Đánh giá kết quả học tập của các em trong các gia đình sau ly hôn 44
Bảng 2.14 Tương quan giữa người mà trẻ em hiện đang sống cùng với việc đánh giá kết quả học tập của các em 45
Bảng 2.15 Kết quả đánh giá xếp loại hạnh kiểm của các em trong các gia đình sau ly hôn 47
Bảng 2.16 Tương quan giữa người mà trẻ em hiện đang sống cùng với việc đánh giá hạnh kiểm 47
Bảng 2.17 Tâm trạng của các em khi bố mẹ ly hôn 49
Bảng 2.18 Mối quan hệ giữa người nuôi dưỡng các em đối xử với các em sau khi bố mẹ ly hôn 50
Bảng 2.19 Thực trạng vui chơi văn nghệ của các em trong gia đình sau ly hôn 52
Bảng 2.20 Các em tham gia sinh hoạt câu lạc bộ, nhà văn hoá 52
Bảng 2.21 Các em đi xem phim, ca nhạc trong gia đình sau ly hôn 52
Trang 5Bảng 2.22 Thực trạng vui chơi, giải trí của các em trong các gia đình sau ly hôn
53
Bảng 2.23 Công việc trẻ em trong các gia đình sau ly hôn 55
Bảng 2.24 Nguyện vọng của trẻ em trong các gia đình ly hôn 57
Bảng 2.25 Sự quan tâm của Hội phụ nữ 59
Bảng 2.26 Sự quan tâm của Uỷ ban Dân số - Gia đình và Trẻ em 59
Bảng 2.27 Sự quan tâm của chính quyền địa phương 60
Bảng 2.28 Sự quan tâm của nhà trường 60
Bảng 2.29 Sự quan tâm của các tổ chức khác 60
Trang 6DANH MỤC BIỂU ĐỒ BIỂU ĐỒ 2.1 CƠ CẤU THEO TUỔI CỦA CÁC EM TRONG CÁC GIA ĐÌNH SAU
LY HÔN TẠI HẢI PHÒNG 32
Biểu đồ 2.2 Cơ cấu theo giới tính của các em trong các gia đình sau ly hôn tại Hải Phòng 33
Biểu đồ 2.3 Nơi ở của các em 33
Biểu đồ 2.4 Sức khoẻ của các em 34
Biểu đồ 2.5 Nơi ở của trẻ em sau khi bố mẹ ly hôn 35
Biểu đồ 2.6 Thực trạng ăn uống của trẻ em trong các gia đình sau ly hôn 40
Biểu đồ 2.7 Việc học tập của các em trong gia đình sau ly hôn 43
Trang 8MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Ngày nay, cùng với sự đa dạng về chính trị, kinh tế, văn hoá trên thế giới, nhiềuquan niệm khác nhau về hôn nhân, gia đình và nuôi dạy con cái cũng đã xuất hiện Tínhbền vững của gia đình ngày càng giảm, ly hôn ngày càng tăng, tạo nên nhiều hậu quả xấuđối với cá nhân, nhóm và cộng đồng Ly hôn không phải là tạo nên sự tự do đơn giản củahai vợ chồng mà là tạo nên sự nghèo khổ vật chất và tinh thần, và con cái lang thangkhông nơi nương tựa, làm tan vỡ nhiều mối quan hệ xã hội
Những năm gần đây, số lượng các vụ ly hôn ở Việt Nam tăng nhanh Thống kê củangành tòa án cho thấy, nếu năm 2000 chỉ có 51.361 vụ thì năm 2005 đã tăng lên 65.929vụ; đến năm 2010, con số này lên tới 126.325 vụ Người vợ đứng đơn ly hôn gấp hai lần
so với người chồng Số năm sống chung trung bình trước khi ly hôn của các cặp vợchồng là 9,4 năm, riêng ở các khu vực nội thành của các thành phố lớn, chỉ 8 năm
Theo số liệu của ngành tòa án TP.HCM, hiện có khoảng 40% các cuộc kết hôn kếtthúc bằng ly hôn (tăng gấp đôi so với năm 1998) Nếu so sánh thì tỷ lệ này của nước Mỹ
là 49%, cao nhất thế giới Ở các nước phát triển khác cũng khoảng trên 40% Như vậy,tuy thua kém nhiều về thu nhập nhưng Số lượng ly hôn trong các gia đình Việt Nam ởcác đô thị lớn cũng không kém các nước phát triển 60% các vụ ly hôn ở Việt Nam cóyếu tố bạo lực gia đình và trung bình, cứ ba vụ ly hôn thì có một vụ do nguyên nhânngoại tình Trên thực tế, tỷ lệ này hẳn sẽ còn cao hơn, nếu tính tới các trường hợp “khéochùi mép” hoặc tha thứ và hàn gắn
Một cuộc điều tra đã chỉ ra bốn nguyên nhân chủ yếu thường dẫn đến ly hôn là mâuthuẫn về lối sống, ngoại tình, kinh tế và bạo lực gia đình, nhưng nguyên nhân chủ yếu làlối sống và ngoại tình Từ xưa đến nay, đàn ông Việt hầu như không làm những việc vặttrong nhà Nhiều người coi đó là “thiên chức” của phụ nữ Với lý do kiếm tiền, đàn ông
tự cho mình quyền đi suốt ngày, thậm chí cả buổi tối, dồn tất cả việc nhà và chăm concho vợ Họ vẫn đòi “dạy” vợ như ông và bố họ ngày xưa Trong khi đó, công cuộc giảiphóng phụ nữ ở Việt Nam đã đạt được nhiều thành quả đáng kể Ở các thành phố, hầu hếtphụ nữ đi làm ngoài xã hội như chồng, không ít trường hợp có địa vị xã hội và thu nhậpbằng hoặc hơn chồng Khi việc ngoại tình hết đường chối cãi, các ông chồng hứa sửa
Trang 9chữa nhưng chỉ ít lâu sau lại đâu vào đấy và người vợ không tha thứ nữa, họ nộp đơn ratòa.
Theo truyền thống, đa số phụ nữ châu Á yêu và tôn trọng người bạn đời Nhưng,lịch sử đã sang trang, ngày nay họ không còn sống sau tấm mạng che mặt và tự bằng lòngvới sự phụ thuộc vào chồng Theo tính toán của nhà xã hội học Ikeuchi, trung bình sứcchịu đựng hôn nhân bất hạnh của người phụ nữ châu Á ngày nay vào khoảng chín nămtrước khi ly hôn
Một số nghiên cứu đã được công bố, cho rằng ly hôn đã làm thất vọng mọi người,
đã làm xấu đi thực sự các điều kiện sinh hoạt kinh tế và văn hoá và đời sống tinh thần,làm tan vỡ nhiều mối quan hệ truyền thống tốt đẹp Chính R Arons đã cho rằng “ly hôn
là cuộc khủng hoảng của sự biến đổi gia đình gây ra những thay đổi trong hệ thống giađình”(3)
Trong hoàn cảnh của xã hội Việt Nam, cùng với sự tăng lên của các gia đình ly hôn,nhất là ở các đô thị, số lượng trẻ em trong các gia đình ly hôn cũng tăng lên và rơi vàohoàn cảnh cực kỳ khó khăn Trong số tỷ lệ 65% - 70% gia đình ly hôn, có tới hàng nghìntrẻ em chưa đến tuổi trưởng thành đã sống trong hoàn cảnh không có cha, hoặc không có
mẹ, hoặc không có cả cha lẫn mẹ, phải sống với ông, bà, chú, bác nội ngoại, dì ghẻ hoặc
bố dượng Nhiều em rơi vào hoàn cảnh lang thang đường phố để kiếm sống, lao độngsớm, hoặc rơi vào tình trạng nghiện hút, bị lạm dụng tình dục, mất mát những quan hệthiêng liêng như mẹ con, quan hệ huyết thống trong một gia đình truyền thống
Trên thế giới, đã có nhiều nghiên cứu về gia đình và trẻ em trong hoàn cảnh khókhăn Một số nghiên cứu về ảnh hưởng của gia đình ly hôn đến trẻ em đã được công bốtrên thế giới, mặc dù còn nhiều quan điểm và ý kiến khác nhau Tuy nhiên, ở Việt Nam,những nghiên cứu trong vấn đề này chưa được chú ý Vì vậy, dựa trên thực tiễn xã hội, đề
tài “Thực trạng về trẻ em trong các gia đình sau ly hôn tại thành phố Hải Phòng” sẽ góp
phần nhỏ bé trong việc mô tả thực trạng cuộc sống của trẻ em trong các gia đình rơi vàohoàn cảnh ly hôn và vai trò của công tác xã hội trong lĩnh vực này
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Đánh giá thực trạng trẻ em trong các gia đình sau ly hôn
Đưa ra những biện pháp cần thiết để hỗ trợ trẻ em trong các gia đình sau ly hôn
(3) Ahrons, Constance R (1980) “Divorce: A Crisis of family trausitrin and change” Family Relations, 29 October, 533-540 (trích lại từ Tương của gia đình - bản dịch - NXB CTQG, 2002).
Trang 103 ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng về trẻ em trong các gia đình sau ly hôn tại thành phố Hải Phòng
3.2 Khách thể nghiên cứu
Trẻ em trong các gia đình sau ly hôn
Người nuôi dưỡng trẻ em trong các gia đình sau ly hôn
Cán bộ địa phương
4 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
- Gia đình ly hôn tất yếu dẫn đến sự thay đổi cơ cấu gia đình, quan hệ gia đình vàtạo nên sự khủng hoảng toàn diện đến đời sống trẻ em, hạn chế nhiều mặt trong quá trìnhhình thành và phát triển nhân cách của các em
- Gia đình ly hôn ngày càng tăng làm cho trẻ em trong các gia đình ly hôn ngàycàng tăng và trở thành vấn đề xã hội
- Nếu có các biện pháp can thiệp kịp thời đối với trẻ em trong các gia đình sau lyhôn thì sẽ góp phần đảm bảo sự phát triển nhân cách tích cực cho các em ngược lại nếukhông có sự quan tâm can thiệp kịp thời thì các em sẽ sa vào tệ nạn xã hội và trở thànhgánh nặng cho xã hội
5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
5.1 Nghiên cứu các lý thuyết về gia đình, hôn nhân và ly hôn, trẻ em trong các gia đình sau ly hôn
5.2 Tìm hiểu về gia đình, về hôn nhân, về vai trò, chức năng của gia đình
5.3 Khảo sát và thu thập thông tin, phân tích tình hình ly hôn hiện nay
- Các hoàn cảnh ly hôn và các loại gia đình ly hôn
- Hậu quả sau ly hôn:
+ Cơ cấu xã hội gia đình thay đổi
+ Quan hệ gia đình thay đổi
- Thực trạng đời sống của trẻ em trong các gia đình ly hôn
- Cơ cấu xã hội trẻ em trong các gia đình sau ly hôn:
+ Quan hệ về kinh tế
+ Quan hệ cha con, mẹ con, ông bà
+ Quan hệ các thành viên trong gia đình, họ hàng của các em
Trang 11+ Quan hệ bạn bè, học đường, cộng đồng.
+ Xu hướng tư tưởng, tình cảm của các em
+ Những thay đổi trong hành vi giao tiếp
+ Xu hướng hình thành nhân cách của các em
- Số liệu nghiên cứu từ các tài liệu được lấy từ năm 2010 đến năm 2015
7 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
7.1 Cơ sở phương pháp luận
Trẻ em trong các gia đình sau ly hôn là một hiện tượng xã hội phức tạp liên quanđến nhiều yếu tố, thành phần xã hội và điều kiện kinh tế - văn hoá - xã hội của một xã hội
cụ thể Vì vậy, để nghiên cứu vấn đề này có hiệu quả, tác giả đã vận dụng một trong cácquan điểm của triết học Mác-Lênin làm cơ sở phương pháp luận khoa học cho đề tài, đóchính là quan điểm toàn diện, lịch sử, cụ thể và phát triển Quan điểm này được rút ra từhai nguyên lý phổ biến của triết học Mác - Lênin, đó là nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
và nguyên lý về sự phát triển của các sự vật, hiện tượng Phương pháp luận này đòi hỏikhi xem xét thực trạng trẻ em trong các gia đình sau ly hôn, cần đặt các em trong cáchoàn cảnh cụ thể khác nhau thuộc các gia đình khác nhau, các giai đoạn phát triển khácnhau của xã hội Phương pháp luận này cũng đòi hỏi khi nhìn nhận bối cảnh của các emcần nhìn nhận theo quan điểm phát triển, không nên nhìn nhận theo “số phận” theo bứctranh “bi quan, tuyệt vọng” tách rời sự phát triển chung của xã hội và của mỗi cá nhân
Trang 12Cùng với việc vận dụng phương pháp luận nói trên, đề tài cũng đã vận dụng lýthuyết về gia đình và hệ thống (system), cấu trúc chức năng (function - structuralism) và
lý thuyết vai trò để phân tích đề tài đề tài
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp phân tích tài liệu
Phân tích một số tài liệu về gia đình, về quyền trẻ em, về ly hôn và một số tài liệuthuộc về trị liệu gia đình và các em thuộc các gia đình ly hôn
Đề tài đã sử dụng một số tài liệu thống kê, tài liệu xét xử của một số toà án, một sốbáo cáo của Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em, một số tài liệu của Bộ Lao động,Thương binh và Xã hội
Đề tài cũng sử dụng một số tài liệu trong một số tạp chí “Khoa học về phụ nữ” từnăm 2010 đến năm 2015
7.2.2 Phương pháp điều tra Anket
Tác giả sử dụng bảng hỏi làm công cụ chính để thu thập thông tin, từ đó xử lí và thuđược những số liệu cần thiết trong việc đánh giá thực trạng về trẻ em trong các gia đìnhsau ly hôn Đối tượng trả lời bảng hỏi là trẻ em trong các gia đình sau ly hôn, nhữngngười nuôi dưỡng các em và cán bộ địa phương
7.2.3 Phương pháp phỏng vấn sâu
Phương pháp này sẽ phỏng vấn một số em thuộc một số gia đình ly hôn, một số cha
mẹ, người thân có liên quan đến các em thuộc gia đình ly hôn, một số cán bộ địa phương,cộng đồng hiểu sâu về vấn đề này
THỰC TRẠNG VỀ TRẺ EM TRONG CÁC GIA ĐÌNH SAU LY HÔN TẠI
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRẺ EM TRONG CÁC GIA ĐÌNH SAU LY HÔN1.1 LỊCH SỬ CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Gia đình, ly hôn, trẻ em nói chung, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn nói riêng đã đượcnhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu với nhiều góc độ khác nhau: xã hội học, dân tộchọc, sử học, nhân chủng học, luật học…
Trang 13Goode, William J trong “Force and Violence in the Family” “Sức mạnh và bạo lựctrong gia đình” (1971) đã đưa ra một số chuẩn mực để xác định gia đình dựa trên các mốiquan hệ bên trong gia đình.
A.G Kharchep trong “Hôn nhân và gia đình” cũng đã coi “gia đình là một hệ thống
cụ thể lịch sử của các quan hệ qua lại giữa vợ chồng, cha mẹ và con cái”
Bà E.K Vaixilieva và bà N.A Maliarova đã nghiên cứu và đề cập nhiều đến lốisống gia đình Các nhà nghiên cứu đã đề cập đến lối sống gia đình cho phép hiểu đượcmối tương quan của sự hoạt động của các thành viên trong gia đình, lối sống gia đìnhcũng gắn liền với lối sống cá nhân với tư cách là thành viên gia đình
Khi nói về gia đình Mỹ trong sự quá độ, Tamara K Hareven đã đề cập nhiều vấn
đề Tamara cho rằng, trong suốt lịch sử nước Mỹ, gia đình được xem như điểm then chốtcủa trật tự xã hội và cơ sở để kiểm soát sự ổn định Tamara đã đề cập đến tính đa dạngvăn hoá và tộc người của gia đình Mỹ Sự đa dạng này là sự liên tục của lịch sử và sựhiểu biết những biến đổi lịch sử tạo nên những quan điểm khác nhau về đời sống giađình Tamara cũng cho rằng gia đình Mỹ trải qua những thay đổi quan trọng, thể hiện sựtan vỡ của gia đình Sự tăng tỷ lệ ly dị là những triệu chứng phá vỡ gia đình Đó là dochưa chú ý đến hôn nhân và đời sống gia đình
Với góc độ tiếp cận khác, một số nhà xã hội học Trung Quốc như Phan Doãn Khang
và Lâm Nam đã đề cập đến các mối quan hệ gia đình ảnh hưởng đến xã hội Trung Quốc:Lôi Mộng Đức, Phất Vư cho rằng “Tam giác thực sự trong kết cấu xã hội là con cái và bố
mẹ của họ kết hợp nên từ những tình cảm chung” Sự chi phối của bố mẹ đối với hônnhân của con cái rất chặt chẽ Trong xã hội phong kiến Trung Quốc, bố mẹ không nhữngchỉ sắp đặt hôn nhân cho con cái mà còn sắp đặt sự ly hôn cho con cái Ngày nay, TrungQuốc đã chủ trương hôn nhân lấy tình yêu làm cơ sở, nhưng phần lớn các gia đình TrungQuốc đều là các gia đình kiểu nghĩa vụ: nghĩa vụ thứ nhất, tình yêu thứ hai
Đề cập đến sự thay đổi về gia đình ở Thụy Điển, Divia Popemo đã đưa ra nhiềucách tính khác nhau về sự tan vỡ của gia đình và cho rằng: tỷ lệ người ly hôn trên tổng sốngười của một lứa tuổi
Trong quá trình nghiên cứu về gia đình, trẻ em ở Việt Nam đã xuất hiện nhiều công
trình có giá trị GS.TSKH Hồ Ngọc Đại, nhà tâm lý học đưa ra “Tam giác gia đình, những nghiên cứu về gia đình Việt Nam” (Nxb KHXH, Hải Phòng, 1996), Hoàng Thiệu
Trang 14Khang với công trình “Gia đình là tế bào xã hội, những nghiên cứu về gia đình Việt Nam” (Nxb KHXH, Hải Phòng, 1996) Cố GS Trần Đình Hượu “Gia đình và giáo dục gia đình” TS Vũ Tuấn Huy “Những khía cạnh của sự biến đổi gia đình”, C Hirschman
và Vũ Mạnh Lợi “Gia đình và cơ cấu hộ gia đình Việt Nam”, Thạc sĩ Nguyễn Thị Oanh với “Gia đình nhìn từ góc độ xã hội học” (1996), Đỗ Thị Bình, Lê Ngọc Văn, Nguyễn Linh Khiếu với “Gia đình Việt Nam và người phụ nữ trong gia đình thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá” (Nxb KHXH, 2002) TS Trần Thị Kim Xuyến “Gia đình và những vấn đề về gia đình hiện đại” của ThS Nguyễn Thị Oanh; “Gia đình nhìn từ góc độ xã hội học” TS Vũ Quang Hà (biên dịch); “Tương lai của gia đình”, Nguyễn Thanh Tâm “Ly hôn” (nghiên cứu trường hợp Hà Nội), PGS.TS Đặng Cảnh Khanh “Gia đình, trẻ em và
sự kế thừa các giá trị truyền thống”, PGS.TS Mai Quỳnh Nam với “Gia đình trong tấm gương xã hội học” (Nxb KHXH, 2002) “Tham vấn trẻ em” (tài liệu dịch), “Phòng chống buôn bán và mại dâm trẻ em” (Vũ Ngọc Bình), “Trẻ em đường phố, trẻ em lao động” (Fudith Emen), “Lao động trẻ em”…
Qua các công trình của các tác giả trên đây, đã đề cập khá toàn diện, các khía cạnh
về gia đình Những công trình trên đã giúp cho sự kế thừa hết sức quý báu trong việcnghiên cứu đề tài
1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM
1.2.1 Trẻ em
Trẻ em cũng là đối tượng được nhiều khoa học nghiên cứu và có nhiều định nghĩakhác nhau, nhất là trong tâm lý học, giáo dục học, công tác xã hội và xã hội học Trongtâm lý học, khái niệm “trẻ em” được dùng chỉ giai đoạn đầu của sự phát triển tâm lý -nhân cách con người Trong xã hội học, “trẻ em” được xem xét như một nhóm xã hộithuộc về một độ tuổi nhất định trong giai đoạn đầu của sự phát triển nhân cách có vị trí xãhội, vai trò xã hội khác với người lớn Trẻ em là đối tượng được xã hội chăm sóc, bảo vệ,nuôi dưỡng, tạo điều kiện cho sự trưởng thành và cũng là đối tượng quan trọng nhất củacông tác xã hội
Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc có quan điểm khác nhau trong việc xác định tuổi của trẻ
em Một số tổ chức quốc tế như Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc, Tổ chức Lao động quốc
tế, Tổ chức Giáo dục văn hoá và khoa học quốc tế… xác định trẻ em là những người dưới
15 tuổi Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1990 quy định trẻ em có nghĩa là người
Trang 15dưới 18 tuổi trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớmhơn Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em của nước ta quy định “trẻ em là công dânViệt Nam dưới 16 tuổi”.
Như vậy, các nhà khoa học, các tổ chức xã hội, các tổ chức quốc tế, mặc dù vớiphương pháp tiếp cận khác nhau đã đưa ra quan niệm khác nhau về trẻ em nhưng cũng đãdựa trên một số tiêu chí chung để làm căn cứ định nghĩa về trẻ em, đó chính là tuổi đờicủa các em Mỗi giai đoạn khác nhau của trẻ em đều có sự thay đổi về nhân cách, nhưngtất cả các giai đoạn đều rất cần đến bố mẹ để chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục
* Trẻ em trong các gia đình sau ly hôn: đó là những trẻ em từ lúc sinh ra cho đến
khi lớn lên đều ở với bố mẹ trong gia đình mở rộng hoặc gia đình hạt nhân, được nuôidưỡng, chăm sóc, giáo dục toàn diện về nhân cách, nay do bố mẹ được toà án công nhậncho ly hôn, không được sống chung với bố và mẹ nữa Những trẻ em này ở trong cáchoàn cảnh sau đây:
- Tiếp tục ở với mẹ nhưng không còn bố sống bên cạnh như cũ
- Tiếp tục ở với bố nhưng không còn mẹ sống bên cạnh như cũ
- ở với bố dượng hoặc mẹ kế
- Những trẻ sống với ông, bà hoặc người thân trong họ tộc
- Những trẻ không còn nơi nương tựa, phải đi lang thang đường phố, ở các nhà tìnhthương, mái ấm…
1.2.2 Gia đình
Khi nói về lý thuyết về gia đình, khái niệm gia đình đã được đề cập đến Ở đây, tácgiả chỉ nêu khái niệm gia đình như một khái niệm công cụ để giải thích và đo lường phầnthực nghiệm
Giữa các ngành khoa học, các nhà khoa học khác nhau cũng có nhiều quan điểmkhác nhau về gia đình Có quan niệm cho gia đình là “tế bào xã hội”, gia đình là “thiếtchế xã hội”, "là “nhóm xã hội”, là “tổ chức cơ bản của xã hội”…
Trong tác phẩm “Cấu trúc xã hội” (1949) G.P Murdock cho “Gia đình là một nhóm
xã hội có đặc trưng là cùng cư trú, hợp tác và tái sản xuất kinh tế (người lớn và của cả haigiới), và ít nhất trong đó có quan hệ tình dục với nhau, được xã hội tán thành, một hoặcnhiều con cái (do họ đẻ ra hoặc do họ nhận con nuôi)
Trang 16Theo Từ điển Xã hội học do nhà xuất bản Pháp Larousse ấn hành năm 1973 địnhnghĩa về gia đình như sau: “là nhóm người gắn bó với nhau bằng các mối liên hệ hônnhân, huyết thống hay là sự nhận con nuôi Có sự tác động qua lại giữa chồng và vợ, giữa
bố và mẹ, giữa cha mẹ và con cái…”, giữa anh chị em và họ hàng xa hơn
Theo Luật Hôn nhân và Gia đình nước ta cho rằng gia đình là tập hợp những ngườigắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phátsinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau theo quy định của luật này
Gia đình ly hôn - Gia đình được xem xét trong đề tài này là các gia đình đã ly hôn
(bao gàm cả gia đình hạt nhân, gia đình mở rộng…), có nghĩa là các gia đình đã đượcToà án quyết định cho ly hôn
1.2.3 Hôn nhân
Nói đến hôn nhân là nói đến kết hôn và ly hôn Kết hôn là sự xác lập một quan hệ
vợ chồng giữa nam và nữ Theo Điểm 1, Điều 3, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014
thì hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn.
Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam năm 2014 đã nêu rõ: “Hôn nhân tự nguyện,tiến bộ, hôn nhân một vợ, một chồng, vợ chồng bình đẳng, bảo vệ quyền lợi của cha mẹ
và con cái; bảo vệ bà mẹ và trẻ em”
Khi tình yêu giữa vợ và chồng không còn nữa thì tất yếu dẫn đến ly hôn Luật Hônnhân và Gia đình năm 2014 cũng quy định ly hôn chỉ được công nhận bằng một bản án
có hiệu lực của Toà án nhân dân
Mặc dù quá trình hôn nhân diễn ra nhiều xung đột và dẫn đến khủng hoảng nhưngkhông phải dẫn ngay đến ly hôn Ly hôn là một quá trình phức tạp, liên quan đến nhiềumặt của cuộc sống gia đình: vợ chồng, con cái, cơ cấu gia đình tan vỡ, quan hệ gia đìnhmất mát Đặc biệt ly hôn để lại hậu quả nặng nề cho đời sống của con cái, thế hệ tươnglai của cả gia đình và xã hội
1.3 MỘT SỐ LÝ THUYẾT VỀ TRẺ EM TRONG CÁC GIA ĐÌNH SAU LY HÔN
1.3.1 Lý thuyết cấu trúc - chức năng - một trong những lý thuyết cơ bản nghiên cứu về gia đình - hôn nhân - ly hôn và trẻ em
Các nhà công tác xã hội sử dụng lý thuyết cấu trúc - chức năng nhiều hơn các lýthuyết khác khi nghiên cứu về gia đình và hôn nhân Trong đề tài này chỉ sử dụng lý
Trang 17thuyết cấu trúc - chức năng để phân tích khả năng của gia đình trong việc thực hiện chứcnăng giáo dục - xã hội hoá của gia đình, trong việc phân tích mối quan hệ các thành viêntrong gia đình và quan hệ giữa gia đình với xã hội Vậy lý thuyết cấu trúc - chức năng làgì?
Lý thuyết cấu trúc chức năng, Niklas Luhman đã gọi lý thuyết này là một biến thểcủa lý thuyết hệ thống xã hội học Vì vậy nghiên cứu lý thuyết chức năng không nên táchrời với lý thuyết hệ thống
T Parsons đã khẳng định mối quan hệ biện chứng giữa cấu trúc và chức năng, trong
đó cấu trúc giữ vai trò quyết định Sự thay đổi về mặt chức năng sẽ làm hoàn thiện cấutrúc của nó Cấu trúc xã hội đảm bảo tính cân bằng cho xã hội về mặt chức năng
Còn theo R Merton: các chức năng xã hội có tính thống nhất thể hiện ở cấp độ xãhội và cá nhân
Trong lý thuyết cấu trúc chức năng, xã hội được nhìn như một hệ thống hoàn chỉnhcủa các quan hệ qua lại của các bộ phận, mỗi bộ phận lại liên quan với bộ phận khác.Thuyết cấu trúc - chức năng cho thấy những hành vi cá nhân luôn luôn nằm trongcấu trúc nhất định, mặc dù cá nhân luôn có sự lựa chọn những ứng sử trong một tìnhhuống cụ thể Ví dụ: trong khi xem xét quan hệ kinh tế và gia đình, chúng ta thấy phụ nữkhông lao động dường như có liên quan đến hôn nhân không hạnh phúc nhiều hơn so vớinhững phụ nữ có việc làm bởi vì họ hoàn toàn lệ thuộc vào kinh tế của người chồng
Lý thuyết cấu trúc chức năng như là một trong những lý thuyết chủ đạo xem xét cácchức năng của gia đình, trong đó có chức năng giáo dục - xã hội hoá của gia đình Tấtnhiên, các chức năng của gia đình không thể tách rời nhau mà nằm trong một cấu trúcthống nhất
Gia đình có vai trò quan trọng trong quá trình hình thành nhân cách đứa trẻ Đây làmôi trường cơ bản, chính thức đầu tiên của xã hội hoá cá nhân Với chức năng của mình,gia đình là công cụ truyền lại cho con cháu các giá trị văn hoá truyền thống và văn hoáhiện đại, đặc biệt là các giá trị xã hội, đạo đức… Đối với những người chưa trưởng thành,chưa đến tuổi đi học thì đạo đức, lối sống, nhân cách đã chịu sự chi phối nhiều nhất củaquá trình xã hội của gia đình
Trang 18Không những thế, sự giáo dục - xã hội hoá của gia đình còn truyền lại, khắc sâu vàocác cá nhân của thế hệ tiếp theo những tinh hoa của văn hoá của các thế hệ trước, tạo nên
sự nối tiếp giữa các thế hệ trong sự phát triển
Theo A.G Chavezew: “Gia đình không chỉ uỷ nhiệm mà còn tạo ra những giá trịtinh thần như tình yêu vợ chồng, tình yêu bố mẹ, sự kính trọng của con cái đối với bố mẹ,tình đoàn kết gia đình, những giá trị được tạo ra này cũng tham gia vào quá trình xã hộihoá vào các nội dung được hậu thế tiếp thu”
Trong gia đình Việt Nam, nông thôn cũng như đô thị, quan hệ giữa gia đình truyềnthống và gia đình hiện đại có ảnh hưởng lớn đến việc giáo dục các thế hệ Chính vì vậy,thế hệ trẻ vẫn chịu ảnh hưởng của các giá trị truyền thống Từ khi còn sống chung với giađình truyền thống đến khi tách ra sống riêng với gia đình hạt nhân, con cái vẫn có tráchnhiệm chăm sóc bố mẹ và mọi người trong gia đình, họ hàng, coi đó như là chức năngcủa mình
Trong gia đình, tuỳ theo vị trí của các thành viên (ông, bà, cha, mẹ, anh, chị, em),mỗi người có vị trí và vai trò của mình nhưng đều có trách nhiệm thực hiện chức nănggiáo dục - xã hội hoá của gia đình Ông bà nội ngoại giáo dục các cháu rất quan trọng(46,2% người được hỏi), truyền thụ cho các cháu cái hay, cái đẹp của văn hoá truyềnthống Cha mẹ và các thành viên khác, với trình độ văn hoá, nghề nghiệp, công tác xã hộikhác nhau cũng tham gia giáo dục - xã hội hoá trẻ em theo các phương thức khác nhau.Trình độ học vấn và văn hoá của cha mẹ có liên quan mật thiết tới việc học tập của concái Trong khi công nhân tham gia vào việc học tập của con cái có 18,9% thì ở trí thứclên tới 42% (điều tra xã hội học ở Hải Phòng)
Mặt khác, giáo dục - xã hội hoá còn được thể hiện cụ thể trong việc giáo dục đạođức, giáo dục giới tính, định hướng nghề nghiệp, giáo dục pháp luật, giáo dục lao động.Đặc biệt, trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường và giao lưu văn hoá quốc tế với nhiềuphương tiện hiện đại, con cái trong gia đình cần được giáo dục, hướng dẫn chọn lọcnhững tinh hoa, phát triển nhân cách đúng hướng Điều quan trọng là việc gia đình phốihợp với học đường, với cộng đồng, với xã hội thực hiện chức năng giáo dục - xã hội hoá
có kết quả, để cho thế hệ trẻ từ trong gia đình đến xã hội nhận thức đúng vàhọc đóng cácvai trò của mình để gia nhập vào xã hội một cách chủ động và sáng tạo
Trang 19Gia đình không tách rời khỏi xã hội, nó gắn bó với các quan hệ xã hội liên quan vớicác chức năng của chính nó Lý thuyết cấu trúc chức năng đã tạo cơ sở cho sự phân tích,
sự biến đổi cơ cấu và chức năng gia đình gắn liền với biến đổi cơ cấu xã hội Mặt khác lýthuyết này cũng cho phép phân tích mối quan hệ giữa gia đình và hôn nhân, giữa cha mẹ
và con cái, giữa đời sống kinh tế và đời sống văn hoá, tinh thần Gia đình, cộng đồng vàcác thiết chế xã hội luôn luôn tương tác trong một cơ cấu thích hợp Lý thuyết này cũngchỉ ra cha mẹ ly hôn và trẻ em trong các gia đình ly hôn không tách rời nhau mà nằmtrong một cơ cấu phức tạp Vì vậy khi giải quyết một vấn đề nào liên quan đến hôn nhân,
ly hôn đều phải đặt trong một cơ cấu tương ứng
1.3.2 Lý thuyết gia đình học
Từ nhiều thế kỷ, có thể hàng nghìn năm, nhiều ngành khoa học đã quan tâm nghiêncứu gia đình, từ triết học đến văn học, sử học, nhân chủng học, tâm lý học, luật học, xãhội học, công tác xã hội, gia đình học…
H.T Christensen (1965) cũng cho rằng, thời kỳ nghiên cứu gia đình có hệ thốngnhất cũng chỉ mới bắt đầu từ giữa thế kỷ thứ 19 Ngoài thời kỳ tiền nghiên cứu về giađình, ông phân biệt ra 3 giai đoạn phát triển của các công trình nghiên cứu về gia đình:giai đoạn thứ nhất ở vào khoảng giữa thế kỷ 19, giai đoạn thứ hai vào nửa đầu thế kỷ 20
và giai đoạn thứ ba kéo dài cho đến ngày nay
Theo F Ăngghen, việc nghiên cứu lịch sử gia đình bắt đầu từ 1861, tức là từ khicuốn “Mẫu quyền” của Bachofen ra đời (T.31 - MAT2 - T.6)
Morgan (Moocgan) là người được Mác và Ăngghen đánh giá cao trong nghiên cứulịch sử tiến hoá nhân loại và nghiên cứu về gia đình
Ngay từ thế kỷ thứ XIX, Moocgan, qua cuốn “Xã hội Cổ đại”, ông cho rằng: “Giađình là một yếu tố năng động, nó không bao giờ đứng nguyên ở một chỗ, khi xã hội pháttriển từ một trình độ thấp lên một trình độ cao, thì gia đình cũng tiến từ một hình thứcthấp lên một hình thức cao”[3,15]
Gia đình và quá trình phát triển của nó gắn liền với quá trình phát triển xã hội.Chính Moocgan đã đặt vấn đề gia đình gắn liền với các giai đoạn tiến hoá của xã hội.Moocgan đã phân lịch sử nhân loại làm 3 thời đại: mông muội, dã man và văn minh.Theo Moocgan, lúc đầu là chế độ quần hôn, gia đình huyết tộc
Trang 20Từ gia đình huyết tộc phát triển ra gia đình Punaluan Ông cho rằng, gia đình Punaluan hình thành do sự cấm tính giao giữa chị em và anh em Loại gia đình này thích
ứng với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất thời đại mông muội, khi người ta sửdụng những công cụ bằng đá thô sơ, phổ biến dùng lửa và ăn cá
Thay cho gia đình Punaluan là gia đình đối ngẫu: ở đây, người đàn ông sống với
một người đàn bà nhưng vẫn có quyền lấy nhiều vợ và ngoại tình, còn người đàn bà thìphải triệt để trung thành với chồng
Chế độ một vợ một chồng là một trong những dấu hiệu của buổi đầu của thời đạivăn minh Gia đình này có quan hệ vợ chồng chặt chẽ hơn nhiều
Theo Ăngghen, “trong tất cả các hình thức gia đình mà chúng ta đã biết, chế độ một
vợ, một chồng là chế độ duy nhất trong đó tình yêu nam nữ hiện đại có phát triển được”.Ăngghen đã khẳng định luận điểm của Moocgan và cho rằng: “Sự phát triển hơnnữa của gia đình một vợ một chồng là một bước tiến đến gần sự hoàn toàn bình đẳng vềquyền lợi giữa nam nữ”[3,56]
Là sản vật của một chế độ xã hội nhất định, hình thức của gia đình sẽ phản ánhtrạng thái phát triển của chế độ xã hội đó Ăngghen cho rằng: “trong tương lai xa xôi saunày, gia đình một vợ một chồng sẽ không có thể đáp ứng được những yêu cầu của xã hội,thì cũng không thể nào dự đoán trước được là gia đình tiếp theo sau đó sẽ có tính chấtnhư thế nào”[3,66]
Có thể nói rằng, Ăngghen đã nêu lên một cách toàn diện vấn đề gia đình gắn liềnvới sự phát triển xã hội Trong tác phẩm “Tình cảnh của giai cấp công nhân ở Anh”(1845), Ăngghen đã viết những bài đầu tiên về xã hội học gia đình
Một số các nhà xã hội học tiền bối cũng quan tâm đến vấn đề gia đình và đưa ranhiều quan điểm lý thuyết khác nhau về vấn đề này Nhà xã hội học Pháp (AugustComte) (1798-1857), nhà triết học thực chứng và là nhà sáng lập môn xã hội học đã chorằng quan niệm gia đình là tổ chức xã hội cơ bản và sự hợp tác trong lao động của cácthành viên là rất quan trọng Ông cho rằng gia đình mang tính lịch sử và là công cụ xã hộihoá cá nhân, chuẩn bị cho họ bước vào cuộc sống trong xã hội Ông phân biệt hai mốiquan hệ cơ bản trong gia đình là mối quan hệ giới và quan hệ giữa các thế hệ Đó là mốiquan hệ vợ chồng và mối quan hệ cha mẹ và con cái
Trang 21Trong nửa cuối thế kỷ thứ XIX xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu nhân chủnghọc tự nhiên và nhân chủng học xã hội theo khuynh hướng tiến hoá tự nhiên liên quanđến gia đình (H.Spencer, J.Bachofen, J.Morgan…) Trong đó, L.H Morgan (1818 -1881) đã đóng vai trò quan trọng.
Khi đề cập đến vấn đề vị thế xã hội của gia đình, Leplay, nhà xã hội học người Pháp
đã đưa ra nhiều ý kiến về địa vị gia đình, phương pháp duy trì gia đình, ngân sách, giađình, các giai đoạn quan trọng nhất của gia đình Ông cho rằng môi trường địa lý có ýnghĩa quan trọng đến các hình thái của đời sống gia đình
Trong tác phẩm “Nhập môn xã hội học gia đình” do E Durkheim viết và xuất bản năm
1888, Durkheim đã trình bày khá sâu sắc và toàn diện về xã hội học gia đình
Sau này, trong lĩnh vực lý thuyết về gia đình, nhiều nhà xã hội học đã đề cập đếnnhiều khía cạnh khác nhau về gia đình, nhất là xã hội học gia đình và công tác xã hội vớigia đình Các lý thuyết này chú ý nhiều đến mối quan hệ của gia đình đối với cấu trúc xãhội, biến đổi chức năng gia đình, những vấn đề liên quan đến gia đình như tiền hôn nhân,hôn nhân, vấn đề giáo dục trẻ em về đời sống gia đình
Khi xem xét gia đình là một nhóm xã hội, “gia đình là một nhóm xã hội gồm hai haynhiều người gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống (hoặc nhận connuôi), vừa nhằm đáp ứng những nhu cầu riêng tư của họ, vừa nhằm thoả mãn những nhu cầucủa xã hội và tái sản xuất dân cư cả nghĩa thể xác và tinh thần”
Khi xem xét gia đình như một thiết chế xã hội, người ta cho rằng cần tập trung vàocác vai trò đã được quy định trong gia đình gắn liền với sự phát triển nhu cầu của xã hội,nhu cầu xã hội trong quan hệ hôn nhân gia đình, chức năng xã hội của gia đình, cácchuẩn mực và giá trị trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình Các chuẩn mực này dựa trênquy định pháp lý về ly hôn: tính chất của thủ tục ly hôn, quyền lợi và nghĩa vụ của cáccặp vợ chồng đã ly hôn đối với việc chăm sóc con cái, sở hữu tài sản sau ly hôn Chuẩnmực của hôn nhân gia đình thay đổi đối với thời gian và chu kỳ sống khác nhau của giađình
Lý thuyết về gia đình cũng đòi hỏi việc tiếp cận gia đình như “một nhóm xã hội”gắn liền với cơ cấu của gia đình như cơ cấu thành viên trong gia đình: gia đình đầy đủ,gia đình không đầy đủ, gia đình hạt nhân và gia đình mở rộng, gia đình thuần nhất và giađình không thuần nhất, quan hệ các thế hệ trong gia đình: quan hệ vợ chồng, quan hệ cha
Trang 22mẹ - con cái, quan hệ ông bà - cha mẹ - con cái, quan hệ anh chị em, quan hệ họ hàngthân tộc.
Với các cách tiếp cận khác nhau của các ngành khoa học, gia đình đã được giảithích và định nghĩa khác nhau Theo H.T Christensen, có 4 cách tiếp cận khi nghiên cứugia đình như:
- Những nghiên cứu về tổ chức gia đình
- Những nghiên cứu về cấu trúc chức năng
- Những nghiên cứu về tác động qua lại trong gia đình
- Những nghiên cứu về sự phát triển gia đình
Sự chuyển biến của gia đình, dù dưới hình thức nào đi nữa, đều là kết quả của sựtương tác giữa các thành viên bên trong gia đình và tương tác giữa gia đình và cơ cấu xãhội Chính vì vậy, sự tác động của môi trường, của kinh tế - chính trị - văn hoá, của quátrình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế đã dẫn đến biến đổi cấu trúc, chức năngcủa gia đình
Gia đình là sản phẩm của lịch sử xã hội, phản ánh nền kinh tế - văn hoá - chính trị,phong tục tập quán, thói quen, tâm lý, tình cảm, lối sống của một xã hội, của một dân tộc
và một thời đại lịch sử nhất định
Công nghiệp hoá đã làm cho cấu trúc của gia đình thay đổi, xuất hiện nhiều loại giađình khác với gia đình truyền thống Nền văn minh công nghiệp đem lại cho gia đìnhphương thức hoạt động, nuôi dạy con cái, lối sống mới tác động tích cực đến tàn dư củachế độ gia trưởng trong gia đình
Cùng với các lý thuyết về gia đình, một số luận điểm về hôn nhân, về ly hôn đã nảysinh trong quá trình nghiên cứu về gia đình
“Hôn nhân là một dạng liên kết khác giới được tập quán và luật pháp công nhận, cógiá trị lâu dài Dù tất cả sự khác biệt văn hoá thì hôn nhân bất cứ ở đây, dù có sự khácbiệt về mức độ trách nhiệm vẫn được công nhận là thể chế xã hội để đảm bảo sự kế tụchợp pháp, thường được xã hội bảo vệ ở mức độ nhiều hay ít chịu sự điều tiết của xã hội,
lý giải sự tiếp tục thừa kế và đòi hỏi sự tương trợ và hợp tác lẫn nhau của cả đôibên”[4,70]
Do thực tiễn xã hội của sự khủng hoảng trong hôn nhân, tỷ lệ ly hôn cao nên một sốngười cho rằng thiết chế hôn nhân sẽ suy vong dần và ly hôn đã trở thành sự kiện xã hội
Trang 23phổ biến Các nhà xã hội học đã nêu ra rất nhiều tác động của ly hôn đối với cả đôi lứa vàcon cái Các ảnh hưởng này bao gồm: các nguy cơ chán nản, tuyệt vọng, tuyệt mệnh.Chính Emile Durkheim, một trong số nhà xã hội học tiền bối nước Pháp, qua tác phẩmnổi tiếng “Sự tự sát” đã chỉ ra rằng, nam giới chịu tác động về mặt xã hội và sự cô độchơn phụ nữ rất nhiều” Nhưng phụ nữ lại chịu cảnh sa sút nặng nề về nhiều mặt.
R Aron đã chỉ ra rằng “ly hôn là cuộc khủng hoảng của sự biến đổi gia đình gây ranhững thay đổi trong hệ thống gia đình” Sự ly hôn của gia đình diễn ra trong những bốicảnh khác nhau nhưng thường xuất phát từ nhiều xung đột và trải qua một quá trình phứctạp đầy mâu thuẫn
Ăngghen đã nói rằng: “Nếu chỉ riêng hôn nhân dựa trên cơ sở tình yêu mới là hợpđạo đức thì cũng chỉ riêng hôn nhân trong đó tình yêu được duy trì mới là hợp đạo đức
mà thôi Nhưng sự thôi thúc của tình yêu cá nhân giữa nam nữ thì lại tuỳ từng người màlâu dài rất khác nhau, nhất là đối với đàn ông, và nếu tình yêu đã hoàn toàn phai nhạthoặc bị một tình yêu say đắm mới át đi thì ly hôn sẽ là điều hay cho cả đôi bên cũng nhưcho xã hội Chỉ cần tránh cho người ta khỏi sa chân vô ích vào những vũng bùn kiện tụng
để ly hôn mà thôi”[3,45]
Ăngghen nói tiếp: “… Điều này sẽ được giải quyết khi một thế hệ mới sẽ lớn lên:một thế hệ đàn ông không bao giờ phải dùng tiền hoặc dùng những phương tiện quyềnlực xã hội khác để mua sự hiến thân của người đàn bà, và một thế hệ đàn bà không baogiờ phải hiến mình cho đàn ông vì một lý do nào khác ngoài tình yêu chân chính, hoặcphải từ chối không dám hiến mình cho người yêu vì sợ những hậu quả kinh tế của sự hiếnthân đó”[3,55]
Ăngghen cũng vạch rõ ràng, trong điều kiện chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, hônnhân bao giờ cũng là hôn nhân có tính toán đối với người chủ sở hữu
1.3.3 Một số quan điểm và lý thuyết về trẻ em
Erik Erikson (1902 - 1994), khi còn nhỏ thuộc gia đình có cha mẹ ly hôn, không còntiếp xúc với cha mình nữa, lang thang nhập cư vào Mỹ và rơi vào cuộc “khủng hoảng bảnsắc”, sau này trở thành nhà phân tâm học nổi tiếng Ông đã phê phán lý thuyết của S.Freud vì Freud đã không đánh giá sự tác động của xã hội đến sự phát triển nhân cách.Erikson đã xem xã hội là một sức mạnh định hướng cho sự phát triển của cái “tôi”
Trang 24Thuyết Xã hội - Tâm lý của Erikson đã mô tả sự phát triển nhân cách qua suốt cảcuộc đời của con người Ông phân chia đời người ra làm 8 giai đoạn Mỗi giai đoạn đềudiễn ra những sự chuyển hoá trong các mối quan hệ xã hội Sự chuyển hoá liên quan đếnviệc giải quyết quan hệ giữa nhu cầu, lợi ích, giá trị giữa xã hội và cá nhân.
Trẻ em liên quan đến 5 giai đoạn đầu:
- Giai đoạn 1 - Sơ sinh (0 - 1,5 tuổi): cần phát triển cảm giác - chỉ có người mẹ mớiđáp ứng được nhu cầu này Nếu đứa trẻ, vì nguyên nhân nào đó, không được đáp ứng nhucầu thích hợp với mình dẫn đến hình thanh cảm giác mất tin tưởng, rơi vào tình trạng sợhãi, rối loạn đáng thương vì không có mẹ bên cạnh ấp ủ, chăm sóc
- Giai đoạn 2 - Nhà trẻ (1,5 - 3 tuổi): đứa trẻ tập đi, tập tự định hướng cho mình.Nhiệm vụ của gia đình và nhà trẻ là hình thành sự tự chủ cho trẻ (hoặc mức độ cảm giác)
Có thể xuất hiện những nguyên nhân làm cho trẻ trì trệ
- Giai đoạn 3 - Mẫu giáo (từ 3 - 6 tuổi): hình thành năng lực của đứa trẻ và tránhkhỏi tội lỗi do nhiều lý do gây nên Vai trò của cha mẹ rất quan trọng trong giai đoạn này
- Giai đoạn 4 - Đi học (từ 6 - đến tuổi dậy thì): hình thành sự chăm chỉ, cần cù, kỹxảo hành động của trẻ
- Giai đoạn 5 - Vị thành niên (từ dậy thì đến 20 tuổi): diễn ra cuộc “cách mạng sinhlý” Trẻ đi tìm bản sắc riêng của mình
- Giai đoạn 6 - người lớn trẻ tuổi (gần 20 đến 40 tuổi): tìm kiếm cái bản sắc sẵnsàng phát triển với sự gắn bó với người khác Tình yêu nam nữ xuất hiện…[5,43]
Tính chất khoa học của lý thuyết E Erikson là đã trình bày quá trình phát triển nhâncách của trẻ gắn liền với sự chuyển hoá trong các mối quan hệ xã hội trong suốt cuộc đời.Trong đó, mối quan hệ quan trọng nhất là mẹ - con (giai đoạn từ 0 đến 1,5 tuổi), mỗiquan hệ cha mẹ - con cái (giai đoạn từ 1,5 tuổi đến 3 tuổi), mối quan hệ cha mẹ, gia đình
và con cái (giai đoạn từ 3 đến 6 tuổi) Khi bắt đầu đến trường và trưởng thành sau này thìmối quan hệ nhà trường, hàng xóm, cộng đồng là rất quan trọng (từ 6 tuổi đến tuổi dậythì) và từ đó đến gần 20 tuổi, con người của lứa tuổi này hình thành các nhóm bạn bè,nhiều cá tính và lúng túng về vai trò xã hội, muốn khẳng định mình để duy trì được lòng
tự trọng
Theo TS Banaag Cornelio (thuộc Tổ chức Quốc tế về Dịch vụ gia đình và Cộngđồng), cho rằng: trong phần lớn các xã hội, gia đình là môi trường đầu tiên của trẻ em từ
Trang 25khi sinh ra Không có tổ chức nào đóng được vai trò quan trọng thay thế gia đình như một
cơ sở cơ bản của con người Gia đình là cơ sở lâu dài có khả năng nhất để đáp ứng cácnhu cầu về tâm sinh lý của trẻ em Từ gia đình, trẻ em được học các mối quan hệ, yêuthương, chơi và làm việc và cách làm người như thế nào Cấu trúc gia đình có thể là khácnhau trong các nền văn hoá khác nhau, nhưng về cơ bản, quan hệ trong gia đình vẫn làquan hệ cha mẹ và con cái
Khi gia đình bị khủng hoảng, cha mẹ và các thành viên trong gia đình không thựchiện các vai trò của họ, các em có hành vi trái ngược với các quy định và các giá trị xãhội mà các em đang sống trong đó Các em phát triển theo nhiều mức độ khác nhau vềtinh thần, về cảm xúc, rơi vào tình trạng rối loạn hành vi, một số em bị đẩy ra đườngphố…
1.4 MỘT SỐ QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VỀ GIA ĐÌNH, HÔN NHÂN, BẢO VỆ VÀ CHĂM SÓC, GIÁO DỤC TRẺ EM
Xuất phát từ quan điểm chỉ đạo “Vì lợi ích mười năm phải trồng cây, vì lợi ích trămnăm phải trồng người”, Bác Hồ luôn luôn quan tâm đến công tác chăm sóc, giáo dục trẻ
em nói chung và thiếu niên nhi đồng nói riêng
Bác nói “Thiếu niên, nhi đồng là người chủ tương lai của nước nhà Vì vậy chămsóc và giáo dục tốt các cháu là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân”[6,440]
Bác yêu cầu “Trước hết, các gia đình (tức là ông, bà, cha mẹ, anh chị) phải làm thậttốt công việc ấy”… “Uỷ ban Thiếu niên, Nhi đồng, Đoàn thanh niên, ngành Giáo dục vàcác ngành, các đoàn thể cần phải có kế hoạch cụ thể chăm sóc, giáo dục các cháu càngngày càng khoẻ mạnh và tiến bộ Các tỉnh uỷ, thành uỷ cần phải phụ trách đôn đốc việcnày cho có kết quả tốt”
Bác chỉ thị “Vì tương lai của con em ta, dân tộc ta, mọi người, mọi ngành phải cóquyết tâm chăm sóc và giáo dục các cháu bé cho tốt”[6,441 – 460]
Quan điểm, tư tưởng của Bác Hồ đã có ý nghĩa chiến lược chỉ đạo xuyên suốt quátrình phát triển xã hội Việt Nam
Tại Hội nghị Quốc gia vì trẻ em Việt Nam ngày 12/12/1991, đồng chí Tổng bí thư
Đỗ Mười đã khẳng định: “sự quan tâm sâu sắc của Đảng Cộng sản Việt Nam và nhà nướcCộng hoà XHCN Việt Nam, của nhân dân ta đối với thế hệ mầm non của đất nước…quyết tâm thực hiện đầy đủ sự cam kết của mình đối với Công ước Quốc tế về quyền trẻ
Trang 26em và Tuyên bố của Hội nghị cấp cao thế giới về sự sống còn bảo vệ và phát triển của trẻem”[7,19].
Và gần đây, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam
đã khẳng định:
“Chính sách bảo vệ chăm sóc trẻ em tập trung vào việc thực hiện quyền trẻ em, tạo điều kiện cho trẻ em được sống trong môi trường an toàn và lành mạnh, phát triển hài hoà về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức, trẻ mồ côi, trẻ khuyết tật, sống trong hoàn cảnh đặc biệt khó khăn có cơ hội học tập và vui chơi”.
Những quan điểm, đường lối của Đảng ta đã được thể chế hoá bằng hiến pháp, phápluật của nhà nước
Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 quy định: “Trẻ emđược gia đình, nhà nước và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục (Điều 65), “Trẻ em mồcôi không nơi nương tựa được nhà nước và xã hội giúp đỡ” (Điều 67)
Ngoài Hiến pháp, một hệ thống luật đã được ban hành để bảo vệ, chăm sóc và giáodục trẻ em đạt mục đích đề ra như Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục Trẻ em, Luật Hônnhân và Gia đình, Luật Bảo vệ Sức khoẻ Nhân dân, Luật Giáo dục, Bộ luật Lao động…Hiến pháp và hệ thống luật đềukhẳng định sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và giáo dụctrẻ em là sự nghiệp của toàn xã hội và các quyền cơ bản của các em là quyền được chămsóc, bảo vệ sức khoẻ, học tập, vui chơi giải trí… được sống chung với bố mẹ
Như Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục Trẻ em đã quy định “trẻ em có quyền sốngchung với cha mẹ” (Điều 7) Luật Hôn nhân và Gia đình đã quy định quyền và nghĩa vụcủa cha mẹ trong việc giáo dục con (Điều 34, 37) Đối với trẻ em trong các gia đình lyhôn, Luật Hôn nhân và Gia đình cũng đã quy định nghĩa vụ và trách nhiệm của bố dượng,
mẹ kế đối với con riêng của vợ hoặc của chồng Điều 92 Luật Hôn nhân và Gia đình cũngquy định rõ: “Về nguyên tắc, con dưới 3 tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi… Nếu con
đủ từ chín tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con” và “sau khi ly hôn, vợ,chồng vẫn có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chưa thànhniên… Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con” Luật Bảo vệ,
Chăm sóc và Giáo dục trẻ em” Điều 8, Khoản 1 ghi rõ: trẻ em có quyền được bày tỏ ý kiến và nguyện vọng của mình về những vấn đề liên quan đến mình”.[8,89]
Trang 27Một số quan điểm, tư tưởng của Bác Hồ và của Đảng cũng như Hiến pháp và hệthống pháp luật của nước ta về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em nói chung, trẻ emtrong các gia đình ly hôn nói riêng là cơ sở chính trị, cơ sở pháp lý, cơ sở khoa học trongviệc nghiên cứu về trẻ em trong các gia đình ly hôn ở nước ta hiện nay Đó cũng là cơ sởquan trọng trong việc nghiên cứu thực hiện đề tài này.
Trang 28CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỀ TRẺ EM TRONG CÁC GIA ĐÌNH SAU LY HÔN TẠI THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG2.1 ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ VĂN HOÁ XÃ HỘI TỪ KHI ĐỔI MỚI ĐẾN NAY
Từ năm 1986 đến nay, qua hơn 30 năm thực hiện đường lối do Đảng ta đề ra, đấtnước ta, nhân dân ta đã ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội kéo dài và tạo tiền
đề cho một bước ngoặt quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội Xã hội ViệtNam đã chuyên sang giai đoạn mới - giai đoạn phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thànhphần, điều tiết theo cơ chế thị trường, theo định hướng xã hội chủ nghĩa và có sự quản
lý của nhà nước Đất nước ta đang từng bước thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá
và chủ động hội nhập quốc tế trong quá trình toàn cầu hoá
Kinh tế thị trường và quá trình đô thị hoá đã tạo nên nhiều xu hướng di động xã hội
từ nông thôn ra thành thị để kiếm công ăn việc làm, ảnh hưởng đến cơ cấu gia đình nôngthôn và đô thị Mối quan hệ gia đình: vợ chồng - con cái đều bị tác động, tạo cơ sở cho sựkhủng hoảng và dẫn đến ly hôn
Mặt khác quá trình giao lưu văn hoá quốc tế đồng thời cũng là quá trình thâm nhậpcủa các loại văn hoá phẩm không phù hợp với nền văn minh và văn hoá dân tộc, ảnhhưởng đến lối sống lành mạnh của thanh thiếu niên nước ta Nhiều thanh niên học sinh,sinh viên đã rơi vào tình trạng yêu đương quá sớm Hiện tượng “hôn nhân thử” đã xuấthiện trong một số đối với Đó cũng là những yếu tố khách quan dễ tạo tiền đề cho sự lyhôn
2.2 ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH LY HÔN TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY 2.2.1 Ly hôn ngày càng tăng
Ly hôn là một sự kiện xã hội có tính lịch sử và có tính toàn cầu và chịu sự tác độngbởi nhiều yếu tố kinh tế - văn hoá - tâm lý - xã hội Do tác động của quá trình hội nhậpkinh tế và văn hoá quốc tế, quá trình phát triển nền kinh tế theo cơ chế thị trường, ly hôn
có xu hướng tăng lên trên tất cả các vùng, miền trong cả nước Nhiều quan niệm, cáchnhìn khác nhau về giá trị của hôn nhân và gia đình đã xuất hiện
Theo thống kê của Toà án Nhân dân tối cao cho thấy số vụ ly hôn ngày càngtăng[9,44]
Bảng 2.1 Số vụ ly hôn từ 2010 đến 2015
Trang 29Gia đình Việt Nam và thực trạng hôn nhân ở Việt Nam không giống như các xã hộiphương Tây Gia đình Việt Nam dù muốn hay không, đều chịu tác động của những tàn
dư của xã hội dựa trên nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, bị ảnh hưởng tới hệ tư tưởngphong kiến, hệ tư tưởng Nho giáo Gia đình và hôn nhân ở Việt Nam chịu sự tác động bởinhiều yếu tố, nhiều xu hướng của các nền văn minh chi phối Tất nhiên, với quá trìnhcông nghiệp hoá, hiện đại hoá trong khuôn khổ của khu vực hoá và toàn cầu hoá, gia đìnhViệt Nam không thể không bị tác động trong cuộc sống gia đình, trong kinh tế gia đình,trong sự phân công lao động giữa gia đình và xã hội và trong cả lối sống gia đình, trongcác quan hệ gia đình và quan hệ xã hội Điều đó nó phản ánh xu hướng tất yếu của sựphát triển, của sự dân chủ, sự bình đẳng trong gia đình Mặt khác, nó cũng tạo tiền đề cho
sự rạn nứt, đổ vỡ gia đình và sự ly hôn tăng lên
Ly hôn ngày càng tăng là hiện tượng phổ biến và là vấn đề được xã hội quan tâm
Xã hội và các nhà quản lý xã hội không ngăn cản ly hôn và cũng không khuyến khích lyhôn Tất nhiên hoà giải để giảm ly hôn vẫn là điều mong ước của nhiều người Nhiều giađình xảy ra nhiều cuộc xung đột giữa hai vợ chồng nhưng vẫn kiềm chế, tìm nhiều giảipháp để củng cố ổn định gia đình
Lênin đã chỉ ra rằng: “Khi người ta thừa nhận tất cả phụ nữ đều có quyền bỏ chồngthì không phải như vậy là ta khuyến khích họ bỏ chồng”[10,90] Bởi vì rằng, mỗi cuộc lyhôn không phải chỉ gây ra đau khổ cho vợ và cồng mà còn dẫn đến nhiều hậu quả cho xãhội và gia đình, làm tan vỡ hạnh phúc gia đình, làm cho cơ cấu gia đình không ổn định
Trang 30Từ cơ cấu kinh tế đến cơ cấu văn hoá, giáo dục đều bị tan rã Nó làm thay đổi các khuônmẫu và chuẩn mực, làm thay đổi mô hình gia đình, thay đổi môi trường sống của nhiềuthành viên trong gia đình Chính vì vậy, trong đời sống xã hội, ai cũng mong có một giađình ổn định, hạnh phúc và tránh sự rạn nứt, đổ vỡ Vậy tại sao tỷ lệ ly hôn ngày càngtăng nhanh trong thời gian gần đây?
2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng làm tăng số vụ ly hôn
Phải chăng do tác động của nền văn hoá nước ngoài ảnh hưởng nhiều đến thanhniên, dẫn đến nhiều tiêu cực trong hôn nhân? Nhưng thực tế, tỷ lệ ly hôn của các vợchồng trẻ không cao, trong khi đó số người từ 40 tuổi đến trên 50 tuổi chiếm tỷ lệ khá cao(gần 50%) Theo kết quả đánh giá của một số tỉnh thành thì số vụ ly hôn ở tuổi từ 25 đến
45 tuổi chiếm gần 80%, còn tuổi trẻ từ 19 đến 24 tuổi có 12%
Phải chăng do đời sống vật chất nâng cao nên ly hôn cũng tăng lên cũng không đủ
cơ sở để khẳng định, vì thực tế, nhiều cặp vợ chồng có nhiều khó khăn trong đời sốngkinh tế, nhiều gia đình nông dân nghèo cũng xảy ra ly hôn
Theo kết quả nghiên cứu và khảo sát của Trung tâm nghiên cứu khoa học về giađình và phụ nữ (do Nguyễn Thanh Tâm chủ trì), cho rằng: Những người có trình độ vănhoá khá cao (đại học, cấp 3) có tỷ lệ ly hôn cao hơn so với những người có trình độ vănhoá thấp hơn (cấp 2, cấp 1)[11,68]
Trang 31Nếu xét về nghề nghiệp, qua kết quả khảo sát của Nguyễn Thanh Tâm thì nghềnghiệp của các gia đình ly hôn như sau:
Bảng 2.2 Nghề nghiệp của các gia đình ly hôn
Theo truyền thống, ly hôn bao giờ cũng đưa đến hậu quả nặng nề nhất là người phụ
nữ và trẻ em Nhưng qua khảo sát và qua nghiên cứu của một số nhà khoa học thấy rằng,gần đây, tỷ lệ người đứng đơn cao nhất lại là phụ nữ
Theo thống kê của Toà án nhân dân tối cao, số lượng người vợ đứng đơn chiếm đếnhơn 50% tổng số đơn ly hôn
Bảng 2.3 Số phụ nữ đứng đơn ly hôn qua các năm 2010 - 2012
Năm Số phụ nữ đứng đơn ly hôn
Nguồn: TAND tối cao, 2010 - 2012
Theo số liệu của Toà án Nhân dân tối cao, trong 5 năm trở lại đây có đến 70% số vụ
ly hôn do phụ nữ đứng đơn vì lý do phải thường xuyên chịu đựng bạo lực tinh thần(ngoại tình, nhục mạ,…)
Tỷ lệ phụ nữ đứng đơn ly hôn ngày càng tăng phản ánh sự tiến bộ của phụ nữ, sựphát huy nền dân chủ trong xã hội đã tác động đến phụ nữ, làm cho phụ nữ hiểu biết rõhơn vị trí, vai trò của mình, không thể phụ thuộc mãi vào người chồng như trước Họkhông thể cắn răng chịu đựng mãi trước cảnh “bạo lực” của người chồng, trước các áplực khác nhau đối với họ, họ dũng cảm đứng tên xin ly hôn khi tình yêu với chồng khôngcòn nữa Mặt khác, do hoàn cảnh nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, giao lưu văn
Trang 32hoá xã hội, làm cho phụ nữ nhìn thấy những người đàn ông khác hơn chồng mình về tiềnbạc, về địa vị xã hội… nên họ đã có cách nhìn khác đi đối với người chồng mà trước đây
họ hằng yêu thương, kính phục, họ lấy cớ trước một số xung đột nhỏ để ly hôn
Qua xem xét tỷ lệ phụ nữ đứng đơn ly hôn tăng lên nhanh cũng phản ánh một loạihình nguyên nhân ly hôn trong những năm gần đây Trong hoàn cảnh Việt Nam, do nhiềuyếu tố tác động, phải xem xét cả yếu tố tàn dư phong tục, tập quán, quá trình xã hội kếthợp với tác động của xã hội trong quá trình đổi mới và hội nhập
Một trong những nguyên nhân đầu tiên dẫn đến ly hôn, đó là do xung đột căngthẳng, dẫn đến bạo lực gia đình
Bảng 2.4 S v ly hôn do b o l c gia ình ố vụ ly hôn do bạo lực gia đình ụ ly hôn do bạo lực gia đình ạo lực gia đình ực gia đình đình
Năm Số vụ ly hôn do bạo lực gia đình Tỷ lệ % so với tổng số vụ ly hôn
Nguồn: Trích báo cáo ngày 8/4/2015 của Toà án Nhân dân tối cao.
Ngoài bạo lực, ngoại tình cũng là nguyên nhân phổ biến dẫn đến ly hôn Nếu bạo
lực xảy ra chủ yếu do nam giới, thì ngoại tình do cả vợ và chồng gây nên Trong nguyênnhân này thường có nhiều nguyên nhân khác xen kẽ lẫn nhau như vợ chồng không hợpnhau, xa cách nhau Nhưng cũng có khi chồng hoặc vợ vốn có quan hệ không lành mạnhngoài hôn nhân, thích chạy theo đua đòi lối sống hiện đại, hoặc có khi hai vợ chồngkhông đáp ứng lẫn nhau một số nhu cầu cá nhân nào đó Trong những năm gần đây, hiệntượng ngoài tình có chiều hướng tăng lên dẫn đến ly hôn Theo tài liệu thống kê của Toà
án Nhân dân tối cao thì ngoại tình dẫn đến ly hôn chiếm từ 5 đến 8% trong tổng số vụ lyhôn: Bảng 2.5 Tỷ lệ % các vụ ly hôn do ngoại tình tại Hải Phòng qua các năm:
Nguồn: Trích báo cáo “Thực hiện các quyền trẻ em trong các gia đình ly hôn” của một
số tỉnh thành 11/2014
Những xung đột trong đời sống kinh tế trong gia đình cũng dẫn đến ly hôn.
Nguyên nhân này cũng có nhiều hình thái biểu hiện khác nhau Không phải chỉ có khó
Trang 33khăn trong kinh tế mà cả gia đình khá giả cũng có nhiều mâu thuẫn do cách làm ăn, dophân phối và sử dụng tài chính gia đình.
Ngoài các nguyên nhân như đã nêu, ly hôn còn nhiều nguyên nhân khác nữa như lốisống ích kỷ của vợ hoặc chồng, do sức khoẻ, bệnh tật, do nghiện hút, cờ bạc, do mâuthuẫn về danh vọng, địa vị xã hội
2.3 THỰC TRẠNG CỦA TRẺ EM TRONG CÁC GIA ĐÌNH SAU LY HÔN
Khi một vụ ly hôn được công nhận, cũng là lúc thừa nhận sự tan vỡ của một giađình, sự chia ly của các thành viên trong gia đình, để lại hậu quả nặng nề cho các thànhviên trong gia đình và cho xã hội Hậu quả lâu dài nhất, đó là cuộc đời của những đứa trẻthuộc các gia đình này Quan hệ vợ chồng không còn nữa, nhưng quan hệ cha mẹ và concái thì tồn tại lâu dài Việc trông nom, nuôi dưỡng và giáo dục con cái vừa là quyền lợi vànghĩa vụ của cha mẹ đã được pháp luật quy định
Từ đây, những đứa con, dù muốn hay không, nó phải chia ly với cha hoặc với mẹ,hoặc cả cha lẫn mẹ Một trong những câu hỏi đặt ra trong đầu óc của những đứa trẻ cònngây thơ đó là: Sống với ai đây? với cha ư? với mẹ ư? hay với ông, bà nội? Nhìn vàocuộc đời của những đứa bạn cùng lứa tuổi, nó tự đặt ra câu hỏi: tại sao mình lại chỉ cócha mà không có mẹ, hay chỉ có mẹ mà không có cha bên cạnh? Ai sẽ là người “cha”,người “mẹ” trong những nă tháng sắp tới của cuộc đời mình đây? Mình sẽ ống thế nàođây? có được học hành nữa không? có được như các bạn bè không? Biết bao những câu hỏiđặt ra trong những đứa trẻ trong các gia đình sau ly hôn Số lượng trẻ như vậy ngày càngtăng, càng để lại biết bao vấn đề xã hội cho con người và cho xã hội
2.3.1 Trẻ em trong các gia đình sau ly hôn ngày càng tăng
Gia đình ly hôn ngày càng tăng, tất nhiên dẫn đến trẻ em trong các gia đình sau lyhôn ngày càng tăng: Theo tài liệu của Toà án nhân dân và Uỷ ban Dân số, Gia đình vàTrẻ em của một số tỉnh thành trong những năm gần đây thì trẻ em trước 18 tuổi thuộc cácgia đình ly hôn chiếm trên 60%
Bảng 2.6 S l ố vụ ly hôn do bạo lực gia đình ượng trẻ em trong các gia đình ly hôn ngày càng tăng ng tr em trong các gia ình ly hôn ng y c ng t ng ẻ em trong các gia đình ly hôn ngày càng tăng đình ày càng tăng ày càng tăng ăng
Trang 34Nguồn: Báo cáo ngày 8/11/2015 của Toà án Nhân dân tối cao.
Số lượng trẻ em trong các gia đình ly hôn tăng lên càng làm cho cộng đồng và xãhội càng phải quan tâm nhiều hơn đến hoàn cảnh và cuộc sống của các em Vậy thựctrạng cuộc sống của các em ra sao?
2.3.2 Cơ cấu trẻ em trong các gia đình sau ly hôn tại Hải Phòng
Dựa vào các số liệu đã được thống kê, tác giả thu được cơ cấu về độ tuổi, giới tính,nơi ở và sức khỏe của các em trong các gia đình sau ly hôn thể hiện trong các biểu đồsau:
104 209
297
131 0
Sè trÎ em tõ 16-d íi 18
Biểu đồ 2.1 Cơ cấu theo tuổi của các em trong các gia đình sau ly hôn tại Hải Phòng.
(Nguồn: Báo cáo của UBDS - GĐ và TE Hải Phòng, tháng 12 năm 2015)
Biểu đồ 2.2 Cơ cấu theo giới tính của các em trong các gia đình sau ly hôn tại Hải Phòng
(Nguồn: Báo cáo của UBDS-GĐ và TE Hải Phòng, tháng 12 năm 2015)