Kết quả giám định một số đặc tính sinh hoá của các chủng vi khuẩn Salmonella spp phân lập từ lợn tiêu chảy .... Kết quả xác định một số yếu tố gây bệnh của các chủng vi khuẩn Salmonella
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
-
TRỊNH TUẤN ANH
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ GÂY BỆNH CỦA VI KHUẨN SAMONELLA SPP TRONG HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY Ở LỢN DƯỚI 3 THÁNG TUỔI TẠI TỈNH THÁI
NGUYÊN VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
THÁI NGUYÊN - 2009
Trang 2MỤC LỤC
1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2
2 Tổng quan tài liệu 3
2.1 Tình hình nghiên cứu vi khuẩn Salmonella spp và bệnh do chúng gây ra 3
2.2 Một số đặc điểm của vi khuẩn Salmonella spp 6
2.3 Bệnh do vi khuẩn Salmonella gây ra ở lợn 22
2.4 Biện pháp phòng trị bệnh do Salmonella spp gây ra ở lợn 28
2.5 Tình hình dịch bệnh trên đàn lợn của tỉnh Thái Nguyên 29
3 Đối tượng, nguyên liệu, nội dung và phương pháp nghiêu cứu 32
3.1 Đối tượng địa điểm và thời gian nghiên cứu 32
3.2 Nội dung nghiên cứu 32
3.3 Nguyên liệu dùng trong nghiên cứu 33
3.4 Phương pháp nghiên cứu 34
4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 46
4.1 Một số đặc điểm dịch tễ hội chứng tiêu chảy ở lợn dưới 3 tháng tuổi tại tỉnh Thái Nguyên 46
4.2 Kết quả phân lập vi khuẩn Salmonella spp từ các mẫu bệnh phẩm 56
4.3 Kết quả giám định một số đặc tính sinh hoá của các chủng vi khuẩn Salmonella spp phân lập từ lợn tiêu chảy 62
4.4 Kết quả xác định serrotype của các chủng Salmonella phân lập được 65
4.5 Kết quả định type vi khuẩn Salmonella spp phân lập được 68
4.6 Kết quả xác định một số yếu tố gây bệnh của các chủng vi khuẩn Salmonella spp phân lập được 70
Trang 34.7 Kết quả xác định độc lực của một số chủng vi khuẩn Salmonella spp
phân lập được trên chuột nhắt trắng 75
4.8 Kết quả gây bệnh thực nghiệm trên lợn bằng các chủng Salmonella spp phân lập được 77
4.9 Kết quả kiểm tra mức độ mẫn cảm của các chủng Salmonella spp phân lập được với một số loại kháng sinh 79
4.10 Kết quả điều trị hội chứng tiêu chảy ở lợn của một số loại kháng sinh và hoá dược 83
5 Kết luận và đề nghị 87
5.1 Kết luận 87
5.2 Đề nghị 88
Tài liệu tham khảo 89
Phụ lục 101
Danh mục các hình ảnh 102
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1 CFA : Colonization Factor Antigen
2 CHO : Chinese Hansten Ovary Cell
3 CFU : Colonial Forming Unit
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Bảng đánh giá mức độ mẫn cảm của vi khuẩn với một số loại
kháng sinh 41
Bảng 3.2: Trình tự các cặp mồi và kích cỡ sản phẩm dùng để xác định một số yếu tố gây bệnh của các chủng Salmonella phân lập được 43
Bảng 1: Tỷ lệ lợn tiêu chảy và chết do tiêu chảy tại một số huyện 46
Bảng 2: Tỷ lệ lợn tiêu chảy, tỷ lệ chết do tiêu chảy theo tuổi 48
Bảng 3: Tỷ lệ lợn tiêu chảy và chết do tiêu chảy ở cỏc mựa vụ trong năm 51
Bảng 4: Triệu chứng lâm sàng ở lợn tiêu chảy do vi khuẩn Salmonella spp 54
Bảng 5: Bệnh tích ở lợn tiêu chảy tại do Salmonella spp gây ra 55
Bảng 6: Kết quả phân lập vi khuẩn Salmonella spp từ các mẫu phân lợn tiêu chảy 57
Bảng 7: Kết quả phân lập vi khuẩn Salmonella spp ở một số cơ quan phủ tạng của lợn bệnh 60
Bảng 8: Kết quả kiểm tra một số đặc tính nuôi cấy của các chủng vi khuẩn Salmonella spp phân lập được 63
Bảng 9: Kết quả giám định một số đặc tính sinh hoá của các chủng vi khuẩn Salmonella spp phân lập được 65
Bảng 10: Kết quả định serotype vi khuẩn Salmonella phân lập được 66
Bảng 11: Kết quả định type vi khuẩn Salmonella spp phân lập được bằng phản ứng ngưng kết nhanh trên phiến kính 69
Bảng 12: Kết quả kiểm tra một số yếu tố gây bệnh của các chủng vi
khuẩn Salmonella phân lập được 72
Trang 6Bảng 13: Kết quả kiểm tra độc lực của một số chủng Salmonella phân
lập được 76
Bảng 14 a: Các chủng vi khuẩn Salmonella spp chọn gây bệnh 77
Bảng 14.b: Kết quả gây bệnh thực nghiệm Salmonella trên lợn 35 ngày tuổi 78
Bảng 15: Kết quả xác định hiệu giá kháng thể ở lợn sau khi được tiêm
autovacxin chế từ các chủng Salmonella phân lập đượcError! Bookmark not defined.
Bảng 16: Kết quả kiểm tra mức độ mẫn cảm với một số loại kháng sinh
của các chủng vi khuẩn Salmonella spp phân lập được 81
Bảng 17: Hiệu quả một số phác đồ điều trị 84
Trang 7Biểu đồ 4: So sánh tỷ lệ phân lập vi khuẩn Salmonella từ các mẫu phân
lợn tiêu chảy 58
Biểu đồ 5: So sánh kết quả phân lập vi khuẩn Salmonella từ các cơ quan
phủ tạng của lợn bị tiêu chảy 60
Biểu đồ 6: So sánh kết quả định type vi khuẩn salmonella spp phân lập
được bằng phản ứng ngưng kết nhanh trên phiến kính 69Biểu đồ 7: So sánh kết quả kiểm tra một số yếu tố gây bệnh của các
chủng vi khuẩn Salmonella phân lập được 72
Trang 81 MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay đất nước ta đang trên đường công nghiệp hóa và hiện đại hóa, cùng với sự phát triển của nhiều ngành nghề trong nền kinh tế quốc dân, ngành chăn nuôi nước ta cũng từng bước được phát triển và áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất và đã có những thay đổi tốt cả về số lượng và chất lượng sản phẩm chăn nuôi Nói đến ngành chăn nuôi phải nói đến ngành chăn nuôi lợn, bởi tầm quan trọng và ý nghĩa thiết thực của các sản phẩm đa dạng từ ngành chăn nuôi lợn đến đời sống nhân dân, hàng năm cung cấp một một lượng lớn thịt, mỡ cho con người, ngoài ra nó còn cung cấp một khối lượng lớn phân bón cho ngành trồng trọt và một số sản phẩm phụ cho ngành công nghiệp chế biến Chính vì vậy Đảng và Nhà nước ta đang hết sức quan tâm đầu tư đến việc phát triển ngành chăn nuôi lợn
Thái Nguyên là một tỉnh miền núi phía bắc Việt Nam có nghề chăn nuôi lợn khá phát triển Chăn nuôi lợn đã góp phần quan trọng để xoá đói, giảm nghèo cho bà con các dân tộc trong tỉnh Nhiều hộ gia đình đã vươn lên làm giàu từ nghề chăn nuôi lợn Nhiều trang trại, nhiều hộ gia đình đã đẩy mạnh chăn nuôi lợn nái, lợn thịt hướng nạc với quy mô 50 - 100 con/trại Chăn nuôi lợn đã bắt đầu chuyển đổi theo hướng sản xuất hàng hóa và xuất khẩu Tuy nhiên người chăn nuôi lợn còn gặp nhiều khó khăn, trong đó có vấn đề dịch bệnh Trong nhiều năm qua, hội chứng tiêu chảy thường gặp ở lợn gây thiệt hại đáng kể cho người chăn nuôi Hội chứng tiêu chảy không những xẩy ra ở lợn con theo mẹ mà còn thấy khá phổ biến ở lợn từ sơ sinh đến 3 tháng tuổi Theo nhiều tác giả, hội chứng tiêu chảy do rất nhiều nguyên
nhân gây ra (do vi khuẩn, virus, độc tố, thức ăn, thời tiết, vệ sinh, chăm sóc, nuôi dưỡng .), trong đó vi khuẩn Salmonella spp thuộc họ vi khuẩn đường
ruột sống ở đường tiêu hóa có vai trò quan trọng trong nguyên nhân gây bệnh
Trang 9Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về nguyên nhân gây tiêu chảy ở lợn, phần lớn các tác giả đều tập trung tìm hiểu nguyên nhân gây tiêu chảy ở các lứa tuổi khác nhau Tuy nhiên việc nghiên cứu về yếu tố gây bệnh của vi
khuẩn Salmonella spp trong hội chứng tiêu chảy ở lợn từ sơ sinh đến 3 tháng
tuổi tại tỉnh Thái nguyên chưa được chú ý, vì vậy cũng chưa có biện pháp
phòng trị bệnh Salmonella spp cho lợn thật sự hiệu quả
Xuất phát từ nhu cầu thực tế sản xuất chăn nuôi lợn ở tỉnh Thái Nguyên,
chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ và một số yếu tố gây bệnh của vi khuẩn Salmonella spp trong hội chứng tiêu chảy ở lợn dưới 3 tháng tuổi tại tỉnh Thái nguyên và biện pháp phòng trị”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định một số đặc điểm dịch tễ hội chứng tiêu chảy ở lợn dưới 3 tháng tuổi
- Phân lập, xác định yếu tố gây bệnh Xác định độc lực và định type của
vi khuẩn Salmonella spp trong hội chứng tiêu chảy của lợn dưới 3 tháng tuổi
phân lập được và đề xuất biện pháp phòng, trị bệnh
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Công trình đã chứng minh vai trò của vi khuẩn Salmonella spp trong
bệnh tiêu chảy của lợn dưới 3 tháng tuổi tại tỉnh Thái Nguyên Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học phục vụ cho các nghiên cứu tiếp theo, đồng thời đóng góp tư liệu cho cán bộ thú y và người chăn nuôi
Trang 102 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Tình hình nghiên cứu vi khuẩn Salmonella spp và bệnh do chúng gây ra 2.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Vi khuẩn Salmonella lần đầu tiên được D.E Salmon cùng T Smith phát hiện vào năm 1885, đó chính là Salmonella choleraesuis Năm 1990 Lignieres đặt tên cho vi khuẩn là Salmonella để tôn vinh Salmon chính là
người đầu tiên phát hiện ra vi khuẩn này Theo Sam và cộng sự thì mãi đến năm 1934 bệnh mới chính thức được công nhận do các công trình nghiên cứu
của White và Kauffmann về cấu trúc kháng nguyên của Salmonella
và S entertidis; hai loài S entertidis và S dublin cũng gặp ở lợn con đang bú
sữa Những thông báo gần đây cho thấy: ngoài động vật và những sản phẩm
động vật mà chủ yếu là thịt lợn, người ta còn thấy Salmonella choleraesuis
trong cơ thể người bị bệnh (Cherubin C.E., 1980) Từ việc tìm thấy vi khuẩn
Salmonella trong động vật ốm, sản phẩm động vật trong nước và trong bột
thịt… các tác giả đã có những đề xuất về các giải pháp tổng hợp cần thiết nhằm tránh sự lây lan vi khuẩn trong hệ sinh thái môi trường để bảo vệ sức khoẻ con người
Trang 11Theo Wilcock B.P và Schwartz K.J (1992) [76] tại Anh năm 1972 tìm
thấy vi khuẩn Salmonella có trong phân lợn là 9,9%, năm 1973 tìm thấy vi khuẩn Salmonella trong hạch ruột là 7,3% Trong khi đó ở Hungari (1989) tỷ
lệ vi khuẩn Salmonella ở phân lợn là 48% Tại Mỹ (1984) tìm thấy vi khuẩn Salmonella ở máu lợn chết là 4,3%
Theo Barnes D.M và Sorensen K.D (1974); Wilcock B.P và Schwartz
K.J (1992) [76]: ở lợn cần phân biệt 2 dạng bệnh do vi khuẩn Salmonella gây
ra đó là: Bệnh phó thương hàn cấp tính ở lợn con do S choleraesuis var kunzendorf và bệnh viêm ruột mãn tính do S typhimurium ở trâu bò: bệnh chủ yếu do các loài S dublin, S entertidis gây ra ở cừu bệnh do S abortus ovis, S montevideo, S dublin, S anatum ở ngựa S abortus equi và ở gia cầm
và chim do S pullorum, S gallinarum, S typhimurium và S enteritidis
2.1.2 Những nghiên cứu ở trong nước
ở Việt Nam vi khuẩn Salmonella và bệnh do chúng gây ra cho người và
gia súc cũng đã được bắt đầu nghiên cứu từ những năm 50 Viện Pasteur Sài
Gòn trong những năm 1951-1952-1953 đã phân lập được 6 chủng Salmonella ở
người (4 chủng từ máu, 2 chủng từ nước tiểu) Cũng ở Sài Gòn trong thời gian
này phân lập được 35 chủng từ 360 lợn Trong đó có 23 mẫu là S cholereasuis
Năm 1963 Viện vệ sinh dịch tễ Hà Nội kiểm tra tại lò sát sinh Lương Yên thấy trong 172 mẫu phân của công nhân làm việc ở đây thì có 111 trường hợp nhiễm
Salmonella dương tính (64,53%), trích theo Đỗ Đức Diên (1999) [11] Nguồn tàng trữ Salmonella chủ yếu là đường tiêu hoá của người và động vật mắc bệnh Một vài loài như S typhi, S paratyphi A, S paratyphi B, S paratyphi C chỉ ký sinh ở người Những loài khác hay gặp hơn như: S choleraesuis, S enteritidis chủ yếu ký sinh ở động vật nhưng cũng có khả năng gây bệnh cho
người Nguyễn Văn Lãm (1968) [24] đã tiến hành nghiên cứu chế vacxin phó
thương hàn lợn con từ chủng Salmonella chuẩn của Trung Quốc
Trang 1221 năm sau, Nguyễn Thị Nội và cs (1989) [28] tiến hành điều tra tình
hình nhiễm vi khuẩn đường ruột tại một số cơ sở chăn nuôi lợn miền Bắc vẫn
tìm thấy 37,5% lợn nhiễm Salmonella, nhóm tác giả này đã nghiên cứu và chế
tạo thành công vacxin đa giá Salsco phòng bệnh ỉa chảy cho lợn con Vacxin
đã được áp dụng để phòng bệnh có hiệu quả ở nhiều trại chăn nuôi lợn, tỷ lệ lợn bị tiêu chảy giảm từ 30-50%, tỷ lệ lợn chết do tiêu chảy giảm xuống còn 10-20% Những năm gần đây các công trình nghiên cứu về các loài vi khuẩn
Salmonella ở lợn vẫn thu hút được sự chú ý của các tác giả trong nước
Lê Văn Tạo và cs (1989) đã phân lập, xác định serotyp của vi khuẩn
Salmonella gây bệnh ở lợn cho biết: 50% các chủng phân lập được thuộc Salmonella choleraesuis; 12,5% Salmonella enteritidis; 6,25% Salmonella typhimurium và số còn lại thuộc các serotyp khác Trần Xuân Hạnh (1995) [15] đã phân lập và giám định vi khuẩn Salmonella ở lợn tại Thành phố Hồ Chí Minh cho biết kết quả: Salmonella typhisuis ở lợn bệnh là 16,9%; ở lợn bình thường 6-16 tuần tuổi là 4,2%; Salmonella paratyphi ở lợn 6-16 tuần tuổi là 2,8% Đặc biệt vi khuẩn Salmonella choleraesuis chiếm 38,7% ở lợn
bệnh và 2,8% ở lợn bình thường
Theo Phùng Quốc Chướng (1995) [6] ở Tây Nguyên, mùa khô lợn mắc
bệnh do vi khuẩn Salmonella gây ra là 20,03%, vụ đông là 28,66% Tạ Thị
Vịnh và cs (1996) [52] đã kiểm tra 75 mẫu phân lợn khoẻ và 65 mẫu phân lợn bệnh tại một số vùng thuộc Ba Vì (Hà Tây) và Gia Lâm (Hà Nội) cho
thấy: Tỷ lệ nhiễm Salmonella cao 30-56% ở lợn khoẻ trong giai đoạn 22-60 ngày tuổi Tỷ lệ nhiễm Salmonella ở lợn mắc hội chứng tiêu chảy cao hơn lợn
bình thường và tăng dần theo lứa tuổi, dao động từ 70 -90%
Theo Hồ Văn Nam và cs (1997) [27] thì tỷ lệ lợn ở các lứa tuổi nhiễm
Salmonella dao động từ 40-88,8% với lượng vi khuẩn trong 1 gam phân là
51,3 triệu Tác giả đã tiến hành gây bệnh thực nghiệm cấp tính cũng như mãn tính trên lợn và thu được kết quả về bệnh tích đại thể ở 2 dạng bệnh trên
Trang 13Kết quả phân lập vi khuẩn Salmonella ở lợn mắc bệnh tiêu chảy tại 4
cơ sở chăn nuôi lợn thuộc miền Bắc nước ta của Cù Hữu Phú và cs (1999)
[31] cho biết: tỷ lệ tìm thấy Salmonella trung bình ở lợn tiêu chảy nuôi tại 4
cơ sở trên là 80% Đây là điều đáng lo ngoại đối với ngành chăn nuôi lợn ở nước ta
Lê Minh Sơn (2003) [37] đã xác định tỷ lệ nhiễm Salmonella trong thịt
lợn giết mổ tiêu dùng nội địa từ 10,91-16,67% và thịt lợn xuất khẩu trung bình 1,42%
2.2 Một số đặc điểm của vi khuẩn Salmonella spp
Trực khuẩn Salmonella thuộc bộ Eubacteriales, họ Enterobacteriaceae Giống Salmonella gồm 2 loài: S enterica và S bongori đã được phân chia
thành trên 2000 serotyp theo bảng phân loại Kauffmann-White trên cơ sở cấu trúc của kháng nguyên thân O, kháng nguyên lông H và đôi khi các kháng
nguyên vỏ (kháng nguyên K) Gần đây, loài S enterica đã được phân thành 6 phân loài đó là: S enterica subsp enterica, S enterica subsp salamae, S enterica subsp arizonae, S enterica subsp diarizinae, S enterica subsp houtenae, S enterica subsp indica Trong đó phân loài S enterica subsp enterica gồm phần lớn các chủng Salmonella là những tác nhân gây bệnh cho
người và động vật (Quinn, 1994 [67])
2.2.1 Đặc điểm hình thái
Theo Bergeys Manual (1994) [49], vi khuẩn Salmonella là những trực
khuẩn ngắn, hai đầu tròn, có kích thước 0,4-0,6 x 1,0-3,0 µm, bắt màu Gram
âm, không hình thành nha bào và giáp mô Đa số loài Salmonella có lông (flagella) từ 7-12 chiếc xung quanh thân (trừ S gallinarum-pullorum)
Lông giúp cho vi khuẩn có khả năng di động Lông có hình tròn, dài, xuất phát từ màng cytoplasma Do có cấu trúc từ các sợi protein hình xoắn nên có thể co giãn và di động nên lông của chúng rất khó nhuộm Nếu nhuộm
Trang 14bằng phương pháp Haschem (1972) thì có thể nhìn thấy chúng dưới kính hiển
vi điện tử (Lê Văn Tạo, 1993 [38]) Lông có tính kháng nguyên và do các gen
mã hóa tổng hợp protein riêng quy định
Ngoài ra, trên bề mặt màng ngoài của vi khuẩn Salmonella đều có các
cấu trúc sợi nhỏ hơn, còn gọi là Fimbriae hay Pili Chúng có kích thước chừng 0,01- 0,03 x 1,0 µm Số lượng fimbriae trên 1 vi khuẩn có khoảng 250-
400 cái vươn thẳng ra xung quanh bề mặt tế bào Fimbriae có cấu trúc là protein và có tính kháng nguyên đặc trưng Theo Jones và cs (1981) [59]: Fimbriae tạo cho vi khuẩn khả năng bám dính (adhesion) lên các tế bào biểu
mô ruột và xâm nhập vào lớp niêm mạc
2.2.2 Tính chất nuôi cấy
Salmonella là vi khuẩn hiếu khí tuỳ tiện, dễ nuôi cấy Nhiệt độ nuôi cấy
thích hợp là 37oC, nhưng có thể phát triển được ở nhiệt độ từ 6- 42oC Nuôi cấy ở 43oC có thể loại trừ được tạp khuẩn mà Salmonella vẫn phát triển được
(Timoney và cs, 1988 [80]) pH thích hợp cho vi khuẩn phát triển là 7,6, tuy nhiên vi khuẩn vẫn phát triển được ở pH từ 6-9
Khi nuôi cấy vi khuẩn trong môi trường BPW (Buffered Pepton Water)
và môi trường RV (Rappaports Vassiliadis) sau vài giờ nuôi cấy thấy môi trường vẩn đục nhẹ, sau 18 đến 24 giờ thấy canh trùng đục đều, trên mặt môi trường có màng mỏng, đáy ống nghiệm có cặn
Hiện nay có rất nhiều loại môi trường chọn lọc được các nhà vi sinh vật
thú y sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu và phân lập Salmonella như môi
trường thạch DHL (Deoxycholate Hydrogen sulfide Lactose agar), sau 24 giờ nuôi cấy vi khuẩn phát triển thành khuẩn lạc tròn, lồi, bóng láng (dạng S), có màu vàng nhạt Các chủng sinh H2S thì giữa khuẩn lạc có màu đen
Môi trường thạch MacConkey: Vi khuẩn phát triển thành những khuẩn lạc tròn lồi, trong không màu, nhẵn bóng
Trang 15Trên môi trường thạch CHROMTM Salmonella, sau 24 giờ nuôi cấy, vi
khuẩn hình thành khuẩn lạc trơn, tròn, bóng láng (dạng S) và có màu tím hồng
Trong môi trường thạch TSI (Triple Sugar Iron), vi khuẩn Salmonella
do sản sinh alkaline nên phần thạch nghiêng có màu đỏ (pH=7,3), đáy ống nghiệm màu vàng (pH=6,8) do vi khuẩn chỉ lên men đường Glucose Phần giữa ống nghiệm có màu đen do vi khuẩn sản sinh ra khí H2S Nếu để lâu (quá
24 giờ), màu đen môi trường thường làm át phản ứng tạo axit ở phần đáy ống nghiệm (không nhìn thấy màu vàng) Vi khuẩn sinh hơi làm nứt thạch, có khi đẩy thạch khỏi đáy ống nghiệm (Quinn và cs, 2002 [67])
Trong môi trường LIM (Lysine Indole Motility), vi khuẩn không làm chuyển màu môi trường, môi trường có màu tím nhạt
Môi trường Malonate, vi khuẩn không phát triển nên không làm thay
đổi màu môi trường
2.2.3 Đặc tính sinh hoá
Theo Quinn và cs (2002) [67], giống vi khuẩn Salmonella được chia
thành 7 phân nhóm, mỗi phân nhóm có khả năng lên men một số loại đường
nhất định và không đổi Phần lớn phân loài S enterica subsp enterica gây
bệnh cho động vật máu nóng Chúng lên men và sinh hơi: Glucoza, Mannit, Mantoza, Galactoza, Dulcitol, Arabonoza, Sorbitol Cũng ở nhóm này, hầu
như các chủng vi khuẩn Salmonella đều không lên men Lactoza và Saccaroza
Đa số các vi khuẩn thuộc giống Salmonella không làm tan chảy
Gelatin, không phân giải Urê, không sản sinh Indol Phản ứng MR, Catalaza
dương tính (trừ S choleraesuis, S gallinarum-pullorum có MR âm tính)
Phản ứng Oxidaza âm tính Phản ứng sinh H2S dương tính (trừ S paratyphi A,
S typhisuis, S choleraesuis)
Trong quá trình phân lập và giám định vi khuẩn Salmonella thì đặc tính
sinh hóa có ý nghĩa rất quan trọng
Trang 162.2.4 Sức đề kháng của vi khuẩn Salmonella spp
Vi khuẩn Salmonella mẫn cảm với nhiệt độ và các chất sát trùng mạnh
Theo Laval, (2000) [25], vi khuẩn Salmonella sống được lâu trong điều
kiện lạnh, chúng có thể sống trong bột thịt 8 tháng, nhưng ở điều kiện môi trường có độ pH ≤ 5 chúng chỉ sống được trong thời gian ngắn
Vi khuẩn Salmonella tồn tại trong chất độn chuồng tới trên 30 tuần, có
thể sống ở trong đất với độ sâu 0,5cm trong thời gian 2 tháng Ở sàn gỗ, tường
gỗ trong điều kiện ít ánh sáng là 87 ngày, máng gỗ 108 ngày (Đào Trọng Đạt
và cs, 1995 [14]) Trong nước tù đọng, đồng cỏ ẩm thấp S typhimurium có thể tồn tại trên 7 tháng Trong xác súc vật chết, Salmonella có thể sống trên 100
ngày, trong thịt ướp muối từ 6-8 tháng (Nguyễn Vĩnh Phước và cs, 1970, [33])
2.2.5 Đặc điểm dịch tễ học của vi khuẩn Salmonella spp
Vi khuẩn Salmonella gây bệnh cho người và vật nuôi, phân bố ở khắp
nơi trên thế giới, vì vậy các nghiên cứu về cách truyền lây của vi khuẩn này được nhiều nhà khoa học nghiên cứu Một đặc điểm dịch tễ quan trọng của
Salmonella là trạng thái mang trùng và thải trùng của gia súc
Theo Archie Hunter (2002) [20], một nguồn bệnh đặc biệt quan trọng là
gia súc mang vi khuẩn Salmonella spp nhưng không biểu hiện lâm sàng
Những con này có thể thải mầm bệnh ra ngoài môi trường trong vài tháng Tác giả cũng cho biết cách lây lan như sau: Gia súc nhiễm bệnh thải vi khuẩn
Salmonella vào trong phân và bệnh xảy ra do tiếp xúc trực tiếp hay ô nhiễm
phân vào thức ăn, nước uống hay chuồng trại gia súc
Trang 17Theo Gray và cs (1995) [58] , lợn nhiễm S choleraesuis thường biểu
hiện các dấu hiệu lâm sàng từ 36-48 giờ sau khi nhiễm trùng và có 103- 106 đơn vị vi khuẩn trong 1 gram phân vào giai đoạn bệnh cao nhất Cũng theo tác giả thì phần lớn những lợn nhiễm tự nhiên sau khi khỏi bệnh, có thể loại thải hoàn toàn vi khuẩn vào giữa 9-12 tuần sau khi nhiễm trùng Điều này cho thấy rằng tình trạng mang trùng lâu dài này có thể dẫn tới sự nhiễm khuẩn môi trường và sự tái nhiễm tiếp theo của những động vật mới đưa vào trại
Nhiều nhà khoa học khi nghiên cứu về đường nhiễm Salmonella đều cho rằng: Vi khuẩn Salmonella theo thức ăn, nước uống vào đường tiêu hóa
và có thể do tiếp xúc Bình thường, chúng sống trong ống tiêu hoá mà không gây bệnh Chỉ khi nào sức đề kháng của lợn giảm sút, vi khuẩn xâm nhập vào máu và nội tạng gây bệnh Bệnh Phó thương hàn chỉ gây thành dịch địa phương, dịch bệnh phụ thuộc vào cơ cấu đàn, tình hình vệ sinh thú y, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng và đặc điểm dịch tễ học của cơ sở đó (Phan Thanh Phượng, 1988 [35]; Nguyễn Như Thanh, 2001 [41]; Laval, 2000 [25])
Theo Phan Thanh Phượng (1988) [35], tỷ lệ lợn mắc bệnh do
Salmonella gây ra thường tăng lên vào thời kỳ lợn cai sữa, vì lúc đó cơ thể
lợn con thay đổi, dễ nhiễm bệnh Nguyễn Như Thanh và cs (2001) [41], cũng cho biết: vi khuẩn gây ra bệnh Phó thương hàn cho lợn con từ 2 - 4 tháng tuổi với tỷ lệ tử vong khoảng 25%, có khi lên đến 95%; bệnh có thể ở lợn lớn với thể mạn tính và ít gây chết
Bệnh ít xảy ra ở lợn con trước cai sữa, bởi chúng được bảo hộ nhờ kháng thể có trong sữa đầu của lợn mẹ Song nguy cơ nổ ra bệnh tăng dần theo lứa tuổi, đặc biệt là sau cai sữa, khi mà khả năng miễn dịch chủ động chưa thể bù đắp kịp thời để thay thế miễn dịch thụ động (Laval, 2000 [25])
2.2.6 Cấu trúc kháng nguyên của vi khuẩn Salmonella spp
Cấu trúc kháng nguyên của vi khuẩn Salmoenlla hết sức phức tạp, bao
gồm 3 loại chính:
Trang 18Kháng nguyên O (O- Antigen): Kháng nguyên thân
Kháng nguyên H (H- Antigen): Kháng nguyên lông
Kháng nguyên K (K- Antigen) hay kháng nguyên vỏ
* Kháng nguyên thân O (O- Antigen)
Kháng nguyên O nằm ở thành tế bào vi khuẩn, có cấu trúc LipoPolySaccharide (LPS) là thành phần chính cấu tạo nên lớp màng ngoài của thành tế bào vi khuẩn Gram âm Kháng nguyên O chịu nhiệt (Heat-stable) và kháng cồn, bị biến tính khi sử lý bằng formaldehyde Kháng nguyên O gồm 2 nhóm chính:
- Polysaccharide không có nhóm hydro, không mang tính đặc trưng của kháng nguyên và chỉ tạo sự khác biệt về hình thái khuẩn lạc từ dạng S (Smooth) sang dạng R (Rough) và dẫn đến giảm độc lực của vi khuẩn (Selbitz, 1995 [70])
- Polysaccharide nằm ở ngoài có nhóm hydro quyết định tính kháng nguyên và đặc trưng cho từng serotyp
Kháng nguyên O được xem như là một nội độc tố (Endotoxin) mà nó được cấu tạo bởi nhóm hỗn hợp Glyco- polypeptide có thể tìm thấy ở màng ngoài của vỏ bọc vi khuẩn
Theo CIRAD (2006) [51], kháng nguyên O của vi khuẩn Salmonella có
67 loại chính, được chia thành hơn 50 nhóm, số còn lại đóng vai trò phụ
* Kháng nguyên lông H (H- Antigen)
- Kháng nguyên H (H-Antigen) là protein nằm trong thành phần lông của vi khuẩn, là loại kháng nguyên không chịu nhiệt (Heat labile), rất kém bền vững so với kháng nguyên O, bị phá hủy ở nhiệt độ 60oC sau 1 giờ, dễ phá hủy bởi cồn và axit yếu (Nguyễn Như Thanh và cs, 2001 [41])
- Kháng nguyên H gồm có 2 pha:
Pha 1: có tính đặc hiệu, gồm 28 loại kháng nguyên được biểu thị bằng chữ mẫu la tinh thường: a,b,c,d, ,z
Trang 19Pha 2: Không có tính đặc hiệu, gồm 6 loại được biểu thị bằng chữ số ả rập: 1,2,3,4,5,6 hay la tinh thường: e,n,x,
Tuy nhiên, trong từng tế bào vi khuẩn riêng biệt luôn luôn chỉ xuất hiện từng pha, bởi vậy mà trong chẩn đoán, để đạt được một công thức kháng
nguyên hoàn chỉnh cho Salmonella phải thay đổi pha Có các loài Salmonella như S typhisuis, hoặc S enteritidis thì chỉ tạo 1 pha
Kháng nguyên H không quyết định yếu tố độc lực của vi khuẩn, cũng như không có ý nghĩa trong việc tạo ra miễn dịch phòng bệnh, nhưng nó có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định giống loài của vi khuẩn
* Kháng nguyên vỏ (K- Antigen)( hay Vi- Antigen)
Theo Quinn và cs (2002) [67], kháng nguyên vỏ chỉ có ở một số loài
như S typhi, S paratyphi S dublin cũng có thể mang kháng nguyên vỏ,
kháng nguyên K có thể làm che các kháng nguyên thân O Cũng theo tác giả,
nếu đun sôi huyễn dịch của các loài Salmonella này trong 10 đến 12 phút sẽ
phá hủy được kháng nguyên vỏ
Kháng nguyên vỏ là một loại kháng nguyên có khả năng ngưng kết
kháng thể O khi phát triển nhiều Kháng nguyên này chỉ gặp ở 2 serotyp là: S typhi và S paratyphi C, ký hiệu kháng nguyên hay Vi trong công thức đứng
sau kháng nguyên O Theo sơ đồ của Kauffmann - White; công thức kháng
nguyên của S paratyphi C là: 6,7, Vi: -1,5 và S Typhi là: 9, 12, Vi: c,d
Trong 3 kháng nguyên chủ yếu trên, kháng nguyên O và kháng nguyên
H là 2 loại kháng nguyên có ý nghĩa quan trọng trong công tác chẩn đoán
2.2.7 Các yếu tố gây bệnh của vi khuẩn Salmonella spp
2.2.7.1 Các yếu tố không phải là độc tố
a) Kháng nguyên O
Chất lượng thành phần hóa học, cấu trúc kháng nguyên O đều ảnh
hưởng tới độc lực của vi khuẩn Salmonella Cụ thể là: S typhimurium nếu
Trang 20thay thành phần kháng nguyên từ công thức 1, 4, 12 sang 1, 9, 12 thì vi khuẩn
từ dạng có độc lực chuyển sang dạng không có độc lực (Valtonen, 1977 [74])
Kháng nguyên O là yếu tố độc lực giúp vi khuẩn chống lại khả năng phòng vệ của vật chủ, giúp vi khuẩn phát triển trong tế bào tổ chức, chống lại
sự thực bào của đại thực bào (Morris và cs, 1976 [62])
Kháng nguyên O khích thích các cơ quan đáp ứng miễn dịch hình thành kháng thể đặc hiệu ngưng kết với kháng nguyên tương ứng Cơ chế phòng vệ này giúp cơ thể vật chủ chống lại quá trình tái xâm nhập của vi khuẩn
Đến nay, người ta đã xác định được trên 3000 serotyp kháng nguyên O
của Salmonella, thành phần kháng nguyên của vi khuẩn S choleraesuis gồm:
c) Kháng nguyên K
Bản chất hóa học của kháng nguyên K là Polysaccharide, nhưng thực chất chúng chỉ là thành phần của kháng nguyên O Kháng nguyên K tạo hàng rào bảo vệ giúp vi khuẩn chống lại tác động ngoại cảnh và hiện tượng thực bào (Nguyễn Như Thanh, 2001 [40])
d) Yếu tố bám dính
Theo Jones và Richardson (1981) khả năng bám dính của vi khuẩn
Salmonella lên tế bào nhung mao ruột là bước khởi đầu quan trọng trong quá
trình gây bệnh Hiện tượng bám dính của vi khuẩn lên bề mặt tế bào vừa mang tính chất lý hóa, vừa mang tính chất sinh học và được thực hiện theo 3 bước:
Trang 21Bước 1: Vi khuẩn liên kết từng phần với bề mặt tế bào, thực hiện quá trình này đòi hỏi vi khuẩn phải có khả năng di động
Bước 2: Là quá trình hấp phụ, phụ thuộc vào đặc tính bề mặt của vi khuẩn và tế bào mà vi khuẩn bám dính và được thực hiện theo hướng thuận nghịch với sự tương hỗ của những tác động khác nhau
Bước 3: Là quá trình tương tác giữa yếu tố bám dính của vi khuẩn với các điểm tiếp nhận trên bề mặt tế bào Yếu tố bám dính của vi khuẩn được sắp xếp trên các fimbriae
Theo Lê Văn Tạo (1993) [38], trên mỗi tế bào vi khuẩn Salmonella có
từ 250- 400 fimbriae, chúng giúp vi khuẩn bám dính vào tế bào nhung mao ruột non để gây bệnh
Đỗ Trung Cứ và cs (2003) [9] đã công bố: S typhimurium phân lập từ
lợn mắc bệnh Phó thương hàn có khả năng bám dính lên bề mặt tế bào Vero với tỷ lệ cao (từ 70,76% - 93,48%) Kết quả này tương đương với khả năng
bám dính của chủng S typhimurium chuẩn
e) Yếu tố xâm nhập
Theo Finlay và cs (1988) [56], khả năng xâm nhập vào tế bào có nhân
hoặc lớp niêm mạc của đường ruột là đặc tính của một số chủng Salmonella
có độc lực Các biến chủng Salmonella không có khả năng xâm nhập vào tế
bào thường là các chủng không có độc lực
Sau khi tiếp cận tế bào vật chủ, vi khuẩn Salmonella tác động làm tăng
hàm lượng Ca++ nội bào, hoạt hóa Actin Depolimeriring Enzyme, làm thay đổi cấu trúc, hình dạng các sợi actin, biến đổi màng tế bào, dẫn đến hình thành giả túc bao vây tế bào vi khuẩn dưới dạng các không bào chứa vi khuẩn Sau đó
Salmonella được xâm nhập vào trong tế bào, tồn tại, tiếp tục nhân lên với số
lượng lớn, phá vỡ tế bào vật chủ, sản sinh độc tố đường ruột (Enterotoxin), làm xuất hiện quá trình tiêu chảy của vật chủ (Frost và cs, 1997 [57])
Trang 22f) Khả năng tổng hợp sắt
Theo Benjamin (1985) [48], đây là một yếu tố giúp vi khuẩn
Salmonella tăng nhanh về số lượng làm suy yếu khả năng chống đỡ của vật chủ do bị thiếu sắt Cũng theo tác giả, vi khuẩn Salmonella có phản ứng với
sự thay đổi cơ chế chu chuyển sắt; khi quá trình tổng hợp sắt bị ức chế, chúng
sẽ chuyển toàn bộ protein màng điều phối sắt lên bề mặt của tế bào vi khuẩn, làm cho khả năng hấp thu sắt tăng cường một cách rõ rệt
Khả năng kháng kháng sinh có thể thay đổi, phụ thuộc vào địa phương, thời điểm làm kháng sinh đồ và loại vật nuôi
Trên đây là 7 yếu tố gây bệnh không phải là độc tố của vi khuẩn
Salmonella Các yếu tố này bằng những cơ chế tác động khác nhau, phương
thức tác động khác nhau, đã tạo điều kiện bất lợi cho cơ thể vật chủ, đồng thời
chúng lại tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn Salmonella gây bệnh Chính vì
thế các yếu tố không phải là độc tố đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá
trình sinh bệnh của vi khuẩn Salmonella Vì vậy, việc nghiên cứu các yếu tố
này là hết sức cần thiết, góp phần quan trọng trong việc phòng chống bệnh do
vi khuẩn Salmonella gây nên
2.2.7.2 Các yếu tố là độc tố
Nếu như các yếu tố gây bệnh không phải là độc tố là những tác nhân
gián tiếp, quan trọng trong quá trình sinh bệnh của vi khuẩn Salmonella, thì
Trang 23các yếu tố gây bệnh là độc tố lại là tác nhân trực tiếp quyết định quá trình sinh
bệnh Các yếu tố gây bệnh là độc tố của Salmonella bao gồm: nội độc tố
(Endotoxin), ngoại độc tố đường ruột (Enterotoxin) và độc tố tế bào (Cytotoxin) (Finlay và Falkov, 1988 [56])
a, Độc tố đường ruột (Enterotoxin)
Độc tố đường ruột của vi khuẩn Salmonella có hai thành phần chính:
Độc tố thẩm xuất nhanh RPF (Rapid Permeability Factor) và độc tố thẩm xuất chậm DPF (Delayed Permeability Factor) (Peteron, 1980 [65])
+ Theo Clarke và cs (1988) [53], độc tố thẩm xuất nhanh có cấu trúc
thành phần giống với độc tố chịu nhiệt của vi khuẩn E coli (Heat-stabile
toxin: ST)
Yếu tố thẩm xuất nhanh giúp Salmonella xâm nhập vào tế bào biểu mô
của ruột, và thực hiện khả năng thẩm xuất sau 1- 2 giờ, kéo dài 48 giờ và làm trương tế bào CHO (Chinese Hamster Ovary cell) ST có khả năng chịu được nhiệt độ 100oC trong 4 giờ, bền vững ở nhiệt độ thấp, có thể bảo quản ở -
20oC Cấu trúc phân tử gồm nhiều polysaccharide và một số chuỗi polypeptide
Độc tố RPF kích thích lên hệ thống men Guanylate Cyclase trong tế bào biểu mô ruột, chuyển GTP thành GDP Trong tế bào, GDP tăng cao làm cho nồng độ ion Ca++ cũng tăng cao, dẫn đến ngăn cản hấp thu chất điện giải
và nước ở trong xoang ruột Do vậy, lượng nước trong ruột tăng cao, kích thích niêm mạc ruột, tăng co bóp, làm gia súc ỉa chảy
Theo Đỗ Trung Cứ (2001) [8]: 72,7% các chủng Salmonella phân
lập được từ lợn sau cai sữa bị ốm, chết nghi Phó thương hàn sản sinh độc
tố chịu nhiệt
+ Yếu tố thẩm xuất chậm của Salmonella có cấu trúc, thành phần giống độc tố không chịu nhiệt của vi khuẩn E coli (Heat Labile Toxin: LT) Nó
Trang 24thực hiện chức năng thẩm xuất chậm từ 18- 24 giờ, có thể kéo dài 36- 48 giờ DPF bị phá hủy ở 70oC trong vòng 30 phút và ở 56oC trong vòng 4 giờ Cấu trúc phân tử gồm 3 chuỗi polypeptide và một số hợp chất khác, phân tử lượng 40.000- 50.000 dalton
Độc tố thẩm xuất chậm của Salmonella làm thay đổi quá trình trao đổi
nước và chất điện giải, dẫn đến tăng cường bài xuất nước và chất điện giải từ
mô bào vào lòng ruột, cản trở sự hấp thu, gây thoái hóa lớp tế bào villi của thành ruột gây tiêu chảy
Đỗ Trung Cứ và cs (2003) [9] đã kết luận: 81,81% số chủng S typhimurium phân lập từ lợn mắc bệnh tiêu chảy sản sinh độc tố không chịu
nhiệt (LT) có khả năng gây tích nước trong ruột non của lợn thí nghiệm
b, Nội độc tố (Endotoxin)
Nội độc tố nằm ở lớp màng ngoài của tế bào vi khuẩn và được cấu tạo bởi thành phần cơ bản là Lipopolysaccharide (LPS) LPS có cấu tạo phân tử lớn, gồm 3 vùng riêng biệt với các đặc tính và chức năng riêng biệt: Vùng ưa nước, vùng lõi và vùng lipit A
Vùng ưa nước bao gồm một chuỗi Polysaccharide chứa các đơn vị cấu trúc kháng nguyên O Vùng lõi có bản chất là acid heterooligosaccharide, ở trung tâm, nối kháng nguyên O với vùng lipit A Vùng lipit A đảm nhận chức năng nội độc tố của vi khuẩn Cấu trúc nội độc tố gần giống với cấu trúc của kháng nguyên O Cấu trúc nội độc tố biến đổi sẽ dẫn đến sự thay đổi độc lực
của Salmonella Các đột biến gen ở vùng lõi, vùng ưa nước làm cho Salmonella không còn độc lực (Trần Quang Diên, 2002 [12])
Lipit A có ái lực với màng tế bào, với lipit khác và với Protein Điều đó chứng tỏ lipit A chính là trung tâm hoạt động của nội độc tố Vùng đa đường Polysaccharide, chỉ giữ vai trò là vật mang các lipit không hòa tan (Bradley,
1979 [55])
Trang 25Nội độc tố là LPS được tiết ra từ vách tế bào vi khuẩn khi bị dung giải Trước khi thể hiện độc tính, LPS cần phải liên kết với các yếu tố liên kết tế bào hoặc các receptor bề mặt các tế bào như: Tế bào lâm bao cầu B, lâm bao cầu T, tế bào đại thực bào, tiểu cầu, tế bào gan lách
Rất nhiều các cơ quan trong cơ thể vật chủ chịu sự tác động của nội độc
tố LPS: Gan, thận, cơ, hệ tim mạch, hệ tiêu hóa và hệ thống miễn dịch với các biểu hiện bệnh lý như: Tắc mạch máu, giảm trương lực cơ, thiếu oxy mô bào, toan huyết, rối loạn tiêu hóa, mất tính thèm ăn
c, Độc tố tế bào (Cytotoxin)
Đặc tính chung của Cytotoxin là có khả năng ức chế tổng hợp Protein của tế bào có nhân và làm trương tế bào CHO (Chinese Hamster Ovary cell)
Đa phần độc tố của chúng bị phá hủy bởi nhiệt độ
Theo Clarke và cs (1988) [52], làm tổn thương tế bào biểu mô là đặc tính quan trọng của Cytotoxin Có ít nhất là 3 dạng Cytotoxin:
+ Dạng 1: Không bền vững với nhiệt và mẫn cảm với Trypsin Độc tố này có trọng lượng phân tử khoảng 56- 78 kDa, nó tác động theo cơ chế là ức chế tổng hợp Protein của tế bào Hela và làm teo tế bào
+ Dạng 2: Có nguồn gốc từ Protein màng ngoài tế bào vi khuẩn, có cấu
trúc và chức năng gần giống với các dạng độc tố tế bào do Shigella và các chủng Enterotoxigenic E coli (ETEC) sản sinh ra Dạng độc tố này cũng có ở hầu hết các serovar Salmonella gây bệnh
+ Dạng 3: Dạng này có liên quan với Hemolysin Dạng độc tố này tác động lên tế bào theo cơ chế dung giải các không bào nội bào Trong phòng thí nghiệm, độc tố này gây chết tế bào Vero, tế bào Hela và tế bào CHO (Rahman
và cs, 1992 [68])
Trên đây là 3 loại độc tố gây bệnh chính của vi khuẩn Salmonella,
chúng là các tác nhân trực tiếp, quyết định khả năng gây bệnh của vi khuẩn
Trang 26Một số serotyp như: S choleraesuis, S typhimurium, S enteritidis, S dublin, S gallinarum, S pullorum có mang các plasmid có kích thước lớn
(khoảng từ 50- 100 kb) Chính những plasmid này có mang các yếu tố di truyền quyết định khả năng sản sinh các yếu tố độc lực gây bệnh cho người và gia súc với tỷ lệ ốm và chết cao (Krause và Fang, 1995 [61])
2.2.8 Một số nguyên nhân gây tiêu chảy ở lợn
Tiêu chảy là hiện tượng bệnh lý có liên quan đến nhiều yếu tố, có yếu
tố là nguyên nhân nguyên phát, có yếu tố là nguyên nhân thứ phát Vì vậy việc phân biệt giữa các nguyên nhân gây tiêu chảy rất khó khăn (Phạm Ngọc
Thạch, 1996 [44], Lê Minh Chí, 1995 [5]) Có thể liệt kê một số nguyên nhân
quan trọng sau
2.2.8.1 Tiêu chảy do môi trường ngoại cảnh
Môi trường ngoại cảnh là một trong 3 yếu tố cơ bản gây ra bệnh dịch, mối quan hệ giữa Cơ thể - Mầm bệnh - Môi trường là nguyên nhân của sự không ổn định sức khoẻ, đẫn đến phát sinh bệnh (Nguyễn Như Thanh, 2001 [40])
Môi trường ngoại cảnh bao gồm các yếu tố: nhiệt độ, độ ẩm, các điều kiện về chăm sóc nuôi dưỡng, vệ sinh chuồng trại, sự di chuyển, thức ăn, nước uống
Khi gia súc bị nhiễm lạnh kéo dài sẽ làm giảm phản ứng miễn dịch, giảm tác dụng thực bào, làm cho gia súc bị nhiễm khuẩn gây bệnh (Hồ Văn Nam và cs, 1997 [27])
Khi gặp điều kiện ngoại cảnh không thuận lợi, thay đổi đột ngột về thức ăn, Vitamin, protein, thời tiết vận chuyển làm giảm sức đề kháng của con vật thì vi khuẩn thường trực sẽ tăng độc tố và gây bệnh (Bùi Quý Huy,
2003 [19])
Như vậy, môi trường ngoại cảnh gây bệnh tiêu chảy không mang tính đặc hiệu mà mang tính tổng hợp Lạnh và ẩm gây rối loạn hệ thống điều hoà
Trang 27trao đổi nhiệt của cơ thể lợn, dẫn đến rối loạn quá trình trao đối chất, làm giảm sức đề kháng của cơ thể, từ đó các mầm bệnh trong đường tiêu hoá có thời cơ tăng cường độc lực và gây bệnh
2.2.8.2 Nguyên nhân do Vi sinh vật
Vi sinh vật bao gồm: vi khuẩn, virus, nấm mốc Chúng vừa là nguyên nhân nguyên phát vừa là nguyên nhân thứ phát gây tiêu chảy
* Tiêu chảy do vi khuẩn
Trong đường tiêu hoá của gia súc có hệ vi khuẩn gọi là hệ vi khuẩn đường ruột, được chia làm 2 loại: vi khuẩn có lợi (có tác dụng lên men phân giải các chất dinh dưỡng giúp cho quá trình tiêu hoá được thuận lợi) và vi khuẩn có hại (khi có điều kiện thì gây bệnh)
Họ vi khuẩn đường ruột là họ vi khuẩn cộng sinh thường trực trong đường ruột Họ vi khuẩn này muốn từ vi khuẩn cộng sinh thành vi khuẩn gây bệnh phải có 3 điều kiện:
- Trên cơ thể vật chủ có cấu trúc giúp cho vi khuẩn thực hiện được chức năng bám dính
- Vi khuẩn phải có khả năng sản sinh các yếu tố gây bệnh, đặc biệt là sản sinh độc tố, trong đó quan trọng nhất là độc tố đường ruột Enterotoxin
- Có khả năng xâm nhập vào lớp tế bào biểu mô của niêm mạc ruột, từ
đó phát triển nhân lên
Một số vi khuẩn thuộc họ vi khuẩn đường ruột là E.coli, Salmonella, Shigella, Klebsiella, Cperfringens, đó là những vi khuẩn quan trọng gây rối
loạn tiêu hoá, viêm ruột tiêu chảy ở người và động vật
Hồ Văn Nam và cs (1997) [27], Archie.H (2000) [20] cho biết: vi khuẩn đường ruột có vai trò quan trọng không thể thiếu được trong hội chứng tiêu chảy
Nguyễn Như Pho (2003) [30] cho rằng khả năng gây bệnh của các loại
vi khuẩn đối với lứa tuổi lợn khác nhau Đối với lợn con sau cai sữa hoặc lợn
Trang 28giai đoạn đầu nuôi thịt thì tỷ lệ mắc tiêu chảy do Salmonella cao hơn; giai đoạn từ lúc sơ sinh đến khi cai sữa thường do E.coli; lứa tuổi 6 - 12 tuần tuổi thì thường do xoắn khuẩn Treponema hyodysenterriae; còn vi khuẩn yếm khí C.perfrigens thường gây bệnh nặng cho lợn con theo mẹ trong khoảng 1 tuần
tuổi đến cai sữa
* Tiêu chảy do virus
Virus cũng là tác nhân gây bệnh tiêu chảy ở lợn, sự xuất hiện của virus
đã làm tổn thương niêm mạc ruột làm suy giảm sức đề kháng của cơ thể và thường gây ỉa chảy ở dạng cấp tính với tỷ lệ chết cao (Phạm Ngọc Thạch,
1996 [44])
Rotavirus và Coronavirus là những virus gây tiêu chảy quan trọng ở gia súc non mới sinh như, nghé, dê, cừu, lợn, ngựa, đặc biệt là bê do những virus này có khả năng phá huỷ màng ruột và gây tiêu chảy nặng (Archie.H, 2000 [20]) Các nghiên cứu trong nước của Lê Minh Chí (1995) [5] và Nguyễn Như Pho (2003) [30] cũng đã cho rằng: Rotavirus và Coronavirus gây bệnh tiêu chảy chủ yếu cho lợn con trong giai đoạn theo mẹ, với các triệu chứng tiêu chảy cấp tính, nôn mửa, mất nước với tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ chết cao
* Tiêu chảy do nấm mốc
Thức ăn khi chế biến hoặc bảo quản không tốt, không đúng kỹ thuật dễ
bị nấm mốc Một số loài như: Aspergillus, Penicillium, Fusarium có khả năng sản sinh ra nhiều loài độc tố, nhưng quan trọng nhất là nhóm độc tố Aflatoxin (Aflatoxin B1, B2, G1, G2, M1)
Độc tố Aflatoxin gây độc cho người và gia súc, gây bệnh nguy hiểm nhất cho con người là ung thư gan, huỷ hoại gan, độc cho thận, sinh dục và thần kinh Aflatocxin gây độc cho nhiều loài gia súc, gia cầm, mẫn cảm nhất
là vịt, gà, lợn và một số loài gia súc khác Lợn khi bị nhiễm độc thường bỏ ăn, thiếu máu, vàng da, ỉa chảy, ỉa chảy ra máu Nếu trong khẩu phần ăn có 500 -
Trang 29700µg Aflatoxin/kg thức ăn sẽ làm cho lợn chậm lớn, còi cọc, giảm sức dề kháng với các bệnh truyền nhiễm khác
2.2.8.3 Tiêu chảy do Ký sinh trùng
Có nhiều loại ký sinh trùng gây tiêu chảy ở lợn như: cầu trùng Eimeria, Isospora suis, Crytosporidium, Aascaris suum, Trichuris suis hoặc một số gium tròn lớp Nemtoda (Ascaris suum, Trichuris suis, Strongloides, Haemonchus, Mecistocirrus)
Bệnh do Isospora suis, Crytosporidium thường tập chung vào giai đoạn lợn con từ 5 - 25 ngày tuổi, còn ở lợn trên 28 ngày tuổi do cơ thể đã tạo được miễn dịch đối với bệnh cầu trùng, nên lợn chỉ mang mầm bệnh mà ít xuất hiện triệu chứng tiêu chảy (Nguyễn Như Pho, 2003 [30])
Cầu trùng và một loại giun tròn (giun đũa, giun tóc, giun lươn) là một trong những nguyên nhân gây tiêu chảy ở lợn sau cai sữa nuôi trong các hộ gia đình tại Thái nguyên (Nguyễn Thị Kim Lan và cs 2006a [22]) Đặc điểm chủ yếu của tiêu chảy do ký sinh trùng là con vật mắc bệnh nhưng không liên tục, có sự xen kẽ giữa tiêu chảy và bình thường, cơ thể thiếu máu, da nhợt nhạt, gia súc kém ăn, thể trạng sa sút
Như vậy có thể thấy, có rất nhiêu nguyên nhân gây tiêu chảy nhưng theo một số chuyên gia chuyên nghiên cứu về bệnh tiêu chảy ở lợn như Lê Văn Tạo (1993) [38], Hồ Văn Nam (1997) [27] thì dù nguyên nhân nào gây tiêu chảy cho lợn con đi nữa thì cuối cùng cũng là quá trình nhiễm khuẩn, vi khuẩn kế phát làm viêm ruột, tiêu chảy nặng thêm, có thể dẫn đến chết hoặc viêm ruột tiêu chảy mãn tính
2.3 Bệnh do vi khuẩn Salmonella gây ra ở lợn
Salmonella là căn nguyên gây nên bệnh phó thương hàn ở lợn (Salmonellosis in pigs), phổ biến là các serovars: S.choleraesuis (nhóm O 6, 7); S.enteritidis (nhóm O 9, 12) và S.typhimurium (nhóm O 1, 4, 12) với hai thể chủ yếu là nhiễm trung máu và viêm ruột
Trang 30Theo Phan Thanh Phượng (1998) [35], một số triệu chứng ở lợn con theo mẹ thường chỉ thấy chứng ỉa chảy, rồi táo bón, dần kiệt quệ Phân có màu vàng sáng, lẫn chất nhầy, có mùi hôi thối đặc biệt, thỉnh thoảng lợn bị nôn mửa, trên da lợn xuất hiện những đốm đỏ hoặc tím bầm, hiện tượng này thường thấy ở da bụng, quanh tai và bẹn Những lợn đó được gọi là “lợn tai xanh” Có trường hợp vết đỏ tím bầm trên da có tính chất lan tràn, thậm chí gây hoại tử rồi tróc thành vẩy Khi nắm vào thành bụng, lợn bệnh có phản ứng đau và kêu thành tiếng yếu ớt, nếu không điều trị kịp thời, lợn có thể chết sau 2 ngày - 7 ngày, tỷ lệ lợn chết 70 - 80% Nếu bệnh kéo dài thêm sẽ chuyển sang giai đoạn á cấp tính, thân nhiệt lợn ốm 410C hoặc cao hơn, sau
đó dao động từ 390
C - 40,50C trong vòng 10 - 15 ngày Ở thể á cấp tính, hiện tượng ỉa chảy xuất hiện sau 2 - 3 ngày rồi kéo dài cho đến khi lợn chết hoặc khỏi bệnh Phân bài tiết ra ngoài nhiều lần trong ngày, sau đó phân chảy ra liên tục; phân có màu vàng, vàng xám, vàng nâu ở lợn con, còn ở lợn trưởng thành, phân nhão, phân ước có lẫn máu Lợn gầy sút nhanh
Trên da lợn trưởng thành mắc bệnh cũng xuất hiện các mảng da bị đỏ hoặc tím bầm ở vùng bụng, tai, bẹn, sau đó xuất hiện chứng viêm phổi, lợn
Trang 31ho thở dốc Những lợn như vậy thường bị chết do chứng viêm phổi thứ phát
15 ngày sau khi bị bệnh Tỷ lệ lợn chết ở lợn bị bệnh thể á cấp tính khoảng 40
- 45% Lợn bị bệnh thường mang trùng và thải đều đặn mầm bệnh ra ngoài môi trường, nhưng khó phát hiện một cách chính xác
* Bệnh tích đại thể
Khi mổ khám lợn bệnh, những bệnh tích đại thể quan sát được bao gồm: các vết tím xanh ở rìa tai, trên bề mặt da bụng, bẹn, chân và đuôi, xuất huyết lấm tấm dưới da; hạch manh tràng treo ruột, lách và hạch bạch huyết sưng phồng lên, các thuỳ lách cứng lại Trên bề mặt gan có điểm hoại tử nhỏ màu hơi trắng Xuất hiện những đám màu hồngnhư trứng gà tây ở thận và
phổi viêm (Trương Văn Dung, Yoshihara Shinobu, 2002 [13])
* Bệnh tích vi thể
Lưới nội mô và hạch bạch huyết tăng trưởng; hoại tử theo điểm trắng ở gan; xuất huyết và hoại tử ở hạch bạch huyết của màng treo ruột, màng phổi, màng bụng, màng bao tim, thận và màng não lấm tấm xuất huyết (Trương
Văn Dung, Yoshihara Shinobu, 2002 [13])
Theo Wilcock (1995) [77], dấu hiệu biến đổi bệnh tích vi thể do Salmonella gây ra là ở hạch lympho màng treo ruột: sưng, xung huyết, xuất huyết và có điểm hoại tử màu xám Trên bề mặt gan thấy xuất hiện điểm hoại
tử mô bào; những biến đổi bệnh tích vi thể là không trùng lặp với bất cứ bệnh nào khác ở lợn
* Chẩn đoán
Chẩn đoán bệnh phó thương hàn thể nhiễm trùng máu do
S.choleraesuis var Kunzendorf gây lên, không thể dựa vào trên các triệu chứng lâm sàng đơn lẻ, vì triệu chứng lâm sàng của Salmonelosis giống như
nhiều triệu chứng nhiễm trùng khác ở lợn như bệnh nhiễm trùng do
Strepttoccocus, bệnh đóng dấu lợn
Trang 322.3.2 Thể viêm ruột do S typhimurium
Bệnh Phó thương hàn thể viêm ruột thường do các serotyp S typhimurium gây ra ở lợn con từ sau cai sữa đến khoảng 4 - 6 tháng tuổi Các
thể bệnh hay gặp là cấp tính hoặc mãn tính (Laval, 2000 [25])
* Bệnh tích vi thể
Sự hoại tử nông hay sâu trên bề mặt của lớp tế bào biểu mô ruột là những bệnh lý vi thể đặc trưng của thể viêm ruột; có trường hợp thấy nổi gồ
Trang 33lên khỏi niêm mạc xung huyết của ruột những hạt tròn như hạt đậu màu trắng vàng Phần đầu lông nhung trong hồi tràng bị teo ngắn lại Đa số trường hợp thấy mảng payer bị loét dưới đáy như phủ một lớp tổ chức hoại tử màu vàng trắng, niêm mạc dạ dày có điểm chảy máu rải rác, có một số loét nhỏ tập trung ở bờ cong nhỏ Gan xung huyết, trên bề mặt gan có thể thấy những nốt
u nhỏ (áp xe) mang tính đặc trưng cho thể bệnh không giống với điểm hoại tử trong thể nhiễm trùng huyết (Phạm Sỹ Lăng và cs, (2004) [26])
* Chẩn đoán
+ Chẩn đoán lâm sàng: Ở thể viêm ruột của bệnh Phó thương hàn, căn
cứ vào các triệu chứng điển hình như viêm ruột và dạ dày ở lợn con từ sau cai sữa đến 4 tháng tuổi Đồng thời, dựa vào kết quả nuôi cấy, phân lập vi khuẩn trên môi trường pepton và kiểm tra di động trên môi trường thạch và xét nghiệm huyết thanh học
+ Chẩn đoán phân biệt với bệnh hồng lỵ; Chứng viêm ruột do
Campylobacter (PHE); Viêm ruột hoại tử; bệnh viêm dạ dày ruột (Transmission Gasto Enteritis- TGE); tiêu chảy ở lợn do E coli Một số tác nhân gây tiêu chảy do vi rút như Rotavirus và Coronavirus gây viêm ruột, bệnh dịch tả lợn, các loại ký sinh trùng như cầu trùng Coccidia…
- Ở bệnh Phó thương hàn, thân nhiệt lợn ốm vẫn giữ cao (41- 42oC) trong suốt thời gian lợn bị ỉa chảy, điều đó hoàn toàn khác với bệnh hồng lỵ Hiện tượng tím tái nhiều khu vực trên da lợn bị bệnh Phó thương hàn cũng khác với lợn bị bệnh hồng lỵ Ở lợn bị bệnh hồng lỵ, phân có màu xám, xám-đen, đen, đen nâu, hiện tượng này không có ở lợn bị bệnh Phó thương hàn Lách ở lợn bị bệnh hồng lỵ không bị sưng và không có những biến đổi đặc trưng Màng niêm mạc ruột ở lợn bị bệnh hồng lỵ thường phủ một lớp biểu bì hoại tử, hiện tượng này không có ở lợn bị bệnh Phó thương hàn
Để có thể phân biệt rõ các loại bệnh này thường phải tiến hành các xét nghiệm kiểm tra vi khuẩn trong phòng thí nghiệm
Trang 34- Ở bệnh viêm ruột do Campylobacter (PHE) thể cấp tính có thể thấy
xuất huyết ruột hay tiêu chảy cấp tính hoặc mãn tính, tổn thương thường lan tràn, làm mất đi những bệnh tích nhỏ, lớp niêm mạc nằm dưới các ổ hoại tử có dấu hiệu tăng sinh rất rõ Để tránh nhầm lẫn, cần xét nghiệm, phân lập vi khuẩn
- Đối với bệnh viêm ruột hoại tử do vi khuẩn C perfringens, bệnh xuất
hiện trong vòng một vài ngày đầu của lợn sơ sinh, lợn bệnh không sốt Hiện tượng tiêu chảy làm cho niêm mạc hậu môn bị tổn thương, có màu đỏ Lợn bệnh chết nhanh Giải phẫu ruột thấy có phủ một lớp hoại tử màu vàng hoặc những khối hơi sáng, dễ nát, dính chặt vào niêm mạc ruột Nhung mao của không tràng và tiểu nang là nơi xét nghiệm thấy trực khuẩn Gram (+) (Trương
Văn Dung và Yoshihara Shinobu, 2002 [13])
- Bệnh viêm dạ dày ruột (TGE) thường mắc và tỷ lệ chết cao ở lợn dưới
2 tuần tuổi Khi mổ khám, thấy dạ dày sưng to với các cục sữa vón, ruột non sưng to với bọt khí màu vàng và hình thành các cục sữa do không tiêu hoá được, thành ruột mỏng, gần như trong suốt Các lông nhung của không tràng
và hồi tràng bị teo đi
- Chẩn đoán phân biệt bệnh do Salmonella gây ra ở lợn với các bệnh do
E coli và bệnh dịch tả lợn có ý nghĩa rất quan trọng trong thực tiễn
- Lợn bị tiêu chảy do vi khuẩn E coli gây ra ở lứa tuổi sau cai sữa (4- 9
tuần tuổi) cũng khá phổ biến, lợn có biểu hiện phù mắt, phù đầu nên còn gọi
là bệnh phù đầu lợn con Mổ khám bệnh tích thấy tụ máu trong ruột non, có thể nhìn thấy chất chứa trong ruột non vì thành ruột mỏng và lông nhung
không bị phá huỷ Ở bệnh do Salmonella, lợn tím vành tai, da bụng và vùng
bẹn Các biến đổi bệnh lý ở ruột có tính đặc trưng như mô tả về phần bệnh
tích đại thể và vi thể của bệnh do Salmonella
- Bệnh dịch tả lợn xảy ra và lây lan nhanh ở tất cả các lứa tuổi lợn Hiện tượng ỉa chảy ở lợn bị bệnh dịch tả lợn xuất hiện khi nhiệt độ cơ thể
Trang 35giảm, khi sốt cao lợn lại táo bón; còn ở bệnh Phó thương hàn lợn bị ỉa chảy khi thân nhiệt sốt cao 2 - 3 ngày Mổ khám bệnh tích lợn bị bệnh dịch tả thấy xuất huyết ở khắp các hệ thống cơ quan như hạch lympho, thận, bàng quang
và da, nhồi huyết ở lách, hạch lympho có màu đá hoa cương, viêm loét hình cúc áo trên niêm mạc bị viêm Điều trị bằng kháng sinh, lợn không khỏi bệnh, trong khi dùng kháng sinh điều trị bệnh Phó thương hàn có tỷ lệ khỏi cao
2.4 Biện pháp phòng trị bệnh do Salmonella spp gây ra ở lợn
Biện pháp phòng chống Salmonellosis phải dựa trên bản chất của ổ dịch, vì vi khuẩn Salmonella phân bố rộng, nên thanh toán bệnh là không khả
thi Biện pháp phòng, chống phải thiết kế để giảm tối đa tiếp xúc giữa gia súc mắc bệnh với gia súc khoẻ, giảm ô nhiễm thức ăn, nước uống và tránh dùng phụ phẩm từ cá, động vật trong thức ăn gia súc chưa được tiệt trùng (Archie
Hunter, 2002 [20]) Do đó, phòng, chống bệnh do vi khuẩn Salmonella gây
nên ở lợn là một vấn đề rất phức tạp, đòi hỏi những biện pháp đồng bộ
2.4.1 Phòng bệnh
Phòng bệnh Phó thương hàn cho lợn, nhất là ở những nơi chăn nuôi lợn tập trung quy mô lớn và chăn nuôi lợn nái có nhiều lợn con là một việc quan
trọng, vì đặc điểm dịch tễ của căn bệnh là vi khuẩn Samonella không dễ dàng
khống chế và yêu cầu của quá trình phòng bệnh là phải thực hiện được triệt để các nội dung như tiêm phòng vacxin, vệ sinh khử trùng tiêu độc, quản lý chăn nuôi, sử dụng chế phẩm sinh hoá học…
2.4.2 Điều trị bệnh
Hiệu quả chữa bệnh phụ thuộc rất nhiều vào các biện pháp phòng bệnh tổng hợp như vệ sinh thú y, chăm sóc, nuôi dưỡng, đồng thời phải chẩn đoán bệnh kịp thời thì mới nâng cao hiệu quả chữa bệnh
- Sử dụng kháng huyết thanh Phó thương hàn
Kháng huyết thanh phó thương hàn được chế bằng cách: Gây tối miễn
dịch cho bò đực thiến bằng canh trùng vi khuẩn S choleraesuis chứa độc tố
Trang 36được vô hoạt bằng formol Tiêm bắp 30 - 60ml cho lợn dưới 45 ngày tuổi; 50
- 80ml cho lợn 45 ngày tuổi trở lên
- Điều trị bằng kháng sinh
Cho đến nay, việc dùng kháng sinh chữa bệnh Phó thương hàn cần chú
ý loại trừ các loại kháng sinh đã bị vi khuẩn kháng được nhiều tác giả thông báo như Streptomycin, Ampicillin,… Cũng phải loại trừ các kháng sinh vi khuẩn mẫn cảm nhưng đã bị cấm sử dụng như Chloramphenicol, Furazolidon,…
Có nhiều loại kháng sinh mà các công ty, xí nghiệp thuốc thú y trong và ngoài nước sản xuất dùng cho điều trị bệnh Phó thương hàn Khi sử dụng theo đúng hướng dẫn của nhà sản xuất
Tốt nhất là làm kháng sinh đồ để đánh giá và chọn loại kháng sinh điều trị có hiệu quả nhất
2.5 Tình hình dịch bệnh trên đàn lợn của tỉnh Thái Nguyên
2.5.1 Một số đặc điểm tự nhiên ảnh hưởng đến bệnh tiêu chảy
Thái Nguyên là một tỉnh miền núi trung du Bắc Bộ, có dịện tích tự nhiên 3.562,82 km², dân số hiện nay khoảng 1.127.200 người Thái Nguyên là một tỉnh không lớn, chỉ chiếm 1,13% diện tích và 1,41% dân số so với cả nước ( Nguồn: Cục thống kê tỉnh Thái Nguyên 2009) [3]
Tỉnh Thái Nguyên phía Bắc tiếp giáp với tỉnh Bắc Kạn, phía Tây giáp với các tỉnh Vĩnh Phúc, Tuyên Quang, phía Đông giáp với các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang và phía Nam tiếp giáp với thủ đô Hà Nội Với vị trí địa lý là một trong những trung tâm chính trị, kinh tế, giáo dục của khu Việt Bắc nói riêng, của vùng trung du miền núi đông bắc nói chung, Thái Nguyên là cửa ngõ giao lưu kinh tế - xã hội giữa vùng Trung du miền núi với vùng đồng bằng Bắc Bộ Việc giao lưu đã được thực hiện thông qua hệ thống đường bộ, đường sắt, đường sông hình rẻ quạt mà thành phố Thái Nguyên là đầu nút Thái Nguyên
có một số đặc điểm khí hậu như sau:
Trang 37Khí hậu Thái Nguyên vào mùa đông được chia thành 3 vùng rõ rệt:
- Vùng lạnh nhiều nằm ở phía bắc huyện Võ Nhai
- Vùng lạnh vừa gồm các huyện Định Hóa, Phú Lương và phía nam huyện Võ Nhai
- Vùng ấm gồm các huyện: Đại Từ, Thành phố Thái Nguyên, Đồng Hỷ, Phú Bình, Phổ Yên và Thị xã Sông Công
Nhiệt độ chênh lệch giữa tháng nóng nhất (tháng 6: 28,9°C) với tháng lạnh nhất (tháng 1: 15,2°C) là 13,7°C Tổng số giờ nắng trong năm dao động
từ 1.300 đến 1.750 giờ và phân phối tương đối đều cho các tháng trong năm
Khí hậu Thái Nguyên chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 10 đến tháng 5 Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 2.000 đến 2.500 mm; cao nhất vào tháng 8 và thấp nhất vào tháng 1
Nhìn chung khí hậu tỉnh Thái Nguyên thuận lợi cho phát triển ngành nông, lâm nghiệp Trong đó tác động đáng kể đến tình hình dịch bệnh trên đàn lợn, đặc biệt là bệnh tiêu chảy
2.5.2 Tình hình dịch bệnh trên đàn lợn
Tình hình dịch bệnh trên đàn lợn của tỉnh Thái nguyên những năm qua diễn biến phức tạp và gây tổn thất khá lớn cho ngành chăn nuôi Tổng hợp của chi cục thú y tỉnh Thái Nguyên [4] trong 3 năm từ năm (2007-2009) cho thấy dịch bệnh trên đàn lợn:
Có trên 10 loại bệnh thường xẩy ra, với 50.422 con mắc và 3.979con
chết, tỉnh trung bình trên 16.807 con ốm/năm và 1.326,33 con chết/năm (chi tiết xem phần phụ lục)
Có thể thấy mặc dù tỷ lệ lợn chết do tiêu chảy là không cao song tần suất xuất hiện bệnh rất lớn; trung bình của 100 ca lợn mắc bệnh thì có tới 55
ca lợn mắc tiêu chảy Như vậy, ngoài việc phải chi phí cho điều trị, số lợn
Trang 38khỏi bệnh cũng chậm lớn, tiêu tốn thức ăn tăng, làm tăng chi phí cho chăn nuôi, dẫn đến hiệu quả chăn nuôi giảm
Qua số liệu thống kê hàng tháng chúng tôi thấy : bệnh tiêu chảy ở lợn sẩy ra nhiều vào 2 giai đoạn: từ tháng 1-2 và từ tháng 6-8, đó là vào mùa đông
và mùa hè Giai đoạn từ tháng 9 đến cuối tháng 11 có số ca mắc tiêu chảy thấp hơn Kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu của một số tác giả khác như Hoàng Văn Tuấn, Lê Văn Tạo, (1998) [46], Nguyễn Thị Kim Lan và cs,
(2006b) [23]
Trang 393 ĐỐI TƯỢNG, NGUYÊN LIỆU, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊU CỨU 3.1 Đối tượng địa điểm và thời gian nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Vi khuẩn Salmonella spp gây bệnh ở lợn nuôi tại Thái Nguyên
- Lợn dưới 3 tháng tuổi tại các huyện của tỉnh Thái Nguyên
3.1.2 Địa điểm nghiên cứu
- Các trang trại, hộ gia đình tại các huyện: Đồng Hỷ, Phổ Yên, Đại Từ, Phú Lương và Thị xã Sông Công thuộc tỉnh Thái Nguyên
- Bộ môn Vi trùng, Viện Thú Y Quốc gia
3.1.3 Thời gian nghiên cứu
- Từ tháng 12/2008 - 12/2009
3.2 Nội dung nghiên cứu
3.2.1 Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ hội chứng tiêu chảy ở lợn dưới 3 tháng tuổi tại tỉnh Thái Nguyên
3.2.1.1 Tỷ lệ lợn tiêu chảy và chết do tiêu chảy tại 5 huyện
3.2.1.2 Tỷ lệ lợn tiêu chảy và chết do tiêu chảy theo lứa tuổi
3.2.1.3 Tỷ lệ lợn tiêu chảy và chết do tiêu chảy theo mùa vụ trong năm
3.2.1.4 Triệu chứng, bệnh tích của lợn tiêu chảy
3.2.2 Nghiên cứu xác định vai trò của vi khuẩn Salmonella spp trong hội chứng tiêu chảy ở lợn
3.2.2.1 Phân lập, xác định tỷ lệ nhiễm vi khuẩn từ các mẫu bệnh phẩm lợn tiêu chảy
3.2.2.2 Định type vi khuẩn Salmonella spp phân lập được tại các huyện 3.2.2.3 Giám định đặc tính sinh hoá của các chủng vi khuẩn phân lập được 3.2.2.4 Xác định các Serotyp của các chủng vi khuẩn phân lập được
Trang 403.2.2.5 Xác định tính mẫn cảm với kháng sinh, hoá dược của các chủng Salmonella spp phân lập được
3.2.2.6 Gây bệnh thực nghiệm bằng một số chủng Salmonella spp phân lập được
3.2.3 Thử nghiệm một số phác đồ điều trị tiêu chảy cho lợn
3.3 Nguyên liệu dùng trong nghiên cứu
3.3.2 Các loại hoá chất, môi trường
* Các loại môi trường
Môi trường sử dụng trong nghiên cứu là những loại môi trường (của các hãng: Eiken, Oxoid, Biorad, ) ở dạng tổng hợp, khi dùng pha theo công thức có sẵn bao gồm:
- Môi trường BPW, RV, Mac Conkey, Môi trường thạch CHROMTM
Salmonella và thạch DHL dùng để nuôi cấy, phân lập vi khuẩn Salmonella
- Môi trường TSI, LIM và môi trường Malonate dùng để giám định vi
- Thuốc nhuộm Gram, dung dịch Kovac’s, dung dịch Andrader
- Giấy tẩm kháng sinh (do hãng Oxoid của Anh sản xuất)