1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên Cứu Đặc Điểm Dịch Tễ Và Một Số Yếu Tố Gây Bệnh Của Vi Khuẩn Samonella Spp Trong Hội Chứng Tiêu Chảy Ở Lợn Dưới 3 Tháng Tuổi Tại Tỉnh Thái Nguyên Và Biện Pháp Phòng Trị

110 537 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả giám định một số đặc tính sinh hoá của các chủng vi khuẩn Salmonella spp phân lập từ lợn tiêu chảy .... Kết quả xác định một số yếu tố gây bệnh của các chủng vi khuẩn Salmonella

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

-

TRỊNH TUẤN ANH

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ GÂY BỆNH CỦA VI KHUẨN SAMONELLA SPP TRONG HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY Ở LỢN DƯỚI 3 THÁNG TUỔI TẠI TỈNH THÁI

NGUYÊN VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

THÁI NGUYÊN - 2009

Trang 2

MỤC LỤC

1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2

2 Tổng quan tài liệu 3

2.1 Tình hình nghiên cứu vi khuẩn Salmonella spp và bệnh do chúng gây ra 3

2.2 Một số đặc điểm của vi khuẩn Salmonella spp 6

2.3 Bệnh do vi khuẩn Salmonella gây ra ở lợn 22

2.4 Biện pháp phòng trị bệnh do Salmonella spp gây ra ở lợn 28

2.5 Tình hình dịch bệnh trên đàn lợn của tỉnh Thái Nguyên 29

3 Đối tượng, nguyên liệu, nội dung và phương pháp nghiêu cứu 32

3.1 Đối tượng địa điểm và thời gian nghiên cứu 32

3.2 Nội dung nghiên cứu 32

3.3 Nguyên liệu dùng trong nghiên cứu 33

3.4 Phương pháp nghiên cứu 34

4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 46

4.1 Một số đặc điểm dịch tễ hội chứng tiêu chảy ở lợn dưới 3 tháng tuổi tại tỉnh Thái Nguyên 46

4.2 Kết quả phân lập vi khuẩn Salmonella spp từ các mẫu bệnh phẩm 56

4.3 Kết quả giám định một số đặc tính sinh hoá của các chủng vi khuẩn Salmonella spp phân lập từ lợn tiêu chảy 62

4.4 Kết quả xác định serrotype của các chủng Salmonella phân lập được 65

4.5 Kết quả định type vi khuẩn Salmonella spp phân lập được 68

4.6 Kết quả xác định một số yếu tố gây bệnh của các chủng vi khuẩn Salmonella spp phân lập được 70

Trang 3

4.7 Kết quả xác định độc lực của một số chủng vi khuẩn Salmonella spp

phân lập được trên chuột nhắt trắng 75

4.8 Kết quả gây bệnh thực nghiệm trên lợn bằng các chủng Salmonella spp phân lập được 77

4.9 Kết quả kiểm tra mức độ mẫn cảm của các chủng Salmonella spp phân lập được với một số loại kháng sinh 79

4.10 Kết quả điều trị hội chứng tiêu chảy ở lợn của một số loại kháng sinh và hoá dược 83

5 Kết luận và đề nghị 87

5.1 Kết luận 87

5.2 Đề nghị 88

Tài liệu tham khảo 89

Phụ lục 101

Danh mục các hình ảnh 102

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1 CFA : Colonization Factor Antigen

2 CHO : Chinese Hansten Ovary Cell

3 CFU : Colonial Forming Unit

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Bảng đánh giá mức độ mẫn cảm của vi khuẩn với một số loại

kháng sinh 41

Bảng 3.2: Trình tự các cặp mồi và kích cỡ sản phẩm dùng để xác định một số yếu tố gây bệnh của các chủng Salmonella phân lập được 43

Bảng 1: Tỷ lệ lợn tiêu chảy và chết do tiêu chảy tại một số huyện 46

Bảng 2: Tỷ lệ lợn tiêu chảy, tỷ lệ chết do tiêu chảy theo tuổi 48

Bảng 3: Tỷ lệ lợn tiêu chảy và chết do tiêu chảy ở cỏc mựa vụ trong năm 51

Bảng 4: Triệu chứng lâm sàng ở lợn tiêu chảy do vi khuẩn Salmonella spp 54

Bảng 5: Bệnh tích ở lợn tiêu chảy tại do Salmonella spp gây ra 55

Bảng 6: Kết quả phân lập vi khuẩn Salmonella spp từ các mẫu phân lợn tiêu chảy 57

Bảng 7: Kết quả phân lập vi khuẩn Salmonella spp ở một số cơ quan phủ tạng của lợn bệnh 60

Bảng 8: Kết quả kiểm tra một số đặc tính nuôi cấy của các chủng vi khuẩn Salmonella spp phân lập được 63

Bảng 9: Kết quả giám định một số đặc tính sinh hoá của các chủng vi khuẩn Salmonella spp phân lập được 65

Bảng 10: Kết quả định serotype vi khuẩn Salmonella phân lập được 66

Bảng 11: Kết quả định type vi khuẩn Salmonella spp phân lập được bằng phản ứng ngưng kết nhanh trên phiến kính 69

Bảng 12: Kết quả kiểm tra một số yếu tố gây bệnh của các chủng vi

khuẩn Salmonella phân lập được 72

Trang 6

Bảng 13: Kết quả kiểm tra độc lực của một số chủng Salmonella phân

lập được 76

Bảng 14 a: Các chủng vi khuẩn Salmonella spp chọn gây bệnh 77

Bảng 14.b: Kết quả gây bệnh thực nghiệm Salmonella trên lợn 35 ngày tuổi 78

Bảng 15: Kết quả xác định hiệu giá kháng thể ở lợn sau khi được tiêm

autovacxin chế từ các chủng Salmonella phân lập đượcError! Bookmark not defined.

Bảng 16: Kết quả kiểm tra mức độ mẫn cảm với một số loại kháng sinh

của các chủng vi khuẩn Salmonella spp phân lập được 81

Bảng 17: Hiệu quả một số phác đồ điều trị 84

Trang 7

Biểu đồ 4: So sánh tỷ lệ phân lập vi khuẩn Salmonella từ các mẫu phân

lợn tiêu chảy 58

Biểu đồ 5: So sánh kết quả phân lập vi khuẩn Salmonella từ các cơ quan

phủ tạng của lợn bị tiêu chảy 60

Biểu đồ 6: So sánh kết quả định type vi khuẩn salmonella spp phân lập

được bằng phản ứng ngưng kết nhanh trên phiến kính 69Biểu đồ 7: So sánh kết quả kiểm tra một số yếu tố gây bệnh của các

chủng vi khuẩn Salmonella phân lập được 72

Trang 8

1 MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay đất nước ta đang trên đường công nghiệp hóa và hiện đại hóa, cùng với sự phát triển của nhiều ngành nghề trong nền kinh tế quốc dân, ngành chăn nuôi nước ta cũng từng bước được phát triển và áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất và đã có những thay đổi tốt cả về số lượng và chất lượng sản phẩm chăn nuôi Nói đến ngành chăn nuôi phải nói đến ngành chăn nuôi lợn, bởi tầm quan trọng và ý nghĩa thiết thực của các sản phẩm đa dạng từ ngành chăn nuôi lợn đến đời sống nhân dân, hàng năm cung cấp một một lượng lớn thịt, mỡ cho con người, ngoài ra nó còn cung cấp một khối lượng lớn phân bón cho ngành trồng trọt và một số sản phẩm phụ cho ngành công nghiệp chế biến Chính vì vậy Đảng và Nhà nước ta đang hết sức quan tâm đầu tư đến việc phát triển ngành chăn nuôi lợn

Thái Nguyên là một tỉnh miền núi phía bắc Việt Nam có nghề chăn nuôi lợn khá phát triển Chăn nuôi lợn đã góp phần quan trọng để xoá đói, giảm nghèo cho bà con các dân tộc trong tỉnh Nhiều hộ gia đình đã vươn lên làm giàu từ nghề chăn nuôi lợn Nhiều trang trại, nhiều hộ gia đình đã đẩy mạnh chăn nuôi lợn nái, lợn thịt hướng nạc với quy mô 50 - 100 con/trại Chăn nuôi lợn đã bắt đầu chuyển đổi theo hướng sản xuất hàng hóa và xuất khẩu Tuy nhiên người chăn nuôi lợn còn gặp nhiều khó khăn, trong đó có vấn đề dịch bệnh Trong nhiều năm qua, hội chứng tiêu chảy thường gặp ở lợn gây thiệt hại đáng kể cho người chăn nuôi Hội chứng tiêu chảy không những xẩy ra ở lợn con theo mẹ mà còn thấy khá phổ biến ở lợn từ sơ sinh đến 3 tháng tuổi Theo nhiều tác giả, hội chứng tiêu chảy do rất nhiều nguyên

nhân gây ra (do vi khuẩn, virus, độc tố, thức ăn, thời tiết, vệ sinh, chăm sóc, nuôi dưỡng .), trong đó vi khuẩn Salmonella spp thuộc họ vi khuẩn đường

ruột sống ở đường tiêu hóa có vai trò quan trọng trong nguyên nhân gây bệnh

Trang 9

Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về nguyên nhân gây tiêu chảy ở lợn, phần lớn các tác giả đều tập trung tìm hiểu nguyên nhân gây tiêu chảy ở các lứa tuổi khác nhau Tuy nhiên việc nghiên cứu về yếu tố gây bệnh của vi

khuẩn Salmonella spp trong hội chứng tiêu chảy ở lợn từ sơ sinh đến 3 tháng

tuổi tại tỉnh Thái nguyên chưa được chú ý, vì vậy cũng chưa có biện pháp

phòng trị bệnh Salmonella spp cho lợn thật sự hiệu quả

Xuất phát từ nhu cầu thực tế sản xuất chăn nuôi lợn ở tỉnh Thái Nguyên,

chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ và một số yếu tố gây bệnh của vi khuẩn Salmonella spp trong hội chứng tiêu chảy ở lợn dưới 3 tháng tuổi tại tỉnh Thái nguyên và biện pháp phòng trị”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

- Xác định một số đặc điểm dịch tễ hội chứng tiêu chảy ở lợn dưới 3 tháng tuổi

- Phân lập, xác định yếu tố gây bệnh Xác định độc lực và định type của

vi khuẩn Salmonella spp trong hội chứng tiêu chảy của lợn dưới 3 tháng tuổi

phân lập được và đề xuất biện pháp phòng, trị bệnh

1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

- Công trình đã chứng minh vai trò của vi khuẩn Salmonella spp trong

bệnh tiêu chảy của lợn dưới 3 tháng tuổi tại tỉnh Thái Nguyên Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học phục vụ cho các nghiên cứu tiếp theo, đồng thời đóng góp tư liệu cho cán bộ thú y và người chăn nuôi

Trang 10

2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Tình hình nghiên cứu vi khuẩn Salmonella spp và bệnh do chúng gây ra 2.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Vi khuẩn Salmonella lần đầu tiên được D.E Salmon cùng T Smith phát hiện vào năm 1885, đó chính là Salmonella choleraesuis Năm 1990 Lignieres đặt tên cho vi khuẩn là Salmonella để tôn vinh Salmon chính là

người đầu tiên phát hiện ra vi khuẩn này Theo Sam và cộng sự thì mãi đến năm 1934 bệnh mới chính thức được công nhận do các công trình nghiên cứu

của White và Kauffmann về cấu trúc kháng nguyên của Salmonella

và S entertidis; hai loài S entertidis và S dublin cũng gặp ở lợn con đang bú

sữa Những thông báo gần đây cho thấy: ngoài động vật và những sản phẩm

động vật mà chủ yếu là thịt lợn, người ta còn thấy Salmonella choleraesuis

trong cơ thể người bị bệnh (Cherubin C.E., 1980) Từ việc tìm thấy vi khuẩn

Salmonella trong động vật ốm, sản phẩm động vật trong nước và trong bột

thịt… các tác giả đã có những đề xuất về các giải pháp tổng hợp cần thiết nhằm tránh sự lây lan vi khuẩn trong hệ sinh thái môi trường để bảo vệ sức khoẻ con người

Trang 11

Theo Wilcock B.P và Schwartz K.J (1992) [76] tại Anh năm 1972 tìm

thấy vi khuẩn Salmonella có trong phân lợn là 9,9%, năm 1973 tìm thấy vi khuẩn Salmonella trong hạch ruột là 7,3% Trong khi đó ở Hungari (1989) tỷ

lệ vi khuẩn Salmonella ở phân lợn là 48% Tại Mỹ (1984) tìm thấy vi khuẩn Salmonella ở máu lợn chết là 4,3%

Theo Barnes D.M và Sorensen K.D (1974); Wilcock B.P và Schwartz

K.J (1992) [76]: ở lợn cần phân biệt 2 dạng bệnh do vi khuẩn Salmonella gây

ra đó là: Bệnh phó thương hàn cấp tính ở lợn con do S choleraesuis var kunzendorf và bệnh viêm ruột mãn tính do S typhimurium ở trâu bò: bệnh chủ yếu do các loài S dublin, S entertidis gây ra ở cừu bệnh do S abortus ovis, S montevideo, S dublin, S anatum ở ngựa S abortus equi và ở gia cầm

và chim do S pullorum, S gallinarum, S typhimurium và S enteritidis

2.1.2 Những nghiên cứu ở trong nước

ở Việt Nam vi khuẩn Salmonella và bệnh do chúng gây ra cho người và

gia súc cũng đã được bắt đầu nghiên cứu từ những năm 50 Viện Pasteur Sài

Gòn trong những năm 1951-1952-1953 đã phân lập được 6 chủng Salmonella ở

người (4 chủng từ máu, 2 chủng từ nước tiểu) Cũng ở Sài Gòn trong thời gian

này phân lập được 35 chủng từ 360 lợn Trong đó có 23 mẫu là S cholereasuis

Năm 1963 Viện vệ sinh dịch tễ Hà Nội kiểm tra tại lò sát sinh Lương Yên thấy trong 172 mẫu phân của công nhân làm việc ở đây thì có 111 trường hợp nhiễm

Salmonella dương tính (64,53%), trích theo Đỗ Đức Diên (1999) [11] Nguồn tàng trữ Salmonella chủ yếu là đường tiêu hoá của người và động vật mắc bệnh Một vài loài như S typhi, S paratyphi A, S paratyphi B, S paratyphi C chỉ ký sinh ở người Những loài khác hay gặp hơn như: S choleraesuis, S enteritidis chủ yếu ký sinh ở động vật nhưng cũng có khả năng gây bệnh cho

người Nguyễn Văn Lãm (1968) [24] đã tiến hành nghiên cứu chế vacxin phó

thương hàn lợn con từ chủng Salmonella chuẩn của Trung Quốc

Trang 12

21 năm sau, Nguyễn Thị Nội và cs (1989) [28] tiến hành điều tra tình

hình nhiễm vi khuẩn đường ruột tại một số cơ sở chăn nuôi lợn miền Bắc vẫn

tìm thấy 37,5% lợn nhiễm Salmonella, nhóm tác giả này đã nghiên cứu và chế

tạo thành công vacxin đa giá Salsco phòng bệnh ỉa chảy cho lợn con Vacxin

đã được áp dụng để phòng bệnh có hiệu quả ở nhiều trại chăn nuôi lợn, tỷ lệ lợn bị tiêu chảy giảm từ 30-50%, tỷ lệ lợn chết do tiêu chảy giảm xuống còn 10-20% Những năm gần đây các công trình nghiên cứu về các loài vi khuẩn

Salmonella ở lợn vẫn thu hút được sự chú ý của các tác giả trong nước

Lê Văn Tạo và cs (1989) đã phân lập, xác định serotyp của vi khuẩn

Salmonella gây bệnh ở lợn cho biết: 50% các chủng phân lập được thuộc Salmonella choleraesuis; 12,5% Salmonella enteritidis; 6,25% Salmonella typhimurium và số còn lại thuộc các serotyp khác Trần Xuân Hạnh (1995) [15] đã phân lập và giám định vi khuẩn Salmonella ở lợn tại Thành phố Hồ Chí Minh cho biết kết quả: Salmonella typhisuis ở lợn bệnh là 16,9%; ở lợn bình thường 6-16 tuần tuổi là 4,2%; Salmonella paratyphi ở lợn 6-16 tuần tuổi là 2,8% Đặc biệt vi khuẩn Salmonella choleraesuis chiếm 38,7% ở lợn

bệnh và 2,8% ở lợn bình thường

Theo Phùng Quốc Chướng (1995) [6] ở Tây Nguyên, mùa khô lợn mắc

bệnh do vi khuẩn Salmonella gây ra là 20,03%, vụ đông là 28,66% Tạ Thị

Vịnh và cs (1996) [52] đã kiểm tra 75 mẫu phân lợn khoẻ và 65 mẫu phân lợn bệnh tại một số vùng thuộc Ba Vì (Hà Tây) và Gia Lâm (Hà Nội) cho

thấy: Tỷ lệ nhiễm Salmonella cao 30-56% ở lợn khoẻ trong giai đoạn 22-60 ngày tuổi Tỷ lệ nhiễm Salmonella ở lợn mắc hội chứng tiêu chảy cao hơn lợn

bình thường và tăng dần theo lứa tuổi, dao động từ 70 -90%

Theo Hồ Văn Nam và cs (1997) [27] thì tỷ lệ lợn ở các lứa tuổi nhiễm

Salmonella dao động từ 40-88,8% với lượng vi khuẩn trong 1 gam phân là

51,3 triệu Tác giả đã tiến hành gây bệnh thực nghiệm cấp tính cũng như mãn tính trên lợn và thu được kết quả về bệnh tích đại thể ở 2 dạng bệnh trên

Trang 13

Kết quả phân lập vi khuẩn Salmonella ở lợn mắc bệnh tiêu chảy tại 4

cơ sở chăn nuôi lợn thuộc miền Bắc nước ta của Cù Hữu Phú và cs (1999)

[31] cho biết: tỷ lệ tìm thấy Salmonella trung bình ở lợn tiêu chảy nuôi tại 4

cơ sở trên là 80% Đây là điều đáng lo ngoại đối với ngành chăn nuôi lợn ở nước ta

Lê Minh Sơn (2003) [37] đã xác định tỷ lệ nhiễm Salmonella trong thịt

lợn giết mổ tiêu dùng nội địa từ 10,91-16,67% và thịt lợn xuất khẩu trung bình 1,42%

2.2 Một số đặc điểm của vi khuẩn Salmonella spp

Trực khuẩn Salmonella thuộc bộ Eubacteriales, họ Enterobacteriaceae Giống Salmonella gồm 2 loài: S enterica và S bongori đã được phân chia

thành trên 2000 serotyp theo bảng phân loại Kauffmann-White trên cơ sở cấu trúc của kháng nguyên thân O, kháng nguyên lông H và đôi khi các kháng

nguyên vỏ (kháng nguyên K) Gần đây, loài S enterica đã được phân thành 6 phân loài đó là: S enterica subsp enterica, S enterica subsp salamae, S enterica subsp arizonae, S enterica subsp diarizinae, S enterica subsp houtenae, S enterica subsp indica Trong đó phân loài S enterica subsp enterica gồm phần lớn các chủng Salmonella là những tác nhân gây bệnh cho

người và động vật (Quinn, 1994 [67])

2.2.1 Đặc điểm hình thái

Theo Bergeys Manual (1994) [49], vi khuẩn Salmonella là những trực

khuẩn ngắn, hai đầu tròn, có kích thước 0,4-0,6 x 1,0-3,0 µm, bắt màu Gram

âm, không hình thành nha bào và giáp mô Đa số loài Salmonella có lông (flagella) từ 7-12 chiếc xung quanh thân (trừ S gallinarum-pullorum)

Lông giúp cho vi khuẩn có khả năng di động Lông có hình tròn, dài, xuất phát từ màng cytoplasma Do có cấu trúc từ các sợi protein hình xoắn nên có thể co giãn và di động nên lông của chúng rất khó nhuộm Nếu nhuộm

Trang 14

bằng phương pháp Haschem (1972) thì có thể nhìn thấy chúng dưới kính hiển

vi điện tử (Lê Văn Tạo, 1993 [38]) Lông có tính kháng nguyên và do các gen

mã hóa tổng hợp protein riêng quy định

Ngoài ra, trên bề mặt màng ngoài của vi khuẩn Salmonella đều có các

cấu trúc sợi nhỏ hơn, còn gọi là Fimbriae hay Pili Chúng có kích thước chừng 0,01- 0,03 x 1,0 µm Số lượng fimbriae trên 1 vi khuẩn có khoảng 250-

400 cái vươn thẳng ra xung quanh bề mặt tế bào Fimbriae có cấu trúc là protein và có tính kháng nguyên đặc trưng Theo Jones và cs (1981) [59]: Fimbriae tạo cho vi khuẩn khả năng bám dính (adhesion) lên các tế bào biểu

mô ruột và xâm nhập vào lớp niêm mạc

2.2.2 Tính chất nuôi cấy

Salmonella là vi khuẩn hiếu khí tuỳ tiện, dễ nuôi cấy Nhiệt độ nuôi cấy

thích hợp là 37oC, nhưng có thể phát triển được ở nhiệt độ từ 6- 42oC Nuôi cấy ở 43oC có thể loại trừ được tạp khuẩn mà Salmonella vẫn phát triển được

(Timoney và cs, 1988 [80]) pH thích hợp cho vi khuẩn phát triển là 7,6, tuy nhiên vi khuẩn vẫn phát triển được ở pH từ 6-9

Khi nuôi cấy vi khuẩn trong môi trường BPW (Buffered Pepton Water)

và môi trường RV (Rappaports Vassiliadis) sau vài giờ nuôi cấy thấy môi trường vẩn đục nhẹ, sau 18 đến 24 giờ thấy canh trùng đục đều, trên mặt môi trường có màng mỏng, đáy ống nghiệm có cặn

Hiện nay có rất nhiều loại môi trường chọn lọc được các nhà vi sinh vật

thú y sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu và phân lập Salmonella như môi

trường thạch DHL (Deoxycholate Hydrogen sulfide Lactose agar), sau 24 giờ nuôi cấy vi khuẩn phát triển thành khuẩn lạc tròn, lồi, bóng láng (dạng S), có màu vàng nhạt Các chủng sinh H2S thì giữa khuẩn lạc có màu đen

Môi trường thạch MacConkey: Vi khuẩn phát triển thành những khuẩn lạc tròn lồi, trong không màu, nhẵn bóng

Trang 15

Trên môi trường thạch CHROMTM Salmonella, sau 24 giờ nuôi cấy, vi

khuẩn hình thành khuẩn lạc trơn, tròn, bóng láng (dạng S) và có màu tím hồng

Trong môi trường thạch TSI (Triple Sugar Iron), vi khuẩn Salmonella

do sản sinh alkaline nên phần thạch nghiêng có màu đỏ (pH=7,3), đáy ống nghiệm màu vàng (pH=6,8) do vi khuẩn chỉ lên men đường Glucose Phần giữa ống nghiệm có màu đen do vi khuẩn sản sinh ra khí H2S Nếu để lâu (quá

24 giờ), màu đen môi trường thường làm át phản ứng tạo axit ở phần đáy ống nghiệm (không nhìn thấy màu vàng) Vi khuẩn sinh hơi làm nứt thạch, có khi đẩy thạch khỏi đáy ống nghiệm (Quinn và cs, 2002 [67])

Trong môi trường LIM (Lysine Indole Motility), vi khuẩn không làm chuyển màu môi trường, môi trường có màu tím nhạt

Môi trường Malonate, vi khuẩn không phát triển nên không làm thay

đổi màu môi trường

2.2.3 Đặc tính sinh hoá

Theo Quinn và cs (2002) [67], giống vi khuẩn Salmonella được chia

thành 7 phân nhóm, mỗi phân nhóm có khả năng lên men một số loại đường

nhất định và không đổi Phần lớn phân loài S enterica subsp enterica gây

bệnh cho động vật máu nóng Chúng lên men và sinh hơi: Glucoza, Mannit, Mantoza, Galactoza, Dulcitol, Arabonoza, Sorbitol Cũng ở nhóm này, hầu

như các chủng vi khuẩn Salmonella đều không lên men Lactoza và Saccaroza

Đa số các vi khuẩn thuộc giống Salmonella không làm tan chảy

Gelatin, không phân giải Urê, không sản sinh Indol Phản ứng MR, Catalaza

dương tính (trừ S choleraesuis, S gallinarum-pullorum có MR âm tính)

Phản ứng Oxidaza âm tính Phản ứng sinh H2S dương tính (trừ S paratyphi A,

S typhisuis, S choleraesuis)

Trong quá trình phân lập và giám định vi khuẩn Salmonella thì đặc tính

sinh hóa có ý nghĩa rất quan trọng

Trang 16

2.2.4 Sức đề kháng của vi khuẩn Salmonella spp

Vi khuẩn Salmonella mẫn cảm với nhiệt độ và các chất sát trùng mạnh

Theo Laval, (2000) [25], vi khuẩn Salmonella sống được lâu trong điều

kiện lạnh, chúng có thể sống trong bột thịt 8 tháng, nhưng ở điều kiện môi trường có độ pH ≤ 5 chúng chỉ sống được trong thời gian ngắn

Vi khuẩn Salmonella tồn tại trong chất độn chuồng tới trên 30 tuần, có

thể sống ở trong đất với độ sâu 0,5cm trong thời gian 2 tháng Ở sàn gỗ, tường

gỗ trong điều kiện ít ánh sáng là 87 ngày, máng gỗ 108 ngày (Đào Trọng Đạt

và cs, 1995 [14]) Trong nước tù đọng, đồng cỏ ẩm thấp S typhimurium có thể tồn tại trên 7 tháng Trong xác súc vật chết, Salmonella có thể sống trên 100

ngày, trong thịt ướp muối từ 6-8 tháng (Nguyễn Vĩnh Phước và cs, 1970, [33])

2.2.5 Đặc điểm dịch tễ học của vi khuẩn Salmonella spp

Vi khuẩn Salmonella gây bệnh cho người và vật nuôi, phân bố ở khắp

nơi trên thế giới, vì vậy các nghiên cứu về cách truyền lây của vi khuẩn này được nhiều nhà khoa học nghiên cứu Một đặc điểm dịch tễ quan trọng của

Salmonella là trạng thái mang trùng và thải trùng của gia súc

Theo Archie Hunter (2002) [20], một nguồn bệnh đặc biệt quan trọng là

gia súc mang vi khuẩn Salmonella spp nhưng không biểu hiện lâm sàng

Những con này có thể thải mầm bệnh ra ngoài môi trường trong vài tháng Tác giả cũng cho biết cách lây lan như sau: Gia súc nhiễm bệnh thải vi khuẩn

Salmonella vào trong phân và bệnh xảy ra do tiếp xúc trực tiếp hay ô nhiễm

phân vào thức ăn, nước uống hay chuồng trại gia súc

Trang 17

Theo Gray và cs (1995) [58] , lợn nhiễm S choleraesuis thường biểu

hiện các dấu hiệu lâm sàng từ 36-48 giờ sau khi nhiễm trùng và có 103- 106 đơn vị vi khuẩn trong 1 gram phân vào giai đoạn bệnh cao nhất Cũng theo tác giả thì phần lớn những lợn nhiễm tự nhiên sau khi khỏi bệnh, có thể loại thải hoàn toàn vi khuẩn vào giữa 9-12 tuần sau khi nhiễm trùng Điều này cho thấy rằng tình trạng mang trùng lâu dài này có thể dẫn tới sự nhiễm khuẩn môi trường và sự tái nhiễm tiếp theo của những động vật mới đưa vào trại

Nhiều nhà khoa học khi nghiên cứu về đường nhiễm Salmonella đều cho rằng: Vi khuẩn Salmonella theo thức ăn, nước uống vào đường tiêu hóa

và có thể do tiếp xúc Bình thường, chúng sống trong ống tiêu hoá mà không gây bệnh Chỉ khi nào sức đề kháng của lợn giảm sút, vi khuẩn xâm nhập vào máu và nội tạng gây bệnh Bệnh Phó thương hàn chỉ gây thành dịch địa phương, dịch bệnh phụ thuộc vào cơ cấu đàn, tình hình vệ sinh thú y, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng và đặc điểm dịch tễ học của cơ sở đó (Phan Thanh Phượng, 1988 [35]; Nguyễn Như Thanh, 2001 [41]; Laval, 2000 [25])

Theo Phan Thanh Phượng (1988) [35], tỷ lệ lợn mắc bệnh do

Salmonella gây ra thường tăng lên vào thời kỳ lợn cai sữa, vì lúc đó cơ thể

lợn con thay đổi, dễ nhiễm bệnh Nguyễn Như Thanh và cs (2001) [41], cũng cho biết: vi khuẩn gây ra bệnh Phó thương hàn cho lợn con từ 2 - 4 tháng tuổi với tỷ lệ tử vong khoảng 25%, có khi lên đến 95%; bệnh có thể ở lợn lớn với thể mạn tính và ít gây chết

Bệnh ít xảy ra ở lợn con trước cai sữa, bởi chúng được bảo hộ nhờ kháng thể có trong sữa đầu của lợn mẹ Song nguy cơ nổ ra bệnh tăng dần theo lứa tuổi, đặc biệt là sau cai sữa, khi mà khả năng miễn dịch chủ động chưa thể bù đắp kịp thời để thay thế miễn dịch thụ động (Laval, 2000 [25])

2.2.6 Cấu trúc kháng nguyên của vi khuẩn Salmonella spp

Cấu trúc kháng nguyên của vi khuẩn Salmoenlla hết sức phức tạp, bao

gồm 3 loại chính:

Trang 18

Kháng nguyên O (O- Antigen): Kháng nguyên thân

Kháng nguyên H (H- Antigen): Kháng nguyên lông

Kháng nguyên K (K- Antigen) hay kháng nguyên vỏ

* Kháng nguyên thân O (O- Antigen)

Kháng nguyên O nằm ở thành tế bào vi khuẩn, có cấu trúc LipoPolySaccharide (LPS) là thành phần chính cấu tạo nên lớp màng ngoài của thành tế bào vi khuẩn Gram âm Kháng nguyên O chịu nhiệt (Heat-stable) và kháng cồn, bị biến tính khi sử lý bằng formaldehyde Kháng nguyên O gồm 2 nhóm chính:

- Polysaccharide không có nhóm hydro, không mang tính đặc trưng của kháng nguyên và chỉ tạo sự khác biệt về hình thái khuẩn lạc từ dạng S (Smooth) sang dạng R (Rough) và dẫn đến giảm độc lực của vi khuẩn (Selbitz, 1995 [70])

- Polysaccharide nằm ở ngoài có nhóm hydro quyết định tính kháng nguyên và đặc trưng cho từng serotyp

Kháng nguyên O được xem như là một nội độc tố (Endotoxin) mà nó được cấu tạo bởi nhóm hỗn hợp Glyco- polypeptide có thể tìm thấy ở màng ngoài của vỏ bọc vi khuẩn

Theo CIRAD (2006) [51], kháng nguyên O của vi khuẩn Salmonella có

67 loại chính, được chia thành hơn 50 nhóm, số còn lại đóng vai trò phụ

* Kháng nguyên lông H (H- Antigen)

- Kháng nguyên H (H-Antigen) là protein nằm trong thành phần lông của vi khuẩn, là loại kháng nguyên không chịu nhiệt (Heat labile), rất kém bền vững so với kháng nguyên O, bị phá hủy ở nhiệt độ 60oC sau 1 giờ, dễ phá hủy bởi cồn và axit yếu (Nguyễn Như Thanh và cs, 2001 [41])

- Kháng nguyên H gồm có 2 pha:

Pha 1: có tính đặc hiệu, gồm 28 loại kháng nguyên được biểu thị bằng chữ mẫu la tinh thường: a,b,c,d, ,z

Trang 19

Pha 2: Không có tính đặc hiệu, gồm 6 loại được biểu thị bằng chữ số ả rập: 1,2,3,4,5,6 hay la tinh thường: e,n,x,

Tuy nhiên, trong từng tế bào vi khuẩn riêng biệt luôn luôn chỉ xuất hiện từng pha, bởi vậy mà trong chẩn đoán, để đạt được một công thức kháng

nguyên hoàn chỉnh cho Salmonella phải thay đổi pha Có các loài Salmonella như S typhisuis, hoặc S enteritidis thì chỉ tạo 1 pha

Kháng nguyên H không quyết định yếu tố độc lực của vi khuẩn, cũng như không có ý nghĩa trong việc tạo ra miễn dịch phòng bệnh, nhưng nó có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định giống loài của vi khuẩn

* Kháng nguyên vỏ (K- Antigen)( hay Vi- Antigen)

Theo Quinn và cs (2002) [67], kháng nguyên vỏ chỉ có ở một số loài

như S typhi, S paratyphi S dublin cũng có thể mang kháng nguyên vỏ,

kháng nguyên K có thể làm che các kháng nguyên thân O Cũng theo tác giả,

nếu đun sôi huyễn dịch của các loài Salmonella này trong 10 đến 12 phút sẽ

phá hủy được kháng nguyên vỏ

Kháng nguyên vỏ là một loại kháng nguyên có khả năng ngưng kết

kháng thể O khi phát triển nhiều Kháng nguyên này chỉ gặp ở 2 serotyp là: S typhi và S paratyphi C, ký hiệu kháng nguyên hay Vi trong công thức đứng

sau kháng nguyên O Theo sơ đồ của Kauffmann - White; công thức kháng

nguyên của S paratyphi C là: 6,7, Vi: -1,5 và S Typhi là: 9, 12, Vi: c,d

Trong 3 kháng nguyên chủ yếu trên, kháng nguyên O và kháng nguyên

H là 2 loại kháng nguyên có ý nghĩa quan trọng trong công tác chẩn đoán

2.2.7 Các yếu tố gây bệnh của vi khuẩn Salmonella spp

2.2.7.1 Các yếu tố không phải là độc tố

a) Kháng nguyên O

Chất lượng thành phần hóa học, cấu trúc kháng nguyên O đều ảnh

hưởng tới độc lực của vi khuẩn Salmonella Cụ thể là: S typhimurium nếu

Trang 20

thay thành phần kháng nguyên từ công thức 1, 4, 12 sang 1, 9, 12 thì vi khuẩn

từ dạng có độc lực chuyển sang dạng không có độc lực (Valtonen, 1977 [74])

Kháng nguyên O là yếu tố độc lực giúp vi khuẩn chống lại khả năng phòng vệ của vật chủ, giúp vi khuẩn phát triển trong tế bào tổ chức, chống lại

sự thực bào của đại thực bào (Morris và cs, 1976 [62])

Kháng nguyên O khích thích các cơ quan đáp ứng miễn dịch hình thành kháng thể đặc hiệu ngưng kết với kháng nguyên tương ứng Cơ chế phòng vệ này giúp cơ thể vật chủ chống lại quá trình tái xâm nhập của vi khuẩn

Đến nay, người ta đã xác định được trên 3000 serotyp kháng nguyên O

của Salmonella, thành phần kháng nguyên của vi khuẩn S choleraesuis gồm:

c) Kháng nguyên K

Bản chất hóa học của kháng nguyên K là Polysaccharide, nhưng thực chất chúng chỉ là thành phần của kháng nguyên O Kháng nguyên K tạo hàng rào bảo vệ giúp vi khuẩn chống lại tác động ngoại cảnh và hiện tượng thực bào (Nguyễn Như Thanh, 2001 [40])

d) Yếu tố bám dính

Theo Jones và Richardson (1981) khả năng bám dính của vi khuẩn

Salmonella lên tế bào nhung mao ruột là bước khởi đầu quan trọng trong quá

trình gây bệnh Hiện tượng bám dính của vi khuẩn lên bề mặt tế bào vừa mang tính chất lý hóa, vừa mang tính chất sinh học và được thực hiện theo 3 bước:

Trang 21

Bước 1: Vi khuẩn liên kết từng phần với bề mặt tế bào, thực hiện quá trình này đòi hỏi vi khuẩn phải có khả năng di động

Bước 2: Là quá trình hấp phụ, phụ thuộc vào đặc tính bề mặt của vi khuẩn và tế bào mà vi khuẩn bám dính và được thực hiện theo hướng thuận nghịch với sự tương hỗ của những tác động khác nhau

Bước 3: Là quá trình tương tác giữa yếu tố bám dính của vi khuẩn với các điểm tiếp nhận trên bề mặt tế bào Yếu tố bám dính của vi khuẩn được sắp xếp trên các fimbriae

Theo Lê Văn Tạo (1993) [38], trên mỗi tế bào vi khuẩn Salmonella có

từ 250- 400 fimbriae, chúng giúp vi khuẩn bám dính vào tế bào nhung mao ruột non để gây bệnh

Đỗ Trung Cứ và cs (2003) [9] đã công bố: S typhimurium phân lập từ

lợn mắc bệnh Phó thương hàn có khả năng bám dính lên bề mặt tế bào Vero với tỷ lệ cao (từ 70,76% - 93,48%) Kết quả này tương đương với khả năng

bám dính của chủng S typhimurium chuẩn

e) Yếu tố xâm nhập

Theo Finlay và cs (1988) [56], khả năng xâm nhập vào tế bào có nhân

hoặc lớp niêm mạc của đường ruột là đặc tính của một số chủng Salmonella

có độc lực Các biến chủng Salmonella không có khả năng xâm nhập vào tế

bào thường là các chủng không có độc lực

Sau khi tiếp cận tế bào vật chủ, vi khuẩn Salmonella tác động làm tăng

hàm lượng Ca++ nội bào, hoạt hóa Actin Depolimeriring Enzyme, làm thay đổi cấu trúc, hình dạng các sợi actin, biến đổi màng tế bào, dẫn đến hình thành giả túc bao vây tế bào vi khuẩn dưới dạng các không bào chứa vi khuẩn Sau đó

Salmonella được xâm nhập vào trong tế bào, tồn tại, tiếp tục nhân lên với số

lượng lớn, phá vỡ tế bào vật chủ, sản sinh độc tố đường ruột (Enterotoxin), làm xuất hiện quá trình tiêu chảy của vật chủ (Frost và cs, 1997 [57])

Trang 22

f) Khả năng tổng hợp sắt

Theo Benjamin (1985) [48], đây là một yếu tố giúp vi khuẩn

Salmonella tăng nhanh về số lượng làm suy yếu khả năng chống đỡ của vật chủ do bị thiếu sắt Cũng theo tác giả, vi khuẩn Salmonella có phản ứng với

sự thay đổi cơ chế chu chuyển sắt; khi quá trình tổng hợp sắt bị ức chế, chúng

sẽ chuyển toàn bộ protein màng điều phối sắt lên bề mặt của tế bào vi khuẩn, làm cho khả năng hấp thu sắt tăng cường một cách rõ rệt

Khả năng kháng kháng sinh có thể thay đổi, phụ thuộc vào địa phương, thời điểm làm kháng sinh đồ và loại vật nuôi

Trên đây là 7 yếu tố gây bệnh không phải là độc tố của vi khuẩn

Salmonella Các yếu tố này bằng những cơ chế tác động khác nhau, phương

thức tác động khác nhau, đã tạo điều kiện bất lợi cho cơ thể vật chủ, đồng thời

chúng lại tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn Salmonella gây bệnh Chính vì

thế các yếu tố không phải là độc tố đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá

trình sinh bệnh của vi khuẩn Salmonella Vì vậy, việc nghiên cứu các yếu tố

này là hết sức cần thiết, góp phần quan trọng trong việc phòng chống bệnh do

vi khuẩn Salmonella gây nên

2.2.7.2 Các yếu tố là độc tố

Nếu như các yếu tố gây bệnh không phải là độc tố là những tác nhân

gián tiếp, quan trọng trong quá trình sinh bệnh của vi khuẩn Salmonella, thì

Trang 23

các yếu tố gây bệnh là độc tố lại là tác nhân trực tiếp quyết định quá trình sinh

bệnh Các yếu tố gây bệnh là độc tố của Salmonella bao gồm: nội độc tố

(Endotoxin), ngoại độc tố đường ruột (Enterotoxin) và độc tố tế bào (Cytotoxin) (Finlay và Falkov, 1988 [56])

a, Độc tố đường ruột (Enterotoxin)

Độc tố đường ruột của vi khuẩn Salmonella có hai thành phần chính:

Độc tố thẩm xuất nhanh RPF (Rapid Permeability Factor) và độc tố thẩm xuất chậm DPF (Delayed Permeability Factor) (Peteron, 1980 [65])

+ Theo Clarke và cs (1988) [53], độc tố thẩm xuất nhanh có cấu trúc

thành phần giống với độc tố chịu nhiệt của vi khuẩn E coli (Heat-stabile

toxin: ST)

Yếu tố thẩm xuất nhanh giúp Salmonella xâm nhập vào tế bào biểu mô

của ruột, và thực hiện khả năng thẩm xuất sau 1- 2 giờ, kéo dài 48 giờ và làm trương tế bào CHO (Chinese Hamster Ovary cell) ST có khả năng chịu được nhiệt độ 100oC trong 4 giờ, bền vững ở nhiệt độ thấp, có thể bảo quản ở -

20oC Cấu trúc phân tử gồm nhiều polysaccharide và một số chuỗi polypeptide

Độc tố RPF kích thích lên hệ thống men Guanylate Cyclase trong tế bào biểu mô ruột, chuyển GTP thành GDP Trong tế bào, GDP tăng cao làm cho nồng độ ion Ca++ cũng tăng cao, dẫn đến ngăn cản hấp thu chất điện giải

và nước ở trong xoang ruột Do vậy, lượng nước trong ruột tăng cao, kích thích niêm mạc ruột, tăng co bóp, làm gia súc ỉa chảy

Theo Đỗ Trung Cứ (2001) [8]: 72,7% các chủng Salmonella phân

lập được từ lợn sau cai sữa bị ốm, chết nghi Phó thương hàn sản sinh độc

tố chịu nhiệt

+ Yếu tố thẩm xuất chậm của Salmonella có cấu trúc, thành phần giống độc tố không chịu nhiệt của vi khuẩn E coli (Heat Labile Toxin: LT) Nó

Trang 24

thực hiện chức năng thẩm xuất chậm từ 18- 24 giờ, có thể kéo dài 36- 48 giờ DPF bị phá hủy ở 70oC trong vòng 30 phút và ở 56oC trong vòng 4 giờ Cấu trúc phân tử gồm 3 chuỗi polypeptide và một số hợp chất khác, phân tử lượng 40.000- 50.000 dalton

Độc tố thẩm xuất chậm của Salmonella làm thay đổi quá trình trao đổi

nước và chất điện giải, dẫn đến tăng cường bài xuất nước và chất điện giải từ

mô bào vào lòng ruột, cản trở sự hấp thu, gây thoái hóa lớp tế bào villi của thành ruột gây tiêu chảy

Đỗ Trung Cứ và cs (2003) [9] đã kết luận: 81,81% số chủng S typhimurium phân lập từ lợn mắc bệnh tiêu chảy sản sinh độc tố không chịu

nhiệt (LT) có khả năng gây tích nước trong ruột non của lợn thí nghiệm

b, Nội độc tố (Endotoxin)

Nội độc tố nằm ở lớp màng ngoài của tế bào vi khuẩn và được cấu tạo bởi thành phần cơ bản là Lipopolysaccharide (LPS) LPS có cấu tạo phân tử lớn, gồm 3 vùng riêng biệt với các đặc tính và chức năng riêng biệt: Vùng ưa nước, vùng lõi và vùng lipit A

Vùng ưa nước bao gồm một chuỗi Polysaccharide chứa các đơn vị cấu trúc kháng nguyên O Vùng lõi có bản chất là acid heterooligosaccharide, ở trung tâm, nối kháng nguyên O với vùng lipit A Vùng lipit A đảm nhận chức năng nội độc tố của vi khuẩn Cấu trúc nội độc tố gần giống với cấu trúc của kháng nguyên O Cấu trúc nội độc tố biến đổi sẽ dẫn đến sự thay đổi độc lực

của Salmonella Các đột biến gen ở vùng lõi, vùng ưa nước làm cho Salmonella không còn độc lực (Trần Quang Diên, 2002 [12])

Lipit A có ái lực với màng tế bào, với lipit khác và với Protein Điều đó chứng tỏ lipit A chính là trung tâm hoạt động của nội độc tố Vùng đa đường Polysaccharide, chỉ giữ vai trò là vật mang các lipit không hòa tan (Bradley,

1979 [55])

Trang 25

Nội độc tố là LPS được tiết ra từ vách tế bào vi khuẩn khi bị dung giải Trước khi thể hiện độc tính, LPS cần phải liên kết với các yếu tố liên kết tế bào hoặc các receptor bề mặt các tế bào như: Tế bào lâm bao cầu B, lâm bao cầu T, tế bào đại thực bào, tiểu cầu, tế bào gan lách

Rất nhiều các cơ quan trong cơ thể vật chủ chịu sự tác động của nội độc

tố LPS: Gan, thận, cơ, hệ tim mạch, hệ tiêu hóa và hệ thống miễn dịch với các biểu hiện bệnh lý như: Tắc mạch máu, giảm trương lực cơ, thiếu oxy mô bào, toan huyết, rối loạn tiêu hóa, mất tính thèm ăn

c, Độc tố tế bào (Cytotoxin)

Đặc tính chung của Cytotoxin là có khả năng ức chế tổng hợp Protein của tế bào có nhân và làm trương tế bào CHO (Chinese Hamster Ovary cell)

Đa phần độc tố của chúng bị phá hủy bởi nhiệt độ

Theo Clarke và cs (1988) [52], làm tổn thương tế bào biểu mô là đặc tính quan trọng của Cytotoxin Có ít nhất là 3 dạng Cytotoxin:

+ Dạng 1: Không bền vững với nhiệt và mẫn cảm với Trypsin Độc tố này có trọng lượng phân tử khoảng 56- 78 kDa, nó tác động theo cơ chế là ức chế tổng hợp Protein của tế bào Hela và làm teo tế bào

+ Dạng 2: Có nguồn gốc từ Protein màng ngoài tế bào vi khuẩn, có cấu

trúc và chức năng gần giống với các dạng độc tố tế bào do Shigella và các chủng Enterotoxigenic E coli (ETEC) sản sinh ra Dạng độc tố này cũng có ở hầu hết các serovar Salmonella gây bệnh

+ Dạng 3: Dạng này có liên quan với Hemolysin Dạng độc tố này tác động lên tế bào theo cơ chế dung giải các không bào nội bào Trong phòng thí nghiệm, độc tố này gây chết tế bào Vero, tế bào Hela và tế bào CHO (Rahman

và cs, 1992 [68])

Trên đây là 3 loại độc tố gây bệnh chính của vi khuẩn Salmonella,

chúng là các tác nhân trực tiếp, quyết định khả năng gây bệnh của vi khuẩn

Trang 26

Một số serotyp như: S choleraesuis, S typhimurium, S enteritidis, S dublin, S gallinarum, S pullorum có mang các plasmid có kích thước lớn

(khoảng từ 50- 100 kb) Chính những plasmid này có mang các yếu tố di truyền quyết định khả năng sản sinh các yếu tố độc lực gây bệnh cho người và gia súc với tỷ lệ ốm và chết cao (Krause và Fang, 1995 [61])

2.2.8 Một số nguyên nhân gây tiêu chảy ở lợn

Tiêu chảy là hiện tượng bệnh lý có liên quan đến nhiều yếu tố, có yếu

tố là nguyên nhân nguyên phát, có yếu tố là nguyên nhân thứ phát Vì vậy việc phân biệt giữa các nguyên nhân gây tiêu chảy rất khó khăn (Phạm Ngọc

Thạch, 1996 [44], Lê Minh Chí, 1995 [5]) Có thể liệt kê một số nguyên nhân

quan trọng sau

2.2.8.1 Tiêu chảy do môi trường ngoại cảnh

Môi trường ngoại cảnh là một trong 3 yếu tố cơ bản gây ra bệnh dịch, mối quan hệ giữa Cơ thể - Mầm bệnh - Môi trường là nguyên nhân của sự không ổn định sức khoẻ, đẫn đến phát sinh bệnh (Nguyễn Như Thanh, 2001 [40])

Môi trường ngoại cảnh bao gồm các yếu tố: nhiệt độ, độ ẩm, các điều kiện về chăm sóc nuôi dưỡng, vệ sinh chuồng trại, sự di chuyển, thức ăn, nước uống

Khi gia súc bị nhiễm lạnh kéo dài sẽ làm giảm phản ứng miễn dịch, giảm tác dụng thực bào, làm cho gia súc bị nhiễm khuẩn gây bệnh (Hồ Văn Nam và cs, 1997 [27])

Khi gặp điều kiện ngoại cảnh không thuận lợi, thay đổi đột ngột về thức ăn, Vitamin, protein, thời tiết vận chuyển làm giảm sức đề kháng của con vật thì vi khuẩn thường trực sẽ tăng độc tố và gây bệnh (Bùi Quý Huy,

2003 [19])

Như vậy, môi trường ngoại cảnh gây bệnh tiêu chảy không mang tính đặc hiệu mà mang tính tổng hợp Lạnh và ẩm gây rối loạn hệ thống điều hoà

Trang 27

trao đổi nhiệt của cơ thể lợn, dẫn đến rối loạn quá trình trao đối chất, làm giảm sức đề kháng của cơ thể, từ đó các mầm bệnh trong đường tiêu hoá có thời cơ tăng cường độc lực và gây bệnh

2.2.8.2 Nguyên nhân do Vi sinh vật

Vi sinh vật bao gồm: vi khuẩn, virus, nấm mốc Chúng vừa là nguyên nhân nguyên phát vừa là nguyên nhân thứ phát gây tiêu chảy

* Tiêu chảy do vi khuẩn

Trong đường tiêu hoá của gia súc có hệ vi khuẩn gọi là hệ vi khuẩn đường ruột, được chia làm 2 loại: vi khuẩn có lợi (có tác dụng lên men phân giải các chất dinh dưỡng giúp cho quá trình tiêu hoá được thuận lợi) và vi khuẩn có hại (khi có điều kiện thì gây bệnh)

Họ vi khuẩn đường ruột là họ vi khuẩn cộng sinh thường trực trong đường ruột Họ vi khuẩn này muốn từ vi khuẩn cộng sinh thành vi khuẩn gây bệnh phải có 3 điều kiện:

- Trên cơ thể vật chủ có cấu trúc giúp cho vi khuẩn thực hiện được chức năng bám dính

- Vi khuẩn phải có khả năng sản sinh các yếu tố gây bệnh, đặc biệt là sản sinh độc tố, trong đó quan trọng nhất là độc tố đường ruột Enterotoxin

- Có khả năng xâm nhập vào lớp tế bào biểu mô của niêm mạc ruột, từ

đó phát triển nhân lên

Một số vi khuẩn thuộc họ vi khuẩn đường ruột là E.coli, Salmonella, Shigella, Klebsiella, Cperfringens, đó là những vi khuẩn quan trọng gây rối

loạn tiêu hoá, viêm ruột tiêu chảy ở người và động vật

Hồ Văn Nam và cs (1997) [27], Archie.H (2000) [20] cho biết: vi khuẩn đường ruột có vai trò quan trọng không thể thiếu được trong hội chứng tiêu chảy

Nguyễn Như Pho (2003) [30] cho rằng khả năng gây bệnh của các loại

vi khuẩn đối với lứa tuổi lợn khác nhau Đối với lợn con sau cai sữa hoặc lợn

Trang 28

giai đoạn đầu nuôi thịt thì tỷ lệ mắc tiêu chảy do Salmonella cao hơn; giai đoạn từ lúc sơ sinh đến khi cai sữa thường do E.coli; lứa tuổi 6 - 12 tuần tuổi thì thường do xoắn khuẩn Treponema hyodysenterriae; còn vi khuẩn yếm khí C.perfrigens thường gây bệnh nặng cho lợn con theo mẹ trong khoảng 1 tuần

tuổi đến cai sữa

* Tiêu chảy do virus

Virus cũng là tác nhân gây bệnh tiêu chảy ở lợn, sự xuất hiện của virus

đã làm tổn thương niêm mạc ruột làm suy giảm sức đề kháng của cơ thể và thường gây ỉa chảy ở dạng cấp tính với tỷ lệ chết cao (Phạm Ngọc Thạch,

1996 [44])

Rotavirus và Coronavirus là những virus gây tiêu chảy quan trọng ở gia súc non mới sinh như, nghé, dê, cừu, lợn, ngựa, đặc biệt là bê do những virus này có khả năng phá huỷ màng ruột và gây tiêu chảy nặng (Archie.H, 2000 [20]) Các nghiên cứu trong nước của Lê Minh Chí (1995) [5] và Nguyễn Như Pho (2003) [30] cũng đã cho rằng: Rotavirus và Coronavirus gây bệnh tiêu chảy chủ yếu cho lợn con trong giai đoạn theo mẹ, với các triệu chứng tiêu chảy cấp tính, nôn mửa, mất nước với tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ chết cao

* Tiêu chảy do nấm mốc

Thức ăn khi chế biến hoặc bảo quản không tốt, không đúng kỹ thuật dễ

bị nấm mốc Một số loài như: Aspergillus, Penicillium, Fusarium có khả năng sản sinh ra nhiều loài độc tố, nhưng quan trọng nhất là nhóm độc tố Aflatoxin (Aflatoxin B1, B2, G1, G2, M1)

Độc tố Aflatoxin gây độc cho người và gia súc, gây bệnh nguy hiểm nhất cho con người là ung thư gan, huỷ hoại gan, độc cho thận, sinh dục và thần kinh Aflatocxin gây độc cho nhiều loài gia súc, gia cầm, mẫn cảm nhất

là vịt, gà, lợn và một số loài gia súc khác Lợn khi bị nhiễm độc thường bỏ ăn, thiếu máu, vàng da, ỉa chảy, ỉa chảy ra máu Nếu trong khẩu phần ăn có 500 -

Trang 29

700µg Aflatoxin/kg thức ăn sẽ làm cho lợn chậm lớn, còi cọc, giảm sức dề kháng với các bệnh truyền nhiễm khác

2.2.8.3 Tiêu chảy do Ký sinh trùng

Có nhiều loại ký sinh trùng gây tiêu chảy ở lợn như: cầu trùng Eimeria, Isospora suis, Crytosporidium, Aascaris suum, Trichuris suis hoặc một số gium tròn lớp Nemtoda (Ascaris suum, Trichuris suis, Strongloides, Haemonchus, Mecistocirrus)

Bệnh do Isospora suis, Crytosporidium thường tập chung vào giai đoạn lợn con từ 5 - 25 ngày tuổi, còn ở lợn trên 28 ngày tuổi do cơ thể đã tạo được miễn dịch đối với bệnh cầu trùng, nên lợn chỉ mang mầm bệnh mà ít xuất hiện triệu chứng tiêu chảy (Nguyễn Như Pho, 2003 [30])

Cầu trùng và một loại giun tròn (giun đũa, giun tóc, giun lươn) là một trong những nguyên nhân gây tiêu chảy ở lợn sau cai sữa nuôi trong các hộ gia đình tại Thái nguyên (Nguyễn Thị Kim Lan và cs 2006a [22]) Đặc điểm chủ yếu của tiêu chảy do ký sinh trùng là con vật mắc bệnh nhưng không liên tục, có sự xen kẽ giữa tiêu chảy và bình thường, cơ thể thiếu máu, da nhợt nhạt, gia súc kém ăn, thể trạng sa sút

Như vậy có thể thấy, có rất nhiêu nguyên nhân gây tiêu chảy nhưng theo một số chuyên gia chuyên nghiên cứu về bệnh tiêu chảy ở lợn như Lê Văn Tạo (1993) [38], Hồ Văn Nam (1997) [27] thì dù nguyên nhân nào gây tiêu chảy cho lợn con đi nữa thì cuối cùng cũng là quá trình nhiễm khuẩn, vi khuẩn kế phát làm viêm ruột, tiêu chảy nặng thêm, có thể dẫn đến chết hoặc viêm ruột tiêu chảy mãn tính

2.3 Bệnh do vi khuẩn Salmonella gây ra ở lợn

Salmonella là căn nguyên gây nên bệnh phó thương hàn ở lợn (Salmonellosis in pigs), phổ biến là các serovars: S.choleraesuis (nhóm O 6, 7); S.enteritidis (nhóm O 9, 12) và S.typhimurium (nhóm O 1, 4, 12) với hai thể chủ yếu là nhiễm trung máu và viêm ruột

Trang 30

Theo Phan Thanh Phượng (1998) [35], một số triệu chứng ở lợn con theo mẹ thường chỉ thấy chứng ỉa chảy, rồi táo bón, dần kiệt quệ Phân có màu vàng sáng, lẫn chất nhầy, có mùi hôi thối đặc biệt, thỉnh thoảng lợn bị nôn mửa, trên da lợn xuất hiện những đốm đỏ hoặc tím bầm, hiện tượng này thường thấy ở da bụng, quanh tai và bẹn Những lợn đó được gọi là “lợn tai xanh” Có trường hợp vết đỏ tím bầm trên da có tính chất lan tràn, thậm chí gây hoại tử rồi tróc thành vẩy Khi nắm vào thành bụng, lợn bệnh có phản ứng đau và kêu thành tiếng yếu ớt, nếu không điều trị kịp thời, lợn có thể chết sau 2 ngày - 7 ngày, tỷ lệ lợn chết 70 - 80% Nếu bệnh kéo dài thêm sẽ chuyển sang giai đoạn á cấp tính, thân nhiệt lợn ốm 410C hoặc cao hơn, sau

đó dao động từ 390

C - 40,50C trong vòng 10 - 15 ngày Ở thể á cấp tính, hiện tượng ỉa chảy xuất hiện sau 2 - 3 ngày rồi kéo dài cho đến khi lợn chết hoặc khỏi bệnh Phân bài tiết ra ngoài nhiều lần trong ngày, sau đó phân chảy ra liên tục; phân có màu vàng, vàng xám, vàng nâu ở lợn con, còn ở lợn trưởng thành, phân nhão, phân ước có lẫn máu Lợn gầy sút nhanh

Trên da lợn trưởng thành mắc bệnh cũng xuất hiện các mảng da bị đỏ hoặc tím bầm ở vùng bụng, tai, bẹn, sau đó xuất hiện chứng viêm phổi, lợn

Trang 31

ho thở dốc Những lợn như vậy thường bị chết do chứng viêm phổi thứ phát

15 ngày sau khi bị bệnh Tỷ lệ lợn chết ở lợn bị bệnh thể á cấp tính khoảng 40

- 45% Lợn bị bệnh thường mang trùng và thải đều đặn mầm bệnh ra ngoài môi trường, nhưng khó phát hiện một cách chính xác

* Bệnh tích đại thể

Khi mổ khám lợn bệnh, những bệnh tích đại thể quan sát được bao gồm: các vết tím xanh ở rìa tai, trên bề mặt da bụng, bẹn, chân và đuôi, xuất huyết lấm tấm dưới da; hạch manh tràng treo ruột, lách và hạch bạch huyết sưng phồng lên, các thuỳ lách cứng lại Trên bề mặt gan có điểm hoại tử nhỏ màu hơi trắng Xuất hiện những đám màu hồngnhư trứng gà tây ở thận và

phổi viêm (Trương Văn Dung, Yoshihara Shinobu, 2002 [13])

* Bệnh tích vi thể

Lưới nội mô và hạch bạch huyết tăng trưởng; hoại tử theo điểm trắng ở gan; xuất huyết và hoại tử ở hạch bạch huyết của màng treo ruột, màng phổi, màng bụng, màng bao tim, thận và màng não lấm tấm xuất huyết (Trương

Văn Dung, Yoshihara Shinobu, 2002 [13])

Theo Wilcock (1995) [77], dấu hiệu biến đổi bệnh tích vi thể do Salmonella gây ra là ở hạch lympho màng treo ruột: sưng, xung huyết, xuất huyết và có điểm hoại tử màu xám Trên bề mặt gan thấy xuất hiện điểm hoại

tử mô bào; những biến đổi bệnh tích vi thể là không trùng lặp với bất cứ bệnh nào khác ở lợn

* Chẩn đoán

Chẩn đoán bệnh phó thương hàn thể nhiễm trùng máu do

S.choleraesuis var Kunzendorf gây lên, không thể dựa vào trên các triệu chứng lâm sàng đơn lẻ, vì triệu chứng lâm sàng của Salmonelosis giống như

nhiều triệu chứng nhiễm trùng khác ở lợn như bệnh nhiễm trùng do

Strepttoccocus, bệnh đóng dấu lợn

Trang 32

2.3.2 Thể viêm ruột do S typhimurium

Bệnh Phó thương hàn thể viêm ruột thường do các serotyp S typhimurium gây ra ở lợn con từ sau cai sữa đến khoảng 4 - 6 tháng tuổi Các

thể bệnh hay gặp là cấp tính hoặc mãn tính (Laval, 2000 [25])

* Bệnh tích vi thể

Sự hoại tử nông hay sâu trên bề mặt của lớp tế bào biểu mô ruột là những bệnh lý vi thể đặc trưng của thể viêm ruột; có trường hợp thấy nổi gồ

Trang 33

lên khỏi niêm mạc xung huyết của ruột những hạt tròn như hạt đậu màu trắng vàng Phần đầu lông nhung trong hồi tràng bị teo ngắn lại Đa số trường hợp thấy mảng payer bị loét dưới đáy như phủ một lớp tổ chức hoại tử màu vàng trắng, niêm mạc dạ dày có điểm chảy máu rải rác, có một số loét nhỏ tập trung ở bờ cong nhỏ Gan xung huyết, trên bề mặt gan có thể thấy những nốt

u nhỏ (áp xe) mang tính đặc trưng cho thể bệnh không giống với điểm hoại tử trong thể nhiễm trùng huyết (Phạm Sỹ Lăng và cs, (2004) [26])

* Chẩn đoán

+ Chẩn đoán lâm sàng: Ở thể viêm ruột của bệnh Phó thương hàn, căn

cứ vào các triệu chứng điển hình như viêm ruột và dạ dày ở lợn con từ sau cai sữa đến 4 tháng tuổi Đồng thời, dựa vào kết quả nuôi cấy, phân lập vi khuẩn trên môi trường pepton và kiểm tra di động trên môi trường thạch và xét nghiệm huyết thanh học

+ Chẩn đoán phân biệt với bệnh hồng lỵ; Chứng viêm ruột do

Campylobacter (PHE); Viêm ruột hoại tử; bệnh viêm dạ dày ruột (Transmission Gasto Enteritis- TGE); tiêu chảy ở lợn do E coli Một số tác nhân gây tiêu chảy do vi rút như Rotavirus và Coronavirus gây viêm ruột, bệnh dịch tả lợn, các loại ký sinh trùng như cầu trùng Coccidia…

- Ở bệnh Phó thương hàn, thân nhiệt lợn ốm vẫn giữ cao (41- 42oC) trong suốt thời gian lợn bị ỉa chảy, điều đó hoàn toàn khác với bệnh hồng lỵ Hiện tượng tím tái nhiều khu vực trên da lợn bị bệnh Phó thương hàn cũng khác với lợn bị bệnh hồng lỵ Ở lợn bị bệnh hồng lỵ, phân có màu xám, xám-đen, đen, đen nâu, hiện tượng này không có ở lợn bị bệnh Phó thương hàn Lách ở lợn bị bệnh hồng lỵ không bị sưng và không có những biến đổi đặc trưng Màng niêm mạc ruột ở lợn bị bệnh hồng lỵ thường phủ một lớp biểu bì hoại tử, hiện tượng này không có ở lợn bị bệnh Phó thương hàn

Để có thể phân biệt rõ các loại bệnh này thường phải tiến hành các xét nghiệm kiểm tra vi khuẩn trong phòng thí nghiệm

Trang 34

- Ở bệnh viêm ruột do Campylobacter (PHE) thể cấp tính có thể thấy

xuất huyết ruột hay tiêu chảy cấp tính hoặc mãn tính, tổn thương thường lan tràn, làm mất đi những bệnh tích nhỏ, lớp niêm mạc nằm dưới các ổ hoại tử có dấu hiệu tăng sinh rất rõ Để tránh nhầm lẫn, cần xét nghiệm, phân lập vi khuẩn

- Đối với bệnh viêm ruột hoại tử do vi khuẩn C perfringens, bệnh xuất

hiện trong vòng một vài ngày đầu của lợn sơ sinh, lợn bệnh không sốt Hiện tượng tiêu chảy làm cho niêm mạc hậu môn bị tổn thương, có màu đỏ Lợn bệnh chết nhanh Giải phẫu ruột thấy có phủ một lớp hoại tử màu vàng hoặc những khối hơi sáng, dễ nát, dính chặt vào niêm mạc ruột Nhung mao của không tràng và tiểu nang là nơi xét nghiệm thấy trực khuẩn Gram (+) (Trương

Văn Dung và Yoshihara Shinobu, 2002 [13])

- Bệnh viêm dạ dày ruột (TGE) thường mắc và tỷ lệ chết cao ở lợn dưới

2 tuần tuổi Khi mổ khám, thấy dạ dày sưng to với các cục sữa vón, ruột non sưng to với bọt khí màu vàng và hình thành các cục sữa do không tiêu hoá được, thành ruột mỏng, gần như trong suốt Các lông nhung của không tràng

và hồi tràng bị teo đi

- Chẩn đoán phân biệt bệnh do Salmonella gây ra ở lợn với các bệnh do

E coli và bệnh dịch tả lợn có ý nghĩa rất quan trọng trong thực tiễn

- Lợn bị tiêu chảy do vi khuẩn E coli gây ra ở lứa tuổi sau cai sữa (4- 9

tuần tuổi) cũng khá phổ biến, lợn có biểu hiện phù mắt, phù đầu nên còn gọi

là bệnh phù đầu lợn con Mổ khám bệnh tích thấy tụ máu trong ruột non, có thể nhìn thấy chất chứa trong ruột non vì thành ruột mỏng và lông nhung

không bị phá huỷ Ở bệnh do Salmonella, lợn tím vành tai, da bụng và vùng

bẹn Các biến đổi bệnh lý ở ruột có tính đặc trưng như mô tả về phần bệnh

tích đại thể và vi thể của bệnh do Salmonella

- Bệnh dịch tả lợn xảy ra và lây lan nhanh ở tất cả các lứa tuổi lợn Hiện tượng ỉa chảy ở lợn bị bệnh dịch tả lợn xuất hiện khi nhiệt độ cơ thể

Trang 35

giảm, khi sốt cao lợn lại táo bón; còn ở bệnh Phó thương hàn lợn bị ỉa chảy khi thân nhiệt sốt cao 2 - 3 ngày Mổ khám bệnh tích lợn bị bệnh dịch tả thấy xuất huyết ở khắp các hệ thống cơ quan như hạch lympho, thận, bàng quang

và da, nhồi huyết ở lách, hạch lympho có màu đá hoa cương, viêm loét hình cúc áo trên niêm mạc bị viêm Điều trị bằng kháng sinh, lợn không khỏi bệnh, trong khi dùng kháng sinh điều trị bệnh Phó thương hàn có tỷ lệ khỏi cao

2.4 Biện pháp phòng trị bệnh do Salmonella spp gây ra ở lợn

Biện pháp phòng chống Salmonellosis phải dựa trên bản chất của ổ dịch, vì vi khuẩn Salmonella phân bố rộng, nên thanh toán bệnh là không khả

thi Biện pháp phòng, chống phải thiết kế để giảm tối đa tiếp xúc giữa gia súc mắc bệnh với gia súc khoẻ, giảm ô nhiễm thức ăn, nước uống và tránh dùng phụ phẩm từ cá, động vật trong thức ăn gia súc chưa được tiệt trùng (Archie

Hunter, 2002 [20]) Do đó, phòng, chống bệnh do vi khuẩn Salmonella gây

nên ở lợn là một vấn đề rất phức tạp, đòi hỏi những biện pháp đồng bộ

2.4.1 Phòng bệnh

Phòng bệnh Phó thương hàn cho lợn, nhất là ở những nơi chăn nuôi lợn tập trung quy mô lớn và chăn nuôi lợn nái có nhiều lợn con là một việc quan

trọng, vì đặc điểm dịch tễ của căn bệnh là vi khuẩn Samonella không dễ dàng

khống chế và yêu cầu của quá trình phòng bệnh là phải thực hiện được triệt để các nội dung như tiêm phòng vacxin, vệ sinh khử trùng tiêu độc, quản lý chăn nuôi, sử dụng chế phẩm sinh hoá học…

2.4.2 Điều trị bệnh

Hiệu quả chữa bệnh phụ thuộc rất nhiều vào các biện pháp phòng bệnh tổng hợp như vệ sinh thú y, chăm sóc, nuôi dưỡng, đồng thời phải chẩn đoán bệnh kịp thời thì mới nâng cao hiệu quả chữa bệnh

- Sử dụng kháng huyết thanh Phó thương hàn

Kháng huyết thanh phó thương hàn được chế bằng cách: Gây tối miễn

dịch cho bò đực thiến bằng canh trùng vi khuẩn S choleraesuis chứa độc tố

Trang 36

được vô hoạt bằng formol Tiêm bắp 30 - 60ml cho lợn dưới 45 ngày tuổi; 50

- 80ml cho lợn 45 ngày tuổi trở lên

- Điều trị bằng kháng sinh

Cho đến nay, việc dùng kháng sinh chữa bệnh Phó thương hàn cần chú

ý loại trừ các loại kháng sinh đã bị vi khuẩn kháng được nhiều tác giả thông báo như Streptomycin, Ampicillin,… Cũng phải loại trừ các kháng sinh vi khuẩn mẫn cảm nhưng đã bị cấm sử dụng như Chloramphenicol, Furazolidon,…

Có nhiều loại kháng sinh mà các công ty, xí nghiệp thuốc thú y trong và ngoài nước sản xuất dùng cho điều trị bệnh Phó thương hàn Khi sử dụng theo đúng hướng dẫn của nhà sản xuất

Tốt nhất là làm kháng sinh đồ để đánh giá và chọn loại kháng sinh điều trị có hiệu quả nhất

2.5 Tình hình dịch bệnh trên đàn lợn của tỉnh Thái Nguyên

2.5.1 Một số đặc điểm tự nhiên ảnh hưởng đến bệnh tiêu chảy

Thái Nguyên là một tỉnh miền núi trung du Bắc Bộ, có dịện tích tự nhiên 3.562,82 km², dân số hiện nay khoảng 1.127.200 người Thái Nguyên là một tỉnh không lớn, chỉ chiếm 1,13% diện tích và 1,41% dân số so với cả nước ( Nguồn: Cục thống kê tỉnh Thái Nguyên 2009) [3]

Tỉnh Thái Nguyên phía Bắc tiếp giáp với tỉnh Bắc Kạn, phía Tây giáp với các tỉnh Vĩnh Phúc, Tuyên Quang, phía Đông giáp với các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang và phía Nam tiếp giáp với thủ đô Hà Nội Với vị trí địa lý là một trong những trung tâm chính trị, kinh tế, giáo dục của khu Việt Bắc nói riêng, của vùng trung du miền núi đông bắc nói chung, Thái Nguyên là cửa ngõ giao lưu kinh tế - xã hội giữa vùng Trung du miền núi với vùng đồng bằng Bắc Bộ Việc giao lưu đã được thực hiện thông qua hệ thống đường bộ, đường sắt, đường sông hình rẻ quạt mà thành phố Thái Nguyên là đầu nút Thái Nguyên

có một số đặc điểm khí hậu như sau:

Trang 37

Khí hậu Thái Nguyên vào mùa đông được chia thành 3 vùng rõ rệt:

- Vùng lạnh nhiều nằm ở phía bắc huyện Võ Nhai

- Vùng lạnh vừa gồm các huyện Định Hóa, Phú Lương và phía nam huyện Võ Nhai

- Vùng ấm gồm các huyện: Đại Từ, Thành phố Thái Nguyên, Đồng Hỷ, Phú Bình, Phổ Yên và Thị xã Sông Công

Nhiệt độ chênh lệch giữa tháng nóng nhất (tháng 6: 28,9°C) với tháng lạnh nhất (tháng 1: 15,2°C) là 13,7°C Tổng số giờ nắng trong năm dao động

từ 1.300 đến 1.750 giờ và phân phối tương đối đều cho các tháng trong năm

Khí hậu Thái Nguyên chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 10 đến tháng 5 Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 2.000 đến 2.500 mm; cao nhất vào tháng 8 và thấp nhất vào tháng 1

Nhìn chung khí hậu tỉnh Thái Nguyên thuận lợi cho phát triển ngành nông, lâm nghiệp Trong đó tác động đáng kể đến tình hình dịch bệnh trên đàn lợn, đặc biệt là bệnh tiêu chảy

2.5.2 Tình hình dịch bệnh trên đàn lợn

Tình hình dịch bệnh trên đàn lợn của tỉnh Thái nguyên những năm qua diễn biến phức tạp và gây tổn thất khá lớn cho ngành chăn nuôi Tổng hợp của chi cục thú y tỉnh Thái Nguyên [4] trong 3 năm từ năm (2007-2009) cho thấy dịch bệnh trên đàn lợn:

Có trên 10 loại bệnh thường xẩy ra, với 50.422 con mắc và 3.979con

chết, tỉnh trung bình trên 16.807 con ốm/năm và 1.326,33 con chết/năm (chi tiết xem phần phụ lục)

Có thể thấy mặc dù tỷ lệ lợn chết do tiêu chảy là không cao song tần suất xuất hiện bệnh rất lớn; trung bình của 100 ca lợn mắc bệnh thì có tới 55

ca lợn mắc tiêu chảy Như vậy, ngoài việc phải chi phí cho điều trị, số lợn

Trang 38

khỏi bệnh cũng chậm lớn, tiêu tốn thức ăn tăng, làm tăng chi phí cho chăn nuôi, dẫn đến hiệu quả chăn nuôi giảm

Qua số liệu thống kê hàng tháng chúng tôi thấy : bệnh tiêu chảy ở lợn sẩy ra nhiều vào 2 giai đoạn: từ tháng 1-2 và từ tháng 6-8, đó là vào mùa đông

và mùa hè Giai đoạn từ tháng 9 đến cuối tháng 11 có số ca mắc tiêu chảy thấp hơn Kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu của một số tác giả khác như Hoàng Văn Tuấn, Lê Văn Tạo, (1998) [46], Nguyễn Thị Kim Lan và cs,

(2006b) [23]

Trang 39

3 ĐỐI TƯỢNG, NGUYÊN LIỆU, NỘI DUNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊU CỨU 3.1 Đối tượng địa điểm và thời gian nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Vi khuẩn Salmonella spp gây bệnh ở lợn nuôi tại Thái Nguyên

- Lợn dưới 3 tháng tuổi tại các huyện của tỉnh Thái Nguyên

3.1.2 Địa điểm nghiên cứu

- Các trang trại, hộ gia đình tại các huyện: Đồng Hỷ, Phổ Yên, Đại Từ, Phú Lương và Thị xã Sông Công thuộc tỉnh Thái Nguyên

- Bộ môn Vi trùng, Viện Thú Y Quốc gia

3.1.3 Thời gian nghiên cứu

- Từ tháng 12/2008 - 12/2009

3.2 Nội dung nghiên cứu

3.2.1 Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ hội chứng tiêu chảy ở lợn dưới 3 tháng tuổi tại tỉnh Thái Nguyên

3.2.1.1 Tỷ lệ lợn tiêu chảy và chết do tiêu chảy tại 5 huyện

3.2.1.2 Tỷ lệ lợn tiêu chảy và chết do tiêu chảy theo lứa tuổi

3.2.1.3 Tỷ lệ lợn tiêu chảy và chết do tiêu chảy theo mùa vụ trong năm

3.2.1.4 Triệu chứng, bệnh tích của lợn tiêu chảy

3.2.2 Nghiên cứu xác định vai trò của vi khuẩn Salmonella spp trong hội chứng tiêu chảy ở lợn

3.2.2.1 Phân lập, xác định tỷ lệ nhiễm vi khuẩn từ các mẫu bệnh phẩm lợn tiêu chảy

3.2.2.2 Định type vi khuẩn Salmonella spp phân lập được tại các huyện 3.2.2.3 Giám định đặc tính sinh hoá của các chủng vi khuẩn phân lập được 3.2.2.4 Xác định các Serotyp của các chủng vi khuẩn phân lập được

Trang 40

3.2.2.5 Xác định tính mẫn cảm với kháng sinh, hoá dược của các chủng Salmonella spp phân lập được

3.2.2.6 Gây bệnh thực nghiệm bằng một số chủng Salmonella spp phân lập được

3.2.3 Thử nghiệm một số phác đồ điều trị tiêu chảy cho lợn

3.3 Nguyên liệu dùng trong nghiên cứu

3.3.2 Các loại hoá chất, môi trường

* Các loại môi trường

Môi trường sử dụng trong nghiên cứu là những loại môi trường (của các hãng: Eiken, Oxoid, Biorad, ) ở dạng tổng hợp, khi dùng pha theo công thức có sẵn bao gồm:

- Môi trường BPW, RV, Mac Conkey, Môi trường thạch CHROMTM

Salmonella và thạch DHL dùng để nuôi cấy, phân lập vi khuẩn Salmonella

- Môi trường TSI, LIM và môi trường Malonate dùng để giám định vi

- Thuốc nhuộm Gram, dung dịch Kovac’s, dung dịch Andrader

- Giấy tẩm kháng sinh (do hãng Oxoid của Anh sản xuất)

Ngày đăng: 28/05/2016, 12:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Võ Thị Trà An, Nguyễn Ngọc Tuấn, Lê Hữu Ngọc (2006), “Tình hình nhiễm Salmonella trong phân và thân thịt (bò, heo, gà) tại một số tỉnh phía Nam”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y, số 2, tr. 37-42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tình hình nhiễm Salmonella trong phân và thân thịt (bò, heo, gà) tại một số tỉnh phía Nam”
Tác giả: Võ Thị Trà An, Nguyễn Ngọc Tuấn, Lê Hữu Ngọc
Năm: 2006
2. Cục Chăn nuôi (2006), “Tổng kết chăn nuôi giai đoạn 2001 - 2005; Kế hoạch phát triển 2006 - 2010 và định hướng 2015” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tổng kết chăn nuôi giai đoạn 2001 - 2005; Kế hoạch phát triển 2006 - 2010 và định hướng 2015
Tác giả: Cục Chăn nuôi
Năm: 2006
3. Cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên, Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên các năm 2005, 2006, 2007, 2008, 2009, NXB thống kê Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên các năm 2005, 2006, 2007, 2008, 2009
Nhà XB: NXB thống kê Hà Nội
4. Chi cục Thú y Thái Nguyên, “Báo cáo tình hình dịch bệnh gia súc, gia cầm hàng tháng, năm 2005 - 2009” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Báo cáo tình hình dịch bệnh gia súc, gia cầm hàng tháng, năm 2005 - 2009
5. Lê Minh Chí (1995). Bệnh tiêu chảy ở gia súc. Hội thảo khoa học, Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm, Hà Nội, tr 20 - 22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh tiêu chảy ở gia súc
Tác giả: Lê Minh Chí
Năm: 1995
6. Phùng Quốc Chướng (1995), Tình hình nhiễm Salmonella ở lợn tại vùng Tây Nguyên và khả năng phòng trị. Luận án PTS khoa học nông nghiệp, Trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình nhiễm Salmonella ở lợn tại vùng Tây Nguyên và khả năng phòng trị
Tác giả: Phùng Quốc Chướng
Năm: 1995
7. Phùng Quốc Chướng (2005), “Kết quả kiểm tra tính mẫn cảm của một số thuốc kháng sinh của vi khuẩn Salmonella phân lập từ vật nuôi tại ĐăkLăk”. Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y, số 1, tr. 53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Kết quả kiểm tra tính mẫn cảm của một số thuốc kháng sinh của vi khuẩn Salmonella phân lập từ vật nuôi tại ĐăkLăk
Tác giả: Phùng Quốc Chướng
Năm: 2005
8. Đỗ Trung Cứ, Trần Thị Hạnh, Nguyễn Quang Tuyên (2001), “Kết quả phân lập và xác định một số yếu tố gây bệnh của vi khuẩn Salmonella spp gây bệnh Phó thương hàn lợn ở một số tỉnh miền núi phía Bắc”. Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y, số 3, tr. 10-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Kết quả phân lập và xác định một số yếu tố gây bệnh của vi khuẩn Salmonella spp gây bệnh Phó thương hàn lợn ở một số tỉnh miền núi phía Bắc
Tác giả: Đỗ Trung Cứ, Trần Thị Hạnh, Nguyễn Quang Tuyên
Năm: 2001
9. Đỗ Trung Cứ, Trần Thị Hạnh, Nguyễn Quang Tuyên, Đỗ Thị Lan Phương (2003), “Xác định một số yếu tố gây bệnh của Salmonella Typhimurium phân lập từ lợn bị tiêu chảy ở một số tỉnh miền núi phía Bắc”. Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y, số 4, tr. 33-37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), “Xác định một số yếu tố gây bệnh của Salmonella Typhimurium phân lập từ lợn bị tiêu chảy ở một số tỉnh miền núi phía Bắc”
Tác giả: Đỗ Trung Cứ, Trần Thị Hạnh, Nguyễn Quang Tuyên, Đỗ Thị Lan Phương
Năm: 2003
10. Đỗ Trung Cứ (2004), Phân lập và xác định yếu tố gây bệnh của Salmonella ở lợn tại một số tỉnh miền núi phía Bắc và biện pháp phòng trị. Luận án Tiến sỹ nông nghiệp, Viện Thú y Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân lập và xác định yếu tố gây bệnh của Salmonella ở lợn tại một số tỉnh miền núi phía Bắc và biện pháp phòng trị
Tác giả: Đỗ Trung Cứ
Năm: 2004
11. Đỗ Đức Diên (1999), Vai trò của E. coli và Salmonella trong hội chứng tiêu chảy lợn con ở Kim Bảng (Hà Nam) và thử nghiệm một số giải pháp phòng trị. Luận án Thạc sỹ Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của E. coli và Salmonella trong hội chứng tiêu chảy lợn con ở Kim Bảng (Hà Nam) và thử nghiệm một số giải pháp phòng trị
Tác giả: Đỗ Đức Diên
Năm: 1999
12. Trần Quang Diên (2002), Nghiên cứu tình hình nhiễm, đặc tính gây bệnh của Salmonella gallinarum pullorum trên gà công nghiệp và chế kháng nguyên chẩn đoán. Luận án Tiến sỹ nông nghiệp, Trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tình hình nhiễm, đặc tính gây bệnh của Salmonella gallinarum pullorum trên gà công nghiệp và chế kháng nguyên chẩn đoán
Tác giả: Trần Quang Diên
Năm: 2002
13. Trương Văn Dung, Yoshihara shinobu (2002), Cẩm nang chẩn đoán tiêu chuẩn về các bệnh gia súc ở Việt Nam. Viện Thú y Quốc gia và Tổ chức hợp tác quốc tế Nhật Bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang chẩn đoán tiêu chuẩn về các bệnh gia súc ở Việt Nam
Tác giả: Trương Văn Dung, Yoshihara shinobu
Năm: 2002
14. Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng, Lê Ngọc Mỹ (1995), Bệnh đường tiêu hóa ở lợn. NXB Nông nghiệp, tr. 63- 96 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh đường tiêu hóa ở lợn
Tác giả: Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng, Lê Ngọc Mỹ
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1995
15. Trần Xuân Hạnh (1995), “Phân lập và giám định vi khuẩn Salmonella trên lợn ở tuổi giết thịt”. Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y, số 3, tr. 89-93 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phân lập và giám định vi khuẩn Salmonella trên lợn ở tuổi giết thịt
Tác giả: Trần Xuân Hạnh
Năm: 1995
16. Trần Thị Hạnh (2009), “Tỷ lệ nhiễm Salmonella spp. tại cơ sở giết mổ lợn công nghiệp và thủ công nghiệp”. Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y, số 2, tr. 51-56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), “Tỷ lệ nhiễm Salmonella spp. tại cơ sở giết mổ lợn công nghiệp và thủ công nghiệp
Tác giả: Trần Thị Hạnh
Năm: 2009
17. Trần Thị Hạnh và cộng sự (1999), “Tình hình ô nhiễm vi khuẩn Salmonella trong môi trường chăn nuôi gà công nghiệp và sản phẩm chăn nuôi”. Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y, số 1, Tr. 6-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tình hình ô nhiễm vi khuẩn Salmonella trong môi trường chăn nuôi gà công nghiệp và sản phẩm chăn nuôi”
Tác giả: Trần Thị Hạnh và cộng sự
Năm: 1999
18. Nguyễn Bá Hiên (2001), Một số vi khuẩn đường ruột thường gặp và biến động của chúng ở gia súc khỏe mạnh và bị tiêu chảy nuôi tại vùng ngoại thành Hà Nội. Luận án Tiến sỹ Nông nghiệp, Trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vi khuẩn đường ruột thường gặp và biến động của chúng ở gia súc khỏe mạnh và bị tiêu chảy nuôi tại vùng ngoại thành Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Bá Hiên
Năm: 2001
19. Bùi Quý Huy (2003). Sổ tay phòng chống các bệnh từ động vật lây sang người- Bệnh do E.coli. NXB Nông nghiệp, Hà Nội, tr 30-34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay phòng chống các bệnh từ động vật lây sang người- Bệnh do E.coli
Tác giả: Bùi Quý Huy
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2003
21. Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Thị Ngân, Lê Minh - Đại học Nông lâm Thái Nguyên, “Một số đặc điểm dịch tễ hội chứng tiêu chảy ở lợn tại Thái Nguyên”, Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y, số 4, 2006, trang 94 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Một số đặc điểm dịch tễ hội chứng tiêu chảy ở lợn tại Thái Nguyên”

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 3.1:  Quy trình phân lập và giám định vi khuẩn Salmonella - Nghiên Cứu Đặc Điểm Dịch Tễ Và Một Số Yếu Tố Gây Bệnh Của Vi Khuẩn Samonella Spp Trong Hội Chứng Tiêu Chảy Ở Lợn Dưới 3 Tháng Tuổi Tại Tỉnh Thái Nguyên Và Biện Pháp Phòng Trị
Sơ đồ 3.1 Quy trình phân lập và giám định vi khuẩn Salmonella (Trang 44)
Bảng 3.1:  Bảng đánh giá mức độ mẫn cảm của vi khuẩn - Nghiên Cứu Đặc Điểm Dịch Tễ Và Một Số Yếu Tố Gây Bệnh Của Vi Khuẩn Samonella Spp Trong Hội Chứng Tiêu Chảy Ở Lợn Dưới 3 Tháng Tuổi Tại Tỉnh Thái Nguyên Và Biện Pháp Phòng Trị
Bảng 3.1 Bảng đánh giá mức độ mẫn cảm của vi khuẩn (Trang 48)
Bảng 1: Tỷ lệ lợn tiêu chảy và chết do tiêu chảy tại một số huyện - Nghiên Cứu Đặc Điểm Dịch Tễ Và Một Số Yếu Tố Gây Bệnh Của Vi Khuẩn Samonella Spp Trong Hội Chứng Tiêu Chảy Ở Lợn Dưới 3 Tháng Tuổi Tại Tỉnh Thái Nguyên Và Biện Pháp Phòng Trị
Bảng 1 Tỷ lệ lợn tiêu chảy và chết do tiêu chảy tại một số huyện (Trang 53)
Bảng 3: Tỷ lệ lợn tiêu chảy và chết do tiêu chảy ở các mùa vụ trong năm - Nghiên Cứu Đặc Điểm Dịch Tễ Và Một Số Yếu Tố Gây Bệnh Của Vi Khuẩn Samonella Spp Trong Hội Chứng Tiêu Chảy Ở Lợn Dưới 3 Tháng Tuổi Tại Tỉnh Thái Nguyên Và Biện Pháp Phòng Trị
Bảng 3 Tỷ lệ lợn tiêu chảy và chết do tiêu chảy ở các mùa vụ trong năm (Trang 58)
Bảng 5: Bệnh tích ở lợn tiêu chảy tại do Salmonella spp gây ra - Nghiên Cứu Đặc Điểm Dịch Tễ Và Một Số Yếu Tố Gây Bệnh Của Vi Khuẩn Samonella Spp Trong Hội Chứng Tiêu Chảy Ở Lợn Dưới 3 Tháng Tuổi Tại Tỉnh Thái Nguyên Và Biện Pháp Phòng Trị
Bảng 5 Bệnh tích ở lợn tiêu chảy tại do Salmonella spp gây ra (Trang 62)
Bảng 6:  Kết quả phân lập vi khuẩn Salmonella spp - Nghiên Cứu Đặc Điểm Dịch Tễ Và Một Số Yếu Tố Gây Bệnh Của Vi Khuẩn Samonella Spp Trong Hội Chứng Tiêu Chảy Ở Lợn Dưới 3 Tháng Tuổi Tại Tỉnh Thái Nguyên Và Biện Pháp Phòng Trị
Bảng 6 Kết quả phân lập vi khuẩn Salmonella spp (Trang 64)
Bảng 6 và biểu đồ 4 cho thấy: trong tổng số 130 mẫu phân của lợn bị  tiêu chảy, cho kết quả là số lượng vi khuẩn thu thập được ở lợn bị tiêu chảy từ  1- 21 ngày tuổi chiếm tỷ lệ 8,33%, ở lợn 22 - 60 ngày tuổi ở lợn bị tiêu chảy  61,36%  và  ở  lợn  61  - - Nghiên Cứu Đặc Điểm Dịch Tễ Và Một Số Yếu Tố Gây Bệnh Của Vi Khuẩn Samonella Spp Trong Hội Chứng Tiêu Chảy Ở Lợn Dưới 3 Tháng Tuổi Tại Tỉnh Thái Nguyên Và Biện Pháp Phòng Trị
Bảng 6 và biểu đồ 4 cho thấy: trong tổng số 130 mẫu phân của lợn bị tiêu chảy, cho kết quả là số lượng vi khuẩn thu thập được ở lợn bị tiêu chảy từ 1- 21 ngày tuổi chiếm tỷ lệ 8,33%, ở lợn 22 - 60 ngày tuổi ở lợn bị tiêu chảy 61,36% và ở lợn 61 - (Trang 65)
Bảng 7: Kết quả phân lập vi khuẩn Salmonella spp - Nghiên Cứu Đặc Điểm Dịch Tễ Và Một Số Yếu Tố Gây Bệnh Của Vi Khuẩn Samonella Spp Trong Hội Chứng Tiêu Chảy Ở Lợn Dưới 3 Tháng Tuổi Tại Tỉnh Thái Nguyên Và Biện Pháp Phòng Trị
Bảng 7 Kết quả phân lập vi khuẩn Salmonella spp (Trang 67)
Bảng  9:  Kết quả giám định một số đặc tính sinh hoá - Nghiên Cứu Đặc Điểm Dịch Tễ Và Một Số Yếu Tố Gây Bệnh Của Vi Khuẩn Samonella Spp Trong Hội Chứng Tiêu Chảy Ở Lợn Dưới 3 Tháng Tuổi Tại Tỉnh Thái Nguyên Và Biện Pháp Phòng Trị
ng 9: Kết quả giám định một số đặc tính sinh hoá (Trang 72)
Bảng 10: Kết quả định serotype vi khuẩn Salmonella phân lập được  Kháng - Nghiên Cứu Đặc Điểm Dịch Tễ Và Một Số Yếu Tố Gây Bệnh Của Vi Khuẩn Samonella Spp Trong Hội Chứng Tiêu Chảy Ở Lợn Dưới 3 Tháng Tuổi Tại Tỉnh Thái Nguyên Và Biện Pháp Phòng Trị
Bảng 10 Kết quả định serotype vi khuẩn Salmonella phân lập được Kháng (Trang 73)
Bảng 11: Kết quả định type vi khuẩn Salmonella spp phân lập được - Nghiên Cứu Đặc Điểm Dịch Tễ Và Một Số Yếu Tố Gây Bệnh Của Vi Khuẩn Samonella Spp Trong Hội Chứng Tiêu Chảy Ở Lợn Dưới 3 Tháng Tuổi Tại Tỉnh Thái Nguyên Và Biện Pháp Phòng Trị
Bảng 11 Kết quả định type vi khuẩn Salmonella spp phân lập được (Trang 76)
Hình 12: Kết quả của phản ứng PCR xác định yếu tố gây bệnh - Nghiên Cứu Đặc Điểm Dịch Tễ Và Một Số Yếu Tố Gây Bệnh Của Vi Khuẩn Samonella Spp Trong Hội Chứng Tiêu Chảy Ở Lợn Dưới 3 Tháng Tuổi Tại Tỉnh Thái Nguyên Và Biện Pháp Phòng Trị
Hình 12 Kết quả của phản ứng PCR xác định yếu tố gây bệnh (Trang 80)
Bảng 13: Kết quả kiểm tra độc lực của một số chủng - Nghiên Cứu Đặc Điểm Dịch Tễ Và Một Số Yếu Tố Gây Bệnh Của Vi Khuẩn Samonella Spp Trong Hội Chứng Tiêu Chảy Ở Lợn Dưới 3 Tháng Tuổi Tại Tỉnh Thái Nguyên Và Biện Pháp Phòng Trị
Bảng 13 Kết quả kiểm tra độc lực của một số chủng (Trang 83)
Bảng 15:  Kết quả kiểm tra mức độ mẫn cảm với một số loại kháng sinh - Nghiên Cứu Đặc Điểm Dịch Tễ Và Một Số Yếu Tố Gây Bệnh Của Vi Khuẩn Samonella Spp Trong Hội Chứng Tiêu Chảy Ở Lợn Dưới 3 Tháng Tuổi Tại Tỉnh Thái Nguyên Và Biện Pháp Phòng Trị
Bảng 15 Kết quả kiểm tra mức độ mẫn cảm với một số loại kháng sinh (Trang 88)
Bảng 16: Hiệu quả một số phác đồ điều trị - Nghiên Cứu Đặc Điểm Dịch Tễ Và Một Số Yếu Tố Gây Bệnh Của Vi Khuẩn Samonella Spp Trong Hội Chứng Tiêu Chảy Ở Lợn Dưới 3 Tháng Tuổi Tại Tỉnh Thái Nguyên Và Biện Pháp Phòng Trị
Bảng 16 Hiệu quả một số phác đồ điều trị (Trang 91)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w