Xác định được một số đặc điểm sinh học cơ bản của nhím bờm như quá trình sinh trưởng phát triển, sinh lý sinh dục, sinh sản, khả năng cho thịt và chất lượng thịt....1 2.2.. Xác định đượ
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: TS DƯƠNG MẠNH HÙNG
THÁI NGUYÊN NĂM 2011
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa có ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn Thạc Sĩ Khoa học nông nghiệp, tôi đã nhận được sự giúp đỡ quý báu của Nhà trường và địa phương Nhân dịp hoàn thành luận văn này tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn và
sự kính trọng sâu sắc nhất tới:
Ban Giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Khoa Sau Đại học và các thầy cô giáo Khoa Chăn nuôi - Thú y Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Đặc biệt, tôi xin trân trọng cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ của thầy giáo hướng
dẫn: TS Dương Mạnh Hùng đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình
triển khai các nội dung nghiên cứu cũng như đã góp nhiều ý kiến quý báu cho việc hoàn thành luận văn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Chi cục Thú y tỉnh Bắc Kạn, ông
Võ Văn Sự Bộ môn đa dạng sinh học và Động vật quý hiếm Viện chăn nuôi và các
bà con nông dân nuôi Nhím trong tỉnh đã tạo điều kiện, giúp đỡ về thời gian, cơ sở vật chất, nhân lực giúp tôi hoàn thành luận văn
Nhân dịp này tôi cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất tới toàn thể gia đình, bạn bè và các đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và sự giúp đỡ vô hạn về mọi mặt, động viên, khuyến khích tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin trân trọng gửi tới các thầy cô giáo, các quý vị trong Hội đồng chấm luận văn lời cảm ơn chân thành và lời chúc tốt đẹp nhất
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2011
Học viên
Lương Thị Lan
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu của đề tài 1
2.1 Xác định được một số đặc điểm sinh học cơ bản của nhím bờm như quá trình sinh trưởng phát triển, sinh lý sinh dục, sinh sản, khả năng cho thịt và chất lượng thịt. 1
2.2 Xác định được một số bệnh thường gặp và biện pháp phòng trị 2
2.3 Đưa ra một số biện pháp kỹ thuật nâng cao hiệu quả nuôi nhím bờm trong nông hộ2 3 Ý nghĩa khoa học và ứng dụng của đề tài 2
3.1 Ý nghĩa khoa học 2
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
CHƯƠNG 1 :TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Vị trí phân loại của nhím bờm trong hệ thống phân loại động vật 3
1.2 Những hiểu biết về nhím 6
1.2.1 Nhím bờm Nam Phi 6
1.2.2 Nhím Bắc Mỹ 7
1.2.3 Nhóm nhím Việt Nam 9
1.2.4 Một số bài thuốc từ con nhím 9
1.3 Cơ sở khoa học của sự sinh trưởng phát dục 13
1.3.1 Cơ sở di truyền học của sự sinh trưởng 13
1.3.2 Sự sinh trưởng và các chỉ tiêu đánh giá sức sinh trưởng 13
1.3.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng 14
1.4 Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu các tính trạng 17
1.5 Đặc điểm sinh sản 20
1.6 Cơ sở nghiên cứu các tính trạng ngoại hình ở động vật 20
1.6.1 Màu sắc lông, da 20
1.6.2 Ngoại hình 21
1.7 Cơ sở nghiên cứu tập tính của động vật 21
Trang 51.7.2 Cơ sở di truyền tập tính ở động vật 22
1.8 Cơ sở nghiên cứu đề kháng của động vật 22
1.9 Cơ sở nghiên cứu các tính trạng sinh trưởng. 23
1.9.1 Tốc độ sinh trưởng 23
1.9.2 Khối lượng cơ thể 24
1.9.3 Tốc độ mọc lông 24
1.9.4 Kích thước các chiều đo của cơ thể 24
1.10 Cơ sở xác định tính trạng của động vật 25
1.10.1 Tuổi đẻ lứa đầu 25
1.10.2 Số con đẻ ra - tỷ lệ đẻ 25
1.10.3 Khối lượng con 26
1.11 Tình hình nghiên cứu nhím bờm ở trong và ngoài nước 26
1.11.1 Tình hình nghiên cứu nhím ở trong nước 26
1.11.2 Tình hình nghiên cứu nhím ở nước ngoài 27
CHƯƠNG 2 : ĐỊA ĐIỂM, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1 ĐỊA ĐIỂM VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 28
2.1.1 Địa điểm nghiên cứu 28
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu 28
2.2 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 28
2.3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.3.1 Nội dung nghiên cứu 28
2.3.2 Các chỉ tiêu nghiên cứu và phương pháp xác định các chỉ tiêu 28
2.3.3 Phương pháp sử lý số liệu và tính toán 32
CHƯƠNG 3 :KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 34
3.1 Đặc điểm ngoại hình của nhím bờm 34
3.1.1 Hình dáng cơ thể của nhím bờm 34
3.1.2 Màu sắc lông, da của nhím bờm 34
Trang 6nuôi nhím bờm. 36
3.2.1 Khả năng sử dụng các loại thức ăn của nhím bờm. 36
3.2.2 Các loại thức ăn trong khẩu phần ăn 1 ngày đêm của nhím bờm 37
3.3 Theo dõi các chỉ tiêu sinh trưởng của nhím bờm 38
3.3.1 Sinh trưởng tích lũy của nhím bờm 38
3.3.2 Sinh trưởng tuyệt đối của nhím bờm 40
3.3.3 Sinh trưởng tương đối của nhím bờm 42
3.4.1 Sinh lý sinh dục của nhím bờm 45
3.4.3 Những biểu hiện động dục của nhím bờm 48
3.5 Theo dõi một số tập tính của nhím bờm 49
3.5.1 Tập tính tự vệ và tính nết của nhím bờm 49
3.5.2 Tập tính ăn ngủ của nhím bờm 49
3.5.3 Tập tính giao phối của nhím bờm 50
3.5.4 Tập tính đẻ con của nhím bờm 51
3.6 Khả năng cho thịt của nhím bờm 52
3.7 Thành phần hóa học của thịt nhím bờm 52
3.8 Các bệnh thường gặp của nhím bờm 54
3.9 Sơ bộ hạch toán hiệu quả nuôi nhím bờm 57
3.10 Đề xuất một số giải pháp kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả nuôi nhím bờm 58
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 59
1 Kết luận 59
2 Đề nghị 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO 61
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.12 Kết quả mổ khảo sát thịt nhím bờm 52
Bảng 3.13 Kết quả phân tích thành phần hoá học của thịt nhím bờm 53
Bảng 3.14 Kết quả phân tích thành phần axit amin thịt nhím bờm 53
Bảng 3.15 Kết quả theo dõi các bệnh thư ư ư ư ờ ờ ờ ờ ng gặp của nhím bờm 54
Bảng 3.16 Phác đồ điều trị một số bệnh thư ư ư ư ờ ờ ờ ờ ng gặp của nhím bờm 55
Bảng 3.17 Chi phí thức ăn để sản xuất ra 1kg nhím bờm 57
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 59
1 Kết luận 59
2 Đề nghị 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO 61
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Biểu đồ sinh trưởng tích luỹ của nhím bờm qua các giai đoạn tuổi 40
Hình 3.2 Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của nhím bờm 42
Hình 3.3 Biểu đồ sinh trưởng tương đối của nhím bờm 44
Hình 3.4 Biểu đồ thời gian đẻ con của nhím bờm 51
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Hòa cùng với sự phát triển của nền kinh tế các nước trên thế giới và trong khu vực, nền kinh tế nước ta cũng có những bước phát triển, nhu cầu của người tiêu dùng về thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao ngày càng được người tiêu dùng quan tâm Cùng với nghề nuôi gấu lấy mật, nuôi hươu lấy nhung, nuôi ong lấy mật thì nghề nuôi nhím đang phát triển rầm rộ trong vài năm gần đây và hiện đang trở thành nghề chăn nuôi có giá trị thu nhập cao
Nhím bờm là loại động vật hoang dã quý hiếm sống trong rừng núi ở nhiều địa phương của nước ta và các nước trên thế giới Đây là loài động vật đặc sản quý hiếm: Thịt có mùi thơm đặc biệt, tỷ lệ đạm cao, rất bổ phù hợp với thị hiếu của nhiều người tiêu dùng được bán trên thị trường với giá cao Nhím bờm có tầm vóc
cơ thể khá lớn, chịu được kham khổ, dễ nuôi, chống chịu bệnh tật tốt, nguồn thức ăn
đa dạng phong phú, phù hợp với điều kiện kinh tế, khí hậu tập quán chăm sóc của nhân dân ở nhiều địa phương Trong một số năm gần đây, nhím cũng đang bị săn lùng ráo riết đẩy nhím vào nguy cơ diệt vong Một số nơi đã bắt đầu thuần hóa và nuôi nhím, nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày một tăng
Tuy nhiên, đến nay có rất ít công trình nghiên cứu khoa học nào đi sâu nghiên cứu về giống nhím bờm Do vậy những nghiên cứu góp phần xác định về các đặc điểm sinh trưởng, phát triển, sinh lý sinh dục, sinh sản và các bệnh thường gặp của nhím bờm là cần thiết Các nghiên cứu này nhằm cung cấp những thông tin về giống nhím bờm cho các nhà chăn nuôi để có cơ sở so sánh với các giống nhím khác Từ đó góp phần đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nâng cao hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi động vật hoang dã Trước thực tiễn đó chúng tôi tiến hành
đề tài: “Xác định một số đặc điểm sinh học và các bệnh thường gặp của nhím
bờm nuôi nhốt trong nông hộ tại tỉnh Bắc Kạn
2 Mục tiêu của đề tài
2.1 Xác định được một số đặc điểm sinh học cơ bản của nhím bờm như quá trình sinh trưởng phát triển, sinh lý sinh dục, sinh sản, khả năng cho thịt và chất lượng thịt
Trang 112.2 Xác định được một số bệnh thường gặp và biện pháp phòng trị
2.3 Đưa ra một số biện pháp kỹ thuật nâng cao hiệu quả nuôi nhím bờm trong nông hộ
3 Ý nghĩa khoa học và ứng dụng của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài là những tư liệu góp phần nâng cao hiểu biết
về những đặc điểm sinh học cơ bản của nhím bờm
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Những nội dung nghiên cứu của đề tài áp dụng vào thực tiễn chăn nuôi của
người dân nhằm nâng cao thu nhập cho người dân
- Góp phần đẩy mạnh chương trình phát triển chăn nuôi nhím bờm trong nông hộ ở khu vực miền núi phía Bắc
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Vị trí phân loại của nhím bờm trong hệ thống phân loại động vật
Nhím Bờm có tên khoa học là Acanthion Subcristatum Tiếng la tinh có nghĩa là: Quill big (lợn lông) mặc dù chúng không phải là lợn
Theo Lê Hiền Hào (1973) [7] nhím bờm là một loài động vật hoang dã có tên khoa học là Acanthionsubcristatum
Tiếng Anh là Porcupine
Tiếng Thái là Tô Miển
Nhím thuộc loài: Hytrixhodgsoni
Họ Nhím Hysticidac có bộ răng 1.0.1.3./1.0.1.3 = 20 chiếc
Bộ gặm nhấm Rodentia
Theo Lê Hiền Hào (1973) [7], loài nhím bờm phân bố ở một số nước như Nêpan, Axan, Têlaxêrim, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Cam Pu Chia,Việt Nam, Trung Quốc (ở tỉnh Thiểm Tây và các tỉnh phía nam lưu vực sông Trường Giang và
có cả ở đảo Hải Nam)
Nhím bờm là loài thú phổ biến gặp ở các địa phương vùng núi và trung du, (trừ đồng bằng Miền Bắc Việt Nam) Nhím bờm cũng thường gặp trên các đảo gần
bờ ở phía Đông Bắc Bộ, theo Võ Văn Sự và cộng sự (2006) [29]
Nhím lông hay thường được gọi là nhím là tên gọi cho một số loài động vật thuộc bộ gặm nhấm (Rodentia) Chúng phân bố trên cả Cựu Thế Giới và Tân Thế Giới Tên gọi nhím trong tiếng Việt cũng có thể đề cập đến một số loài trong bộ nhím gai (Erinaceomorpha) hay họ Tachyglossidae của bộ Monotremata, có nhiều đặc điểm khác hẳn với họ nhím lông Cựu Thế Giới (Hystricidae) và họ nhím lông Tân Thế Giới (Erethizontidae) Sau lợn nước và hải ly, nhím phân bố rộng thứ ba trong bộ gặm nhấm Phần lớn nhím dài từ 630 - 910mm, đuôi dài khoảng 200 - 250mm Với khối lượng từ 5,4kg - 16kg, nhím có nhiều màu sắc như: nâu, xám và
ít khi có màu trắng
Trang 13* Các loài Nhím
Có khoảng 27 loài nhím trong hai họ Hystricidae và Erethizontidae Chúng
có khả năng tự vệ nhờ bộ lông sắc nhọn xung quanh Các loại nhím khác nhau có khối lượng khác nhau khá nhiều: Loài nhím Rothschild (Coendourothschild) ở Nam Mỹ có khối lượng 1kg, trong khi đó loài nhím Châu Phi (Hystrixcristata) có thể nặng tới 10kg Hai họ nhím này khá khác nhau mặc dù chúng cùng thuộc cận
bộ Hystricognathi trong bộ gậm nhấm rộng lớn Theo http://www.cws africaonline.com [43]
Mười một loài nhím trong họ nhím Cựu Thế Giới chỉ sống trên mặt đất Chúng được cho rằng tách ra từ cận bộ Hystricognathi từ 30 triệu năm về trước, sớm hơn nhiều so với họ nhím lông Tân Thế Giới
Những loài thuộc họ Nhím lông Tân Thế Giới nói chung nhỏ hơn nhiều so với những loài thuộc họ nhím lông Cựu Thế Giới, mặc dù loài nhím Bắc Mỹ (Erethirron dorsatum) dài đến 85cm và nặng đến 18kg Các lông của nhím mọc đơn
lẻ và nhím leo trèo cây rất tốt, tiêu tốn nhiều thời gian trên cây Các loài nhím lông Tân Thế Giới đã tiến hóa lông gai của chúng một cách độc lập và có họ hàng gần gũi với một vài họ khác của tiểu bộ Caviomorpha (tiểu bộ chuột lang) thuộc bộ gặm nhấm hơn là so với nhím lông Cựu Thế Giới
Họ Hystricidae: Nhím lông Cựu Thế Giới
Nhím đuôi chổi châu Phi, Atherusrus apricanus
Nhím đuôi chổi châu Á, Atherusrus macrourus
Nhím châu Phi, Hyrtrix cristata
Nhím Cape, Hyrtrixafricaeaustralis
Nhím Himalaya, Hyrtrix hodgsoni
Nhím Ấn Độ, Hyrtrix indicus
Trang 14Nhím Ma Lai, Hyrtrix brachyura
Nhím Suda, Hyrtrix javanica
Nhím Sumatra, Hyrtrixsumatrae
Nhím Borneo, Thecurus crassispinis
Nhím Philippine,Thecurus pumilis
Nhím đuôi dài, Trichys pasciculata
Họ Thryonomyidae: Chuột mía
Họ Petromuridae: Chuột đa man (đề thỏ)
Họ Bathyergidae: Chuột chũi châu phi
Họ Caviidae: Chuột lang
Họ Dasyproctidae: Agouti và acouchi
Họ Erethirontidae: Nhím lông Tân thế giới
Nhím Brasil, Coendou prehensilis
Nhím gai hai màu, Coendou bicolor
Nhím Koopman, Coendou koopmani
Nhím Rothschild, Coendou rothschildi
Nhím cây Mexico Sphiggururus mesicanus
Nhím cây Nam Mỹ Sphiggururus spinosus
Nhím Nam Mỹ Sphiggururus Spinosus
Nhím lùn lông Bahia, Sphiggurus in sidiosus
Nhím lùn lông Pallid, Sphiggururus pallidus (tuyệt chủng)
Nhím lùn lông Brown, Sphiggururus vestitus
Nhím lùn lông gai da cam, Sphiggururus villosus
Nhím đuôi cụt, Echinoprocta rufescens
Nhím gai cứng, Chaetomys subspinosus (đôi khi được coi thuộc họ Echimyidae)
Họ Chinchillidae: Sóc sinsin (chuột lông tơ) và viscacha
Họ Octohontidae: Chuột đá Nam Mỹ, degu
Họ Ctenodactylidae: Gundi
Họ Myocastoridae: Coypu
Họ Ctenomyidae: Tuco - tuco
Trang 151.2 Những hiểu biết về nhím
Theo “Quỹ Động vật hoang dã Nam Phi” African Wildlife Foundation, nhóm nhím Nam Phi có 3 giống đó là: Nhím bờm (Crested porcupine) khá phổ biến, tiếp theo là nhím Nam Phi - South African porcupine (Hystrix africaeaustralis) và cuối cùng là nhím đuôi chổi (African brush - Tailed porcupine Atherurus africanus) nhỏ hơn, thon thả hơn và sống cách biệt ở Kenya (Võ Văn Sự và cs, 2005) [30]
Theo các tư liệu của Trường Đại học Michigan, Viện bảo tàng Động vật (2003) [48] thì vùng Bắc Mỹ cũng có nhím với tên gọi là: nhím, nhím Bắc Mỹ, nhím Châu Mỹ (American Porcupines)
Như vậy, ta có thể phân loại nhím làm 3 nhóm: nhím Việt Nam, nhím Nam Phi và nhím Bắc Mỹ Sau đây là các đặc điểm cơ bản của từng nhóm
1.2.1 Nhím bờm Nam Phi
Là một trong những loài gặm nhấm lớn và nặng nhất Châu Phi khoảng 20
kg, tuy nhiên chúng khá khác nhau về kích thước như: Đầu hơi tròn, mũi ngắn, mắt
và tai nhỏ Chân nhím bờm ngắn, khỏe, bàn chân có 5 ngón và được bọc bằng các móng sắc nhọn, chia thành các đoạn đen, nâu, hơi vàng và trắng Lông lưng, hai sườn và đuôi có lẫn với các loại lông mềm khác Độ dài của lông thay đổi theo bộ phận trên thân, lông lưng giao động từ 2,5cm đến 30cm Lông thường nằm bẹp úp với thân, chỉ khi nào gặp kẻ thù nó mới dựng và xù lên, lông cũng dễ bứt ra khỏi da
* Nơi ở: Nhím Nam Phi thường sống ở vùng đồi núi, núi đá, nhưng cũng rất
dễ thích nghi ở các địa hình khác Người ta còn phát hiện nhím này có ở vùng núi Mt.Kilimanjaro, cao 11,480feet Chúng thường sống trong các hốc đất, gốc cây, hang
đá và đã được sửa chữa cho phù hợp với nhím Nhím cũng có thể ở trong các hang hốc mà con vật khác đã làm, chúng cũng có thể tự đào lấy hang riêng cho mình Nếu nhím sống ở một hang nào đó vài ba năm thì hang đó có thể có một vài cửa ra, vào theo Phùng Quang Trường (2006) [37]
* Tập tính: Là một loài vật được vũ trang tốt, khi gặp nguy hiểm nhím dẫm mạnh chân, nghiến răng, dựng và xù ra bộ lông điển hình của loài Khi xù lông đuôi nhím tạo thành tiếng động Nếu kẻ thù cứ tiếp tục tấn công nhím sẽ lùi lại và tấn công vào kẻ thù Thường quả đánh đó rất hiệu quả vì phần mông của nhím nặng nhất và lông thường cắm thẳng vào đuôi
Trang 16Nhím thích đi dọc đường, lối mòn vào ban đêm, chúng có thể đi xa để kiếm
ăn Thức ăn chính của nhím chủ yếu là rễ cây, củ, quả, hạt tự nhiên Nhím cũng rất thích ăn các loại củ, quả do con người trồng như: sắn, khoai lang và cà rốt Mặc dù là động vật ăn tạp, nhưng chúng thích ăn cả xương động vật và các loại khoáng chất khác
* Đặc điểm sinh sản: nhím Châu Phi có số ngày mang thai là 112 ngày Một lứa có thể đẻ được từ 1 đến 4 con Nhím con phát triển nhanh và mở mắt ngay khi
đẻ ra Hai tuần sau nhím con có thể rời tổ và lông bắt đầu cứng Nhím con khá hiếu động Nhím con bú mẹ từ 6 đến 8 tuần và tập ăn cây cỏ sau tuổi này Tuổi thọ của nhím khá cao, có con sống đến 20 năm Khi quần thể nhím đông đúc, chúng
có thể gây hại cho hoa màu Có thể hun khói hoặc dùng chó săn, bẫy để đuổi và săn bắn chúng
* Kẻ thù: Nhím trông bề ngoài rất hung dữ, nhưng nhím cơ bản là một loài nhút nhát Kẻ thù của nhím là con trăn, con báo, chó sói và đôi khi kẻ thù của nhím cũng chết do lông nhím đâm vào họng
1.2.2 Nhím Bắc Mỹ
Có mặt hầu hết ở các vùng Bắc Mỹ từ Alaska đến Labrado Tại Trung Mỹ có
ở các bang Lake States và New England, ở vùng Trung Bắc có nhiều ở bang Michigan, Winsconcin và Minnesota Nhím Bắc Mỹ nặng từ 3 - 7kg Một số chiều
đo của cơ thể như sau:
Chiều dài thân: 64 - 93cm
nó mới dựng và xù lên Lông nhím cũng dễ bứt ra khỏi da Lông nhím có khoảng hơn 30 ngàn cái, lông dài nhất là ở đuôi và ngắn nhất là ở vùng má
Trang 17Bàn chân trước có 4 ngón và chân sau có 5 ngón, như vậy đây là một điểm khác cơ bản giữa nhím Châu Mỹ và Nam Phi Nhím cái có 2 hàng vú, nhưng cũng
đã bắt gặp cá thể có 3 hàng vú Nhím Bắc Mỹ hoạt động quanh năm Thức ăn mùa
hè của nhím chủ yếu là các loại lá cây và cỏ Mùa đông nhím ăn lớp vỏ bên trong của cây Chúng rất thích muối nên thường hay ra đồng nơi mà muối được rắc kết với nhau thành băng xung quanh khu vực người ở, nhím gặm nhấm tất cả những
gì có chứa muối Nhím Châu Mỹ cũng rất thích ăn cả xương động vật cũng như nhím Châu Phi
Sinh sản ở nhím thường xẩy ra vào đầu mùa đông Nhím cái thuộc loại động dục nhiều lần (Polyestrous) và chu kỳ động dục này là 25 - 30 ngày Rụng trứng xảy
ra đồng thời và có thể thay nhau từ buồng trứng phải đến buồng trứng trái Thời gian động dục kéo dài 8 đến 12 giờ Nhím đực thường đánh nhau tranh giành con cái Thời gian chửa của nhím là 90 - 95 ngày
Nhím mẹ nuôi con đến 6 tháng tuổi, tại phòng thí nghiệm người ta nuôi nhím con trong vài tháng, nhưng trong cuộc sống hoang dã nhím con có thể tồn tại được vài tuần sau khi sinh với nguồn thức ăn là cây, cỏ Sau 2 tuần nhím con có thể ăn thức ăn cứng, 16 đến 24 tháng tuổi nhím đạt độ thành thục Nhím có thể sống được
10 năm, trong điều kiện hoang dã nhím có thể sống được 5 - 6 năm Nhím thường sống độc thân, tuy nhiên nhiều lúc cũng sống thành từng nhóm đặc biệt là vào mùa đông Mùa đông nhím thường trú ẩn trong hang hốc, khi gặp thời tiết xấu nhím cũng không rời khỏi nơi trú ẩn Mùa hè nhím hường leo lên cây để tránh sâu bọ
Nhím nhìn kém, nhưng khả năng cảm giác và khứu giác khá tốt Nhím thuộc loài ăn đêm nhưng đôi lúc cũng ra kiếm ăn ban ngày Nhím thường ở một nơi qua nhiều năm, nhím cũng hay di cư từ nơi này sang nơi khác để kiếm sống
Nhím là những “vận động viên bơi lội khá giỏi” Các tập tính khác của nhím con Châu Mỹ cũng giống như nhím Nam Phi
Nhím hiện nay được dùng làm thực phẩm, lông nhím được người Mỹ bản xứ làm hộp, đồ trang sức và các sản phẩm nghệ thuật khác theo North American Porcupine (2005) [53]
Trang 181.2.3 Nhóm nhím Việt Nam
Theo Lê Hiền Hào (1973) [7] loài nhím bờm có ở một số nước như Ne Pan, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Cam Pu Chia, Việt Nam, Trung Quốc (ở tỉnh Thiểm Tây, các tỉnh phía nam lưu vực sông Trường Giang và có cả ở đảo Hải Nam)
Nhím là loài thú phổ biến gặp ở các địa phương thuộc vùng núi và trung du (trừ đồng bằng ở Miền Bắc Việt Nam) Nhím bờm cũng thường gặp trên các đảo gần bờ ở phía Đông Bắc Bộ Mẫu vật của nhím đã sưu tầm được ở hầu hết các tỉnh: Quảng Ninh, Hà Bắc, Lạng Sơn, Cao Bằng, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang, Vĩnh Phú, Yên Bái, Lào Cai, Lai Châu, Sơn La, Nghĩa Lộ, Hòa Bình, Hà Tây, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình Nam Hà cũng gặp nhím nhưng chỉ phát hiện ở gần đồi núi tiếp giáp với tỉnh Hòa Bình theo Lê Hiền Hòa (1973) [7]
Nhím bờm là loài lớn nhất trong bộ gặm nhấm, nặng trung bình từ 15 - 20
kg, thân và đuôi dài từ 80 - 90cm Hình dáng nặng nề, mình tròn, đầu to, mõm ngắn
có 4 răng cửa rẹt và rất sắc, mắt nhỏ, tai nhỏ, chân ngắn (4 chi) 2 chi sau ngắn hơn 2 chi trước, móng chân nhọn, sắc để bới rễ, củ cây rừng và đào hang trú ẩn
Trên lưng lông là những gai cứng, nhọn nhất là nửa lưng phía sau (có hai loại lông cứng: 1 loại dài nhỏ và một loại ngắn), lông mọc thành chùm từ 3 - 4 cái
- Ở vùng bụng lông nhím là những sợi cứng có màu đen Sau gáy có một dải lông trắng dựng ngược như cái mào, xung quanh cổ viền lông trắng, đuôi ngắn có những sợi lông phía đầu phình ra thành từng cốc, rỗng ruột màu trắng Khi gặp kẻ thù thì nhím dung đuôi, những lông chuông này tạo thành một tiếng kêu “lách cách”, “lè xè” để dọa nạt kẻ thù và thông báo với những con vật cùng đàn những tín hiệu để lẩn tránh kẻ thù theo Ngô Trọng Lư (2002) [13]
Nhím có 4 chiếc răng cửa dẹt và rất sắc, tai nhỏ, chân ngắn, móng chân nhọn
và rất sắc dùng để đào bới kiếm ăn và làm hang để ở
1.2.4 Một số bài thuốc từ con nhím
Thịt nhím hiện nay được dùng làm thực phẩm, tuy nhiên các bộ phận khác của nhím còn có tác dụng làm dồ trang sức và làm thuốc như: mật nhím được dùng để chữa đau mắt, xoa bóp các vết thương và dùng để chữa đau lưng Thịt, ruột già, gan
và cả phân nhím cũng được sử dụng để chữa bệnh phong nhiệt Đặc biệt dạ dày của nhím là vị thuốc rất tốt để chữa bệnh dạ dày ở người
Trang 19Theo Đỗ Tất Lợi (2001) [12], dạ dày của nhím có thể chữa được nhiều bệnh Người ta gọi dạ dày nhím là thích vị bì, ta không dùng cả dạ dày mà chỉ bóc lấy lớp màng bao phủ dạ dày, sau đó đem sấy khô để dùng dần Khi dùng xao chúng bằng cát nóng, màng sẽ nở phồng lên, sắc thuốc hoặc tán thành bột để uống
Dạ dày nhím có vị đắng, ngọt, tính bình, có tác động vào kinh vị, đại tràng và
có tác dụng lương huyết (mát máu), giải độc, giảm đau, trị lậu ra huyết Có thể dùng nó để chữa những trường hợp trĩ lòi dom chảy máu, dị mộng tinh, nôn mửa,
lỵ ra máu Người ta thường dùng với liều lượng từ 6 - 16gam dưới dạng thuốc bột hay sắc uống
Theo cuốn “Những động vật cho vị thuốc quý chữa bệnh” tác giả Nguyễn
Hữu Đảng [4] có dùng một số bài thuốc từ con nhím như:
1 Thuốc chữa đau dạ dày
a, Dạ dày nhím: 1 cái
Dùng than củi sấy khô dạ dày nhím, sau đó rang cùng với cát tới khi từ vàng chuyển màu đen là được Đem tán bột, ngày uống 3 lần, mỗi lần 8g với nước nghệ loãng Sau khi uống hết một đợt thuốc, cần nghỉ 2 - 3 ngày Sau đó lại uống tiếp
b, - Dạ dày nhím 12g - Củ mài 30g - Đường trắng 30g
Dạ dày nhím sấy khô vàng, cùng các vị thuốc tán bột mịn, mỗi lần uống 3g với nước sôi để nguội, ngày 2 lần sáng, tối
c, - Da nhím 30g - Tổ ong mật 15g
Da nhím và tổ ong mật đều được sấy khô, tán bột, mỗi lần uống 3g với nước
ấm, ngày uống 3 lần
2 Thuốc chữa cấm khẩu
- Lông nhím 30g - Quả bồ kết 30g - Giun đất 40g
Cho các vị thuốc vào nồi đất bịt kín và đốt bên ngoài Khi các vị thuốc cháy hết thành than, tán bột cho uống, trẻ em mỗi lần dùng 4g, người lớn mỗi lần dùng 8g Uống với nước nguội, ngày 2 - 3lần
3 Thuốc chữa liệt dương
a, - Da nhím 80g - Tôm 100g
Trang 20Cả hai sao vàng tán bột, ngày uống 2 lần mỗi lần 6g với nước sôi có pha 50% rượu
b, - Da nhím 40g - Hạt hẹ 30g - Múi sầu riêng 100g
Da nhím sao cát cho vàng, các vị thuốc còn lại sấy cho khô, tất cả tan bột, ngày uống 3 lần, mỗi lần 6g với nước sôi có pha 50% rượu vang Cần uống liên tục
1 tháng, trong thời gian uống thuốc không gần phụ nữ
c, - Da nhím 30g - Nhộng tằm 100g
- Tổ bọ ngựa ở cây dâu (tang phiêu tiêu)
Da nhím sao cát cho vàng, các vị thuốc còn lại sấy cho khô, tất cả tan bột, ngày uống 3 lần, mỗi lần 6g với nước sôi có pha 50 % rượu vang Cần uống liên tục
1 tháng, trong thời gian uống thuốc không gần phụ nữ
4 Thuốc chữa di tinh
a, - Da nhím 20g - Ngó sen 100g - Lá đậu ván 150g
Da nhím sao cát cho vàng, các vị thuốc khác sấy khô tán bột mịn Ngày uống
1 lần trước khi đi ngủ, lượng thuốc 10g với 30ml rượu vang hâm nóng
b, - Da nhím 50g - Hạt sen 100g
- Cam thảo 30g - Hoa mướp 50g
Da nhím sao cát cho vàng, các vị thuốc khác sấy khô tán bột mịn Ngày uống
1 lần trước khi đi ngủ, lượng thuốc 10g với 30ml rượu vang hâm nóng
c, - Da nhím 60 g - Dây tơ hồng 60g (có thể dùng hạt)
- Ngũ vị tử 30g - Phá cố chỉ 30g
Da nhím sao cát cho vàng, các vị thuốc khác sấy khô tán bột mịn Ngày uống
3 lần, mỗi lần 5g thuốc với 30ml rượu vang hâm nóng
5 Thuốc chữa viêm tuyến tiền liệt
- Da nhím 35g - Bột hoạt thạch 300g
Da nhím tươi làm sạch cắt thành miếng dài 5cm rộng 3 cm, cho vào bột hoạt thạch sao nhỏ lửa, khi da nhím khô vàng là được Lấy da nhím tán bột Ngày uống 2 lần sáng, tối, mỗi lần 6g thuốc với nước cơm
6 Thuốc thông sữa
a, - Da nhím 25g - Da lợn 50g
Trang 21Cả hai sao cát cho khô, tán bột uống mỗi lần 10g với 10ml rượu vang hâm
nóng, ngày hai lần
b, - Thịt nhím 50g - Móng lợn 1 đôi (300g) - Vẩy tê tê 3 cái
Thịt nhím sao cát cho khô vàng, tán bột Vẩy tê tê nướng trên than củi cho
phồng đều, tán bột Hai bột thuốc này trộn đều Móng lợn lấy từ khuỷu đến bàn
chân, làm sạch chặt miếng đem ninh nhừ trước khi ăn cho bột thuốc quấy đều chia 2
lần uống trong ngày
7 Thuốc chữa chảy máu đường tiêu hoá
a, - Da nhím 30g - Trắc bách diệp 60g - Ngó sen 240g
Da nhím sao cát cho cháy đen, ngó sen trắc bách diệp sao cháy tất cả tán bột
mịn, mỗi lần uống 10g, ngày uống 3 lần với nước sôi để ấm
b, - Da nhím 60g - Hà thủ ô 120g
Da nhím sao cát cho cháy đen, hà thủ ô chia 2 phần, 1 phần sao cháy, 1 phần
sấy khô Tất cả tán bột mịn mỗi lần uống 10g, ngày uống 3 lần với nước sôi để ấm
c, - Da nhím 50g - Dây mướp 120g
Da nhím sao cát cho cháy đen, dây mướp sấy khô, trộn đều cả 2 thứ mỗi lần
uống 10g, ngày uống 3 lần với nước sôi để ấm
8 Thuốc chữa cam tích
a, - Thịt nhím 100g - Củ mài 25g - Hạt sen 50g
- Phục linh 20g - Củ súng 30g
Thịt nhím sấy khô, cùng các vị thuốc tán bột, ngày uống 3 lần, mỗi lần 10g
thuốc với nước sôi để ấm
b, - Thịt nhím 150g - Vỏ quả bưởi 100g
Thịt nhím sấy khô, vỏ bưởi phơi khô, nướng đen tất cả tán bột ngày uống 3
lần mỗi lần 6g với nước sôi để ấm
9 Thuốc chữa bỏng
a, - Lông nhím 50g - Nghệ vàng 50g
Lông nhím đốt thành than, nghệ sấy khô, cả hai tán bột mịn cho vào 50ml
dầu vừng trộn đều bôi chỗ đau
Trang 221.3 Cơ sở khoa học của sự sinh trưởng phát dục
1.3.1 Cơ sở di truyền học của sự sinh trưởng
Một số tính trạng năng suất của nhím đều có chung bản chất di truyền như với các gia súc khác, nhưng biểu hiện cụ thể về giá trị kiểu hình của các tính trạng này lại mang các đặc thù riêng do các gen quy định về di truyền của từng loài Theo Nguyễn Ân và cs (1983) [1], Trần Đình Miên và cs (1995) [14], Nguyễn Văn Thiện (1995) [34], Nguyễn Văn Thiện và cs (1998) [35]: hầu hết các tính trạng về năng suất hay tính trạng có giá trị kinh tế của gia súc như: khả năng cho thịt, khả năng sinh sản, sinh trưởng, cho sữa, cho lông, cho da… đều là các tính trạng số lượng Ở các tính trạng số lượng, giá trị kiểu hình (Phenotype Value - P), do giá trị kiểu gen (Genotyp value - G) và sai lệch môi trường (Environmental deviation - E) quy định Quan hệ này được biểu thị bằng công thức P = G + E
Khác với tính trạng chất lượng, giá trị kiểu gen của tính trạng số lượng do nhiều gen có hiệu ứng nhỏ (minor gene) cấu tạo thành Đó là gen mà hiệu ứng riêng biệt của từng gen thì rất nhỏ, nhưng tập hợp nhiều gen nhỏ sẽ có ảnh hưởng rất rõ rệt tới tính trạng nghiên cứu Hiện tượng này gọi là hiện tượng đa gen (Polygene) Các minor gen tác động lên tính trạng theo 3 phương thức: cộng gộp, trội và át gen Giá trị kiểu gen thể hiện qua công thức: G = A + D + I
Trong đó:
A: là giá trị cộng gộp hay giá trị giống (Additive value or Breeding value) D: là sai lệch trội (Dominance deviation)
I: là sai lệch tương tác (Interaction deviation)
A là thành phần quan trọng nhất của kiểu gen vì nó ổn định, có thể xác định được và di truyền cho đời sau Hai thành phần D và I cũng có vai trò quan trọng vì
đó là giá trị giống
1.3.2 Sự sinh trưởng và các chỉ tiêu đánh giá sức sinh trưởng
- Khái niệm về sự sinh trưởng
Sinh trưởng là một quá trình tích lũy các chất hữu cơ do đồng hóa và dị hóa,
là sự tăng chiều dài, chiều cao, bề ngang, thể tích, khối lượng các cơ quan bộ phận
và toàn bộ cơ thể con vật trên cơ sở các tính chất di truyền từ đời trước truyền lại theo Trần Đình Miên và cs (1975) [15]
Trang 23Quá trình phát triển của cơ thể là quá trình đồng hóa các vật chất dinh dưỡng, các chất dinh dưỡng lấy vào cơ thể vừa là điều kiện để tế bào sinh sôi, nảy nở, vừa
là cơ sở để hình thành chất trong tế bào và giữa các tế bào Theo Đàm Văn Tiện và
cs (1992) [36] : quá trình sinh trưởng là sự tổng hợp, sự sinh trưởng của các phần cơ thể như thịt, xương, da, mỡ…
Về mặt sinh học, sinh trưởng ở nhím được xem là sự tăng cường tổng hợp protein trong các mô bào, vì thế thường lấy việc tăng khối lượng và kích thước các chiều làm chỉ tiêu đánh giá quá trình sinh trưởng Quá trình này thể hiện ở ba mặt:
Phân chia tế bào để làm tăng số lượng tế bào
Tăng thể tích của mỗi tế bào
Tăng thể tích giữa các tế bào
Người ta biết rằng sinh trưởng của gia súc là một quá trình mang 3 đặc tính: tốc độ, thời gian và tính chất diễn biến Tốc độ sinh trưởng biểu thị sự tăng khối lượng, thể tích, kích thước các chiều cơ thể trong một khoảng thời gian nhất định Thời gian sinh trưởng là khoảng thời gian xác định để cân, đo và tính tốc độ sinh trưởng nói trên, (Trần Đình Miên và cs 1975) [15]
* Các chỉ tiêu đánh giá sức sinh trưởng
Trong chăn nuôi nhím cũng như chăn nuôi gia súc, gia cầm người ta thường dùng 3 chỉ tiêu đánh giá tốc độ sinh trưởng là : sinh trưởng tích lũy, sinh trưởng tuyệt đối và sinh trưởng tương đối
Sinh trưởng tích lũy: Là sự tăng lên về khối lượng cơ thể, kích thước theo
thời gian khảo sát
Sinh trưởng tuyệt đối: là sự tăng lên về khối lượng, thể tích và kích thước các chiều cơ thể trong khoảng thời gian giữa 2 lần khảo sát theo TCVN (1977) [19]
Tốc độ sinh trưởng tương đối: là tỷ lệ phần trăm tăng lên của khối lượng, thể tích và kích thước các chiều cơ thể lúc kết thúc khảo sát so với lúc đầu khảo sát theo TCVN (1977) [20]
1.3.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng
* Yếu tố bên trong (di truyền)
- Ảnh hưởng di truyền của dòng, giống cá thể: trong chăn nuôi gia súc, dòng, giống có ảnh hưởng rất lớn tới sự sinh trưởng Con sinh ra tiếp thu từ bố mẹ và
Trang 24truyền lại cho đời sau khả năng sinh trưởng mang tính đặc thù của dòng, giống Tính di truyền về khả năng sinh trưởng ảnh hưởng tới năng suất vật nuôi Ảnh hưởng của dòng, giống đến sự sinh trưởng được nhiều tác giả nghiên cứu và khẳng định trên các loài gia súc, gia cầm
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [28] cho biết: Yếu tố di truyền là một trong những yếu tố có ý nghĩa quan trọng nhất ảnh hưởng đến sinh trưởng phát dục của gia súc Quá trình sinh trưởng phát dục tuân theo các quy luật sinh học, nhưng chịu ảnh hưởng của các giống khác nhau
Nguyễn Thiện và cs (2005) [34] cho rằng: Giống cũng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát dục, năng suất và phẩm chất thịt
- Điều khiển quá trình trao đổi chất của các hormone: hormone tham gia vào tất cả các quá trình trao đổi chất của tế bào và giữ cân bằng các chất trong máu Trong thời kỳ đầu tiên của quá trình sống, kể cả khi chưa có sự hoạt động của tuyến giáp đã có sự tham gia của tuyến ức trong điều khiển quá trình sinh trưởng Về sau điều khiển quá trình sinh trưởng có sự tham gia của tuyến yên Hormon của thuỳ
trước tuyến yên STH (somatotropin hormone) là loại hormon rất cần thiết cho sinh
trưởng của cơ thể Theo tác giả Hoàng Toàn Thắng và cs (2006) [33]: STH có tác dụng sinh lý chủ yếu kích thích sự sinh trưởng của cơ thể bằng cách làm tăng sự tổng hợp protein và kích thích sụn liên hợp phát triển, tăng tạo xương (nhất là các xương dài) Khi thiếu hoặc thừa loại hormon này sẽ dẫn đến cơ thể bé (nanismus) hoặc to (gigantismus) Vào thời kỳ thành thục về tính, các hormon sinh dục như hormon của dịch hoàn và buồng trứng (androgen và oestrogen) tham gia vào quá trình điều khiển hoạt động sinh dục của cơ thể và hình thành nên các đặc tính sinh dục thứ cấp Hormon sinh dục của con cái tạo ra từ buồng trứng cũng có tác động đáng kể đến sinh trưởng Ngoài ra các loại hormon của các tuyến như: tuyến tụy và tuyến thượng thận cũng tham gia điều tiết sự phát triển của bộ xương và cơ
* Yếu tố bên ngoài (môi trường)
Trong chăn nuôi nhím ngoài việc cải tiến giống thì thức ăn dinh dưỡng là một yếu tố quyết định đến khả năng sinh trưởng và phát triển
Trang 25- Vai trò và nhu cầu về protein, axit amin
Theo Trần Cừ, Nguyễn Khắc Khôi (1985) [3]: Protein là nhóm chất hữu cơ
có phân tử lượng cao và có chứa nitơ Protein đảm nhiệm nhiều chức năng quan trọng và là nguồn nguyên liệu cấu tạo nên tế bào Quá trình sinh trưởng là quá trình tăng lên của khối lượng protein, hàm lượng protein trong cơ thể rất cao
Axit amin là thành phần cấu tạo cơ bản của protein Theo Từ Quang Hiển và
cs (1995) [9] vai trò của các axit amin trong cơ thể rất đa dạng, nó là thành phần chủ yếu của protein, nhu cầu protein của cơ thể chính là nhu cầu về axit amin
Cơ thể con vật chỉ có thể tổng hợp nên protein bản thân nó theo mức cân đối các axit amin trong thức ăn, những axit amin nào nằm ngoài mức cân đối sẽ bị oxy hóa cho năng lượng
Trong các loại thức ăn, hàm lượng các loại protein rất khác nhau Một số loại giàu protein động vật như cá, bột cá, bột thịt, bột máu, tôm, cua, trứng, sữa Một số loại thức ăn giàu protein thực vật như: các loại đậu, đỗ và sản phẩm phụ của nó
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [28] cho biết: Nói chung gia súc con tiêu hóa protein một cách dễ dàng, nhưng do nguồn gốc của thức ăn (động vật hay thực vật) và bản chất protein khác nhau nên sự tiêu hóa có những đặc điểm khác nhau
- Vai trò và nhu cầu về khoáng chất
Theo Từ Quang Hiển và cs (2003) [8] gia súc non cần được cung cấp đầy đủ khoáng chất để phát triển bộ xương và đảm bảo cho các quá trình xảy ra trong cơ thể Nếu tính theo mức tăng trọng thì khoáng chất chiếm 3 - 4% khối lượng cơ thể tăng Khả năng sử dụng khoáng chất trong thức ăn của gia súc non tốt hơn gia súc trưởng thành Quá trình trao đổi khoáng mà chủ yếu là trao đổi canxi và photpho xảy ra mạnh mẽ ở gia súc non Khi gia súc còn non khả năng tích luỹ canxi, photpho cao Tuổi càng tăng, khả năng tích luỹ giảm Nhìn chung, gia súc non cần hàm lượng canxi lớn hơn photpho, càng lớn và trưởng thành nhu cầu canxi giảm, nhu cầu photpho tăng lên Để đảm bảo cho quá trình tiêu hoá hấp thụ và sử dụng canxi, photpho được tốt, tránh được hiện tượng còi xương Ở gia súc non cần chú ý cung cấp đầy đủ, cân đối canxi, photpho
Trang 26- Vai trò và nhu cầu về vitamin
Vitamin là loại vi chất dinh dưỡng, nó rất cần thiết để xúc tác cho mọi quá trình trao đổi chất cho sinh trưởng của động vật
Trong các loại Vitamin thì Vitamin A và Vitamin D là hai loại Vitamin quan trọng nhất cho sinh trưởng Trong đó Vitamin A xúc tiến quá trình sinh trưởng, nếu thiếu vitamin A có thể dẫn đến mù lòa, tốc độ sinh trưởng giảm, lông xù, gầy còm, năng suất sinh sản thấp Vitamin D cần thiết cho sự trao đổi canxi, phốtpho để phát triển bộ xương
Nhu cầu Vitamin được cung cấp từ nguồn rau xanh, ngũ cốc và Vitamin được tổng hợp bổ sung vào thức ăn ở dạng Premix
- Thời tiết và khí hậu cũng ảnh hưởng rất lớn đến sự sinh trưởng và phát triển
- Nhiệt độ và ẩm độ môi trường
Nhiệt độ môi trường không chỉ ảnh hưởng đến tình trạng sức khoẻ mà còn
ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cơ thể con vật Nếu nhiệt độ môi trường không thích hợp sẽ không thể đảm bảo quá trình trao đổi chất diễn ra bình thường cũng như cân bằng nhiệt của cơ thể Việc đảm bảo nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp cho các loài khác nhau phải căn cứ vào khả năng điều tiết thân nhiệt của chúng và điều kiện môi trường đảm bảo mùa đông ấm áp, mùa hè mát mẻ
- Ánh sáng: Ánh sáng có ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển
- Các yếu tố khác: Ngoài các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển
còn có các yếu tố khác như chuồng trại, chăm sóc, nuôi dưỡng, khí hậu chuồng nuôi
như: không khí, tốc độ gió lùa, nồng độ các khí thải
1.4 Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu các tính trạng
Ở động vật nói chung và nhím nói riêng, trong quá trình phát triển của mỗi
cá thể, mỗi tính trạng được hình thành là kết quả của hàng loạt các quá trình sinh hóa xảy ra dưới ảnh hưởng của các Enzyme có tính chất đặc thù, là kết quả tác động qua lại của nhiều gen trong kiểu gen cơ thể
Mặc dù giới hạn phân biệt không rõ rệt, song trong di truyền học có thể chia tính trạng vật nuôi ra thành hai loại: Nhóm tính trạng chất lượng và nhóm tính trạng
số lượng (tính trạng năng suất) theo Trần Đình Miên và cs (1994) [16]
Trang 27* Bản chất di truyền của các tính trạng chất lượng
Một số tính trạng chất lượng của động vật (như màu sắc lông, màu mắt ) do vài cặp gen lớn quyết định Các tính trạng chất lượng không hoặc ít bị tác động của môi trường và sự khác nhau trong biểu hiện các tính trạng chất lượng rất rõ rệt, Nguyễn Văn Thiện (1998) [35]
Tính trạng chất lượng di truyền theo các quy luật của Men Đen ít chịu ảnh hưởng của ngoại cảnh hoặc là độc lập với điều kiện môi trường Vì thế có thể thông qua kiểu hình mà xác định được kiểu gen của chúng Những tính trạng này cho phép phân loại về Phenotyp rõ rệt: Trội (Dominant) hoặc lặn (Recessive) và thường được quy định bởi một gen, hoặc bởi sự tương tác đơn giản của một số ít gen
* Bản chất di truyền của các tính trạng số lượng
Các tính trạng số lượng là những tính trạng phần lớn có thể xác định được bằng cân, đong, đo, đếm như khối lượng cơ thể, sản lượng trứng, độ dài của thân, lông, số lượng con đẻ ra trong một lứa
Theo tác giả Đặng Hữu Lanh và cs năm (1999) [11] cho biết các tính trạng
số lượng do nhiều gen kiểm soát Mỗi alen của chúng có một hiệu ứng nhỏ và riêng biệt Nhưng hiệu ứng chung của chúng là rất lớn Như vậy kiểu hình của một cá thể phụ thuộc vào kiểu gen của nó ở một lô cút tương ứng, mà mỗi alen hoặc thêm vào hoặc bớt đi một đơn vị hiệu ứng kiểu hình nên các tính trạng số lượng còn gọi là tính trạng đa gen
- Cộng gộp: Hiệu ứng tích lũy của từng gen (A)
- Trội: Hiệu ứng do tương tác giữa các gen cùng một lô cút
Hiệu ứng cộng gộp A tạo nên giá trị giống (Breeding value) thường được tính toán và có sử dụng trong chọn lọc Để đo được giá trị truyển đạt từ bố mẹ cho đời sau phải qua một giá trị có liện hệ với gen gọi là hiệu ứng trung bình (Aditive effect) của các gen Hiệu ứng trung bình của mỗi gen là sai lệch trung bình của cá thể so với trung bình của quần thể mà nó đã nhận được gen của cha mẹ trong quần thể đó Tổng các hiệu ứng trung bình của các gen mà cá thể đó được gọi là giá trị cộng gộp hay giá trị giống của cá thể
Trang 28Hiệu ứng D (Dominante) và át chế I (Epitasis Interaction) là giá trị giống Do
đó kiểu di truyền được xác định: G = A + D + I
Các tính trạng số lượng còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố môi trường E (Environment)
Bộ phận di truyền có liên quan đến tính trạng số lượng được gọi là di truyền học số lượng (Quanttative characte) hoặc di truyền học sinh trắc (Biomen Trical gentics)
* Các yếu tố ảnh hưởng đến tính trạng số lượng
- Giá trị cộng gộp (Additive value) hoặc giá trị giống
Trong di truyền bố mẹ chỉ truyền đạt cho con cái các gen của chúng Giá trị kiểu gen truyền đạt từ bố mẹ cho đời con gọi là ”hiệu ứng trung bình” của các gen
Các tính trạng số lượng còn chịu ảnh hưởng của sai lệch môi trường (E) gồm
có 2 loại:
- Sai lệch môi trường chung (Eg): (General Environmental deviation) là sai lệch do các nhân tố môi trường tác động thường xuyên lên tính trạng một cách lâu dài Các yếu tố đó là: Thức ăn, khí hậu, chế độ chăm sóc… tác động lên một nhóm
cá thể hay một quần thể gia súc (Nguyễn Văn Thiện và cs 1995) [34]
- Sai lệch môi trường riêng (Es): (Special Environmental deviation) là sai
lệch do các nhân tố môi trường tác động riêng rẽ lên từng cá thể riêng biệt trong nhóm vật nuôi, hoặc một vài bộ phận riêng biệt của một cá thể nào đó trong quần thể trong một thời gian ngắn và không thường xuyên
Như vậy, khi giá trị kiểu hình của một tính trạng nào đó chi phối bởi từ 2 locus trở lên thì giá trị ấy được biểu thị như sau: P = G + E = A + D + I + Eg + Es
Các tính trạng năng suất ở nhím cũng như ở các vật nuôi khác là kết quả tác động giữa các yếu tố di truyền và các yếu tố môi trường Các vật nuôi khác nhau đều nhận được từ bố mẹ chúng một vốn di truyền nhất định
* Bản chất di truyền của sự sinh sản
Sinh sản là một quá trình để tái tạo ra thế hệ sau, là một chỉ tiêu được quan tâm hàng đầu và lâu dài trong công tác giống Sự phát triển hay hủy diệt của một loài trước tiên phụ thuộc vào khả năng sinh sản của loài đó
Trang 29Quá trình hoạt động sinh sản của vật nuôi là do hệ thống thần kinh thể dịch của cơ thể điều khiển và chịu ảnh hưởng của các yếu tố di truyền và các yếu tố ngoại cảnh (thời tiết, khí hậu, thức ăn, chăm sóc, nuôi dưỡng ) Khả năng sinh sản của vật nuôi được thể hiện qua các mặt: Chu kỳ động dục, tuổi và khối lượng phối giống lần đầu, thời gian mang thai, số con đẻ trên lứa
Đặc tính sinh sản của nhím còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như giống, tuổi, ánh sáng, nhiệt độ, chăm sóc nuôi dưỡng
Theo Lê Hiền Hào (1973) [ 7 ] đối với các động vật hoang dã được nuôi nhốt trong môi trường bán hoang dã thì các tính trạng như khả năng đẻ con, sức sống của thú con, khả năng cho sữa, tốc độ lớn thì phần biến dị cho sự đổi vật chất di truyền thường là thấp Các tính trạng về sức sản xuất của thú được nuôi trong điều kiện bán hoang dã do nhiều gen chi phối Hơn nữa các tính trạng này còn phụ thuộc vào môi trường trong, môi trường ngoài Điều này giải thích vì sao các tính trạng số lượng lại biến dị trong phạm vi rộng, liên tục và không ngừng
Cơ sở di truyền các tính trạng số lượng cũng là các gen nằm trên nhiễm sắc thể do vậy tuân theo các quy luật di truyền cơ bản như phân li, tổ hợp, liên kết, hoán
vị, trao đổi chéo
1.5 Đặc điểm sinh sản
Sinh sản là quá trình sinh lý quan trọng và cơ bản nhất của gia súc trong việc duy trì nòi giống, Theo http://www.trainhimtanhoa.com [48] sinh sản của nhím vào tháng 8 - 9 và tháng 3 - 4 hàng năm, mỗi lứa đẻ từ 2 - 4 con, nhím đẻ một năm 2 lứa, con cái có thời gian mang thai là 90 - 95 ngày, con mới nở ra còn mọng nước vài giờ sau nước mất dần lông nhỏ bám kín trên mình, sau đó các sợi lông cứng dần lên để thành bộ lông đặc trưng của loài Nhím mẹ cho con bú khoảng 3 tuần tới tuần thứ
tư thì nhím con đã tự kiếm ăn Trong tự nhiên 2 tháng tuổi nhím đã tách đàn và đi kiếm
ăn một mình Nhím có thể sống được 15 - 20 năm theo Lê Thị Biên và cs (2001) [2]
1.6 Cơ sở nghiên cứu các tính trạng ngoại hình ở động vật
1.6.1 Màu sắc lông, da
Đây là một trong những đặc điểm quan trọng để phân biệt như dòng, giống Màu lông liên quan đến một số chỉ tiêu chất lượng của giống như: giới tính, khả
Trang 30năng sản xuất và khả năng sinh sản Màu sắc lông, da cũng là một chỉ tiêu chọn lọc Tính trạng màu sắc lông, da do một số ít gen kiểm soát và ít chịu ảnh hưởng của điều kiện ngoại cảnh Tính trạng màu sắc lông, da ở một số loài gặm nhấm còn có gen liên kết với giới tính
- Theo F.B.Hutt (1978) [39] thì sự thay đổi màu sắc lông là do màu sắc, hình thức và sự phân bố các hạt màu trong tế bào, do số lượng các lớp tế bào cấu trúc và khả năng nhận ánh sáng của các tế bào ấy
1.6.2 Ngoại hình
Đây là đặc điểm quan trọng để phân biệt dòng, giống Kích thước của đầu, mình và các chi thay đổi theo từng giai đoạn phát triển Chi sau của nhím ngắn hơn chi trước Kích thước của nhím liên quan đến khối lượng cơ thể
1.7 Cơ sở nghiên cứu tập tính của động vật
1.7.1 Tập tính của động vật
Tập tính là sự vận động trả lời của động vật trước những biến đổi của môi trường mà nó đang sống, nhờ sự tham gia của hệ thống thụ quan, hệ thống giác quan và hệ thần kinh - thể dịch Tất cả các biểu hiện của tập tính đều có thể quan sát trực tiếp trong đời sống hàng ngày của con vật như: sự vận động (chạy nhảy, bay, bơi ) các cử động (xù lông, tư thế, vẫy cánh, rung lông tạo tiếng kêu ) và các hoạt động sống khác như kiếm ăn, tự vệ, giao phối, cạnh tranh theo Phan Cự Nhân (1999) [24]
Tập tính của động vật phản ánh toàn bộ hoạt động sống của chúng, biểu hiện mối quan hệ rất đa dạng giữa động vật với môi trường, giữa các cá thể cùng loài hay khác loài, gắn bó hữu cơ với quá trình tiến hóa và sự biến đổi của ngoại cảnh
Theo tác giả Phan Cự Nhân (1999) [24] tập tính được chia thành ba dạng chính là: tập tính bẩm sinh
Trang 31Tập tính bẩm sinh là kết quả của quá trình chọn lọc tự nhiên lâu dài, được hình thành từ những kích thích đơn giản Dạng này ứng với các phản xạ không điều kiện
Tập tính chịu ảnh hưởng của tính di truyền, các kiểu hoạt động thần kinh cấp cao và các yếu tố ngoại cảnh như: nhiệt độ, ánh sáng, độ ẩm, nước, strees, sự cách
ly và sự học tập
1.7.2 Cơ sở di truyền tập tính ở động vật
Gần đây, nhờ các nghiên cứu thực nghiệm, các nhà khoa học đã chứng minh được tính chất di truyền, cơ sở di truyền phân tử của tập tính Ngoài việc xác định vai trò cụ thể của các gen trong sự hình thành tập tính sinh học của động vật, thì vai trò của môi trường cũng không nhỏ Tác động thường xuyên và có tác động gián tiếp tới sự hình thành tập tính của động vật
- Cơ chế tập tính được ”chương trình hóa” trong bộ máy di truyền của loài,
có sự kết hợp, tương tác giữa nhân tố bên trong (như các hoocmon, yếu tố thần kinh, yếu tố thể dịch ), nhân tố di truyền và môi trường
1.8 Cơ sở nghiên cứu đề kháng của động vật
Sức đề kháng (theo nghĩa rộng) là tính không thụ cảm và khả năng chống lại bệnh tật của cơ thể Những cá thể có sức đề kháng cao thường do sức chống đỡ của thể trạng theo bẩm sinh, được củng cố trong kiểu gen hoặc do tập nhiễm dưới tác động của môi trường
Sức kháng bệnh là tính trạng do nhiều gen kiểm soát và chịu ảnh hưởng của điều kiện môi trường Tuy nhiên, vẫn có trường hợp là đơn gen Các vật nuôi vùng
Trang 32nhiệt đới có khả năng chống bệnh truyền nhiễm, bệnh ký sinh trùng tốt hơn những vật nuôi sứ lạnh (F.B Hutt 1699) [39] cho rằng nhiễm sắc thể giới tính có vai trò đối với sức đề kháng Nhiễm sắc thể giới tính Z ở con đực mang gen đề kháng, nhiễm sắc thể giới tính W ở con cái mang gen cảm nhiễm
Sức sống của một số loài động vật là tính trạng số lượng đặc trưng cho từng
cá thể, từng giống, dòng, loài Trong điều kiện chăm sóc bình thường, tỷ lệ nuôi sống của một số loài động vật con thường đạt tỷ lệ 90% Trong số các yếu tố ngoại cảnh thì nhiệt độ và ánh sáng có ảnh hướng lớn đến sức sống Nhiệt độ cao hay thấp đều gây sốc nhiệt cho một số loài động vật
Nhím được xem là loài có sức sống tương đối cao Tỷ lệ nuôi sống của nhím Châu Mỹ khoảng 93,7 %, nhím Châu Phi khoảng 92,5 %
1.9 Cơ sở nghiên cứu các tính trạng sinh trưởng
Tốc độ sinh trưởng tương đối biểu hiện bằng tỷ lệ % của khối lượng cơ thể động vật ở một thời điểm nào đó so với khối lượng của nó ở giai đoạn kề trước đó
Tốc độ sinh trưởng phụ thuộc vào loài, giống, hướng sản xuất giống, giới tính, thức ăn và các điều kiện ngoại cảnh khác, đặc biệt là ở động vật còn nhỏ
Nhiều tác giả cho rằng ở động vật, đặc biệt là những loài gặm nhấm trong những tuần đầu sau khi đẻ môi trường có ảnh hưởng quyết định đến cường độ sinh trưởng
Tốc độ sinh trưởng ở loài gặm nhấm đực nhanh và có thời gian sinh trưởng kéo dài hơn ở gặm nhấm cái Sự sai khác về tốc độ sinh trưởng cũng phụ thuộc vào đặc điểm cá thể và thường nằm khoảng từ 10 - 30 % khối lượng trung bình của đàn
Trang 331.9.2 Khối lượng cơ thể
Khối lượng cơ thể là một tính trạng số lượng phụ thuộc vào loài, giống, giới tính, lứa tuổi và hướng sản xuất Thường ở loài gặm nhấm, con đực có khối lượng cao hơn con cái từ 20 - 30 % (Đặng Hữu Lanh và cs1999) [11] Người ta thấy trọng lượng của con có liên quan đến trọng lượng của cơ thể mẹ ở thời điểm đẻ con Nhưng trọng lượng sơ sinh gần như không ảnh hưởng đến sự tăng trưởng ở các giai đoạn sau
Khối lượng cơ thể có mối tương quan di truyền chặt chẽ với các tính trạng sinh sản, kích thước các chiều đo và tốc độ mọc lông Ngoài ra khối lượng cơ thể động vật còn biến động bởi các yếu tố môi trường như: chăm sóc, thức ăn
1.9.3 Tốc độ mọc lông
Tốc độ mọc lông là tính trạng di truyền có liên quan đến đặc điểm trao đổi chất, sinh trưởng và phát triển của động vật Đó cũng là một chỉ tiêu về tính thành thục của nhím Động vật có tốc độ mọc lông nhanh thì sự thành thục về tính sớm, chất lượng thịt tốt hơn động vật có tốc độ mọc lông chậm
Về mặt di truyền tốc độ mọc lông, các nghiên cứu đều cho rằng đây là tính trạng di truyền lên kết giới tính Người ta cùng cho thấy có mối quan hệ di truyền giữa tốc độ mọc lông và yếu tố mầu sắc lông
Tốc độ mọc lông phụ thuộc vào giống, cá thể, giới tính và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng Sinh trưởng của lông còn chịu sự khống chế của hệ thần kinh, hoạt động của các tuyến nội tiết sinh dục, tuyến giáp, tuyến yên Ngoài ra tốc độ mọc lông chịu ảnh hưởng của các dị tật về giải phẫu, sinh lý Đối với các loài động vật nói chung, người ta thường quan sát tốc độ mọc lông từ khi mới đẻ cho đến khi mọc lông hoàn chỉnh
1.9.4 Kích thước các chiều đo của cơ thể
Kích thước cơ thể là một chỉ tiêu biểu hiện cho sự sinh trưởng và có tầm quan trọng đối với khối lượng cơ thể, hình dáng cơ thể Nó đặc trưng cho từng giai đoạn phát triển cũng như từng giống vật nuôi Kích thước cơ thể được xác định qua các chiều đo của từng bộ phận: Đầu, cổ, thân, đuôi và chiều dài chi trước, chiều dài chi sau Tùy theo loại hình sản xuất của động vật nuôi mà kích thước các chiều đo
Trang 34có sự khác nhau ở các giống Động vật nuôi hướng thịt có kích thước chiều đo các
bộ phận cơ thể phát triển hơn so với động vật nuôi hướng sinh sản
Kích thước các chiều đo của cơ thể có mối tương quan với khối lượng cơ thể
và chất lượng thịt Những khuyết tật về thân, xương bị cong cũng làm giảm chất lượng thịt Điều đó có thể do di truyền hay môi trường gây ra người ta cũng đã xác định được mối tương quan giữa các chiều đo cơ thể với một số tính trạng năng suất quan trọng như : số lượng con đẻ ra trong một lứa và khối lượng con sơ sinh
1.10 Cơ sở xác định tính trạng của động vật
1.10.1 Tuổi đẻ lứa đầu
Đây là chỉ tiêu đánh giá sự thành thục về tính, nhím bắt đầu có khả năng sinh sản Tuổi đẻ con đầu tiên là một tính trạng chịu ảnh hưởng nhiều của giống loài và loại hình sản xuất
F.B.Hutt (1978) [39] cho rằng quy định sự thành thục sinh dục ngoài các gen trong nhiễm sắc thể thường còn có các gen liên kết với giới tính cũng tham gia
Tuổi đẻ lứa đầu chịu ảnh hưởng của các yếu tố môi trường như: chế độ nuôi dưỡng, khí hậu và chế độ ánh sáng được chiếu trong ngày
* Tỷ lệ đẻ
Tỷ lệ đẻ con thường phụ thuộc vào các yếu tố môi trường như nhiệt độ, thời tiết, tác động của ánh sáng mặt trời, thức ăn giàu protein, chế độ chăm sóc và các nhân tố khác như tiếng ồn làm tăng hay giảm tỷ lệ đẻ
Trang 351.10.3 Khối lượng con
Khối lượng con là một tính trạng số lượng chưa xác định được chính xác số gen quy định Nhưng số gen quy định tính trạng này ít hơn số lượng gen quy định tính trạng: sức sống, sức đẻ con Nhiều tác giả cũng cho rằng các gen quy định khối lượng con lớn là trội so với gen quy định khối lượng con nhỏ Một số tác giả khác lại cho rằng tính trạng này di truyền theo kiểu trung gian Giữa khối lượng con và tính trạng bên ngoài của con như kích thước cơ thể: Chiều dài, chiều rộng có mối tương quan rõ rệt Có sự tương quan lớn giữa khối lượng con với sức sống và khả năng kháng bệnh
Khối lượng con phụ thuộc vào giống, lứa tuổi, khối lượng của động vật Khối lượng con của năm thứ hai cao hơn khối lượng con của năm thứ nhất từ 10 -
15 % Động vật có tuổi thành thục sớm thì số con đẻ ra càng nhiều Khối lượng con đầu chu kỳ đẻ lớn hơn những con đẻ cuối chu kỳ Khối lượng con còn phụ thuộc vào thức ăn, khí hậu và chế độ nuôi dưỡng
1.11 Tình hình nghiên cứu nhím bờm ở trong và ngoài nước
1.11.1 Tình hình nghiên cứu nhím ở trong nước
Hiện nay ở nước ta nhím được nuôi khá phổ biến ở các nông hộ
* Tại trung tâm nghiên cứu Bò và đồng cỏ Ba Vì đầu tháng 1 năm 2000 đã nhập 25 con nhím bờm từ Sơn La và Đắc Lắc, gồm có 13 con đực và 12 con cái trung tâm tập trung nghiên cứu với nội dung:
+ Nghiên cứu một số đặc tính sinh vật học của đàn nhím
+ Khả năng sinh sản của đàn nhím
+ Khả năng sinh trưởng và phát triển
* Tại Trung tâm Nghiên cứu Khoa học và Sản xuất Tây Bắc Sơn La đã có dự
án sinh sản với đối tượng nghiên cứu là nhím bờm (Acanthionsubcristatum)
Ngoài ra còn có một số công bố như sau:
Trên mạng của trung tâm Thông tin Bộ khoa học - Công nghệ http://www.vista.gov.vn/nongthondoimoi/2004/s21/bt.htm) [51] có đưa ra các thông tin:
Nhím có khối lượng trung bình 15 - 25 kg, tuổi thọ của nhím từ 15 - 20 năm Tuổi thành thục về giới tính là một năm, khối lượng 10 kg là có thể cho sinh sản, 1
Trang 36đực ghép 2 cái nhưng chú ý nhím không giao phối đồng huyết Nhím cái một năm
đẻ 2 lứa, mỗi lứa đẻ 1 - 3 con Nhím con sau 1 năm khối lượng đạt 10 kg, sau 2 năm khối lượng đạt 15 - 16 kg, năm thứ 3 con đực đạt 20 kg, con cái đạt 17 - 18 kg Nhím tuy sống trong rừng nhưng thuần hóa dễ dàng Nhím ít bệnh tật
Theo http://www.trainhimtayninh.com(2011)[47], theo http://tailieu.vn (2011) [45] Đối với nhím nhỏ đặt nhím nằm ngửa, vạch lỗ sinh dục ra, nếu thấy gai giao cấu thì đó là nhím đực và không có gai giao cấu là nhím cái
1.11.2 Tình hình nghiên cứu nhím ở nước ngoài
Các tài liệu thu thập được cho thấy các nước vùng Bắc Mỹ và Nam Phi mới dừng lại việc nghiên cứu mang tính điều tra phân loại, miêu tả ngoại hình, tập tính của nhím
Trang 37CHƯƠNG 2 ĐỊA ĐIỂM, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỊA ĐIỂM VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.1.1 Địa điểm nghiên cứu
Đề tài luận văn được thực hiện tại các nông hộ trong tỉnh Bắc Kạn
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu
Nhím nuôi là loài nhím bờm Việt Nam được nuôi nhốt trong nông hộ tại
tỉnh Bắc Kạn
Trong đó số nhím được theo dõi như sau:
- Nhím sinh sản (Bố, Mẹ): 50 con, trong đó có 27 con nhím cái và 23 con nhím đực
- Nhím con: 30 con tuổi từ sơ sinh đến 12 tháng tuổi
2.2 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
Từ tháng 07 năm 2010 đến tháng 07 năm 2011
2.3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1 Nội dung nghiên cứu
* Theo dõi một số chỉ tiêu về sinh trưởng, phát triển, sinh lý sinh dục và sinh
* Theo dõi một số bệnh thường gặp ở nhím và biện pháp phòng trị bệnh
* Đề xuất một số giải pháp kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả nuôi nhím trong nông hộ
2.3.2 Các chỉ tiêu nghiên cứu và phương pháp xác định các chỉ tiêu
* Theo dõi khả năng sử dụng các loại thức ăn sẵn có trên địa phương của nhím
Trang 38- Chúng tôi tiến hành đưa vào cùng một lúc nhiều loại thức ăn và quan sát mức độ thích ăn của nhím nếu
+ Nhím ăn thức ăn từ trên 80%: được đánh giá là tốt
+ Nhím ăn thức ăn từ 60 - 80%: được đánh giá là khá
+ Nhím ăn thức ăn từ 40% - 60%: được đánh giá là trung bình
+ Nhím ăn thức ăn từ 40%: được đánh giá là ăn ít
* Theo dõi một số chỉ tiêu đánh giá sinh trưởng, phát triển của nhím:
- Sinh trưởng tích luỹ: cân khối lượng nhím tại các thời điểm: sơ sinh, 15
ngày, 30 ngày, 45 ngày, 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng và 12 tháng Cân vào buổi sáng trước khi cho ăn bằng cân đồng hồ nhãn hiệu Nhơn Hoà (từ sơ sinh đến 2 tháng tuổi dùng loại cân 2kg, từ 2 tháng tuổi trở lên dùng loại cân đồng hồ nhãn hiệu Nhơn Hoà loại 5 - 20 kg
- Sinh trưởng tuyệt đối:
Được xác định bằng công thức sau:
A : Là sinh trưởng tuyệt đối (g/con/ngày)
W1: Là khối lượng tích luỹ được tại thời điểm t1 (g)
W0: Là khối lượng tích luỹ được tại thời điểm t0 (g)
t1 : Là thời điểm bắt đầu theo dõi
t0 : Là thời điểm lúc kết thúc theo dõi
- Sinh trưởng tương đối:
Được xác định bằng công thức sau:
R : là sinh trưởng tương đối (%)
W0 : là khối lượng cân đầu kỳ (kg)