1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân Lập, Xác Định Vai Trò Gây Bệnh Của Escherichia Coli Trong Hội Chứng Tiêu Chảy Ở Lợn Con Tại Một Số Huyện Của Tỉnh Bắc Giang Và Biện Pháp Phòng Trị

124 390 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 4,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM LÊ VĂN DƯƠNG PHÂN LẬP, XÁC ĐỊNH VAI TRÒ GÂY BỆNH CỦA ESCHERICHIA COLI TRONG HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY Ở LỢN CON TẠI MỘT SỐ HUYỆN CỦA TỈNH BẮC G

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LÊ VĂN DƯƠNG

PHÂN LẬP, XÁC ĐỊNH VAI TRÒ GÂY BỆNH CỦA

ESCHERICHIA COLI TRONG HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY Ở LỢN CON TẠI MỘT SỐ HUYỆN CỦA TỈNH BẮC GIANG

VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ

Chuyên ngành: Thú Y

Mã số: 60 62 50

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Ng ười hướng dẫn khoa học:

GS.TS NGUYỄN QUANG TUYÊN

PGS.TS CÙ HỮU PHÚ

THÁI NGUYÊN - 2010

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LÊ VĂN DƯƠNG

PHÂN LẬP, XÁC ĐỊNH VAI TRÒ GÂY BỆNH CỦA

ESCHERICHIA COLI TRONG HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY Ở LỢN CON TẠI MỘT SỐ HUYỆN CỦA TỈNH BẮC GIANG

VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

THÁI NGUYÊN - 2010

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực, chưa hề sử dụng cho một bảo vệ học vị nào Mọi thông tin, tài liệu trích dẫn trong luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, tháng 10 năm 2010

Tác giả luận văn

Lê Văn Dương

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin trân trọng cảm ơn: Ban lãnh đạo Viện Thú y Quốc gia, khoa Sau

Đại học, khoa Chăn nuôi Thú y- Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Chi cục

Thú y tỉnh Bắc Giang đã tạo điều kiện và giúp tôi hoàn thành tập luận văn này

Hoàn thành tập luận văn này, ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi đã luôn

nhận được sự hướng dẫn tận tình, đầy trách nhiệm và hết lòng vì khoa học của

các thầy, cô:

- GS.TS Nguyễn Quang Tuyên

- PGS.TS Cù Hữu Phú

- TS Đỗ Ngọc Thúy

Tôi xin trân trọng cảm ơn TS Hoàng Đăng Huyến- Chi cục trưởng và

toàn thể cán bộ công chức, viên chức Chi cục Thú y tỉnh Bắc Giang và tập thể

cán bộ Bộ môn vi trùng- Viện Thú y Quốc gia đã tạo điều kiện thuận lợi nhất

cho tôi hoàn thành tập luận văn

Xin chân thành cảm ơn các đồng chí trạm Thú y các huyện Hiệp Hòa,

Tân Yên, Việt Yên; cảm ơn các đồng nghiệp Thú y viên cơ sở, các hộ chăn

nuôi thuộc 9 xã Ngọc Sơn, Bắc Lý, Hoàng Lương, Việt Ngọc, Ngọc Châu,

Cao Xá, Tăng Tiến, Bích Sơn, Việt Tiến

Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn bạn bè, đồng nghiệp và đặc biệt biết ơn

gia đình đã luôn tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện

luận văn này

Thái Nguyên, tháng 10 năm 2010

Tác giả luận văn

Lê Văn Dương

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 12

2 Mục tiêu nghiên cứu 13

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 15

1.1 Một số hiểu biết chung về hội chứng tiêu chảy 15

1.1.1 Khái niệm về hội chứng tiêu chảy 15

1.1.2 Đặc điểm sinh lý tiêu hóa của lợn con 16

1.1.2.1 Đặc điểm tiêu hóa của lợn con 16

1.1.2.2 Khả năng đáp ứng miễn dịch của lợn con 17

1.1.3 Một số nguyên nhân gây tiêu chảy ở lợn 18

1.1.3.1 Do môi trường ngoại cảnh 18

1.1.3.2 Nguyên nhân do vi sinh vật 19

1.1.3.3 Tiêu chảy do ký sinh trùng 21

1.1.4 Bệnh lý lâm sàng của hội chứng tiêu chảy 23

1.1.4.1 Cơ chế sinh bệnh 23

1.1.4.2 Bệnh lý, lâm sàng của hội chứng tiêu chảy 23

1.1.4.3 Hậu quả trong hội chứng tiêu chảy 24

1.1.5 Một số đặc điểm dịch tễ hội chứng tiêu chảy 25

1.1.6 Biện pháp phòng trị tiêu chảy cho lợn 26

1.1.6.1 Phòng bệnh 26

1.1.6.2 Điều trị bệnh 29

1.2 Một số nghiên cứu về vi khuẩn E.coli gây bệnh đường tiêu hoá 32

1.2.1 Đặc điểm hình thái, cấu trúc của vi khuẩn E.coli 32

1.2.1.1 Đặc điểm hình thái 32

1.2.1.2 Đặc điểm cấu trúc 33

1.2.2 Đặc tính nuôi cấy, sinh vật, hoá học 34

1.2.2.1 Đặc tính nuôi cấy 34

1.2.2.2 Đặc tính sinh hoá 35

1.2.3 Đặc tính gây bệnh của vi khuẩn E.coli 36

Trang 6

1.2.3.1 Cơ chế gây bệnh của vi khuẩn E.coli 36

1.2.3.2 Các yếu tố gây bệnh của vi khuẩn E coli 36

1.2.4 Khả năng mẫn cảm với kháng sinh của vi khuẩn E.coli 41

1.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về vai trò của vi khuẩn E.coli trong hội chứng tiêu chảy 43

1.3.1 Những nghiên cứu trong nước 43

1.3.2 Những nghiên ở nước ngoài 45

1.4 Tình hình dịch bệnh đàn lợn của tỉnh Bắc Giang 47

1.4.1 Một số đặc điểm tự nhiên ảnh hưởng đến bệnh tiêu chảy của lợn 47

1.4.2 Tình hình dịch bệnh trên đàn lợn 48

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NGUYÊN LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 50

2.1 Nội dung nghiên cứu 50

2.1.1 Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ hội chứng tiêu chảy ở lợn con dưới 2 tháng tuổi tại một số huyện của tỉnh Bắc Giang 50

2.1.2 Nghiên cứu xác định vai trò gây bệnh của vi khuẩn E.coli trong hội chứng tiêu chảy ở lợn con 50

2.1.3 Thử nghiệm phác đồ điều trị bệnh tiêu chảy ở lợn con 51

2.2 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu .51

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 51

2.2.2 Địa điểm nghiên cứu 51

2.2.3 Thời gian nghiên cứu 51

2.3 Nguyên liệu dùng trong nghiên cứu 52

2.3.1 Mẫu bệnh phẩm 52

2.3.2 Các loại môi trường, hoá chất 52

2.3.3 Động vật thí nghiệm 52

2.4 Phương pháp nghiên cứu 52

2.4.1 Phương pháp nghiên cứu dịch tễ 52

2.4.1.1 Chọn mẫu điều tra 53

2.4.1.2 Phương pháp 53

2.4.1.3 Nội dung điều tra, theo dõi 53

Trang 7

2.4.1.4 Các phương pháp đo lường trong dịch tễ 53

2.4.1.5 Phương pháp phân tích dịch tễ 54

2.4.2 Thu thập mẫu và phân lập vi khuẩn 55

2.4.2.1 Thu thập mẫu 55

2.4.2.2 Phân lập và giám định vi khuẩn 56

2.4.3 Xác định số lượng vi khuẩn E.coli trong 1 gam phân lợn tiêu chảy và lợn bình thường 58

2.4.4 Phương pháp xác định serotype kháng nguyên O của các chủng vi khuẩn E.coli phân lập được 58

2.4.5 Phương pháp xác định các yếu tố gây bệnh của các chủng vi khuẩn E.coli phân lập được 60

2.4.5.1 Phương pháp xác định khả năng dung huyết của các chủng vi khuẩn phân lập được 60

2.4.5.2 Xác định các yếu tố gây bệnh (độc tố và yếu tố bám dính) của vi khuẩn E.coli bằng phản ứng PCR (Polymerase Chain Reaction) 60

2.4.6 Phương pháp xác định độc lực của các chủng vi khuẩn E.coli 62

2.4.7 Phương pháp xác định khả năng mẫn cảm với kháng sinh của các chủng vi khuẩn E.coli phân lập được 63

2.4.8 Xây dựng phác đồ điều trị tiêu chảy ở lợn con dưới 2 tháng tuổi 64 2.4.9 Phương pháp xử lý số liệu 65

Chương 3.KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 67

3.1 Kết quả nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ hội chứng tiêu chảy ở lợn con dưới 2 tháng tuổi tại tỉnh Bắc Giang 67

3.1.1 Tỷ lệ lợn con dưới 2 tháng tuổi tiêu chảy và chết do tiêu chảy tại một số huyện của tỉnh Bắc Giang 67

3.1.2 Tỷ lệ lợn con dưới 2 tháng tuổi mắc tiêu chảy và chết do tiêu chảy theo mùa vụ tại một số huyện của tỉnh Bắc Giang 70

3.1.3 Tỷ lệ lợn con dưới 2 tháng tuổi mắc tiêu chảy và chết do tiêu chảy theo phương thức chăn nuôi tại một số huyện của tỉnh Bắc Giang 73

Trang 8

3.1.4 Tỷ lệ lợn con dưới 2 tháng tuổi mắc tiêu chảy và chết do tiêu

chảy theo lứa tuổi tại một số huyện của tỉnh Bắc Giang 77

3.1.5 Các triệu chứng ở lợn tiêu chảy 80

3.2 Kết quả nghiên cứu xác định vai trò của vi khuẩn E.coli trong hội chứng tiêu chảy lợn con dưới 2 tháng tuổi 81

3.2.1 Kết quả xác định số lượng vi khuẩn E.coli có trong phân của lợn tiêu chảy và lợn bình thường 81

3.2.2 Kết quả phân lập vi khuẩn E.coli từ các mẫu phân và phủ tạng lợn con tiêu chảy tại tỉnh Bắc Giang 84

3.2.3 Kết quả giám định đặc tính sinh học của các chủng vi khuẩn E.coli phân lập được 86

vi khuẩn E.coli phân lập được 86

3.2.4 Kết quả xác định serotype kháng nguyên O của các chủng vi khuẩn E.coli phân lập được 87

3.2.5 Kết quả xác định các yếu tố gây bệnh của các chủng vi khuẩn E.coli phân lập được 91

3.2.6 Kết quả kiểm tra độc lực của một số chủng vi khuẩn E.coli trên chuột bạch 94

3.2.7 Kết quả xác định khả năng mẫn cảm với kháng sinh của các chủng vi khuẩn E.coli phân lập được 96

3.3 Kết quả thử nghiệm phác đồ điều trị bệnh tiêu chảy ở lợn con 99

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 101

1 Kết luận 101

2 Đề nghị 102

TÀI LIỆU THAM KHẢO 103

Trang 9

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

AEEC : Adhenicia Enteropathogenic Escherichia coli

BHI : Brain-heart infusion

cs : Cộng sự

CPU : Colinial Forming Unit

ED : Endema disease

EDP : Eudema disease pathogenic

EHEC : Entero haemarrhagic

EMB : Eosin Methylene Blue Agar

EPEC : Enteropathogenic Escherichia coli

ETEC : Enterotoxigenic Escherichia coli

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Tỷ lệ lợn con tiêu chảy và chết do tiêu chảy tại một số huyện 67

Bảng 3.2 So sánh nguy cơ mắc tiêu chảy ở lợn giữa các huyện 69

Bảng 3.3 Tỷ lệ lợn con mắc tiêu chảy và chết do tiêu chảy theo mùa vụ 70

Bảng 3.4 So sánh nguy cơ lợn mắc tiêu chảy giữa các mùa 72

Bảng 3.5 Tỷ lệ lợn con tiêu chảy và chết do tiêu chảytheo phương thức chăn nuôi 74

Bảng 3.6 So sánh nguy cơ lợn tiêu chảy theo phương thức chăn nuôi 77

Bảng 3.7 Tỷ lệ lợn con mắc tiêu chảy và chết do tiêu chảy theo lứa tuổi 78

Bảng 3.8 So sánh nguy cơ mắc tiêu chảy giữa các lứa tuổi lợn 79

Bảng 3.9 Tổng hợp các triệu chứng ở lợn con mắc tiêu chảy 81

Bảng 3.10 Kết quả xác định số lượng vi khuẩn E.coli có trong 1gam phân của lợn bị tiêu chảy và lợn khỏe mạnh bình thường 82

Bảng 3.11 Kết quả phân lập vi khuẩn E.coli từ các mẫu phân và phủ tạng lợn con tiêu chảy (n=270) 84

Bảng 3.12 Kết quả giám định đặc tính sinh học của các chủng vi khuẩn E.coli phân lập được 86

Bảng 3.13 Kết quả xác định serotype kháng nguyên O của các chủng vi khuẩn E.coli phân lập được 88

Bảng 3.14 Tỷ lệ các chủng vi khuẩn E.coli mang các gen quy định sinh tổng hợp các yếu tố gây bệnh 91

Bảng 3.15 Kết quả kiểm tra độc lực của một số chủng vi khuẩn E.coli trên chuột bạch 95

Bảng 3.16 Kết quả xác định tính mẫn cảm với kháng sinh của các chủng vi khuẩn E.coli phân lập được 96

Bảng 3.17 Kết quả điều trị thực nghiệm phác đồ điều trị bệnh tiêu chảy cho lợn con 100

Trang 11

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Sơ đồ quy trình phân lập và xác định các yếu tố gây bệnh của

vi khuẩn E.coli (Bộ môn Vi trùng, Viện Thú y) 46

Hình 3.1 Biểu đồ so sánh tỷ lệ lợn con mắc và chết do tiêu chảy giữa các

huyện 68 Hình 3.2 Biểu đồ so sánh tỷ lệ lợn con mắc và chết do tiêu chảy theo

mùa vụ 72 Hình 3.3 Biểu đồ so sánh tỷ lệ lợn con mắc và chết do tiêu chảy theo

phương thức chăn nuôi 76 Hình 3.4 Biểu đồ so sánh tỷ lệ lợn mắc và chết do tiêu chảy theo lứa tuổi 79 Hình 3.5 Biểu đồ kết quả xác định serotype kháng nguyên O của các

chủng vi khuẩn E.coli phân lập được 90 Hình 3.6 Biểu đồ tỷ lệ các chủng vi khuẩn E.coli mang các gen quy định

sinh tổng hợp các yếu tố gây bệnh 93 Hình 3.7 Biểu đồ kết quả xác định tính mẫn cảm với kháng sinh của các

chủng vi khuẩn E.coli phân lập được 98

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Bắc Giang là tỉnh có nghề chăn nuôi phát triển đem lại nguồn thu nhập cao cho nhiều hộ gia đình, ngày 17/08/2005 chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang

đã ban hành Quyết định số 61/2005/QĐ- UB về việc ban hành Quy định một

số chính sách hỗ trợ đầu tư phát triển Chăn nuôi - Thú y thời kỳ 2006 - 2010 trên địa tỉnh Bắc Giang Do vậy, tỉnh Bắc Giang đã thực hiện nhiều dự án nạc hoá đàn lợn, hỗ trợ con giống, đưa nái ngoại vào chăn nuôi ở các nông hộ Theo báo cáo thống kê chăn nuôi năm 2009 của Sở Nông nghiệp và PTNT tổng đàn lợn của tỉnh đạt 1.133.188 con; trong đó, đàn lợn nái là 191.957 con

và đàn lợn thịt là 939.809 con Trên địa bàn tỉnh có 430 trại chăn nuôi lợn tập trung với quy mô trang trại 20 nái và 100 lợn thịt trở lên Đây thực sự là một bước tiến mới trong chăn nuôi lợn của tỉnh, góp phần phát triển chăn nuôi lợn bền vững, tạo ra sản phẩm an toàn có sức cạnh tranh cao trên thị trường Tuy nhiên, song song với sự phát triển chăn nuôi thì tình hình dịch bệnh cũng đang diễn biến hết sức phức tạp, hàng năm làm chết nhiều đầu lợn của tỉnh Theo báo cáo dịch tễ của Chi cục Thú y[5] năm 2007 toàn tỉnh có 79.430 con lợn bị ốm trong đó 7.620 con chết; năm 2008 có 71.671 con lợn bị ốm và 5.100 con chết; năm 2009 có 88.036 con lợn bị ốm và 5.970 con chết, gây thiệt hại lớn về kinh tế, hay gặp và phổ biến là hội chứng tiêu chảy ở lợn con

dưới 2 tháng tuổi, trong đó vi khuẩn E.coli được đánh giá là nguyên nhân gây

bệnh phổ biến và quan trọng nhất.Cù Hữu Phú và cs (1999)[41] khi tiến hành

phân lập vi khuẩn E.coli từ các mẫu phân của lợn từ 35 ngày đến 4 tháng tuổi

bị tiêu chảy đã xác định được 60/70 mẫu có vi khuẩn E.coli, chiếm tỷ lệ

85,71% Lý Thị Liên Khai (2001)[22] cũng phân lập được 42 mẫu phân có vi

khuẩn E.coli trong tổng số 50 mẫu phân lợn con bị tiêu chảy, chiếm tỷ lệ

84% Trịnh Quang Tuyên và cs (2004)[73] khi tiến hành phân lập vi khuẩn

Trang 13

E.coli từ các mẫu phân của lợn bị tiêu chảy, đã xác định được 259/325 mẫu có

vi khuẩn E.coli chiếm tỷ lệ 79,69% Trong khi đó, Nguyễn Thị Kim Lan (2004)[23] phân lập E.coli từ các mẫu phân lợn bị bệnh phù đầu ở 2 tỉnh Bắc Giang và

Thái Nguyên, đã thông báo có 100% mẫu phân của lợn bị tiêu chảy và phù

đầu phân lập được vi khuẩn E.coli

Bệnh tiêu chảy ở lợn con theo mẹ xảy ra quanh năm, nhưng cao nhất

từ tháng 5 đến tháng 8 (Hoàng Văn Tuấn và cs, 1998)[70] Trong năm, lợn nuôi ở mùa xuân và mùa hè mắc tiêu chảy cao hơn so với hai mùa còn lại (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 2006b)[25] Đặc biệt lợn con thường bị tiêu chảy khi thời tiết thay đổi đột ngột (lạnh, ẩm, mưa phùn…) kết hợp với điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng không đảm bảo vệ sinh; lợn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố stress; lợn con sinh ra không được bú sữa kịp thời hoặc do sữa đầu của lợn mẹ thiếu, không đảm bảo chất lượng dinh dưỡng

Tổng hợp báo cáo dịch tễ hàng năm của Trạm thú y các huyện, thành phố trong tỉnh cho thấy bệnh tiêu chảy ở lợn hai năm 2007 và 2008 xảy ra phổ biến chiếm tỷ lệ 60% so với tổng số các ca bệnh thường gặp ở lợn, riêng năm

2009 số lợn mắc bệnh tiêu chảy là 62.151 con / 88.036 con mắc các ca bệnh thông thường (chiếm tỷ lệ 71%) Khi áp dụng các phác đồ điều trị bệnh tiêu chảy ở lợn do tính kháng thuốc của vi khuẩn cao nên kết quả điều trị rất thấp

Xuất phát từ thực tiễn nêu trên, chúng tôi triển khai nghiên cứu đề tài:

“Phân lập, xác định vai trò gây bệnh của Escherichia coli (E.coli) trong hội chứng tiêu chảy ở lợn con tại một số huyện của tỉnh Bắc Giang

và biện pháp phòng trị”

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Xác định một số đặc điểm dịch tễ hội chứng tiêu chảy ở lợn con dưới hai tháng tuổi tại một số huyện thuộc tỉnh Bắc Giang

- Xác định vai trò gây bệnh của vi khuẩn E.coli trong hội chứng tiêu

chảy ở lợn

Trang 14

- Xây dựng và đề xuất phác đồ điều trị bệnh tiêu chảy ở lợn con đạt hiệu quả cao

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Đề tài là một công trình nghiên cứu có hệ thống, lý luận gắn liền với

thực tiễn sản xuất, chứng minh vai trò của vi khuẩn E.coli trong hội chứng

tiêu chảy ở lợn con dưới 2 tháng tuổi tại tỉnh Bắc Giang

- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở khoa học phục vụ cho các nghiên cứu tiếp theo như phục vụ cho công tác bào chế các chế phẩm sinh học phòng bệnh (vác xin, kháng thể…), đồng thời đóng góp thêm tư liệu tham khảo cho nghiên cứu và giảng dạy, cho cán bộ thú y cơ sở và người chăn nuôi

- Kết quả nghiên cứu phác đồ điều trị bệnh tiêu chảy ở lợn con có hiệu quả cao sẽ giúp cho thú y cơ sở, người chăn nuôi trong phòng trị bệnh, góp phần giảm thiệt hại và tăng thu nhập trong chăn nuôi lợn

Trang 15

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 MỘT SỐ HIỂU BIẾT CHUNG VỀ HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY

1.1.1 Khái niệm về hội chứng tiêu chảy

Tiêu chảy là thuật ngữ để chỉ hiện tượng đại tiện phân lỏng, được mô

tả phân lỏng, nhiều nước hoặc có máu, mủ

Tiêu chảy là biểu hiện lâm sàng của quá trình bệnh lý ở đường tiêu hóa, là hiện tượng con vật đi ỉa nhanh, nhiều lần trong ngày, phân có nhiều nước do rối loạn chức năng tiêu hóa, ruột tăng cường co bóp và tiết dịch (Phạm Ngọc Thạch, 1996)[58] Hoặc chỉ phản ánh đơn thuần sự thay đổi tạm thời của phân gia súc bình thường khi gia súc đang thích ứng với những thay đổi trong khẩu phần ăn Tiêu chảy xảy ra ở nhiều bệnh và bản thân nó không phải là bệnh đặc thù (Arche.H, 2000)[2]

Tuỳ theo đặc điểm, tính chất, diễn biến bệnh, hoặc loài gia súc, hoặc nguyên nhân chính gây bệnh mà hội chứng tiêu chảy được gọi bằng tên khác nhau như bệnh xảy ra đối với gia súc non theo mẹ, gọi là bệnh lợn con ỉa phân trắng, hay bê nghé ỉa phân trắng,… còn ở gia súc sau cai sữa là chứng khó tiêu, chứng rối loạn tiêu hoá, hoặc hội chứng rối loạn tiêu hoá Nếu xét về nguyên nhân chính gây bệnh thì có các tên gọi như bệnh Colibacillosis do vi

khuẩn E.coli gây ra, bệnh phó thương hàn lợn do vi khuẩn Samonella Cholerae Suis gây ra, bệnh viêm dạ dày ruột truyền nhiễm (TGE) do

Coronavirus gây ra …

Thực chất tiêu chảy là một phản ứng tự vệ của cơ thể nhưng khi cơ thể tiêu chảy nhiều lần trong ngày (5 đến 6 lần trở lên) và nước trong phân từ 75% trở lên gọi là hiện tượng tiêu chảy Tiêu chảy do nhiều nguyên nhân gây

ra đồng thời nên gọi là hội chứng tiêu chảy Cho dù do bất cứ nguyên nhân nào dẫn đến tiêu chảy thì hậu quả nghiêm trọng là mất nước, mất chất điện

Trang 16

giải và kiệt sức, những gia súc khỏi thường bị còi cọc, thiếu máu, chậm lớn

Đặc biệt khi gia súc bị tiêu chảy nặng kèm hiện tượng viêm nhiễm, tổn

thương thực thể đường tiêu hóa dẫn đến gia súc có thể chết với tỷ lệ cao, gây

thiệt hại lớn về kinh tế

1.1.2 Đặc điểm sinh lý tiêu hóa của lợn con

1.1.2.1 Đặc điểm tiêu hóa của lợn con

Ở gia súc non sau khi sinh ra, chức năng của các cơ quan trong cơ thể

nhất là cơ quan tiêu hóa chưa hoàn chỉnh, nồng độ HCl và các men tiêu hóa

chưa đảm nhiệm đầy đủ chức năng tiêu hóa, rất dễ gây rối loạn trao đổi chất,

hậu quả dễ nhận biết là rối loạn tiêu hóa, gây tiêu chảy, còi cọc, thiếu máu và

chậm lớn Trong dịch vị của gia súc non chưa có đủ axit HCl tự do nên không

hoạt hóa được men pepsin vì vậy không tiêu hóa hết sữa mẹ, trong khi đó sữa

mẹ lại là môi trường phát triển tốt của nhiều loại vi khuẩn

Cù Xuân Dần và cs (1996)[7] cho rằng trong dịch vị của lợn con dưới 1

tháng tuổi không có HCl tự do, vì lúc này axit tiết ra ít và nhanh chóng liên

kết với dịch nhầy Do vậy, vi sinh vật có điều kiện phát triển và gây bệnh

viêm dạ dày, viêm ruột ở lợn con

Ở lợn con có giai đoạn không có HCl trong dạ dày, đây được coi là giai

đoạn thích ứng cần thiết tự nhiên Chính nhờ sự thích ứng này, cơ thể lợn con

mới có khả năng hấp thu được kháng thể miễn dịch qua sữa đầu Trong giai

đoạn này thì dịch vị lại không có hoạt tính phân giải protein mà chỉ có hoạt

tính làm vón sữa đầu và sữa nên albumin và globulin được chuyển xuống ruột

và thẩm thấu vào máu, nhưng khi lợn trên 15 ngày tuổi tình trạng thiếu HCl ở

dạ dày không còn là sự cần thiết sinh lý bình thường nữa Việc tập ăn cho lợn

con sớm và cai sữa sớm đã rút ngắn được giai đoạn thiếu HCl, hoạt hóa hoạt

động tiết dịch, giúp tăng khả năng tạo các đáp ứng miễn dịch của cơ thể

Giai đoạn sau cai sữa sẽ là một giai đoạn khó khăn đối với lợn con khi

chuyển từ sữa mẹ sang thức ăn tổng hợp (dạng rắn) Điều đó có thể gây mất

Trang 17

cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột tạo điều kiện cho vi khuẩn có hại phát triển và cũng là nguyên nhân gây ra bệnh, dẫn đến kết quả là lợn con chậm lớn và có thể chết

Ngoài ra, lợn con còn chịu nhiều tác động của lợn mẹ, sự thay đổi ngoại cảnh cũng góp phần làm tăng stress của lợn con

1.1.2.2 Khả năng đáp ứng miễn dịch của lợn con

Là khả năng của cơ thể đáp ứng lại các kích thích của mầm bệnh khi xâm nhập vào cơ thể Ở gia súc non, mầm bệnh có nhiều thuận lợi khi xâm nhập vào cơ thể Trong hệ thống tiêu hóa của lợn con lượng enzym tiêu hóa và lượng HCl tiết ra còn ít nên chưa đủ để đáp ứng cho quá trình tiêu hóa, gây rối loạn trao đổi chất, tiêu hóa kém, hấp thu kém Chính vì vậy, ở giai đoạn này

mầm bệnh như Salmonella, E.coli… dễ dàng xâm nhập vào cơ thể qua đường

tiêu hóa và gây bệnh cho lợn con

Ngoài ra, ở gia súc non các yếu tố miễn dịch không đặc hiệu như bổ thể, protein liên kết, lysozym được tổng hợp còn ít, phản ứng của đại thực bào rất yếu, vì thế ở gia súc non không những chưa có kháng thể đặc hiệu mà kháng thể không đặc hiệu cũng rất yếu Chính vì vậy lợn con bú sữa đầu là rất cần thiết để tăng sức bảo vệ cơ thể, chống lại mầm bệnh

Do cấu tạo đặc biệt của gia súc non nên tiêu chảy thường xảy ra ở giai đoạn lợn con tập ăn và cai sữa Bên cạnh đó còn một yếu tố quan trọng nữa là

sự phát triển của hệ vi sinh vật trong đường ruột của gia súc non, việc cân bằng hệ vi sinh vật có lợi trong đường ruột như thế nào để khắc phục, hạn chế

sự loạn khuẩn trong quá trình phát triển và trưởng thành của cơ thể gia súc non là rất quan trọng

Để nuôi dưỡng tốt và hạn chế được hội chứng tiêu chảy ở lợn con cần tiêm phòng cho lợn mẹ và tạo cho gia súc non điều kiện sống tốt, tránh các yếu tố bất lợi tác động vào cơ thể như chế độ ăn uống không hợp lý, khẩu

Trang 18

phần thức ăn không đảm bảo dinh dưỡng, ăn không đúng giờ, thời tiết thay đổi đột ngột, chế độ chăm sóc không thích hợp sẽ tạo điều kiện cho mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể gây bệnh

1.1.3 Một số nguyên nhân gây tiêu chảy ở lợn

Theo Lê Minh Chí (1995)[6], Phạm Ngọc Thạch (1996)[58] tiêu chảy

là một hiện tượng bệnh lý có liên quan đến nhiều yếu tố, có yếu tố là nguyên nhân nguyên phát, có yếu tố là nguyên nhân thứ phát Vì vậy việc phân biệt rạch ròi giữa các nguyên nhân gây tiêu chảy là rất khó khăn

Phạm Sỹ Lăng (2009)[31] tiêu chảy ở lợn là biểu hiện lâm sàng của nhiều tác nhân gây bệnh khác nhau như virut, vi khuẩn, ký sinh trùng, thời tiết, môi trường ngoại cảnh, độc tố

1.1.3.1 Do môi trường ngoại cảnh

Môi trường ngoại cảnh là một trong 3 yếu tố cơ bản gây bệnh dịch, mối quan hệ giữa Cơ thể - Mầm bệnh - Môi trường là nguyên nhân của sự không

ổn định sức khoẻ, đưa đến phát sinh bệnh (Nguyễn Như Thanh, 2001)[57]

Môi trường ngoại cảnh bao gồm các yếu tố: nhiệt độ, ẩm độ, các điều kiện về chăm sóc nuôi dưỡng, vệ sinh chuồng trại, sự di chuyển, thức ăn, nước uống…

Khi gia súc bị nhiễm lạnh kéo dài sẽ làm giảm phản ứng miễn dịch, giảm tác dụng thực bào, làm cho gia súc dễ bị nhiễm khuẩn gây bệnh (Hồ Văn Nam và cs, 1997)[32]

Khẩu phần ăn cho vật nuôi không thích hợp, trạng thái thức ăn không tốt, thức ăn kém chất lượng như mốc, thối và nhiễm các tạp chất, các vi sinh vật có hại dễ dẫn đến rối loạn tiêu hoá kèm theo viêm ruột, ỉa chảy ở gia súc (Trịnh Văn Thịnh, 1985a [64], Hồ Văn Nam, 1997 [32])

Khi gặp điều kiện ngoại cảnh không thuận lợi, thay đổi đột ngột về thức ăn, vitamin, protein, thời tiết, vận chuyển… làm giảm sức đề kháng của

Trang 19

con vật, vi khuẩn thường trực sẽ tăng độ độc và gây bệnh (Bùi Quý Huy, 2003)[20]

Như vậy nguyên nhân môi trường ngoại cảnh gây bệnh tiêu chảy không mang tính đặc hiệu mà mang tính tổng hợp Lạnh và ẩm gây rối loạn hệ thống điều hoà trao đổi nhiệt của cơ thể lợn, dẫn đến rối loạn quá trình trao đổi chất, làm giảm sức đề kháng của cơ thể, từ đó các mầm bệnh trong đường tiêu hoá

có thời cơ tăng cường độc lực và gây bệnh

1.1.3.2 Nguyên nhân do vi sinh vật

Vi sinh vật bao gồm các loại virus, vi khuẩn, nấm mốc chúng vừa là nguyên nhân nguyên phát, cũng vừa là nguyên nhân thứ phát gây tiêu chảy

* Tiêu chảy do vi khuẩn

Trong đường tiêu hoá của gia súc có hệ vi khuẩn gọi là hệ vi khuẩn đường ruột, được chia thành 2 loại, trong đó vi khuẩn có lợi lên men phân giải các chất dinh dưỡng, giúp cho quá trình tiêu hoá được thuận lợi và vi khuẩn

có hại, khi có điều kiện thì sẽ phát triển nhanh và gây bệnh cho vật chủ

Theo Lê Văn Tạo (1997)[55] cho biết họ vi khuẩn đường ruột gồm những vi khuẩn cộng sinh thường trực trong đường ruột Những vi khuẩn này, muốn từ vi khuẩn cộng sinh trở thành gây bệnh phải có 3 điều kiện:

- Trên cơ thể vật chủ có cấu trúc giúp cho vi khuẩn thực hiện được chức năng bám dính

- Vi khuẩn phải có khả năng sản sinh các yếu tố gây bệnh, đặc biệt là

sản sinh độc tố, trong đó quan trọng nhất là độc tố đường ruột Enterotoxin

- Có khả năng xâm nhập vào lớp tế bào biểu mô của niêm mạc ruột, từ

đó phát triển nhân lên

Một số vi khuẩn thuộc họ vi khuẩn đường ruột là E.coli, Salmonella spp, Shigella, Klebsiella, Cl.perfringens… là những vi khuẩn quan trọng gây ra rối loạn tiêu hoá, viêm ruột tiêu chảy ở người và nhiều loại động vật

Trang 20

Theo Đào Trọng Đạt và cs (1996)[14] cho biết chiếm tỷ lệ cao nhất

trong số các vi khuẩn đường ruột gây tiêu chảy là E.coli (45,6%) Cũng theo tác giả, vi khuẩn yếm khí Cl.perfringens gây bệnh khi có điều kiện thuận lợi

Theo Phạm Sỹ Lăng (2009)[31] cho biết bệnh tiêu chảy ở lợn do vi khuẩn chủ yếu có những bệnh sau:

* Tiêu chảy do virus

Theo Phạm Ngọc Thạch (1996)[58] virus cũng là tác nhân gây bệnh tiêu chảy ở gia súc Sự xuất hiện của virus đã làm tổn thương niêm mạc ruột, làm suy giảm sức đề kháng của cơ thể và thường gây ỉa chảy ở dạng cấp tính với tỷ lệ chết cao

Archie H (2000)[2] cho biết Rotavirus và Coronavirus là những virus

gây tiêu chảy quan trọng ở gia súc non mới sinh như nghé, dê, cừu con, lợn

Trang 21

con, ngựa con và đặc biệt là bê do những virus này có khả năng phá huỷ màng ruột và gây tiêu chảy nặng

Các nghiên cứu trong nước của Lê Minh Chí (1995)[6] và Nguyễn Như Pho

(2003)[40], cũng đã cho thấy Rotavirus và Coronavirus gây bệnh tiêu chảy

chủ yếu cho lợn con trong giai đoạn theo mẹ, với các triệu chứng tiêu chảy cấp tính, nôn mửa, mất nước với tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ chết cao

Phạm Sỹ Lăng và cs (2006)[28] cho rằng bệnh tiêu chảy ở lợn do

Rotavirus thường chỉ xảy ra ở lợn con bú sữa mẹ lứa tuổi 1-3 tuần lễ và lợn

con sau cai sữa khoảng 6 tuân lễ Bệnh tiêu chảy ở lợn do Rotavirus sẽ trở nên trầm trọng, nếu lợn con bị nhiễm kế phát các chủng E.coli có độc lực và các

loài cầu trùng gây bệnh

* Tiêu chảy do nấm mốc

Thức ăn khi chế biến hoặc bảo quản không đúng kỹ thuật dễ bị nấm

mốc Một số loài như Aspergillus, Penicillium, Fusarium… có khả năng sản

sinh nhiều loại độc tố, nhưng quan trọng nhất là nhóm độc tố Aflatoxin (Aflatoxin B1, B2, G1, G2, M1)

Độc tố Aflatoxin gây độc cho người và gia súc, gây bệnh nguy hiểm nhất cho con người là ung thư gan, huỷ hoại gan, độc cho thận, sinh dục và thần kinh Aflatoxin gây độc cho nhiều loại gia súc, gia cầm và mẫn cảm nhất

là vịt, gà, lợn

Lợn khi nhiễm độc thường bỏ ăn, thiếu máu, vàng da, ỉa chảy, ỉa chảy

ra máu Nếu trong khẩu phần có 500 - 700µg Aflatoxin/ kg thức ăn sẽ làm cho lợn con chậm lớn, còi cọc, giảm sức đề kháng với các bệnh truyền nhiễm khác (Lê Thị Tài, 1997)[52]

1.1.3.3 Tiêu chảy do ký sinh trùng

Có nhiều loại ký sinh trùng gây bệnh tiêu chảy ở lợn như cầu trùng

(Eimeria), Isospora suis, Crytosporidium hoặc một số loài giun tròn lớp Nematoda (Ascaris suum, Trichuris suis, Strongyloides, Haemonchus, Mecistocirrus…)

Trang 22

Bệnh do Isospora, Crytosporidium thường tập trung vào giai đoạn lợn

con từ 5 đến 25 ngày tuổi, còn ở lợn trên 2 tháng tuổi do cơ thể đã tạo được miễn dịch đối với bệnh cầu trùng, nên lợn chỉ mang mầm bệnh mà ít khi xuất hiện triệu chứng tiêu chảy (Nguyễn Như Pho, 2003)[40]

Cầu trùng, một số loại giun tròn (giun đũa, giun tóc, giun lươn) là một trong những nguyên nhân gây tiêu chảy ở lợn sau cai sữa nuôi trong các hộ gia đình tại Thái Nguyên (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 2006a)[24]

Giun sán ở đường tiêu hóa có vai trò rõ rệt trong hội chứng tiêu chảy ở lợn từ sau cai sữa Ở lợn bình thường và lợn bị tiêu chảy đều nhiễm các loại giun đũa, giun lươn, giun tóc và sán lá ruột, nhưng ở lợn tiêu chảy nhiễm tỷ lệ cao hơn và nặng hơn (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 2009)[26]

Cầu trùng một số loại giun tròn là một trong những nguyên nhân gây tiêu chảy ở lợn sau cai sữa nuôi trong các hộ gia đình tại Hà Nội (Thân Thị Đang

và cs, 2010)[11] Qua nghiên cứu tác giả nhận xét lợn nuôi bình thường nhiễm cầu trùng là 35,54%, giun đũa là 31,82%, giun lươn là 41,32%, giun tóc là 23,14% Lợn chủ yếu nhiễm nhẹ, không có lợn nào nhiễm nặng Trong khi

đó, lợn tiêu chảy nhiễm cầu trùng là 56,93%, giun đũa là 35,77%, giun lươn là 60,58%, giun tóc là 28,47% Tỷ lệ nhiễm nặng biến động từ 7,83- 13,46%

Đặc điểm chủ yếu của tiêu chảy do ký sinh trùng là con vật mắc bệnh

bị tiêu chảy nhưng không liên tục, có sự xen kẽ giữa tiêu chảy và phân bình thường, cơ thể thiếu máu, da nhợt nhạt, gia súc kém ăn, thể trạng sa sút

Như vậy có thể thấy, có rất nhiều nguyên nhân gây tiêu chảy, nhưng theo một số nhà khoa học nghiên cứu về bệnh tiêu chảy ở lợn như Nguyễn Thị Nội (1985)[37], Lê Văn Tạo (1993)[53], Hồ Văn Nam và cs (1997) [32] thì dù nguyên nhân nào gây tiêu chảy cho lợn đi nữa, cuối cùng cũng là quá trình nhiễm khuẩn, vi khuẩn kế phát làm viêm ruột, tiêu chảy nặng thêm, có thể dẫn đến chết hoặc viêm ruột tiêu chảy mãn tính

Trang 23

1.1.4 Bệnh lý lâm sàng của hội chứng tiêu chảy

1.1.4.1 Cơ chế sinh bệnh

Cơ chế sinh bệnh của hội chứng tiêu chảy là quá trình rối loạn chức phận bộ máy tiêu hoá và nhiễm khuẩn Hai quá trình này có thể diễn ra đồng thời hoặc cũng có thể quá trình này trước, quá trình này sau và ngược lại, song không thể phân biệt được từng quá trình

Vũ Văn Ngũ và cs (1975)[33], Trịnh Văn Thịnh (1985b)[64] cho rằng

do một tác nhân bất lợi nào đó, trạng thái cân bằng của khu hệ vi khuẩn đường ruột bị phá vỡ, tất cả hoặc chỉ một loài nào đó sinh sản quá nhiều sẽ gây hiện tượng loạn khuẩn, gây ra sự biến động ở nhóm vi khuẩn đường ruột, cũng như ở nhóm vi khuẩn vãng lai, các vi khuẩn gây bệnh có cơ hội tăng mạnh cả về số lượng và độc lực, các vi khuẩn có lợi cho quá trình tiêu hóa do không cạnh tranh nổi nên giảm đi, cuối cùng loạn khuẩn xảy ra, hấp thu bị rối loạn, gây tiêu chảy

Theo Phạm Ngọc Thạch (1996)[58] khi thiếu mật thì tới 60% mỡ không tiêu hoá được, gây ra chứng đầy bụng, khó tiêu và tiêu chảy hoặc việc giảm hấp thu cũng dẫn đến tiêu chảy

1.1.4.2 Bệnh lý, lâm sàng của hội chứng tiêu chảy

Bệnh lý, lâm sàng của hội chứng tiêu chảy ở gia súc đó là sự biến đổi

về chức năng, tình trạng mất nước và chất điện giải, trạng thái trúng độc của

Trang 24

thì cũng làm cản trở đến khả năng tái hấp thu nước Ở gia súc bị tiêu chảy, nếu lượng dịch mất đi trong đường ruột vượt quá lượng dịch đưa vào khi ăn hoặc uống, thận sẽ cố gắng bù lại bằng cách cô đặc nước tiểu để giảm lượng nước thải ra Nếu thận không bù được, mức dịch thể trong tổ chức bị giảm và máu bị đặc lại Hiện tượng này gọi là mất nước và triệu chứng lâm sàng là con vật yếu, bỏ ăn, thân nhiệt thấp và có thể trụy tim mắt bị hõm sâu, nhìn lờ

đờ, da khô, khi véo da lên, nếp da chậm trở lại vị trí cũ (Archie.H, 2000)[2] Lợn bị tiêu chảy gầy sút nhanh, da nhăn, tính đàn hồi da kém; nếu tiêu chảy lâu ngày, lợn gầy nhô xương sống, da thô, lông dựng ngược Mặt khác, khi cơ thể mất nước và chất điện giải sẽ kéo theo sự biến đổi của hàng loạt các bệnh

lý khác nhau

Hiện tượng trúng độc xảy ra do thức ăn lên men phân giải sinh độc tố,

hệ vi khuẩn đường ruột sinh sôi, sản sinh ra nhiều độc tố Các độc tố đó cùng với các sản phẩm của viêm, tổ chức phân huỷ, ngấm vào máu, tác động vào gan làm chức năng gan rối loạn, gia súc bị trúng độc, đồng thời tác động cản trở quá trình tiêu hoá tiếp tục gây tiêu chảy nặng hơn, tăng nguy cơ nhiễm độc máu và gây tử vong

1.1.4.3 Hậu quả trong hội chứng tiêu chảy

Hậu quả trực tiếp và nặng nề của hiện tượng tiêu chảy là sự mất nước

và mất các chất điện giải của cơ thể, kéo theo hàng loạt các biến đổi bệnh lý (Lê Minh Chí, 1995)[6]

Lợn bị tiêu chảy giảm khả năng tiêu hoá, chuyển hoá và hấp thụ các chất dinh dưỡng, nên lợn gầy còm, chậm tăng trọng, dễ dàng mắc các bệnh khác (Phạm Sỹ Lăng và cs, 1997)[27]

Hiện tượng mất nước rất nghiêm trọng và có thể gây chết nếu không được điều chỉnh Gia súc non dự trữ dịch thể tương đối thấp nên đặc biệt mẫn cảm với sự mất nước Chính vì vậy, biện pháp phòng chống và bù nước trong điều trị tiêu chảy luôn luôn phải đặt ra (Arche.H, 2000)[2]

Trang 25

Ở lợn hiện tượng tiêu chảy thường có quá trình nhiễm khuẩn Khi tiêu chảy do nhiễm khuẩn, các triệu chứng trầm trọng hơn và hậu quả để lại nặng

nề hơn Bệnh có thể lây lan và kế phát nhiều bệnh khác, gây thiệt hại cho ngành chăn nuôi

Như vậy, với mỗi một nguyên nhân gây tiêu chảy khác nhau thì cũng

để lại những hậu quả khác nhau

1.1.5 Một số đặc điểm dịch tễ hội chứng tiêu chảy

Hội chứng tiêu chảy ở gia súc do nhiều nguyên nhân gây ra Chính vì vậy, sự xuất hiện của bệnh phụ thuộc vào sự xuất hiện các nguyên nhân và sự tương tác giữa nguyên nhân với cơ thể gia súc Các yếu tố như tuổi gia súc, mùa vụ, thức ăn, chuồng trại, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng đều có ảnh hưởng đến bệnh tiêu chảy ở gia súc

Fairbrother.J.M (1992)[84] cho rằng khi bệnh tiêu chảy xảy ra, thường gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi Bệnh thường xuất hiện ở 3 giai đoạn phát triển của lợn con:

- Giai đoạn sơ sinh (1- 4 ngày tuổi)

- Giai đoạn lợn con theo mẹ (5 - 21 ngày tuổi)

- Giai đoạn lợn sau cai sữa (trên 21 ngày tuổi)

Tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy trong một số cơ sở chăn nuôi lợn phụ thuộc vào điều kiện chăm sóc, vệ sinh thú y ở đó, còn tỷ lệ chết, mức độ trầm trọng của bệnh ở một đàn phụ thuộc vào giai đoạn mắc bệnh (Hoàng Văn Tuấn,

1998 [59], Đoàn Thị Kim Dung, 2004 [8])

Về mùa vụ, bệnh tiêu chảy ở lợn con theo mẹ xảy ra quanh năm, nhưng cao nhất là tháng 5- 8 (Hoàng Văn Tuấn và cs, 1998)[70] Trong năm, lợn nuôi ở mùa xuân và mùa hè mắc tiêu chảy cao hơn (13,67 - 14,75%) so với hai mùa còn lại (9,18- 9,68%) (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 2006b)[25]

Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2006b)[25] khi nghiên cứu một

số đặc điểm dịch tễ học hội chứng tiêu chảy ở lợn từ sau cai sữa của các hộ

Trang 26

chăn nuôi gia đình tại Thái Nguyên cho biết bệnh tiêu chảy chịu ảnh hưởng rõ rệt của lứa tuổi mắc bệnh, các loại thức ăn, nền chuổng và tình trạng vệ sinh thú y

Về độ tuổi mắc bệnh, tỷ lệ lợn tiêu chảy giảm theo tuổi, cao nhất ở giai đoạn sau cai sữa đến 2 tháng (13,9%), sau đó giảm dần và chỉ còn 5,55% ở lợn trên 6 tháng tuổi

Về thức ăn, lợn nuôi thức ăn tổng hợp dạng viên, không qua chế biến, mắc tiêu chảy với tỷ lệ 8,96% Tỷ lệ này tăng lên khi cho thức ăn truyền thống mang tính tận dụng và ăn rau sống (16,1%)

Điều kiện chuồng trại và vệ sinh cũng có ảnh hưởng khá rõ rệt đến tỷ lệ mắc tiêu chảy ở lợn Lợn nuôi trong nền lát gạch có tỷ lệ tiêu chảy là 9,49%%, tăng lên ở chuồng có nền láng xi măng (12,64%) và cao nhất ở chuồng nền đất nện (20,37%) Lợn được nuôi ở điều kiện vệ sinh thú y tốt tỷ

lệ tiêu chảy là 8%, thấp hơn rõ rệt so với nuôi trong điều kiện vệ sinh thú y kém (20,35%)

Ngoài các vấn đề nêu trên, hội chứng tiêu chảy còn bị ảnh hưởng bởi các tác nhân gây bệnh do virus, vi khuẩn, cầu trùng, giun sán ký sinh đường tiêu hóa… Các tác giả đều cho rằng, khi lợn mắc tiêu chảy do các tác nhân vi sinh vật, thường làm tăng tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ chết

1.1.6 Biện pháp phòng trị tiêu chảy cho lợn

Trang 27

Để phòng bệnh tiêu chảy trước hết cần hạn chế và loại trừ các yếu tố strees sẽ mang lại hiệu quả tích cực, đồng thời khắc phục những yếu tố khí hậu, thời tiết bất lợi để tránh rối loạn tiêu hoá, giữ ổn định trạng thái cân bằng giữa cơ thể và môi trường Lợn con đẻ ra phải được sưởi ấm ở nhiệt độ 370C trong 7 ngày, sau đó giảm nhiệt độ dần, nhưng không được thấp hơn 300C

Vi khuẩn đường ruột, đặc biệt là E.coli được đánh giá là nguyên nhân

gây bệnh phổ biến và quan trọng nhất trong hội chứng tiêu chảy ở lợn con dưới 2 tháng tuổi, nhiều tác giả đã tập trung nghiên cứu chế tạo và sử dụng vacxin phòng bệnh nhằm kích thích cơ thể chủ động sản sinh kháng thể chống lại mầm bệnh

Nguyễn Thị Nội (1985)[37] dựa trên kết quả xác định tần suất các

serotype O của E.coli gây bệnh phân trắng lợn con để chọn các serotype O có

tần suất xuất hiện cao chế vacxin

Lê Văn Tạo (1996)[54] đã chọn chủng vi khuẩn E.coli mang kháng

nguyên K88 kết hợp với ít nhất 2 yếu tố gây bệnh khác nhau là Ent và Hly dùng

để sản xuất vacxin cho uống và tiêm nhằm phòng bệnh lợn con phân trắng Còn Nguyễn Thị Nội và cs (1989)[39] đã tiến hành nghiên cứu một loại vacxin đa giá SALCO gồm các chủng vi khuẩn Salmonella, E.coli và Streptococcus để phòng tiêu chảy cho lợn con

Đặng Xuân Bình và cs (2008b)[4] đã nghiên cứu, chế tạo autovaccine

từ các chủng E.coli độc có mang yếu tố gây bệnh phòng bệnh phân trắng lợn

con trên thực địa

Nguyễn Ngọc Hải (2010)[17] nghiên cứu, chế tạo autovaccine từ 7 gốc

E.coli phân lập từ các mẫu phân heo con tiêu chảy có kết quả rõ nhất, để phòng tiêu chảy cho heo con theo mẹ; đã kết luận vácxin chuồng thực nghiệm

tạo được đáp ứng miễn dịch tốt, hiệu quả phòng ngừa tiêu chảy do E.coli tương đương với vác xin phòng bệnh E.coli của Mỹ

Trang 28

Việc sử dụng vacxin phòng bệnh tiêu chảy cho lợn (đặc biệt là lợn con) đến hiện nay vẫn đang được các nhà khoa học tiếp tục nghiên cứu và thử nghiệm.

Ngoài sử dụng vacxin, một số tác giả đã đi sâu nghiên cứu các chế phẩm dùng để phòng bệnh tiêu chảy Đây là biện pháp vừa giúp tăng khả năng đề kháng, vừa khống chế sự phát triển quá mức của một số loài vi khuẩn

có hại cho cơ thể gia súc

Phan Thanh Phượng và cs (2008a)[46], đã nghiên cứu thành công và

đưa kháng thể E.coli dạng bột từ lòng đỏ chứng gà đã được miễn dịch các

Như vậy, vấn đề phòng bệnh tiêu chảy cho lợn đã có nhiều tác giả nghiên cứu Mỗi công trình nghiên cứu đều đi sâu vào một khía cạnh, một số nguyên nhân gây bệnh và đã đạt được một số kết quả khả quan Tuy nhiên, do

có nhiều nguyên nhân và yếu tố gây bệnh, nên vẫn còn nhiều vấn đề thực tiễn đòi hỏi phải giải quyết trong phòng bệnh tiêu chảy cho lợn

Trang 29

1.1.6.2 Điều trị bệnh

Theo Lê Minh Chí (1995)[6] cho rằng trên thực tế lâm sàng, điều trị mất nước là điều trị bắt buộc và là điều kiện để hạ thấp mức độ thiệt hại do bệnh tiêu chảy gây ra

Theo Phạm Ngọc Thạch (2005)[59] để triều trị hội chứng tiêu chảy gia súc, nên tập trung vào 3 khâu là:

- Loại trừ những sai sót trong nuôi dưỡng như: Loại bỏ thức ăn kém phẩm chất (ôi mốc…), giảm thức ăn xanh chứa nhiều nước, chăm sóc nuôi dưỡng tốt, loại bỏ thức ăn không tiêu hoá được, đang lên men trong đường ruột

- Khắc phục rối loạn tiêu hoá và chống nhiễm khuẩn

- Điều trị hiện tượng mất nước và chất điện giải

Phạm Thế Sơn và cs (2008a)[50] đã sử dụng chế phẩm EM-TK21 trong phòng trị bệnh tiêu chảy ở lợn con 1- 90 ngày tuổi, cho kết quả dùng trong phòng bệnh tỷ lệ bảo hộ đạt 81,3%; dùng trong điều trị bệnh tiêu chảy ở lợn con tỷ lệ khỏi bệnh đạt từ 72% - 96%

Huỳnh Kim Diệu (2009)[10] nghiên cứu, khảo sát thành phần dinh dưỡng của lá cây xuân hoa và thử nghiệm trong phòng, trị bệnh tiêu chảy cho lợn; đã có kết luận cây xuân hoa là cây thuốc mới được phát hiện, chứa các hoạt chất có khả năng phòng trị bệnh tốt, có thể thay kháng sinh trong trị bệnh tiêu chảy cho lợn

Nguyễn Hữu Vũ và cs (2010)[76] đã nghiên cứu thành công và đưa

kháng thể HANVET K.T.E HI vào phòng và điều trị bệnh tiêu chảy do vi khuẩn

E.coli (sản phẩm đã được Cục Thú y cấp giấy phép lưu hành trên toàn quốc) Kết quả thử nghiệm tại Hoài Đức- Hà Tây cho thấy:

- Điều tri 10 đàn lợn con bị tiêu chảy do vi khuẩn E.coli bằng sản phẩm HANVET K.T.E HI tỷ lệ khỏi 100% sau 2- 4 ngày

- Điều tri 10 đàn lợn con bị sưng phù đầu do vi khuẩn E.coli bằng sản phẩm HANVET K.T.E HI tỷ lệ khỏi 87,5 - 88% sau 2- 4 ngày

Trang 30

Phạm Sỹ Lăng (2009)[31] đã đưa ra biện pháp tổng hợp để phòng trị bệnh tiêu chảy ở lợn con do vi khuẩn gồm 2 phần chủ yếu là biện pháp kỹ thuật chăn nuôi và biện pháp kỹ thuật thú y

* Biện pháp kĩ thuật chăn nuôi

Với chăn nuôi thâm canh công nghiệp cần tuân thủ những yêu cầu sau đây:

- Điều tiết chế độ ăn trước và sau cai sữa cho phù hợp, chú ý tăng chất khô, giữ khẩu phần vừa phải

- Tập ăn sớm cho lợn con nhằm kích thích thống tiêu hóa của lợn phát triển sớm hoàn thiện về tổ chức và chức năng hoạt động nhằm cho lợn sớm thích ứng với điều kiện sinh sống

* Biện pháp kĩ thuật thú y

Nhằm tăng sức đề kháng, tăng miễn dịch phòng bệnh cho lợn con cần chú ý:

- Trước hết việc đỡ đẻ phải được thực hiện chu đáo, lau khô lợn sơ sinh

để tránh bị nhiễm bệnh, đặt chúng vào ngăn lợn con khô ráo, có sưởi ấm Ngoại cảnh lạnh làm giảm nhanh chóng năng lượng dự trữ, nhất là lượng glycogen ở lợn sơ sinh

Trang 31

- Chú ý việc ra nhau thai cuả lợn mẹ, kịp thời xử lý việc sót nhau, tránh ảnh hưởng tới khả năng tiết sữa của lợn mẹ, ảnh hưởng tới lợn con

- Sau khi đẻ xong cần cho lợn sơ sinh bú lần đầu tiên để bổ sung kịp thời năng lượng dự trữ của lợn sơ sinh bị giảm đi nhanh chóng Quan trọng hơn nữa là lợn sơ sinh được tiếp nhận kháng thể kháng từ sữa đầu cuả lợn mẹ đã

được tiêm phòng miễn dịch với các chủng E.coli gây bệnh đặc hiệu

- Tiêm bổ sung chế phẩm sắt cho lợn con trong ngày đầu sau đẻ Nhu cầu sắt của lợn con là 7-10 mg/con/ngày Trong khi đó hàm lượng sắt trong sữa đầu của lợn mẹ chỉ có khoảng 1ppm Sắt là nguyên nhân gây thiếu máu ở lợn con, thiếu sắt làm bạch cầu trung tính giảm khả năng tiêu diệt vi khuẩn

- Tiêm vaccin E.coli cho lợn mẹ mũi thứ nhất 21 ngày trước khi đẻ,

tiêm nhắc lại lúc 7 ngày trước khi đẻ để tạo hàm lượng kháng thể cao truyền qua sữa đầu cho lợn sơ sinh

- Tiêm kháng thể E.coli (dạng lỏng) hoặc cho uống kháng thể kháng E.coli (dạng bột) nhằm đưa kháng thể thụ động vào phòng trị bệnh Liều lượng và cách dùng tuân theo chỉ định của nhà sản xuất

- Dùng thuốc kháng sinh hoặc chế phẩm vi sinh vật để phòng trị

Ngoài ra còn có thể lựa chọn sử dụng các chế phẩm men tiêu hóa để hạn chế sự sinh trường, phát triển của các vi khuẩn gây bệnh ở đường ruột, tạo sự cân bằng vi khuẩn để phòng bệnh

Hiện nay, để điều trị hội chứng tiêu chảy ở lợn, nhiều tác giả đã nghiên cứu và cho rằng, cần phải xác định được nguyên nhân gây bệnh, hiểu

rõ cách sinh bệnh và triệu chứng bệnh Việc sử dụng kháng sinh trong điều trị tiêu chảy do nhiễm khuẩn được nhiều người nghiên cứu và đưa ra nhiều phác đồ khác nhau, nhưng các tác giả đều thống nhất rằng: Sử dụng kháng sinh có hiệu quả cần phải xem xét khả năng mẫn cảm và tính kháng thuốc của vi khuẩn

Trang 32

1.2 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ VI KHUẨN E.COLI GÂY BỆNH ĐƯỜNG

TIÊU HOÁ

Vi khuẩn Escherichia coli (E.coli) thuộc họ Enterobacteriaceae, nhóm Escherichiae , giống Escherichiae, loài Escherichia coli Trước đây được gọi

là Bacterium coli commune hay Bacillus coli communis, lần đầu tiên phân lập

được từ phân trẻ em bị tiêu chảy năm 1885 và được đặt theo tên của người bác

sỹ nhi khoa Đức Theodor Escherich (1857 - 1911) (Nguyễn Vĩnh Phước, 1974 [44], Nguyễn Lân Dũng và cs, 1976 [9], Nguyễn Như Thanh và cs, 1997 [56],

Lê Văn Tạo, 1997) [55]

Vi khuẩn E.coli thuộc họ Enterobacteriaceae, là họ vi khuẩn thường

trực ở trong ruột, chiếm tới 80% các vi khuẩn hiếu khí, vừa là vi khuẩn cộng sinh thường trực đường tiêu hoá, vừa là vi khuẩn gây nhiều bệnh ở đường ruột

và ở các cơ quan khác (Lê Văn Tạo, 1997)[55]

Trong điều kiện bình thường, E.coli khu trú thường xuyên ở phần sau

của ruột, ít khi có ở dạ dày hay đoạn đầu ruột non của động vật Khi gặp điều kiện thuận lợi, chúng phát triển nhanh về số lượng, độc lực, gây loạn khuẩn, bội nhiễm đường tiêu hoá và trở thành nguyên nhân gây bệnh tiêu chảy (nguyễn Vĩnh Phước, 1978)[45]

1.2.1 Đặc điểm hình thái, cấu trúc của vi khuẩn E.coli

1.2.1.1 Đặc điểm hình thái

Vi khuẩn E.coli là trực khuẩn hình gậy ngắn hai đầu tròn, có kích thước

2 - 3µm x 0,3- 0,6µm; ở môi trường nuôi cấy, trong canh khuẩn già, xuất hiện những trực khuẩn dài 4 - 8µm Trong cơ thể người và động vật, vi khuẩn thường có hình trực khuẩn, đứng riêng lẻ, đôi khi xếp thành chuỗi ngắn Phần

lớn vi khuẩn E.coli có khả năng di động do có lông ở xung quanh thân, không

sinh nha bào, có thể có giáp mô Vi khuẩn bắt màu gram âm, có thể bắt màu đều hoặc sẫm ở hai đầu, khoảng giữa nhạt hơn Nếu lấy vi khuẩn từ khuẩn lạc

Trang 33

nhầy để nhuộm, có thể thấy giáp mô, nhưng khi soi tươi thì thường không nhìn thấy được (Nguyễn Quang Tuyên, 2008)[72]

1.2.1.2 Đặc điểm cấu trúc

Vi khuẩn E.coli được chia làm serrotype khác nhau dựa vào cấu trúc

kháng nguyên thân O, giáp mô K, lông H và kháng nguyên bám dính F Bằng phản ứng ngưng kết, các nhà khoa học đã tìm ra được 250 serotype O, 89 serotype K, 56 serotype H và một số serotype F (Fairbrother J M, 1992)[70]

Khi xác định serotype đầy đủ của một chủng vi khuẩn E.coli thì phải

xác định đủ cả 3 loại kháng nguyên nói trên

- Kháng nguyên O (Kháng nguyên thân - Ohne Hauch) được coi như là một yếu tố độc lực có thể tìm thấy ở thành tế bào và có liên hệ trực tiếp với hệ thống miễn dịch Kháng nguyên O khi gặp kháng huyết thanh tương ứng sẽ xảy ra phản ứng ngưng kết Ngưng kết kháng nguyên O tạo thành những hạt nhỏ, khó tan

- Kháng nguyên H (kháng nguyên lông - Hauch) là thành phần lông vi khuẩn, có bản chất protein, kém bền vững hơn so với kháng nguyên O

Kháng nguyên H không phải là yếu tố độc lực của vi khuẩn, nhưng có khả năng tạo miễn dịch mạnh Phản ứng miễn dịch xảy ra nhanh hơn so với kháng nguyên O

Kháng nguyên H của vi khuẩn E.coli không có vai trò bám dính, không

có tính độc và cũng không có ý nghĩa trong đáp ứng miễn dịch phòng vệ nên

ít được quan tâm nghiên cứu, nhưng nó có ý nghĩa rất to lớn trong xác định giống loài của vi khuẩn(Orskov.F, 1978)[99]

- Kháng nguyên K (Kháng nguyên vỏ bỏ - Capsular), còn được gọi là kháng nguyên bề mặt (OMP - Outer membrane protein) hoặc kháng nguyên

vỏ bọc (Capsular) Vai trò của kháng nguyên K chưa được thống nhất Có rất nhiều ý kiến cho rằng, nó không có ý nghĩa về độc lực của vi khuẩn, vì thấy

Trang 34

rằng độc lực của chủng E.coli có kháng nguyên K cũng giống độc lực của

chủng không có kháng nguyên K (Orskov F, 1978)[99] Tuy nhiên, có ý kiến khác cho rằng, nó có ý nghĩa về độc lực vì nó tham gia bảo vệ vi khuẩn trước những yếu tố phòng vệ của vật chủ Tuy vậy, phần lớn các ý kiến đều thống nhất kháng nguyên K có hai nhiệm vụ sau:

+ Hỗ trợ trong phản ứng ngưng kết của kháng nguyên O, nên thường

ghi liền công thức serotype của vi khuẩn là Ox:Ky như E.coli O139: K88,

O149: K88, O138:K81, O138:K82, O157:K17…

+ Tạo thành hàng rào bảo vệ vi khuẩn chống lại tác động của ngoại cảnh và hiện tượng thực bào, yếu tố phòng vệ của vật chủ

Tóm lại, dựa vào kháng nguyên O, E.coli được chia làm nhiều nhóm; căn cứ vào cấu tạo kháng nguyên O, K, H, E.coli lại chia làm nhiều type, mỗi

type đều được ghi thứ tự các yếu tố kháng nguyên O, K, H

- Kháng nguyên F (kháng nguyên Fimbriae - kháng nguyên bám dính)

Hầu hết các chủng E.coli gây bệnh đều sản sinh ra một hoặc nhiều kháng

nguyên bám dính Các chủng không gây bệnh thì không có kháng nguyên bám dính Kháng nguyên bám dính giúp vi khuẩn bám vào các thụ thể đặc hiệu trên

bề mặt tế bào biểu mô ruột và trên lớp màng nhày để xâm nhập và gây bệnh, đồng thời chống lại khả năng đào thải vi khuẩn của nhu động ruột

Một số loại kháng nguyên bám dính của vi khuẩn E.coli thuộc nhóm ETEC (Enterotoxigenic Escherichia coli) gây bệnh chủ yếu cho lợn là F4

(K88), F5 (K99), F6 (987P), F18 và F41 (Cater.G.R và cs, 1995)[77]

1.2.2 Đặc tính nuôi cấy, sinh vật, hoá học

1.2.2.1 Đặc tính nuôi cấy

Theo Nguyễn Như Thanh và cs (1997)[56], Nguyễn Quang Tuyên

(2008)[72] vi khuẩn E.coli là trực khuẩn hiếu khí và yếm khí tuỳ tiện, có thể

sinh trưởng ở phổ nhiệt độ khá rộng (từ 5- 400C), nhiệt độ thích hợp là 370C

và phổ pH rộng (pH từ 5,5- 8,0), pH thích hợp nhất từ (7,2 - 7,4)

Trang 35

Vi khuẩn E.coli phát triển dễ dàng trên các môi trường nuôi cấy thông

thường Khi nuôi cấy trên các môi trường, để trong tủ ấm ở 370C và sau 24 giờ vi khuẩn sẽ phát triển như sau:

+ Môi trường thạch thường: Hình thành những khuẩn lạc tròn, ướt, bóng láng không trong suốt, màu tro trắng nhạt, hơi lồi, đường kính từ 2- 3mm Nuôi lâu, khuẩn lạc có màu nâu nhạt và mọc rộng ra, có thể quan sát thấy cả những khuẩn lạc dạng R (Rough) và M (Mucons)

+ Môi trường nước thịt: Phát triển rất tốt, môi trường đục đều có lắng cặn màu tro nhạt ở dưới đáy, đôi khi có màu xám nhạt, canh trùng có mùi phân hôi thối

+ Môi trường MacConkey: Khuẩn lạc có màu hồng cánh sen, tròn nhỏ, hơi lồi, không trầy, rìa gọn, không làm chuyển màu môi trường

+ Môi trường thạch máu: Khuẩn lạc to, ướt, lồi, viền không gọn, màu xám nhạt, một số chủng có khả năng và gây ra hiện tượng tan máu

+ Môi trường Simmon citrat: Khuẩn lạc không màu trên nền xanh lục + Môi trường Endo: Khuẩn lạc màu đỏ

+ Trong môi trường EMB: Khuẩn lạc màu tím đen

+ Trong môi trường SS: Khuẩn lạc có màu đỏ

1.2.2.2 Đặc tính sinh hoá

+ Phản ứng lên men đường: Vi khuẩn E.coli lên men sinh hơi các loại

đường Lactose, Frutose, Glucose, Levulose, Galactose, Xylose, Manitol, lên men không chắc chắn các loại đường Duncitol, Saccarose và Salixin

Hầu hết các chủng vi khuẩn E.coil đều lên men đường Lactose nhanh

và sinh hơi, đây là đặc điểm quan trọng để dựa vào đó phân biệt vi khuẩn

E.coli và Salmonella

+ Một số phản ứng sinh hoá khác: Phản ứng Indol và MR dương tính, phản ứng H2S, VP âm tính (Nguyễn Quang Tuyên, 2008)[72]

Trang 36

1.2.3 Đặc tính gây bệnh của vi khuẩn E.coli

1.2.3.1 Cơ chế gây bệnh của vi khuẩn E.coli

Để có thể gây bệnh, trước hết vi khuẩn E.coli phải bám dính vào tế bào

nhung mao ruột bằng các yếu tố bám dính như kháng nguyên F Sau đó, nhờ các yếu tố xâm nhập (Invasion), vi khuẩn sẽ xâm nhập vào tế bào biểu mô của thành ruột Ở đó, vi khuẩn phát triển, nhân lên, phá huỷ lớp tế bào biểu mô, gây viêm ruột, đồng thời sinh sản độc tố đường ruột Enterotoxin Độc tố đường ruột tác động vào quá trình trao đổi muối, nước, làm rối loạn chu trình này Nước từ cơ thể tập trung vào lòng ruột làm căng ruột, cùng với khí do lên men ở ruột gây nên một tác dụng cơ học, làm nhu động ruột tăng, đẩy nước và chất chứa ra ngoài, gây nên hiện tượng tiêu chảy Sau khi đã phát triển ở thành ruột, vi khuẩn vào hệ lâm ba, đến hệ tuần hoàn, gây nhiễm trùng máu Trong máu, vi khuẩn chống lại hiện tượng thực bào, gây dung huyết, làm cho

cơ thể thiếu máu Từ hệ tuần hoàn, vi khuẩn đến các tổ chức cơ quan Ở đây,

vi khuẩn lại phát triển nhân lên lần thứ hai, phá huỷ tế bào tổ chức, gây viêm

và sản sinh độc tố gồm Enterotoxin và Verotoxin, phá huỷ tế bào tổ chức, gây

tụ huyết và xuất huyết

1.2.3.2 Các yếu tố gây bệnh của vi khuẩn E coli

Các yếu tố gây bệnh của E.coli bao gồm khả năng kháng khuẩn, yếu tố

bám dính, khả năng xâm nhập, yếu tố gây dung huyết và khả năng sản xuất

độc tố Các chủng vi khuẩn E.coli không có các yếu tố trên thì không có khả

năng gây bệnh

Dựa vào các yếu tố gây bệnh nói trên, người ta đã phân loại vi khuẩn

E.coli thành các loại sau: Enterotoxigenic E.coli (ETEC), Enteropathgenic E.coli (EPEC), Adherence Eteropathogenic E.coli (AEEC) và Verotoxingenic E.coli (VTEC) (Lê Văn Tạo, 1997)[55] Trong đó, các chủng vi khuẩn thuộc nhóm ETEC và VTEC thường gây ra bệnh tiêu chảy cho lợn con sơ sinh và lợn sau cai sữa (Fairbrother.J.M, 1992)[84]

Trang 37

* Yếu tố kháng khuẩn

Nhiều chủng vi khuẩn E.coli có khả năng sản sinh ra chất kháng khuẩn

có tác dụng ức chế hoặc tiêu diệt các loại vi khuẩn khác, gọi là ColicinV Vì vậy, yếu tố này cũng được coi là một trong các yếu tố độc lực của vi khuẩn

E.coli gây bệnh (Smith H W và cs, 1967)[102]

Đặng Xuân Bình và cs (2008a)[3] khi nghiên cứu khả năng sản sinh

yếu tố cạnh tranh colicin của các chủng vi khuẩn E.coli phân lập được từ phân

của lợn con phân trắng tại các tỉnh Thái Nguyên, Cao Bằng, Hà Tây đã có kết

quả là 26,5% số chủng vi khuẩn E.coli sản sinh ra yếu tố cạnh tranh colicin

* Yếu tố bám dính

Để gây bệnh, các chủng ETEC phải bám dính lên trên tế bào biểu mô của ruột non Hầu hết các chủng ETEC đều có mang một hoặc nhiều các yếu

tố bám dính như: F4 (K88), F5 (K99), F6 (987P), F17, F18, F41, F42 và F165 Ở lợn, các chủng vi khuẩn ETEC gây bệnh tiêu chảy thường mang các yếu tố bám dính sau đây:

- F4 (K88): F4 hay còn gọi là K88 và là một kháng nguyên không chịu

nhiệt Bằng việc sử dụng các kháng huyết thanh đặc hiệu, Orskov và cs (1964)[98] đã phân biệt được hai loại khác nhau của F4 là F4ab và F4ac Loại thứ 3 được phát hiện bởi Guinee và Jansen được đặt tên ở F4ad (Guinee và cs, 1979)[88] Sợi F4 giúp cho vi khuẩn bám được vào receptor tương ứng của nó trên tế bào biểu mô của lông nhung ruột non, từ đó vi khuẩn có thể xâm nhập

cố định và phát triển được ở thành ruột non Yếu tố bám dính F4 được mang

trong vi khuẩn E.coli thuộc nhóm ETEC, gây bệnh tiêu chảy ở lợn trước và

sau cai sữa (Nagy và cs, 1999)[96]

- F5 (K99): F5 trước kia được cho là kháng nguyên bám dính của

E.coli chỉ gây bệnh ở bê, nghé và cừu Tuy nhiên, hiện nay chúng cũng được tìm thấy với tỷ lệ thấp ở các chủng ETEC phân lập từ lợn tiêu chảy (Links và

Trang 38

cs, 1985)[92] Sự sản sinh F5 phụ thuộc vào nhiều yếu tố của vi khuẩn như tốc độ sinh trưởng, pha sinh trưởng, nhiệt độ và alanine trong môi trường Các gen mã hoá cho sự tổng hợp F5 nằm trên AND của plasmid (Isaacson, 1977)[86]

- F6 (987p): Các nhà khoa học cho rằng fimbriae này đóng vai trò

quan trọng trong việc gây bệnh của ETEC F6 của ETEC ở lợn có thể giúp vi khuẩn bám vào cả các receptor cấu tạo bởi glycoprotein và glycolipid trên riềm trải của các tế bào biểu mô ruột (Dean và cs, 1989, 1994)[80], [81] F6 bám dính ở màng nhầy để phân phối độc tố đường ruột tối đa đến vật chủ

- F18: F18 là tên đặt cho nhân tố bám dính 8813 Bởi vậy, một loại

fimbriae mới đã được đề nghị công nhận là F18ab, F18ac (Pippinger và cs, 1995)[102] Một nghiên cứu của Nagy và cs (1996)[95] thấy rằng F18ab và F18ac khác nhau về mặt sinh học F18ab ít thấy thể hiện ở cả trong điều kiện thực tế và trong phòng thí nghiệm Chúng thường thấy cùng với việc sản xuất SLT-2e ở các chủng VTEC, trong khi F18ac thể hiện rất rõ ở cả trong thực tế

và trong phòng thí nghiệm, chúng mang các đặc tính của các chủng ETEC

Một đặc điểm đáng chú ý ở F18ac là chúng không bám vào riềm bàn chải của lợn sơ sinh trong điều kiện thực tế và trong phòng thí nghiệm (Nagy

và cs, 1992)[94], cũng không tập trung ở lớp màng nhầy của ruột ở lợn con mới sinh (Casey và cs, 1992)[78] Điều này ngược với F5 và F6, chúng bám vào các tế bào biểu mô ruột Khả năng bám này ở lợn cai sữa nhiều hơn so với lợn sơ sinh Lý do xác đáng để giải thích về việc tăng sự mẫn cảm với bám dính của F18ab và F18ac theo tuổi của lợn vẫn chưa được làm rõ, nhưng

có thể là do sự tăng dần các receptor đặc hiệu ở lông nhung của ruột lợn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi Sự thiếu hụt các receptor của F18ab và F18ac ở lợn sơ sinh có thể giải thích cho lý do vì sao chỉ thấy các chủng VTEC và ETEC ở lợn cai sữa (Nagy và cs, 1999)[96]

Trang 39

* Yếu tố xâm nhập của vi khuẩn E.coli: Là một khái niệm dùng để chỉ quá trình chưa được xác định một cách rõ ràng mà nhờ đó vi khuẩn E.coli qua

được hàng rào bảo vệ của lớp màng nhầy (mucosa) trên bề mặt niêm mạc để xâm nhập vào tế bào biểu mô (Epithel), đồng thời sinh sản và phát triển trong lớp tế bào này Trong khi đó những vi khuẩn khác không có khả năng xâm nhập, không thể qua được hàng rào bảo vệ của lớp màng nhầy hoặc khi qua được hàng rào này, sẽ bị giữ lại bởi tế bào đại thực bào của tổ chức hạ niêm mạc (Giannella và cs, 1976)[87]

* Độc tố của vi khuẩn E.coli:

Vi khuẩn E.coli sản sinh nhiều loại độc tố: Enterotoxin, Verotoxin,

Neurotoxin Mỗi loại độc tố gắn với một thể bệnh mà chúng gây ra

- Nhóm độc tố đường ruột (Enterotoxin): gồm 2 loại

+ Độc tố chịu nhiệt (Heat Stable Toxin - ST): Độc tố này chịu được nhiệt độ 1000C trong vòng 15 phút Độc tố ST chia thành 2 nhóm STa và STb dựa trên đặc tính sinh học và khả năng hoà tan trong methanol Sta kích thích sản sinh cGMP mức cao trong tế bào, ngăn trở hệ thống chuyển Na+ và Cl-; làm giảm khả năng hấp thu chất điện giải và nước ruột STa thường thấy ở ETEC gây bệnh lợn dưới 2 tuần tuổi và ở lợn lớn

STb kích thích vòng nucleotid phân tiết dịch độc lập ở ruột, nhưng phương thức tác dụng của STb vẫn chưa được hiểu rõ STb hoạt động ở ruột non lợn, nhưng không hoạt động ở ruột non chuột, bê và bị vô hoạt bởi

Trypsin STb tìm thấy được ở 75% các chủng vi khuẩn E.coli phân lập từ lợn

con, 33% phân lập từ lợn (Fairbrother và cs, 1992)[84] Vai trò của STb trong tiêu chảy được biết đến mặc dù ETEC sản sinh STb có thể kích thích gây tiêu chảy ở lợn con trong điều kiện thực nghiệm và STb làm teo lông nhung ruột lợn (Carter và cs, 1995)[77]

Cả STa và STb đều có vai trò quan trọng trong việc gây tiêu chảy do

các chủng E.coli gây bệnh ở bê, nghé, dê, cừu, lợn con và trẻ sơ sinh

Trang 40

+ Độc tố không chịu nhiệt (Heat Labile Toxin - LT): Độc tố này bị vô hoạt ở nhiệt độ 600C trong vòng 15 phút LT cũng có hai nhóm phụ LT1 và LT2, nhưng chỉ có LT1 bị trung hoà bởi Anticholerae toxin LT là một trong những yếu tố quan trọng gây triệu chứng tiêu chảy (Fairbrother và cs, 1992)[84] Cả hai loại độc tố ST và LT đều bền vững ở nhiệt độ âm, thậm chí

cả ở nhiệt độ (-200C)

Xác định một số yếu tố gây bệnh của các chủng vi khuẩn E.coli phân

lập từ lợn con (1- 45 ngày tuổi) bị tiêu chảy ở tỉnh Hưng Yên bằng các phản ứng PCR Kết quả đã xác định được 3 loại độc tố là Sta, STb, LT và 2 yếu tố bám dính F4 và F18 (Đỗ Ngọc Thúy và cs, 2008)[68]

- Nhóm độc tố tế bào (Shiga/ Verotoxin):

Konowalchuck và cs (1977)[90] đã phát hiện một loại độc tố hoạt động trong môi trường nuôi cấy tế bào Vero (nên chúng được đặt tên là độc tố tế

bào Vero), được sản sinh bởi vi khuẩn E.coli gây bệnh tiêu chảy ở người, tiêu

chảy và bệnh phù đầu ở lợn con Ảnh hưởng gây bệnh ở tế bào của độc tố Vero rất khác so với ảnh hưởng của độc tố đường ruột không chịu nhiệt cổ

điển ở nhóm vi khuẩn E.coli gây bệnh đường ruột (ETEC) Độc tố Vero

(VTs) hay Shiga (SLTs) là thuật ngữ được sử dụng trước đây Gần đây, các nhà khoa học đã đề nghị sử dụng tên độc tố Shiga (Stx) cho tất cả những độc

tố tế bào này Stx sản sinh bởi E.coli bao gồm 2 nhóm: Stx1 và Stx2

* Vai trò gây bệnh của các loại kháng nguyên

Theo ý kiến của nhiều tác giả, mặc dù các vi khuẩn E.coli có nhiều loại

kháng nguyên, trong đó, có loại tạo miễn dịch phòng vệ cho vật chủ, có loại không tạo miễn dịch phòng vệ cho vật chủ nhưng đều tham gia vào quá trình gây bệnh bằng cách tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập vào tế bào vật chủ

và tham gia vào quá trình kháng lại các yếu tố phòng vệ tự nhiên của vật chủ Các kháng nguyên tham gia quá trình trên phải kể đến là kháng nguyên O, kháng nguyên K, kháng nguyên F

Ngày đăng: 28/05/2016, 12:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Võ Trọng An, Đào Thị Phương Lan, Lê Hữu ngọc, Nguyễn Ngọc Tuân (2010), “Đề kháng kháng sinh của Escherichia coli phân lập từ vật nuôi và sự hiện diện của β-Lactamse phổ rộng (ESBL)”, Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y, tập XVII (2), tr.42-46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề kháng kháng sinh của "Escherichia coli" phân lập từ vật nuôi và sự hiện diện của "β-Lactamse" phổ rộng (ESBL)”, "Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y
Tác giả: Võ Trọng An, Đào Thị Phương Lan, Lê Hữu ngọc, Nguyễn Ngọc Tuân
Năm: 2010
2. Archie. H (2000), sổ tay dịch bệnh động vật, (Phạm Gia Ninh và Nguyễn Đức Tâm dịch), NXB Bản đồ, Hà Nội, tr. 53, 207- 204 Sách, tạp chí
Tiêu đề: sổ tay dịch bệnh động vật
Tác giả: Archie. H
Nhà XB: NXB Bản đồ
Năm: 2000
3. Đặng Xuân Bình, Đỗ Văn Chung (2008a), “Đặc tính sinh học của vi khuẩn E.coli trong bệnh phân trắng lợn con một số tỉnh miền núi phía Bắc”, Tạp chí khoa học kĩ thuật thú y, tập XV (4), tr. 54-59 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc tính sinh học của vi khuẩn "E.coli" trong bệnh phân trắng lợn con một số tỉnh miền núi phía Bắc”, "Tạp chí khoa học kĩ thuật thú y
4. Đặng Xuân Bình, Đỗ Văn Chung (2008b), “Hiệu quả của vắc xin chuồng (auto vaccine) trong thử nghiệm phòng bệnh phân trắng trên lợn con trong thực địa”, Tạp chí khoa học kĩ thuật thú y, tập XV (6), tr. 50-55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả của vắc xin chuồng (auto vaccine) trong thử nghiệm phòng bệnh phân trắng trên lợn con trong thực địa”, "Tạp chí khoa học kĩ thuật thú y
6. Lê Minh Chí (1995), “Bệnh tiêu chảy ở gia súc”, Hội thảo khoa học, Bộ Nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm, Hà Nội, tr. 20 - 22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh tiêu chảy ở gia súc”, "Hội thảo khoa học, Bộ Nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm, Hà Nội
Tác giả: Lê Minh Chí
Năm: 1995
7. Cù Xuân Dần, Nguyễn Xuân Tịnh, Tiết Hồng Ngân, Nguyễn Bá Mùi, Lê Mộng Loan (1996), Sinh lý học gia súc, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 122 - 141 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý học gia súc
Tác giả: Cù Xuân Dần, Nguyễn Xuân Tịnh, Tiết Hồng Ngân, Nguyễn Bá Mùi, Lê Mộng Loan
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1996
8. Đoàn Thị Kim Dung (2004), Sự biến động một số vi khuẩn hiếu khí đường ruột, vai trò của E.coli trong hội chứng tiêu chảy của lợn con và các phác đồ điều trị. Luận án tiên sỹ Nông nghiệp, Viện Thú y Quốc Gia, Hà Nội, tr. 55-86 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự biến động một số vi khuẩn hiếu khí đường ruột, vai trò của E.coli trong hội chứng tiêu chảy của lợn con và các phác đồ điều trị
Tác giả: Đoàn Thị Kim Dung
Năm: 2004
9. Nguy ễn Lân Dũng, Nguyễn Văn Đức, Đặng Hồng Mai, Nguyễn Vĩnh Phước (1976), Một số phương pháp nghiên cứu vi sinh vật, tập I và II, NXB Khoa học kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số phương pháp nghiên cứu vi sinh vật
Tác giả: Nguy ễn Lân Dũng, Nguyễn Văn Đức, Đặng Hồng Mai, Nguyễn Vĩnh Phước
Nhà XB: NXB Khoa học kỹ thuật
Năm: 1976
10. Huỳnh Kim Diệu (2009), “Thành phần dinh dưỡng lá xuân hoa, một cây thuốc điều trị bệnh tiêu chảy lợn con”, Tạp chí khoa học kĩ thuật thú y, tập XVI (2), tr. 61- 65 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành phần dinh dưỡng lá xuân hoa, một cây thuốc điều trị bệnh tiêu chảy lợn con”, "Tạp chí khoa học kĩ thuật thú y
Tác giả: Huỳnh Kim Diệu
Năm: 2009
11. Thân Thị Đang, Lê Ngọc Mỹ, Tô Long thành, Nguyễn thị Kim Lan (2010), “Vai trò kí sinh trùng đường tiêu hóa trong hội chứng tiêu chảy ở lợn sau cai sữa và biện pháp phòng trị”, Tạp chí khoa học kĩ thuật thú y, tập XVII (1), tr. 43- 51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò kí sinh trùng đường tiêu hóa trong hội chứng tiêu chảy ở lợn sau cai sữa và biện pháp phòng trị”," Tạp chí khoa học kĩ thuật thú y
Tác giả: Thân Thị Đang, Lê Ngọc Mỹ, Tô Long thành, Nguyễn thị Kim Lan
Năm: 2010
12. Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng (1985), Bệnh đường tiêu hoá ở lợn, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh đường tiêu hoá ở lợn
Tác giả: Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1985
13. Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng (1986), Bệnh gia súc non, tập II, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 5- 30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh gia súc non
Tác giả: Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1986
14. Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng, Lê Ngọc Mỹ, Huỳnh Văn Kháng (1996), Bệnh ở lợn nái và lợn con, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 57 - 147 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh ở lợn nái và lợn con
Tác giả: Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng, Lê Ngọc Mỹ, Huỳnh Văn Kháng
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1996
15. Bùi Xuân Đồng (2002), “bệnh phù đầu do Escherichia coli gây ra ở lợn con của Hải Phòng và biện pháp phòng chống”, Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y, tập IX, tr. 98 - 99 Sách, tạp chí
Tiêu đề: bệnh phù đầu do Escherichia coli gây ra ở lợn con của Hải Phòng và biện pháp phòng chống”, "Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y
Tác giả: Bùi Xuân Đồng
Năm: 2002
16. Nguyễn Thị Thanh Hà, Bùi Thị Tho (2009), “Nghiên cứu bào chế thử nghiệm cao mật bò và ứng dụng trong phòng bệnh phân trắng lợn con”, Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y, tập XVI (2), tr. 57 - 60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu bào chế thử nghiệm cao mật bò và ứng dụng trong phòng bệnh phân trắng lợn con”," Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Hà, Bùi Thị Tho
Năm: 2009
17. Nguyễn Ngọc Hải (2010), “Vắc xin chuồng (autovaccine) phòng bệnh tiêu chảy do E.coli trên heo con theo mẹ”, Tạp chí khoa học kĩ thuật thú y, tập XVII (2), tr. 47- 52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vắc xin chuồng (autovaccine) phòng bệnh tiêu chảy do "E.coli" trên heo con theo mẹ”, "Tạp chí khoa học kĩ thuật thú y
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hải
Năm: 2010
19. Phạm Khắc Hiếu và Bùi Thị Tho (1999), Một số kết quả nghiên cứu tính kháng thuốc của vi khuẩn gây bệnh trong thú y. Kết quả nghiên cứu KHKT khoa CNTY (1996 - 1998), NXB Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 134 - 138 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu KHKT khoa CNTY (1996 - 1998)
Tác giả: Phạm Khắc Hiếu và Bùi Thị Tho
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1999
20. Bùi Quý Huy (2003), Sổ tay phòng chống bệnh từ động vật lây sang người - Bệnh do E.coli, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 30 - 34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay phòng chống bệnh từ động vật lây sang người - Bệnh do E.coli
Tác giả: Bùi Quý Huy
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2003
21. Vũ Khắc Hùng, M.pilipcinec (2004), “Nghiên cứu và so sánh các yếu tố độc lực của các chủng E.coli phân lập từ lợn con bị tiêu chảy ở cộng hoà Slovakia”, Báo cáo khoa học chăn nuôi thú y, Hà Nội, tr. 45 - 46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu và so sánh các yếu tố độc lực của các chủng "E.coli" phân lập từ lợn con bị tiêu chảy ở cộng hoà Slovakia”, "Báo cáo khoa học chăn nuôi thú y, Hà Nội
Tác giả: Vũ Khắc Hùng, M.pilipcinec
Năm: 2004
22. Lý Thị Liên Khai (2001), “Phân lập, xác định độc tố ruột ở các chủng E.coli gây bệnh tiêu chảy cho heo con”, Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y, tập VIII, tr. 13 - 18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân lập, xác định độc tố ruột ở các chủng E.coli gây bệnh tiêu chảy cho heo con”, "Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y
Tác giả: Lý Thị Liên Khai
Năm: 2001

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Các serotype điển hình của vi khuẩn E.coli gây bệnh - Phân Lập, Xác Định Vai Trò Gây Bệnh Của Escherichia Coli Trong Hội Chứng Tiêu Chảy Ở Lợn Con Tại Một Số Huyện Của Tỉnh Bắc Giang Và Biện Pháp Phòng Trị
Bảng 1.1. Các serotype điển hình của vi khuẩn E.coli gây bệnh (Trang 46)
Hình 2.1. Sơ đồ quy trình phân lập và xác định các yếu tố gây bệnh của - Phân Lập, Xác Định Vai Trò Gây Bệnh Của Escherichia Coli Trong Hội Chứng Tiêu Chảy Ở Lợn Con Tại Một Số Huyện Của Tỉnh Bắc Giang Và Biện Pháp Phòng Trị
Hình 2.1. Sơ đồ quy trình phân lập và xác định các yếu tố gây bệnh của (Trang 57)
Bảng 2.1. Ký hiệu chuỗi DNA của các cặp mồi dùng để xác định một số yếu tố độc lực - Phân Lập, Xác Định Vai Trò Gây Bệnh Của Escherichia Coli Trong Hội Chứng Tiêu Chảy Ở Lợn Con Tại Một Số Huyện Của Tỉnh Bắc Giang Và Biện Pháp Phòng Trị
Bảng 2.1. Ký hiệu chuỗi DNA của các cặp mồi dùng để xác định một số yếu tố độc lực (Trang 61)
Hình 3.1.Biểu đồ so sánh tỷ lệ lợn con mắc và chết do tiêu chảy giữa các huyện - Phân Lập, Xác Định Vai Trò Gây Bệnh Của Escherichia Coli Trong Hội Chứng Tiêu Chảy Ở Lợn Con Tại Một Số Huyện Của Tỉnh Bắc Giang Và Biện Pháp Phòng Trị
Hình 3.1. Biểu đồ so sánh tỷ lệ lợn con mắc và chết do tiêu chảy giữa các huyện (Trang 68)
Hình 3.2. Biểu đồ so sánh tỷ lệ lợn con mắc và chết do tiêu chảy theo mùa vụ - Phân Lập, Xác Định Vai Trò Gây Bệnh Của Escherichia Coli Trong Hội Chứng Tiêu Chảy Ở Lợn Con Tại Một Số Huyện Của Tỉnh Bắc Giang Và Biện Pháp Phòng Trị
Hình 3.2. Biểu đồ so sánh tỷ lệ lợn con mắc và chết do tiêu chảy theo mùa vụ (Trang 72)
Bảng 3.5.  Tỷ lệ lợn con tiêu chảy và chết do tiêu chảy - Phân Lập, Xác Định Vai Trò Gây Bệnh Của Escherichia Coli Trong Hội Chứng Tiêu Chảy Ở Lợn Con Tại Một Số Huyện Của Tỉnh Bắc Giang Và Biện Pháp Phòng Trị
Bảng 3.5. Tỷ lệ lợn con tiêu chảy và chết do tiêu chảy (Trang 74)
Hình 3.3. Biểu đồ so sánh tỷ lệ lợn con mắc và chết do tiêu chảy - Phân Lập, Xác Định Vai Trò Gây Bệnh Của Escherichia Coli Trong Hội Chứng Tiêu Chảy Ở Lợn Con Tại Một Số Huyện Của Tỉnh Bắc Giang Và Biện Pháp Phòng Trị
Hình 3.3. Biểu đồ so sánh tỷ lệ lợn con mắc và chết do tiêu chảy (Trang 76)
Hình 3.4. Biểu đồ so sánh tỷ lệ lợn mắc và chết do tiêu chảy theo lứa tuổi - Phân Lập, Xác Định Vai Trò Gây Bệnh Của Escherichia Coli Trong Hội Chứng Tiêu Chảy Ở Lợn Con Tại Một Số Huyện Của Tỉnh Bắc Giang Và Biện Pháp Phòng Trị
Hình 3.4. Biểu đồ so sánh tỷ lệ lợn mắc và chết do tiêu chảy theo lứa tuổi (Trang 79)
Bảng 3.8. So sánh nguy cơ mắc tiêu chảy giữa các lứa tuổi lợn - Phân Lập, Xác Định Vai Trò Gây Bệnh Của Escherichia Coli Trong Hội Chứng Tiêu Chảy Ở Lợn Con Tại Một Số Huyện Của Tỉnh Bắc Giang Và Biện Pháp Phòng Trị
Bảng 3.8. So sánh nguy cơ mắc tiêu chảy giữa các lứa tuổi lợn (Trang 79)
Bảng 3.10. Kết quả xác định số lượng vi khuẩn E.coli có trong 1gam phân - Phân Lập, Xác Định Vai Trò Gây Bệnh Của Escherichia Coli Trong Hội Chứng Tiêu Chảy Ở Lợn Con Tại Một Số Huyện Của Tỉnh Bắc Giang Và Biện Pháp Phòng Trị
Bảng 3.10. Kết quả xác định số lượng vi khuẩn E.coli có trong 1gam phân (Trang 82)
Bảng 3.11.  Kết quả phân lập vi khuẩn E.coli từ các mẫu phân - Phân Lập, Xác Định Vai Trò Gây Bệnh Của Escherichia Coli Trong Hội Chứng Tiêu Chảy Ở Lợn Con Tại Một Số Huyện Của Tỉnh Bắc Giang Và Biện Pháp Phòng Trị
Bảng 3.11. Kết quả phân lập vi khuẩn E.coli từ các mẫu phân (Trang 84)
Hình 3.5. Biểu đồ kết quả xác định serotype kháng nguyên O của các - Phân Lập, Xác Định Vai Trò Gây Bệnh Của Escherichia Coli Trong Hội Chứng Tiêu Chảy Ở Lợn Con Tại Một Số Huyện Của Tỉnh Bắc Giang Và Biện Pháp Phòng Trị
Hình 3.5. Biểu đồ kết quả xác định serotype kháng nguyên O của các (Trang 90)
Bảng 3.14.  Tỷ lệ các chủng vi khuẩn E.coli mang các gen - Phân Lập, Xác Định Vai Trò Gây Bệnh Của Escherichia Coli Trong Hội Chứng Tiêu Chảy Ở Lợn Con Tại Một Số Huyện Của Tỉnh Bắc Giang Và Biện Pháp Phòng Trị
Bảng 3.14. Tỷ lệ các chủng vi khuẩn E.coli mang các gen (Trang 91)
Hình 3.6. Biểu đồ tỷ lệ các chủng vi khuẩn E.coli mang các gen - Phân Lập, Xác Định Vai Trò Gây Bệnh Của Escherichia Coli Trong Hội Chứng Tiêu Chảy Ở Lợn Con Tại Một Số Huyện Của Tỉnh Bắc Giang Và Biện Pháp Phòng Trị
Hình 3.6. Biểu đồ tỷ lệ các chủng vi khuẩn E.coli mang các gen (Trang 93)
Ảnh 6: Hình thái vi khuẩn E.Coli  Ảnh 7: Khuẩn lạc vi khuẩn E.coli - Phân Lập, Xác Định Vai Trò Gây Bệnh Của Escherichia Coli Trong Hội Chứng Tiêu Chảy Ở Lợn Con Tại Một Số Huyện Của Tỉnh Bắc Giang Và Biện Pháp Phòng Trị
nh 6: Hình thái vi khuẩn E.Coli Ảnh 7: Khuẩn lạc vi khuẩn E.coli (Trang 122)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm