1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên Cứu Xây Dựng Tiêu Chí Rừng Sản Xuất Là Rừng Nghèo Kiệt Được Phép Cải Tạo Để Trồng Rừng Gỗ Lớn, Mọc Nhanh Vùng Tây Bắc

117 314 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 1,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự hình thành và động thái tiến triển của rừng nghèo và rừng phục hồi thứ sinh được gây ra bởi các tác động liên quan với nhau trong một cảnh quan... Vườn rừng thứ sinh secondary forest

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

- -

NGUYỄN QUANG HỒNG

NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG TIÊU CHÍ

RỪNG SẢN XUẤT LÀ RỪNG NGHÈO KIỆT

ĐƯỢC PHÉP CẢI TẠO ĐỂ TRỒNG RỪNG GỖ LỚN,

MỌC NHANH VÙNG TÂY BẮC

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Thái Nguyên, năm 2010

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

-

NGUYỄN QUANG HỒNG

NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG TIÊU CHÍ

RỪNG SẢN XUẤT LÀ RỪNG NGHÈO KIỆT

ĐƯỢC PHÉP CẢI TẠO ĐỂ TRỒNG RỪNG GỖ LỚN,

MỌC NHANH VÙNG TÂY BẮC

Chuyên ngành: Lâm học

Mã số: 60 62 60

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS TS TRẦN VĂN CON

Thái Nguyên, năm 2010

Trang 3

Trong quá trình học tập và thực hiện luận văn, em đã nhận được sự hỗ trợ của tập thể giáo viên Khoa Lâm nghiệp, Khoa Đào tạo sau đại học trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Phòng Nghiên cứu Kỹ thuật lâm sinh, Chi cục Lâm nghiệp các tỉnh trong vùnng, nhân dịp này em xin chân thành cám

ơn về sự quan tâm và giúp đỡ quý báu đó

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và kính trọng đến PGS.TS Trần văn Con với tư cách là người hướng dẫn luận văn đã dành nhiều công sức giúp đỡ

em hoàn thành luận văn

Xin chân thành cám ơn sự động viên, giúp đỡ của gia đình và bạn bè

đồng nghiệp

Học viên

Nguyễn Quang Hồng

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cám ơn i

Mục lục ii

Bảng kê các chữ viết tắt v

Danh mục các hình và biểu đồ vii

Đặt vấn đề 1 Chương 1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 3 2.1 Ngoài nước 3

2.1.1 Quan niệm về rừng nghèo (kiệt) 3

2.1.2 Qui mô và nguyên nhân hình thành rừng thứ sinh nghèo: 5

2.1.3 Các chiến lược phục hồi rừng 11

2.1.4 Cải tạo rừng và một số mô hình cải tạo rừng ở nước ngoài 14

2.2 Trong nước 18

2.2.1 Quan niệm về rừng nghèo kiệt 18

2.2.2 Qui mô và đặc trưng của rừng nghèo ở Việt Nam 20

2.2.3 Các chiến lược quản lý rừng nghèo kiệt ở Việt Nam 26

2.2.4 Một số mô hình cải tạo rừng thành công ở Việt Nan 29

2.3 Thảo luận 33

Chương 2 Mục tiêu, nội dung và phương pháp nghiên cứu 39 2.1 Mục tiêu 39

2.2 Nội dung và giới hạn nghiên cứu 39

2.3 Phương pháp nghiên cứu 40

2.3.1 Phương pháp tổng quát: 40

2.3.2 Các phương pháp cụ thể: 41

Chương 3 Điều kiện cơ bản của vùng nghiên cứu 45 3.1 Vị trí địa lý 45

3.2 Địa hình , địa thế 45

3.3 Khí hậu, thủy văn 45

3.4 Đặc điểm thổ nhưỡng 46

3.5 Hiện trạng tài nguyên rừng 47

3.6 Kinh tế, xã hội 49

3.7 Đánh giá chung 49

Chương 4 Kết qủa và thảo luận 51 4.1 Qui mô và phân bố rừng nghèo kiệt ở vùng Tây Bắc 51

4.1.1 Quan điểm về rừng nghèo kiệt của đề tài 51

4.1.2 Qui mô phân bố rừng nghèo ở vùng Tây Bắc 54

4.2 Các đặc trưng lâm học của rừng nghèo kiệt ở vùng Tây Bắc 57

4.2.1 Trạng thái rừng gỗ nghèo lá rộng thường xanh và nửa rụng lá : 57

4.2.2 Trạng thái rừng gỗ phục hồi lá rộng thường xanh và nửa rụng lá

59

4.2.3 Trạng thái rừng hỗn giao: rừng gỗ + rừng tre nứa: 60

4.3 Đánh giá, lựa chọn các tiêu chí lựa chọn rừng nghèo kiệt để chuyển

đổithành rừng trồng gỗ lớn mọc nhanh 62

Trang 5

4.3.2 Phân loại rừng có khả năng phục hồi và không có khả năng phục hồi

bằng các quá trình tự nhiên 67

4.3.3 Đề xuất các tiêu chí định lượng và định tính cho rừng thứ sinh nghèo

kiệt được phép cải tạo 68

4.4 Đề xuất phương pháp xác định lập địa rừng nghèo kiệt để trồng rừng gỗ

Trang 6

BẢNG KÊ CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CARD Cơ quan hợp tác nghiên cứu và phát triển ÚC

CDB Công ước bảo tồn đa dạng sinh học

CITES Công ước buôn bán động vật hoang dã

ĐTQHR Điều tra qui hoạch rừng

G IS Hệ thống thông tin địa lý

GTZ Cơ quan hợp tác kỹ thuật Đức

ITTO Tổ chức gỗ nhiệt đới quốc tế

JICA Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản

KHSXLN Khoa học sản xuất lâm nghiệp

KNPHR Khoanh nuôi phục hồi rừng

MDF Medium density Fibre (Nhà máy ván ép sợi mật độ

vừa)

NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

ODA Vốn viện trợ chính thức, trực tiếp nước ngoài

P&C&I Bộ tiêu chuẩn QLRBV

PARA Đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia

PTLNBV Phát triển lâm nghiệp bền vững

Trang 7

RPH Rừng phòng hộ

SIDA Cơ quan hợp tác quốc tế Thủy Điển

STTNSV Sinh thái tài nguyên sinh vật

TBKHKT Tiến bộ khoa học kỹ thuật

VKHLNVN Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam

WFP Chương trình lương thực thế giới

WWF Quĩ bảo vệ động vật hoang dã

XTTSTN Xúc tiến tái sinh tự nhiên

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

1.1 Sự khác nhau giữa ba trạng thái chính của rừng ngèo và rừng phục hồi

1.3 Sinh trưởng của các loài cây trồng và cây tái sinh

31

1.4 Sinh trưởng của các loài cây làm giàu tại Kon Hà Nừng

32

1.5 S.o sánh sản xuất bậc một với các thảm thực vật thứ sinh sau khi rừng bị phá ở Việt Nam (Thomasius, 1979):

35

2.1 Phân bố số lượng ôtc trên các dạng rừng và tỉnh điều tra

43

4.1 So sánh một số chỉ tiêu lâm học của các trạng thái rừng

53

4.2 Sai số tương đối ∂ (%) của diện tích RGN và RGPH là RSX ở các vùng và tỉnh điều tra

55

4.3 So sánh diện tích các trạng thái RSX là rừng tự nhiên từ các nguồn khác nhau

55

4.4 Một số chỉ tiêu lâm học của RGN vùng TB

58

4.5 Một số chỉ tiêu lâm học của RGPH vùng TB

59

4.6 Một số chỉ tiêu lâm học của RHG vùng TB

60

4.7 Phân loại rừng có khả năng phục hồi và không có khả năng phục hồi

67

4.8 Tiêu chí các trạng thái rừng theo năng suất

68

4.9 Phân nhóm các tiêu chí xác định đối tượng rừng được phép cải tạo vùng Tây Bắc

69

4.10 Các chỉ tiêu lâm học đối với các loại rừng nghèo được phép cải tạo

71

4.11 Trữ lượng bình quân của rừng Việt Nam

72

Trang 9

a) Theo các kiểu rừng và vùng sinh thái

72

b) Theo các trạng thái rừng và vùng sinh thái

72

DANH MỤC HÌNH Số hiệu hình Nội dung 1.1 Sơ đồ mô phỏng năng suất thực tế và tiềm năng của lập địa có khả năng phục hồi 36

2.1 Sơ đồ bố trí ô tiêu chuẩn điều tra 42

4.1: Sơ đồ so sánh quá trình suy thoái rừng: 58

4.2 Phân bố qui mô diện tích RSX là rừng nghèo ở vùng Tây Bắc 56

4.3: Sơ đồ quá trình lựa chọn các giải pháp lâm sinh trong kinh doanh rừng tự nhiên 66

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ

Nhu cầu gỗ nguyên liệu ngày càng tăng trong khi tiềm năng cung cấp của rừng tự nhiên ngày càng giảm, thực tế này đã thúc đẩy các quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển ở khu vực nhiệt đới gia tăng diện tích rừng trồng Theo một đánh giá lâm nghiệp toàn cầu của FAO năm 2002 thì diện tích rừng trồng trên phạm vi toàn cầu tăng từ 17,8 triệu ha năm 1980 lên 43,6 triệu ha vào năm 1990 và 187 triệu ha năm 2000 FAO ước tính tỷ lệ trồng rừng mới hàng năm trên thế giới vào khoảng 4,5 triệu ha trong đó châu Á chiếm 79%, và Nam Mỹ chiếm 11% Có sự tăng trưởng chắc chắn của diện tích rừng trồng công nghiệp trong giai đoạn 1991-2000, các rừng trồng công nghiệp này chủ yếu là cây gỗ mọc nhanh, như là kết quả việc gia tăng sự tham gia của khu vực tư nhân Ở Việt Nam, diện tích rừng trồng hiện nay đã có trên 2,3 triệu ha và đang gia tăng với tốc độ khá nhanh, trong đó rừng trồng công nghiệp cây mọc nhanh cũng có xu hướng gia tăng kể cả để cung cấp nguyên liệu giấy và cung cấp gỗ lớn Trồng rừng gỗ lớn mọc nhanh là một xu hướng đang được quan tâm nghiên cứu ở Việt Nam Tuy nhiên, một trong những vấn đề khó khăn cho người trồng rừng là quỹ đất để trồng rừng rất hạn chế và ngày càng khan hiếm

Tại Tờ trình số 1699/BNN-LN ngày 8/7/2005 của Bộ NN&PTNT trình Chính phủ phê duyệt đề án trồng rừng nguyên liệu phục vụ cho chế biến, sản xuất sản phẩm gỗ xuất khẩu, trong đó đề xuất giải pháp thực hiện là: xác định trạng thái rừng thứ sinh nghèo kiệt thuộc đối tượng sản xuất không có khả năng phục hồi thành rừng để trồng rừng theo phương thức thâm canh có năng suất, chất lượng cao

Khái niệm rừng giàu, rừng trung bình và rừng nghèo được dùng để chỉ trạng thái (chủ yếu là trữ lượng) của rừng Các chỉ tiêu để phân biệt trạng thái trữ lượng của rừng trong các hệ thống phân loại rừng hiện nay chưa có sự thống nhất Quan niệm thế nào là rừng nghèo kiệt; căn cứ vào các cơ sở khoa

Trang 11

là những vấn đề đang đặt ra rất cấp bách trong thực tiễn quản lý rừng hiện nay Theo các hệ thống phân loại trạng thái rừng hiện tại thì, rừng nghèo kiệt

là rừng tự nhiên thứ sinh có trữ lượng dưới 60 m3/ha Trên thực tế, có một diện tích rất lớn rừng nghèo kiệt không có khả năng phục hồi bằng con đường khoanh nuôi tái sinh tự nhiên Tuy nhiên, theo các qui chế quản lý rừng tự nhiên trước đây thì không cho phép khai hoang rừng tự nhiên nghèo kiệt để trồng lại rừng Do vậy, để tiến hành cải tạo rừng tự nhiên nghèo kiệt trồng lại rừng với năng xuất, chất lượng cao hơn, trên thực tế hiện nay cần giải đáp 3 câu hỏi sau:

(i) Quan niệm thế nào là rừng nghèo kiệt?

(ii) Cơ sở khoa học nào để xây dựng tiêu chí rừng nghèo kiệt?

(iii) Tiêu chí định lượng và định tính của rừng nghèo kiệt như thế nào?

Là hết sức cần thiết Vì vậy, trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ, học

viên chọn đề tài: “Nghiên cứu xây dựng tiêu chí rừng sản xuất là rừng nghèo kiệt được phép cải tạo để trồng rừng gỗ lớn, mọc nhanh vùng Tây Bắc ”với mong muốn đóng góp một phần nhỏ bé vào việc phân tích các cơ sở

lý luận và thực tiễn để đề xuất tiêu chí rừng nghèo kiệt được phép cải tạo để trồng rừng kinh tế, đặc biệt các loài gỗ lớn mọc nhanh

Trang 12

CHƯƠNG I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1 Ngoài nước

2.1.1 Quan niệm về rừng nghèo (kiệt)

Sự suy thoái rừng được hiểu một cách khái quát: là quá trình dẫn đến phá vỡ cấu trúc rừng, mất sự đa dạng của loài cây bản địa, các quá trình sinh thái đặc trưng cho hiện trạng rừng tự nhiên và năng suất của chúng Sự suy thoái rừng có thể xẩy ra ở nhiều hình thức và được biểu hiện ở nhiều qui mô khác nhau Sự suy thoái xẩy ra khi các sự kiện phi tự nhiên gây ra những xáo trộn trong các quá trình tự nhiên làm tổn hại đến sự cân bằng sinh thái Một số tác giả quan niệm suy thoái rừng chỉ bao gồm sự giảm sút hoặc suy yếu khả năng sản xuất gỗ của một diện tích rừng do ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài, đặc biệt là các hoạt động của con người; sự giảm bớt về diện tích không thuộc khái niệm suy thoái rừng (Serna,1986) [28] Một số khác quan niệm suy thoái rừng bao gồm cả sự chuyển đổi mục đích sử dụng rừng và sử dụng rừng theo kiểu bóc lột, dù cho nó thoả mãn các lợi ích kinh tế và xã hội (Wil de Jong, Đỗ Đình Sâm, Triệu Văn Hùng, 2006) [20] Grainger (1988) [23] đã đưa ra khái niệm suy thoái thảm thực vật bằng cách định nghĩa đó là một sự giảm sút tạm thời hoặc vĩnh viễn về mật độ, cấu trúc, tổ thành loài hoặc năng suất của thảm thực vật Sự suy thoái có thể là kết quả của các hoạt động ảnh hưởng trực tiếp đến thảm thực vật (như khai thác, đốt cháy rừng, gió bão) hoặc các thành phần trong hệ sinh thái rừng (HSTR) nhưng không ảnh hưởng trực tiếp đến rừng (như nước, tính chất đất và không khí) Trong môi trường nhiệt đới, suy thoái rừng ở qui mô lớn và cường độ cao là hiện tượng thường xẩy ra do sự bùng nổ về dân số và nhu cầu ngày càng cao về các sản phẩm gỗ nhiệt đới trong quá trình phát triển của các quốc gia Rừng nhiệt đới đang trong quá trình giảm sút với tốc độ chưa từng thấy và dẫn đến các HSTR

bị suy thoái Kết quả của quá trình suy thoái rừng là rừng thứ sinh bị suy thoái (nghèo) Các chỉ thị vật lý chính về mức độ của sự suy thoái rừng được biểu

Trang 13

hiện ở các nhân tố: cấu trúc đứng, mật độ lâm phần, thành phần tổ thành loài

và năng suất như sau:

(i) Cấu trúc đứng của một lâm phần rừng bị suy thoái có thể bị thiếu một vài tầng tán đặc trưng cho rừng nguyên sinh Khai thác là nguyên nhân gây ra sự phá vỡ cấu trúc này vì nhiều cây ở tầng ưu thế đã bị chặt hạ

(ii) Mật độ cây biểu hiện cấu trúc ngang của lâm phần Trong rừng bị suy thoái (rừng nghèo), nó có thể được đặc trưng qua sự khép tán, chất lượng tán,

sự tan vở, mật độ cây và mật độ sinh khối Rừng bị suy thoái so với rừng chưa

bị tác động, thường biểu lộ nhiều lỗ trống hơn Tuy nhiên, rừng chưa bị tác động (nguyên sinh) cũng có thể chứa các lỗ trống do các nguyên nhân tự nhiên như cây bị sét đánh và chết tự nhiên Quá trình khai thác các cây to tạo

ra những lỗ trống lớn Độ tàn che của rừng bị thoái hoá thường không bình thường so với rừng nguyên sinh Việc khai thác quá mức có thể tạo ra rừng thưa gần với cấu trúc trảng cây bụi Rừng bị suy thoái có thể có độ tàn che thấp hơn rừng chưa bị tác động Trong nhiều trường hợp của rừng suy thoái, các lổ trống do chặt cây to sẽ được thay thế bởi các cây bụi có kích thước nhỏ

và chất lượng kém hơn nhiều

(iii) Thành phần tổ thành loài có thể bị biến đổi một cách tạm thời hoặc lâu dài trong rừng bị thoái hoá so với rừng nguyên sinh Việc khai thác các loài

có giá trị thương mại làm giảm tổ thành loài trong rừng Quá trình TSTN có thể bổ sung các loài thứ sinh, hoặc các loài được trồng bổ sung sẽ dẫn đến sự thay đổi trong cấu trúc tổ thành của rừng

(iv) Biến động trong cấu trúc, mật độ và tổ thành loài dẫn đến thay đổi về năng suất sinh học của rừng

Mức độ thay đổi các nhân tố chỉ thị này so với thảm thực vật gốc biểu hiện mức độ suy thoái của rừng; căn cứ vào đó chúng ta có thể xác định hệ thống các chỉ tiêu để phân loại các trạng thái rừng bị suy thoái:

Trang 14

Rừng nguyên sinh => Rừng nguyên sinh bị suy thoái nhẹ => Rừng nguyên sinh bị suy thoái trung bình => Rừng nguyên sinh bị suy thoái mạnh =>Trảng bụi/trảng cỏ => Đất rừng bị thoái hoá (đất tróng)

2.1.2 Qui mô và nguyên nhân hình thành rừng thứ sinh nghèo

Việc thống kê thứ sinh và rừng nghèo thường gặp những khó khăn do các quan niệm và định nghĩa về rừng nghèo và thứ sinh phục hồi ở các nước rất khác nhau Tuy vậy, một số ước lượng về quy mô rừng nghèo và rừng phục hồi cũng đã được đưa ra, ví dụ FAO (1993 [21]) ước tính có 532 triệu ha bằng 29% tổng diện tích rừng nhiệt đới đã bị suy thoái thành rừng nghèo hoặc rừng phục hồi sau khi bị tác động mạnh, Wadsworth (1997) [30] ước lượng trên phạm vi thế giới có khoảng 494 triệu ha rừng nhiệt đới đã bị khai thác kiệt và có đến 402 triệu ha rừng phục hồi sau bỏ hóa nương rẫy ITTO (2002) [24] dựa trên cơ sở số liệu thống kê từ nhiều nguồn khác nhau đã đưa ra một ước lượng về quy mô rừng nhiệt đới bị suy thoái của 77 nước nhiệt đới vào năm 2000 là khoảng 850 triệu ha , xấp xĩ 60% tổng diện tích được thống kê

là rừng nhiệt đới Trong đó khoảng 500 triệu là rừng nghèo và rừng phục hồi thứ sinh và 350 triệu ha rừng hoàn toàn trong giai đoạn từ 1950-2000 Diện tích rừng tự nhiên nhiệt đới bị mất hàng năm, trong những năm 1990 được ước lượng là khảng 15,2 triệu ha, trong đó 14,2 triệu bị chuyển đổi sang các dạng sử dụng đất khác và khoảng 1 triệu ha được phục hồi sau khi ngừng canh tác nông nghiệp bằng quá trình tái sinh tự nhiên (FAO, 2001) [22]

Rừng nghèo, rừng phục hồi thứ sinh và đất rừng bị thoái hóa thường tồn tại trong cảnh quan tổng hợp và luôn luôn biến động Các giai đoạn hiện tại và/hoặc sự phối hợp của các trạng thái rừng này tồn tại rất gần nhau trong không gian và thời gian và thường rất khó phân biệt giữa chúng với nhau Tuy nhiên, mỗi trạng thái đều có những đặc trưng (được mô tả ở bảng 1.1) cần phải được chú ý khi xây dựng các chiến lược quản lý chúng

Sự hình thành và động thái tiến triển của rừng nghèo và rừng phục hồi thứ sinh được gây ra bởi các tác động liên quan với nhau trong một cảnh quan

Trang 15

rộng lớn Các tác động dẫn đến suy thoái rừng tồn tại thông qua sự liên tục của cường độ sử dụng (xem bảng 1.2)

Bảng 1.1 Sự khác nhau giữa ba trạng thái chính của rừng nghèo

thảm thực vật gốc

Cường độ mạnh và lặp lại nhiều lần, mất toàn bộ thảm thực vật gốc, xói mòn đất mặt và thay đổi tiểu khí hậu Các

• Các sự kiện thiên tai như cháy, bão, lũ, lở đất

• Sử dụng qúa mức, cháy rừng lặp đi lặp lại, chăn thả, quản lý kém

và tái sinh, ngoại trừ những nơi có chăn thả hạn chế tái sinh tự nhiên

• Các loài cây củ

thường bị ảnh hưởng (tán, thân), hoặc mất tiềm năng tái sinh

• Một quá trình diễn thế phục hồi

sẽ diễn ra Trong quá trình này có thể phân biệt được nhiều pha hoặc giai đoạn với những đặc trưng thành phần loài, cấu trúc và động thái khác nhau Thành phần loài thay

• Diễn thế phục hồi phát triển rất chậm sau khi rừng bị phá

• Quá trình này thường dẫn từ thảm rừng đến thảm cỏ, cây bụi

trường hợp xấu nhất là đất trống

Trang 16

• Phục hồi chủ yếu

bằng tái sinh tự nhiên bằng chồi hoặc hạt

• Thành phần loài

thay đổi so với rừng nguyên sinh

• Biến động diễn

thế hạn chế so với các vùng bị tác động mạnh

đổi trong kết cấu

ưu thế từ giai đoạn đầu đến giai đoạn cuối của diễn thế

• Bắt đầu một quá trình sinh trưởng nhanh với tốc độ tích lũy sinh khối

• Các loài ưa sáng

tái sinh sau khi bị tác động thường giống như trong rừng nguyên sinh

• Rừng phục hồi

có thành phần loài và ngoại mạo khác hẳn so với nguyên sinh

Các loài ưu thế

ưa sáng mạnh

• Thiếu thảm thực vật rừng, có thể

có rải rác các cây hoặc nhóm cây tiên phong

Trang 17

Bảng 1.2 Các cường độ tác động dẫn tới suy thoái rừng

Giai đoạn sử dụng thấp Giai đoạn khai thác

gỗ, các LSNG quá mức và/hoặc canh tác nương rẫy

* Các vùng rừng nghèo

và rừng phục hồi thứ sinh rộng lớn

* Cảnh quan rừng nghèo

và rừng phục hồi thứ sinh tăng nhanh

* Chỉ còn lại những đám rừng rãi rác trong cảnh quan trống

* Rừng chỉ còn lại ở trên đất rìa khó trồng trọt

* Cảnh quan nông nghiệp chiếm ưu thế

Trong các vườn quốc

gia, khu bảo tồn và một

số vùng xa của Tây

Nguyên, Trung trung bộ

Các vùng Trung du miền núi phía Bắc, Đông nam bộ, Duyên hải miền Trung

Vùng đồi Trung du ở các tỉnh miền núi phía Bắc

Căn cứ theo các nguyên nhân hình thành, có thể chia rừng phục hồi thứ sinh thành các loại sau đây:

(i) Rừng thứ sinh phục hồi sau khai thác kiệt (post-extraction secondary

forests) (RPHSKT): rừng tái sinh sau khi cấu trúc của thảm thực vật gốc bị suy giảm mạnh đến một mức độ nhất định

RỪNG => KHAI THÁC => TÁI SINH

RPHSKT chiếm một diện tích khá lớn ở Việt Nam và chiếm cảnh quan khá lớn ở nhiều vùng sinh thái ở Việt Nam, đặc biệt là ở vùng Tây bắc, địa bàn nghiên cứu của luận án Loại rừng này được hình thành từ rừng nguyên sinh

bị khai thác lặp đi lặp lại nhiều lần trong một thời gian dài mà chủ yếu là do mục đích đáp ứng các nhu cầu tại chổ hơn là khai thác gỗ thương mại

Trang 18

RPHSKT có vai trò quan trong trong việc đáp ứng các nhu cầu tại chổ về LSNG và gỗ củi của các cộng đồng dân địa phương, chúng đang bị đe dọa cao bởi các sức ép của sự gia tăng dân số và các nguyên nhân như: khai thác trái phép, quản lý kém, quyền sử dụng không rõ ràng hoặc chồng chéo, cháy rừng, suy thoái đất và chuyển đổi sang các mục đích sử dụng khác Nói chung là chúng ta đạng thiếu một chính sách thích hợp cho quản lý rừng thứ sinh phục hồi

(ii) Rừng thứ sinh phục hồi sau nương rẫy (swidden fallow secondary forests)

(RPHSNR): rừng tái sinh sau khi canh tác nương rẫy rồi bỏ hóa để chờ chu kỳ canh tác tiếp theo

RỪNG => CHẶT => ĐỐT => CANH TÁC NÔNG NGHIỆP => BỎ HÓA

RPHSNR cũng có diện tích khá lớn ở những vùng có các cộng đồng dân bản địa sống chủ yếu bằng hệ canh tác nương rẫy truyền thống Trong rất nhiều trường hợp, RPHSNR bỏ hóa được coi là đất chưa sử dụng, nhưng trong thực

tế đây là một giai đoạn trong quá trình canh tác nương rẫy truyền thống

(iii) Vườn rừng thứ sinh (secondary forest gardens) (VRTS): là rừng thứ sinh

hình thành từ rừng trồng quản canh quy mô nhỏ hoặc trên đất bỏ hóa sau nương rẫy có trồng bổ sung làm giàu:

RỪNG => RỪNG TRỒNG NHỎ QUẢNG CANH + TÁI SINH TỰ NHIÊN

Hoặc:

RỪNG => CHẶT => ĐỐT => CANH TÁC NN => BỎ HÓA CÓ TRỒNG LÀM GIÀU

Loại rừng này được đặc trưng bởi thành phần cây trồng, và các cây được chăm sóc bảo vệ, nhưng thành phần chủ yếu của chúng vẫn là các cây tái sinh

tự nhiên Rừng trồng quảng canh quy mô nhỏ không được chăm sóc không tốt nhưng quá trình tái sinh tự nhiên đã bổ sung vào thành rừng phục hồi thứ sinh; rừng phục hồi sau nương rẫy có trồng bổ sung làm giàu, ở những nơi có

sự gia tăng công tác chăm sóc, chúng sẽ trở thành hệ canh tác nông lâm kết hợp được gọi là vườn rừng

Trang 19

(iv) Rừng thứ sinh phục hồi sau cháy (post-fire secondary forests) (RPHSC):

rừng tái sinh sau cháy rừng dô nhân tác hoặc tự nhiên

RỪNG => CHÁY => TÁI SINH

Hiện không có số liệu thống kê về loại rừng này, tuy nhiên ở Việt Nam chắc chắn có không ít rừng thứ sinh được phục hồi sau cháy rừng, đặc biệt là ở các kiểu rừng Tràm (ở U Minh Thượng), rừng Thông ở Lâm Đồng và Kon Tum

(v) Rừng thứ sinh phục hồi từ đất rừng thoái hóa (rehabilitated secondary forests): rừng phục hồi thứ sinh từ đất rừng thoái hóa (tức là đất không còn rừng do nhiều nguyên nhân khác nhau) nhờ các nổ lực phục hồi như khoanh nuôi, xúc tiến tái sinh tự nhiên và/hoặc trồng bổ sung

RỪNG => ĐẤT RỪNG BỊ THOÁI HÓA => PHỤC HỒI + TÁI SINH

Một số đặc trưng cơ bản của rừng phục hồi

Quá trình diễn thế phục hồi rừng hoạt động thông qua các chuỗi biến đổi được

mô tả bằng các giai đoạn khác nhau và chúng có thể được phân biệt bằng độ

ưu thế của các nhóm loài cây rừng Các nghiên cứu lâm học về diễn thế phục hồi rừng thường phân biệt 4 giai đoạn như sau:

(1) Giai đoạn tái sinh: giai đoạn này được khởi sự khi rừng bị tác động và

tạo ra những khoảng trống (gaps) Giai đoạn này thường kéo dài đến khoảng

10 đến 15 năm và có thể chia thành 3 pha như đã được mô tả ở mục trên Thành phần tham gia vào quá trình này chủ yếu là các loài tiên phong ưa sáng, mọc nhanh và trong một chừng mực nào đó là các cây con đã tái sinh trong rừng nguyên sinh nhưng do không đủ điều kiện ánh sáng đang ở trong trạng thái bị chèn ép và chờ đợi cơ hội có đủ ánh sáng để phát triển Một số loài cây được tái sinh từ chồi (rễ hoặc gốc) của các cây trong rừng nguyên sinh đã bị chặt Một tán rừng được thiết lập nhanh chóng nhờ sự phát triển rất nhanh của các loài cây bụi tiên phong

(2) Giai đoạn hình thành rừng: Giai đoạn này bắt đầu khi các cây tái sinh đã

lấp đầy khoảng trống tạo thành tán rừng và hình thành tiểu khí hậu của rừng

và tạo điều kiện thuận lợi cho các cây chịu bóng tái sinh và phát triển Tiến

Trang 20

trình của giai đoạn này phụ thuộc vào kích thước ban đầu của các khoảng trống và khả năng tái sinh của lập địa, tổ thành của các cây con tái sinh đã tồn tại và điều kiện phát tán của các loài nhập cư Các loài cây tiên phong ưa sáng chiếm ưu thế tuyệt đối trong giai đoạn này và độ dài chu kỳ sống của chúng quyết định thời gian tồn tại của giai đoạn diễn thế này Khả năng sinh trưởng

về chiều cao là nhân tố quyết định sự thành công hay thất bại của các loài cạnh tranh nhau trong giai đoạn này Đây là giai đoạn mà động thái của rừng diễn ra mạnh nhất và thời gian của giai đoạn này cũng rất ngắn (từ 5 đến 10 năm) và nó sẽ kết thúc khi đại đa số các loài tiên phong có đời sống ngắn bị đào thải

(3) Giai đoạn trưởng thành (cực đỉnh): giai đoạn này bắt đầu khi các loài

chịu bóng và trung tính bắt đầu đạt được vị trí đồng ưu thế hoặc ưu thế trong tán rừng và phần lớn các loài tiên phong đã bị đào thải Chiều cao rừng đạt chiều cao của tán rừng nguyên sinh và lúc này các cây trong tầng ưu thế chủ yếu gia tăng sinh trưởng về đường kính Cạnh tranh sinh trưởng chiều cao chỉ hạn chế ở tầng dưới của rừng Giai đoạn này có thể kéo dài vài thập kỹ nếu không phải là thế kỷ (thường là từ 75-100 năm) Các loài định cư chịu bóng chiếm vai trò chủ đạo trong giai đoạn này và các giai đoạn tiếp theo của rừng trưởng thành

(4) Giai đoạn suy thoái: Giai đoạn này được đặc trưng bởi sự chết cục bộ của

các cây thành thục sinh lý để tạo ra các khoảng trống có kích thước rất khác nhau và các khoảng trống này lại nhanh chóng được lấp đầy bằng quá trình tái sinh (lặp lại giai đoạn 1)

2.1.3 Các chiến lược phục hồi rừng

Phục hồi rừng (PHR) được hiểu một cách khái quát nhất chính là quá

trình ngược lại của sự suy thoái Nếu một khu rừng nguyên sinh bị tác động làm phá vỡ sự cân bằng của nó; với khả năng tự điều chỉnh tự nhiên thì nó luôn luôn có xu hướng vận động quay trở lại trạng thái ban đầu, quá trình này được gọi là diễn thế phục hồi Trong nhiều trường hợp, khi sự tác động quá

Trang 21

mạnh, vượt quá khả năng tự điều chỉnh của HST thì quá trình phục hồi lại trạng thái ban đầu không thể xẩy ra, hoặc xẩy ra rất chậm Lúc này cần đến sự trợ giúp của con người Do đó, hoạt động PHR được hiểu là các hoạt động có

ý thức của con người nhằm làm đảo ngược quá trình suy thoái rừng Để phục hồi lại các HSTR đã bị thoái hoá, chúng ta có rất nhiều lựa chọn tuỳ thuộc vào từng đối tượng và mục đích cụ thể Lamb và Gilmour (2003)[25] đã đưa ra ba chiến lược nhằm làm đảo ngược quá trình suy thoái rừng là cải tạo, khôi phục

và PHR Các khái niệm này được định nghĩa như sau:

- Cải tạo hay là thay thế (reclamation or replacement): khái niệm này

được hiểu là sự tái tạo lại năng suất và độ ổn định của một lập địa bằng cách thiết lập một thảm thực vật hoàn toàn mới để thay thế cho thảm thực vật gốc

đã bị thoái hoá mạnh ở vùng nhiệt đới, các xã hợp thực vật được thay thế này thường đơn giản nhưng lại có năng suất cao hơn thảm thực vật gốc Các lập địa rừng nghèo kiệt, trảng cây bụi… là đối tượng của hoạt động này và cũng

là những cơ hội cho việc thiết lập các rừng công nghiệp sử dụng các loài cây nhập nội sinh trưởng nhanh hơn và có giá trị kinh tế cao hơn so với thảm thực vật gốc Cải tạo rừng là chiến lược lâm sinh thường áp dụng cho đối tượng rừng nghèo kiệt mà khả năng phục hồi không đạt những gì mà chủ rừng mong muốn

- Khôi phục (restoration): hiểu một cách chính xác về mặt lý thuyết thì

khôi phục lại một khu rừng bị suy thoái (rừng nghèo) là đưa khu rừng đó trở

về nguyên trạng ban đầu của nó Đưa về nguyên trạng bao gồm cả các thành phần thực vật, động vật và toàn bộ các quá trình sinh thái dẫn đến sự khôi phục lại hoàn toàn tính tổng thể của HSTR Đây là một định nghĩa quá nhiều tham vọng; chứa đựng nhiều thách thức về mặt kỹ thuật và cũng sẽ rất tốn kém nhưng có thể đạt được xét về mặt sinh thái Tuy nhiên, về mặt thực tế việc khôi phục rừng nghèo có thể được hiểu là một loạt các chiến lược, nhằm chuyển những khu rừng nghèo vào dãy diễn thế đi lên của rừng, để đạt được

Trang 22

các trạng thái mong muốn trong tương lai Khôi phục là chiến lược lâm sinh

thường áp dụng đối với rừng nguyên sinh bị suy thoái

- Phục hồi (rehabilitation): khái niệm PHR được định nghĩa như là gạch

nối (=trung gian) giữa cải tạo và khôi phục Trong trường hợp này, một vài cố gắng có thể được thực hiện để thay thế thành phần dễ thấy nhất của thảm rừng gốc, đó thường là tầng cây cao bao gồm cả các loài bản địa được thay thế bằng các loài có giá trị kinh tế và sinh trưởng nhanh hơn Phục hồi là chiến lược áp dụng cho đối tượng đất rừng đã bị thoái hoá (tức là đất không có

rừng, nó có thể bao gồm các nhóm hoạt động: (i) Trồng rừng (afforestation):

trồng rừng được hiểu là sự chuyển đổi từ đất không có rừng thành rừng thông

qua trồng cây, gieo hạt thẳng hoặc XTTSTN (Smith, 2002) [29] (ii) Trồng lại rừng (reforestation): là hoạt động trồng rừng trên đất không có rừng do bị

mất rừng trong một thời gian nhất định

Như vậy, sự khác nhau giữa trồng lại rừng và trồng rừng nằm ở thời gian không có rừng của đối tượng (=đất trồng rừng), hoạt động trồng rừng ở đối tượng có thời gian rất lâu không phải là rừng thì gọi là trồng rừng; còn hoạt động đó trên đối tượng mới không có rừng trong thời gian ngắn thì gọi là trồng lại rừng Trong nhiều trường hợp, trồng rừng, trồng lại rừng được hiểu đồng nghĩa với sự cải tạo (hay là sự thay thế) Theo chúng tôi thì nên hiểu cải tạo rừng là hoạt động thay thế rừng nghèo kiệt thành rừng trồng có năng suất cao hơn, còn trồng rừng và trồng lại rừng là hoạt động gây lại rừng trên đất trống đồi núi trọc PHR có thể được giải thích như một phương pháp phối hợp giữa các hoạt động thay thế, phục hồi và khôi phục Hoạt động phục hồi có thể thay đổi tuỳ thuộc vào mục đích, điều kiện của đối tượng (=rừng nghèo)

và rừng mong muốn đạt đến Sự lựa chọn chiến lược PHR được quyết định từ các điều kiện cụ thể của rừng hoặc thảm thực vật của lập địa cần phục hồi; do

đó, việc phân loại rừng nghèo để xác định đối tượng cho các chiến lược phục hồi là hết sức quan trọng và có tính quyết định về mặt kỹ thuật

Trang 23

2.1.4 Cải tạo rừng và một số mô hình cải tạo rừng ở nước ngoài

Cải tạo rừng hiểu theo nghĩa rộng là: Thông qua các biện pháp tác động lâm sinh để thay đổi thành phần và cấu trúc của rừng tự nhiên, tuỳ theo mức độ tác động và sự thay đổi của cấu trúc rừng so với trạng thái gốc của nó, người

ta có thể chia thành hai nhóm:

(i) Cải tạo dần dần (chuyển hoá rừng)

(ii) Cải tạo toàn diện

Chuyển hoá: các phương pháp chuyển hoá rừng được chia thành hai phạm

trù:

a Chuyển hoá dần lâm phần thông qua các biện pháp chặt nuôi dưỡng (tỉa thưa cải thiện) và các kỹ thuật làm giàu rừng Các biện pháp này thường áp dụng cho các lâm phần rừng non đến rừng trung niên

b Chuyển hoá rừng dựa vào quá trình tái sinh tự nhiên và hệ thống chặt chọn

để tái cấu trúc lại các thế hệ cây trong lâm phần Các hệ thống lâm sinh thuộc nhóm này bao gồm:

- Chuyển hoá thành rừng có dạng đồng đều cao (Malaysian Uniform system=MUS; Tropical Shelterwood System=TSS; Trinidad TSS; Uniformisation par le haut (nghĩa là phương pháp tỉa thưa đồng hoá); Methode Martineau (khác với các phương pháp trên là không dựa vào quá trình tái sinh tự nhiên mà dựa vào việc trồng bổ sung dưới tán rừng)

- Chuyển hoá rừng thành rừng chặt chọn: trong khi mục tiêu của các phương pháp chuyển vừa nói trên đây là nhằm đồng đều hoá cấu trúc và thành phần loài của lâm phần gốc, thì mục tiêu của các biện pháp sẽ nói đến trong nhóm này là tạo ra một lâm phần có cấu trúc đa tầng theo hệ thống kinh doanh chặt chọn (Philippine Selective Logging System=PSLS); Indonesian Selective Logging System =ISLS; Améleoration des peuplements naturels

=APN nghĩa là: hệ thống cải thiện lâm phần tự nhiên; Queensland System

Một số khía cạnh kỹ thuật cần lưu ý trong các biện pháp lâm sinh chuyển hoá rừng tự nhiên:

Trang 24

+ Loại bỏ dây leo và các loài phi mục đích

để tạo thành rừng có cấu trúc chặt chọn, quản lý bền vững (PSLS và ISLS)

Cải tạo toàn diện: Cải tạo toàn diện được hiểu là việc thay đổi thảm rừng gốc

bằng một lâm phần rừng nhân tạo trên một diện tích tương đối lớn (không thuộc phạm trù lỗ trống) Tức là diện tích rừng củ được khai thác trắng và thiết lập lại thảm rừng mới Cải tạo rừng khác với trồng rừng trên đất trống ở

các khía cạnh sau đây:

- Chặt hạ cây và dọn diện tích được chặt hạ cần nhiều công lao động và

chi phí cho việc này thường vượt quá tiền thu được từ bán gỗ đã khai thác, nhất là những diện tích rừng cải tạo thường là rừng nghèo kiệt, gỗ có giá trị không nhiều Việc nâng cao hiệu quả lao động bằng các phương pháp cơ giới lại thường gặp vấn đề về tác động môi trường (phá vở cấu trúc đất)

- Điều kiện lập địa, ít nhất là các tính chất vật lý của đất thích hợp hơn

cho việc trồng cây rừng so với đất trống (vì đất còn tính chất đất rừng)

Sự đâm chồi và phát triển nhanh của dây leo bụi rậm có thể cạnh tranh với cây mới trồng, nhưng mặt khác lại có tác dụng che phủ đất và tạo môi trường cho quá trình tái sinh tự nhiên để hình thành rừng thứ sinh

Những khía cạnh này sẽ tạo ra sự khác nhau trong kỹ thuật thiết lập và chăm sóc rừng cải tạo so với rừng trồng trên đất không còn rừng; các kết quả thì không khác nhau mấy: thường là tạo ra rừng đồng tuổi, một tầng, độc canh một loài sinh trưởng nhanh (chủ yếu là nhập nội) Có rất nhiều mô hình cải tạo rừng tự nhiên tương tự nhau đã được áp dụng trên toàn thế giới Sâu đây

là một số mô hình điển hình:

Trang 25

(1) Phương pháp limba (Mesthode limba)

Mô hình này được phát triển ở Công Gô và bao gồm các bước sau:

- Khu rừng cải tạo được điều tra và chia thành các lô 1-km2, sau đó chia thành các ô nhỏ 1 ha Trong quá trình điều tra chia lô này, các diện tích không thích hợp cho trồng rừng (đầm lầy, độ dốc quá cao, …) sẽ được loại ra

- Cây bụi ở tầng lâm hạ được phát trắng bằng dao và/hoặc rìu tương tự như phát rẫy Cây (không có giá trị thương mại) có đường kính D1,3 lớn hơn 30

cm được ken chết Công việc này được thực hiện vào đầu mùa khô, vào cuối mùa khô sẽ đốt các vật liệu trên diện tích

- Trên rạch trồng cây, dọn sạch các vật liệu không cháy hết để cuốc hố

- Cự ly trồng 6 x 6 m (một nửa mật độ cuối cùng) hoặc 12 x 12 m (mật độ cuối cùng) Cây con nuôi trong vườn ươm 15-18 tháng đạt chiều cao từ 1-1,5

m kể cả rễ, được cắt thành stump có độ dài 30-35 cm để đem trồng

- Chăm sóc 3 lần trong một năm đối với rừng từ 1-4 tuổi, từ 2-3 lần/năm

đối với rừng có tuổi từ 5-7 tuổi Ở tuổi 7, cây limba (Terminalia superba) đạt

chiều cao trên 10 m, vượt tầng cạnh tranh lâm hạ thì không cần chăm sóc nữa (Catinot, 1965) [1]

(2) Phương pháp okome (Mesthode okoumes)

Mô hình này được áp dụng tại Gabon và khác với mô hình mesthode limba ở

việc áp dụng một loài cây khác (Aucoumea klaineana) và các kỹ thuật sau:

- Máy kéo bánh xích D7 được dùng để ủi các cây nhỏ có đường kính D1,3 dưới 30 cm

- Cự ly trồng: 5 x 4 m dày hơn nhiều so với mật độ cuối cùng là 12 x 12m

- Phương pháp trồng có thể bằng gieo hạt thẳng, cây con có bầu hoặc stumps

- Các biện pháp chăm sóc nhằm mục đích loại bỏ sự cạnh tranh của cây bụi và dây leo đối với cây trồng Cây trồng okoumes cần được giữ ở mật độ dày cho đến khi thấy rõ xu thế phân cành của nó Khó khăn đáng kể nhất là sự

xâm lấn của loài cây Musanga cecropioides) có mặt ở khắp nơi đất trống vì

Trang 26

sự phát triển chồi cực nhanh của chúng Tỉa thưa được tiến hành một lần ở tuổi 15 để có mật độ cuối cùng Luân kỳ kinh doanh của okoumé là 60 năm, với sản lượng từ 60 đến 65 cây có đường kính khoảng 80cm, khoảng từ 200-

300 tấn gỗ vener trên mỗi ha

(3) Các hệ thống nông lâm kết hợp (Taungya systems)

Về nguồn gốc taungya là tên gọi của hệ thống canh tác nương rẫy của người Karen (một bộ tộc miền núi Miến Điện) Theo lời khuyên của nhà thực vật học người Đức Dietrich Brandis từ năm 1855, người nông dân đã gieo hạt Tếch xen vào cây nông nghiệp của họ là lúa cạn và cây bông Sau khi người nông dân bỏ hoá rẫy, rừng Tếch non được chuyển cho cơ quan lâm nghiệp quản lý Sự tham gia trồng Tếch theo cách này của người làm nương rẫy đã tạo ra mô hình cải tạo rừng theo hình thức nông lâm kết hợp dưới cái tên nổi tiềng là Taungya systems Hệ thống này được áp dụng trên qui mô lớn từ năm

1868 khi cơ quan dịch vụ lâm nghiệp Anh đánh giá sự thành công của việc gieo Tếch xen vào đất canh tác rẫy Ngày nay các hệ thống Taungya được sử dụng một cách rộng rải trên toàn vùng nhiệt đới Ngoài Tếch, các loài cây

khác thường được sử dụng trong hệ thống này thường là: Gmelina arborea,

Shorea robusta, Terminalia superba, Cupressus spp Pinus spp và các loài khác Thay vì gieo hạt thẳng, ngày nay người ta thường áp dụng phương pháp trồng cây con có bầu hoặc bằng stumps Hệ thống taungya đã được biến tấu thành nhiều phương án khác nhau, tuy nhiên chúng có một số đặc điểm chính sau đây:

- Thảm rừng gốc được chặt và đốt như để làm nương rẫy;

- Cây lâm nghiệp được trồng xen với cây nông nghiệp, nhiều trường hợp diện tích cải tạo được canh tác thuần nông một vài năm đầu rồi mới trồng rừng

- Khi rừng khép tán, không sản xuất nông nghiệp được nữa thì rừng được giao cho cơ quan lâm nghiệp quản lý

Những ưu, nhược điểm của hệ thống taungya là:

Trang 27

Ưu điểm

- Công việc phát đốt thảm thực vật rừng (rất tốn kém) do người canh tác rẫy thực hiện giảm bớt gánh nặng cho cơ quan lâm nghiệp Đây cũng không phải là đẩy công việc khó khăn cho nông dân, mà là công việc họ vẫn làm khi học muốn làm nương rẫy theo tập quán của họ

- Khi năng suất rẫy giảm sút, thay cho việc bỏ hoá để cây bụi, cỏ dại phát triển là rừng trồng đã được khép tán

- Hoạt động canh tác nương rẫy của đồng bào vùng cao thường bị coi là tàn phá rừng được chuyển thành những người hợp tác, tham gia cải tạo rừng

tự nhiên thành rừng kinh tế một cách hợp pháp

- Đối với những vùng mà mật độ dân số cao, hệ thống taungya có thể là một đóng góp quan trọng để tạo cho những nông dân thiếu đất canh tác có nguồn sống và góp phần nâng cao sản xuất lương thực

- Việc chăm sóc cây nông nghiệp cũng chính là chăm sóc rừng trồng

- Nông dân có cơ hội được tạo công ăn việc làm của các công ty lâm nghiệp để có nguồn thu ổn định

Nhược điểm:

- Người địa phương có thể không hợp tác với các cơ quan nhà nước và không để họ bị kiểm soát, vì họ cảm thấy bị mất quyền tự do sở hữu nguồn tài nguyên mà họ cho là của cha ông họ truyền lại

- Mô hình taungya chỉ có thể thành công khi có sự giám sát phù hợp của

cơ quan nhà nước Tuy nhiên việc giám sát này chỉ có tác dụng lâu dài khi có

sự hợp tác tham gia tích cực, trung thực của cán bộ lâm nghiệp và người dân Điều này thường đòi hỏi một quá trình học hỏi lâu dài của cả hai phía

2.2 Trong nước

2.2.1 Quan niệm về rừng nghèo kiệt

Trong các văn bản pháp qui, các báo cáo chuyên môn liên quan đến tài nguyên rừng ở Việt Nam, người ta thường chia rừng thành 3 nhóm: rừng giàu, rừng trung bình và rừng nghèo căn cứ theo trữ lượng của rừng Các ngưỡng

Trang 28

để phân biệt 3 nhóm rừng theo trạng thái trữ lượng này có sự khác nhau, tuỳ theo từng tác giả hay từng vùng sinh thái (ví dụ ở Tây Nguyên và miền Nam thì ngưỡng để phân biệt cao hơn các vùng phía Bắc) Tuy nhiên, quan niệm chung hiện nay về 3 nhóm rừng này như sau:

• Rừng giàu với trữ lượng trên 150 m3/ha

• Rừng trung bình có trữ lượng từ 80-150 m3/ha

• Rừng nghèo với trữ lượng dưới 80 m3/ha

Trong các biểu thống kê về tài nguyên rừng có tính pháp lý hiện nay thì rừng tự nhiên được chia ra làm 6 loại: (i) Rừng gỗ; (ii) Rừng hỗn giao (bao gồm: a) hỗn giao giữa gỗ và tre nứa và b) hỗn giao giữa cây lá rộng và cây lá kim); (iii) rừng lá kim; (iv) rừng ngập mặn; (v) rừng núi đá; và (vi) Rừng tre nứa

Trong đó, chỉ có rừng gỗ được phân biệt thành 4 trạng thái: (1) rừng giàu; (2) rừng trung bình; (3) rừng nghèo; và (4) rừng phục hồi Việc phân loại các kiểu rừng như vậy chỉ mang tính tương đối và chưa đủ cơ sở khoa học, rất khó khăn trong việc thống kê tài nguyên rừng Bởi vì, các tiêu chí phân loại không đồng nhất (ví dụ: khái niệm rừng gỗ chỉ phân biệt được với rừng tre nứa (chứ không thể phân biệt với rừng lá kim, rừng núi đá, rừng ngập mặn (vì chúng cũng đều là rừng gỗ) Còn khái niệm rừng ngập thì chỉ để phân biệt với rừng khô (không ngập); khái niệm rừng núi đá thì để phân biệt với rừng núi đất, … Chính vì những nhược điểm này trong bảng phân loại rừng

mà các tài liệu thống kê tài nguyên rừng hiện tại không thống nhất với nhau

và rất khó khăn cho việc tổng hợp, phân tích

Khái niệm rừng nghèo trong các văn bản pháp qui hiện được hiểu là rừng thứ sinh đã bị tác động mạnh (tương đương với trạng thái IIIA trong bảng phân loại Loeschau, hay là rừng IIIA1, IIIA2 trong bảng phân loại tạm thời ở Qui phạm 6-84 [11] về thiết kế kinh doanh rừng tự nhiên, có trữ lượng dưới 80 m3/ha Thực ra, khái niệm rừng giàu và nghèo chỉ hàm ý nói về trữ lượng (tài nguyên) rừng, trong lý thuyết về lâm học, khái niệm rừng giàu,

Trang 29

rừng nghèo không phản ánh được thực chất của các quá trình sinh thái Vì:

thứ nhất, với quan niệm rừng theo động thái (Trần Văn Con và cộng sự,

2008) [6] thì các tiêu chí như: kích thước cây (chiều cao, đường kính), sản lượng … không phải là thước đo sự nghèo hay giàu của rừng mà chỉ phản ánh

các giai đoạn phát triển khác nhau của rừng Thứ hai, có những kiểu rừng ở

trạng thái nguyên sinh (=cực đỉnh, chưa bị tác động) vẫn có trữ lượng rất thấp

do tiềm năng sản xuất tự nhiên vốn chỉ như vậy Khi không có tác động của con người (khai thác, đốt nương làm rẫy, …) hoặc các tác động phá hoại tự nhiên (bão lụt, sét đánh, sâu bệnh hại, …) thì thảm thực vật rừng nguyên sinh (=cực đỉnh) là tấm gương phản ánh trung thực năng suất sản xuất tự nhiên của các HSTR Các kiểu thảm thực vật rừng nguyên sinh chưa bị tác động được gọi là cực đỉnh khí hậu-thổ nhưỡng (Thái Văn Trừng, 1970) [18]

Như vậy, xét về mặt lâm học, thì các khái niệm rừng: giàu, rừng trung bình, rừng nghèo phải được thay thế bằng các khái niệm: rừng nguyên sinh, rừng bị suy thoái theo các mức độ khác nhau ( nhẹ-trung bình-mạnh) thì mới

chính xác hơn Khái niệm rừng nghèo kiệt được dùng để chỉ các trạng thái

rừng đã bị khai thác kiệt quệ về năng suất, trữ lượng còn lại của rừng rất thấp

so với ngưỡng qui định của rừng nghèo Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một văn bản có tính chất pháp lý nào định nghĩa một cách chính thức thế nào là rừng nghèo kiệt Vì vậy, các cơ quan quản lý lâm nghiệp cấp tỉnh và các đơn

vị chủ rừng rất lúng túng trong việc xác định đối tượng rừng nghèo kiệt được phép cải tạo thành rừng kinh tế

2.2.2 Qui mô và đặc trưng của rừng nghèo ở Việt Nam

Ở Việt Nam, quá trình mất rừng xẩy ra liên tục từ năm 1943 đến đầu những năm 1990, đặc biệt từ 1976-1990 diện tích rừng tự nhiên giảm mạnh, chỉ trong 14 năm, diện tích rừng bị giảm lên tới 2,7 triệu ha (bằng 24,1% diện tích năm 1976), bình quân mỗi năm mất gần 190 ngàn ha (1,7% /năm) Tuy nhiên, từ năm 1990 trở lại đây, diện tích rừng đã tăng liên tục nhờ trồng rừng

và phục hồi tự nhiên Đến năm 2004, diện tích rừng toàn quốc là 12,3 triệu ha,

Trang 30

trong đó 10 triệu ha rừng tự nhiên và 2,3 triệu ha rừng trồng Theo ước lượng hiện nay diện tích rừng phục hồi sau khai thác kiệt và canh tác nương rẫy ở Việt Nam có khoảng trên dưới 4 triệu ha (Trần Văn Con và cs, 2008) [6]

Đặc trưng cơ bản của rừng nghèo và rừng thứ sinh phục hồi thể hiện qua sự khác nhau trong vòng đời sống và tốc độ sinh trưởng của các loài phụ thuộc vào điều kiện ánh sáng ở các giai đoạn diễn thế Sự khác nhau này có vai trò rất quan trọng trong quá trình diễn thế, nó xác định tập hợp các loài sẽ tồn tại trong các giai đoạn đó Điều kiện ánh sáng dưới tán rừng nghèo kiệt tăng lên (so với rừng nguyên sinh) đã tạo điều kiện cho quá trình tái sinh phục hồi rừng bắt đầu; độ tàn che của rừng được phục hồi một cách nhanh chóng

và điều kiện ánh sáng lại giảm dần trong quá trình diễn thế phục hồi rừng là nguyên nhân chính của sự khác biệt này Giai đoạn đầu của rừng phục hồi được đặc trưng ở sự đồng nhất cao về thành phần loài giữa các lâm phân và

sự khác biệt không lớn ở mức độ tán rừng của tầng trên và tầng dưới Điều này chủ yếu là do sự khác biệt trong vật hậu của các loài thực vật tồn tại ở thời điểm bắt đầu quá trình tái sinh phục hồi của rừng, của hình thức tái sinh (tái sinh chồi hay hạt), cũng như sự có mặt của các loài còn sót lại từ rừng nguyên sinh, chúng có thể quyết định thành phần loài của rừng phục hồi Tuy nhiên, xét trên quy mô một vùng thì ảnh hưởng của các nhân tố môi trường như sự khác nhau về lượng mưa, địa hình, độ cao so với mặt biển sẽ quyết định tốc độ của quá trình diễn thế

Yếu tố quyết định nhất của sự thành công trong giai đoạn tái sinh ở quy

mô một lâm phần lại là điều kiện ánh sáng Các loài cây tham gia vào quá trình diễn thế rừng được chia thành 3 nhóm chính phụ thuộc vào nhu cầu ánh sáng của chúng trong các giai đoạn phát triển, chủ yếu là ở giai đoạn cây non

- Nhóm loài ưa sáng: Là những loài cần ánh sáng hoàn toàn từ lúc ban đầu

cho đến cuối chu kỳ sống của chúng

Trang 31

- Các loài chịu bóng: Là những loài tái sinh dưới tán rừng thiếu ánh sáng

và có thể sống đến cuối đời trong điều kiện che bóng; chúng có thể chịu bóng

ít nhất là ở giai đoạn đầu

- Các loài bán chịu bóng: là các loài có thể tái sinh cả trong điều kiện bị

che bóng và ngoài sáng; nhưng ít nhiều chúng cần ánh sáng hoàn toàn ở giai đoạn trưởng thành

Các loài ưa sáng bao gồm tất cả các loài tiên phong của giai đoạn diễn thế đầu và đặc trưng cho rừng phục hồi tiên phong Các loài này tái sinh rất mạnh trong các lỗ trống lớn và trên diện tích đất trống bỏ hóa sau nương rẫy hoặc sau khai thác trắng Các loài tiên phong thường ra hoa kết quả rất sớm, có chu

kỳ sai quả thường xuyên, khối lượng hạt nhiều và rất dễ phát tán bằng gió, bằng động vật (chim, thú); hạt của chúng chỉ có thể nẩy mầm khi có ánh sáng, dưới tán rừng chúng có thể được lưu giữ rất lâu mà vẫn giữ được khả năng nẩy mầm để khi có điều kiện ánh sáng thì nẩy mầm và phát triển

Các loài chịu bóng lại khác với các loài ưa sáng, chúng có thể nẩy mầm trong điều kiện thiếu ánh sáng dưới tán rừng và cây con có thể tồn tại rất nhiều năm mà không phát triển để chờ đợi cơ hội được cải thiện điều kiện về ánh sáng thì phát triển Khả năng phản ứng với điều kiện môi trường này gọi

là trạng thái ngủ (dormancy) và là một đặc trưng của phần lớn các loài cây định cư của rừng tự nhiên Khả năng sản xuất hạt của các loài trong nhóm này thường không cao bằng các loài thuộc nhóm ưa sáng và trong nhiều trường hợp, chúng thường có chu kỳ sai quả khoảng vài năm một lần Hạt của một số loài trong nhóm này có kích thước lớn và nặng nên thường phát tán bằng

trọng lực Nhóm loài này bao gồm đại diện của các họ như Lauraceae,

Myrtaceae, Fabaceae, Moraceae

Các loài bán chịu bóng được đặc trưng ở khả năng tái sinh trong bóng, tuy nhiên thời gian chịu bóng của cây con tái sinh rất hạn chế, nếu trong một vài năm mà điều kiện ánh sáng không được cải thiện thì chúng sẽ chết mà không

có khả năng ở vào trạng thái ngũ nhiều năm như nhóm loài chịu bóng nói

Trang 32

trên Khi lớp cây tái sinh này bị chết, vụ hạt năm sau lại hình thành lớp cây tái sinh khác thay thế Vì chu kỳ ra quả của các loài cây này tương đối đều, nên dưới tán rừng luôn luôn có các lớp cây con tái sinh để chờ đợi cơ hội có điều kiện ánh sáng là phát triển để vươn lên tầng cây cao Do đặc điểm này mà người ta thướng gọi nhóm loài cây này là nhóm loài du cư (nomads) hoặc cơ hội (opportunists)

Kết quả nghiên cứu động thái diễn thế của rừng phục hồi sau khai thác kiệt

ở tỉnh Hòa Bình (Bùi Chính Nghĩa, Trần Văn Con, 2008) [9] cho thấy: Giai đoạn tái sinh phục hồi rừng có thể kéo dài từ 10 cho đến 15 năm, tùy thuộc vào điều kiện lập địa và chu kỳ đời sống của các loài tiên phong Trong giai đoạn này cấu trúc của rừng thay đổi rất mạnh Xét theo độ nhiều, tần suất và

độ ưu thế có thể phân thành 4 nhóm loài như sau: (i) Nhóm loài cùng có độ nhiều và tần suất xuất hiện cao: đây là đặc trưng của các loài có diện phân bố rộng theo chiều ngang, thuộc nhóm này có các loài như Hoắc quang, Dẻ gai

và Chẹo; (ii) Nhóm loài có độ nhiều lớn nhưng tần suất xuất hiện thấp, chúng đặc trưng cho các loài có xu hướng phân bố theo cụm, các loài trong nhóm này thường gặp theo từng đám phân tán to hoặc nhỏ khác nhau; (iii) Nhóm loài có độ nhiều thấp nhưng tần suất xuất hiện cao kết hợp với độ ưu thế cao Đây là đặc trưng của các cây cá thể có địa vị ưu thế thường ít gặp nhưng phân

bố tương đối đều trên diện rộng; và (iv) Nhóm loài có độ nhiều, tần suất và cả

độ ưu thế đều thấp Tỷ lệ hỗn loài là một trong những chỉ tiêu phản ánh tính

đa dạng về loài của quần thụ thực vật rừng; trong đó tỷ lệ hỗn loài của nhóm loài có độ nhiều tương đối >5% thay đổi rất nhanh trong giai đoạn đầu của diễn thế thứ sinh rừng phục hồi sau khai thác kiệt Rừng phục hồi từ 1-3 năm đầu có hệ số hỗn loài HL2 rất lớn đạt bình quân 1/5 (tức là cứ mỗi 5 cá thể thì

có một loài) và không có sự khác biệt lớn với HL1 Bắt đầu từ tuổi 4 tỷ lệ HL2 giảm rất nhanh và phân biệt khác hẵn với tỷ lệ HL1 Mãi đến tuổi thứ 7 trở lên, tỷ lệ HL2 lại tăng lên chứng tỏ số loài có độ nhiều tương đối >5% bắt đầu tăng lên Như vậy tỷ lệ HL2 là một chỉ tiêu lâm học có thể dùng để phân

Trang 33

biệt các pha diễn thế của rừng phục hồi trong giai đoạn 10 năm đầu, vì nó phản ánh sự thay đổi mạnh trong cấu trúc quần thể của quần thụ rừng phục hồi

Dựa vào tỷ số hỗn loài HL2 đã phân biệt được 3 pha diễn thế trong giai đoạn tái sinh phục hồi rừng sau khai thác kiệt Các đặc điểm lâm học như tổ thành loài, sinh trưởng chiều cao, đường kính và tiết diện ngang biến động mạnh và rất khác nhau trong ba pha diễn thế Pha đầu xẩy ra ở độ tuổi từ 1-3 năm với các loài đặc trưng chủ yếu là cây bụi tiên phong như: Kháo, Ban, Hoắc quang, Dẻ, Thẩu tấu, Mật độ tái sinh rất phong phú Pha 2 (từ 3-7) tuổi được đặc trưng rõ ràng ở sự đồng nhất của quần thể với ưu thế của một vài loài ưa sáng mọc nhanh như Ba soi, Hoắc quang, Chẹo Pha ba bắt đầu từ tuổi

8 được đặc trưng bằng sự đào thải của các loài tiên phong có đời sống ngắn (như Ba soi, Ban…) Các cá thể thuộc nhóm loài trung tính và chịu bóng tăng lên để dần dần thay thế cho các loài tiên phong ưa sáng, như các loài Thôi chanh, Ngũ gia bì, Sồi phảng, Gáo trắng, Thanh thất, Ba chạc lá xoan, Côm rừng, Chân chim, Bồ đề xanh và Xương cá

Nhịp điệu Sinh trưởng chiều cao của rừng phục hồi phản ánh nhịp điệu sinh trưởng của nhóm loài tiên phong ưa sáng, chúng sinh trưởng rất nhanh từ tuổi 1 đến 7, và giảm dần từ tuổi 8 Sinh trưởng nhanh về chiều cao trong giai đoạn đầu dẫn đến sự cạnh tranh khốc liệt trong 2 pha diễn thế đầu làm cho cấu trúc thẳng đứng của rừng liên tục biến động rất mạnh Tổng số cây ghi nhận được ở các cấp tuổi giảm từ trên 92 ngàn cây/ha xuống gần 70 ngàn cây/ha ở cấp tuổi 1-3 đến cấp tuổi từ 10-20 năm, trong đó chỉ có khoảng 7-8%

số cây sống sót để đạt chiều cao từ 1m trở lên Điều này cho thấy số cây mạ tái sinh trong rừng phục hồi là rất lớn, nhưng chúng cũng nhanh chóng bị chết

do quá trình cạnh tranh khốc liệt về ánh sáng và không gian dinh dưỡng Tỷ lệ

số cây tái sinh có chiều cao từ 1-3m sống sót để đạt được chiều cao từ 3-9m ở các cấp tuổi 1-3, 4-7, 8-10 và 11-20 năm tương ứng là 4,8, 9,6, 11,5 và 22%, tăng dần theo cấp tuổi của rừng phục hồi Tổng hợp có tất cả 107 loài được

Trang 34

ghi nhận từ 45 ô tiêu chuẩn điều tra, nhìn chung số cây cá thể và số loài giảm dần khi cấp kính tăng lên Số loài biến động trong các pha diễn thế khá phức tạp, có nhiều loài có mặt ở cấp tuổi nhỏ, nhưng lại không xuất hiện ở các pha tiếp theo và ngược lại nhiều loài chưa xuất hiện ở các pha sớm lại xuất hiện ở các pha sau, đó là các loài mới tái sinh sau khi hoàn cảnh rừng đã được cải thiện về độ ẩm và độ tàn che của rừng

Từ các kết quả nghiên cứu đã thảo luận trên về rừng phục hồi có thể rút ra một số đặc trưng cơ bản của rừng phục hồi như sau: (1) Quá trình tái sinh tự nhiên xẩy ra sau khi có những tác động mạnh là mất cấu trúc rừng nguyên sinh; (2) Tài nguyên rừng có thể được tái tạo; chúng có thể tiếp tục sử dụng

và tái sản xuất; (3) Rừng đang ở trong các giai đoạn phát triển và với sự biến động mạnh về cấu trúc và/hoặc thành phần loài (3) Diện tích rừng phục hồi ngàng càng lớn hơn rừng nguyên sinh rất nhiều và chúng có khả năng cung cấp các dịch vụ môi trường như: bảo vệ đầu nguồn, bảo vệ đất, chống sạt lở, bảo vệ đa dạng sinh học tốt hơn so với rừng trồng và các hệ nông lâm kết hợp

có thành phần tự nhiên ít hơn và cấu trúc đơn giản hơn (4) Rừng phục hồi thứ sinh có thể rất quan trọng đối với các cộng đồng địa phương, chúng là một bộ phận không thể thiếu của các hệ thống sử dụng đất, dễ tiếp cận hơn rừng nguyên sinh (thường còn ở nơi xa, địa hình dốc, hoặc ở các vườn quốc gia, khu bảo tồn), là nơi sinh sống của các loài mong muốn (được bảo vệ và/hoặc trồng), có thể đáp ứng các nhu cầu đa dạng của cộng đồng địa phương như gỗ củi, thức ăn gia súc, rau, quả, lương thực, gỗ xây dựng và cây thuốc và góp phần giảm nhẹ các thiên tai, bảo vệ mùa màng (5) Rừng thứ sinh ngày càng trở nên quan trọng như là nguồn cung cấp chính gỗ và nguyên liệu khi mà tài nguyên rừng nguyên sinh đã bị suy giảm mạnh, nó có thể trở thành nguồn cung cấp chính trong tương lai do việc thiết lập và quản lý rừng trồng đòi hỏi chi phí cao và chịu nhiều rủi ro về sâu bệnh và cháy hơn (6) Để tránh lặp lại vết nhơ mà các nhà bảo vệ môi trường đã cảnh báo đối với việc sử dụng rừng

Trang 35

nguyên sinh trong quá khứ, rừng thứ sinh cần phải được quản lý và sử dụng bền vững hơn cho cả hai mục đích bảo tồn và sản xuất

2.2.3 Các chiến lược quản lý rừng nghèo kiệt ở Việt Nam

Rừng nghèo và rừng nghèo kiệt ở Việt Nam chiếm một tỷ lệ rất lớn trên tổng diện tích rừng tự nhiên ở Việt Nam do đó đã có rất nhiều nổ lực nghiên cứu, tìm kiếm các chiến lược và biện pháp lâm sinh để quản lý đối tương rừng này Các tiến bộ kỹ thuật (TBKHT) đang áp dụng trong quản lý rừng tự nhiên

ở Việt Nam đã được thể chế hoá trong nhiều văn bản qui phạm pháp luật về quản lý, bảo vệ rừng Quan trọng nhất là các văn bản: (i) Qui chế quản lý rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất là rừng tự nhiên được ban hành kèm theo Quyết định số 08/2001/QĐ-TTg ngày 11 tháng 1 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ; qui chế này đã được bổ sung Sửa đổi bằng qui chế mới theo Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ngày 14 tháng 8 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ (ii) Qui phạm thiết kế kinh doanh rừng (QPN6-84) ban hành kèm theo Quyết định số 682B/QĐKT ngày 1 tháng 8 năm 1984 của Bộ trưởng Bộ Lâm nghiệp (cũ) (iii) Qui phạm các giải pháp kỹ thuật áp dụng cho rừng sản xuất gỗ và tre nứa (QPN14-92) ban hành kèm theo Quyết định số 200/QĐKT ngày 31 tháng 3 năm 1992 của Bộ trưởng Bộ Lâm nghiệp (cũ) (iv) Qui phạm phục hồi rừng bằng khoanh nuôi xúc tiến tái sinh (QPN21-98) ban hành kèm theo Quyết định 175/1998/QĐ-BNN/KHCN ngày 4 tháng 11 năm 1998 (v) Qui chế khai thác gỗ và lâm sản ban hành kèm theo Quyết định số 40/2005/QĐ-BNN ngày 7 tháng 7 năm 2006 của Bộ NN&PTNT để thay thế cho và bổ sung cho qui chế ban hành tại Quyết định số 02/1999/QĐ-BNN/PTLN ngày 5 tháng 1 năm 1999

Về phương diện quản lí, Quy phạm QPN14-92 (1993) đề cập đến 5 giải pháp kỹ thuật lâm sinh để kinh doanh rừng sản xuất là rừng gỗ và tre nứa, nhưng chỉ nêu những quy định chung nhất về đối tượng và các nguyên tắc kỹ thuật, khó vận dụng vào điều kiện thực tế ở từng địa phương Về sử dụng giải pháp tái sinh nhân tạo để phục hồi rừng tự nhiên sau khai thác có các nghiên

Trang 36

cứu của: Bùi Đoàn và cs (2001) [8] nghiên cứu về các biện pháp khôi phục rừng tự nhiên ở Long Đại (Quảng Bình); Đỗ Đình Sâm và cs (2001)[12] trong những nghiên cứu, đánh giá các biện pháp tác động vào rừng tự nhiên sau khai thác ở ba địa điểm là Hương sơn, Ba Rền, và Kon Hà Nừng Hồ Đức Soa (2001) [13] qua tổng hợp các đặc điểm rừng tự nhiên trước và sau khai thác

15 năm vùng Kon Hà Nừng, cho biết có sự thay đổi rõ rệt về cấu trúc tổ thành cũng như sự gia tăng số lượng cây tái sinh trên các lâm phần sau khai thác

Hồ Đức Soa, Trần Kế Lâm, Nguyễn Thanh Xuân (2001) [14], qua nghiên cứu nuôi dưỡng rừng tự nhiên vùng bắc Tây Nguyên, cho rằng: rừng giàu và trung bình khai thác với cường độ từ 30 - 50%, kết hợp các biện pháp nuôi dưỡng hợp lí sẽ đảm bảo cho rừng phục hồi tốt cả về chất lượng và trữ lượng Vấn đề này cần phải xem xét thêm, vì nếu khai thác với cường độ lớn đến 50% thì hầu như toàn bộ lớp cây gần thành thục và thành thục bị khai thác hết, rừng bị tàn phá nặng nề, khó phục hồi để đảm bảo luân kì khai thác Theo Nguyễn Bá Chất (2001,2003) [2], để nuôi dưỡng rừng tự nhiên sau khai thác chọn ở Hương Sơn- Hà Tĩnh, nên điều tiết giảm số loài ít giá trị kinh tế và số cây ở các cỡ kính tập trung ( cỡ 8, 12, 16 cm) theo tỉ lệ số cây các cỡ kính với tổng

số cây trên ha ở các lâm phần mẫu, và chặt 20% số cây ít giá trị kinh tế để thúc đẩy sinh trưởng các loài còn lại Các kỹ thuật lâm sinh chủ yếu được sử dụng để phục hồi rừng nghèo kiệt tự nhiên ở Việt Nam là:

a) Kỹ thuật khoanh nuôi xúc tiến tái sinh

Các vấn đề kỹ thuật cần lưu ý trong khoanh nuôi phục hồi rừng là: (i) Lựa chọn, xác định và lượng hóa hệ thống tiêu chuẩn các điều kiện cần và đủ cho khoanh nuôi phục hồi rừng; làm cơ sở cho việc phân loại đối tượng để có các phương thức tổ chức quản lý thích hợp cho rừng khoanh nuôi (ii) Lựa chọn, xác định và lượng hóa hệ thống tiêu chuẩn về trạng thái thực bì và đất đai cho đối tượng tác động bằng khoanh nuôi để có các biện pháp xúc tiến có hiệu quả (iii) Lựa chọn các loài cây ưu tiên bao gồm cây gỗ, cây ăn quả, cây

có giá trị hàng hóa và xác định cơ cấu cây khoanh nuôi thích hợp cho từng

Trang 37

dạng lập địa là đối tượng khoanh nuôi (iv) Qui hoạch vi mô cần được chú ý; thiết kế chi tiết các mô hình nuôi rừng trên từng lập địa vi mô và xây dựng hướng dẫn kỹ thuật cụ thể Hiện tại có hai dạng khoanh nuôi: khoanh nuôi phục hồi rừng không trồng bổ sung và khoanh nuôi phục hồi rừng có trồng bổ sung Khoanh nuôi phục hồi rừng không trồng bổ sung được tiến hành ở các đối tượng có đủ điều kiện cây tái sinh ở nhóm loài mục đích: Biện pháp quản

lý là khoanh, bảo vệ tránh các tác động của con người và súc vật để rừng tự phục hồi bằng quá trình tái sinh, diễn thế tự nhiên Các biện pháp kỹ thuật hỗ trợ ở đây chỉ là: chăm sóc cây mục đích khỏi bị cây cỏ, dây leo xâm hại; có các tác động xúc tiến để thúc đẩy quá trình tái sinh tự nhiên như xử lý thực bì, làm đất để hạt dễ tiếp xúc, nẩy mầm Tất cả các hoạt động hỗ trợ và xúc tiến này chỉ tiến hành cục bộ, trên từng vi lập địa cụ thể với mục đích tạo môi trường tối ưu cho cây mục đích tái sinh và sinh trưởng để chất lượng rừng phục hồi được nâng cao Khoanh nuôi có trồng bổ sung được thực hiện ở những đối tượng mà quá trình tái sinh tự nhiên bị hạn chế do thiếu cây mẹ gieo giống, điều kiện lập địa khắc nghiệt Biện pháp kỹ thuật có thể là gieo hạt bổ sung sau khi đã xử lý đất (ở lập địa tốt, nhưng thiếu cây mẹ gieo giống), hoặc trồng bổ sung ở nơi lập địa không thích hợp cho tái sinh tự nhiên

Trang 38

rừng nhiệt đới chỉ tái sinh ở các lỗ trồng và đều là những loài cây ưa sáng ngay từ giai đoạn non, tối thiểu đòi hỏi cường độ ánh sáng 25% (so với nơi trống hoàn toàn), và nhiều loài đòi hỏi cường độ ánh sáng trên 50%, còn ở giai đoạn “cây sào” đòi hỏi ánh sáng trên 50% hoặc trên 70% Trong rừng rậm nhiệt đới, ánh sáng lọt xuống dưới tán rừng chỉ đạt khoảng 3,5% Nhiều bài học thất bại trong làm giàu rừng chính là do không mở tán kịp thời làm cây trồng bị chết hoặc không sinh trưởng được Để khắc phục những tồn tại trên, cần có những biện pháp xử lý điều tiết ánh sáng phù hợp để đạt hiệu quả của làm giàu rừng Để tăng cường độ ánh sáng cho cây trồng có 2 cách, một

là hạ tầng tán của cây rừng ở các băng chừa, hai là mở rộng rạch hoặc băng Thường người ta hạ tầng tán xuống còn 15-18m, nghĩa là chặt hầu hết cây có đường kính >20cm, chỉ để lại cây có giá trị kinh tế Tăng bề rộng của rạch lên: rạch có bề rộng > 1/2H đối với hướng Đông Tây, > 5/8H đối với hướng Bắc Nam Ở nơi có độ dốc thấp, nên tận dụng tối đa khả năng mở rạch hoặc băng theo hướng Đông Tây, nơi có độ dốc cao, mở băng theo đường đồng mức Chỉ tiến hành làm giàu theo đám đối với các khoảng trống có đường kính tối thiểu bằng 2H Không nên trồng cây vào sát mép của băng hoặc mép của lỗ trống Đối với rạch chỉ trồng một hàng cây, còn đối với băng thì tùy theo bề rộng mà xác định số hàng cho phù hợp Để tránh cây rừng phi mục đích chèn ép cây trồng và tránh thời gian chăm sóc kéo quá dài cần chọn các loài cây mọc tương đối nhanh để đưa vào trồng làm giàu (tốt nhất tăng trưởng chiều cao đạt >1,2m/năm, tối thiểu >1m/năm) Thường xuyên phát cây chèn

ép cây trồng cũng như những cành nhánh từ nền rừng chừa lại, che bóng cây trồng Ở Việt nam làm giàu rừng thành công đối với Giổi, Lát và bước đầu

hứa hẹn đối với Sao, Dầu, Chiêu liêu, Kháo vàng, Dẻ cau, Trám trắng

2.2.4 Một số mô hình cải tạo rừng thành công ở Việt Nam

Có rất nhiều mô hình cải tạo rừng đã thực hiện thành công ở Việt Nam, đề tài chỉ giới thiệu ở đây ba mô hình điển hình để tham khảo cho việc xác định nội dung nghiên cứu của đề tài:

Trang 39

(1) Cải tạo rừng nứa tép bằng cây Chiêu liêu (Terrminalia allata)

- Địa điểm: Trung tâm lâm sinh Cầu Hai

- Diện tích: 10,9 ha trên đất rừng đã giao khoán cho các hộ gia đình quản lý bảo vệ lâu dài

- Dạng thực bì là nứa tép xen lấn với lau, cây bụi, cây tái sinh rải rác Tiến hành phát rạch rộng 3m, chừa lại cây tái sinh, dọn sống

(2) Cải tạo rừng bằng cây Xoan đào (Prunus arborea), Re hương (Cinamomum iner) và cây Dẻ cau (Quercus platycalyx Hickel)

- Địa điểm: Trung tâm Lâm sinh Cầu Hai

- Diện tích 7,7 ha, đã giao khoán cho các hộ bảo vệ và quản lý lâu dài

- Xử lý thực bì: Dạng thực bì là cây bụi, dây leo và cây tái sinh rải rác Tiến

hành phát trắng chừa lại cây tái sinh, dọn sống

- Làm đất cục bộ: kích thước hố 40cm x 40cm x 40cm

- Mật độ trồng: 625 cây/ha (8m x 2m)

- Thời vụ gieo: Xoan đào và Re hương gieo tháng 1 đến tháng 02 năm 1990,

Trang 40

- Thời gian trồng: tháng 2/1991

- Tỉa thưa: đã qua tỉa thưa lần 1 ( tháng 10/1997 )

Kết quả: Mật độ rừng hiện tại: 1100 cây/ha tỉ lệ cây trồng chiếm 50% Kết quả điều tra sinh trưởng một số loài cây trồng và tái sinh của mô hình thể hiện trên bảng 1.3

Bảng 1.3: Sinh trưởng của các loài cây trồng và cây tái sinh

D1.3 (cm)

Tăng trưởng bình quân

D1.3(cm)

HVN (m)

Tăng trưởng bình quân

HVN(m)

Xoan đào (Prunus arborea)

Re hương (Cinamomum iners)

Giẻ cau (Querscus platycalyx)

Tái sinh tự nhiên

10

10

10

15,00 14,85 12,34 11,89

1,55 1,98 1,23

12,6 9,1 8,6 10,43

1,26 0,91 0,86

Qua bảng 1.3 cho thấy:

+ Xoan đào và Re hương sinh trưởng nhanh đặc biệt là sinh trưởng đường kính

+ Cây Giẻ cau là cây sinh trưởng trung bình

+ Cây tái sinh tự nhiên sinh trưởng tốt

+ Có thể dùng cả 3 loài cây để làm cây cải tạo rừng nơi có điều kiện tương tự

(3) Cải tạo rừng bằng cây Giổi, Dó trầm, Trám, Dầu rái…

- Đối tượng: Địa điểm khoảnh 5 tiểu khu thực nghiệm Kon Hà Nừng (Gia Lai) trên địa hình tương đối bằng phẳng; rừng thứ sinh nghèo kiệt phục hồi sau khai thác (khoảng 15 năm) nhưng chất lượng kém; nhiều dây leo, bụi rậm,

Ngày đăng: 28/05/2016, 12:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Catinot R. 1979: Sử dụng trọn ven rừng nhiệt đới có đươc hay không, (Vương Tấn nhị dịch). Tài liệu khoa học Lâm nghiệp, Viện khoa học lâm nghiệp, Hà Nội 1979, tr 1-21 Khác
2. Nguyễn Bá Chất 2001: Vấn đề nâng cao năng suất, chất lượng rừng sản xuất tự nhiên lá rộng thường xanh sau khai thác ở Việt Nam, Nghiên cứu rừng tự nhiên, Nxb Thống kê, Hà Nội, 2001, tr 10 – 35 Khác
3. Trần Văn Con, 2006: Nghiên cứu ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật và các giải pháp nhằm xây dựng mô hình quản lý bền vững rừng tự nhiên ở Tây Nguyên. Báo cáo tổng kết đề tài. Viện Khoa học lâm nghiệp, 2006 Khác
4. Trần Văn Con và cs, 2006: Phục hồi các hệ sinh thái rừng bị thoái hóa- tổng quan kết quả nghiên cứu và phát triển ở Việt Nam. Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội 2006 Khác
5. Trần Văn Con, 2008: Hướng tới một nền lâm nghiệp bền vững, đa chức năng- Nhìn về tương lai dước góc độ lâm học. Nhà xuất bản Xã hội, Hà Nội 2008 Khác
6. Trần Văn Con và cs (2008): Điều tra, đánh giá và xây dựng tiêu chí rừng nghèo kiệt được phép cải tạo để trồng rừng kinh tế theo vùng sinh thái. Báo cáo tổng kết dự án điều tra cơ bản. Viện Khoa học lâm nghiệp, 2008 Khác
7. Nguyễn Văn Đẵng (chủ biên), 2001 Lâm nghiệp Việt nam 1945-2000. Nhà xuất bản Nông nghiệp. Hà Nội, 2001 Khác
8. Bùi Đoàn và cs, 2001: Nhóm sinh thái trong rừng lá rộng thường xanh ở Kon Hà Nừng, Nghiên cứu rừng tự nhiên, Nxb Thống kê, Hà Nội, tr 82 - 93 Khác
9. Bùi Chính Nghĩa, Trần Văn Con (2008): Phương pháp nghiên cứu cấu trúc và động thái của rừng thứ sinh giai đoạn phục hồi. Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Số 10/2008, tr. 77-81 Khác
10. Trần Ngũ Phương, 1978: Bước đầu nghiên cứu rừng miền Bắc Việt Nam. Nhà xuất bản KHKT, Hà Nội 1978 Khác
11. Quyết định số 682B/QĐKT Qui phạm thiết kế kinh doanh rừng (QPN6-84). Ngày 1/ 8 /1984 Khác
14. Hồ Đức Soa và cs, 2001 Nghiên cứu kỹ thuật nuôi dưỡng phục hồi rừng tự nhiên lá rộng vùng Bắc Tây Nguyên&#34 Khác
16. Thông tư 99/2006/TT-BNN Hướng dẫn thực hiện một số điều của qui chế quản lý rừng. Ngày 6/11/2006 Khác
17. Thông tư số 76/2007/TT-BNN Hướng dẫn việc chuyển rừng và đất lâm nghiệp sang trồng cây cao su ở Tây Nguyên. Ngày 21/18 /2007 18. Thái Văn Trừng, 1970: Thảm thực vật rừng Việt Nam. Nhà xuất bảnKHKT, Hà Nội, 1970 Khác
19. Viện Điều tra Qui hoạch rừng, 2006: Báo cáo tổng hợp kết quả chương trình điều tra, đánh giá và theo dõi diễn biến tài nguyên rừng toàn quốc thời kỳ 2001-2005. Hà Nội, 2006 Khác
20. Wil de Jong, Đỗ Đình Sâm, Triệu Văn Hùng, 2006: PHR ở Việt Nam: quá khứ, hiện tại và tương lai. Dự thảo báo cáo dự án, Hà Nội 2006 Khác
21. FAO (1993): Forest Resources Assessment 1990: Tropical countries. FAO Forestry Paper 112. FAO, Rome, Italy Khác
22. FAO (2001): Global Forest Resource Assessment 2000- Main Report. FAO Forestry Paper 140. FAO, Rome, Italy Khác
23. Grainger, A. 1988: Estimating areas of degraded tropical lands requiring replenishment of forest cover. International Tree Crops Journal Vol. 5(1/2) Khác
24. ITTO (2002): ITTO guidelines for the restoration, management and rehabilitation of degraded and secondary tropical forests. ITTO Policy Development Series No 13 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.3:  Sinh trưởng của các loài cây trồng và cây tái sinh. - Nghiên Cứu Xây Dựng Tiêu Chí Rừng Sản Xuất Là Rừng Nghèo Kiệt Được Phép Cải Tạo Để Trồng Rừng Gỗ Lớn, Mọc Nhanh Vùng Tây Bắc
Bảng 1.3 Sinh trưởng của các loài cây trồng và cây tái sinh (Trang 40)
Bảng 1.4: Sinh trưởng của các loài cây làm giàu tại Kon Hà Nừng - Nghiên Cứu Xây Dựng Tiêu Chí Rừng Sản Xuất Là Rừng Nghèo Kiệt Được Phép Cải Tạo Để Trồng Rừng Gỗ Lớn, Mọc Nhanh Vùng Tây Bắc
Bảng 1.4 Sinh trưởng của các loài cây làm giàu tại Kon Hà Nừng (Trang 41)
Hình 1.1: Sơ đồ mô phỏng năng suất thực tế và tiềm năng của lập địa có khả    năng phục hồi - Nghiên Cứu Xây Dựng Tiêu Chí Rừng Sản Xuất Là Rừng Nghèo Kiệt Được Phép Cải Tạo Để Trồng Rừng Gỗ Lớn, Mọc Nhanh Vùng Tây Bắc
Hình 1.1 Sơ đồ mô phỏng năng suất thực tế và tiềm năng của lập địa có khả năng phục hồi (Trang 45)
Hình 2.1. Sơ đồ bố trí ô tiêu chuẩn điều tra - Nghiên Cứu Xây Dựng Tiêu Chí Rừng Sản Xuất Là Rừng Nghèo Kiệt Được Phép Cải Tạo Để Trồng Rừng Gỗ Lớn, Mọc Nhanh Vùng Tây Bắc
Hình 2.1. Sơ đồ bố trí ô tiêu chuẩn điều tra (Trang 51)
Hình 4.1: Sơ đồ so sánh quá trình suy thoái rừng - Nghiên Cứu Xây Dựng Tiêu Chí Rừng Sản Xuất Là Rừng Nghèo Kiệt Được Phép Cải Tạo Để Trồng Rừng Gỗ Lớn, Mọc Nhanh Vùng Tây Bắc
Hình 4.1 Sơ đồ so sánh quá trình suy thoái rừng (Trang 61)
Bảng 4.2. Sai số tương đối ∂ (%) của diện tích RGN và RGPH là RSX - Nghiên Cứu Xây Dựng Tiêu Chí Rừng Sản Xuất Là Rừng Nghèo Kiệt Được Phép Cải Tạo Để Trồng Rừng Gỗ Lớn, Mọc Nhanh Vùng Tây Bắc
Bảng 4.2. Sai số tương đối ∂ (%) của diện tích RGN và RGPH là RSX (Trang 64)
Bảng 4.4. Một số chỉ tiêu lâm học của RGN vùng TB - Nghiên Cứu Xây Dựng Tiêu Chí Rừng Sản Xuất Là Rừng Nghèo Kiệt Được Phép Cải Tạo Để Trồng Rừng Gỗ Lớn, Mọc Nhanh Vùng Tây Bắc
Bảng 4.4. Một số chỉ tiêu lâm học của RGN vùng TB (Trang 67)
Bảng 4.5 cho thấy: - Nghiên Cứu Xây Dựng Tiêu Chí Rừng Sản Xuất Là Rừng Nghèo Kiệt Được Phép Cải Tạo Để Trồng Rừng Gỗ Lớn, Mọc Nhanh Vùng Tây Bắc
Bảng 4.5 cho thấy: (Trang 68)
Hình 4.3: Sơ đồ quá trình lựa chọn các giải pháp - Nghiên Cứu Xây Dựng Tiêu Chí Rừng Sản Xuất Là Rừng Nghèo Kiệt Được Phép Cải Tạo Để Trồng Rừng Gỗ Lớn, Mọc Nhanh Vùng Tây Bắc
Hình 4.3 Sơ đồ quá trình lựa chọn các giải pháp (Trang 75)
Bảng 4.8. Tiêu chí các trạng thái rừng theo năng suất - Nghiên Cứu Xây Dựng Tiêu Chí Rừng Sản Xuất Là Rừng Nghèo Kiệt Được Phép Cải Tạo Để Trồng Rừng Gỗ Lớn, Mọc Nhanh Vùng Tây Bắc
Bảng 4.8. Tiêu chí các trạng thái rừng theo năng suất (Trang 77)
Bảng 4.9. Phân nhóm các tiêu chí xác định đối tượng rừng - Nghiên Cứu Xây Dựng Tiêu Chí Rừng Sản Xuất Là Rừng Nghèo Kiệt Được Phép Cải Tạo Để Trồng Rừng Gỗ Lớn, Mọc Nhanh Vùng Tây Bắc
Bảng 4.9. Phân nhóm các tiêu chí xác định đối tượng rừng (Trang 78)
Bảng 4.10. Các chỉ tiêu lâm học đối với các loại rừng nghèo - Nghiên Cứu Xây Dựng Tiêu Chí Rừng Sản Xuất Là Rừng Nghèo Kiệt Được Phép Cải Tạo Để Trồng Rừng Gỗ Lớn, Mọc Nhanh Vùng Tây Bắc
Bảng 4.10. Các chỉ tiêu lâm học đối với các loại rừng nghèo (Trang 80)
Bảng 4.11. Trữ lượng bình quân của rừng Việt Nam - Nghiên Cứu Xây Dựng Tiêu Chí Rừng Sản Xuất Là Rừng Nghèo Kiệt Được Phép Cải Tạo Để Trồng Rừng Gỗ Lớn, Mọc Nhanh Vùng Tây Bắc
Bảng 4.11. Trữ lượng bình quân của rừng Việt Nam (Trang 81)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w