1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Chế Phẩm Sinh Học Phar - Selenzym Trong Khẩu Phần Ăn Của Lợn Nái Và Hiệu Quả Chăn Nuôi Lợn Thịt

94 356 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 565,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ý nghĩa thực tiễn Sử dụng chế phẩm sinh học vào chăn nuôi đại trà, để mở rộng phát triển chăn nuôi lợn theo định hướng, góp phần vào công tác chuyển giao tiến bộ khoa học, kỹ thuật tron

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

THÁI NGUYÊN, 2010

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

Trang 3

Lời cảm ơn

Trong quá trình thực hiện đề tài tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình,

và những đóng góp ý kiến quý báu để xây dựng và hoàn thiện luận văn này

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, Khoa sau đại học, Khoa chăn nuôi - thú y, các thầy, cô giáo trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, đặc biệt là cô TS Phạm Thị Hiền Lương đã trực tiếp hướng dẫn tôi

Tôi xin trân trọng cảm ơn trang trại chăn nuôi của gia đình ông Trịnh Văn Viên, thôn Chùa, xã Đồng Sơn, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình làm đề tài này

Để góp phần cho việc hoàn thành luận văn đạt kết quả tốt, tôi đã nhận được sự động viên, giúp đỡ của gia đình và bạn bè Tôi xin bày tỏ lòng biết

ơn chân thành trước mọi sự giúp đỡ đó

Thái Nguyên, tháng 9 năm 2010

Tác giả

Hoàng Thị Giang

Trang 4

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thiện luận văn đều đã được cảm ơn Các thông tin, tài liệu trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả

Hoàng Thị Giang

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

Chương 1: Mở đầu 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu của đề tài 2

1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2

1.3.1 Ý nghĩa khoa học 2

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2

Chương 2: Tổng quan tài liệu 3

2.1 Cơ sở khoa học 3

2.1.1 Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái 3

2.1.1.1 Sự thành thục về tính và thành thục về vóc 3

2.1.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của trứng 4

2.1.1.3 Chu kỳ động dục 5

2.1.1.4 Cơ chế động dục và biểu hiện động dục của lợn nái 6

2.1.2 Đặc điểm về khả năng sinh sản của lợn nái 7

2.1.3 Khả năng sản xuất của lợn nái 8

2.1.3.1 Khả năng sinh sản 8

2.1.3.2 Chất lượng đàn con 9

2.1.3.3 Khoảng cách lứa đẻ 10

2.1.3.4 Khả năng tiết sữa của lợn nái 10

2.1.3.5 Tỷ lệ hao hụt của lợn mẹ 13

2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sản xuất của lợn nái 13

2.1.4.1 Giống và cá thể 13

2.1.4.2 Phương pháp nhân giống 14

2.1.4.3 Tuổi và khối lượng khi phối giống 15

Trang 7

2.1.4.4 Thứ tự lứa đẻ 15

2.1.4.5 Kỹ thuật phối giống 15

2.1.5 Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của lợn 16

2.1.5.1 Sự phát triển của lợn 16

2.1.5.2 Các chỉ tiêu đánh giá sự sinh trưởng 16

2.1.5.3 Các quy luật phát triển của lợn 17

2.1.6 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát dục của lợn 19

2.1.6.1 Yếu tố bên trong 19

2.1.6.2 Điều kiện sinh trưởng và phát triển của vật nuôi 21

2.1.7 Cơ sở khoa học nghiên cứu một số chỉ tiêu huyết học ở lợn 23

2.1.8 Những hiểu biết về Selen 25

2.1.8.1 Lịch sử về Selen 25

2.1.8.2 Đặc điểm của Selen 26

2.1.8.3 Vai trò của Selen 27

2.1.8.4 Nhu cầu Selen của gia súc 29

2.1.8.5 Độc tính của Selen 31

2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước 32

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 32

2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 34

2.2.3 Thông tin về chế phẩm Phar - Selenzym 36

Chương 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu 38

3.1 Đối tượng nghiên cứu 38

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 38

3.3 Nội dung nghiên cứu 38

3.4 Phương pháp nghiên cứu 38

3.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 38

3.4.2 Các chỉ tiêu theo dõi lợn nái 41

Trang 8

3.4.3 Các chỉ tiêu theo dõi lợn con và phương pháp xác định 41

3.4.4 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi về sinh trưởng của lợn thịt 42

3.5 Phương pháp xử lý số liệu 44

Chương 4: Kết quả và thảo luận 45

4.1 Ảnh hưởng của chế phẩm sinh học Phar – selenzym đến khả năng kháng bệnh và sức sản xuất của lợn nái 45

4.2 Ảnh hưởng của chế phẩm Phar – selenzym đến sức đề kháng và khả năng sinh trưởng và kháng bệnh của lợn con (SS đến 60 ngày tuổi) 48

4.2.1 Ảnh hưởng của chế phẩm Phar – selenzym đến sức đề kháng của lợn con thí nghiệm 48

4.2.2 Ảnh hưởng của Phar – selenzym đến khả năng sinh trưởng của lợn con thí nghiệm (SS đến 60 ngày tuổi) 51

4.2.2.1 Sinh trưởng tích lũy của lợn con thí nghiệm 51

4.2.2.2 Sinh trưởng tương đối và tuyệt đối của lợn con thí nghiệm 53

4.3 Ảnh hưởng của chế phẩm Phar – selenzym đến khả năng sinh trưởng của lợn nuôi thịt (60 đến 150 ngày tuổi) 58

4.3.1 Sinh trưởng tích lũy 58

4.3.2 Sinh trưởng tuyệt đối của lợn thịt thí nghiệm 60

4.3.3 Sinh trưởng tương đối 63

4.4 Ảnh hưởng của chế phẩm Phar – selenzym đến khả năng chuyển hóa thức ăn của lơn thí nghiệm 64

4.4.1 Tiêu tốn thức ăn tập ăn/kg tăng khối lượng của lợn thí nghiệm từ 10 đến 60 ngày tuổi 65

4.4.2 Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng lợn nuôi thịt (60 đến 150 ngày tuổi) 66

4.4.3 Tiêu tốn năng lượng trao đổi/kg tăng khối lượng của lợn thí nghiệm nuôi thịt 67

Trang 9

4.4.4 Tiêu tốn Protein/kg tăng khối lượng lợn thí nghiệm nuôi thịt 68

4.5 Hiệu quả của việc bổ sung chế phẩm sinh học Phar – selenzym cho lợn nái, lợn con và lợn nuôi thịt 69

Chương 5: Kết luận và đề nghị 72

5.1 Kết luận 72

5.2 Đề nghị 73

6.3 Tồn tại 73

TÀI LIỆU THAM KHẢO 74

Trang 10

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Trang

Bảng 3.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm1 39

Bảng 3.2: Sơ đồ bố trí thí nghiệm2 40

Bảng 4.1: Ảnh hưởng của chế phẩm Phar – selenzym đến sức sản xuất của lợn nái 45

Bảng 4.2: Ảnh hưởng của chế phẩm Phar – selenzym đến khả năng kháng bệnh và tỷ lệ phối đạt sau cai sữa của lợn nái 47

Bảng 4.3: Ảnh hưởng của chế phẩm Phar - selenzym đến khả năng phòng và trị bệnh tiêu chảy của lợn con 48

Bảng 4.4: Khối lượng lợn con qua các kỳ cân 50

Bảng 4.5: Sinh trưởng tuyệt đối của lợn con qua các giai đoạn 52

Bảng 4.6: Sinh trưởng tương đối của lợn con 54

Bảng 4.7: Khối lượng lợn thịt thí nghiệm qua các kỳ cân 56

Bảng 4.8: Sinh trưởng tuyệt đối của lợn thịt 59

Bảng 4.9: Sinh trưởng tương đối của lợn thịt 61

Bảng 4.10: Tiêu tốn thức ăn tập ăn/kg tăng khối lượng từ 10 đến 60 ngày tuổi 63

Bảng 4.11: Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng của lợn thịt thí nghiệm 65

Bảng 4.12: Tiêu tốn năng lượng trao đổi ME/kg tăng khối lượng lợn thịt 66

Bảng 4.13: Tiêu tốn Protein/kg tăng khối lượng lợn thịt 68

Bảng 4.14: Hạch toán chi phí thuốc thú y + chế phẩm sinh học/kg tăng khối lượng lợn con từ sơ sinh đến 60 ngày tuổi 69

Bảng 4.15: Hạch toán chi phí thuốc thú y + chế phẩm sinh học/kg tăng khối lượng lợn nuôi thịt từ 60 đến 150 ngày tuổi 70

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang Hình 4.1: Đồ thị sinh trưởng tích lũy của lợn con từ sơ sinh đến 60 ngày tuổi 53 Hình 4.2: Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của lợn con thí nghiệm giai đoạn từ

sơ sinh đến 60 ngày tuổi 55 Hình 4.3: Sinh trưởng tương đối của lợn con thí nghiệm giai đoạn sơ sinh đến

60 ngày tuổi 57 Hình 4.4: Đồ thị sinh trưởng tích lũy lợn thí nghiệm từ 60 đến 150 ngày tuổi 60 Hình 4.5: Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của lợn thí nghiệm giai đoạn 60 đến

150 ngày tuổi 62 Hình 4.6: Đồ thị sinh trưởng tương đối của lợn thịt thí nghiệm từ 60 dến 150

ngày tuổi 64

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Chăn nuôi lợn chiếm một vị trí quan trọng trong ngành chăn nuôi Có thể nói chăn nuôi lợn là nguồn thu nhập quan trọng của mỗi gia đình Phát triển nghề chăn nuôi lợn nhằm tạo ra nhiều sản phẩm, cung cấp cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu và đang được chú trọng để đáp ứng xu thế hội nhập của nước ta

Mục tiêu phát triển chăn nuôi của nước ta tính đến năm 2010 là giá trị sản phẩm chăn nuôi chiếm 30% và đến 2020 chiếm 35% tổng giá trị sản phẩm nông nghiệp Trong đó, số lượng đàn lợn đến năm 2010 là 35 đến 40 triệu con (H.T.T, 2005) [8]

Hiện nay, chăn nuôi lợn nước ta vẫn đứng trước nhiều khó khăn, đặc biệt

là các tỉnh miền núi phía Bắc Nguyên nhân chính là do giá cả thịt lợn không ổn định, giá thức ăn cao Đặc biệt, dịch bệnh xảy ra quanh năm, gây tổn thất lớn cho ngành chăn nuôi Mặt khác, khi chăn nuôi phát triển mạnh, chất thải chăn nuôi gây ô nhiễm môi trường sống không ngừng gia tăng

Để góp phần giải quyết những vấn đề trên, cần áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật mới Hiện nay, nhiều chế phẩm sinh học, được nhiều nước trên thế giới nghiên cứu và sản xuất, có tác dụng kích thích sinh trưởng của vật nuôi, tăng sức đề kháng cho cơ thể, ổn định hệ vi sinh vật có lợi, đồng thời

ức chế sinh trưởng, phát triển của một số loại vi sinh vật gây bệnh trong đường tiêu hóa của vật nuôi

Phar – Selenzym là một chế phẩm sinh học như vậy Với việc bổ sung chế phẩm vào thức ăn, Phar – Selenzym cung cấp thêm men tiêu hoá, nguyên tố khoáng siêu vi lượng Selen, diệt một số vi khuẩn đường ruột, nấm men, ngăn

Trang 13

cản sự phát triển của E.coli và Salmonella trong đường ruột, do vậy, có tác dụng tốt trong phòng bệnh tiêu chảy, đồng thời làm tăng khả năng sinh trưởng của lợn Để đánh giá được vai trò và hiệu quả kinh tế của chế phẩm sinh học Phar – Selenzym trong thực tiễn chăn nuôi, chúng tôi tiến hành đề tài:

“Nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm sinh học Phar-Selenzym trong khẩu phần ăn đến khả năng sản xuất của lợn nái và hiệu quả chăn nuôi lợn thịt”

2 Mục tiêu của đề tài

- Xác định được vai trò và tác dụng của chế phẩm Phar – Selenzym khi bổ sung vào khẩu phần ăn của lợn nái Trên cơ sở đó, đánh giá được ảnh hưởng của nguyên tốvi lượng Selen đến hệ thống miễn dịch và chức năng sinh sản, nhằm làm tăng khả năng sản xuất của lợn nái

- Xác định được vai trò của Phar – selenzym đến khả năng sinh trưởng và khả năng kháng bệnh của lợn con và lợn thịt

- Thăm dò ảnh hưởng của Phar – selenzym đến khả năng sinh trưởng của lợn thịt

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

3.1 Ý nghĩa khoa học

Xác định được ảnh hưởng của chế phẩm Phar - selenzym đến sức sản xuất của lợn nái, sinh trưởng và kháng bệnh của lợn con, sinh trưởng và chuyển hoá thức ăn của lợn thịt, nhằm nâng cao hiệu quả chăn nuôi, hạ giá thành sản phẩm

và giảm thiểu ô nhiễm môi trường

Kết quả nghiên cứu cho phép sử dụng Phar – selenzym là một sản phẩm

có khả năng nâng cao năng suất và chất lượng thịt lợn, mà không tồn dư trong thịt, gây độc cho người tiêu dùng Ngoài ra, đây còn là cơ sở khoa học cho những nghiên cứu tiếp theo, nhằm ứng dụng rộng rãi các chế phẩm sinh học

Trang 14

trong chăn nuôi Đóng góp thêm những tư liệu khoa học cho giảng dạy và nghiên cứu

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Sử dụng chế phẩm sinh học vào chăn nuôi đại trà, để mở rộng phát triển chăn nuôi lợn theo định hướng, góp phần vào công tác chuyển giao tiến bộ khoa học, kỹ thuật trong lĩnh vực chăn nuôi lợn, nhằm nâng cao khả năng sản xuất ở lợn nái, đồng thời nâng cao năng suất và chất lượng thịt theo hướng tạo ra sản phẩm chăn nuôi an toàn

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở khoa học

1.1.1 Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái

Sinh sản là điều kiện để duy trì nòi giống của tất cả các cơ thể sinh vật sống Ở gia súc, quá trình sinh sản không chỉ là sự truyền thông tin di truyền

từ thế hệ này đến thế hệ khác, mà còn liên quan tới sự điều chỉnh nội tiết, đến các giai đoạn khác nhau của quá trình đó

Hình thức sinh sản ở gia súc là sinh sản hữu tính, ưu thế sinh học của

nó là tạo ra khả năng tái tổ hợp các tính trạng di truyền tốt về năng suất và sức khỏe của cả bố lẫn mẹ, do đó, thế hệ sau có sức sống mạnh hơn, có năng suất cao hơn so với thế hệ trước Nhờ có sinh sản hữu tính mà quá trình chọn giống xảy ra nhanh và hiệu quả hơn

1.1.1.1 Sự thành thục về tính và thành thục về thể vóc

Trang 15

- Sự thành thục về tính: Gia súc phát triển đến một giai đoạn nhất định thì có biểu hiện về tính dục Con đực có khả năng sinh ra tinh trùng, con cái

có khả năng sinh ra tế bào trứng Khi đấy gọi là gia súc đã thành thục về tính

Thời gian thành thục về tính của lợn là 6-7 tháng

- Sự thành thục về thể vóc: Sự thành thục về thể vóc thường diễn ra chậm hơn sự thành thục về tính Sau một thời kỳ sinh trưởng và phát triển, đến một thời điểm nhất định con vật đạt tới độ trưởng thành về thể vóc Có nghĩa là cơ thể đã tương đối hoàn chỉnh về sự phát triển của các cơ quan bộ phận như não đã phát triển khá hoàn thiện, xương đã cốt hóa hoàn toàn, tầm vóc ổn định… Nói một cách khác, khi gia súc đã thành thục về tính thì sự sinh trưởng, phát triển của cơ thể vẫn còn tiếp tục đến độ trưởng thành Tuổi thành thục về thể vóc ở lợn là 6-8 tháng

Đối với gia súc cái nếu phối giống sớm, khi cơ thể mẹ chưa trưởng thành về thể vóc, sẽ có ảnh hưởng xấu như: Trong thời gian có chửa có sự phân tán dinh dưỡng, ưu tiên cho sự phát triển bào thai, nhu cầu dinh dưỡng cho sinh trưởng và phát triển của cơ thể mẹ bị cắt giảm, do đó, sự phát triển của bào thai cũng bị ảnh hưởng Kết quả mẹ yếu, con nhỏ và yếu, tuổi sử dụng con mẹ cũng giảm xuống Hơn nữa, do xương chậu con mẹ chưa phát triển hoàn toàn, nhỏ, hẹp, làm cho con vật khó đẻ

1.1.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của trứng

Sự hình thành và phát triển của trứng: Tế bào trứng hay trứng hình thành trong buồng trứng, nó được phát triển từ các tế bào sinh dục chưa thành thục gọi là noãn nguyên bào (ovogonie) Ở giai đoạn sớm của đời sống cá thể, các noãn nguyên bào trải qua nhiều lần phân bào nguyên nhiễm đến noãn bào sơ cấp Tất cả các tế bào sinh dục chưa chín đó chứa số lượng lưỡng bội NST Các noãn nguyên bào được bao bọc bởi lớp tế bào biểu mô Đến khi thành thục về

Trang 16

tính dưới ảnh hưởng điều hòa của trung khu sinh dục ở vùng dưới đồi (Hypothalamus) thông qua các yếu tố giải phóng kích dục tố RF, kích thích tuyến yên tiết các hormone hướng sinh dục FSH, LH để điều khiển quá trình phát triển nang trứng và rụng trứng

Quá trình phân chia thành thục của trứng được chia làm hai giai đoạn: + Từ noãn bào cấp I (noãn bào sơ cấp) phân chia giảm nhiễm cho ra noãn bào cấp II (noãn bào thứ cấp) và một cầu cực thứ nhất (quá trình xảy ra ngay trước khi rụng trứng)

+ Phân chia lần hai, từ noãn bào cấp II phân chia cho ra noãn bào lớn

đẻ hình thành tế bào trứng và một cầu cực thứ hai, tế bào trứng chín chứa đơn bội NST Các thể cực nhỏ tiêu biến Noãn bào cấp II truyền toàn bộ noãn hoàng cho tế bào trứng

- Những yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của trứng:

giai đoạn phát triển để hình thành trứng chín theo chu kì Dưới tác động của FSH thông qua tương tác hormone-gen, quá trình sinh tổng hợp protein được xúc tiến mạnh mẽ, nang trứng không ngừng ra tăng về kích thước Lớp tế bào hạt phát triển thành nhiều lớp bọc lấy tế bào trứng, FSH gia tăng hiệu ứng kích thích làm cho nang trứng phát triển mạnh mẽ, mặt khác FSH còn kích thích tế bào hạt sản sinh estrogene là hormone sinh dục cái Dịch nang trứng được tạo ra do kích thích tổng hợp của hormone estrogene và tương tác của FSH vào lớp tế bào hạt Áp lực của dịch nang trứng là điều kiện để phá vỡ vỏ nang trứng khi rụng trứng

+ Thức ăn (mức dinh dưỡng) là yếu tố ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của buồng trứng và các bộ phận của đường sinh dục cái nói chung

Trang 17

Theo kết quả nghiên cứu của L.A.Denharog và H.A.M Van Der-Steen

1984 (Hà Lan), ở lợn nái hậu bị có mức dinh dưỡng, khối lượng buồng trứng

và tử cung đều lớn hơn so với nhóm lợn có mức dinh dưỡng thấp (P < 0,01)

Cơ thể có sự ưu tiên hơn về dinh dưỡng cho sự phát triển tế bào sinh dục nhiều hơn tế bào cơ, xương, mỡ, nhưng sự ưu tiên đó phải nằm trong mối tương quan chung về dinh dưỡng có trong cơ thể

+ Giống: Các giống khác nhau chất lượng của quá trình phát triển nang trứng cũng khác nhau do gen quy định

Ngoài ra, còn có các yếu tố khác như: khí hậu, điều kiện chăm sóc… cũng làm ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của trứng

1.1.1.3 Chu kỳ động dục

Khi gia súc cái thành thục về tính, cứ sau mỗi khoảng thời gian nhất định, cơ quan sinh dục của nó có những biến đổi đặc biệt kèm theo sự rụng trứng và động dục Hiện tượng này được lặp đi lặp lại một cách có chu kỳ gọi

là chu kỳ động dục hay chu kỳ tính.

Chu kỳ tính của lợn là 21 ± 4 ngày Trứng rụng vào lúc 36 - 42 giờ sau khi xuất hiện động dục Thời điểm phối giống thích hợp nhất là 24 - 36 giờ sau khi xuất hiện động dục Số trứng rụng từ 16 – 17 tế bào

1.1.1.4 Cơ chế động dục và biểu hiện động dục của lợn nái

Theo Hoàng Toàn Thắng và Cao Văn (2006) [20] thì: Chu kỳ động dục của gia súc được chia làm 4 giai đoạn:

+ Giai đoạn trước động dục: Bao noãn phát triển, các tế bào vách ống dẫn trứng tăng sinh Hệ thống mạch quản trong dạ con phát triển Các tuyến trong dạ con bắt đầu tiết dưới tác dụng của hormone estrogen Thay đổi của đường sinh dục: Tử cung, âm đạo, âm hộ bắt đầu xung huyết

Trang 18

+ Giai đoạn động dục: Bao noãn phát triển mạnh nổi lên bề mặt buồng trứng Bao noãn tiết nhiều estrogen và đạt cực đại Các thay đổi ở đường sinh dục cái càng sâu sắc hơn, để chuẩn bị đón trứng Biểu hiện của con vật: Con vật thể hiện sự hưng phấn tính dục là đứng yên cho con khác nhảy, kêu rống, bồn chồn, thích nhảy lên lưng con khác, ít ăn hoặc bỏ ăn, tìm đực Âm hộ ướt,

đỏ, tiết dịch nhày Càng tới thời điểm rụng trứng thì âm hộ đỏ tím, dịch tiết keo lại, mắt đờ đẫn Cuối giai đoạn này thì trứng rụng

+ Giai đoạn sau động dục: Thể vàng bắt đầu phát triển và tiết ra Progesteron có tác dụng ức chế sự co bóp của đường sinh dục Niêm mạc tử cung vẫn còn phát triển Các tuyến dịch nhờn giảm bài tiết, mô màng nhầy tử cung bong ra cùng với lớp tế bào biểu mô âm đạo hóa sừng thải ra ngoài Biểu hiện hành vi về sinh dục: Con vật không muốn gần con đực không muốn cho con khác nhảy lên Con vật dần trở lại trạng thái bình thường

+ Giai đoạn yên tĩnh: Thể vàng teo dần con vật trở về trạng thái bình

thường Biểu hiện hành vi sinh dục không có Đây là giai đoạn nghỉ ngơi, yên tĩnh để phục hồi lại cấu tạo, chức năng cũng như năng lượng để chuẩn bị cho chu kỳ động dục tiếp theo

1.1.2 Đặc điểm về khả năng sinh sản của lợn nái

Quá trình hoạt động sinh sản của gia súc là do hệ thống thần kinh thể dịch của cơ thể điều tiết, chịu ảnh hưởng của các yếu tố di truyền và ngoại cảnh (thời tiết, khí hậu, thức ăn, dinh dưỡng ) Trong chăn nuôi người ta đánh giá lợn là loài gia súc có khả năng sinh sản cao, thành thục sớm, đẻ dễ và ít gặp khó khăn trong khi đẻ Lợn cái nội 3 - 4 tháng tuổi đã động dục Lợn là loài gia súc đa thai, trong điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng hợp lý có thể đẻ 1,8 - 2,4 lứa/năm và đạt 10 - 12 con/lứa Lợn nái có số vú nhiều, khả năng tiết sữa cao, các giống nội thường có từ

Trang 19

10 vú trở lên, lợn Móng Cái thường có 12 - 16 vú Thời gian chửa đẻ của lợn ngắn

từ 113 - 114 ngày (Nguyễn Thiện và cs, 1998) [24]

* Một số đặc điểm sinh lý của lợn nái chửa cần lưu ý:

Theo Lê Hồng Mận (2002) [13]: Lợn nái chửa sau khi phối giống thụ thai, nhau thai phát triển nhờ vào sự cung cấp dinh dưỡng, hô hấp qua hệ thống tuần hoàn máu mẹ, đồng thời sừng tử cung cũng lớn lên theo nhịp độ phát triển của nhau thai và bào thai Lợn mẹ có bào thai lớn thì lợn con sơ sinh cũng lớn Khối lượng lợn con chiếm 7 – 7,5/10 bào thai

Theo Lê Hồng Mận, Xuân Giao (2001) [14] đã khẳng định: Lợn nái thiếu dinh dưỡng đẻ ra con còi cọc, yếu, chống đỡ với các yếu tố bất lợi của môi trường kém

Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy, khối lượng thai nhi lúc sinh lớn gấp hai lần khối lượng bào thai lúc ba tháng (Ullrey và cs, 1965) Thành phần hóa học của bào thai lợn cũng có sự thay đổi đáng kể theo sự tăng lên của tuổi

giảm dần, trong khi đó, các thành phần như: lipit, protit và các chất khoáng có

xu hướng tăng lên Vì vậy, nuôi dưỡng lợn nái ở thời kỳ cuối rất quan trọng,

nó quyết định đến khối lượng lợn sơ sinh (Trần Văn Phùng và cs,2004)[16] Cũng theo tác giả này cho biết thì tính trong toàn bộ thời gian có chửa cơ thể

mẹ tích lũy được 4000g protein (bình quân 30 – 40 g/con/ngày), những ngày cuối có thể lên tới 100g/ngày

Nguyễn Quang Linh (2005)[11] chỉ rõ: 80 ngày chửa đầu, thai còn bé, nhu cầu dinh dưỡng tăng lên không đáng kể, 34 ngày cuối của thai kỳ, thai phát triển rất nhanh đòi hỏi dinh dưỡng cung cấp cho con mẹ phải cao

1.1.3 Khả năng sản xuất của lợn nái

Trang 20

Theo Nguyễn Thiện và cs (1998) [24]: Việc đánh giá khả năng sản xuất

của lợn nái được thông qua các chỉ tiêu:

1.1.3.1 Khả năng sinh sản

Khả năng sinh sản được đánh giá thông qua các chỉ tiêu sau:

* Số con sơ sinh sống đến 24h/lứa đẻ:

Trong vòng 24h sau khi đẻ những lợn con được sinh ra nếu không đạt trọng lượng sơ sinh trung bình của giống, không phát dục hoàn toàn, đầu to mông bé… thì sẽ bị chết, những lợn con chưa nhanh nhẹn dễ bị mẹ đè chết

Đây là chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật rất quan trọng Nó nói lên khả năng đẻ nhiều con hay ít con của giống, nói lên kỹ thuật chăm sóc lợn nái có chửa và

kỹ thuật thụ tinh của dẫn tinh viên

* Tỷ lệ sống

Tỷ lệ sống được tính theo công thức:

Số con sơ sinh sống đến 24h

Số con đẻ ra còn sống

Trong một ổ lợn nái thường đẻ ra 3 loại:

- Loại đẻ ra còn sống: Số con sơ sinh sống đến 24h = Số con đẻ ra sống

- Số con chết trong 24h

- Loại thai non: là loại thai phát triển không hoàn toàn, đẻ ra như còn

non tháng Loại thai non đã chết trong thời gian có chửa và trước khi sinh ra

Do vậy, số thai non cao trong một lứa đẻ sẽ làm cho số lợn con sơ sinh trong lứa thấp

- Loại thai gỗ: Là loại thai đã chết trong tử cung lúc 35 – 90 ngày tuổi

Thai chết ở giai đoạn này không gây sẩy thai mà các bào thai chết thường khô cứng lại

Trang 21

Số lợn con chết lúc sơ sinh, số thai non, số thai gỗ sẽ là nguyên nhân làm giảm số lượng lợn con sơ sinh sống đến 24h cho một lứa đẻ

* Số lợn con cai sữa trên lứa

Là số lợn con được nuôi sống cho đến khi cai sữa mẹ Thời gian cai sữa dài hay ngắn phụ thuộc vào trình độ chế biến thức ăn cho lợn con

Số lợn con cai sữa trên lứa là chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật rất quan trọng quyết định năng suất của nghề chăn nuôi lợn Nó phụ thuộc vào khả năng tiết sữa của lợn mẹ, kỹ thuật chăn nuôi lợn con theo mẹ cũng như khả năng hạn chế các yếu tố bệnh tật cho lợn con

Số con sống đến cai sữa

Số lợn con để lại nuôi

* Số lợn con cai sữa/nái/năm

Chỉ tiêu này đánh giá tổng quát nhất đối với nghề nuôi lợn nái Nghề nuôi lợn nái có thể thu lãi hay không là nhờ số lượng lợn con cai sữa/nái/năm Nếu tăng số lứa đẻ/nái/năm và tăng số lượng lợn con cai sữa trong mỗi lứa thì

số lượng lợn con cai sữa/nái/năm sẽ cao

1.1.3.2 Chất lượng đàn con

Theo Nguyễn Thiện và cs (1998) [24] cho rằng việc đánh giá chất lượng đàn con dựa vào các chỉ tiêu như sau:

* Khối lượng sơ sinh toàn ổ

Là khối lượng được cân sau khi lợn con được đẻ ra, cắt rốn, lau khô và chưa cho bú sữa lần đầu

Khối lượng sơ sinh toàn ổ là chỉ tiêu đánh giá khả năng nuôi dưỡng thai của lợn mẹ, kỹ thuật chăn nuôi, chăm sóc quản lý và phòng bệnh cho lợn nái chửa

Trang 22

* Khối lượng 21 ngày toàn ổ

Khối lượng toàn ổ lúc 21 ngày tuổi là chỉ tiêu đánh giá tăng trọng của lợn con và là chỉ tiêu đánh giá khả năng tiết sữa của lợn mẹ Khả năng tiết sữa của lợn mẹ đạt cao nhất vào ngày thứ 21, sau đó giảm dần

Theo Phạm Hữu Doanh và cs (2000) [5]: Khối lượng toàn ổ lúc 21 ngày tuổi là chỉ tiêu đánh giá khả năng cho sữa của lợn mẹ Vì sản lượng sữa của lợn mẹ cao nhất lúc 21 ngày tuổi sau khi đẻ Khối lượng toàn ổ cao thì sản lượng tiết sữa của lợn mẹ cao

Lợn con tăng lúc 21 ngày tuổi gấp 5 – 8 lần lúc sơ sinh Nó phụ thuộc vào khả năng tiết sữa và chọn làm giống của lợn nái Đây là thông tin do Hội chăn nuôi Việt Nam (2004) [32]

* Khối lượng toàn ổ lúc cai sữa

Tùy theo khối lượng lợn con khi cai sữa, thời gian bắt đầu cai sữa: 24,

28, 35 ngày, mà người ta chế biến loại thức ăn cho phù hợp

Khối lượng cai sữa có liên quan chặt chẽ đến khối lượng sơ sinh, làm nền tảng và là điểm xuất phát cho khối lượng xuất chuồng

* Tỷ lệ đồng đều của đàn lợn con

Trong một lứa lợn, sự đồng đều giữa các cá thể trong đàn nói lên khả năng nuôi con của lợn mẹ, kỹ thuật chăm sóc và phòng dịch bệnh cho lợn con

Tỷ lệ đồng đều được tính bằng tỷ lệ phần trăm giữa cá thể có khối lượng thấp nhất trong đàn so với cá thể có khối lượng cao nhất trong đàn Sự chênh lệch trọng lượng giữa hai cá thể này càng ít thì tỷ lệ đồng đều càng cao

1.1.3.3 Khoảng cách lứa đẻ

Là thời gian để hoàn thành một chu kỳ sinh sản

Bao gồm: Thời gian chửa + thời gian nuôi con + thời gian chờ động dục lại sau cai sữa và phối giống có chửa

Trang 23

Trong 3 yếu tố trên, thì thời gian mang thai là không thể thay đổi, còn thời gian nuôi con và thời gian chờ phối giống, có thể rút ngắn khoảng cách giữa hai lứa đẻ

1.1.3.4 Khả năng tiết sữa

Khả năng tiết sữa của lợn mẹ là chỉ tiêu đánh giá khả năng nuôi con của lợn mẹ, đặc điểm của giống Giống khác nhau thì khả năng tiết sữa cũng khác nhau

Ngày nay người ta dùng phương pháp lấy khối lượng toàn ổ lúc 21 ngày tuổi hoặc 45 ngày tuổi tùy theo thời gian cai sữa, làm chỉ tiêu đo khả năng tiết sữa của lợn mẹ

Khả năng tiết sữa của lợn mẹ tăng dần từ khi mới đẻ và đạt cao nhất ở ngày thứ 21, sau đó giảm dần

Để lợi dụng khả năng tiết sữa của lợn mẹ, người ta thường cho cai sữa sớm vào ngày thứ 21 hoặc ngày 28, hoặc ngày thứ 42…tùy theo trình độ chăn nuôi của từng cơ sở (Nguyễn Thiện, 1996) [23]

Theo Trần Văn Thịnh, 1982 [22] và cùng nhiều tác giả khác cho rằng thức ăn đầu tiên của lợn con là sữa đầu Sữa đầu có màu trong hơi vàng và đặc tiết ra 2 – 3 ngày đầu sau khi đẻ Trong sữa đầu các thành phần hóa học đều đặc hơn sữa thường: lượng protein gấp 3 lần sữa thường (17 – 18% so với

5 – 6%) Trên 50% protein của sữa đầu là globulin, đặc biệt là γ – globulin Hàm lượng γ – globulin giảm rất nhanh, sau 12 giờ đã giảm đi 3/4, γ – globulin là thành phần quan trọng tạo nên sức đề kháng chống đỡ bệnh tật của lợn con sơ sinh

Theo Trần Văn Cừ, Nguyễn Khắc Khôi và cs, 1985 [3], lượng sữa của lợn mẹ liên quan chặt chẽ đến sự phát triển của tuyến vú, thời kỳ có chửa cũng như sau đẻ một thời gian Trong thời kỳ có chửa, sự phát triển của tuyến

Trang 24

vú chịu tác động của một số hormon các tuyến nội tiết, tuyến sinh dục, tuyến yên, tuyến thượng thận Sau khi đẻ nó phụ thuộc vào số lượng con

Qua nhiều thí nghiệm nghiên cứu cho thấy: lượng sữa mẹ thay đổi tùy theo mức độ dinh dưỡng, giống lợn, số lợn con…

Trong thời kỳ tiết sữa của lợn mẹ (60 ngày) lượng sữa có sự thay đổi qua các tuần tuổi Lượng sữa cao nhất ở tuần thứ 2 và thứ 3 sau khi đẻ

Lợn nái có thể tiết khoảng 300 lít sữa (60 ngày) trong thời kỳ tiết sữa lợn con có thể bú được khoảng 30kg sữa, bình quân mỗi ngày lợn con bú được 550gam và mỗi lần bú là 20 – 25 gam

Sữa lợn mẹ có chất lượng cao, chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết cho nhu cầu của lợn con, và đây là loại thức ăn lý tưởng của lợn con

- Trong thành phần protein của sữa đầu có 11,29% protein huyết thanh

và 5% cazein

- Protein huyết thanh có chứa preanbumin (protein đặc hiệu của sữa) 13,17%, anbumin 11,48%, α – globulin 2,74%, β – globulin 11,29%, γ – globulin 45,29%, γ - Globulin thực hiện chức năng miễn dịch

Thành phần lipit trong sữa lợn rất giống với lipit trong cơ thể lợn Điều này chứng tỏ lipit trong cơ thể lợn dùng để tạo thành mỡ sữa ở tuyến vú của lợn

Hàm lượng chất khoáng trong sữa ít biến đổi, tuy có khuynh hướng hơi tăngvào cuối thời kỳ tiết sữa (chủ yếu là canxi và phôtpho) hàm lượng khoáng toàn phần trong sữa lợn là 7 – 9g/kg sữa

Trong sữa đầu và sữa thường của lợn có chứa nhiều vitamin (trong sữa đầu có chứa nhiều hơn trong sữa thường): A, C, D, B1, B2, PP, B6, B12, Biotin, axit pantotenic

Trang 25

Theo Từ Quang Hiển và cs (2001) [6]: Khả năng tiết sữa của lợn mẹ giảm

rõ rệt sau 3 tuần tiết sữa nuôi con Đồng thời hàm lượng các chất khoáng, đặc biệt là Fe và Ca còn rất ít, không đủ đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của lợn con Lúc này mâu thuẫn giữa khả năng cung cấp sữa của lợn mẹ và nhu cầu dinh dưỡng của lợn con nảy sinh Đó cũng là lúc ta cần bổ sung thức ăn sớm cho lợn con (ngoài sữa)

Theo Từ Quang Hiển và Phan Đình Thắm, 2001 [6]: Nhất thiết lợn con

sơ sinh cần phải được bú sữa đầu giúp cho lợn con có sức đề kháng chống bệnh Trong sữa đầu có albumin và globulin cao hơn sữa thường, đây là các chất chủ yếu giúp cho lợn con có sức đề kháng Vì thế cần cho lợn con bú sữa trong ba ngày đầu, đảm bảo được toàn bộ số con trong ổ được bú hết lượng sữa đầu của lợn mẹ

1.1.3.5 Tỷ lệ hao hụt của lợn mẹ

Lợn mẹ sau khi đẻ, nuôi con cơ thể bị gầy sút do đó ảnh hưởng tới thời gian động dục lại sau cai sữa của lợn mẹ và năng suất của lứa tiếp theo Tỷ lệ hao hụt của lợn mẹ càng thấp càng tốt

Tỷ lệ hao hụt (%) = - x

100

1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sản xuất của lợn nái

1.1.4.1 Giống và cá thể

- Giống là yếu tố quyết định tới sự sản xuất của lợn nái Giống và đặc tính sản xuất của nó gắn liền với năng suất Các giống khác nhau cho năng suất khác nhau

Ví dụ: Lợn Móng Cái đẻ từ 12 – 14 con/lứa

Trang 26

Lợn Ỉ đẻ từ 8 – 10 con/lứa Lợn Yorkshire đẻ từ 11 – 12 con/lứa

- Các cá thể khác nhau có sức sản xuất khác nhau tùy thuộc vào cấu tạo

cơ thể, đặc điểm sinh lý của từng cá thể

1.1.4.2 Phương pháp nhân giống

Việc cải tạo đàn giống địa phương bằng việc tăng cường công tác chọn lọc và lai tạo với các giống lợn nhập nội cao sản như Landrace, Yorkshire…

đã góp phần nâng cao đáng kể năng suất chăn nuôi lợn Các công thức lai kinh tế giữa lợn đực ngoại với cái nội rất có hiệu quả trong các năm qua: Lợn đực Đại Bạch x nái Móng cái, Landrace x Lang Hồng …

Phương pháp nhân giống khác nhau sẽ cho năng suất khác nhau Cho nhân giống thuần chủng thì năng suất của chúng cũng chính là năng suất của giống đó Ví dụ: ♂ Móng Cái x ♀ Móng Cái

♂ Yorkshine x ♀ Yorkshine Cho lai giống thì sẽ cho năng suất cao hơn hai giống gốc Các giống gốc càng thuần thì khi cho lai giống ưu thế lai càng cao

Lai tạo là một biện pháp nhân giống nhằm nâng cao năng suất chăn nuôi và chất lượng sản phẩm thông qua tận dụng ưu thế lai

Hiện nay, có rất nhiều chương trình lai tạo, nhân giống lợn nuôi thịt Thuật ngữ ưu thế lai được nhà khoa học người Mỹ tên là Shull lần đầu tiên đề xuất vào năm 1914 Theo ông, ưu thế lai là tập hợp của những hiện tượng liên quan đến sức phát triển nhanh hơn, khả năng chống chịu bệnh tốt hơn và năng suất cao hơn ở thế hệ đời con so với bố mẹ Tại đó, ưu thế lai coi như là một nguồn lực sinh học để tăng năng suất và hạ giá thành sản phẩm chăn nuôi

Định hướng nghiên cứu và phát triển đàn lợn lai đến năm 2010 phải là

“chọn lọc và nhân thuần các giống lợn ngoại có năng suất và chất lượng cao

Trang 27

theo dòng, có đặc điểm năng suất khác nhau: Dòng có khả năng tăng trọng cao và tỷ lệ nạc nhiều Dòng có khả năng sinh sản tốt và chuyển hóa thức ăn hiệu quả cao” (Nguyễn Thiện và cs, 1998) [24]

1.1.4.3 Tuổi và khối lượng khi phối giống

Đối với lợn cái hậu bị phải thành thục về cả 2 phương diện: Thành thục

về tính và thành thục về thể vóc thì mới được cho phối giống lần đầu

Tuổi phối giống lần đầu đối với các giống lợn khác nhau thì khác nhau: Lợn Ỉ nội tuổi phối giống lần đầu là 5 tháng, lợn ngoại tuổi phối giống lần đầu

là 8-9 tháng khi lợn đạt 100-110kg

Lưu ý: Cái hậu bị động dục lần đầu không nên cho phối ngay mà nên cho phối giống vào lần động dục thứ hai hoặc thứ ba Sở dĩ như vậy vì cho phối giống ở lần động dục đầu tiên sẽ cho tỷ lệ thụ thai thấp, do đó, số lợn con sinh ra trên lứa thấp

1.1.4.4 Thứ tự lứa đẻ

Khả năng sản xuất của lợn nái ảnh hưởng rất nhiều bởi các lứa đẻ khác nhau Lợn cái hậu bị ở lứa đẻ thứ nhất số lượng con trên ổ thấp Sau đó từ lứa thứ hai trở đi sô lợn con trên ổ sẽ tăng dần đến lứa thứ sáu, thứ bảy thì bắt đầu giảm dần

1.1.4.5 Kỹ thuật phối giống

Kỹ thuật phối giống có ảnh hưởng tới số lượng con trên lứa Thời điểm phối giống thích hợp sẽ làm tăng tỷ lệ thụ thai và số con/lứa

Chú ý: Với lợn cái động dục kéo dài 48 giờ thì trứng sẽ rụng vào 8-12 giờ trước khi kết thúc chịu đực, tức là 37-40 giờ sau khi bắt đầu chịu đực

Nếu cho phối giống quá sớm hoặc quá muộn thì tỷ lệ thụ thai và số con sinh ra trên ổ giảm sút nhanh chóng

Trang 28

Đối với đàn lợn hạt nhân chỉ nên cho phối ghép đôi Một lợn cái chỉ cho giao phối với một lợn đực Nhưng để đảm bảo tỷ lệ thụ thai cao và số lượng con trên ổ cao thì nên phối lặp

Đối với đàn lợn lai, sinh con thương phẩm thì có thể cho phối kép, tức

là phối hai lần với hai đực giống khác nhau khoảng cách giữa hai lần phối lặp

và phối kép từ 12-14 giờ cho lợn nái cơ bản, từ 10-12 giờ cho lợn nái hậu bị

1.1.5 Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của lợn

1.1.5.1 Sự sinh trưởng và phát dục của lợn

Theo Trần Đình Miên (1982) [15] sinh trưởng là một quá trình tích luỹ các chất hữu cơ do đồng hoá và dị hoá, là sự tăng về chiều dài, bề ngang, khối lượng của các cơ quan bộ phận và toàn cơ thể con vật trên cơ sở tính chất di truyền từ đời trước Sinh trưởng mang tính chất giai đoạn, biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau Khi nói đến sự sinh trưởng là nói đến sự phát dục

vì 2 quá trình này là đồng thời diễn ra trong cơ thể sinh vật, nếu như sinh trưởng là sự tích luỹ về lượng thì phát dục là sự tích luỹ về chất

Phát dục diễn ra trong quá trình thay đổi về cấu tạo, chức năng, hình thái, kích thước các bộ phận cơ thể Phát dục của cơ thể con vật là quá trình phức tạp trải qua nhiều giai đoạn từ khi trứng rụng tới khi trưởng thành, khi con vật trưởng thành quá trình sinh trưởng chậm lại, sự tăng sinh các tế bào ở các cơ quan, tổ chức không nhiều lắm, cơ thể to ra, béo thêm nhưng chủ yếu

là tích luỹ mỡ, còn tích luỹ cơ thể xem như ở trạng thái ổn định

1.1.5.2 Các chỉ tiêu đánh giá sự sinh trưởng

* Tốc độ sinh trưởng

kinh tế quan trọng hàng đầu trong chăn nuôi lợn thịt Tốc độ sinh trưởng nhanh sẽ góp phần giảm tiêu tốn thức ăn trên 1 kg tăng khối lượng, tỷ lệ thịt

Trang 29

nạc trong thịt xẻ, giảm chi phí trong chăn nuôi… Khả năng sinh trưởng được tính theo gam/ngày hay kg/tháng Tốc độ sinh trưởng của các giống lợn khác nhau là khác nhau Các giống lợn nội có khả năng tăng khối lượng thấp hơn lợn lai và lợn ngoại

Khả năng tăng khối lượng g/ngày tính theo công thức sau:

P lợn lúc kết thúc (g) – P lợn lúc bắt đầu nuôi Tăng khối lượng (g/ngày) =

Số ngày nuôi Trong phạm vi ứng dụng có thể đề cập đến các chỉ tiêu sau đây:

- Sinh trưởng tích luỹ: Là khối lượng cơ thể, kích thước các chiều đo

tăng lên sau một thời gian sinh trưởng

- Sinh trưởng tuyệt đối: Là khối lượng, kích thước của cơ thể gia súc

tăng lên trong một đơn vị thời gian đối với lợn, đơn vị thời gian thường là ngày Sinh trưởng tuyệt đối cho biết mỗi con lợn, mỗi ngày tăng được bao nhiêu gam Giá trị sinh trưởng tuyệt đối càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn

- Sinh trưởng tương đối: Là tỷ lệ % của khối lượng cơ thể hay kích

thước các chiều đo tăng lên của lần khảo sát sau so với lần khảo sát trước

1.1.5.3 Các quy luật phát triển của lợn

Quá trình trưởng phát dục của gia súc nói chung cũng như ở lợn nói riêng đều tuân theo các quy luật sau:

* Quy luật phát triển theo giai đoạn

- Giai đoạn trong thai: Quá trình sinh trưởng trong thai là một phần

quan trọng trong chu kỳ sống của lợn bởi vì thời điểm này có ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển và khả năng sinh sản của lợn Quá trình phát triển trong thai được chia làm ba giai đoạn: giai đoạn phôi thai, tiền thai và bào

Trang 30

thai Giai đoạn phôi thai từ lúc trong thụ tinh đến 22 ngày, đặc điểm của giai đoạn này là hợp tử dịch chuyển và làm tổ ở sừng tử cung (trong vòng 2 ngày đầu tiên), phân chia nhanh chóng thành khối tế bào và thành các lá phôi Giai đoạn tiền thai từ ngày 23 - 39, hình thành nên hầu hết các cơ quan bộ phận trong cơ thể Giai đoạn thai từ ngày 40 đến khi đẻ là giai đoạn phát triển nhanh về kích thước và khối lượng của thai

- Giai đoạn ngoài thai: Giai đoạn ngoài thai được chia thành các thời

kỳ bú sữa, thời kỳ thành thục, thời kỳ trưởng thành và thời kỳ già cỗi Lợn con mới sinh chưa thành thục về sinh lý và thể vóc, có rất nhiều sự thay đổi diễn ra trong thời kỳ đầu tiên sau khi sinh để phù hợp cho cuộc sống của nó sau này Có một số thay đổi và các yếu tố ảnh hưởng đến sự thay đổi đó như khối lượng sơ sinh và số con đẻ ra trên ổ, lượng đường glucoza trong máu, vấn đề điều tiết thân nhiệt, khả năng tiêu hoá và hấp thụ thức ăn, sự thay đổi

về thành phần hoá học của cơ thể theo tuổi

Thời kỳ bú sữa của lợn Việt Nam thông thường là 60 ngày Hiện nay, một số cơ sở chăn nuôi đã tiến hành cai sữa sớm ở 21, 28, 35 hay 45 ngày tuổi, thức ăn của lợn con thời kỳ này là bú sữa mẹ Tuy nhiên, muốn lợn con sinh trưởng nhanh hơn, khối lượng khi cai sữa cao hơn ta phải bổ sung thêm thức ăn Sau khi tách mẹ những ngày đầu thức ăn phải đảm bảo sao cho lợn con tăng trọng đều mỗi ngày như khi bú mẹ Có như vậy, lợn con đưa vào nuôi thịt hay hậu bị không bị chậm lớn Đây là điều kiện để cai sữa sớm cho lợn con có kết quả (Nguyễn Thiện và cs, 1998) [24]

Trên cơ sở nắm vững những đặc điểm và quy luật sinh trưởng, phát dục của gia súc, có thể trong một mức độ nào đó chúng ta tạo điều kiện cho con vật phát triển tốt ngay lúc còn bào thai, nâng cao sức sản xuất và phẩm chất giống sau này

Trang 31

* Quy luật phát triển không đồng đều: Quy luật này thể hiện ở chỗ

cường độ sinh trưởng và tốc độ tăng trọng thay đổi theo tuổi

- Không đồng đều về khả năng tăng khối lượng: Lúc còn non khả năng

tăng khối lượng chậm, sau dó tăng khối lượng nhanh dần, tuỳ theo các giống lợn khác nhau mà tốc độ tăng khối lượng có khác nhau Điều quan trọng nhất

là các nhà chăn nuôi phải biết thời điểm lợn sinh trưởng nhanh nhất để kết thúc vỗ béo cho thích hợp, giảm giá thành sản phẩm chăn nuôi

- Không đồng đều về sự phát triển của các cơ quan bộ phận cơ thể:

Trong quá trình sinh trưởng và phát dục của cơ thể lợn có những cơ quan phát triển nhanh, có cơ quan phát triển chậm hơn

- Không đồng đều về sự tích luỹ của các tổ chức mỡ, nạc, xương: Sự

phát triển của bộ xương có xu hướng giảm dần theo tuổi (tính theo sinh trưởng tương đối); của thịt giữ mức độ bình thường trong giai đoạn đầu sau khi sinh sau đó giảm dần từ tháng thứ 5, sự tích luỹ mỡ tăng dần từ 6 - 7 tháng tuổi Dựa vào quy luật này, các nhà chăn nuôi cần căn cứ vào mục đích chăn nuôi mà quyết định thời điểm giết mổ cho phù hợp để có thể đạt tỷ lệ nạc cao nhất

1.1.6 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng phát dục của lợn

1.1.6.1 Yếu tố bên trong

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [16] cho biết: Yếu tố di truyền là một trong những yếu tố có ý nghĩa quan trọng nhất ảnh hưởng đến sinh trưởng phát dục của lợn Quá trình sinh trưởng phát dục của lợn tuân theo các quy luật sinh học, nhưng chịu ảnh hưởng của các giống lợn khác nhau Do ảnh hưởng của các tuyến nội tiết và hệ thống thần kinh mà hình thành nên sự khác nhau giữa các giống lợn nguyên thuỷ và các giống lợn đã được cải tiến, cũng như các giống lợn thành thục sớm và giống lợn thành thục muộn Sự

Trang 32

khác nhau này không những chỉ khác nhau về cấu trúc tổng thể của cơ thể mà còn khác nhau ở sự hình thành nên các tế bào, các bộ phận của cơ thể và đã hình thành nên các giống lợn có hướng sản xuất khác nhau như: giống lợn hướng nạc, hướng mỡ

Theo quan điểm di truyền học thì hầu hết các tính trạng về sản xuất của gia súc, gia cầm như: Sinh trưởng, cho lông, cho thịt, trứng, sản lượng sữa, sinh sản đều là tính trạng số lượng Tính trạng số lượng là những tính trạng

ở đó có sự sai khác giữa các cá thể là sự sai khác nhau về mức độ hơn là sự sai khác nhau về chủng loại Darwin đã chỉ rõ sự sai khác này chính là nguyên liệu cho quá trình chọn lọc tự nhiên và chọn lọc nhân tạo Tính trạng số lượng còn gọi là tính trạng đo lường (metriccharacter), sự nghiên cứu chúng phụ thuộc vào sự đo lường như: Khối lượng cơ thể, tốc độ tăng trọng, sản lượng trứng, kích thước các chiều đo (Trần Đình Miên và cs, 1982) [15]

Yếu tố thứ hai ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát dục của lợn là quá trình trao đổi chất trong cơ thể Quá trình trao đổi chất xảy ra dưới sự điều khiển của các hormone Hormone tham gia vào tất cả các quá trình trao đổi chất của tế bào và giữ cân bằng các chất trong máu Trong thời kỳ đầu tiên của quá trình sống, kể cả khi chưa có sự hoạt động của tuyến giáp đã có sự tham gia của tuyến ức trong điều khiển quá trình sinh trưởng Về sau điều khiển quá trình sinh trưởng có sự tham gia của tuyến yên Hormone của thuỳ trước tuyến yên STH (somatotropin hormone) là loại hormone rất cần thiết cho sinh trưởng của cơ thể Theo Hoàng Toàn Thắng và cs (2006) [20]: STH

có tác dụng sinh lý chủ yếu kích thích sự sinh trưởng của cơ thể bằng cách làm tăng sự tổng hợp protein và kích thích sụn liên hợp phát triển, tăng tạo xương (nhất là các xương dài) Khi thiếu hoặc thừa loại hormone này sẽ dẫn đến cơ thể quá nhỏ bé (nanismus) hoặc quá to (gigantismus) Vào thời kỳ

Trang 33

thành thục về tính, các hormon sinh dục như hormon của dịch hoàn và buồng trứng (androgen và oestrogen) tham gia vào quá trình điều khiển hoạt động sinh dục của cơ thể và hình thành nên các đặc tính sinh dục thứ cấp Hormone sinh dục của con cái tạo ra từ buồng trứng cũng có tác động đáng kể đến sinh trưởng của lợn Ngoài ra, các loại hormone của các tuyến như tuyến tụy và tuyến thượng thận cũng tham gia điều tiết sự phát triển của bộ xương và cơ Nguyễn Thiện và cs (2005) [25] cho rằng: Giống cũng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát dục, năng suất và phẩm chất thịt Thông thường các giống lợn nội cho năng suất thấp hơn so với những giống lợn ngoại nhập nội Lợn Ỉ, Móng Cái nuôi 10 tháng tuổi trung bình đạt khoảng

60 kg Trong khi đó các giống lợn ngoại (Landrace, Yorkshine…) nuôi tại Việt Nam có thể đạt 90 - 100 kg lúc 6 tháng tuổi

1.1.6.2 Điều kiện sinh trưởng và phát triển của vật nuôi

* Dinh dưỡng: Các yếu tố di truyền không thể phát huy tối đa nếu

không có một môi trường dinh dưỡng và thức ăn hoàn chỉnh Khi chúng ta đảm bảo đầy đủ về thức ăn bao gồm cả số lượng và chất lượng thức ăn thì sẽ góp phần thúc đẩy quá trình sinh trưởng và phát triển của các cơ quan trong

cơ thể Một số thí nghiệm đã chứng minh rằng, khi chúng ta cung cấp cho lợn các mức dinh dưỡng khác nhau có thể làm thay đổi tỷ lệ các phần trong cơ thể, ví như, nếu chúng ta cho lợn ăn khẩu phần có nhiều protein thì tỷ lệ nạc

sẽ cao hơn, và ngược lại, nếu chúng ta cho lợn ăn khẩu phần có nhiều bột đường hoặc nhiều chất béo thì tỷ lệ mỡ trong thịt sẽ tăng lên

* Nhiệt độ và ẩm độ môi trường: Nhiệt độ môi trường không chỉ ảnh

hưởng đến tình trạng sức khoẻ mà còn ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cơ thể Nếu nhiệt độ môi trường không thích hợp, thì sẽ không thể đảm bảo quá trình trao đổi chất diễn ra bình thường, cũng như cân bằng nhiệt

Trang 34

của cơ thể lợn Việc đảm bảo nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp cho các loại lợn khác nhau, phải căn cứ vào khả năng điều tiết thân nhiệt của chúng Một số công trình nghiên cứu chứng minh rằng, khi nhiệt độ nuôi trường xuống thấp

khi nhiệt độ môi trường là 29oC

Khi nhiệt độ chuồng nuôi thấp, lợn sẽ thất thoát nhiệt rất nhiều, vì lẽ

đó, ở lợn con và lợn nuôi thịt sẽ giảm khả năng tăng khối lượng và tăng lượng tiêu tốn thức ăn cho một kg tăng khối lượng Nhiệt độ thích hợp cho lợn nuôi béo từ 15 - 18oC, cho lợn sinh sản không thấp hơn 10 - 11oC Nhìn chung, khi lợn càng lớn, càng trưởng thành thì cơ quan điều tiết thân nhiệt càng hoàn thiện, lớp mỡ dưới da càng dày và nhu cầu về nhiệt càng giảm xuống

Nhiệt độ chuồng nuôi có liên quan mật thiết với ẩm độ không khí, ẩm

độ không khí thích hợp cho lợn ở vào khoảng 70%

* Ánh sáng: Ánh sáng có ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của

lợn Khi nghiên cứu về ảnh hưởng của ánh sáng đối với lợn, người ta thấy rằng, ánh sáng có ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng và phát triển của lợn con, lợn hậu bị và lợn sinh sản hơn là đối với lợn vỗ béo Khi không đủ ánh sáng

sẽ làm ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất của lợn, đặc biệt quá trình trao đổi khoáng Đối với lợn con từ sơ sinh đến 70 ngày nếu không đủ ánh sáng thì tốc độ tăng khối lượng sẽ giảm từ 9,5 - 12%, tiêu tốn thức ăn giảm 8 - 9% so với lợn con được vận động dưới ánh sáng mặt trời

Đối với lợn vỗ béo nhu cầu về ánh sáng thấp hơn, đặc biệt sau khi lợn

ăn xong Trong thực tế ở một số trang trại, người ta đã giảm cường độ chiếu sáng xuống mức tối thiểu cho lợn vỗ béo, đặc biệt cho các giống lợn cao sản (do các giống lợn sinh sản sinh trưởng nhanh, thời gian nuôi ngắn) và cũng

Trang 35

không có một phát hiện nào về ảnh hưởng của thiếu ánh sáng đối với lợn vỗ béo

Việc đảm bảo đủ ánh sáng đối với lợn sinh sản gồm cả lợn đực và lợn nái đều có ý nghĩa rất quan trọng, không chỉ đối với quá trình trao đổi các chất khoáng trong cơ thể, mà còn đối với các chức năng sinh sản, như biểu hiện động dục, sự phát triển của phôi ở lợn nái, việc sinh tinh và các phản xạ nhảy giá của lợn đực Trong chăn nuôi công nghiệp, khi thiết kế chuồng trại cần chú ý đảm bảo đủ ánh sáng theo nhu cầu của các loại lợn, đặc biệt đối với lợn con và lợn sinh sản

* Các yếu tố khác: Ngoài các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát

triển của lợn đã nêu trên, còn có các yếu tố khác như vấn đề chuồng trại, chăm sóc, nuôi dưỡng, tiểu khí hậu chuồng nuôi như: không khí, tốc độ gió lùa, nồng độ các khí thải Nếu chúng ta cung cấp cho lợn các yếu tố đủ theo yêu cầu của từng loại lợn sẽ giúp cho cơ thể lợn sinh trưởng phát triển đạt mức tối đa

1.1.7 Những hiểu biết về Selen

Từ thế kỷ XVIII, đã có những tài liệu bổ sung muối ăn cho vật nuôi nhưng mãi đến thế kỷ XX mới bắt đầu có những công trình nghiên cứu về chất khoáng Nhờ những tiến bộ về kỹ thuật phân tích chất khoáng (phân tích hóa học, quang phổ, huỳnh quang…), ngày càng có nhiều công trình nghiên cứu sâu hơn và toàn diện hơn về vai trò của chất khoáng đối với gia súc, gia cầm

Các nhà khoa học đã chứng minh được vai trò không thể thiếu được của hơn 40 nguyên tố khoáng, quan trọng đối với quá trình trao đổi chất của gia súc, gia cầm

Chất khoáng có 3 vai trò chính đối với cơ thể sống:

Trang 36

+ Hầu hết chúng có vai trò xúc tác các phản ứng sinh hóa trong tế bào + Chất khoáng giữ vai trò cân bằng điện giải, ổn định pH máu và dịch

tế bào, duy trì áp suất thẩm thấu cũng như tham gia các hoạt động thần kinh

+ Chất khoáng còn tham gia cấu trúc các đại phân tử trong tế bào sống cũng như trong mô bào

1.1.7.1 Lịch sử về Selen

Selen được phát hiện vào năm 1817, do các nhà hóa học người Thụy Điển Jons Jakop Berzelius, ông tìm thấy nguyên tố này gắn liền với (trái đất) Selen theo tiếng Hy Lạp có nghĩa là mặt trăng

Một thế kỷ sau, vai trò quan trọng của nó được xác định bởi Schwars

và Foltz Hai nhà khoa học đã phát hiện và chứng minh rằng selen ở liều lượng 400µg tính ra cho một kg thức ăn có tác dụng mạnh hơn VTM E 500 lần, hơn các axit amin chứa lưu huỳnh 25000 lần Selen trở lên một yếu tố quan trọng của dinh dưỡng người và thực vật

Những công trình nghiên cứu cơ bản về vai trò của selen trong hóa sinh học ở động vật và con người Selen đã được xác định là một nguyên tố vi lượng không thể thiếu được cho sự sống Selen có trong thành phần của đạm thực vật và động vật, đặc biệt là nhóm – S – SeH được coi là nhóm hoạt động của rất nhiều men trong cơ thể

Năm 1971, vai trò của nó trong Glutathion peroxydaza được phát hiện, đánh dấu một giai đoạn trọng trong lịch sử y học

Năm 1996, nghiên cứu tiếp diễn chỉ ra mối tương quan thực sự giữa nhu cầu bổ sung selen và ngăn ngừa ung thư ở người

Jean Paul Cortay, Josette Lyon (2003) [34] chỉ ra rằng : Phát hiện ra vai trò của Selen trong quá trình chống lại các gốc tự do, biến nó trở thành ngôi sao

Trang 37

mới của nhu cầu bổ sung muối khoáng Tuy nhiên, trên nguyên tắc nó cũng có trong danh sách những chất độc Điều này chỉ xẩy ra với liều cách xa liều bảo vệ

1.1.7.2 Đặc điểm của Selen

Theo từ điển hóa học Anh - Việt (2000)[31] định nghĩa về selen: Selen là nguyên tố phi kim rất độc trong nhóm VI, nguyên tử số 34, màu sáng thép, tan trong Cacbondisunfua, không tan trong nước và cồn, dùng trong phân tích, luyện kim và các pin quang điện và như chất ổn định dầu bôi trơn và hóa chất trung gian

Trong thiên nhiên rất hiếm thấy selen ở dạng nguyên tố khoáng vật của

nó, thường ở chung với quặng sunfua và được điều chế từ bùn Anot (Lê mậu Quyền, 2004)[17]

Tác dụng sinh học lớn lao của selen chưa được sáng tỏ, ít được công

bố, vì vậy việc tra cứu thông tin về selen rất khó khăn Một số tài kiệu mới nhất hiện nay đề cập đến selen như một ngôi sao sáng, tuy nhiên chỉ giới hạn

ở một vài dòng ngắn gọn

1.1.7.3 Vai trò của selen

Selen đầu tiên là chất khử độc Nó có khả năng liên kết với các kim loại nặng như: Hg, Cu, Co, As… và đào thải chúng ra nước tiểu Selen cũng bảo

vệ cơ thể khỏi tác hại của Cadimi, Chì, bạc, Platin Ngoài ra bằng cách hợp tác với Glutathion Peroxydaza, selen góp phần giải độc tính của nhiều chất khác

Selen đảm bảo cho quá trình tổng hợp collagen, đảm bảo cho sự toàn vẹn của cơ, của hồng cầu, của keratin, của thủy tinh thể Selen tham gia trong quá trình tổng hợp ARN và ADN Đặc biệt selen đẩy mạnh quá trình tổng hợp coenzim Q10

Trang 38

Selen xúc tác quá trình tổng hợp các glubu-lin miễn dịch, làm tăng chức năng tiêu hóa lipit của tụy, tham gia điều khiển sự vận chuyển ion qua màng tế bào và có tác dụng bảo vệ tế bào chống lại các hiện tượng oxy hóa

Nó ngăn cản sự hình thành các lipopeoxyt do đó làm chậm quá trình lão hóa, chống sự tổn hại ở hệ tim mạch

Selen tham gia trong hệ vận chuyển điện tử trong hô hấp tế bào và có tác dụng đệm oxy hóa khử trong tế bào Thiếu selen cơ thể không tổng hợp được vitamin C

Wasserman (1911) đã dùng hợp chất selen eosin điều trị khỏi bệnh ung thư trên chuột Và nhiều nghiên cứu tiếp theo cũng đã chứng minh được vai trò chống ung thư ở động vật của selen

Theo Kalmason (theo Kozlop 1973), khẳng định vai trò quan trọng của selen trong quá trình sinh tổng hợp coenzim Q (có khả năng chống sự oxy hóa các lipit ở màng tế bào, sự phân hủy các peroxit tạo thành trong tế bào)

Phạm Thiệp, Vũ Ngọc Thúy (2008)[26] trích dẫn: Selen là một nguyên

tố vô cơ vi lượng chủ yếu Selen chính là Coenzym của Glutathion peroxydaza, là một chất chống oxy hóa, giữ vai trò chủ chốt bảo vệ cơ thể, chống lại tác hại của các gốc oxy tự do

Theo Jeal Paul Cortay Josette Lyon (2003)[34] sự tham gia của selen vào hoạt động của men Glutathion Peroxydaza khiến nó trở lên có vai trò sáng chói:

Như vậy, enzym này trung hòa nước có oxy (Peroxit) trước khi tạo thành các gốc tự do có hại Nó cũng là một enzym duy nhất có khả năng tái sử dụng axit béo hư hỏng do các gốc tự do Đặc biệt ở mặt ngoài màng tế bào

GPX

Trang 39

Từ các axit béo bị oxy hóa này mà các chất trung gian của viêm, dị ứng được tạo thành Do đó, selen cũng có vai trò trong hoạt động thay đổi thể dịch của máu và các đáp ứng miễn dịch Trong những chức năng chống viêm, nó

có tác dụng hiệp đồng với Glutathion, vitamin E và các axit béo không no

Những công trình của Schmidt (1979) và Van Rji (1979) đã chứng minh 10% tổng lượng selen trong máu nằm trong men Glutathion peroxydaza Rea (1979) cũng đã nghiên cứu quan hệ giữa phần selen và hoạt tính của men Glutathion peroxydaza và đi đến kết luận như sau: Thành phần selen trong thức ăn có thể đạt tới hàm lượng selen trong huyết thanh là 140µg/l, thì khẩu phần ăn phải đạt từ 100 – 2000 µg Se/ngày

Những công trình nghiên cứu của Piatkowski và cs (1979) [43] trên lợn: Khẳng định mối tương quan giữa hoạt độ men với hàm lượng selen trong máu: Hàm lượng selen trong máu ở trong một ngưỡng nhất định, từ 0,1 – 2

mg selen/ngày, dưới ngưỡng đó hoạt động của men giảm, đến hàm lượng đó thì hoạt động của men đạt cực đại Nếu hàm lượng selen trong máu vượt quá ngưỡng thì hoạt động của men không tăng

Glutathion peroxydaza là men quan trọng trong nhiều quá trình sinh hóa: Trong quá trình chuyển hóa bình thường, tế bào sản xuất các hình thức phản ứng của oxy (peoxit), nếu không thay đổi nó sẽ làm hỏng các axit béo chưa no trong màng tế bào, dẫn đến phá vỡ màng và chức năng tế bào, ảnh hưởng đến sức khỏe động vật (N.L Gates and K.A Johnson, 1995) [38]

Mac Connell đã nhận xét: Khi dùng selen làm thuốc điều trị, 95% lượng selen đào thải sau một tháng Khi cho lợn mẹ ăn thức ăn có selen nhiều, hàm lượng selen sẽ cung cấp cho lợn con

Trang 40

Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng cung cấp tối đa selen sẽ làm giảm tần số của bệnh tim mạch và ung thư ở người Bởi vì mức selen ảnh hưởng tới mức oxy hóa, vì vậy, nó liên quan chặt chẽ tới hệ miễn dịch (bách khoa toàn thư internet)

Nghiên cứu mới ở đại học bang Ozegon đã phát hiện ra rằng: Công cụ sinh hóa cho phép hoạt hóa các hormon tuyến giáp cũng lệ thuộc vào selen Selen có chức năng trong đồng hóa Thyroid

1.1.7.4 Nhu cầu selen của gia súc

Các thức ăn hỗn hợp trước đây không bắt buộc phải có tiêu chuẩn về bổ sung selen trong khẩu phần cho gia súc Hơn nữa, quy trình chế biến, vận chuyển, dự trữ thức ăn làm hao hụt một số thành phần dinh dưỡng đặc biệt là khoáng và vitamin

Hàm lượng selen trong cơ thể súc vật cũng như trong cơ thể người không ổn định, nhưng nó chỉ dao động trong một giới hạn nhỏ và nó có thể thay đổi ít nhiều tùy thuộc vào khẩu phần selen Đối với súc vật nuôi hàm lượng này có thể từ 0,1 – 1 mg/kg, còn đối với súc vật hoang rã, thì hàm lượng này có thể cao hơn một chút

Có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này, trong đó có công trình nghiên cứu của Tilop (1969) trên lợn, của Pirop và Tilop (1969) trên bò, của Arnold (1972) trên gà,…

John C.Rea và cộng sự (1996)[35] ghi rõ: Nhu cầu bổ sung selen do cơ quan quản lý thực phẩm và thuốc của Mỹ có quy định: 0,3 ppm cho lợn cai sữa đến 40 pound; 0,1 ppm selen cho lợn từ 40 kg đến xuất chuồng và lợn sinh sản

* Dấu hiệu khi thiếu hụt selen: Cơ thể gia súc có biểu hiện, bị trắng cơ,

cơ dễ mỏi đau, một số bệnh ở cơ tim Có thể bổ sung trong trường hợp cơ thể

Ngày đăng: 28/05/2016, 12:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đàm Trung Bảo, Đặng Hồng Thúy (1983), Selen trong y học, NXB Y học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Selen trong y học
Tác giả: Đàm Trung Bảo, Đặng Hồng Thúy
Nhà XB: NXB Y học Hà Nội
Năm: 1983
2. Trần Văn Bình và cs (2006), Thuốc và một số phác đồ điều trị bệnh gia súc, gia cầm, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr 68-70 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuốc và một số phác đồ điều trị bệnh gia súc, gia cầm
Tác giả: Trần Văn Bình và cs
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2006
3. Trần Văn Cừ, Nguyễn Khắc Khôi và cs (1985), Cơ sở sinh học và biện pháp nâng cao năng suất của lợn, NXB Nông Nghiệp – Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở sinh học và biện pháp nâng cao năng suất của lợn
Tác giả: Trần Văn Cừ, Nguyễn Khắc Khôi và cs
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp – Hà Nội
Năm: 1985
4. Đỗ Trung Cứ, Nguyễn Quang Tuyên (2000), “Sử dụng chế phẩm EM trong phòng bệnh tiêu chảy ở lợn con trước và sau cai sữa”, tạp chí chăn nuôi, Hội chăn nuôi Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng chế phẩm EM trong phòng bệnh tiêu chảy ở lợn con trước và sau cai sữa”
Tác giả: Đỗ Trung Cứ, Nguyễn Quang Tuyên
Năm: 2000
5. Phạm Hữu Doanh và cs (2000), Kỹ thuật nuôi lợn nái mắn đẻ sai con, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr 8-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật nuôi lợn nái mắn đẻ sai con
Tác giả: Phạm Hữu Doanh và cs
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2000
6. Từ Quang Hiển, Phan Đình Thắm, Ngôn Thị Hoán (2001), Giáo trình thức ăn và dinh dưỡng gia súc, gia cầm. NXB Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình thức ăn và dinh dưỡng gia súc, gia cầm
Tác giả: Từ Quang Hiển, Phan Đình Thắm, Ngôn Thị Hoán
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2001
7. Lương Lễ Hoàng (2008), “Khỏe vì sinh tố, Mạnh vì khoáng tố”, Nutifood.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khỏe vì sinh tố, Mạnh vì khoáng tố”
Tác giả: Lương Lễ Hoàng
Năm: 2008
8. H.T.T (2005), “Mục tiêu phát triển và định hướng quy hoạch chăn nuôi đến 2010 và tầm nhìn 2020”, Tạp chí khoa học kỹ thuật chăn nuôi, số 10, tr 16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mục tiêu phát triển và định hướng quy hoạch chăn nuôi đến 2010 và tầm nhìn 2020”, "Tạp chí khoa học kỹ thuật chăn nuôi, số 10
Tác giả: H.T.T
Năm: 2005
9. Phạm Quang Hùng, Đặng Vũ Bình, Nguyễn Văn Thắng, Đoàn Liên, Nguyễn Thị Tú (2006), Giáo trình chăn nuôi cơ bản, tr 133, 145 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi cơ bản
Tác giả: Phạm Quang Hùng, Đặng Vũ Bình, Nguyễn Văn Thắng, Đoàn Liên, Nguyễn Thị Tú
Năm: 2006
10. Nguyễn Tài Lương (2002), Nhận xét về báo cáo tổng kết: “Nghiên cứu sản xuất nấm men giàu selen của TS. Nguyễn Quang Thưởng” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sản xuất nấm men giàu selen của TS. Nguyễn Quang Thưởng
Tác giả: Nguyễn Tài Lương
Năm: 2002
11. Nguyễn Quang Linh (2005), Giáo trình kỹ thuật chăn nuôi lợn, Nxb Nông Nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kỹ thuật chăn nuôi lợn
Tác giả: Nguyễn Quang Linh
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp Hà Nội
Năm: 2005
12. Phạm Thị Huỳnh Mai (2007), Đề tài: “Hoàn chỉnh quy trình phân tích selen, khảo sát selen trong một số thành phần chính và trong máu người ở thành phố Hồ Chí Minh” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn chỉnh quy trình phân tích selen, khảo sát selen trong một số thành phần chính và trong máu người ở thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Phạm Thị Huỳnh Mai
Năm: 2007
13. Lê Hồng Mận (2002), Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái sinh sản ở nông hộ, NXB Nông Nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái sinh sản ở nông hộ
Tác giả: Lê Hồng Mận
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp Hà Nội
Năm: 2002
14. Lê Hồng Mận, Xuân Giao (2001), Chăn nuôi nái siêu nạc,Nxb Lao động xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăn nuôi nái siêu nạc
Tác giả: Lê Hồng Mận, Xuân Giao
Nhà XB: Nxb Lao động xã hội
Năm: 2001
15. Trần Đình Miên (1982), Chọn và nhân giống gia súc, Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chọn và nhân giống gia súc
Tác giả: Trần Đình Miên
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1982
16. Trần Văn Phùng, Từ Quang Hiển, Trần Thanh Vân, Hà Thị Hảo (2004), Giáo trình chăn nuôi lợn, tr 43 165, 187 – 188 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi lợn
Tác giả: Trần Văn Phùng, Từ Quang Hiển, Trần Thanh Vân, Hà Thị Hảo
Năm: 2004
17. Lê Mậu Quyền (2004), Hóa học vô cơ, Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hóa học vô cơ
Tác giả: Lê Mậu Quyền
Nhà XB: Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật
Năm: 2004
18. Nguyễn Thị Tài, Đoàn Kim Dung, Nguyễn Lệ Hoa (2000), “Sử dụng chế phẩm sinh học để điều trị hội chứng tiêu chảy”, Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng chế phẩm sinh học để điều trị hội chứng tiêu chảy”
Tác giả: Nguyễn Thị Tài, Đoàn Kim Dung, Nguyễn Lệ Hoa
Năm: 2000
19. Phan Đình Thắm và cs (2001), Giáo trình thức ăn và dinh dưỡng gia súc, gia cầm. NXB Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình thức ăn và dinh dưỡng gia súc, gia cầm
Tác giả: Phan Đình Thắm và cs
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2001
20. Hoàng Toàn Thắng và Cao Văn (2006), Giáo trình sinh lý vật nuôi. NXB Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình sinh lý vật nuôi
Tác giả: Hoàng Toàn Thắng và Cao Văn
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2006

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 1 - Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Chế Phẩm Sinh Học Phar - Selenzym Trong Khẩu Phần Ăn Của Lợn Nái Và Hiệu Quả Chăn Nuôi Lợn Thịt
Bảng 2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 1 (Trang 51)
Bảng 2.2: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 2 - Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Chế Phẩm Sinh Học Phar - Selenzym Trong Khẩu Phần Ăn Của Lợn Nái Và Hiệu Quả Chăn Nuôi Lợn Thịt
Bảng 2.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 2 (Trang 52)
Bảng 3.1: Ảnh hưởng của chế phẩm Phar – selenzym đến sức sản xuất - Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Chế Phẩm Sinh Học Phar - Selenzym Trong Khẩu Phần Ăn Của Lợn Nái Và Hiệu Quả Chăn Nuôi Lợn Thịt
Bảng 3.1 Ảnh hưởng của chế phẩm Phar – selenzym đến sức sản xuất (Trang 58)
Bảng 3.2. Ảnh hưởng của chế phẩm Phar – selenzym đến khả năng - Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Chế Phẩm Sinh Học Phar - Selenzym Trong Khẩu Phần Ăn Của Lợn Nái Và Hiệu Quả Chăn Nuôi Lợn Thịt
Bảng 3.2. Ảnh hưởng của chế phẩm Phar – selenzym đến khả năng (Trang 60)
Bảng 3.6. Sinh trưởng tuyệt đối của lợn con qua các giai đoạn (g/con/ngày) - Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Chế Phẩm Sinh Học Phar - Selenzym Trong Khẩu Phần Ăn Của Lợn Nái Và Hiệu Quả Chăn Nuôi Lợn Thịt
Bảng 3.6. Sinh trưởng tuyệt đối của lợn con qua các giai đoạn (g/con/ngày) (Trang 67)
Hình 2: Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của lợn con thí nghiệm - Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Chế Phẩm Sinh Học Phar - Selenzym Trong Khẩu Phần Ăn Của Lợn Nái Và Hiệu Quả Chăn Nuôi Lợn Thịt
Hình 2 Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của lợn con thí nghiệm (Trang 69)
Hình 3: Đồ thị sinh trưởng tương đối của lợn con thí nghiệm - Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Chế Phẩm Sinh Học Phar - Selenzym Trong Khẩu Phần Ăn Của Lợn Nái Và Hiệu Quả Chăn Nuôi Lợn Thịt
Hình 3 Đồ thị sinh trưởng tương đối của lợn con thí nghiệm (Trang 71)
Bảng 3.8: Khối lượng lợn thịt thí nghiệm qua các kỳ cân (kg) - Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Chế Phẩm Sinh Học Phar - Selenzym Trong Khẩu Phần Ăn Của Lợn Nái Và Hiệu Quả Chăn Nuôi Lợn Thịt
Bảng 3.8 Khối lượng lợn thịt thí nghiệm qua các kỳ cân (kg) (Trang 73)
Hình 4: Đồ thị sinh trưởng tích lũy lợn thí nghiệm từ 60 đến 150 ngày tuổi - Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Chế Phẩm Sinh Học Phar - Selenzym Trong Khẩu Phần Ăn Của Lợn Nái Và Hiệu Quả Chăn Nuôi Lợn Thịt
Hình 4 Đồ thị sinh trưởng tích lũy lợn thí nghiệm từ 60 đến 150 ngày tuổi (Trang 75)
Hình 5: Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của lợn thí nghiệm giai đoạn 60 - Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Chế Phẩm Sinh Học Phar - Selenzym Trong Khẩu Phần Ăn Của Lợn Nái Và Hiệu Quả Chăn Nuôi Lợn Thịt
Hình 5 Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của lợn thí nghiệm giai đoạn 60 (Trang 77)
Bảng 3.10: Sinh trưởng tương đối của lợn thịt thí nghiệm (%) - Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Chế Phẩm Sinh Học Phar - Selenzym Trong Khẩu Phần Ăn Của Lợn Nái Và Hiệu Quả Chăn Nuôi Lợn Thịt
Bảng 3.10 Sinh trưởng tương đối của lợn thịt thí nghiệm (%) (Trang 78)
Hình 6: Đồ thị  sinh trưởng tương đối của lợn thịt từ 60 đến 150 ngày tuổi - Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Chế Phẩm Sinh Học Phar - Selenzym Trong Khẩu Phần Ăn Của Lợn Nái Và Hiệu Quả Chăn Nuôi Lợn Thịt
Hình 6 Đồ thị sinh trưởng tương đối của lợn thịt từ 60 đến 150 ngày tuổi (Trang 79)
Bảng 3.12. Tiêu tốn năng lượng trao đổi ME/kg tăng KL (Kcal) - Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Chế Phẩm Sinh Học Phar - Selenzym Trong Khẩu Phần Ăn Của Lợn Nái Và Hiệu Quả Chăn Nuôi Lợn Thịt
Bảng 3.12. Tiêu tốn năng lượng trao đổi ME/kg tăng KL (Kcal) (Trang 82)
Bảng 3.14. Tiêu tốn Protein/kg tăng khối lượng (g) - Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Chế Phẩm Sinh Học Phar - Selenzym Trong Khẩu Phần Ăn Của Lợn Nái Và Hiệu Quả Chăn Nuôi Lợn Thịt
Bảng 3.14. Tiêu tốn Protein/kg tăng khối lượng (g) (Trang 84)
Bảng 3.16.  Hạch toán chi phí thức ăn, thuốc thú y + Chế phẩm sinh - Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Chế Phẩm Sinh Học Phar - Selenzym Trong Khẩu Phần Ăn Của Lợn Nái Và Hiệu Quả Chăn Nuôi Lợn Thịt
Bảng 3.16. Hạch toán chi phí thức ăn, thuốc thú y + Chế phẩm sinh (Trang 86)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w