Giúp Nhà đầu tư có kiến thức cơ bản và học hỏi kinh nghiệm về cách mua bán chứng khoán hiệu quả để có thể chiến thắng trên giao dịch chứng khoán.Mọi trao đổi và chia sẽ trên nhóm facebook: Chiến thắng trên sàn chứng khoán.
Trang 1CHIẾN THẮNG
TRÊN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN
Trang 2(TÀI LIỆU TỔNG HỢP CƠ BẢN MUA BÁN VÀ NHỮNG KINH NGHIỆM MUA BÁN CHỨNG KHOÁN)
MỤC LỤC
1 Hướng dẫn cho người mới chơi chứng khoán
2 Phân tích kỹ thuật
a Xu hướng
b Tín hiệu mua và bán
c Các chỉ số căn bản: RSI, MACD, PE,…
d Phân tích kỹ thuật mô hình
e Đồ thị nến Nhật
f Lý thuyết Dow
g Ichimoku
h Tín hiệu kỹ thuật
3 Những sai lầm thường gặp nghiêm trọng khi giao dịch chứng khoán
4 Chỉ tiêu để chọn cổ phiếu tốt theo cách Adam Khoo
5 Kinh nghiệm của Gerald M.loeb
6 Một số phương pháp tính giá trị thực của cổ phiếu
7 Đặc điểm nhận biết Cổ phiếu tốt
8 Đặc điểm nhận biết Cổ phiếu đầu cơ
Trang 3Hướng dẫn cách chơi chứng khoán cho người mới chơi chứng khoán
26/11/2014 14:41:25
4 bước để chọn 1 cổ phiếu
Những cách đầu tư chắc chắn thất bại
Kiến thức cơ bản về đầu cơ ngắn hạn (Phần 2)
Để đầu tư hay chơi chứng khoán, các bạn cần phải tìm hiểu về chứng khoán trước khi tham gia thì mới mong có cơ hội thành công trên thị trường chứng khoán Không
có ai tự dưng may mắn kiếm được tiền trên thị trường chứng khoán Đây là nơi dành cho người có kiến thức, không phải là sân chơi dành cho những người yếu tim hay những tay mơ.
Sau đây, xin hướng dẫn các bước cơ bản cho các bạn cần tìm hiểu trước khi thực sự bỏ tiền vào đầu tư hay chơi chứng khoán
Bước 1 – Tìm hiểu về chứng khoán
Đầu tiên, các bạn phải hiểu được chứng khoán là gì, chứng khoán có mấy loại và nên chú
ý đến loại nào mà nhà đầu tư cá nhân chúng ta có thể tham gia được Nếu nhanh ý các bạn
có thể thấy ngay rằng cổ phiếu mà đặc biệt là cổ phiếu thường chính là sân chơi dành cho nhà đầu tư nhỏ lẻ chúng ta
Trang 4Sau khi đã có những hiểu biết cơ bản về chứng khoán, bạn đi vào bước 2 ngay bỏ qua việc tìm hiểu kỹ về chứng khoán (vừa tốn thời gian vừa tốn công sức) vì đầu tư chứng khoán không phải là môn học thuộc lòng mà là một lĩnh vực am hiểu nhờ trải nghiệm.
Bước 2 – Tập đọc bảng giá trực tuyến và luyện nhớ tên các mã cổ phiếu
Kế đến, các bạn học cách đọc bảng giá chứng khoán trực tuyến (hay còn gọi là bảng giá điện tử) và tập nhớ tên các mã cổ phiếu Mã cổ phiếu là chữ viết tắt của các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán, thường có 3 chữ cái Ví dụ, mã cổ phiếu HAG là viết tắt 3 chữ cái đầu tiên của tên công ty cổ phần Hoàng Anh Gia Lai (chủ tịch là ông Đoàn Nguyên Đức) Việc đọc bảng giá và nhớ tên các mã cổ phiếu giúp bạn tiếp cận thực tế nhanh hơn, dẫn đến bạn sẽ bắt đầu đầu tư được sớm hơn
Để cho việc đọc bảng giá và tập nhớ các mã cổ phiếu diễn ra tự nhiên, có một cách giúp bạn hiệu quả là chơi chứng khoán ảo
Bước 3 – Chơi chứng khoán ảo
Như trên đã nói, việc chơi chứng khoán ảo (chơi bằng tiền ảo) mục đích là để bạn quen dần với các mã cổ phiếu và thành thạo trong việc đọc bảng giá điện tử Ngoài ra, chơi chứng khoán ảo sẽ cho bạn thêm kinh nghiệm trước khi bước vào chơi chứng khoán thật (bỏ tiền thật để chơi)
Trước đây, có nhiều nơi cho phép bạn mở tài khoản chứng khoán ảo để chơi thử chứng khoán nhưng giờ đây những nơi như thế không còn nhiều Lý do cho điều này là việc chơi chứng khoán thực đã trở nên dễ dàng và kênh đầu tư chứng khoán đã trở nên phổ biến rộng rãi Việc chơi chứng khoán ảo mang lại cho bạn nhiều cái lợi: một là bạn sẽ thành thục nhanh trong việc đọc bảng giá chứng khoán, hai là bạn sẽ nhớ tên các mã cổ phiếu nhanh và nhiều hơn, ba là bạn đang đầu tư thực nhưng không phải mất tiền nếu thua lỗ, bốn là bạn sẽ có kinh nghiệm trước khi bước vào đầu tư thực sự, năm là cơ hội thử các cách đầu tư chứng khoán khác nhau của bạn
Trang 5Bước 4 – Mở tài khoản thật với số tiền ký quỹ tượng trưng
Sau khi đã chơi chứng khoán ảo một thời gian ngắn (khuyến nghị khoảng 1-2 tuần) và đã thành thạo trong việc đọc bảng giá chứng khoán trực tuyến cũng như nhớ được một số tên công ty phổ biến, tôi khuyên bạn nên mở ngay một tài khoản chứng khoán thật tại một công ty chứng khoán nào đó (chú ý là chọn một trong top các công ty chứng khoán hàng đầu) và bỏ vào đó một số tiền nhỏ ban đầu để giao dịch thử
Việc bắt đầu với số tiền nhỏ sẽ giúp bạn có kinh nghiệm đầu tư thực sự chứ không như chơi chứng khoán ảo, vì chơi chứng khoán ảo sẽ tạo thói quen không tốt cho bạn là trong trường hợp thua lỗ bạn sẽ để nguyên tài khoản như vậy mà không tìm cách xử lý vì bạn nghĩ rằng đó là tiền ảo, không phải tiền thực của bạn Cách hành xử đó có thể làm tài khoản ảo có lãi khi giá cổ phiếu tăng trở lại nhưng sẽ khiến bạn dễ bị mất tiền khi bắt tay vào đầu tư thực vì khi bạn đầu tư với tiền thực, cảm xúc sẽ chi phối bạn rất mạnh khiến bạn không còn ngồi yên được như vậy nữa
Bước 5 – Chọn nhân viên môi giới phù hợp
Khi đã có một tài khoản chứng khoán thực, bạn liên hệ với công ty chứng khoán nơi bạn
mở tài khoản và yêu cầu họ giao cho một nhân viên môi giới phù hợp để tư vấn cho bạn Nhân viên môi giới phù hợp này phải chỉ bạn cách sử dụng phần mềm giao dịch, cách đặt lệnh mua bán,… cũng như cung cấp cho bạn về các quy định mới trên sàn giao dịch và các thông tin ảnh hưởng đến thị trường Từ “phù hợp” ở đây có nghĩa là môi giới đó có kiến thức và kinh nghiệm tư vấn phù hợp với phong cách đầu tư của bạn Điều này rất quan trọng vì nó liên quan đến thành công của bạn trong đầu tư chứng khoán
Ngoài việc phải làm mà bạn có thể nhờ môi giới giúp bạn như trên, tự bản thân bạn phải làm một thứ quan trọng quyết định đến kết quả đầu tư chứng khoán của bạn - đó là tìm hiểu các cách phân tích chọn chứng khoán và chiến lược đầu tư chứng khoán phù hợp với bạn (ngắn hạn, trung hạn hay dài hạn)
Trang 6Bước 6 – Tìm hiểu cách phân tích và chọn lọc chứng khoán
Có ba kiểu nhà đầu tư cơ bản (xét theo thời gian đầu tư): nhà đầu tư ngắn hạn hay còn gọi
là nhà đầu cơ, nhà đầu cơ trung hạn và nhà đầu tư dài hạn (nhà đầu tư thực sự)
Nếu bạn là nhà đầu tư ngắn hạn (thời gian ít hơn 6 tháng): bạn nên chọn môi giới giỏi về đầu cơ (nhạy bén trong giao dịch, giỏi phân tích kỹ thuật), bắt đầu học phân tích kỹ thuật
và tập chọn các mã cổ phiếu có khả năng tăng theo tín hiệu phân tích kỹ thuật
Nếu bạn là nhà đầu tư trung hạn(6 tháng đến 1 năm): bạn nên chọn môi giới am hiểu về tình hình (am hiểu phân tích cơ bản, phân tích kỹ thuật và xử lý tin tức vĩ mô tốt), bắt đầu học phân tích cơ bản, phân tích kỹ thuật và tập chọn các mã cổ phiếu vừa có chỉ số cơ bản tốt vừa có tín hiệu kỹ thuật cho dấu hiệu tăng
Nếu bạn là nhà đầu tư dài hạn (trên 1 năm): bạn nên chọn môi giới giỏi về đầu tư (am hiểu
về đầu tư, giỏi phân tích cơ bản), bắt đầu học phân tích cơ bản và tập chọn các mã cổ phiếu có chỉ số cơ bản tốt (tránh rủi ro phá sản) nhưng đang bị định giá thấp (tiềm năng tăng giá trong tương lai)
Ngay từ đầu, bạn nên định hướng bản thân mình theo 1 trong 3 kiểu nhà đầu tư này để tránh những rủi ro thua lỗ không đáng có Có những nhà đầu tư đang đầu cơ mà cứ nghĩ mình đầu tư và có người đang đầu tư lại cứ nghĩ mình đang đầu cơ Và hấu hết mọi người đều thua lỗ vì ngộ nhận này mà không chịu khó tìm hiểu bản thân mình hợp với phong cách đầu tư nào
Bước 7 – Cập nhật thông tin chứng khoán thường xuyên
Thị trường chứng khoán là nơi thông tin đóng vai trò hết sức quan trọng Thị trường lúc lên lúc xuống cũng do thông tin mà ra vì thông tin tác động đến tâm lý nhà đầu tư khiến
họ lúc thì đua nhau mua lúc thì tranh nhau bán Vì vậy, dù là nhà đầu cơ hay đầu tư bạn cũng phải thường xuyên theo dõi tin tức để ra quyết định mua bán chứng khoán
Điều quan trọng là bạn nên biết chọn website tin nhanh chứng khoán để cập nhật nhanh và kịp thời thông tin chứng khoán để ra quyết định cho danh mục đầu tư của mình
Bước 8 – Tích lũy kinh nghiệm thực tế
Trong thời gian đầu giao dịch với số tiền nhỏ, bạn cũng nên tranh thủ học cách nhận diện các thủ đoạn trên thị trường chứng khoán như bẫy giá, làm giá, tung tin đồn,… nhằm mục đích bảo vệ bản thân mình khỏi những rủi ro do những thành phần giăng bẫy gây ra
Bước 9 – Đầu tư chứng khoán thực sự
Trang 7Sau khi đã giao dịch với số tiền nhỏ một thời gian (cố gắng thực hiện từ bước 5 đến bước
8 càng nhanh càng tốt), bạn có thể giao dịch với số tiền thực mà mình muốn đầu tư Bạn cần nhớ rằng một khi đã giao dịch với số tiền lớn hơn, thua lỗ và lợi nhuận đi kèm sẽ tăng theo tương ứng Do đó, có lời khuyên dành cho bạn là bạn nên đầu tư chứng khoán với số tiền dư thừa mà bạn không biết làm gì Số tiền dư thừa được hiểu là số tiền bạn còn lại sau khi bạn đã dành ra đầy đủ các khoản như tiền dành cho gia đình, chi phí sinh hoạt, các khoản dự phòng bất trắc,…
Hay nói cách khác, đây là khoản tiền cuối cùng mà bạn chưa biết làm gì ngoài việc đem gửi ở ngân hàng Mục đích bạn đầu tư chứng khoán vì muốn tìm kiếm khoản lời lớn hơn tiền lãi ngân hàng
Bước 10 – Kiên trì với phong cách đầu tư đã chọn
Một khi đã bước vào đầu tư chứng khoán thực sự với khoản tiền dành dụm của mình, bạn không còn được phép là một người mơ mộng nữa
Một khi đã xác định được phong cách đầu tư phù hợp với mình, bạn hãy tiếp tục học hỏi
và thực hành một cách kiên nhẫn theo phong cách đầu tư mình đã chọn Có như vậy, về lâu về dài bạn mới có thể là nhà đầu tư chứng khoán cá nhân thành công
Trang 8TÍN HIỆU KỸ THUẬT
Xu hướng giá tăng
Mức giá cao mới trong 5 ngày Xu hướng giá tăng Trung bình
Mức giá cao mới trong 20 ngày Xu hướng giá tăng Cao
Mức giá cao mới trong 52 tuần Xu hướng giá tăng Cao
Khối lượng tăng hơn 4 lần giá lên trong
ngày
Xu hướng giá tăng
Trung bình
Tín hiệu lên: đường MA(13) cắt đường
MA(50) từ dưới lên
Xu hướng giá tăng
CaoTín hiệu lên: đường MA(50) cắt đường
MA(200) từ dưới lên
Xu hướng giá tăng
CaoTín hiệu lên: đường MACD cắt đường tín
hiệu từ dưới lên
Xu hướng giá tăng
CaoBán quá nhiều với đường RSI đang tăng Xu hướng giá tăng Trung bình
Giá vượt ra khỏi dải trên của dải Bollinger Xu hướng giá tăng Trung bình
Tín hiệu mua theo CCI Xu hướng giá tăng Trung bình
Tín hiệu mua theo Parabonic Sar Xu hướng giá tăng Trung bình
Mức thấp nhất của giá hiện tại cao hơn
Cổ phiếu có mức giá tăng ít nhất 2,5% ngày
hôm qua và giảm 2,5% ngày hôm nay Xu hướng giá tăng Thấp
Xu hướng giảm
Mức giá thấp mới trong 5 ngày Xu hướng giá giảm Trung bình
Mức giá thấp mới trong 20 ngày Xu hướng giá giảm Cao
Mức giá thấp mới trong 52 tuần Xu hướng giá giảm Cao
Khối lượng tăng hơn 4 lần giá giảm trong
Xu hướng giá giảm
Trung bình
Trang 9Tín hiệu giảm: đường MA(13) cắt đường
MA(50) từ trên xuống
Xu hướng giá giảm
CaoTín hiệu giảm: đường MA(50) cắt đường
MA(200) từ trên xuống
Xu hướng giá giảm
CaoTín hiệu giảm: đường MACD cắt đường tín
hiệu từ trên xuống
Xu hướng giá giảm
Cao
Mua quá nhiều với đường RSI đang giảm Xu hướng giá giảm Trung bình
Giá vượt ra khỏi dải dưới của dải Bollinger Xu hướng giá giảm Trung bình
Tín hiệu bán theo CCI Xu hướng giá giảm Trung bình
Tín hiệu bán theo Parabonic Sar Xu hướng giá giảm Trung bình
Cổ phiếu có mức giá thấp hơn 2,5% so với
mức thấp nhất ngày hôm qua Xu hướng giá giảm Thấp
Cổ phiếu có mức giá giảm 2,5% ngày hôm
qua và tăng 2,5% ngày hôm nay Xu hướng giá giảm Thấp
Trang 10PHÂN TÍCH KỸ THUẬT ÁP DỤNG VÀO CHỨNG KHOÁN.
Gỉang viên : Trương Gia Quốc Bình ( nlcgiabinh )
CP-tot-nen-mua/p0.aspx
Với vai trò nhận định xu thế giả trên thị trường, đồ thị giá trị của Aroon có hai loại: Loại thứ nhất bao gồm 2 đồ thị biểu thị hai giá trị là Aroon up và Aroon down thể hiện sức mạnh tăng và giảm giá trên thị trường Loại thứ 2 biểu thị sự tương quan giữa sức tăng và sức giảm giá trên thị trường bằng cách lấy hiệu của Aroon up và Aroon down, đồ thị loại này có dạng một máy dao động
Aroon down = 100 (n – tdown) / n
Aroon tương quan = Aroon up – Aroon down
Trang 11Ví dụ tính Aroon cho phiên hiện tại với dữ liệu lấy trong 14 phiên trước đó Trong 14 phiên này, phiên có giá cao nhất xảy ra cách hiện tại 5 phiên, phiên có giá thấp nhất xảy ra cách phiên hiện tại 8 phiên
Aroon down = 100 (14 – 8) / 14 = 42,86Aroon tương quan = Aroon up – Aroon down
2 Sử dụng Aroon
Bằng cách dựa vào khoảng cách từ phiên hiện tại đến phiên có giá cao nhất hoặc thấp nhất Nếu giá cao nhất vừa được thiết lập trong các phiên gần phiên hiện tại, Aroon up có giá trị lớn hơn 50, theo thời gian nếu giá cao nhất này không được phá bỏ thì giá trị Aroon up sẽ giảm dần Nếu giá thấp nhất vừa được thiết lập trong các phiên gần phiên hiện tại thì Aroon down có giá trị lớn hơn 50, theo thời gian nếu giá thấp nhất này không được phá bỏ thì giá trị Aroon down sẽ giảm dần
Nếu Aroon up có giá trị nhỏ hơn 50 nghĩa là phiên có giá cao nhất nằm cách xa phiên hiện tại, xu thế tăng giá đã mất nếu đang là xu thế tăng giá Nếu Aroon down có giá trị nhỏ hơn
50 nghĩa là phiên có giá thấp nhất nằm cách xa phiên hiện tại, xu thế giảm giá đã không còn nếu đang là xu thế giảm giá Nếu Aroon up và Aroon down xấp xỉ nhau, tức là phiên có giá thấp nhất và phiên có giá cao nhất ở gần nhau, thị trường không đi theo xu hướng rõ rệt, xu thế nếu có cũng rất yếu
Để rõ ràng hơn, Aroon tương quan được sử dụng để xác định tương quan giữa Aroon up và Aroon down đại diện cho tương quan giữa xu thế tăng và xu thế giảm Aroon tương quan càng gần 0 thì biến động càng không có xu thế tăng hoặc giảm rõ ràng mà có dạng dập dềnh, Aroon tương quan lớn hơn 0 và càng lớn hơn bao hiêu thì xu thế tăng giá của thị trường càng lớn bấy nhiêu, Aroon tương quan nhỏ hơn 0 và càng nhỏ hơn bao nhiêu thì xu thế giảm giá của thị trường càng lớn bấy nhiêu
Aroon gồm có hai thành phần: Aroon Up và Wroon Down dao động trong phạm vi từ 0 đến
100 Khi Aroon Down có giá trị trên 70 và đồng thời Aroon Up có giá trị dưới 30 khi đó thì trường có xu hướng là giảm giá Ngược lại khi Aroon Up có giá trị trên 70 và đồng thời Aroon Down có giá trị dưới 30 thì khi đó thị trường đang có xu hướng tăng giá rất mạnh Khi Aroon Up và Aroon Down có khuynh hướng dao động quanh giá trị 50 thì thị trường trở thành trạng thái củng cố xu hướng trước đó Khi Aroon Up và Aroon Down cùng di chuyển song song thì đường giá sẽ di chuyển theo trạng thái lình xình (sideways) hoặc gần
Trang 12như sideways Mặc định khoảng chu kỳ xem xét của Aroon là 25 phiên dao động Tuy nhiên chúng ta có thể thay đổi thành 10 phiên cho những nhà đầu cơ ngắn hạn và 50 phiên cho những nhà đầu tư dài hạn.
Aroon Oscillator:
Đây là dạng biến thể của chỉ báo Aroon Nó kết hợp giữa Aroon Up và Aroon Down thành một chỉ báo duy nhất Aroon Oscillator đơn giản được tính toán bởi Aroon Up trừ đi Aroon Down
Nếu giá trị Aroon Oscillator lớn hơn 50 thì thị trường đang trong xu hướng tăng mạnh
Nếu giá trị Aroon Oscillator nhỏ hơn -50 thì có nghĩ là thị trường đang trong xu hướng giảm rất thấp
Còn Aroon Oscillator có giá trị gần giá trị zero thì có nghĩa là thì trường đang chuyển giao hay không có xu hướng
Khi giá trị Aroon Oscillator tăng lên trên 50 thì xu hướng của đường giá tăng lên mạnh sẽ chiếm ưu thế và tại đây có thể sẽ diễn ra sự đảo chiều của xu hướng Khi Aroon Oscillator lanh quanh vị trí 0 trong khoảng thời gian thì xu hướng đó đang không được xác định rõ ràng
Khi giá trị của Aroon Oscillator giảm từ 0 đến -50 thì đường giá có hướng di chuyển giảm
và khi Aroon Oscillator có giá trị nhỏ hơn -50 thì có nghĩa là thị trường đang trong xu hướng giảm rất mạnh Nếu sau đó Aroon Oscillator có giá trị bắt đầu tăng trên -50 và hướng
về đường zero thì xu hướng giảm giá đã bắt đầu yếu và sự đảo chiều đang bắt đầu được hình thành Nếu Aroon Oscillator tiếp tục tăng hơn đường zero thì hướng đi của đường giá đang chuyển từ không có xu hướng xác định thành bắt đầu hình thành xu hướng tăng
Chỉ báo Aroon và Aroon Oscillator là công cụ cực kỳ hữu ích , nó giúp cho nhà đầu tư đo lường sự xấu - tốt của các chỉ báo tiếp tục xu hướng (đường trung bình - Moving Averages); Khi Aroon Up hoặc Aroon Down có giá trị trên 70 là chỉ báo xu hướng mạnh và sẽ tiếp tục
xu hướng đó Ngược lại nếu dưới giá trị 30 thì chỉ báo xu hướng sắp tới sẽ có hướng đảo chiều
////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////
Trang 13Bài viết này sẽ giới thiệu về một phương pháp phân tích đơn giản dựa trên khối lượng giao dịch trong ngày - chỉ số cân bằng khối lượng (OBV – On balance volume) Phương pháp này đã được Joe Granville trình bày trong cuốn sách của ông Granville's New Key to Stock Market Profits xuất bản năm 1963
1 Tính toán
Gọi i là giao dịch ngày hôm nay, i – 1 là giao dịch của ngày hôm trước
• Nếu giá đóng cửa phiên ngày hôm nay cao hơn phiên trước:OBVi = OBVi – 1 + khối lượng giao dịch ngày i
• Nếu giá đóng cửa ngày hôm nay thấp hơn ngày hôm trước:OBVi = OBVi – 1 - khối lượng giao dịch ngày i
• Nếu giá đóng cửa ngày hôm nay bằng với hôm trước:OBVi = OBVi – 1
Phương pháp phân tích bằng OBV sử dụng phương hướng của OBV trên đồ thị chứ không dựa vào giá trị cụ thể của OBV, nghĩa là giá trị của OBV không quan trọng Vì vậy có thể quy ước OBV của thời điểm i = 0 hoặc i = -1 sử dụng làm gốc đồ thị có giá trị OBV = 0
3 Sử dụng
Như đã biết sử dụng OBV cần phải dựa vào tính chất lên xuống tăng giảm của OBV chứ không phải dựa vào giá trị: cụ thể là tính chất phân kỳ âm và phân kỳ dương để xác nhận tăng phần chắc chắn của OBV để khẳng định về xu thế tăng hoặc giảm của giá
Nếu đồ thị OBV thể hiện một phân kỳ âm trong khi giá đang có xu thế lên, điều này cảnh báo về khả năng thay đổi xu thế của giá sang giảm Nguyên nhân là các phiên giá giảm có khối lượng giao dịch xen lẫn các phiên giá tăng có khối lượng giao dịch nhỏ Điều này có
Trang 14nghĩa là giữa các phiên tăng giá do cầu lớn và khan hiếm hàng dẫn đến khối lượng giao dịch nhỏ, đã xuất hiện xen kẽ những phiên giảm giá do một số nhà đầu tư bán ra vì cảm thấy được giá dẫn đến khối lượng khớp lớn Vậy xu thế tăng giá đã bắt đầu suy yếu
Nếu đồ thị OBV thể hiện một phân kỳ dương trong khi giá đang có xu thế giảm, điều này cảnh báo về khả năng thay đổi xu thế của giá sang tăng Nguyên nhân là các phiên giá tăng
có khối lượng giao dịch lớn xen kẽ các phiên giảm giá có khối lượng giao dịch nhỏ Điều này có nghĩa là giữa các phiên giảm giá do cung lớn và bán tháo hàng thừa dẫn đến khối lượng giao dịch nhỏ, đã xuất hiện xen kẽ những phiên tăng giá do một số nhà đầu tư gom hàng vì cảm thấy giá hời dẫn khối lượng khớp lớn Vậy xu thế giảm giá đã bắt đầu suy yếu //////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////
Khối lượng giao dịch (Volume)
Khối lượng giao dịch là một trong những công cụ quan trọng trong phân tích kỹ thuật để xác nhận hướng di chuyển của đường giá Khối lượng giao dịch tăng mỗi khi người bán và người mua thực hiện giao dịch
Có 2 điều lưu ý quan trọng về khối lượng giao dịch
1 Khi đường giá đang tăng hoặc giảm mà khối lượng giao dịch đang tăng lên thì đây là một sự xác nhận chắc chắn việc tăng hoặc giảm giá sẽ tiếp tục diễn ra với cường độ
di chuyển của đường giá là rất mạnh
2 Khi đường giá đang tăng hoặc giảm và có sự suy giảm về khối lượng giao dịch thì điều này thể hiện cường độ di chuyển của đường giá là khá yếu Bởi vì khi đường giá
di chuyển với 1 chút cường độ thì chỉ làm cho những nhà đầu cơ quan tâm đến nó mà thôi
//////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////
Chỉ báo Momentum
Là chỉ báo so sánh vùng giá hiện hành có liên quan gì đến vùng giá trong quá khứ như thế nào? Vấn đề đặt ra là khi phân tích kỹ thuật người ta sẽ so sánh trong bao lâu? Công thức của Momentum được tính toán khá đơn giản
• Nếu giá hiện hành cao hơn giá trong quá khứ thì chỉ báo momentum là tích cực.
• Nếu giá hiện hành nhỏ hơn giá trong quá khứ thì chỉ báo momentum là tiêu cực.
Trang 15Tín hiệu mua:
Khi chỉ báo momentum cắt đường zero theo hướng đi lên (hướng tích cực), điều này gợi ý
là sự đảo chiều đang diễn ra, bởi đã có sự thoát ra khỏi vùng đáy hoặc sự tăng giá này nằm ở mức cao hơn mức đã xảy ra tăng giá gần đây nhất Khi đó người ta gọi là tín hiệu tăng giá (bullish signal)
Tín hiệu bán:
Khi chỉ báo momentum cắt đường zero theo hướng đi xuống (hướng tiêu cực) Điều này gợi
ý 2 điều:
Đường giá đã thoát khỏi vùng đỉnh và đang đảo chiều
Đường giá đã bị rớt giá mạnh xuống một vùng giá thấp hơn
Người ta gọi đây là tín hiệu giảm giá (bearish signal)
Tín hiệu thoát khỏi thị trường (exit signal)
Nói chung khi nói đến tín hiệu mua và bán là ít ai nói đến tín hiệu thoát khỏi thị trường Bán
ra trong dài hạn hoặc mua vào trong ngắn hạn thì chỉ báo momentum trong thời gian này sẽ quay về mức zero, điều này dẫn đến một phần hay tất cả những lợi nhuận hầu như chắc chắn
bị hao mòn hoặc nghiêm trọng hơn là nhà đầu tư sẽ chuyển từ người thắng cuộc trở thành người thua cuộc trên thương trường
Khi momentum trong quá trình đảo chiều và hướng trở về đường zero thì nó có nghĩa là lợi nhuận đã và đang bị hao mòn Điều mà những nhà đầu tư nên lưu ý ở giai đoạn này là sẽ có những mức thoái lui khỏi thị trường khi momentum trở về mức zero Một khả năng khác là
vẽ đường xu hướng, nếu nó bị “bẻ gãy” (break); thì đó cũng là tín hiệu thoát khỏi thị trường Giống như hầu hết các chỉ báo phân tích kỹ thuật khác, chúng ta đều có hai phần: kỹ thuật
và nghệ thuật để sử dụng một cách có hiệu quả
Tín hiệu mua bán không chỉ nên sử dụng một mình chỉ báo momentum, phần quan trọng nhất vẫn là tư tưởng kinh doanh
Sự phân kỳ của Momentum
Nhận biết phân kỳ giữa giá và kỹ thuật chỉ báo là một điều quan trọng không thể thiếu trong phân tích kỹ thuật Phân kỳ tăng giá (bullish divergences) có thể cho tín hiệu đảo chiều về giá trong ngắn hạn Tương tự, phân kỳ giảm giá (bearish divergences) cảnh báo giá đó đã chính xác hay thích hợp để thoát ra khỏi thị trường trong dài hạn
Trang 16Phân kỳ xảy ra không có nghĩa là đường giá tương lai sẽ có sự đảo chiều, mà nó mang tính chất cảnh báo sự đảo chiều của xu hướng giá mà thôi Sự đảo chiều mạnh cần có sự gãy khúc (break) của đường xu hướng giá xác nhận
Tuy nhiên, chỉ báo Momentum sẽ làm cho nhà đầu tư giảm thiểu quãng thời gian đầu tư dài hạn Chỉ báo momentum là công cụ đơn giản chưa hiệu quả trong phân tích kỹ thuật, mục đích chính của nó là đưa ra các vùng đề xuất mua bán và cảnh báo khả năng đảo chiều Ở cấp độ cao hơn, người ta đo lường sự phân kỳ của momentum qua chỉ báo ROC (Rate of change)
////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////
Chỉ báo DMI và ADX
Directional Movement Index (DMI)
DMI là 1 phần của chỉ báo ADX DMI bao gồm 2 đường DI+ và DI-, hiểu một cách đơn giản là DI+ cho tín hiệu mua và DI- cho tín hiệu bán
Trang 17Tín hiệu mua: Khi DI+ cắt và đi lên phía trên Tín hiệu bán: Khi DI- cắt và đi xuống phía dưới DI+
DI-Lưu Ý: Khi sử dụng sự giao cắt của DMI để nhận biết tín hiệu mua hoặc bán thì những tín
hiệu này thường hay bị sai lệch Để khắc phục chúng ta sẽ dùng chỉ báo ADX để xác nhận lại sự giao cắt của DMI Chỉ báo ADX (Average Directional Movement Index) là một phần quan trọng không thể thiếu khi sử dụng chỉ báo DMI
Average Directional Movement Index (ADX)
ADX là kỹ thuật chỉ báo thể hiện thị trường đang trong trạng thái có xu hướng hay không có
xu hướng Khi ADX đã xác nhạn có xu hướng thì kỹ thuật chỉ báo DMI sẽ chỉ ra những tín
Một cách hiểu nào đó chúng ta có thể cho rằng mục đích chính của ADX là để xác định rõ
xu hướng hiện tại của đường giá Nếu xác định rõ được xu hướng thị trường sẽ giúp ích cho chúng ta rất lớn, vì nó sẽ chỉ dẫn và giúp cho nhà đầu tư sử dụng những kỹ thuật chỉ báo khác để phân tích
Điều đầu tiên và luôn luôn phải nhớ khi sử dụng ADX là chú ý hướng đi của đường giá Khi ADX dao động tăng hay giảm không có nghĩa là xác định được hướng chuyển động tiếp theo của đường giá
• Một xu hướng tăng giá mạnh đồng nghĩa với ADX tăng liên tục.
• Một xu hướng giảm giá mạnh đồng nghĩa với ADX giam liên tục.
Diễn giải ADX:
• Dưới 20: thị trường không có xu hướng.
• Tăng từ dưới lên trên 20: báo hiệu bắt đầu một xu hướng mới Lúc này bắt đầu
suy nghĩ đến việc mua hoặc bán trong xu hướng ngắn hạn hiện tại
• Dao động giữa 20 – 40: Nếu ADX tăng theo hướng từ 20 lên 40; nó hàm ý xác
nhận mạnh xu hướng mới đã hình thành trước đó và tiếp tục di chuyển theo hướng đã bắt đầu Điều này có nghĩa là nhà đầu tư có thể sử dụng lệnh mua hoặc bán khống (short-sell) tuỳ theo hướng đi của xu hướng thị trường Trong giai đoạn này, nhà đầu
tư phải hạn chế sử dụng chỉ báo Oscillator và các chỉ báo tiếp tục xu hướng như là MA
Trang 18• Trên 40: xu hướng hiện tại là rất mạnh.
• Cắt vạch 50 theo hướng tăng: xu hướng cực kỳ mạnh.
• Cắt theo hướng tăng trên 70: Xu hướng tăng rất rât mạnh.
- Quá mua (overbought): có giá trị từ 0 cho tới -20 đại diện cho thời kỳ giảm giá (bearish)
- Quá bán (oversold): có giá trị từ -80 cho tới -100 đại diện cho thời kỳ tăng giá (bullish)
- Vùng không cho tín hiệu: có giá trị từ -20 cho đến -80 là vùng để xác nhận 1 tín hiệu (signal), chúng ta có thể đợi chỉ báo cắt qua đường -50 để xác nhận sức mạnh tiếp theo của
Nó cũng giống như tất cả các chỉ báo khác về vùng quá bán/quá mua Nó cho chỉ báo tốt nhất về sự thay đổi giá của cổ phần trước khi có sự đánh giá của nhà đầu tư Ví dụ nếu chỉ báo này đang trong vùng quá mua thì nó mách bảo cho chúng ta giá cổ phần sẽ quay đầu đi xuống trước khi cổ phần này được bán tháo (lưu ý nên dùng kèm với MACD là 1 chỉ báo rất tốt về sự thay đổi giá của cổ phần) Nếu chỉ báo này nằm trong vùng không cho tín hiệu (-20 cho đến -80) trong 1 khỏang thời gian đủ dài thì đường giá sẽ tiếp tục đi lên hay đi xuống của xu hướng hiện hành và được đo mạnh hay yếu nhờ mức -50.Hiện tượng nhà đầu tư bán nhiều khi chỉ số này nằm trong vùng quá mua (overbought), nếu
Trang 19xảy ra trong khỏang thời gian dài thì chúng ta nên thóat ra cổ phần này trước khi đường giá
Đây là sự kết hợp của chỉ số William's %R và chỉ số MACD cho tín hiệu mua và bán
/////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////
Stochastic Indicator
- Chỉ báo Stochastic (Stoc) là chỉ số căn bản cho khuynh hướng của thị trường Trong giai đọan tăng giá (bull market) thì chỉ số này đi lên, còn trong giai đọan giảm giá (bear market)
- Chỉ số này được cấu tạo bởi 2 đường: %K , %D và được tính tóan như sau:
%K = (giá hiện hành - giá thấp n) / (giá cao n - giá thấp n) Với n là số phiên giao dịch trong giai đọan đang xét (mặc định thường dùng là 14)
%D = (%K x + %K x-1 + %K x-2) / 3
Là trung bình 3 phiên của %K, trong đó x là số phiên hiện hành
- Có 2 dạng stochastic: đường nhanh (fast stochastic), đường chậm (low stochastic) Đường nhanh ảnh hưởng cực kỳ đến giá trong khi đó đường chậm chỉ đơn thuần là kết quả cân
- Chì số stochastich được giới hạn từ 0 đến 100, nhưng phần lớn nó nằm quanh vị trí 20-80,
nó phản ảnh các vùng quá bán (oversold) và vùng quá mua (oversbought) Đôi khi nó nằm ở những vùng 25-75 là những vùng hết sức nguy hiểm để thực hiện mua và bán vì ở tại những vùng này thường không có nhiều thông tin hỗ trợ.Cách sử dụng chỉ báo Stochastic: đây là 1 trong những chỉ số dùng để nhận biết sự đảo
Trang 201 Thông thường những vùng overbought/oversold là những vùng chỉ báo có sự biến động Tín hiệu bán khi chỉ báo stoc tăng mạnh lên trên 80 và cho tín hiệu mua khi stoc rơi xuống
2 Khi fast stochastic (%K) các low stochastic (%D) và hướng từ dưới lên sẽ cho tín hiệu mua, việc này có hiệu quả cao khi nằm trong vùng dưới 20 Tương tự, khi %K cắt %D từ trên xuống sẽ cho tín hiệu bán, điều này có hiệu quả cao khi nằm trong vùng trên 80
3 Phân kỳ: Khi đường giá tăng nhưng đường stochastic giảm thì cho tín hiệu bán Khi đường giá giảm mà đường stochastic tăng thì sẽ cho tín hiệu mua
Một tín hiệu mạnh xảy ra khi cả 3 tín hiệu trên đều cho ra 1 tín hiệu mua hay bán Đôi khi tại những lúc thị trường đạt đỉnh thì stochastic cũng nằm ở vị trí cao nhất và khi thị trường ở đáy thì stochastic cũng ở vị trí thấp nhất Đây cũng là dấu hiệu nhận biết để thóat ra hay
Trong ví dụ dưới đây Stochastic indicator bắt đầu trên 80 lúc cuối tháng 2 khi đó giá nằm khỏang 9450, sau đó giá tăng nhanh đến mức 9470 Sau đó là có những biến động nhẹ, và 1
ít dấu hiệu phân kỳ đã đẩy giá rớt xuống trong những ngày sau đó
//////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////// Hết bài
3 //////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////
Trang 21PHÂN TÍCH KỸ THUẬT ÁP DỤNG VÀO CHỨNG KHOÁN.
Gỉang viên : Trương Gia Quốc Bình ( nlcgiabinh )
CP-tot-nen-mua/p0.aspx
12/1: THT, TST (TST vuot may neu phien mai tang)
TIC tang trong phien thi mua
Nhom tich luy: NST, TIC, SGD, MKV, SAP, SDC, YBC, PPG
Năm 1978 J Welles Wilder giới thiệu chỉ số RSI, từ đó đến nay RSI và trở thành một trong các chỉ số phổ biến và hiệu quả được sử dụng trong phân tích kỹ thuật Đây là một chỉ số thuộc nhóm các phương pháp tương quan phản ánh tương quan sức mạnh sự tăng giá và giảm giá trong một thời kỳ
1 Tính toán RSI
RSI phản ánh mối quan hệ giữa sức tăng giá và sức giảm giá của một CP trong một thời kỳ xác định bằng cách lấy tỷ số giá trung bình của các phiên tăng và giá trung bình các phiên giảm trong thời kỳ đó
Gọi n là số các phiên trong thời kỳ xác định cần tính RSI.Gọi giá trung bình các phiên tăng trong n phiên là AIn = Tổng giá các phiên tăng / nGọi giá trung bình các phiên giảm trong n phiên là ADn = Tổng giá các phiên giảm / n
Chỉ số sức bền tương đối được tính bằng công thứcRSI = 100 – 100 / (1 + RS) (1)
Trang 22Trong đó RS = AIn / ADn là tỷ số giá trung bình các phiên tăng và giá trung bình các phiên giảm
Xét ví dụ về một phương pháp phân tích kỹ thuật sử dụng trung bình động.Giá CK trong 5 phiên đến ngày 18/05/2007 của Công ty cổ phần nhựa Đồng Nai – Mã CK DNP
Ngày Giá Thay đổi %thay đổi Khối lượng
RSI có hai ngưỡng siêu mua và siêu bán là 70 và 30, nếu giá trị của RSI lớn hơn 70 thị trường đang ở trạng thái siêu mua với sự áp đảo của phe mua, nếu RSI nhỏ hơn 30 thị trường đang ở ngưỡng siêu bán và phe bán đang áp đảo
Số phiên (giá trị của n) sử dụng để tính trung bình giá các phiên tăng và giá các phiên giảm càng lớn thì RSI càng chính xác theo ý nghĩa của công thức là phản ánh tương quan sức tăng và sức giảm của giá Tác giả J Welles Wilder cho rằng nên lấy 14 phiên để tính RSI
Trang 233 Sử dụng RSI
Như mọi loại máy hiển thị dao động kác, phân tích RSI dựa vào 3 ngưỡng:
• Siêu mua: mọi giá trị RSI ≥ 70 được gọi là siêu mua
• Siêu bán: mọi giá trị RSI ≤ 30 được gọi là siêu bán
• Trung bình: Ngưỡng 50 được gọi là trung bình, RSI > 50 báo hiệu về sự thắng thế của phe mua, RSI < 50 báo hiệu sự thắng thế của phe bán
Tín hiệu mua:
Mua khi RSI cắt và nằm phía trên lằn có giá trị 30 (Vùng quá bán)
Tín hiệu bán:
Bán khi RSI cắt và nằm phía dưới lằn có giá trị 70 (Vùng quá mua)
+ Một cách khác để nhận diện tín hiệu mua bán của chỉ báo RSI:
• Mua khi đường giá và đường RSI đều đang tăng, với điều kiện đường RSI cắt và nằm trên lằn có giá trị là 50
• Bán khi đường giá và đường RSI đều đang giảm, với điều kiện là RSI cắt và nằm phía dưới lằn có giá trị là 50
Lưu ý: Khi RSI tăng hoặc giảm không liên tục thì những tín hiệu mua bán không xuất hiện Có thể thay đổi số phiên đang xét ít hơn; ví dụ như mặc định là 14 phiên và ta sẽ điều chỉnh thành 5 phiên Cần nhớ rằng khi giảm số phiên chỉ mang tính chất nhất thời, không ổn định, khi tăng số phiên xem xét thì tín hiệu mau bán sẽ chắc chắn hơn
/////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////
MACD - TRUNG BÌNH ĐỘNG HỘI TỤ / PHÂN KỲ
Kể từ khi được Gerald Appel giới thiệu, MACD đã trở thành một trong những công cụ phân tích kỹ thuật đơn giản và tin cậy nhất MACD được tính toán dựa trên hiệu số của hai đường trung bình động dài hạn và ngắn hạn, giá trị trả về thuộc nhóm phân tích tương quan: tương quan giữa trung bình động dài hạn và trung bình động ngắn hạn
1 Tính toán
Về mặt tính toán MACD lấy một giá trị trung bình động của giá trong ngắn hạn trừ cho giá trị trung bình động trong dài hạn Thông thường MACD sử dụng EMA – 12 làm trung bình động ngắn hạn và EMA – 26 làm trung bình động dài hạn và cho hiệu số trên
Trang 241 Đường MACD: EMA (12): Đường trung bình giá trong 12 phiên gần nhất
Trừ EMA (26): Đường trung bình giá trong 26 phiên gần nhất
2 Đường tín hiệu MACD: là đường EMA (9) của đường MACD
3 Đường biểu đồ MACD: là MACD trừ đi đường tín hiệu MACD
Như vậy nếu MACD > 0 thì trung bình động ngắn hạn lớn hơn trung bình động dài hạn.Nếu MACD < 0 thì trung bình động dài hạn nhỏ hơn trung bình động ngắn hạn
Đồ thị các giá trị của MACD là một máy hiển thị dao động phản ánh tương quan giữa trung bình động ngắn hạn và trung bình động dài hạn Thông thường đồ thị này được vẽ kèm với
đồ thị trung bình động EMA – 9 của chính MACD và đồ thị MACD – Histogram là hiệu số của MACD và trung bình động EMA – 9 của chính MACD Về MACD - Histogram sẽ được nêu trong một bài khác
2 Ý nghĩa
So với các phương pháp phân tích khác, MACD thuộc về cả hai nhóm phân tích xu thế và phân tích tương quan, MACD vừa chỉ ra xu thế của thị trường vừa xác định các tín hiệu mua
và bán trên cùng một đồ thị
Như đã biết trong bài viết về trung bình động, khoảng cách giữa trung bình động ngắn hạn
và trung bình động dài hạn thể hiện xu thế tăng hoặc giảm của thị trường Nếu trung bình động ngắn hạn lớn hơn trung bình động dài hạn thì xu thế là tăng giá và MACD có giá trị dương Nếu giá trị MACD dương và ngày càng lớn thì xu thế thị trường tăng ngày càng mạnh, phe bò tót ngày càng thắng áp đảo Nếu trung bình động ngắn hạn nhỏ hơn trung bình động dài hạn thì xu thế là giảm giá và MACD có giá trị âm Nếu giá trị MACD âm và ngày càng nhỏ thì xu thế thị trường giảm ngày càng mạnh, phe gấu ngày càng thắng áp đảo Đường trung bình của MACD là 0 nơi mà trung bình động giá ngắn hạn gặp trung bình động giá dài hạn, tại đây bắt đầu có sự đổi chiều về xu thế của thị trường
3 Sử dụng
Khi sử dụng MACD cần chú ý các tín hiệu sau để phát lênh mua hoặc bán:
• Sự giao cắt giữa MCAD và đường trung bình động EMA của chính MACD: Nếu
đường MACD ở cắt đường trung bình động EMA của chính nó và đi xuống dưới đường này thì đó là tín hiệu bán ra để cắt lỗ Nếu đường MACD cắt đường EMA của chính nó và đi lên trên đường này thì đó là tín hiệu mua vào Sự giao
Trang 25cắt này được gọi là cò súng khai hỏa các tín hiệu mua và bán khác chính xác Tuy nhiên cũng chú ý rằng khi các tín hiệu này xảy ra thì thường sự việc đã xảy ra rồi Tuy không thể mua đáy bán đỉnh được nhưng việc bạn sớm mua vào hay bán ra ở đầu một xu thế lên giá hoặc giảm giá cũng là một món hời
• Sự giao cắt giữa MCAD và đường zero Sự giao cắt này chỉ là sự khẳng định lại tăng phần chắc chắn về xu thế mà các phép phân tích khác chỉ ra Thông thường sự giao cắt này xảy ra khá muộn với độ trễ lớn nhất là khi sử dụng MCAD với hai đường trung bình động trong 9 ngày và 26 ngày Do đó không thể dùng sự giao cắt này làm tín hiệu để phát lệnh mua/bán
Các tín hiệu trên cần kết hợp với nhiều tín hiệu trên các phân tích khác để có kết quả chính xác hơn
• Xác định xu thế tăng hoặc giảm hoặc dập dềnh
• Các dấu hiện về phân kỳ âm, phân kỳ dương
• Ngưỡng siêu mua/siêu bán
Khi phối hợp các tín hiệu trên với nau cần nhớ đến nghịch lý của việc áp dụng phân tích kỹ thuật: Việc áp dụng và chờ đợi càng nhiều tín hiệu để tăng phần khẳng định chính xác hơn của một quyết định mua bán có thể làm tăng phần chậm trễ cho quyết định mua bán đó và ngược lại việc áp dụng quá ít tín hiệu để ra quyết định mua bán cho kịp thời cơ có thể lại kém phần chính xác Quyết định chính xác nhất là không quyết định
//////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////
Thomas Aspray giới thiệu MACD – Histogram vào năm 1968 như một giải pháp làm giảm thiểu độ trễ của MACD Như đã biết sự giao cắt giữa MACD và đường trung bình động EMA của chính nó là phát pháo lệnh cho các hành vi mua và bán của nhà đầu tư Tuy nhiên nếu ngồi chờ phát pháo lệnh này thì sự việc có thể đã trễ Vì vậy MACD – Histogram được
ra nhằm mục đích dự đoán sự xuất hiện của phát pháo lệnh trước khi nó xảy ra, nhờ đó nhà đầu tư có thể ra quyết định mua/bán kịp thời hơn so với việc chờ đợi sự giao cắt giữa MACD và đường trung bình động của chính nó
Trang 261 Tính toán
Giá trị của MACD – Histogram được tính bằng hiệu của MACD và giá trị trung bình động EMA của chính MACD Thông thường nếu chọn MACD được tính bằng hiệu hai đường trung bình động của giá là EMA – 12 và EMA – 26 thì giá trị trung bình động EMA của chính MACD được chọn là 9 phiên
Đồ thị MACD – Histogram được vẽ trên cùng đồ thị với MACD dưới dạng biểu đồ hình cột Nếu MACD vượt đường trung bình động EMA của chính nó thì MACD – Histogram dương và biểu đồ cột quay lên trên Nếu MACD nằm dưới đường trung bình động EMA của chính nó thì MACD – Histogram âm và biểu đồ cột quay xuống dưới
MACD phản ánh sự chênh lệch giữa giá trị của MACD và giá trị trung bình động EMA – 9 của chính MACD
Nếu giá trị của MACD – histogram dương và càng lớn thể hiện phe bò tót càng thắng thế trên thị trường Nếu giá trị MACD – histogram âm và càng nhỏ thì phe gấu càng thắng thế trên thị trường
Việc giao cắt giữa MACD và đường trung bình động của chính nó là một hiệu lệnh cho hành vi mua vào hoặc bán ra Tại điểm giao cắt này MACD – Histogram có giá trị 0 Bằng việc dựa vào sự tăng giảm của MACD – Histogram để dự đoán việc MACD – Histogram bằng 0 sẽ xảy ra, nhờ đó MACD – Histogram đưa ra khuyến cáo về một hành vi mua bán của nhà đầu tư nên đến sớm hơn Kỹ thuật sử dụng để dự đoán như vậy chính là phân kỳ dương và phân kỳ âm
3 Sử dụng
Nếu đường MACD đang ở trên đường trung bình, giá cả đang lên nhưng MACD – Histogram có sự xuất hiện của phân kỳ âm thì dấu hiệu này cảnh báo về sự giao cắt của MACD với trung bình động của chính nó và sẽ thấp hơn trung bình động Lúc này nhà đầu
tư có thể ra quyết định bán ra sớm hơn việc chờ đợi sự giao cắt mới ra quyết định bán Nếu đường MACD đang ở dưới đường trung bình, giá cả đang xuống nhưng MACD – Histogram có sự xuất hiện của phân kỳ dương thì dấu hiệu này cảnh báo sự giao cắt của MACD và đường trung bình động EMA của chính nó và cao hơn trung bình động Lúc này nhà đầu tư có thể ra quyết định mua vào sớm hơn là việc chờ đợi sự giao cắt mới ra quyết định mua
Trang 27Chú ý rằng việc sử dụng MACD – Histogram để phán đoán cũng như sử dụng MACD giao cắt trung bình động EMA của chính nó được sử dụng dựa trên sự phối hợp bổ trợ với các phép phân tích khác
Ngoài ra vì MACD – Histogram dự đoán sự giao cắt của MACD nên dù có độ trễ ít hơn so với MACD nhưng tính chính xác lại kém hơn Sử dụng một biện pháp phỏng đoán gián tiếp qua một dấu hiện dự đoán khác thì sẽ kém an toàn hơn là sử dụng phép dự đoán trực tiếp //////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////
Fibonacci trong phân tích kỹ thuật
Có một “tỷ lệ” rất đặc biệt được sử dụng để mô tả tính cân đối của vạn vật từ những khối cấu trúc nhỏ nhất của thiên nhiên như nguyên tử cho đến những thực thể có kích thước cực
kỳ khổng lồ như thiên thạch Không chỉ thiên nhiên phụ thuộc vào nó để duy trì sự cân bằng
mà thị trường tài chính có vẻ như cũng vận động theo một quy luật tương tự Trong phạm vi bài viết, chúng ta sẽ xem qua một vài công cụ phân tích kỹ thuật được phát triển dựa trên các nghiên cứu trên cái mà người ta gọi là “tỷ lệ vàng” này
Các nhà toán học, khoa học, và tự nhiên học đã biết đến “tỷ lệ vàng” này trong nhiều năm
Nó được rút ra từ dãy Fibonacci, do nhà toán học người Ý, Leonardo Fibonacci 1250) tìm ra Trong dãy Fibonacci (1, 1, 2, 3, 5, 8, 13, 21, 34, 55, 89, 144, 610, etc), mỗi số trong dãy là tổng của hai số trước đó Điều đặc biệt nhất trong dãy này là bất kỳ một số nào cũng đạt giá trị xấp xỉ 1.618 lần số đứng trước và 0.618 lần số đứng sau nó (0.618 là nghịch đảo của 1.618) Tỷ lệ này được biết đến với rất nhiều tên gọi: tỷ lệ vàng, tỷ lệ thần thánh, PHI … Vậy thì, tại sao tỷ lệ này lại quan trọng đến vậy? Vạn vật dường như có thuộc tính gắn kết với tỷ lệ 1.618, có lẽ vì thế mà nó được coi là một trong những nhân tố cơ bản cấu thành nên các thực thể trong tự nhiên
(1175-Nếu chia tổng số ong cái cho tổng số ong đực trong một tổ ong bất kỳ, bạn sẽ có giá trị là 1.618 Nếu lấy khoảng cách từ vai đến móng tay chia cho khoảng cách giữa cùi chỏ và móng tay thì bạn cũng có được giá trị 1.618 Tính xác thực của các ví dụ trên bạn có thể từ
từ kiểm chứng nhưng chúng ta hãy cùng xem “tỷ lệ vàng” có ứng dụng gì trong tài chính
Trang 28Khi sử dụng phân tích kỹ thuật “tỷ lệ vàng” thường được diễn giải theo 3 giá trị phần trăm: 38.2%, 50%, và 61.8% Nhiều tỷ lệ khác có thể được sử dụng khi cần thiết, như 23.6%, 161.8%, 423% Có 4 phương pháp chính trong việc áp dụng dãy Fibonacci trong tài chính: Retracements, arcs, fans, và time zones
Fibonacci Arcs (FA) được thiết lập đầu tiên bằng cách vẽ đường thẳng kết nối 2 điểm có
mức giá cao nhất và thấp nhất của giai đoạn phân tích 3 đường cong sau đó được vẽ với tâm nằm trên điểm có mức giá cao nhất và có khoảng cách bằng 38.2%, 50.0%, 61.8% độ dài đường thẳng thiết lập
FA dùng để dự đoán mức hỗ trợ và kháng cự khi đồ thị giá tiếp cận với đường cong Một kỹ thuật phổ biến là theo dõi cả hai đường FA, FF (Fibonacci Fan) và dự đoán mức hỗ trợ/kháng cự tại điểm giao giữa đồ thị giá và đường FA/FF
Lưu ý rằng đồ thị giá cắt đường FA tại điểm nào còn tùy thuộc vào kích cỡ của đồ thị, nói cách khác đường FA được vẽ lên đồ thị nên nó có mối tương quan với kích cỡ cân đối của
đồ thị trên màn hình vi tính hoặc trên giấy
Đồ thị giá của Đồng Bảng Anh mô tả cách mà đường FA tìm ra các điểm hỗ trợ và kháng cự (điểm A, B, C)
Fibonacci Fan (FF) được vẽ bằng cách kết nối hai điểm giá cao nhất và thấp nhất của giai
đoạn phân tích Sau đó một đường thẳng đứng “vô hình” sẽ được vẽ qua điểm giá cao nhất
Trang 29Tiếp theo đó 3 đường chéo sẽ được vẽ từ điểm giá thấp nhất cắt đường thẳng đứng “vô hình” tại 3 mức 38.2%, 50.0%, 61.8%
Đồ thị sau của Taxaco cho thấy các ngưỡng hỗ trợ/kháng cự trên đường FF
Bạn có thể thấy khi đồ thị giá gặp đường FF cao nhất (điểm A), đồ thị giá không thể vượt qua đường FF trong nhiều ngày Khi giá vừa vượt qua đường FF, nó liền rớt nhanh chóng đến điểm đáy trên đường FF thứ 3 (điểm B và C) trước khi tìm được ngưỡng hỗ trợ Cũng lưu ý rằng khi giá di chuyển qua điểm đáy (điểm C), nó di chuyển một mạch tới điểm cao nhất (điểm D) trên đường FF thứ 1 và cũng là điểm kháng cự, sau đó rơi xuống điểm giữa trên đường FF thứ hai (điểm E) trước khi đổi chiều đi lên
Fibonacci Retracements (FR) được xác định trước tiên bằng cách vẽ đường thẳng nối kết
giữa hai điểm giá cao nhất và thấp nhất của đồ thị giá trong giai đoạn phân tích Một loạt 9 đường nằm ngang sau đó được vẽ lên tại các mức Fibonacci 0.0%, 23.6%, 38.2%, 50%, 61.8%, 100%, 161.8%, 261.8%, và 423.6% tương ứng với chiều cao tính từ điểm giá cao nhất đến thấp nhất (một số đường có thể không được vẽ ra khi nằm ngoài quy mô phân tích của đồ thị)
Sau mỗi giai đoạn biến động giá chính (có thể lên hoặc xuống), giá thường có xu hướng đảo ngược xu hướng (toàn bộ hoặc một phần) Khi giá đảo chiều, các ngưỡng hỗ trợ hoặc kháng cự mới thường nằm trên hoặc gần đường FR (xem đồ thị - ngưỡng hỗ trợ và kháng cự xuất hiện tại đường Fibonacci 23.6% và 38.2%)
Trang 30Fibonacci Time Zones bao gồm một loạt các đường thẳng đứng Sắp xếp theo trật tự của
dãy Fibonacci 1, 2, 3, 5, 8, 13, 21, 34, … Cũng như các đường khác, diễn biến thay đổi của giá thường có mức hỗ trợ/kháng cự nằm gần hoặc trên các đường thẳng đứng này
Các kết quả nghiên cứu về Fibonacci này không có ý định làm kim chỉ nam cho việc xác định thời gian xâm nhập hoặc thoát ra khỏi thị trường Tuy nhiên, nó có thể hữu ích trong việc xác định vùng hỗ trợ và kháng cự Đa phần các nhà đầu tư sử dụng kết hợp cả 4 phương pháp Fibonacci này để có thể đưa ra các mức dự đoán chính xác hơn Một nhà phân tích có thể chỉ sử dụng Fibonacci Arcs và các điểm giao tại vùng hỗ trợ hoặc kháng cự Nhiều người khác kết hợp các nghiên cứu về Fibonacci với các dạng thức phân tích kỹ thuật khác như “lý thuyết sóng Elliot” để dự đoán mức độ đảo ngược xu hướng sau mỗi bước sóng khác nhau
Trang 312 ////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////
Trang 32PHÂN TÍCH KỸ THUẬT ÁP DỤNG VÀO CHỨNG KHOÁN
BÀI 1 :
Newton một nhà vật lý, toán học thiên tài cũng là một nhà đầu tư chứng khoán Kết quả kinh doanh của ông: phá sản với câu nói nổi tiếng của mình “Tôi có thể cân được khối lượng của linh hồn nhưng không thể đo được sự điên rồ của con người” Câu chuyện trên là một ví dụ về phân tích kỹ thuật bằng phép cân linh hồn của Newton Vậy bản chất phân tích kỹ thuật là gì và tại sao một thiên tài về cân đo đong đếm như Newton vẫn có thể thất bại trên thị trường?
Bài viết này sẽ giới thiệu tổng quan về phân tích kỹ thuật: khái niệm, các yếu tố liên quan và cách thức sử dụng chung
1 Phân tích kỹ thuật là gì
Phân tích kỹ thuật sử dụng các mô hình toán học (đồ thị, biến đổi miền, xác suất thống kê, …) dựa trên dữ liệu thu thập về thị trường trong quá khứ và hiện tại để chỉ ra trạng thái của thị trường tại thời điểm xác định, thông thường là nhận định xu hướng thị trường đang lên, xuống hay “dập dềnh” hoặc nhận định tương quan lực lượng giữa sự tăng và sự giảm giá Phân tích kỹ thuật không
để ý đến các chỉ số tài chính, tình hình phát triển hay các thông tin về thị trường về doanh nghiệp
mà chỉ chú trọng vào tập các dữ liệu về giá cả, khối lượng, … của cổ phiếu thu thập được tại các phiên giao dịch trong quá khứ
Chính vì chỉ dựa vào tập dữ liệu đã tồn tại trên thị trường – tức là các thông tin trong quá khứ - phân tích kỹ thuật không phải là công cụ để dự đoán tương lai giá cả của cổ phiếu Những kết luận thu được từ các biện pháp phân tích kỹ thuật chỉ thị trạng thái của thị trường đã xảy ra trong quá khứ; thời điểm rút ra kết luận về trạng thái của thị trường luôn luôn đi sau so với sự kiện đã xảy ra Khoảng thời gian chênh lệch đó gọi là độ trễ
2 Các thuộc tính và tính chất
Một phép phân tích kỹ thuật thông thường có các thuộc tính và tính chất sau
- Số phiên tính toán: số phiên lấy dữ liệu tính toán cho một giá trị của phân tích Trong ví dụ về trung bình động của DNP ở phần đầu, số phiên lấy dữ liệu là 5 phiên Nhà đầu tư càng ngắn hạn bao nhiêu thì càng chọn số phiên tính toán càng nhỏ bấy nhiêu
- Độ trễ: Khoảng thời gian từ lúc trạng thái thị trường đã xảy ra cho đến khi phép phân tích chỉ ra
Trang 33được trạng thái đó Trong cùng 1 phương pháp phân tích, số phiên tính toán càng lớn thì độ trễ càng lớn Nhà đầu tư càng ngắn hạn bao nhiêu thì càng mong muốn độ trễ nhỏ bấy nhiêu.
- Độ nhạy: Sự kịp thời trong phản ánh các biến động của thị trường của thị trường Tính chất này
- Độ chính xác: Tính ít sai xót trong phản ánh các biến động của thị trường Tuy nhiên độ chính xác và độ nhạy lại đối nghịch với nhau
3 Vai trò của phân tích kỹ thuật
Phân tích kỹ thuật đóng vai trò là công cụ trợ giúp nhà đầu tư với ba chức năng chính: báo động, xác thực và dự đoán
Với vai trò là công cụ báo động, phân tích kỹ thuật cảnh báo sự xuyên phá các ngưỡng an toàn (resistance và support: chúng ta sẽ tìm hiểu về hai khái niệm này trong các bài viết khác) và thiết lập nên các ngưỡng an toàn mới hay nói cách khác là thiết lập mức giá mới thực sự thay vì dao động quanh một mức giá cũ Đối với nhà đầu tư việc nhận biết các dấu hiệu về sự thay đổi mức giá càng sớm càng tốt giúp cho họ sớm có hành động mua vào hoặc bán ra kịp thời
Với vai trò là công cụ xác nhận, mỗi phương pháp phân tích kỹ thuật được sử dụng kết hợp với các phương pháp kỹ thuật khác hoặc các phương pháp phi kỹ thuật để xác nhận về xu thế của giá Việc kết hợp và bổ trợ lẫn nhau giữa các phương pháp kỹ thuật khác nhau giúp nhà đầu tư có được kết luận chính xác và tối ưu hơn
Với vai trò là công cụ dự đoán, nhà đầu tư sử dụng các kết luận của phân tích kỹ thuật để dự đoán giá cả của tương lai với kỳ vọng về khả năng đoán tốt hơn Tuy nhiên như trên đã nói, bản chất của phân tích kỹ thuật không phải là dự báo tương lai mà là chỉ thị trạng thái thị trường trong quá khứ với một độ trễ; do đó nếu sử dụng như một công cụ dự đoán nhà đầu tư cần phải tính đến một xác suất an toàn và chấp nhận rủi ro khi dự đoán là không phù hợp Không ai có thể nói trước tương lai chỉ bằng thông tin trong quá khứ Tuy nhiên nhờ có phân tích kỹ thuật, khả năng đoán sai do đoán
mò hoặc a dua đám đông được hạn chế rất nhiều
Mỗi phương pháp kỹ thuật được áp dụng sẽ thể hiện các vai trò trên với các ưu nhược điểm khác nhau Chi tiết về các vai trò sẽ được nêu trong các bài viết trình bày cụ thể về từng phương pháp
4 Biến động giá, Resistance và Support
Giá một CP biến động liên tục trên thị trường theo thời gian trải qua nhiều giai đoạn khác nhau Trên quan điểm phân tích kỹ thuật, sự biến động giá trong một giai đoạn nhất định được chia làm 2 loại: “dập dềnh” (trading market) và có xu thế (trending market) Biến động có xu thế được chia ra làm hai loại là biến động tăng và biến động giảm (trending up và trending down) Các loại biến
Trang 34động này đều có thể nhận ra bằng mắt thường hoặc thực hiện thống kê.
Biến động “dập dềnh” là giai đoạn giá CP thực sự tăng và không thực sự giảm Trong giai đoạn này, giá của CP liên tục dao động lúc lên lúc xuống nhưng xoay quanh một mức giá cố định Trong một vài phiên ngắn hạn giá cả có thể đi lên hoặc đi xuống nhưng nhìn chung trong cả thời kỳ giá
Biến động có xu thế là giai đoạn giá CP đi lên hoặc đi xuống rõ ràng Mặc dù có sự tăng và giảm giá xen kẽ trong ngắn hạn một vài phiên nhưng nhìn chung trong cả giai đoạn giá theo xu hướng đi lên hoặc đi xuống Nếu giá đi lên ta gọi là giai đoạn biến động tăng, nếu giá đi xuống ta gọi là biến động giảm
5 Biến động giá và nhiệm vụ của phân tích
Trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, giá của CP trải qua nhiều loại biến động Đối với mỗi giai đoạn biến động dập dềnh hoặc có xu thế, các câu sau hỏi được đặt ra đối với phân tích kỹ thuật:
• Nếu CP đang ở giai đoạn biến động dập dềnh thì giai đoạn tiếp theo là biến động tăng hay biến động giảm?
• Nếu CP đang ở giai đoạn biến động có xu thế thì thời điểm hiện tại đã là lúc kết thúc chưa hay biến động có xu thế này vẫn còn tiếp tục và kéo dài trong bao lâu?
• Nếu CP đang ở giai đoạn biến động có xu thế thì sau khi kết thúc biến động này thì giai đoạn tiếp theo liệu có phải là giai đoạn biến động theo xu thế ngược lại không hay sẽ biến động dập dềnh?
Nếu giải đáp được các câu hỏi trên nhà đầu tư sẽ nhanh chóng có được quyết định mua vào hoặc bán ra đúng đắn, đặc biệt đối với các chuyên gia lướt sóng kiếm lợi nhuận bằng giá chênh lệch khi bán và khi mua:
• Nếu CP đang ở giai đoạn biến động dập dềnh mà giai đoạn tiếp theo là biến động tăng thì nên mua vào Khi giá đã lên cao hơn có thể bán ra để kiếm lời Ngược lại nếu giai đoạn tiếp theo là biến động giảm thì nên bán ra để tránh lỗ
• Nếu xu thế hiện tại là xu thế tăng và đang ở giai đoạn đầu của xu thế này thì nên mua vào thuận theo xu thế để bán ra khi giá đã lên cao hơn Ngược lại nếu xu thế hiện tại là xu thế giảm
và đang ở giai đoạn đầu của xu thế này thì nên bán ra thuận theo xu thế để giảm lỗ Khi giá đã xuống thấp hơn có thể mua vào lại để bán ra khi thị trường phục hồi
Trang 35Việc áp dụng một phép phân tích kỹ thuật cần phải giải đáp được một vài trong số các câu hỏi trên, cũng có khi phải phối hợp các phép phân tích kỹ thuật và phi kỹ thuật khác để trả lời được nhiều hơn một câu hỏi và tăng độ chính xác cho mỗi câu trả lời
6 Phân loại các biện pháp phân tích kỹ thuật
a Phân tích tương quan (Leading Indicators)
Các phương pháp phân tích tương quan chỉ ra tương quan lực lượng giữa sự tăng giá và sự giảm giá, tương quan lực lượng giữa phe mua và phe bán trong một thời kỳ xác định Sự tương quan đó ánh xạ thành một giá trị đại diện xác định Nếu sự tăng giá là lớn hơn sự giảm giá thì giá trị này lớn, nếu sự tăng giá là nhỏ hơn sự giảm giá thì giá trị này nhỏ Sự tăng giá càng áp đảo bao nhiêu thì giá trị này càng lớn bấy nhiêu, sự giảm giá càng áp đảo bao nhiêu thì giá trị này càng nhỏ bao nhiêu Tên tiếng anh của nhóm phương pháp này là Leading Indicators – leading có nghĩa là dẫn dắt hàm ý chỉ ra sự tăng giá hay sự giảm giá đang giữ thế chủ đạo trên thị trường, dẫn dắt diễn biến của thị trường
b Phân tích xu thế (Lagging Indicators)
Các phương pháp thuộc nhóm này chỉ ra xu thế chung của thị trường trong một thời kỳ xác định
Xu thế đó có thể là tăng giá, có thể là giảm giá hoặc trạng thái “dập dềnh” Theo cách đó nếu chỉ dựa vào 1 giá trị tính toán được của phương pháp này thì không đủ để nhận định xu thế của thị trường mà phải dựa vào một dãy các giá trị của các thời kỳ khác nhau để vẽ nên đường xu thế của thị trường (Xem lại ví dụ ở phần đầu về công ty cổ phần nhựa Đồng Nai)
Các phương pháp phân tích xu thế có tính chất trễ nghĩa là khi phát hiện ra dấu hiệu thị trường đang theo xu thế tăng hay giảm giá thì thực chất xu thế này đã xảy ra – vì vậy tên tiếng Anh của phương pháp này là Lagging Indicators với lagging có nghĩa là trễ
Phân tích xu thế không trực tiếp phát sinh các tín hiệu mua và bán cho các nhà đầu tư nhưng phân tích xu thế xác nhận và bổ sung tính chất đúng đắn trong các quyết định mua và bán của nhà đầu
tư Tuy nhiên Khi sử dụng phân tích xu thế cần chú ý khi thị trường biến động dập dềnh sẽ làm mất tác dụng của phân tích xu thế Chi tiết hơn về sử dụng phân tích xu thế sẽ được nên trong các phần sau
c Phối hợp sử dụng phân tích tương quan và phân tích xu thế
Phân tích tương quan cung cấp những tín hiệu cảnh báo sớm về tiềm năng của thị trường Những cảnh báo sớm này tỏ giúp cho các nhà đầu tư nhanh chóng đưa ra quyết định mua và bán phù hợp
Trang 36Phân tích xu thế tuy không đưa ra được các tín hiệu nhanh chóng như phân tích tương quan nhưng phân tích xu thế là một công cụ xác thực tính đúng đắn của phân tích tương quan Phân tích tương quan chỉ có thể cảnh báo chính xác nhất nếu được kết hợp với phân tích xu thế, giảm thiểu các tín hiệu không chính xác, giảm rủi ro cho nhà đầu tư Chi tiết hơn về việc sử dụng phối hợp phân tích tương quan và phân tích xu thế sẽ được nêu trong các phần sau
7 Nghịch lý
Mong đợi của nhà đầu tư là có một phân tích nhạy cảm ánh xạ kịp thời các biến động của thị trường, đồng thời phải mô tả chính xác ý nghĩa của các biến động đó Tuy nhiên hai yếu tố nhạy cảm và chính xác không bao giờ song hành Nếu một phương pháp càng nhạy bén với các biến động của thị trường thì nó càng phản ánh thiếu chính xác trạng thái của thị trường Sử dụng phân tích kỹ thuật quá nhạy và thiếu chính xác, nhà đầu tư sẽ nhận được các kết luận sai lầm dẫn đến các quyết định sai lầm Ngược lại một phương pháp nếu muốn mô tả thị trường càng ít sai sót bao nhiêu thì nó càng phải ít nhạy với các biến động thị trường nghĩa là luôn đi sau sự biến động của thị trường Nếu sử dụng phân tích quá chính xác lại không nhạy cảm, nhà đầu tư sẽ chậm chân để mất cơ hội làm ăn vì kết luận chính xác được rút ra là quá muộn
8 Máy hiển thị giao động và phân tích tương quan
Do phân tích tương quan đóng vai trò phát sinh các tín hiệu mua và bán chủ đạo, vì vậy cần nghiên cứu chi tiết hơn về phân tích tương quan với công cụ phổ biến của nó là máy hiển thị dao động Máy hiển thị dao động là đồ thị các giá trị của một phân tích tương quan theo thời gian Mục này
sẽ nêu các yếu tố phân tích sử dụng trong máy hiển thị dao động để phát hiện và củng cố các quyết định mua và bán của nhà đầu tư
Các yếu tố phân tích sử dụng trong máy dao động
a Phân kỳ
Phân kỳ đóng vai trò phát sinh các tín hiệu mua và bán hoặc giữ vai trò là một cảnh báo về sự thay đổi xu thế Có 2 loại phân kỳ là phân kỳ dương và phân kỳ âm Phân kỳ dương là phân kỳ mà giá trị của phân tích tăng nhưng giá của chứng khoán đang có xu hướng giảm; phân kỳ dương báo hiệu
về sự thay đổi xu hướng sắp tới của giá là tăng giá Phân kỳ âm là phân kỳ mà giá trị của phân tích giảm nhưng giá của chứng khoán tăng; phân kỳ âm báo hiệu về sự thay đổi xu thế sắp tới sẽ là giảm giá
Điều này không có nghĩa là tại thời điểm mà nhà đầu tư nhìn thấy chu kỳ dương hoặc chu kỳ âm thì xu thế giá sẽ thay đổi trong tương lai gần, rất khó xác định khi nào sự thay đổi xu thế sẽ xảy ra
Trang 37Vì vậy không thể ra quyết định mua hoặc bán chỉ dựa vào phân kỳ mà phải sử dụng với vai trò củng cố bổ trợ với các tín hiệu khác
b Siêu mua /Siêu bán
Siêu mua và siêu bán là hai ngưỡng giá trị của phân tích Mọi giá trị nằm trên ngưỡng siêu mua thì tại đó nó thể hiện phe bò tót đang thắng thế áp đảo trên thị trường, giá CP tăng Mọi giá trị nằm dưới ngưỡng siêu bán là giá trị mà tại đó nó thể hiện phe gấu đang thắng thế áp đảo khiến giá CP giảm
Phân tích việc xuyên phá các ngưỡng giá trị này nhằm chỉ ra khi giá CP đang biến động dập dềnh nhằm chỉ ra xu thế sắp tới của giá CP sẽ là tăng giá hay giảm giá Trong trường hợp giá CP biến động có xu thế, sử dụng các ngưỡng siêu mua hoặc siêu bán thường hay cho tín hiệu không phù hợp nếu việc mua và bán đi ngược lại xu thế của thị trường Tuy nhiên vẫn có thể sử dụng các tín hiệu mua hoặc bán khi giá trị siêu mua hoặc siêu bán bị xuyên phá nhưng phải thuận theo xu thế chung thị trường mà không được đi ngược lại Cụ thể nếu có tín hiệu mua và biến động là tăng thì
có thể mua, nếu có tín hiệu bán và biến động là giảm thì có thể bán; xu thế càng mạnh mẽ thì tín hiệu càng đáng tin cậy Nếu đi ngược lại xu thế: mua khi đang biến động giảm hoặc bán khi biến động tăng thì nhiều khả năng các tín hiệu mua hoặc bán được sinh ra do sự xuyên phá các ngưỡng siêu mua hoặc siêu bán này không đáng tin cậy
c Đường trung bình
Đường trung bình là ngưỡng trung bình giá trị của phân tích Sự xuyên phá ngưỡng này báo hiệu
sự đổi chiều phần thắng thuộc về phe bò tót hay gấu Nếu sự xuyên phá là vượt ngưỡng trung bình, thế trận đổi chiều nghiêng phần thắng về phe bò tót Ngược lại nếu sự xuyên phá là xuống dưới ngưỡng trung bình điều đó có nghĩa thế trận đổi chiều nghiêng phần thắng về phe gấu
9 Nhận biết các tín hiệu mua và bán
Để đưa ra các quyết định mua và bán hợp lý, cần có một số tín hiệu khác nhau bổ trợ lẫn nhau nhằm tăng cường độ chính xác của các tín hiệu và giảm thiểu rủi ro đối mới mỗi quyết định Các dấu hiệu sau được sử dụng để báo hiện việc mua hoặc bán:
• Nếu giá trị của máy dao động từ dưới vượt qua ngưỡng siêu mua rồi quay trở lại xuống dưới ngưỡng này, đồng thời xu thế giá là đi xuống hoặc biến động dập dềnh Điều đó cảnh báo thị trường sẽ chuyển sang xu thế giảm giá hoặc đang ở giai đoạn đầu của xu thế giảm giá Đây
là tín hiệu bán ra
Trang 38• Nếu giá trị của máy dao động từ dưới vượt qua ngưỡng siêu bán rồi quay trở lại lên trên ngưỡng này, đồng thời xu thế giá là đi lên hoặc biến động dập dềnh Điều đó cảnh báo thị trường sẽ chuyển sang xu thế tăng giá hoặc đang ở giai đoạn đầu của xu thế tăng giá Đây là tín hiệu mua vào
• Nếu xu thế giá đang tăng mạnh, khi giá trị của máy dao động vượt qua ngưỡng siêu mua có nghĩa là đang ở giai đoạn đầu của xu thế tăng giá và sẽ tiếp tục tăng Đây là tín hiệu mua vào
• Nếu xu thế giá đang giảm mạnh, khi giá trị của máy dao động vượt qua ngưỡng siêu bán có nghĩa là đang ở giai đoạn đầu của xu thế giảm giá và sẽ tiếp tục giảm, Đây là tín hiệu bán
ra
• Nếu giá trị máy dao động đang ở dưới ngưỡng siêu bán nhưng có sự xuất hiện của phân kỳ dương thì đó là tín hiệu mua vào Chú ý tính thuận theo xu thế: nếu thị trường ở trạng thái dập dềnh hoặc xu thế là tăng hoặc giảm nhẹ thì có thể mua, nếu thị trường ở trạng thai giảm mạnh thì tín hiệu này không đáng tin
• Nếu giá trị máy dao động đang ở trên ngưỡng siêu mua nhưng có sự xuất hiện của phân kỳ âm thì đó là tín hiệu bán ra Chú ý tính thuận theo xu thế: nếu thị trường ở trạng thái dập dềnh hoặc xu thế là giảm hoặc tăng nhẹ thì có thể bán, nếu thị trường ở trạng thái tăng mạnh thì tín hiệu này không đáng tin
• Nếu giá trị máy dao động tăng vượt qua giá trị trung bình và có sự xuất hiện của phân kỳ dương và xu thế giá đi lên thì đó là tín hiệu mua vào
• Nếu giá trị máy dao động giảm xuống xuyên qua giá trị trung bình và có sự xuất hiện của phân kỳ âm và xu thế giá đi xuống thì đó là tín hiệu bán ra
10 Kết luận
Phân tích chứng khoán là một nghệ thuật hơn là một ngành khoa học chính xác Vì vậy cần phải sử dụng kết hợp nhiều phương pháp khác nhau để đạt đến kết quả tốt nhất Thậm chí ngay trong cùng một phương pháp cũng có nhiều cách sử dụng khác nhau tùy thuộc vào ngữ cảnh cụ thể Vì vậy cần phải trải qua rèn luyện kiến thức và thực hành để tự đào tạo bản thân đạt được sự nhạy bén và chính xác mà không một phương pháp nào có thể đạt được
///////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////
LÝ THUYẾT DOW (12) – NỀN TẢNG CỦA PHÂN TÍCH KỸ THUẬT
Trang 39Ba xu thế của thị trường
Thuật ngữ thị trường nhằm chỉ giá chứng khoán nói chung, dao động của thị trường tạo thành các
xu thế giá, trong đó quan trọng nhất là các xu thế cấp 1 (xu
thế chính hay xu thế cơ bản) Đây là những biến động tăng
hoặc giảm với qui mô lớn, thường kéo dài trong một hoặc
nhiều năm và gây ra sự tăng hay giảm đến 20% giá của các
cổ phiếu Chuyển động theo xu thế cấp 1 sẽ bị ngắt quãng
bởi các bởi sự xen vào của các dao động cấp 2 theo hướng
đối nghịch - gọi là những phản ứng hay điều chỉnh của thị
trường Những biến động này xuất hiện khi xu hướng cấp 1
tạm thời vượt quá mức độ hiện tại của bản thân nó (gọi
chung các biến động này là các biến động trung gian - biến
động cấp 2) Những biến động cấp 2 bao gồm những biến động giá nhỏ hay gọi là những biến động hàng ngày và không có ý nghĩa quan trọng trong Lý thuyết Dow
A Xu thế cấp 1
Phan anh xu the chu dao cua thi truong,co the len hoac xuong
Như đã nói đến ở phần trước, xu thế cấp 1 là những chuyển động lớn của giá, bao hàm cả thị trường, thường kéo dài hơn 1 năm và có thể là trong vài năm Nếu như mỗi đợt tăng giá liên tiếp đều đạt đến mức cao hơn mức trước đó và mỗi điều chỉnh cấp 2 đều dừng lại ở mức đáy cao hơn mức đáy của lần điều chỉnh trước thì xu thế cấp 1 lúc này là tăng giá - thị trường lúc này là thị trường con bò tót - Bull Market (để đảm bảo tính chính xác, trong phần còn lại của của đề án sẽ dự nguyên thuật ngữ tiếng Anh : Bull Market) Còn ngược lại nếu mỗi biến động giảm đều làm cho giá xuống những mức thấp hơn còn mỗi điều chỉnh đều không đủ mạnh để làm cho giá tăng lên đến mức đỉnh của những đợt tăng giá trước đó thì xu thế cấp 1 của thị trường lúc này là giảm giá, thị trường được gọi là thị trường con gấu-Bear Market (trong phần còn lại sẽ giữ nguyên từ tiếng Anh) Thông thường, về lý thuyết thì xu thế cấp 1 chỉ là một trong 3 loại xu thế mà một nhà đầu tư dài hạn quan tâm Mục đích của nhà đầu tư đó là mua chứng khoán càng sớm càng tốt trong một thị trường lên giá, sớm đến mức anh ta có thể chắc chắn rằng mới có duy nhất mình anh ta bắt đầu mua và sau đó nắm giữ đến khi và chỉ khi Bull Market đã thực sự kết thúc và bắt đầu Bear Market Nhà đầu tư hiểu rằng họ có thể bỏ qua một cách an toàn tất cả những sự xen vào của các điều chỉnh
Trang 40cấp 2 và các dao động nhỏ vì họ đầu tư dài hạn theo xu thế chính của thị trường Tuy nhiên với một kinh doanh chứng khoán ngắn hạn thì những biến động của xu thế cấp 2 lại có vai trò quan trọng bởi họ kiếm lợi nhuận dựa trên những biến động ngắn hạn của thị trường
B Xu thế cấp 2
Su hoan` lai, co xu huong chay nguoc lai xu huong cap 1
Giam xuong it nhat 1/3 xu huong da tang
Muc hoan lai Fibo 38.2
Muc giam lon nhat 2/3 Fibo 2.8
Ngoai ra cac xu the dao? Lai deu` la xu the nho khong goi la xu the cap 2 (xu huong nho xuat hien lien tuc) dieu chinh
Day sau cao hon day truoc va dinh sau cao hon dinh truoc van la bulltrap
Xu thế cấp 2 là những điều chỉnh có tác động làm gián đoạn quá trình vận động của giá theo xu thế cấp 1 Chúng là những đợt suy giảm tạm thời (trung gian) hay còn gọi là những điều chỉnh xuất hiện ở các Bull Market; hoặc những đợt tăng giá hay còn gọi là hồi phục xuất hiện ở các Bear Market Thường thì những biến động trung gian này kéo dài từ 3 tuần đến nhiều tháng Chúng sẽ kéo ngược lại khoản 1/3 đến 2/3 mức tăng (hay giảm tùy loại thị trường) của giá theo xu thế cấp 1
Do đó, chẳng hạn trong Bull Market, nếu chỉ số giá bình quân công nghiệp tăng liên tục ổn định hoặc có gián đoạn rất nhỏ và mức tăng đạt đến 30 điểm, khi đó xuất hiện xu thế điều chỉnh cấp 2, thì người ta có thể trông đợi xu thế điều chỉnh này có thể làm giảm từ 10 đến 20 điểm cho đến khi thị trường lặp lại xu thế tăng cấp 1 ban đầu của nó
Dẫu sao cũng cần lưu ý là qui tắc giảm 1/3 đến 2/3 không phải là một luật lệ không thể phá vỡ mà
nó đơn giản chỉ là một nhận xét về khả năng có thể xảy ra mà hầu hết các biến động cấp 2 đều bị giới hạn trong mức này Rất nhiều trong số đó ngừng tác động ở điểm gần với mức 50% mà rất