1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Việt Nam Thu Thập Thông Tin và Khảo Sát về Nợ Xấu và Tái Cơ Cấu Hệ Thống Doanh Nghiệp

181 234 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 181
Dung lượng 2,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Danh Mục Các Từ Viết Tắt ABA Hiệp Hội Ngân Hàng Châu Á ASEAN Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á CIC Trung Tâm Thông Tin Tín Dụng DATC Công Ty Mua Bán Nợ Việt Nam DES Chuyển Nợ Thành Cổ Phầ

Trang 1

Nishimura & Asahi LPC

Trang 2

Báo cáo tổng hợp này đưa ra các kết quả của cuộc khảo sát cơ bản về xử lý NX, cải cách DNNN và các kiến nghị về chính sách phục vụ việc thúc đẩy xử lý NX và cải cách DNNN liên quan đến các dự án hợp tác kỹ thuật về cải cách DNNN và xử lý NX trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam mà Cơ Quan Hợp Tác Quốc Tế Nhật Bản (JICA) sẽ thực hiện theo yêu cầu

của Chính Phủ Việt Nam Báo cáo tổng hợp này được soạn thảo bởi Nishimura & Asahi LPC

dựa trên sự chỉ định của JICA

Các quan điểm được trình bày trong báo cáo tổng hợp này là của nhóm nghiên cứu, và không

phản ánh các quan điểm hay các chính sách của JICA và Nishimura & Asahi LPC

Hơn nữa, báo cáo tổng hợp này được đưa ra dựa trên các yếu tố về luật pháp và tình hình chính trị và xã hội tại thời điểm đưa ra báo cáo Do đó, ngoại trừ trường hợp được nêu cụ thể trong báo cáo tổng hợp này, các văn bản pháp luật được đề cập trong báo cáo này là các văn

bản pháp luật có hiệu lực vào thời điểm đưa ra Báo cáo tổng hợp này, không bao gồm các văn

bản pháp luật sửa đổi, bổ sung chưa có hiệu lực vào thời điểm đưa ra báo cáo tổng hợp này, cũng như không bao gồm các văn bản pháp luật sẽ được sửa đổi trong tương lai

Trang 3

Danh Mục Các Từ Viết Tắt

ABA Hiệp Hội Ngân Hàng Châu Á

ASEAN Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á

CIC Trung Tâm Thông Tin Tín Dụng

DATC Công Ty Mua Bán Nợ Việt Nam

DES Chuyển Nợ Thành Cổ Phần

DICJ Công Ty Bảo Hiểm Tiền Gửi Nhật Bản

DIV Bảo Hiểm Tiền Gửi Việt Nam

TĐKT Tập Đoàn Kinh Tế

GDP Tổng Sản Phẩm Quốc Nội

IMF Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế

IRCJ Công Ty Phục Hồi Kinh Doanh Nhật Bản

JICA Cơ Quan Hợp Tác Quốc Tế Nhật Bản

NRAST Cục Đăng Ký Quốc Gia Giao Dịch Bảo Đảm

RCC Công Ty Xử Lý và Thu Hồi Nợ

NHNN Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam

SCIC Tổng Công Ty Đầu Tư và Kinh Doanh Vốn Nhà Nước

DNNN Doanh Nghiệp Nhà Nước

VAMC Công Ty Quản Lý Tài Sản Của Các Tổ Chức Tín Dụng Việt Nam

Các Định Nghĩa

Trong báo cáo này, không phụ thuộc vào các định nghĩa đã đươc quy định theo pháp luật Việt Nam, các doanh nghiệp nội địa được thành lập ở Việt Nam không có vốn đầu tư từ các chủ thể bên ngoài Việt Nam được định nghĩa là “doanh nghiệp trong nước”; các doanh nghiệp nội địa được thành lập ở Việt Nam có vốn đầu tư từ các chủ thể bên ngoài Việt Nam được định nghĩa

là “doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài”; các pháp nhân hay chủ thể dưới các hình thức khác được thành lập ở nước ngoài được định nghĩa là “doanh nghiệp nước ngoài” Các cá

Trang 4

nhân hay doanh nghiệp đầu tư từ nước ngoài vào Việt Nam được định nghĩa là “nhà đầu tư nước ngoài”, và “nhà đầu tư nước ngoài” bao gồm “doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài”

và “doanh nghiệp nước ngoài”

Trang 5

Mục Lục

Phần I Bối Cảnh ··· 1

I Bối Cảnh Báo Cáo ··· 1

II Mục Đích của Báo Cáo ··· 2

Phần II Khuôn Khổ Hệ Thống Pháp Lý ··· 5

I Khuôn Khổ Pháp Lý Về QSDĐ ··· 5

1 Nguyên Tắc Cơ Bản ··· 5

2 Phân Loại QSDĐ ··· 5

3 Cách Thức Có Được QSDĐ ··· 5

4 Cơ Quan Có Thẩm Quyền Quyết Định Giao/Cho Thuê QSDĐ và Giá Đất ··· 6

5 Cách Thức Ghi Nhận QSDĐ Trên Bảng Cân Đối Kế Toán ··· 6

6 Thời Hạn Của QSDĐ ··· 7

7 Đăng Ký QSDĐ ··· 7

8 Các Hạn Chế Trong Chuyển Giao QSDĐ ··· 7

II Khung Pháp Lý Về Các Biện Pháp Bảo Đảm ở Việt Nam ··· 8

1 Các Biện Pháp Bảo Đảm theo Bộ Luật Dân Sự (Luật 33/2005/QH11) ··· 8

2 Thế Chấp ··· 8

3 Cầm Cố ··· 9

4 Đặc Trưng Của Các Biện Pháp Bảo Đảm Tại Việt Nam ··· 9

5 Xử lý Tài Sản Bảo Đảm ··· 10

6 Xử Lý Tài Sản Bảo Đảm Theo Thủ Tục Phá Sản ··· 10

7 Dịch Vụ Thu Hồi Nợ Tư Nhân ··· 11

III Thủ Tục Phá Sản Có Sự Tham Gia Của Tòa Án ··· 12

1 Thực Trạng ··· 12

2 Một Số Lý Do Doanh Nghiệp Việt Nam Hiếm Khi Lựa Chọn Thủ Tục Phá Sản ··· 12

3 Thời Hạn··· 14

4 Số Vụ Án Phá Sản ··· 15

5 Thủ Tục Phá Sản Đối Với DNNN ··· 16

IV Xử Lý Tình Trạng Mất Khả Năng Thanh Toán/Tái Cơ Cấu Doanh Nghiệp Không Có Sự Tham Gia Của Tòa Án (Thủ Tục Ngoài Tòa Án) ··· 17

1 Thực Trạng ··· 17

2 Thủ Tục Ngoài Tòa Án ··· 18

3 Thuế Trong Thủ Tục Ngoài Tòa Án ··· 18

V Tái Cơ Cấu DNNN Và Doanh Nghiệp Thuộc Thành Phần Kinh Tế Tư Nhân ···· 18

1 Các Loại Hình Doanh Nghiệp Tại Việt Nam ··· 19

2 Bốn Phương Án Khả Thi ··· 19

3 Quy Định Để Thoái Vốn Hoạt Động Kinh Doanh Ngoài Ngành ··· 21

VI Khuôn Khổ Pháp Lý về Công Bố Thông Tin và Quản Trị DNNN ··· 21

1 Quản Trị Doanh Nghiệp Trong DNNN Tại Việt Nam ··· 21

2 Công Bố Thông Tin Trong Các DNNN Tại Việt Nam ··· 23

VII Khung Pháp Lý Về Tình Trạng Mất Khả Năng Thanh Toán Của Các Tổ Chức Tín Dụng Và Bảo Hiểm Tiền Gửi ··· 23

1 Giảm Trừ NX ··· 23

2 Quy Định Pháp Luật Về Tái Cơ Cấu Và Phá Sản Ngân Hàng ··· 24

3 Hệ Thống Pháp Luật Bảo Hiểm Tiền Gửi ··· 25

Trang 6

VIII Quy Định Pháp Luật Về Các Tổ Chức Nhà Nước Mua, Xử Lý NX và Đầu

Tư Vào DNNN ··· 26

1 VAMC ··· 26

2 DATC ··· 28

3 SCIC ··· 29

Phần III Các Kiến Nghị Về Thúc Đẩy Xử Lý NX Và Cải Cách DNNN ··· 32

Phần III-I Xúc Tiến Xử Lý NX ··· 33

I Thúc Đẩy Bán NX ··· 33

1 Sửa Đổi Luật Để Mở Rộng Đối Tượng Được Mua NX Có Bảo Đảm Bởi Tài Sản Thế Chấp ··· 33

2 Nới Lỏng Các Hạn Chế Về Đầu Tư Nước Ngoài Trong Doanh Nghiệp ···· 43

3 Thành Lập Thị Trường Mua Bán NX ··· 44

4 Xây Dựng Pháp Luật Về Chứng Khoán Hóa NX ··· 45

5 Xây Dựng Pháp Luật Để Chứng Khoán Hóa Bất Động Sản ··· 53

6 Nâng Cấp Hệ Thống Đăng Ký Bất Động Sản ··· 55

7 Cải Cách Hệ Thống Đăng Ký Khoản Vay Nước Ngoài ··· 56

II Thúc Đẩy Hoạt Động Thu Hồi NX ··· 58

1 Bảo Đảm Tính Hiệu Quả Của Việc Xử Lý Tài Sản Bảo Đảm ··· 58

2 Tăng Cường Khung Pháp Lý Của Việc Thi Hành Án Dân Sự ··· 62

3 Tăng Cường Các Biện Pháp Ngăn Chặn Che Dấu Tài Sản ··· 64

4 Mở Rộng và Phát Triển Khung Pháp Lý Đối Với Các Bên Cung Cấp Dịch Vụ Đòi Nợ và Sử Dụng Bên Cung Cấp Dịch Vụ Đòi Nợ ··· 65

III Tăng Cường Tái Cơ Cấu Kinh Doanh ··· 67

1 Sửa Đổi LPS ··· 67

2 Giới Thiệu Các Quy Tắc Về Thủ Tục Ngoài Tòa Án ··· 78

3 Làm Rõ Khung Pháp Lý Về Từ Bỏ Quyền Đòi Nợ ··· 84

Phần III-II Tái Cấu Trúc DNNN ··· 86

I Đẩy Mạnh Bán Tài Sản Của DNNN Ví Dụ Như Trong Hoạt Động Kinh Doanh Ngoài Ngành ··· 86

1 Thực Trạng và Các Vấn Đề ··· 86

2 Các Kiến Nghị ··· 91

II Hoàn Thiện Công Bố Thông Tin Doanh Nghiệp Của DNNN ··· 94

1 Thực Trạng và Các Vấn Đề ··· 94

2 Các Kiến Nghị ··· 96

Phần III-IIITái Cấu Trúc Khu Vực Ngân Hàng ··· 97

I Cải Thiện Hệ Thống Phân Loại Và Công Bố Thông Tin NX ··· 97

1 Thực Trạng và Các Vấn đề ··· 97

2 Các Kiến Nghị ··· 100

II Phát Triển Cơ Chế Phá Sản Các Tổ Chức Tín Dụng ··· 102

1 Thực Trạng và Các Vấn Đề ··· 102

2 Các Kiến Nghị ··· 105

III Phát Triển Hệ Thống Bảo Hiểm Tiền Gửi ··· 111

1 Thực Trạng và Các Vấn đề ··· 111

2 Các Kiến Nghị ··· 113

Phần III-IVTăng Cường Chức Năng của VAMC, DATC và SCIC··· 115

I Tăng Cường Chức Năng Của VAMC ··· 115

Trang 7

1 Thực Trạng Và Các Vấn Đề ··· 115

2 Các Kiến Nghị ··· 121

II Củng Cố Chức Năng Của DATC··· 129

1 Thực Trạng và Các Vấn Đề ··· 129

2 Các Kiến Nghị ··· 134

III Tăng Cường Chức Năng của SCIC ··· 140

1 Thực Trạng và Các Vấn Đề ··· 140

2 Các Kiến Nghị ··· 144

[Phụ Lục 1] Kinh Nghiệm Xử Lý NX và Tái Cơ Cấu DNNN ở Nhật Bản ··· 148

[Phụ Lục 2] Sơ Lược Những Sửa Đổi Của “Luật Đất Đai” Và “Luật Chung Cư” Tại Thái Lan ··· 154

[Phụ Lục 3] Thông Tin Tham Khảo Về Chứng Khoán Hóa ··· 156

[Phụ Lục 4] Tóm Tắt Về Cơ Chế Pháp Lý Của Lệnh Thu Hồi Bất Động Sản Khi Xử Lý Tài Sản Bảo Đảm Là Bất Động Sản ở Nhật Bản ··· 159

[Phụ Lục 5] Hướng Dẫn Không Chính Thức Về Việc Thúc Đẩy Tái Cơ Cấu Doanh Nghiệp Trong Khu Vực Châu Á – Thái Bình Dương ··· 161

[Phụ Lục 6] Giới Thiệu Về Thủ Tục Ngoài Tòa Án của Nhật Bản, Hàn Quốc và Ấn Độ ··· 165

[Phụ Lục 7] Khái Quát Các Kiến Nghị ··· 168

Trang 8

Phần I Bối Cảnh

Chính Phủ Việt Nam đã chuyển từ nền kinh tế kế hoạch sang “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” kể từ khi thực hiện chính sách “Đổi Mới” vào năm 1986 Việt Nam

đã đạt được tốc độ tăng trưởng trung bình hơn 6% trong suốt thập niên qua, và kỳ vọng rằng

tốc độ tăng trưởng này sẽ còn tiếp tục

Mặt khác, bởi vì vẫn còn sự tồn tại của các vấn đề cơ cấu, ví dụ như vấn đề quản lý của doanh nghiệp nhà nước (DNNN), hệ thống tài chính yếu kém và đầu tư công kém hiệu quả Năm

2011, Chính Phủ Việt Nam quyết định bắt đầu các cải cách quyết liệt về các vấn đề cấu trúc này này chậm nhất vào năm 2015

DNNN chiếm khoảng 40% GDP, sử dụng 20% lao động, tạo ra 30% doanh thu, và sử dụng 20% dư nợ tín dụng của nền kinh tế quốc nội Ngoài ra, một số ngành kinh tế tiếp tục được

nắm giữ theo độc quyền hoặc độc quyền nhóm Có vẻ rằng DNNN nhận được các lợi thế về tài chính, về tài sản như quyền sử dụng đất, cơ hội kinh doanh và trên thực tế đã trở thành các công cụ để quản lý chính sách kinh tế vĩ mô

Từ nửa cuối những năm 1990, rất nhiều DNNN nhỏ và vừa đã được cổ phần hóa và sau đó được tư nhân hóa, trong khi một số DNNN thuộc một số ngành quan trọng từ góc độ chiến lược quốc gia (ví dụ như điện lực, khai thác than, dệt may, đóng tàu, xăng dầu, cao su, viễn thông, xuất bản, hóa chất, v.v…) đã được nhóm lại thành các TCT, sau đó được tổ chức lại thành các TĐKT

Các TCT và TĐKT này cũng đã tiến hành nhiều Hoạt Động Kinh Doanh Ngoài Ngành, ví dụ như đầu tư vào bất động sản và chứng khoán trong bối cảnh Chính Phủ Việt Nam bắt đầu thực

hiện các gói hỗ trợ tài chính và nới lỏng nguồn tiền nhằm ứng phó với các cuộc khủng hoảng kinh tế vào năm 2008 Ngoài lý do quản lý hoạt động kinh doanh chính không hiệu quả hiện

hữu, sự suy thoái đột ngột của thị trường bất động sản và thị trường chứng khoán sau năm

2009 và sự thắt chặt mạnh mẽ tài chính công và nguồn cung tiền từ năm 2011 nhằm kiềm chế

mức lạm phát cao đã làm cho kết quả hoạt động kinh doanh của một số TCT và TĐKT bị suy

giảm, từ đó làm gia tăng số nợ của các doanh nghiệp này Việc sụt giảm đột ngột kết quả hoạt động kinh doanh của DNNN làm cho vấn đề NX của khu vực ngân hàng trở nên trầm trọng Ngoài ra, về các vấn đề của DNNN, việc nới lỏng nguồn tiền từ năm 2007 đến năm 2011 đã làm mở rộng nhanh chóng quy mô tài sản của khu vực ngân hàng, đồng thời lạm phát bị đẩy

mạnh Vào năm 2011, Chính Phủ Việt Nam đã thắt chặt việc cung tiền để kiềm chế lạm phát,

và việc thắt chặt nguồn tiền một cách đột ngột này đã làm cho rất nhiều doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản Trong năm 2012, tỷ lệ NX đã gia tăng nhanh chóng, tỷ lệ NX do NHNN công bố vào tháng 9 năm 2012 là 8,82%, vượt mức tự đánh giá bởi các tổ chức tài chính 4,47% Vào tháng 2 năm 2013, SBV công bố tỷ lệ NX giảm còn 6%

Để đối phó với tình trạng suy giảm trong hoạt động kinh doanh của DNNN và sự nghiêm

trọng của vấn đề NX, Chính Phủ Việt Nam đã công bố rằng cải cách DNNN cùng với cải cách khu vực ngân hàng là các vấn đề quan trọng nhất cần được giải quyết trước năm 2015 và đã đưa ra và bắt đầu thực hiện các kế hoạch cải cách toàn diện sau đây:

Trang 9

[Cải cách DNNN]

“Quyết định phê duyệt đề án tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là tập đoàn kinh tế,

tổng công ty nhà nước giai đoạn 2011 - 2015” (Quyết Định 929/QĐ-TTg) được ban hành vào tháng 07 năm 2012 và các cải cách sau đã được bắt đầu BTC là đơn vị chịu trách nhiệm đầu

mối của các bộ ngành và cơ quan Chính Phủ liên quan

- DNNN được phân làm 4 nhóm theo tỷ lệ nắm giữ vốn điều lệ của Nhà nước ((i)100%,

(ii) từ 75% đến dưới 100%, (iii) từ 65% đến dưới 75%, và (iv) từ 50% đến dưới 65%)

- Đẩy mạnh việc cổ phần hóa DNNN (ngoại trừ DNNN mà Nhà nước nắm giữ 100%

vốn điều lệ)

- Chấm dứt việc các khoản đầu tư trong lĩnh vực ngân hàng, tài chính, chứng khoán, bất

động sản, bảo hiểm (“Hoạt Động Kinh Doanh Ngoài Ngành”) và thực hiện thoái vốn đối với các khoản đầu tư ngoài ngành đó

[Cải cách khu vực ngân hàng]

“Quyết định phê duyệt đề án cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011 - 2015” (Quyết Định 254/2012/QĐ-TTg) được ban hành vào tháng 3 năm 2012 có nội dung rằng tỷ lệ

NX cần được giảm còn 3% chậm nhất vào năm 2015 NHNN chịu trách nhiệm chính về cải cách này với các biện pháp cụ thể sau:

- Sửa đổi và bổ sung các quy định về phân loại nợ;

- Tăng tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro;

- Xử lý NX bằng việc xử lý tài sản bảo đảm;

- Thành lập công ty quản lý tài sản

Thêm vào đó, Chính Phủ Việt Nam đã ban hành Nghị Định về thành lập, tổ chức và hoạt động

của Công Ty Quản Lý Tài Sản Của Các Tổ Chức Tín Dụng Việt Nam (Nghị Định 53/2013/NĐ-CP) và Quyết định về khung pháp lý về xử lý NX (Quyết Định 843/2013/QĐ-TTg) vào tháng 5, tháng 6 năm 2013 và có ý định đẩy mạnh các cải cách đối với DNNN và khu vực ngân hàng

Nhằm hỗ trợ sự nỗ lực cải cách của Chính Phủ Việt Nam và thực hiện hỗ trợ cải cách khu vực ngân hàng và DNNN, JICA cùng với Ngân Hàng Thế Giới đồng tài trợ một chương trình cho vay có tên “tín dụng hỗ trợ quản lý kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh” (EMCC) bắt đầu vào năm 2012 Bên cạnh khoản vay này, Chính Phủ Việt Nam đã đề nghị Chính Phủ Nhật Bản

hợp tác đối với hai dự án hợp tác kỹ thuật vào năm 2012; một dự án về việc xử lý nợ của DNNN và phục hồi DNNN, dự án còn lại về giải quyết vấn đề NX Chính Phủ Nhật Bản đã

chấp thuận đề nghị này vào tháng 3 năm 2013 Hai dự án này là các dự án hợp tác kỹ thuật

nhằm tăng cường hiệu quả của các cải cách mà EMCC hỗ trợ

Trong cuộc khảo sát được tiến hành cho báo cáo này (“Khảo Sát”), nhóm nghiên cứu đã thu

thập các thông tin và tiến hành khảo sát tình hình hiện tại và điều kiện thực tế của việc thực

hiện các điểm sau đây, nhằm kiểm tra việc cung cấp khoản tín dụng thứ hai và thứ ba của

Trang 10

chương trình “tín dụng hỗ trợ quản lý kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh” (EMCC) như được mô tả ở Mục I, Phần I nói trên nhằm thảo luận về khả năng cung cấp khoản vay quốc tế

mới ngoài các khoản vay được đề cập ở trên và cân nhắc chi tiết các nội dung của các dự án

hợp tác kỹ thuật:

(i) Khung pháp lý về tái cơ cấu doanh nghiệp (gồm cả DNNN và doanh nghiệp tư

nhân) (ii) Khung pháp lý về xử lý NX trong khu vực ngân hàng

(iii) Khung pháp lý về giải pháp đối với ngân hàng và mạng lưới tài chính an toàn Chi tiết các nội dung bao gồm:

a Khung pháp lý về luật phá sản liên quan đến DNNN và doanh nghiệp tư nhân;

b Khung pháp lý về các biện pháp giải quyết ngoài Tòa án và các biện pháp giải

quyết tranh chấp thay thế;

c Khung pháp lý về tổ chức lại (Ví dụ: sáp nhập và chia tách công ty) DNNN và

doanh nghiệp tư nhân;

d Khung pháp lý về tài sản bảo đảm;

e Khung pháp lý về QSDĐ;

f Khung pháp lý về tổ chức các định chế thuộc Chính Phủ (VAMC, DATC và

SCIC), những đơn vị mua và xử lý NX và đầu tư vào DNNN;

g Khung pháp lý về phá sản các tổ chức tín dụng và bảo hiểm tiền gửi;

h Khung pháp lý về công khai thông tin và quản trị DNNN;

i Các vấn đề pháp lý khác có liên quan

Ngoài ra, báo cáo này làm rõ các khoản mục (các vấn đề) về khung pháp lý và thực trạng của

việc thực hiện các quy định pháp luật được rút ra từ cuộc khảo sát của nhóm nghiên cứu mà

cần phải sửa đổi hoặc cải thiện để thúc đẩy tiến trình xử lý NX và cải cách DNNN ở Việt Nam

Trong quá khứ, Nhật Bản cũng phải đối mặt tình trạng NX Tình trạng NX đã trở thành một

vấn đề nghiêm trọng và dẫn đến suy thoái kinh tế trong một thập kỷ, từ nửa đầu của những năm 1990 cho đến nửa đầu của những năm 2000 cùng với nhiều cuộc khủng hoảng tài chính,

và từ đó giai đoạn này được gọi là “thập niên mất mát” (vui lòng xem thông tin chi tiết tại Phụ

lục 1) Nguyên nhân của suy thoái này của Nhật Bản là do thiếu nhận thức về mức độ nghiêm

trọng của tình trạng NX và sự chậm trễ trong hành động đối phó với tình trạng này Sau rất nhiều thử nghiệm, sai lầm trong hơn 10 năm, Nhật Bản đã cải cách, xây dựng rất nhiều phương thức xử lý NX và cuối cùng cũng đã giải quyết được vấn đề

Xét đến giai đoạn hiện tại của tiến trình công nghiệp hóa và hội nhập kinh tế khu vực ASEAN vào năm 2015, nền kinh tế Việt Nam sẽ phải gánh chịu những thiệt hại nặng nề nếu việc xử lý

NX và cải cách DNNN bị trì hoãn Nhằm hỗ trợ nỗ lực nghiêm túc trong việc xử lý NX và cải cách DNNN của Việt Nam, nhóm nghiên cứu xin làm rõ các vấn đề còn tồn tại của việc thực

hiện các quy định pháp luật được rút ra từ cuộc khảo sát của nhóm nghiên cứu và các vấn đề

cần phải sửa đổi hoặc cải thiện Nhóm nghiên cứu cũng đưa ra những kiến nghị cho Chính

Trang 11

Phủ Việt Nam trong việc đẩy mạnh việc xử lý NX và cải cách DNNN, dựa trên bài học của

Nhật Bản từ thập niên mất mát và những hiểu biết và kinh nghiệm mà nhóm nghiên cứu thu được từ thập niên này Tuy nhiên, xin lưu ý rằng các kiến nghị của nhóm nghiên cứu chỉ tập trung vào khung pháp lý bởi vì phần lớn đối tượng của cuộc khảo sát của nhóm nghiên cứu là

về các khung pháp lý Ngoài ra, đây chỉ là các kiến nghị sơ bộ của nhóm nghiên cứu và dự

kiến sẽ được hoàn thiện thêm thông qua các cuộc tham vấn với Chính Phủ Việt Nam

Trang 12

- Tại Việt Nam, tất cả đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở

hữu Vì vậy, không có doanh nghiệp nào, bao gồm cả doanh nghiệp trong nước, DNNN, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có thể là chủ sở hữu của đất đai,

và đối tượng của hoạt động đầu tư và sử dụng bất động sản liên quan đến đất đai

phải được thực hiện theo hình thức QSDĐ Nguyên tắc cơ bản của QSDĐ được qui định trong Luật Đất Đai 2013 (Luật 45/2013/QH13) (“Luật Đất Đai Sửa Đổi”)

- Cả doanh nghiệp trong nước và DNNN đều có thể có được QSDĐ chủ yếu theo hình thức (i) được Nhà nước giao QSDĐ, (ii) thuê đất từ Nhà nước, (iii) nhận chuyển QSDĐ (“Nhận Chuyển Nhượng Đất”) từ doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, (iv) thuê hoặc thuê lại đất từ doanh nghiệp trong nước bao gồm cả thuê hoặc thuê lại đất từ các đơn vị đầu tư xây dựng kinh doanh kết cấu hạ tầng Khu Công Nghiệp là doanh nghiệp trong nước và (v) thuê hoặc thuê lại đất từ các đơn vị đầu tư xây dựng kinh doanh kết cấu hạ tầng Khu Công Nghiệp là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; trong khi đó, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có thể có được QSDĐ, và thường thực hiện theo

1

M ặc dù người sử dụng đất thuê/thuê lại QSDĐ trong Khu Công Nghiệp từ các đơn vị đầu tư xây dựng kinh doanh

k ết cấu hạ tầng Khu Công Nghiệp mà không phải là từ Nhà nước, QSDĐ của người sử dụng đất trong các trường

h ợp đó vẫn được Nhà nước thừa nhận bằng việc Nhà nước cấp giấy chứng nhận QSDĐ cho người sử dụng đất Vì

v ậy, nhóm nghiên cứu coi trường hợp QSDĐ trong các Khu Công Nghiệp do thuê hoặc thuê lại từ các đơn vị đầu tư xây d ựng kinh doanh kết cấu hạ tầng Khu Công Nghiệp cũng như là một hình thức Cho Thuê Đất

Trang 13

cách này, theo các hình thức (vi) thuê đất từ Nhà nước, (vii) thuê hoặc thuê lại đất

từ doanh nghiệp trong nước, chủ yếu bao gồm thuê hoặc thuê lại đất từ các đơn vị đầu tư xây dựng kinh doanh kết cấu hạ tầng Khu Công Nghiệp là doanh nghiệp trong nước (viii) thuê hoặc thuê lại đất từ các đơn vị đầu tư xây dựng kinh doanh

kết cấu hạ tầng Khu Công Nghiệp là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, (ix)

nhận góp vốn bằng QSDĐ từ người sử dụng đất hiện hữu có quyền góp vốn, phổ

biến nhất là trường hợp thành lập liên doanh với doanh nghiệp trong nước hoặc DNNN, và (x) được Nhà nước giao đất chỉ cho mục đích thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở để bán hoặc để “bán kết hợp cho thuê”

- Mặc dù chưa có thống kê chính thức về QSDĐ, theo nhóm nghiên cứu được biết, các hình thức được ưa chuộng nhất đối với các doanh nghiệp trong nước trong thời gian qua là (i) Giao Đất có thu tiền sử dụng đất, (ii) Nhận Chuyển Nhượng Đất, và (iii) Cho thuê đất thu tiền thuê đất hằng năm Bởi vì với các hình thức (i) và (ii) người sử dụng đất có thể có được nhiều quyền lợi kinh tế hơn (cụ thể là quyền chuyển nhượng hoặc quyền thế chấp) so với các hình thức khác; trong khi đó, hình

thức (iii) thông thường được áp dụng cho các doanh nghiệp trong nước xây dựng

và đầu tư các cao ốc văn phòng, căn hộ dịch vụ, trung tâm thương mại và/hoặc cơ

sở kinh doanh ở các khu vực có giá thuê tương đối cao, hoặc khu vực mà Nhà nước chỉ cho phép QSDĐ dưới hình thức Cho Thuê Đất thu tiền thuê đất hằng năm Giao đất không thu tiền sử dụng đất chỉ được áp dụng đối với đất được sử

dụng cho các mục đích phi lợi nhuận

- Giao Đất được thực hiện bởi Ủy ban nhân dân tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương nơi có đất (“Ủy Ban Nhân Dân Có Thẩm Quyền”) bằng việc ban hành quyết định hành chính Việc Nhà nước cho thuê đất được thực hiện bởi Ủy Ban Nhân Dân Có Thẩm Quyền trên cơ sở quyết định hành chính và hợp đồng thuê QSDĐ

giữa Nhà nước và người sử dụng đất Cho Thuê Lại Đất được căn cứ vào hợp đồng thuê hoặc thuê lại giữa người sử dụng đất và đơn vị đầu tư xây dựng kinh doanh

kết cấu hạ tầng Khu Công Nghiệp

- Về việc xác định giá của QSDĐ, đối với các trường hợp (i) và (x) được Nhà nước giao QSDĐ, (ii) thuê đất từ Nhà nước (bởi các doanh nghiệp trong nước) và (vi) thuê đất từ Nhà nước (bởi các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài), giá cụ thể

của QSDĐ sẽ được quyết định bởi Ủy Ban Nhân Dân Có Thẩm Quyền Trong khi

đó, đối với các trường hợp (iii) Nhận Chuyển Nhượng Đất; (iv), (v), (vii) và (viii) thuê hoặc thuê lại đất từ đơn vị đầu tư xây dựng kinh doanh kết cấu hạ tầng Khu Công Nghiệp; và (ix) nhận góp vốn bằng QSDĐ từ người sử dụng đất hiện hữu có quyền góp vốn, giá của QSDĐ về nguyên tắc có thể được quyết định theo hợp đồng được ký kết bởi các bên cho dù giá của QSDĐ được áp dụng cho các hoạt động quản lý về thuế và quản lý hành chính Nhà nước khác có thể vẫn phụ thuộc vào tiền sử dụng đất/tiền thuê đất được quyết định bởi Ủy Ban Nhân Dân Có

Thẩm Quyền

- QSDĐ được ghi nhận là “tài sản cố định vô hình” trên Bảng cân đối kế toán trong các trường hợp (i) Giao Đất có thu tiền sử dụng đất, (ii) Nhận Chuyển Nhượng

Trang 14

Đất, (iii) Cho Thuê Đất trước ngày 01/07/2004 đã trả tiền thuê đất cho cả thời gian thuê hoặc đã trả trước tiền thuê đất cho nhiều năm mà thời hạn thuê đất đã được trả

tiền còn lại ít nhất là năm năm và được cấp giấy chứng nhận QSDĐ Trong các trường hợp này, nguyên giá của tài sản cố định vô hình được xác định là toàn bộ khoản tiền chi ra để có QSDĐ hợp pháp cộng (+) các chi phí cho đền bù giải phóng mặt bằng, san lấp mặt bằng, lệ phí trước bạ (không bao gồm các chi phí chi

ra để xây dựng các công trình trên đất); hoặc là giá trị QSDĐ nhận góp vốn QSDĐ không được ghi nhận là tài sản cố định vô hình trên Bảng cân đối kế toán trong các trường hợp (i) Giao Đất không thu tiền sử dụng đất, (ii) Thuê Đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê (tiền thuê đất được phân bổ dần vào chi phí kinh doanh theo số năm thuê đất) (iii) Thuê Đất trả tiền thuê đất hàng năm (tiền thuê đất được hạch toán vào chi phí kinh doanh trong kỳ tương ứng)

- QSDĐ được sử dụng bởi doanh nghiệp trong nước cho mục đích kinh doanh dưới hình thức Giao đất lâu dài có thu tiền sử dụng đất hoặc Nhận Chuyển Nhượng Đất lâu dài thường là đối tượng không được trích khấu hao

hợp khác, (i) chuyển nhượng QSDĐ, (ii) góp vốn bằng QSDĐ mà hình thành doanh nghiệp mới, (iii) chuyển nhượng dự án đầu tư có sử dụng đất, (iv) chuyển đổi từ Thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm sang Thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê hoặc trong các trường hợp ký kết các hợp đồng liên quan đến QSDĐ (và/hoặc tài sản gắn liền với đất), như (a) hợp đồng thế chấp hoặc hợp đồng góp vốn và (b) chuyển nhượng tài sản gắn liền với đất, người sử dụng đất cũng có

thể sẽ phải thực hiện thủ tục để đăng ký các thay đổi đó trên giấy chứng nhận QSDĐ có liên quan

- Trường hợp không đăng ký, doanh nghiệp trong nước và/hoặc doanh nghiệp có

vốn đầu tư nước ngoài có thể bị áp dụng một số hình thức xử phạt vi phạm hành chính nhất định Ngoài ra, họ có thể không được thực hiện các quyền chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại hoặc thế chấp QSDĐ hoặc có thể không có quyền được Nhà nước bảo hộ khi bị tổ chức, cá nhân khác xâm phạm đến QSDĐ hợp pháp của mình

- Các hạn chế chủ yếu sau đây được áp dụng đối việc chuyển giao QSDĐ: (i) phải

có được sự đồng ý của người nhận thế chấp trước khi chuyển giao QSDĐ đang

Trang 15

được thế chấp; (ii) người nhận chuyển nhượng QSDĐ trong Khu Công Nghiệp

phải tiếp tục sử dụng đất theo mục đích đã xác định; (iii) người nhận chuyển nhượng QSDĐ để thực hiện các dự án đầu tư phải có chấp thuận trước từ cơ quan nhà nước có thẩm quyền về thay đổi mục đích sử dụng đất phù hợp với mục đích

của dự án đầu tư và (iv) thông thường, thời hạn của QSDĐ khi nhận chuyển nhượng QSDĐ đối với loại đất có quy định thời hạn là thời gian còn lại của thời

hạn QSDĐ trước khi chuyển nhượng

- Trường hợp doanh nghiệp trong nước và DNNN được giao một thửa đất xác định

mà tiền sử dụng đất đã trả có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước, các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất có liên quan đối với thửa đất đó sẽ bị ảnh hưởng

và hạn chế như sau: (i) người sử dụng đất không có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê QSDĐ; thế chấp, bảo lãnh hoặc góp vốn bằng QSDĐ;

và (ii) người sử dụng đất đó sẽ không có quyền bán các tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất; hoặc thế chấp, bảo lãnh hoặc góp vốn bằng các tài sản thuộc

sở hữu của mình gắn liền với đất, trừ khi các tài sản đó không phải là tài sản được hình thành từ ngân sách Nhà nước

- Trong các trường hợp chuyển QSDĐ đã được ghi nhận là tài sản cố định của DNNN và được phép chuyển nhượng, việc chuyển nhượng phải được thực hiện trong các trường hợp nhất định như trường hợp tài sản đã hết thời hạn sử dụng, không cần thiết, hoặc không thể sử dụng để thu hồi vốn thông qua các phương

thức công khai và minh bạch nhằm bảo toàn vốn của doanh nghiệp

Các Biện Pháp Bảo Đảm được quy định trong Bộ Luật Dân Sự (Luật 33/2005/QH11) như sau:

- Thế chấp tài sản có nghĩa là việc một bên (sau đây gọi là “bên thế chấp”) dùng tài

sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia

Trang 16

(sau đây gọi là “bên nhận thế chấp”) và không chuyển giao tài sản đó cho bên

nhận thế chấp Các bên có thể thỏa thuận giao cho người thứ ba giữ tài sản thế

chấp

- Việc thế chấp có thể xác lập trên bất kỳ tài sản nào được phép giao dịch, bao gồm

cả QSDĐ và công trình xây dựng hoặc tài sản gắn liền trên đất

- Để xác lập việc thế chấp đối với QSDĐ, hợp đồng thế chấp được công

chứng/chứng thực phải được ký kết riêng biệt với hợp đồng tín dụng, và phải đăng

ký với cơ quan có thẩm quyền (văn phòng đăng ký QSDĐ tại địa phương)

- Để xác lập việc thế chấp đối với động sản, chỉ cần ký kết hợp đồng thế chấp, và

việc đăng ký hợp đồng này với NRAST là không bắt buộc; tuy nhiên, hợp đồng

thế chấp sẽ không có giá trị pháp lý đối với bên thứ ba nếu không được đăng ký

- Chỉ có các tổ chức tài chính trong nước mới có thể là bên nhận thế chấp QSDĐ và các tài sản gắn liền với đất

- DNNN không được thế chấp QSDĐ nếu như tiền sử dụng đất hoặc tiền thanh toán cho QSDĐ đã trả có nguồn gốc từ Ngân sách Nhà nước

số tài sản, việc đăng ký cầm cố với NRAST là không bắt buộc, nhưng bên nhận

cầm cố sẽ không có quyền ưu tiên hoặc giao dịch cầm cố đó không có giá trị pháp

lý đối với bên thứ ba nếu giao dịch cầm cố đó không được đăng ký

- Nếu quyền đòi nợ có biện pháp bảo đảm được chuyển giao bởi một bên chủ nợ là bên nhận bảo đảm cho bên thứ ba, thì biện pháp bảo đảm được xác lập để bảo đảm quyền đòi nợ được chuyển giao đó cũng sẽ được chuyển giao cho bên thứ ba Trường hợp nếu quyền đòi nợ có biện pháp bảo đảm được chuyển giao bởi bên

bảo đảm cho bên thứ ba do kết quả của việc sáp nhập, chia tách doanh nghiệp,

hoặc các giao dịch mua bán và sáp nhập khác, thì các bên sẽ thỏa thuận về việc kế

thừa và thực hiện giao dịch bảo đảm đã được xác lập để đảm bảo quyền đòi nợ đó

- Các bên trong giao dịch bảo đảm có thể xác lập biện pháp bảo đảm đối với quyền đòi nợ chưa xác định nhưng sẽ phát sinh hoặc được thanh toán nhiều lần trong tương lai Tuy nhiên, khi thực hiện thế chấp đối với QSDĐ hoặc các tài sản gắn

liền trên đất, tổ chức tài chính trên thực tiễn vẫn quy định rõ giá trị khoản vay được bảo đảm bằng hợp đồng thế chấp đó để đảm bảo khả năng xử lý tài sản thế

Trang 17

chấp đó

- Mặc dù pháp luật không quy định một cách rõ ràng về việc đưa ra biện pháp bảo đảm đối với tài sản bất kỳ và không ghi cụ thể tài sản bảo đảm (floating charge), nhưng cũng có thể diễn giải rằng chủ nợ, ở một mức độ nào đó, có thể xác lập biện pháp bảo đảm trên các tài sản chưa xác định được hình thành, hoặc được thanh toán trong tương lai Trong một hợp đồng bảo đảm, không cần phải chỉ rõ các tài

sản được thế chấp hay cầm cố, mà chỉ cần mô tả chung về loại tài sản được cầm cố hay thế chấp

- Bên nhận bảo đảm và bên bảo đảm có thể thỏa thuận về việc xử lý tài sản bảo đảm khi bên có nghĩa vụ không thực hiện được các nghĩa vụ của mình Bên nhận bảo đảm có thể xử lý tài sản bảo đảm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo đảm mà không cần có sự tham gia của tòa án Các bên có thể thỏa thuận rằng tài sản bảo đảm đó có thể được bán cho bên thứ ba hoặc cho bên nhận bảo đảm với giá thỏa thuận hoặc theo giá được xác định bởi bên định giá Nếu các bên không thể thỏa thuận được về cách xử lý tài sản bảo đảm hoặc về giá, bên nhận bảo đảm có thể bán tài sản bảo đảm thông qua đấu giá

- Liên quan đến việc xử lý tài sản bảo đảm là QSDĐ và tài sản gắn liền trên đất, bên

nhận bảo đảm có thể có được QSDĐ và các tài sản trên đất theo giá thỏa thuận Tuy nhiên, pháp luật không quy định chi tiết về thủ tục cấp QSDĐ cũng như các tài sản khác, và điều này có thể ngăn cản việc thực thi hiệu quả các biện pháp bảo đảm đối với QSDĐ và các tài sản trên đất

- Ngay cả khi bên nhận bảo đảm và bên nợ giao kết thỏa thuận thế chấp, cầm cố hay cam kết biện pháp bảo đảm khác bao gồm cả việc sắp xếp để xử lý tài sản bảo đảm

đó, trong trường hợp bên nợ vi phạm hoặc tranh chấp hợp đồng và từ chối hợp tác trong việc xử lý tài sản bảo đảm, thì bên nhận thế chấp cũng không thể xử lý các tài sản đó (bất kể là bất động sản hay động sản) trừ khi bên nhận bảo đảm đạt được

sự chấp thuận của bên nợ một lần nữa đối với việc xử lý tài sản bảo đảm đó bởi vì

cơ quan thi hành án và tổ chức điều hành bán đấu giá sẽ không xử lý tài sản bảo đảm nếu như không có quyết định của tòa án đối với tranh chấp đó Cho dù pháp

luật về giao dịch bảo đảm có quy định rằng bên nhận bảo đảm có thể yêu cầu Ủy Ban Nhân Dân Có Thẩm Quyền và công an đảm bảo công tác xử lý tài sản bảo đảm, nhưng quy định này không thực sự được áp dụng hiệu quả trên thực tế

- Khi đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đã được tòa án thụ lý, việc xử lý tài sản bảo đảm sẽ bị tạm đình chỉ trừ trường hợp được tòa án cho phép Tuy nhiên, định nghĩa về biện pháp bảo đảm theo LPS hiện hành (Luật 21/2004/QH11) (“LPS

Hiện Hành”) là chưa rõ ràng

- Bên nợ, theo thủ tục phá sản được phép trả nợ cho chủ nợ là bên nhận bảo đảm trong phạm vi tài sản bảo đảm, và nếu được chấp thuận của tổ quản lý và thanh lý tài sản

Trang 18

- Theo LPS Hiện Hành, bên nhận bảo đảm có thể được quyền ưu tiên thanh toán Tuy nhiên, luật lại không quy định chi tiết về việc thực hiện quyền ưu tiên thanh toán đó của bên nhận bảo đảm

- Theo LPS Hiện Hành, bên nhận bảo đảm có quyền đưa ra ý kiến đối với việc định giá tài sản của công ty bị phá sản và các quyền yêu cầu khác đối với một số thủ tục

nhất định

- Công ty cung cấp dịch vụ đòi nợ không được phép kinh doanh các ngành nghề khác, trong đó có thể bao gồm cả việc mua bán nợ/quyền đòi nợ.2

- Tính đến đầu năm 2013, theo phương tiện thông tin đại chúng thì có 19 công ty đã được cấp phép thực hiện dịch vụ đòi nợ tại thành phố Hồ Chí Minh Tuy nhiên, theo phương tiện thông tin đại chúng, trong thời gian gần đây cơ quan cấp phép có

thể đang tạm ngừng cấp phép cho người nộp đơn đăng ký kinh doanh loại dịch vụ này

- Nghị Định 104/2007/NĐ-CP không hạn chế doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được cấp phép thực hiện dịch vụ thu hồi nợ, nhưng dịch vụ thu hồi nợ được xem là dịch vụ nhạy cảm và có xu hướng quan hệ với các tổ chức tội phạm, thế nên Chính Phủ Việt Nam không sẵn sàng mở cửa cho nhà đầu tư nước ngoài

2

Kho ản 2, Điều 4 và Điều 6 Nghị Định 104/2007/NĐ-CP

Trang 19

III Th ủ Tục Phá Sản Có Sự Tham Gia Của Tòa Án 3

rằng, do thời gian hạn hẹp, báo cáo tổng hợp này không đề cập đến nội dung dự thảo

lần thứ tư của LPS sửa đổi được công bố vào ngày 06/03/2014

(1) Nhìn chung, người Việt Nam có một cái nhìn không tích cực lắm về thủ tục

phá sản

(2) Thủ tục phá sản tốn nhiều thời gian và phức tạp

(3) Quan điểm của người nộp đơn yêu cầu:

a Người nộp đơn yêu cầu là chủ nợ:

- Chủ nợ thường cố tìm tất cả các phương thức có thể để thu hồi nợ (kể cả

nhờ đến các công ty cung cấp dịch vụ thu hồi nợ (Các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ đòi nợ thực hiện việc thu hồi nợ theo Nghị Định 104/2007/NĐ-CP) và các cơ quan Nhà nước bao gồm cơ quan công an

hoặc tiến hành các vụ kiện dân sự riêng biệt), chứ không nộp đơn yêu cầu

tiến hành thủ tục phá sản, mà theo đó các chủ nợ chỉ có thể thu hồi các khoản nợ của mình ngang bằng với các chủ nợ khác

- Đối với chủ nợ là các ngân hàng, thay vì thực hiện nộp đơn yêu cầu mở thủ

tục phá sản đối với doanh nghiệp liên quan, các ngân hàng thường đi tìm các giải pháp thu xếp kín đáo các khoản nợ, đặc biệt là đối với các khoản

nợ của DNNN Việc thu xếp các khoản nợ này sẽ được thực hiện dưới

những phương thức khác nhau như giảm nợ hoặc gia hạn thanh toán, v.v…

vì nếu thủ tục phá sản được tiến hành nhằm mục đích thu hồi nợ thì cơ hội thu hồi được nợ là rất thấp

- Con nợ không phải là các DNNN thường không còn tài sản có giá trị, vì thế không có chủ nợ nào muốn tham gia vào thủ tục phá sản

b Người nộp đơn yêu cầu là các doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản

Trang 20

trạng phá sản có cơ hội phục hồi tình hình tài chính Và LPS Hiện Hành không quy định một cách rõ ràng trường hợp nào chủ nợ có thể miễn nợ trong quá trình thực hiện thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh

- Người quản lý của các doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản e ngại sẽ

phải chịu các chế tài theo quy định tại Điều 94 LPS Hiện Hành

- Chủ doanh nghiệp hoặc các cổ đông lớn thường được yêu cầu bảo lãnh cho doanh nghiệp khi doanh nghiệp vay vốn từ ngân hàng Theo quy định tại Khoản 3, Điều 39 LPS Hiện Hành, nếu doanh nghiệp rơi vào tình trạng phá

sản, người bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ đối với người người nhận bảo lãnh Quy định này có thể không khuyến khích chủ doanh nghiệp hoặc cổ đông công ty cổ phần nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản mặc dù việc nộp đơn này có thể là nghĩa vụ luật định đối với họ Đối với Nhật Bản, luật phá

sản được áp dụng cho con nợ là cá nhân và con nợ cá nhân đó có thể được

miễn trả nợ theo quy định của luật phá sản Do vậy, chủ sở hữu hoặc giám đốc bảo lãnh cho công ty có thể nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối

với chính mình cùng thời điểm khi công ty nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá

sản Về vấn đề này, thủ tục phá sản đối với con nợ cá nhân không được quy định trong Dự Thảo Sửa Đổi của Việt Nam mà theo báo chí thì là do các nhà làm luật lo ngại Tòa án sẽ bị quá tải nếu phạm vi áp dụng LPS được

mở rộng và họ có ý kiến rằng không nên cho các con nợ cá nhân được

miễn nghĩa vụ trả nợ theo luật phá sản với lý do việc này sẽ tạo điều kiện

dễ dàng cho các cá nhân đó tẩu tán tài sản

Ngoài ra, ở Nhật Bản, đối với các khoản bảo lãnh của chủ sở hữu hay giám đốc, có một hướng dẫn quy định về nghĩa vụ của chủ nợ trong việc đưa ra

giải thích về sự cần thiết của việc bảo lãnh và nhằm xác định giá trị phù

hợp của khoản bảo lãnh khi lập hợp đồng bảo lãnh Ở Việt Nam không có hướng dẫn nào như vậy

c Người nộp đơn yêu cầu là người lao động:

- Người lao động cần phải thực hiện các thủ tục phức tạp để cử ra người đại

diện nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

(4) Chế tài xử lý những người có nghĩa vụ phải nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá

sản mà không nộp chưa được thực thi một cách nghiêm khắc

Theo nghiên cứu sơ bộ của nhóm nghiên cứu, chưa có trường hợp nào bị áp

dụng các hình thức xử phạt vi phạm hành chính có liên quan (như được quy định tại Khoản 5, Điều 15 LPS Hiện Hành và Điều 9 Nghị Định 10/2009/NĐ-

CP (đã được thay thế bằng Điều 54 Nghị Định 110/2013/NĐ-CP ngày 11/11/2013)) đối với hành vi không nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản trong

thời hạn luật định

(5) Hồ sơ yêu cầu mở thủ tục phá sản

- Liên quan đến hồ sơ yêu cầu mở thủ tục phá sản theo quy định tại Khoản 4

Trang 21

Điều 15 LPS Hiện Hành, hiện chưa có thêm bất kỳ hướng dẫn chính thức nào từ phía tòa án

- Hồ sơ yêu cầu mở thủ tục phá sản phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định

về kế toán và tài chính doanh nghiệp và là những tài liệu mà tòa án sẽ tham

khảo khi đánh giá tình trạng mất khả năng thanh toán của doanh nghiệp; tuy nhiên, đối với các doanh nghiệp đã lâm vào tình trạng phá sản, việc chuẩn bị hồ sơ này là rất khó khăn và tốn kém

Theo pháp luật Việt Nam, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các

tổ chức tín dụng, v.v…phải có báo cáo tài chính hàng năm được kiểm toán

bởi công ty kiểm toán Hơn nữa, theo Luật Doanh Nghiệp (Luật 60/2005/QH11), doanh nghiệp phải lập báo cáo tài chính chính xác theo quy định của pháp Luật Kế Toán (Luật 03/2003/QH11) và các kiểm soát viên nội bộ có quyền thẩm định các tài liệu này Thêm vào đó, các công ty

cổ phần phải gửi báo cáo tài chính hàng năm đã được Đại Hội Đồng Cổ Đông thông qua đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền (đối với DNNN, xin xem Mục II, Phần III-II)

(1) Theo báo cáo “Doing Business: Vietnam 2014” của Ngân hàng Thế giới, thời

gian trung bình để giải quyết một vụ phá sản tại Việt Nam thường kéo dài khoảng năm (5) năm

(2) Những lý do có thể khiến thủ tục phá sản kéo dài:

- Việc xác định một doanh nghiệp có lâm vào tình trạng phá sản hay không thường tốn thời gian và không dễ dàng

- LPS Hiện Hành và các văn bản pháp luật có liên quan không có bất kỳ hướng dẫn cụ thể nào về việc chuyển từ thủ tục phục hồi sang thủ tục thanh

lý, ngoài một quy định duy nhất tại Khoản 2, Điều 5 LPS Hiện Hành

- Thiếu hụt về nhân sự và kinh nghiệm của đội ngũ thẩm phán trong việc giải quyết các vụ án phá sản

Số lượng thẩm phán phụ trách án phá sản không thay đổi trong Dự Thảo

Sửa Đổi (theo Dự Thảo Sửa Đổi, vụ án phá sản sẽ được giải quyết bởi một

hoặc ba thẩm phán trong trường hợp cần thiết) Theo cuộc phỏng vấn với Tòa Án Nhân Dân Tối Cao, Tòa án đang có kế hoạch đào tạo các thẩm phán phụ trách án phá sản và đã ban hành một số chỉ thị nội bộ yêu cầu bắt đầu các khóa đào tạo cũng như cân nhắc việc gửi các thẩm phán đi học ở nước ngoài

- Sự phức tạp và phiền hà của các yêu cầu liên quan đến tài liệu phải nộp để yêu cầu mở thủ tục phá sản

- Không dễ dàng đáp ứng trên thực tế các yêu cầu quy định tại Điều 85 LPS

Trang 22

Hiện Hành về việc đình chỉ thủ tục thanh lý tài sản (ví dụ như một số tài

sản vẫn còn tồn đọng do không thể bán được mặc dù đã được giảm giá nhiều lần)

Tại Nhật Bản, trong quá trình thanh lý tài sản, quản tài viên có thể từ bỏ các quyền của con nợ hoặc các tài sản khó bán Không có quy tắc nào như

vậy ở Việt Nam; tuy nhiên, trên thực tế, theo kết quả phỏng vấn với Tòa án, trên thực tế, Tòa án có thể, bằng việc vận dụng các thủ tục pháp lý, “thuyết

phục” các chủ nợ nhận các tài sản không bán được để Tòa án có thể tiến hành các bước tiếp theo nhằm tuyên bố doanh nghiệp phá sản

- Khó khăn trong việc triệu tập hội nghị chủ nợ

Bỏ phiếu theo phương thức ủy quyền tại hội nghị chủ nợ là được phép theo LPS, tuy nhiên, việc thực hiện quyền bỏ phiếu bằng văn bản mà không tham gia hội nghị không được quy định bởi luật cũng như không được áp

dụng trên thực tế

- Tổ quản lý và thanh lý tài sản (“Tổ quản lý”) hoạt động không hiệu quả

- Có các điều khoản mâu thuẫn nhau giữa LPS Hiện Hành, Nghị Định 67/2006/NĐ-CP và Nghị Quyết 03/2005/NQ-HĐTP về quyết định thành lập Tổ quản lý và bổ nhiệm nhân sự vào Tổ quản lý bởi các cơ quan Nhà nước liên quan

- Trong thực tế, các cơ quan Nhà nước liên quan không kịp thời bổ nhiệm nhân sự của mình tham gia Tổ quản lý Sự chậm trễ trong việc thành

lập Tổ quản lý tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp phân tán và cất

giấu tài sản Trong quá trình giải quyết theo thủ tục phá sản có một số quy định như quy định về các hoạt động bị cấm (Điều 31 LPS Hiện Hành), các giao dịch bị coi là vô hiệu (Điều 43 LPS Hiện Hành), kiểm

kê tài sản (Điều 50 LPS Hiện Hành), và biện pháp khẩn cấp tạm thời (Điều 55 LPS Hiện Hành) có thể được áp dụng để ngăn chặn con nợ cất

giấu và hủy hoạt tài sản

- Thành viên Tổ quản lý đến từ các bên khác nhau và không có đủ kỹ năng để hoàn thành nhiệm vụ trong Tổ quản lý

- Có vẻ như không có sự phối hợp chặt chẽ giữa các thành viên Tổ quản

lý, Thẩm phán phụ trách và Chấp hành viên

- Thành viên Tổ quản lý làm việc trên cơ sở bán thời gian và không có động cơ vật chất để làm việc (ví dụ như có thể không được nhận thù lao)

Trang 23

Kể từ khi LPS Hiện Hành có hiệu lực (tức ngày 15/10/2004), đã có 336 đơn yêu cầu được thụ lý bởi tòa án, trong đó có 236 vụ tòa án đã ra quyết định mở thủ tục phá sản Trong số 236 quyết định đó, có 83 trường hợp tòa án đã ra quyết định tuyên bố phá

sản (bao gồm 7 trường hợp tòa án ra quyết định tuyên bố phá sản trong trường hợp đặc

biệt theo quy định tại Điều 87 LPS Hiện Hành).4

Theo tài liệu tham khảo năm 2008:5

- Trong năm 2005, toàn ngành Tòa án đã thụ lý mới 11 vụ và có tổng cộng

14 vụ tính cả các vụ từ 2004 chuyển qua Tòa án đã giải quyết được 1 vụ

- Năm 2006, toàn ngành Toà án đã thụ lý mới 40 vụ; có tổng cộng là 53 vụ tính cả các vụ từ năm 2005 chuyển qua Tòa án đã giải quyết được 16 vụ

- Năm 2007, toàn ngành Toà án đã thụ lý mới 144 vụ phá sản, trong đó, Toà

án nhân dân cấp tỉnh thụ lý 120 vụ, và Toà án nhân dân cấp huyện thụ lý

24 vụ Có tổng cộng là 175 vụ tính cả các vụ từ năm 2006 chuyển qua Trong số đó, Toà án đã ra quyết định mở thủ tục phá sản 164 vụ, quyết định không mở thủ tục phá sản 10 vụ, quyết định trả lại đơn 1 vụ Toà án nhân dân cấp huyện giải quyết xong tất cả 24 vụ đã thụ lý

- Tính đến 2008, chỉ có duy nhất một vụ doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản được tiến hành thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh

(1) Thủ tục phá sản chung theo quy định tại LPS Hiện Hành cũng được áp dụng

đối với DNNN, trừ trường hợp các DNNN là (a) doanh nghiệp trực tiếp phục

vụ quốc phòng, an ninh hoặc thường xuyên và trực tiếp cung ứng các sản phẩm

và dịch vụ công ích thiết yếu theo quy định tại Nghị Định 67/2006/NĐ-CP; (b) doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm, chứng khoán và các hoạt động tài chính khác theo quy định tại Nghị Định 114/2008/NĐ-CP; hoặc (c) tổ

chức tín dụng theo quy định tại Nghị Định 05/2010/NĐ-CP

(2) Các thủ tục đặc biệt được áp dụng đối DNNN thuộc nhóm các doanh nghiệp

đặc thù nêu trên:

- Tòa án thông báo tới cơ quan nhà nước trực tiếp quản lý DNNN đó sau khi

thụ lý đơn yêu cầu

- Áp dụng biện pháp cần thiết phục hồi khả năng thanh toán trước khi tòa án

Báo cáo “Th ực trạng pháp luật về phá sản và việc hoàn thiện môi trường pháp luật kinh doanh ở Việt Nam”, BTP –

B ộ Kế Hoạch và Đầu Tư, Chương trình Phát triển Doanh nghiệp vừa và nhỏ của GTZ, Hà Nội, Tháng 11 năm 2008 (b ằng Tiếng Việt)

Trang 24

(3) Những lý do có thể khiến DNNN hiếm khi lựa chọn thủ tục phá sản (Ngoài

Tiểu mục 2, Mục III, Phần II nêu trên):

a Quan điểm của DNNN lâm vào tình trạng phá sản hoặc người dại điện

của chủ sở hữu DNNN

- E ngại về việc phải chịu trách nhiệm đối với việc phá sản của doanh nghiệp (ví dụ như việc này sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực đến cơ hội thăng

tiến của họ, v.v.)

b Quan điểm của chủ nợ (các ngân hàng thương mại Nhà nước, Ngân

Hàng Phát Triển Việt Nam, v.v.)

- Chủ nợ và con nợ thường có mối quan hệ mật thiết

- Chính chủ nợ cũng e ngại việc gia tăng tỉ lệ nợ xấu của mình Tại Việt Nam, các khoản nợ thường được phân loại dựa trên thời gian quá hạn thanh toán nợ gốc và lãi Do đó, không có quy định rõ ràng rằng các khoản nợ của doanh nghiệp có thể không phải phân vào nhóm “nợ xấu”

nếu doanh nghiệp thực hiện thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh

(4) Các vụ phá sản trên thực tế của DNNN:

Vào tháng 1 năm 2007, Tòa Kinh Tế Tòa Án Nhân Dân Tỉnh Quảng Nam đã tuyên bố phá sản đối với 2 DNNN, gồm một công ty thiết bị nông nghiệp với khoản lỗ khoảng 13 tỉ đồng và một công ty mía đường với khoản lỗ khoảng

356 tỉ đồng

(5) Thủ tục phá sản đối với TĐKT

Do bản thân TĐKT không có tư cách pháp nhân, vì vậy các quy định của LPS

Hiện Hành sẽ áp dụng cho từng doanh nghiệp trong TĐKT Theo quy định của pháp luật Việt Nam, TĐKT sẽ phải chuẩn bị báo cáo tài chính hợp nhất và từng công ty mẹ và công ty con cũng sẽ phải chuẩn bị báo cáo tài chính của riêng mình

Có S ự Tham Gia Của Tòa Án (Thủ Tục Ngoài Tòa Án)

Trang 25

2 Thủ Tục Ngoài Tòa Án

Thủ Tục Ngoài Tòa Án theo hệ thống pháp luật Việt Nam hiện tại như sau (về tổ chức

lại doanh nghiệp, xin xem phần Mục V, Phần II)

(1) Giải thể theo quy định tại Luật Doanh Nghiệp (Luật 60/2005/QH11)

Về nguyên tắc, doanh nghiệp chỉ được giải thể khi đảm bảo khả năng thanh toán hết các khoản nợ

(2) Bán, giao doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước theo quy định tại Nghị Định

109/2008/NĐ-CP

- Bán doanh nghiệp

Chỉ các DNNN thuộc diện bán doanh nghiệp đã được Thủ Tướng Chính Phủ phê duyệt trong đề án tổng thể sắp xếp DNNN, hoặc thuộc diện cổ phần hóa trong đề án tổng thể sắp xếp DNNN nhưng không thực hiện cổ phần hóa được,

mới được bán Việc bán có thể bằng phương thức bán đấu giá hoặc qua thỏa thuận, có hoặc không có kế thừa công nợ đối với người mua Trong trường hợp các khoản nợ của DNNN không được người mua kế thừa, DNNN phải xử lý các khoản nợ đó Điều 5 Thông Tư 202/2009/TT-BTC quy định chi tiết hơn về các giải pháp xử lý các khoản nợ còn tồn đọng

- Giao doanh nghiệp (Không thu tiền)

Chỉ các DNNN có giá trị tổng tài sản ghi trên sổ kế toán dưới 15 tỉ đồng, không có lợi thế về đất đai và thuộc diện giao doanh nghiệp đã được Thủ Tướng Chính Phủ phê duyệt hoặc đã tiến hành bán nhưng không bán được, sẽ được giao cho tập thể người lao động

- Dự thảo nghị định mới thay thế Nghị Định 109/2008/NĐ-CP đã được ban hành Ngoài các thủ tục trên, dự thảo nghị định mới quy định thủ tục chuyển giao doanh nghiệp mà trong đó bên được giao phải là DNNN

(3) Thỏa thuận tự nguyện với các đối tác tài chính của bên nợ

(4) Tái cấu trúc được thực hiện bởi DATC bằng cách mua lại các khoản nợ và tài

sản tồn đọng, đầu tư dưới hình thức góp vốn cổ phần, góp vốn liên doanh và

hợp tác kinh doanh

Trường hợp thu nhập có được từ việc trả các khoản nợ do khoản nợ bị giảm xuống trong quá trình tiến hành thủ tục ngoài Tòa án, khoản thu nhập này có thể sẽ bị tính như là khoản “thu nhập khác” phải chịu thuế của doanh nghiệp

Trang 26

1 Các Loại Hình Doanh Nghiệp Tại Việt Nam

Tại Việt Nam, một công ty có thể được thành lập dưới hình thức công ty TNHH một thành viên (“Công ty TNHH một thành viên”), công ty TNHH hai thành viên trở lên (“Công ty TNHH nhiều thành viên”), hoặc công ty cổ phần (“Công ty CP”) Các thủ

tục cần thiết và tính khả thi của mỗi phương án nói trên xét từ khía cạnh pháp lý còn tùy thuộc vào từng loại hình công ty

Khi một công ty Việt Nam (DNNN hoặc thuộc thành phần kinh tế tư nhân) lâm vào tình trạng khó khăn (“Công Ty Kinh Doanh Yếu Kém”) phục hồi kinh doanh với sự hỗ

trợ của một công ty hỗ trợ, các phương thức sau có thể được cân nhắc đến, đây là các

phương thức được quy định trong hệ thống pháp luật Nhật Bản:

(a) Phương Án

Tách Một Phần Công Ty Kinh Doanh Ydoanh của mình (lĩnh vực kinh doanh có lãi hoặc lĩnh vực kinh ếu Kém tách một phần lĩnh vực kinh

doanh mà khả năng sinh lợi được kỳ vọng là sẽ tăng trưởng) và chuyển nhượng cho một công ty khác là công ty tiếp nhận được thành lập bởi công ty hỗ trợ (“Công Ty Hỗ Trợ”);

Cổ đông của Công Ty Kinh Doanh Yếu Kém chuyển nhượng cổ

phần của mình trong công ty này cho Công Ty Hỗ Trợ;

(1) Phương Án Tách Một Phần

- Có ba phương án hợp pháp khả thi: (i) công ty gốc được tách thành một hoặc nhiều công ty mới, sau đó một trong số các công ty mới này sẽ sáp nhập với Công

Ty Hỗ Trợ; (ii) công ty gốc được tách thành các công ty mới khác nhau, sau đó,

một trong số các công ty mới được bán lại cho Công Ty Hỗ Trợ; (iii) một bộ phận kinh doanh/tài sản/các dự án/các quyền hợp đồng/các khoản nợ của công ty gốc được chuyển nhượng cho Công Ty Hỗ Trợ Hiện tại, phương án (iii) được sử dụng

phổ biến bởi các công ty ở Việt Nam nhằm mục đích tổ chức lại

- Cơ quan có thẩm quyền nội bộ đối với việc phê duyệt các vấn đề quan trọng liên quan đến tách, sáp nhập và chuyển giao kinh doanh khác nhau giữa các loại hình này như sau: (a) Công ty TNHH một thành viên: chủ sở hữu, (b) Công ty TNHH hai thành viên trở lên: Hội đồng Thành viên; (c) Công ty cổ phần: Đại hội đồng Cổ đông

- Ngoài ra, trong trường hợp chuyển nhượng kinh doanh, nếu việc chuyển nhượng

hoặc tài sản có trị giá tương đương với 50% hoặc lớn hơn tổng giá trị tài sản của

Trang 27

công ty, trừ khi được quy định khác trong điều lệ của công ty, cơ quan nội bộ có quyền quyết định cao nhất trong công ty sẽ phê duyệt việc chuyển nhượng đó; việc chuyển nhượng các tài sản có giá trị thấp hơn giá trị nêu trên, thì cơ quan nội bộ có

thẩm quyền thấp hơn như Tổng Giám Đốc/Giám Đốc hoặc Hội Đồng Quản Trị (Công ty cổ phần) sẽ phê duyệt việc chuyển nhượng đó, như được quy định tại điều lệ của công ty

- Nếu như công ty ban đầu là một DNNN, một người đại diện được chỉ định bởi Nhà nước sẽ chịu trách nhiệm thực thi các quyền của Nhà nước với tư cách là chủ

sở hữu/thành viên/cổ đông Người đại diện đó phải thực hiện các quyền của chủ sở

hữu/thành viên/cổ đông theo đúng với quy định của tổ chức có trách nhiệm quản

lý vốn Nhà nước

- Nếu một Công Ty Kinh Doanh Yếu Kém lâm vào tình trạng phá sản, với sự phê duyệt/đồng ý của các chủ nợ, thẩm phán chịu trách nhiệm liên quan có thể ra quyết định áp dụng thủ tục phục hồi Thủ tục phục hồi này có thể sẽ được tiến hành theo

kế hoạch đã được phê duyệt bởi một thẩm phán theo các quy định liên quan của LPS Hiện Hành

- Về thủ tục hành chính, cần phải đăng ký với Sở Kế hoạch và Đầu tư (“Sở KHĐT”) trước khi hoàn tất việc tách và sáp nhập Đối với việc sáp nhập và chuyển nhượng kinh doanh, nếu như thị phần kết hợp của các bên tham gia tập trung kinh tế chiếm

từ 30% đến 50% hoặc (các) doanh nghiệp được thành lập sau tập trung kinh tế không phải là doanh nghiệp vừa hoặc nhỏ, thì việc sáp nhập và chuyển nhượng kinh doanh phải được báo cáo với Cục Quản lý Cạnh tranh Việt Nam (“VCA”)

- Về các thủ tục liên quan đến người lao động trong trường hợp tách và sáp nhập,

cần phải thông báo cho người lao động và cơ quan quản lý nhà nước cấp tỉnh về lao động về việc thực hiện kế hoạch sử dụng lao động Đồng thời, nếu công ty được tách không thể sử dụng toàn bộ lao động hiện có thì công ty đó sẽ phải lập kế

hoạch sử dụng lao động với sự tham gia của tổ chức đại diện tập thể lao động cấp

cơ sở Trường hợp chuyển nhượng cổ phần, cần phải thông báo với người lao động

về kế hoạch sử dụng lao động đã được lập với sự tham gia của tổ chức đại diện tập

thể lao động cấp cơ sở Trường hợp chuyển nhượng kinh doanh, cần phải lập kế

hoạch sử dụng lao động với sự tham gia của các tổ chức đại diện tập thể lao động

cấp cơ sở, và thông báo cho người lao động về kế hoạch này

- Đối với các thủ tục liên quan đến đối tác trong các hợp đồng mà công ty chuyển nhượng là một bên tham gia, thì bên chuyển nhượng quyền yêu cầu phải thông báo cho bên có nghĩa vụ bằng văn bản về việc chuyển nhượng quyền yêu cầu đó Việc chuyển nhượng quyền yêu cầu không cần phải được bên có nghĩa vụ chấp thuận,

trừ khi được thỏa thuận khác hoặc được quy định bởi luật Mặt khác, bên có nghĩa

vụ có thể chuyển nhượng nghĩa vụ dân sự cho một bên thứ ba nhưng phải được bên có quyền chấp thuận trước, trừ khi nghĩa vụ đó gắn liền với nhân thân của bên

có nghĩa vụ hoặc pháp luật quy định rằng không được phép chuyển giao nghĩa vụ

Trang 28

(2) Phương Án Góp Vốn Bổ Sung

- Phương án này có thể là một giải pháp hợp pháp đối với cả Công ty TNHH một thành viên, Công ty TNHH nhiều thành viên và Công ty CP nếu như các công ty này thực hiện một số thủ tục nội bộ và thủ tục hành chính theo quy định

(4) Phương Án Thay Thế Cổ Đông

- Về cơ bản, phương án này khả thi về mặt pháp lý đối với cả loại hình Công ty TNHH một thành viên, Công ty TNHH nhiều thành viên và Công ty CP

- Hoạt Động Kinh Doanh Ngoài Ngành của các DNNN nhìn chung được tiến hành

bởi các công ty con của các DNNN, tức là DNNN có các khoản đầu tư vốn vào các công ty con của mình Do đó, các DNNN cần phải chuyển nhượng các khoản đầu tư vốn này để thoái vốn khỏi các Hoạt Động Kinh Doanh Ngoài Ngành

- Trước đây, về nguyên tắc, các DNNN bị cấm chuyển nhượng các khoản đầu tư

vốn của mình theo giá thấp hơn giá trị ghi trên sổ sách Kết quả là công tác chuyển nhượng Hoạt Động Kinh Doanh Ngoài Ngành của DNNN bị chậm trễ Tuy nhiên,

việc ban hành Nghị Định 71/2013/NĐ-CP và Thông Tư 220/2013/TT-BTC đã mở đường thúc đẩy hợp lý hóa quy trình chuyển nhượng và cho phép các DNNN chuyển nhượng các khoản đầu tư vốn của mình, bao gồm cả cổ phần/phần vốn góp trong các công ty khác, theo mức giá thấp hơn giá trị ghi trên sổ sách của mình trong một giới hạn nhất định Ngoài ra, Chính Phủ Việt Nam gần đây còn ban hành Nghị Quyết 15/NQ-CP ngày 16/03/2014 để thúc đẩy quá trình đổi mới DNNN bằng cách quy định các biện pháp chính như sau: (i) cho phép bán dưới

mệnh giá trên cơ sở phương án thoái vốn đã được chủ sở hữu phê duyệt, (ii) yêu

cầu SCIC xem xét mua lại các Hoạt Động Kinh Doanh Ngoài Ngành của các DNNN, và (iii) đẩy mạnh cổ phần hóa DNNN

- Luật Doanh Nghiệp (Luật 60/2005/QH11) được áp dụng đối với tất cả các doanh

Trang 29

nghiệp thuộc mọi ngành nghề kinh tế.6 Điều này có nghĩa là việc tổ chức và hoạt động của DNNN cũng chịu sự điều chỉnh của Luật Doanh Nghiệp (Luật 60/2005/QH11) Ngoài các quy định tại Luật Doanh Nghiệp (Luật 60/2005/QH11), các DNNN, trong phạm vi nhất định, còn chịu sự điều chỉnh của các quy định riêng biệt về quản lý vốn đầu tư của Nhà nước Trong số các quy định này, quy định đặc thù về TCT (Nghị Định 111/2007/NĐ-CP) và công ty mẹ

của TĐKT (Nghị Định 101/2009/NĐ-CP) cần được lưu ý khi xem xét quan hệ

quản trị doanh nghiệp của các DNNN

- Phạm vi điều chỉnh của Nghị Định 111/2007/NĐ-CP rất rộng và không rõ ràng, nhưng dường như Nghị định này được áp dụng đối với TCT (tổng công ty được Nhà nước đầu tư hoặc thành lập, bao gồm nhưng không giới hạn ở các công ty được tổ chức lại từ các công ty được thành lập theo quy định của Luật Doanh Nghiệp Nhà Nước năm 1995 và Luật Doanh Nghiệp Nhà Nước năm 2003 (Luật 14/2003/QH11)).7 Mặt khác, Nghị Định 101/2009/NĐ-CP áp dụng đối với TĐKT,

một nhóm các công ty có quy mô lớn, tạo thành một liên minh các doanh nghiệp

Phạm vi điều chỉnh của Nghị Định 101/2009/NĐ-CP tương đối rõ ràng, bởi các TĐKT được thành lập theo quyết định của Thủ Tướng Chính Phủ.8

- Mối quan hệ giữa Luật Doanh Nghiệp (Luật 60/2005/QH11), Nghị Định 111/2007/NĐ-CP và Nghị Định 101/2009/NĐ-CP không được phân định rõ ràng

và cần được phân tích sâu hơn Ví dụ, rất nhiều quy định trong Nghị định 111/2007/NĐ-CP dẫn chiếu đến, không phải các quy định của Luật Doanh Nghiệp (Luật 60/2005/QH11), mà là các quy định của Luật Doanh Nghiệp Nhà Nước năm

2003 (Luật 14/2003/QH11), đến thời điểm này đã hết hiệu lực Đồng thời, cũng

cần phải xem xét kỹ về sự phù hợp của hai Nghị Định này với Luật Doanh Nghiệp (Luật 60/2005/QH11) Ví dụ, các kiểm soát viên hoặc các thành viên của Ban

kiểm soát được bổ nhiệm và bãi nhiệm bởi chủ sở hữu công ty theo Luật Doanh Nghiệp (Luật 60/2005/QH11) Tuy nhiên, theo hai Nghị Định này, kiểm soát viên

lại được bổ nhiệm và bãi nhiệm bởi Hội Đồng Quản Trị, cơ quan chịu sự giám sát

của các kiểm soát viên sau này (do vậy, có thể xảy ra tình huống xung đột về lợi ích)

- Các tổ chức kiểm toán/giám sát các DNNN từ bên ngoài đối với DNNN là: (1) chủ

sở hữu Nhà nước (bao gồm Bộ quản lý ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và SCIC được phân công thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với các DNNN), (2) BTC, (3)

Kiểm Toán Nhà Nước và (4) Thanh Tra Nhà Nước Việc phân chia vai trò của mỗi

tổ chức được tóm tắt như sau:

(1) Chủ Sở Hữu Nhà Nước: thực thi quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu

Nhà nước (như được phân công và phân cấp);9

Trang 30

(2) BTC (không phải với tư cách Bộ quản lý ngành): Phối hợp với chủ sở

hữu Nhà nước trong việc giám sát tài chính và đánh giá hoạt động của các DNNN;10

(3) Kiểm Toán Nhà Nước: Kiểm toán báo cáo tài chính, việc tuân thủ pháp

luật và hoạt động của các DNNN;11

(4) Thanh Tra Nhà Nước: Kiểm tra, đánh giá và giải quyết các chính sách

và luật, và việc thực hiện các nghiệm vụ và quyền hạn của các DNNN theo trật tự và thủ tục như luật định.12

- Các tổ chức kiểm toán/giám sát bên ngoài có quyền yêu cầu DNNN cung cấp các thông tin cần thiết.13

- Theo Nghị Định 61/2013/NĐ-CP mới ban hành, các DNNN dường như phải tiến hành công bố các thông tin của mình về báo cáo tài chính đã kiểm toán Ngoài ra, Thông Tư 171/2013/TT-BTC được ban hành vào ngày 20/11/2013 cũng đưa ra các quy định chi tiết về công bố thông tin của DNNN

Tín Dụng Và Bảo Hiểm Tiền Gửi

- Theo Thông Tư 02/2013/TT-NHNN mới chưa có hiệu lực,16 định nghĩa các khoản

nợ sẽ được mở rộng; tiêu chuẩn phân loại nợ sẽ được sửa đổi; và các tổ chức tín

dụng sẽ cần phải điều chỉnh kết quả tự phân loại nợ của mình dựa theo kết quả phân loại nhóm nợ đối với khách hàng do CIC cung cấp

Trang 31

- NX sẽ được xuất toán ngoại bảng bằng cách sử dụng dự phòng cụ thể, bán nợ và các phương thức khác nhưng chưa có cơ sở pháp lý thật sự rõ ràng cho phép tổ

chức tín dụng, trừ các ngân hàng chính sách/phi lợi nhuận (ví dụ như Ngân hàng Phát triển Việt Nam), tự nguyện xóa nợ

- Dự phòng trong giới hạn cho phép được tính vào các khoản chi được trừ

- Theo Quyết Định 254/QĐ-TTg ngày 01/03/2012 của Thủ Tướng Chính Phủ phê duyệt Đề án cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011 - 2015 (“Đề

Án Tái Cơ Cấu Ngân Hàng”), các tổ chức tín dụng là ngân hàng thương mại cổ

phần, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính của Việt Nam sẽ được phân loại thành 3 nhóm, bao gồm: (i) Tổ chức tín dụng lành mạnh, (ii) Tổ chức tín dụng thiếu thanh khoản tạm thời, và (iii) Tổ chức tín dụng yếu kém

- Theo Đề Án Tái Cơ Cấu Ngân Hàng, một số giải pháp hỗ trợ có thể được áp dụng cho các tổ chức tín dụng yếu kém, có thể bao gồm:

Tái cấp vốn: NHNN tái cấp vốn đối với tổ chức tín dụng có rủi ro mất

khả năng thanh toán nhưng chưa bị đặt vào tình trạng

kiểm soát đặc biệt với mức tối đa tương đương vốn điều

lệ của tổ chức tín dụng được tái cấp vốn, nếu tổ chức tín

dụng đó đáp ứng các điều kiện luật định khác

Kiểm soát đặc biệt: Các tổ chức tín dụng yếu kém có thể bị đặt dưới sự kiểm

soát đặc biệt của NHNN khi cần thiết theo các Điều từ

145 đến 152 của Luật Các Tổ Chức Tín Dụng (Luật 47/2010/QH12)

Các khoản vay đặc biệt: NHNN hoặc các tổ chức tín dụng khác có thể cho vay

đặc biệt đối với các tổ chức tín dụng yếu kém lâm vào tình trạng mất khả năng chi trả đang bị đặt dưới sự kiểm soát đặt biệt, đe dọa sự ổn định của hệ thống các tổ chức tín dụng hoặc các tổ chức tín dụng có nguy cơ mất khả năng chi trả do sự cố nghiêm trọng nhưng chưa bị kiểm soát đặc biệt17 Theo quy định chung, tổ chức tín dụng vay chỉ được phép sử dụng khoản vay đặc biệt để chi trả cho các khoản tiền gửi của người gửi tiền là cá nhân gửi

Trang 32

hoặc bị mua lại bởi một tổ chức tín dụng khác hoặc NHNN

- Ngoài ra, các tổ chức tín dụng yếu kém phải thực hiện một số biện pháp được quy định trong Đề Án Tái Cơ Cấu Ngân Hàng bao gồm cơ cấu lại tài chính, cơ cấu lại

hoạt động, cơ cấu lại hệ thống quản trị và điều hành nhằm lành mạnh hóa tài chính đồng thời nhằm cơ cấu lại hoạt động, hệ thống quản trị, điều hành, v.v…

- Nếu một tổ chức tín dụng bị lâm vào tình trạng phá sản, ngoài các quy định của LPS Hiện Hành, các thủ tục phá sản của các tổ chức tín dụng được quy định tại

Luật Các Tổ Chức Tín Dụng (Luật 47/2010/QH12)18

và tại Nghị Định 05/2010/NĐ-CP sẽ được áp dụng Tổ chức tín dụng cũng có thể tự nguyện xin giải

thể khi được sự chấp thuận của NHNN nếu có khả năng thanh toán hết nợ

- Theo thông tin được công bố rộng rãi, trong vòng hai năm vừa qua, việc cơ cấu lại các tổ chức tín dụng mất khả năng thanh toán được tiến hành chủ yếu dưới hình

thức Mua bán & Sáp nhập (M&A) trên cơ sở tự nguyện Cụ thể, vào cuối năm

2011, NHNN xác định chín ngân hàng19

bị xếp hạng yếu kém và đã yêu cầu các ngân hàng đó tiến hành tái cơ cấu Theo thông tin từ các phương tiện truyền thông đại chúng, ba trong số các ngân hàng đó đã hợp nhất với nhau; một ngân hàng sáp

nhập với một ngân hàng khác; một ngân hàng hợp nhất với một công ty tài chính;

bốn ngân hàng còn lại đã đề xuất NHNN phê duyệt kế hoạch tự tái cơ cấu và đang

tiến hành các kế hoạch đó dưới sự giám sát của NHNN (một trong số các ngân hàng này đã thực hiện tái cơ cấu với sự tham gia của một công ty kinh doanh vàng

và trang sức nổi tiếng với tư cách cổ đông chiến lược)

- DIV là một tổ chức tài chính do Nhà nước sở hữu toàn bộ, hoạt động không vì

mục tiêu lợi nhuận nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền

và thực hiện chính sách bảo hiểm tiền gửi NHNN được giao quyền quản lý DIV

Chủ tịch Hội Đồng Quản Trị của DIV được Thủ tướng bổ nhiệm theo đề nghị của NHNN

- Tiền gửi được bảo hiểm là tiền gửi bằng đồng của cá nhân gửi tại tổ chức tham gia

bảo hiểm tiền gửi dưới hình thức tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi không kỳ hạn, tiền

gửi tiết kiệm, chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức tiền gửi khác theo quy định của Luật Các Tổ Chức Tín Dụng

- Nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm của DIV phát sinh kể từ thời điểm NHNN có văn bản

chấm dứt kiểm soát đặc biệt hoặc văn bản chấm dứt áp dụng hoặc văn bản không

áp dụng các biện pháp phục hồi khả năng thanh toán mà tổ chức tín dụng là tổ

chức tham gia bảo hiểm tiền gửi vẫn lâm vào tình trạng phá sản hoặc NHNN có văn bản xác định chi nhánh ngân hàng nước ngoài là tổ chức tham gia bảo hiểm

tiền gửi mất khả năng chi trả tiền gửi cho người gửi tiền

Trang 33

- Theo Điều 25 của Luật Bảo Hiểm Tiền Gửi (Luật 06/2012/QH13), số tiền bảo

hiểm được trả cho tất cả các khoản tiền gửi được bảo hiểm của một người tại một

tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi Tuy nhiên, có giới hạn về mức tối đa của số

tiền bảo hiểm Hạn mức này hiện tại là 50 triệu đồng theo Điều 4 Nghị Định 89/1999/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung) Bất kỳ khoản nào của số tiền gửi được

bảo hiểm (bao gồm tiền gốc và tiền lãi) vượt quá hạn mức trả tiền bảo hiểm sẽ được giải quyết trong quá trình xử lý tài sản của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền

gửi liên quan theo quy định của pháp luật

- Theo như thông tin được DIV chia sẻ, hạn mức 50 triệu đồng được đề cập ở trên không còn phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam khi tính đến các

yếu tố như thu nhập bình quân GDP trên đầu người, tỷ lệ lạm phát cao, tỷ lệ tăng trưởng tiền gửi, v.v… Thêm vào đó, hạn mức thấp này không bảo vệ lợi ích của người gửi tiền một cách thích đáng Do vậy, nhiều khả năng là DIV đã đề xuất Chính phủ đưa ra hạn mức cao hơn

- Ngoài ra cho đến thời điểm hiện tại chỉ có Nghị Định 68/2013/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Bảo Hiểm Tiền Gửi (Luật 06/2012/QH13) được ban hành vào ngày 28/06/2013 Mặc dù Luật Bảo Hiểm Tiền Gửi đã có hiệu lực từ ngày 01/01/2013, thì hiện nay DIV vẫn đang phải áp dụng một số lượng đáng kể các Thông Tư và các văn bản hướng dẫn khác được ban hành theo các quy định cũ về bảo hiểm tiền

gửi được quy định tại Nghị Định 89/1999/NĐ-CP

DNNN

- VAMC hoạt động trên cơ sở sự giám sát của NHNN được phép mua NX của các

tổ chức tín dụng theo hai phương thức: (i) mua theo giá trị ghi sổ (tức là giá trị

mệnh giá của số dư nợ gốc của khoản NX được mua trừ đi số tiền dự phòng rủi ro

mà vẫn chưa được sử dụng) bằng “trái phiếu đặc biệt”20

và (ii) theo giá trị thị trường không phải bằng “trái phiếu đặc biệt”.21

“Trái phiếu đặc biệt” do VAMC phát hành bằng đồng có thời hạn tối đa 05 năm và lãi suất bằng 0%, và có thể được

sử dụng làm cơ sở vay tái cấp vốn từ NHNN.22

- Tổ chức tín dụng có tỷ lệ NX từ 3% tổng số nợ trở lên phải bán NX cho VAMC

trừ khi NHNN có sự cho phép khác.23

- Trong thời hạn của trái phiếu đặc biệt, bất kỳ khoản nợ nào thu hồi được sẽ (i) định kỳ hằng quý được VAMC giữ lại và trả nợ vay tái cấp vốn trực tiếp cho

Trang 34

NHNN, hoặc (ii) được VAMC gửi vào khoản tiền gửi mở tại chủ nợ (tức là tổ

chức tín dụng bán NX cho VAMC) và không được rút trước thời điểm thanh toán trái phiếu đặc biệt, nếu chủ nợ không vay tái cấp vốn từ NHNN.24

- Khi trái phiếu đặc biệt đến hạn thanh toán, với điều kiện là số tiền vay tái cấp vốn trên cơ sở trái phiếu đặc biệt tương ứng (nếu có) đã được hoàn trả đầy đủ (để cho NHNN ngừng phong tỏa trái phiếu đặc biệt đó), nếu VAMC chưa thu hồi được đầy đủ khoản NX từ con nợ, chủ nợ gốc phải (i) “mua lại” (nhưng không thực hiện thanh toán bằng tiền) phần còn lại của số dư nợ gốc của khoản NX theo giá trị ghi

sổ và (ii) trả lại trái phiếu đặc biệt tương ứng cho VAMC Sau đó chủ nợ gốc sẽ được nhận số tiền NX thu hồi được bởi VAMC (sau khi trừ đi số tiền mà VAMC được hưởng như một khoản “phí thu hồi nợ”).25

- Hằng năm, tổ chức tín dụng bán NX phải trích lập dự phòng cụ thể (tương đương

với số tiền mệnh giá của trái phiếu đặc biệt chia cho số năm của thời hạn trái phiếu đặc biệt Chẳng hạn như nếu mệnh giá của Trái phiếu đặc biệt là 100 và thời hạn

của trái phiếu đặc biệt là 5 năm thì số tiền dự phòng cụ thể sẽ là 20) cho trái phiếu đặc biệt.26

Số tiền dự phòng cụ thể cho trái phiếu đặc biệt tương ứng sẽ được sử

dụng để xử lý đối với khoản NX mua lại từ VAMC

- VAMC có chức năng tự mình thu hồi nợ (ví dụ: VAMC có thể thực hiện các quyền của chủ nợ và/hoặc bên được bảo đảm đối với khách hàng vay cũng như thu

nợ bằng cách nhận chính tài sản bảo đảm) Ngoài ra, VAMC có quyền yêu cầu tổ

chức tín dụng, bên nợ và bên bảo lãnh cung cấp thông tin về bên nợ, bên bảo lãnh

và tài sản bảo đảm để thực hiện đấu giá mà không cần có sự đồng ý của bên nợ và

để yêu cầu cơ quan nhà nước liên quan và cơ quan thi hành án để hợp tác và hỗ trợ quy trình tịch thu tài sản và quyết toán và thu hồi nợ và tài sản bảo đảm

- Không có tiêu chí cụ thể nào về người mua trong trường hợp VAMC bán NX cho người mua khác và theo quy định hiện hành VAMC không bị cấm bán NX cho nhà đầu tư nước ngoài Tuy nhiên, thực tế thì hệ thống pháp luật hiện tại có vẻ như chưa sẵn sàng cho việc VAMC bán NX đã mua cho nhà đầu tư nước ngoài Cụ thể,

những vấn đề pháp lý sau đây có thể cản trở việc VAMC bán NX:

- Sau khi khoản NX được bán, có khả năng là mối quan hệ giữa người mua nước ngoài và khách nợ trong nước có thể bị xem là mối quan hệ liên quan đến Khoản Vay Nước Ngoài Trong trường hợp đó, (i) mặc dù khách nợ trong nước có thể sẽ

phải đăng ký “Khoản Vay Nước Ngoài” với NHNN nếu thời hạn thanh toán khoản vay quá một năm,27

thủ tục đăng ký Khoản Vay Nước Ngoài của người vay là cá nhân vẫn chưa được ban hành; (ii) vẫn chưa rõ liệu khoản dư NX được bán có phải

nằm trong “hạn mức vay thương mại nước ngoài” mà theo đó NHNN chỉ có thể xác nhận việc đăng ký Khoản Vay Nước Ngoài trong hạn mức vay được Thủ

Trang 35

Tướng Chính Phủ phê duyệt hàng năm28

; và (iii) thủ tục đăng ký Khoản Vay Nước Ngoài theo quy định hiện hành có thể phù hợp cho việc đăng ký từng Khoản Vay Nước Ngoài riêng lẻ chứ không phù hợp với trường hợp Khoản Vay Nước Ngoài

tạo lập từ việc bán NX theo từng lô lớn

- Cho dù khoản NX được bảo đảm bởi cổ phần/phần vốn góp trong các công ty tại

Việt Nam, khoản bảo đảm đó có thể sẽ trở nên không có ý nghĩa hoặc thành trở

ngại trong một số trường hợp khi mà pháp luật Việt Nam vẫn còn hạn chế sở hữu nước ngoài trong nhiều lĩnh vực kinh doanh (ví dụ như ngân hàng)

- Nếu khoản NX được bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, khoản bảo đảm đó có thể

trở nên không có ý nghĩa hoặc thành trở ngại khi xét đến việc pháp luật Việt Nam không cho phép thế chấp QSDĐ cho doanh nghiệp nước ngoài cũng như việc doanh nghiệp nước ngoài không được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ người sử dụng đất hiện hữu hoặc được Nhà nước giao hay cho thuê QSDĐ mà không thành lập hiện diện thương mại tại Việt Nam.29,30

- VAMC được phép tham gia vào quá trình tái cơ cấu khách nợ sau khi mua cổ phần

hoặc góp vốn vào khách nợ đó.31

- Dựa trên các điều kiện luật định, DATC hoạt động trên cơ sở sự giám sát BTC, tùy

từng trường hợp, sẽ mua hoặc tiếp nhận các khoản nợ và tài sản của doanh nghiệp theo một hoặc nhiều trường hợp trong ba trường hợp sau: (i) các khoản nợ và tài

sản của bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào, (ii) các khoản nợ và tài sản đã được loại

trừ không tính vào giá trị của DNNN khi thực hiện sắp xếp hoặc chuyển đổi DNNN, và (iii) các khoản nợ và tài sản theo chỉ định của Thủ Tướng Chính Phủ Các trường hợp (ii) và (iii) chỉ áp dụng với các khoản nợ và tài sản của DNNN

- Trường hợp (i) áp dụng với các khoản nợ và tài sản của bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào (bao gồm cả DNNN và các doanh nghiệp không phải DNNN), với điều kiện là (1) tối thiểu 70% tổng nguồn vốn đầu tư để mua các khoản nợ và tài sản đối với trường hợp (i) phải được sử dụng để mua các khoản nợ và tài sản của khách nợ là doanh nghiệp 100% vốn nhà nước gắn với việc thực hiện sắp xếp, chuyển đổi sở

hữu và/hoặc đang trong quá trình lành mạnh hóa tài chính và (2) đảm bảo khả năng thu hồi vốn và có hiệu quả theo phương án đã được phê duyệt.32 Đối với phương thức (i), chúng tôi thấy rằng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành không có các quy định về quy trình hay tiêu chí cụ thể để DATC xác định giá

của tài sản hoặc khoản nợ sẽ mua

28 Điều 17 Pháp Lệnh Ngoại Hối (Pháp Lệnh 06/2013/UBTVQH13)

29 Lu ật Đất Đai hiện hành (Luật 13/2003/QH11) lẫn Luật Đất đai Sửa Đổi đều không cho phép tổ chức/cá nhân nước

ngoài nh ận thế chấp tài sản gắn liền với đất Đồng thời pháp luật Việt Nam cũng chỉ cho phép doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thành lập tại Việt Nam được sử hữu có điều kiện nhà ở tại Việt Nam Hiện vẫn chưa rõ liệu doanh nghi ệp nước ngoài có được sở hữu các loại bất động sản khác tại Việt Nam hay không

30 Ngoài ra, khó khăn thực tế trong việc thi hành biện pháp bảo đảm có thể trở thành một trở ngại khác

31 Điểm c, Khoản 1, Điều 13 Nghị Định 53/2013/NĐ-CP

32 Điểm a, Khoản 1, Điều 8 Thông Tư 79/2011/TT-BTC

Trang 36

- Đối với phương thức (ii) nói trên, nhiều khả năng DATC có thể tiếp nhận chuyển giao các tài sản được loại trừ không tính vào giá trị của DNNN mà không phải thanh toán cho việc chuyển giao đó; tuy nhiên, sau khi nhận được tiền, ví dụ như

từ việc thu hồi được nợ, DATC sẽ phải phân bổ khoản tiền thu được theo quy định

- Không có luật hay quy định nào bắt buộc một cách rõ ràng các tổ chức tín dụng

phải bán quyền đòi nợ cho DATC; với điều kiện là trong một số trường hợp DNNN phải bán/chuyển nhượng các khoản nợ và tài sản cho DATC Không có quy định pháp luật nào buộc chủ nợ hoặc chủ sở hữu ban đầu mua lại các khoản nợ

và tài sản đó

- DATC thực hiện việc thu hồi nợ, tái cơ cấu, DES, và đầu tư vào liên doanh và các doanh nghiệp khác DATC được phép thực hiện hoạt động tư vấn và môi giới xử

lý nợ và tài sản, và đầu tư cổ phiếu, trái phiếu chuyển đổi và quyền chọn

- Đối với các quyền đòi nợ có được theo trường hợp (i), (ii) và (iii), DATC được phép bán lại các quyền đòi nợ này theo phương thức thỏa thuận trực tiếp, chào giá

cạnh tranh hoặc tổ chức đấu giá công khai theo quy định của pháp luật; tuy nhiên, DATC chỉ được áp dụng phương thức thỏa thuận trực tiếp sau khi đã thực hiện đấu giá công khai hoặc chào giá cạnh tranh nhưng không thành công Đối với các quyền đòi nợ có được theo các trường hợp (ii) và (iii), DATC được bán lại theo phương thức thỏa thuận chỉ khi giá bán không thấp hơn giá trị ghi trên sổ sách kế toán của DATC, bao gồm cả chi phí vận chuyển, sửa chữa nâng cấp tài sản (nếu có).34

- DATC được phép phát hành trái phiếu để huy động vốn phục vụ cho việc thực

hiện các chức năng của mình

- Liên quan đến việc phân định vai trò của VAMC, DATC và SCIC, thì VAMC sẽ

chủ yếu tập trung vào xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng bằng việc phát hành trái phiếu đặc biệt để các tổ chức tín dụng này có thể vay tái cấp vốn từ Ngân hàng Nhà nước Ngược lại, DATC sẽ hoạt động như là một công ty mua bán nợ bình thường và tập trung vào đối tượng là các DNNN SCIC thì lại hoạt động giống như

một nhà đầu tư nắm vốn Nhà nước, sở hữu và đầu tư vốn vào các DNNN, các công

ty có vốn đầu tư của nhà nước cũng như thực hiện các hình thức đầu tư khác

Trang 37

- SCIC do Chính phủ quản lý Thủ Tướng Chính Phủ có thẩm quyền quyết định đối

với hầu hết các quyết định quản lý của của SCIC, và BTC có chức năng tư vấn Các chức năng chính của SCIC bao gồm: (a) Tiếp nhận và thực hiện quyền đại

diện chủ sở hữu vốn Nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp có vốn Nhà nước; (b)

quản lý vốn Nhà nước đầu tư (qua việc thực hiện quyền cổ đông trong các doanh nghiệp được đầu tư, bao gồm việc chỉ định người đại diện); (c) Đầu tư vốn Nhà nước vào những ngành chủ đạo; và (d) cung cấp các dịch vụ tài chính như tư vấn đầu tư, tư vấn cổ phần hoá, tư vấn tái cơ cấu doanh nghiệp, tư vấn tài chính và các

dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp.35

- SCIC có trách nhiệm quản lý “Quỹ Hỗ trợ sắp xếp và phát triển doanh nghiệp”36

Tuy nhiên, Bộ Tài chính có thể được xem như chính là người ra quyết định đối với

tất cả các đơn đề nghị khoản chi tiêu do đó SCIC không liên quan đến quy trình này ngoài việc giải ngân và giám sát việc sử dụng vốn giải ngân

- Nghị Định 151/2013/NĐ-CP về chức năng, nhiệm vụ và cơ chế hoạt động của SCIC đã có hiệu lực vào ngày 20/12/2013 Với Nghị Định mới này, ngoài các nhiệm vụ khác, SCIC có các nhiệm vụ bổ sung về (1) báo cáo Bộ Tài chính thẩm định, trình Thủ Tướng Chính Phủ phê duyệt đề án tổng thể sắp xếp, đổi mới các công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên 100% vốn Nhà nước mà SCIC được giao quản lý cũng như (2) báo cáo Bộ Tài chính thẩm định, trình Thủ Tướng Chính Phủ phê duyệt chiến lược, kế hoạch sản xuất kinh doanh và kế hoạch đầu tư phát triển 5 năm.37

- So với các quy định cũ, SCIC được tự do hơn trong việc đưa ra các quyết định đầu

tư,38

ngoại trừ các quyết định liên quan đến các doanh nghiệp mà Nhà nước cần

nắm giữ quyền chi phối và các doanh nghiệp đầu tư theo chỉ thị của Thủ Tướng Chính Phủ

- Do quy định về chức năng của SCIC theo các quy định cũ rất chung chung và rộng nên xét về mặt tổng thể Nghị Định mới hầu như không quy định thêm chức năng đáng kể/quan trọng nào cho SCIC Tuy nhiên, Nghị Định mới đã đưa ra các điểm làm rõ và các điểm này có thể có khả năng tạo điều kiện thuận lợi cho SCIC trong

việc thực hiện các chức năng của mình.39

Mặc dù các điểm làm rõ này, về mặt

thực tế, có thể mở rộng các lĩnh vực và hình thức đầu tư của SCIC, nhưng vốn đầu

tư của SCIC vào các ngành đem lại hiệu quả kinh tế (ngoài các ngành then chốt

của Nhà nước, các ngành theo chỉ định của Thủ Tướng Chính Phủ và đầu tư bổ

Ví d ụ, Điểm dd, Khoản 1, Điều 7 Nghị Định 151/2013/NĐ-CP quy định rõ Thủ Tướng Chính Phủ quyết định việc

ti ếp nhận vốn trong các tập đoàn kinh tế và tổng công ty trong khi vấn đề này đã không được đề cập rõ ràng theo các quy định cũ Bên cạnh đó, việc SCIC không thực hiện tiếp nhận các doanh nghiệp chủ yếu làm nhiệm vụ cung ứng sản phẩm/dịch vụ công ích và các doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng an ninh cũng được làm rõ (Kho ản 1, Điều 7, Nghị Định 151/2013/NĐ-CP)

Trang 38

sung vốn vào các doanh nghiệp đã có vốn của SCIC) sẽ không được vượt quá 30%

tổng mức đầu tư theo kế hoạch hàng năm

- Theo Nghị Định 151/2013/NĐ-CP mới, SCIC không được trao các quyền cụ thể

về kiểm soát hoặc giám sát hoạt động kinh doanh và tài chính của DNNN ngoài các quyền thông thường của chủ sở hữu/thành viên/cổ đông của doanh nghiệp

Trang 39

Phần III Các Kiến Nghị Về Thúc Đẩy Xử Lý NX Và Cải Cách DNNN

Vấn đề NX và cải cách DNNN, với tư cách là bên đi vay, có mối liên kết chặt chẽ và không thể tách rời Để giải quyết tình trạng NX, cần đẩy mạnh đồng thời việc xử lý

NX và cải cách DNNN

Trước tiên, để giải quyết tình trạng NX, cần cải cách lĩnh vực ngân hàng mà hiện đang

nắm giữ rất nhiều NX, và giảm tổng số dư của NX Trong những kiến nghị dưới đây, nhóm nghiên cứu tập trung vào các giải pháp giảm tổng số dư NX bởi vì việc tiến hành cải cách khu vực ngân hàng liên quan đến cả khung pháp lý và quản lý hệ thống tài chính Cụ thể là: (i) Đẩy mạnh việc bán NX, (ii) Đẩy mạnh việc thu hồi NX, và (iii)

Cải thiện việc xóa NX và khả năng thanh toán của bên nợ thông qua việc phát triển hệ

thống phục hồi doanh nghiệp, được coi là những bước quan trọng Một điều chắc chắn

là thúc đẩy việc bán NX là cần thiết để giảm tổng số dư NX Qua việc bán NX, các ngân hàng có thể đưa NX ra khỏi bảng cân đối kế toán và cải thiện điều kiện tài chính

và tín dụng Ngoài ra, để bán NX, cần phải hoàn thiện khung pháp lý để bên mua NX

có thể thu hồi NX, bởi vì một hệ thống không cho phép bên mua thu hồi NX sẽ không khuyến khích việc mua NX Hơn nữa, khi hệ thống pháp luật về phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được phát triển, tình trạng mất khả năng thanh toán của bên nợ sẽ được cải thiện, và số lượng người mua NX được tăng lên và thúc đẩy hoạt động thu hồi NX, việc xử lý NX sẽ được tăng cường và điều này sẽ đóng góp vào sự

phục hồi của các hoạt động kinh tế của các doanh nghiệp và tổng thể nền kinh tế Việt Nam

Ngoài ra, DNNN phải đẩy mạnh việc rút khỏi Hoạt Động Kinh Doanh Ngoài Ngành như các lĩnh vực tài chính, bảo hiểm, và bất động sản, bởi một khoản lớn của các hạng

mục đầu tư trước đây vào Hoạt Động Kinh Doanh Ngoài Ngành đã gây ra sự suy giảm

hiệu quả tài chính của DNNN Bên cạnh đó, hoạt động kinh doanh chính và tài sản không sinh lời (chẳng hạn như nhà máy v.v…) cần được chia tách và xử lý, và việc tái

cơ cấu doanh nghiệp là cần thiết để cải thiện giá trị doanh nghiệp Do đó, điều tối quan

trọng là việc thiết lập càng sớm càng tốt khung pháp lý thúc đẩy việc tái cơ cấu như

mô tả trên đây

Hiện tại Việt Nam có (1) VAMC, được thành lập để xử lý NX, (2) DATC, được thành

lập để mua nợ và tài sản (mà các hoạt động này có thể thúc đẩy phục hồi hoạt động kinh doanh của DNNN) và (3) SCIC, được thành lập để thực hiện đầu tư vào DNNN Trong khi những định chế này được Chính Phủ Việt Nam thành lập và đã có những

tiến triển, nhằm đẩy mạnh hơn nữa giải pháp xử lý vấn đề NX, chức năng và thẩm quyền của những tổ chức này cần phải được tăng cường

Ở một số điểm, các kiến nghị xác định rõ tên/số hiệu văn bản pháp luật và các quy định, tuy nhiên các luật và quy định cụ thể này chỉ được nêu ra với tư cách là các ví dụ

mà không nhằm mục đích phủ nhận việc ban hành hoặc sửa đổi các văn bản pháp luật

và các quy định khác

Ngoài ra, xin lưu ý rằng bởi vì phần lớn các đối tượng khảo sát của nhóm nghiên cứu

là về các hệ thống quy định pháp luật, các kiến nghị của nhóm nghiên cứu được tập trung vào các hệ thống quy định pháp luật Hơn nữa, các kiến nghị của nhóm nghiên

cứu chỉ có tính chất sơ bộ và sẽ cần phải được phát triển thêm sau khi thảo luận với Chính Phủ Việt Nam

Trang 40

Ph ần III-I Xúc Tiến Xử Lý NX

Nhằm hỗ trợ việc bán NX diễn ra nhanh chóng, cần phải thúc đẩy việc bán NX của các ngân hàng Bằng việc bán NX, các ngân hàng có thể đưa NX ra khỏi bảng cân đối kế toán và cải thiện điều kiện tài chính và tín dụng của mình Các phần sau sẽ làm rõ các

vấn đề liên quan đến việc bán NX theo hệ thống pháp luật hiện hành cũng như đưa ra các kiến nghị để giải quyết các vấn đề này

Th ế Chấp

(1) Thực Trạng Khung Pháp Lý và Các Vấn Đề

a Khung Pháp Lý Cơ Bản của QSDĐ (a) Sơ Lược

Tại Việt Nam, đất đai thuộc sở hữu toàn dân Các thực thể tư nhân (bao

gồm các doanh nghiệp trong nước, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các cá nhân và doanh nghiệp nước ngoài)40 đều không được phép sở hữu đất đai Cần phải có QSDĐ từ Nhà nước để đầu tư và

sử dụng đất

Dựa trên mối quan hệ giữa người sử dụng đất và Nhà nước, QSDĐ được chia làm hai loại: do “Nhà nước Giao Đất” và do “Nhà nước Cho thuê Đất” Ngoài ra, “Nhà nước Giao Đất” được chia nhỏ thành “Giao Đất có thu tiền sử dụng đất” và “Giao Đất không thu tiền sử dụng đất”,

và “Nhà nước Cho thuê Đất” được chia nhỏ thành “Cho thuê Đất thu

tiền thuê đất hàng năm”, “Cho thuê Đất thu tiền thuê đất một lần” và

“Cho thuê lại Đất trong Khu Công nghiệp v.v… từ các Doanh nghiệp phát triển Khu Công nghiệp”.41

Vào ngày 29/11/2013, Quốc Hội Việt Nam đã thông qua Luật Đất Đai

sửa đổi (Luật 45/2013/QH13) sẽ có hiệu lực từ 01/07/2014 nhưng ngoài

những thay đổi mang tính cục bộ, về cơ bản các quy định nói trên vẫn

giữ nguyên

(b) Sự khác nhau giữa “Nhà nước Giao đất” và “Nhà nước Cho thuê Đất”

Theo Luật Đất Đai (Luật 13/2003/QH11, bao gồm những sửa đổi sau này), chỉ có doanh nghiệp trong nước mới có thể nắm QSDĐ theo hình

40 Có rất nhiều hạn chế đối với việc nắm giữ đất đối với cá nhân ở Việt Nam, nhưng nhóm nghiên cứu sẽ không phân

tích trong báo cáo này vì nh ững hạn chế này được coi là những vấn đề nhỏ không quan trọng

41 Thời hạn của QSDĐ, bao gồm cả Giao Đất và Cho Thuê Đất, được xem xét và quyết định dựa trên dự án đầu tư

ho ặc việc nộp đơn xin giao đất hoặc xin được thuê đất, nhưng thông thường không vượt quá 50 năm

Ngày đăng: 28/05/2016, 01:54

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ Đồ Tổ Chức - Việt Nam Thu Thập Thông Tin và Khảo Sát về Nợ Xấu và Tái Cơ Cấu Hệ Thống Doanh Nghiệp
h ức (Trang 148)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w