PHÂN TÍCH NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA CÔNG NGHIỆP NỘI DUNG SỐ Ở VIỆT NAM TỚI HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN - THƯ VIỆN BÙI THỊ THANH DIỆU Trường Đại học Khánh Hoà Tóm tắt: Công nghiệp nội dung số là ngàn
Trang 2TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM THỪA THIÊN HUẾ
THƯ VIỆN
HỘI THẢO THƯ VIỆN TOÀN QUỐC
THƯ VIỆN ĐẠI HỌC VÀ CAO ĐẲNG
(Tháng 6 – 2016)
Huế, ngày 03 tháng 06 năm 2016
Trang 4Trong chiến lược phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn dành
sự quan tâm đặc biệt cho phát triển giáo dục, xem giáo dục là quốc sách hàng đầu Trong Văn kiện đại hội XII, Đảng ta đưa ra đường lối đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, xác định đây là một kế sách, quốc sách hàng đầu, tiêu điểm của sự phát triển, mang tính đột phá, khai mở con đường phát triển nguồn nhân lực Việt Nam trong thế kỷ XXI, khẳng định triết lý nhân sinh mới của nền giáo dục nước nhà “dạy người, dạy chữ, dạy nghề”
Cốt lõi của sự đổi mới giáo dục là đổi mới phương pháp, nâng cao khả năng tự học, tự cập nhật kiến thức của mọi người Muốn dạy tốt, học tốt và nghiên cứu đạt chất lượng phải có sự thay đổi mang tính hệ thống Bên cạnh việc nâng cao chất lượng đội ngũ CBGD, đổi mới chương trình giáo dục và đào tạo, xây dựng các thư viện trở thành
“ giảng đường thứ hai” cũng là yêu cầu quan trọng được đặt ra
Một giải pháp quan trọng được nêu trong dự thảo, đó là: Đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển năng lực và phẩm chất của người học Trên cơ sở xác định đúng, trúng mục tiêu đổi mới giáo dục, đào tạo, công khai mục tiêu, chuẩn “đầu vào”, “đầu ra” của từng bậc học, môn học, chương trình, ngành và chuyên ngành đào tạo, thì việc tiếp theo là đổi mới chương trình khung các môn học và nội dung của nó theo hướng phát triển mạnh năng lực và phẩm chất người học, bảo đảm hài hòa đức, trí, thể, mỹ; thực hiện tốt phương châm mới: Dạy người, dạy chữ và dạy nghề (trước đây là dạy chữ, dạy người, dạy nghề)
Trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đẩy mạnh hội nhập quốc tế, nền kinh tế Việt Nam từng bước chuyển sang nền kinh tế tri thức Để thực hiện đối mới căn bản và toàn diện giáo dục đại học, việc đảm bảo thông tin và tri thức cho người dạy và người học trong các cơ sở giáo dục đại học (bao gồm cả ĐH, CĐ) có một ý nghĩa quan trọng Điều này càng trở nên thiết yếu hơn khi giáo dục đại học Việt Nam đã và đang triển khai mạnh mẽ từ đào tạo niên chế sang đào tạo tín chỉ Trong những năm qua các Trung tâm TT-TV, Trung tâm học liệu, thư viện (gọi chung là thư viện) của các trường ĐH, CĐ đã không ngừng đổi mới phương thức hoạt động, nâng cao hiệu quả hoạt động góp phần vào việc nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học trong các trường ĐH, CĐ Nhiều thư viện đã chuyển mình từ thư viện truyền thống sang thư viện hiện đại, ứng dụng các
thành tựu của khoa học công nghệ mới, đặc biệt là công nghệ thông tin và truyền
thông để phát huy vai trò của thư viện là nơi cung cấp thông tin, tri thức, học liệu dưới
dạng in và dạng số cho CBGD, SV, HV ở mọi nơi, mọi lúc, không hạn chế về không gian và thời gian
Mục đích của hội thảo này nhằm xác định những cơ hội, thách thức và những yêu cầu thực tế đang đặt ra với các thư viện đại học, trao đổi kinh nghiệm thực tiễn từ các thư viện đã được đầu tư bài bản, có hiệu quả trong tiến trình xây dựng thư viện điện tử, thư viện số, gặp gỡ các đối tác để hỗ trợ, tư vấn các giải pháp công nghệ để
Trang 5đó, xây dựng được những phương hướng, giải pháp cụ thể nhằm đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động thư viện ĐH, CĐ trong những năm sắp đến Thông qua hội thảo,
hy vọng các đại biểu sẽ có những tham luận, thảo luận, trao đổi sôi nổi, nhiệt tình Hội thảo cũng mở ra cơ hội giới thiệu, tiếp cận với một số công nghệ, giải pháp có hiệu quả và phù hợp với khả năng tài chính, hạ tầng kỹ thuật của các thư viện ĐH, CĐ
Hội thảo được tổ chức vào ngày 3, 4 tháng 6 năm 2016, nhân dịp kỷ niệm 40 năm thành lập trường Cao đẳng Sư phạm Thừa Thiên Huế, là một trong những hoạt động chào mừng ngày thành lập trường
BTC Hội thảo trân trọng cảm ơn sự hỗ trợ và chia sẻ khó khăn trong việc hỗ trợ BTC hội thảo từ các đơn vị, phòng ban trong nhà trường
BTC Hội thảo đã nhận được hỗ trợ tích cực và trân trọng cảm ơn các đối tác đã tài trợ để tổ chức thành công hội thảo này Đặc biệt, xin chân thành cảm ơn sự tích cực cộng tác của các Công ty CP Thông tin và Công nghệ số - IDT Hà Nội; Công ty CP Phần mềm Quản lý Hiện Đại Hà Nội; Công ty Cổ phần Tích hợp và Tư vấn công nghệ D&L Hà Nội; Công ty VDOC – Tp Hồ Chí Minh, Công ty CIDIMEX; Công ty Ebook
- Nhà xuất bản Trẻ - Tp Hồ Chí Minh; Sách Web -NXB Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh…
và các đơn vị khác
Chúc hội thảo thành công tốt đẹp!
Chúc các đối tác phát triển bền vững trong sự nghiệp của mình!
Chúc các thư viện ĐH, CĐ luôn gắn kết chặt chẽ với nhau và mang lại hiệu quả cao nhất cho người dùng tin thư viện!
Chúc nhà trường Cao đẳng Sư phạm Thừa Thiên Huế gặt hái được nhiều thắng lợi với chiến lược phát triển của mình!
BAN TỔ CHỨC HỘI THẢO
Trang 6LỜI NÓI ĐẦU
PHẦN I
CÔNG NGHỆ THÔNG TIN – TRUYỀN THÔNG TRONG HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN –THƯ VIỆN
THƯ VIỆN GẮN LIỀN VỚI CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
Nguyễn Minh Hiệp, BA., MS 1
PHÂN TÍCH NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA CÔNG NGHIỆP NỘI DUNG SỐ Ở VIỆT NAM TỚI HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN - THƯ VIỆN
Bùi Thị Thanh Diệu 8
LỰA CHỌN PHẦN MỀM MÃ NGUỒN MỞ XÂY DỰNG BỘ SƯU TẬP SỐ VÀ MỘT SỐ HIỂU BIẾT VỀ COPYRIGHT VÀ COPYLEFT
Đoàn Quang Hiếu 16
SỬ DỤNG HIỆU QUẢ WEBSITE VÀ MẠNG XÃ HỘI TRONG HOẠT ĐỘNG HƯỚNG DẪN NGƯỜI DÙNG TIN
Nguyễn Thị Hồng Nhung 23
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ TRONG PHÁT TRIỂN, TRAO ĐỔI TÀI NGUYÊN ĐIỆN TỬ CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC
Tôn Quang Đăng 29
THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG HOẠT ĐỘNG THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN TRONG TƯƠNG LAI
Trang 7HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP HỒ CHÍ MINH THƯ VIỆN ĐH SPKT TP HCM
Thư viện ĐHSP Kỹ thuật TP Hồ Chí Minh……… 44
KHÔNG GIAN HỌC TẬP CHUNG
Hứa Văn Thành 68
QUẢN LÝ VÀ KHAI THÁC NGUỒN LỰC THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TẠI CÁC THƯ VIỆN ĐẠI HỌC VIỆT NAM
ThS Dương Thị Chính Lâm - CN Nguyễn Thị Thu 80
TÀI LIỆU NỘI SINH – NGUỒN TIN VÔ GIÁ TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC
TS Huỳnh Mẫn Đạt 86
PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG VIỆC XÂY
ThS Quản Thị Hoa 92
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN ĐỂ QUẢN LÝ, KHAI THÁC VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN TÀI LIỆU SỐ PHỤC VỤ DẠY VÀ HỌC SỐ Ở THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP HỒ CHÍ MINH
Thư viện ĐH SPKT TP HCM 96
Trang 8HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ NHẰM HỖ TRỢ VIỆC THIẾT KẾ BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ MÔN VẬT LÍ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
ThS Nguyễn Văn Cần (Phòng GD&ĐT thị xã Hương Thủy) 107 ThS Nguyễn Thị Ánh Hà (THPT Nguyễn Trường Tộ) 107
ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ HÀI LÒNG CỦA NGƯỜI DÙNG TIN ĐỐI VỚI CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ TẠI THƯ VIỆN TRƯỜNG CĐSP TT HUẾ
Hứa Văn Thành 111 Trần Thái 111
Đỗ Thị Bích Thuận 111
PHẦN III
KIẾN THỨC THÔNG TIN TRONG HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN –THƯ VIỆN
TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC THÔNG TIN TẠI THƯ VIỆN TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM THỪA THIÊN HUẾ
ThS Phạm Thị Thanh Thủy 127 HVCH Tôn Nữ Hoàng Trang 127
ThS.GVC Trần Công Lượng 142
PHÁT TRIỂN VĂN HÓA ĐỌC TRONG NHÀ TRƯỜNG GÓP PHẦN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY VÀ HỌC
Phạm Trọng Thủy 145
Trang 10PHẦN I CÔNG NGHỆ THÔNG TIN – TRUYỀN THÔNG TRONG HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN –THƯ VIỆN
Trang 11THƯ VIỆN GẮN LIỀN VỚI CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
NGUYỄN MINH HIỆP, BA., MS QUAN ĐIỂM “THƯ VIỆN GẮN LIỀN VỚI CÔNG NGHỆ THÔNG TIN” ĐỐI VỚI THƯ VIỆN THẾ GIỚI VÀ THỰC TRẠNG VIỆT NAM
Từ 3-5/11/1997, tôi tham dự “Hội thảo về tài nguyên thông tin thư viện đại học
cho vốn tri thức Đông Nam Á – Colloquium on Academic Library Information Resources for Southeast Asian Scholarship” tại Thư viện ĐH Malaya, Malaysia
Trong phần kết luận, Hội thảo đã đúc kết một ý tưởng mang tính đột phá: “Nhờ gắn
liền với công nghệ thông tin mà thư viện thế giới nói chung và thư viện đại học nói riêng đang phát triển với một tốc độ nhanh chưa từng thấy” Cũng đã có một đúc kết
tương tự như vậy tại cuộc Hội thảo “Quản lý thư viện đại học trong tương lai – The
Future of the Academic Library Management” của Hội đồng Anh tại ĐH East
Anglia, Norwich, Anh Quốc từ 22-24/3/1998 Có ba đại biểu Việt Nam tham dự là TS Mai Hà từ Hà Nội, ThS Diệp Kim Chi từ Cần Thơ và tôi từ TP HCM Sau đó tại cuộc
Hội thảo "Tăng cường các dịch vụ thông tin thư viện thông qua sự hợp tác toàn cầu của OCLC" của Câu lạc bộ Thư viện tại Thư viện ĐH Khoa học Tự nhiên vào ngày
24/01/2002, Ông Andrew H Wang, Giám đốc điều hành OCLC (Online Computer
Library Center) khu vực Châu Á-Thái Bình Dương đã nói: "Hoạt động thư viện là luôn hướng về phía trước, WEB là công nghệ hiện nay và phía trước của ngành thông tin - thư viện" nhằm nhấn mạnh vai trò vô cùng quan trọng của Công nghệ Thông tin
(CNTT) đối với hoạt động Thông tin – Thư viện (TT-TV)
Tuy nhiên, mặc dù có nhiều cố gắng, tại thời điểm đó trong công việc điều hành Câu lạc bộ Thư viện và về sau là Liên hiệp Thư viện Đại học Phía Nam (FESAL), chúng tôi không thể chia sẻ ý tưởng quá mới mẻ này với đại đa số đồng nghiệp trong nước Trong khi đó thật là thú vị khi trao đổi ý tưởng này với Cô Gaynor Mumphur, vị giám đốc Hồi đồng Anh đầu tiên tại TP HCM Cô Mumphur cho tôi biết rằng, trong
mùa hè 1996, Hội đồng Anh Hà Nội đã tổ chức hai khóa tập huấn “Phát triển chương trình giảng dạy quản lý thông tin tại Việt Nam” do bà Margaret K Willis, Trưởng
Khoa Thông tin học của Trường Quản lý Thông tin thuộc Trường ĐH Tin học thuộc
ĐH Brighton giảng dạy tại Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ Quốc gia ở Hà Nội và Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ TP HCM Theo cô Mumphur, hai khóa học đó dường như không đạt được kết quả mong muốn vì đối với đồng nghiệp Việt Nam lúc đó là quá mới mẻ khi đưa nhiều ứng dụng CNTT trong quản lý TT-TV
và nhất là ý tưởng giảng dạy TT-TV trong môi trường CNTT Tôi đã gợi ý với cô Mumphur và đề nghị Hội đồng Anh nên tổ chức một đoàn chuyên viên TT-TV Việt Nam tham quan tận mắt những cơ sở đào tạo TT-TV trong môi trường CNTT ở Vương quốc Anh
Tháng 3/1998, Hội đồng Anh đã tổ chức một đoàn du khảo (study tour) gồm có 8 chuyên viên: Tạ Bá Hưng, Nguyễn Sĩ Lộc, Cao Minh Kiểm (TT Thông tin KH-CN
Trang 12Quốc gia), Trần Thị Minh Nguyệt (ĐH Văn hóa Hà Nội), Trần Thị Thu Thủy, Lương Mai Em (TT Thông tin KH-CN TP HCM.), Phạm Thị Minh Tâm (ĐH Văn hóa TP HCM), và tôi (ĐH Khoa học Tự Nhiên TP HCM) Chương trình du khảo từ 12/3 đến 21/3/1998 Theo Hội đồng Anh, chuyến du khảo này là tiếp nối chương trình tập huấn
“Phát triển chương trình giảng dạy quản lý thông tin tại Việt Nam” năm 1996, cho
nên chủ yếu là chúng tôi được tập huấn và hướng dẫn đi tham quan ba cơ sở đào tạo TT-TV trong môi trường CNTT Đó là các Trường Quản lý Thông tin (School of Information Management) trực thuộc các Trường ĐH Tin học (Faculty of Computer Science) của ĐH Brighton, ĐH University College London ở thủ đô Luân Đôn và ĐH Queen Margaret ở thành phố Edinburgh, Scotland
Ngoài nước Anh, năm 2002, anh Hà Lê Hùng, Giám đốc Trung tâm học liệu ĐH
Đà Nẵng và tôi đã chủ động đến tham quan ĐH Công nghệ Nanyang (NTU) của Singapore để tìm hiểu kỹ chương trình giảng dạy TT-TV của Khoa Thông tin học (Information Studies) thuộc Trường Truyền thông và Thông tin (School of Communication and Information) Năm 2006, đoàn lãnh đạo ĐHQG TP HCM và tôi viếng thăm ĐH Victoria ở thủ đô Wellington của New Zealand và đã tìm hiểu việc giảng dạy TT-TV trong Trường Thương mại điện từ (School of e-Business) thuộc đại học này
Như thế qua thực tế, chúng ta có thể nhận định rõ rằng Thư viện gắn liền với CNTT là điều tất yếu Chính điều này đã làm thay đổi bộ mặt thư viện đáng kể Trong
đó việc giảng dạy TT-TV trong môi trường CNTT là nổi bật nhất và đối với Thư viện thế giới đây cũng là điều kiện tiên quyết để thay đổi bộ mặt hoạt động TT-TV trong
hơn một thập niên của thế kỷ này Giới chuyên môn đã khẳng định rằng “Đã có một cuộc cách mạng trong chương trình đào tạo ngành TT-TV” Từ ngành học mang tính
học thuật (academic) và nghiên cứu (study) đã trở thành ngành học mang tính công nghệ (technology) và chuyên nghiệp (professional) Cụ thể ở Hoa Kỳ từ cuối thập niên
1970, bằng Thạc sĩ của ngành này đã đổi từ MA (Master of Arts) of Librarianship tức
là Thạc sĩ giáo khoa Thư viện học thành MS (Master of Science) of Library and Information Science tức là Thạc sĩ khoa học Khoa học Thông tin học và Thư viện
Tôi xin nhắc lại ý tưởng mang tính đột phá ở trên: “Nhờ gắn liền với công nghệ
thông tin mà thư viện thế giới nói chung và thư viện đại học nói riêng đang phát triển với một tốc độ nhanh chưa từng thấy” Có nghĩa rằng cả Thư viện thế giới đang chạy
với tốc độ phát triển của CNTT thì Thư viện Việt Nam cứ nhẫn nha “Từng bước phát
triển”
Trong bối cảnh đó, tháng 8 năm 2011 Dự thảo Luật Thư viện ra đời với sự thông qua của toàn thể Thư viện phía Bắc Tuy nhiên đã gặp sự chống đối của Thư viện đại
học Phía Nam tại Hội thảo “Góp ý Dự thảo Luật Thư viện” do Vụ Thư viện tổ chức
tại Trường ĐH Khoa học Tự nhiên TP HCM vào ngày 31/8/2011 Và cao điểm vào
ngày 9/3/2012, tại Hội nghị “Lấy ý kiến chuyên gia về tình hình thực hiện chính
sách pháp luật về thư viện phục vụ thẩm tra Luật Thư viện” được tổ chức tại Văn
Trang 13phòng Quốc hội, tôi đã trình bày bài tham luận “Khoa học thông tin và thư viện” dài
hơn 1 tiếng đồng hồ để chứng minh cho mọi người thấy rằng “Chúng ta cần có Luật
Thư viện, nhưng tại thời điểm này, Thư viện Việt Nam còn quá khác biệt với cộng đồng thế giới; ngay trong nước chưa có sự đồng nhất; quan điểm về loại hình thư viện hoàn toàn xa với thực tế phát triển thư viện; việc đào tạo chưa đổi mới Tóm lại Luật chưa nên ra trong thời điểm này” Luật Thư viện chưa ra
TÁC ĐỘNG CƠ BẢN CỦA VIỆC “THƯ VIỆN GẮN LIỀN VỚI CÔNG NGHỆ THÔNG TIN” ĐỐI VỚI THƯ VIỆN THẾ GIỚI
Việc đánh giá “Sự phát triển ngành TT-TV là gắn liền với sự phát triển của
CNTT” đã trở thành tư tưởng chỉ đạo đối với cộng đồng thư viện thế giới trong việc
nhanh chóng phát triển ngành TT-TV Từ đó, rất nhiều đổi mới trong ngành TT-TV được thực hiện, mà đổi mới cơ bản nhất là chương trình đào tạo Hầu hết những cơ sở đào tạo ngành TT-TV đều được chuyển sang giảng dạy trong môi trường CNTT hay
kỹ thuật Chẳng hạn như những cơ sở đào tạo TT-TV của Vương quốc Anh, Singapore, hay New Zealand đã được đề cập ở trên Ở Hoa Kỳ và một số quốc gia khác thì người ta tích cực đưa CNTT vào giảng dạy trong trường TT-TV Nói chung chương trình đào tạo ngành TT-TV phải đặt nặng CNTT nhằm đào tạo đội ngũ chuyên
viên thư viện am hiểu CNTT để đảm đương vai trò “Đứng giữa lãnh đạo và nhà thầu”
trong công việc hiện đại hóa thư viện Ngoài ra có những thay đổi cơ bản khác:
1 Ngành “Thông tin học” ra đời là song hành với “Thư viện học” và được xem
như hai ngành riêng biệt Có khi thì người ta cho rằng “Mình với ta tuy hai mà một, ta
với mình tuy một mà hai” Thế nhưng từ khi Thư viện được xem như gắn liền với
CNTT thì một phần của Thông tin học đã gắn liền Thư viện học Từ giữa thập niên
1970 một ngành học mới ra đời: “Khoa học Thông tin và Thư viện – Library and
Information Science” Mà người ta hay nói gọn là ngành Thông tin-Thư viện
2 Nhờ ứng dụng thành tựu của CNTT và sự phát triển tột bậc Mạng Internet, các Mạng Công cụ Thư tịch (Bibliographic Utilities) đã nhanh chóng phát triển giúp cho nghiệp vụ thư viện hay Công tác kỹ thuật (Technical Services) có thể chia sẻ với nhau giữa tất cả các thư viện trên thế giới một cách dễ dàng, như Mạng OCLC chẳng hạn Khung phân loại LCC (Library of Congress Classification) ra đời và đang rất thịnh hành cũng là một minh chứng cho việc dễ dàng chia sẻ này Từ đó ngành TT-TV thế giới đã có một thay đổi quan trọng là: Trước đây đối với Thư viện truyền thống thì người ta xem Nghiệp vụ Thư viện có mức độ quan trọng là 80% so với Công tác bạn đọc (Public Services) là 20%; ngày nay thì hoàn toàn ngược lại Dịch vụ Thông tin (Information Services) là 80% so với Công tác kỹ thuật là 20%
Ngày nay trong các thư viện trên thế giới, Dịch vụ Thông tin với công việc nổi bật là Dịch vụ Tham khảo (Reference Services) với việc ứng dụng công nghệ mới mà chủ yếu là thành tựu của CNTT và viễn thông, mà người ta thường hay gọi chung là ITT (Information Technology-Telecommunication) để đáp ứng nhu cầu thông tin cho
Trang 14người sử dụng đã là công việc hàng đầu trong tất cả công việc thư viện Phòng Tham khảo (Reference Department) trở thành bộ mặt của một thư viện; người ta đánh giá thư viện qua hoạt động của phòng chức năng này GS Robert Stueart đã phát biểu tại
Trung tâm Thông tin KH-CN Quốc gia ở Hà nội vào năm 1994 rằng “Giá trị của thư
viện không ở chỗ thư viện có bao nhiêu tài nguyên thông tin mà ở chỗ thư viện đáp ứng nhu cầu thông tin một cách có hiệu quả như thế nào cho người sử dụng thông qua công nghệ mới” Một số thư viện trên thế giới đã đặt câu khẩu hiệu như sau tại Phòng
Tham khảo của thư viện mình: “Phòng Tham khảo là nơi sử dụng công nghệ để
chuyển câu hỏi thành câu trả lời”
3 Nhờ tư duy về việc chuẩn hóa cao độ cũng như ứng dụng những công cụ chuẩn hóa bao gồm Chuẩn thư tịch (Bibliographic Standards) của Thư viện và Chuẩn kỹ thuật (Technical Standards) của CNTT, các thư viện trên thế giới luôn luôn có khuynh hướng liên thông và thực sự đã kết hợp rộng rãi với nhau qua những hình thức Liên hiệp Thư viện (Consortium) và Hệ thống Thư viện (Library System) Hay nói một cách khác: Ngày nay nói đến thư viện là nói đến sự liên kết thư viện Thuật ngữ Thư
viện luôn luôn ở dạng số nhiều: Libraries
4 Hình ảnh rõ nét nhất trong việc Thư viện gắn liền với CNTT là việc xây dựng Thư viện số (Digital Library) Tại giai đoạn này đã có một phát biểu rất hay của Art
Rynno (2004) rằng: “Hiện nay trên thế giới, xu thế phát triển thư viện số đã trở thành
một phần chủ đạo trong toàn cảnh hoạt động TT-TV, trong khi phần mềm nguồn mở trở thành một hiện tượng toàn cầu Giống như nhiên liệu và động cơ trong kỹ thuật,
nguồn mở và thư viện số là hai yếu tố không thể tách rời” Đó là lý do ngày nay việc
xây dựng Thư viện số (Digital Library) là cơ hội đồng đều cho tất cả mọi người
TỪ VIỆC MƠ HỒ “THƯ VIỆN GẮN LIỀN VỚI CÔNG NGHỆ THÔNG TIN”
ĐÃ ĐƯA ĐẾN NHỮNG KHÓ KHĂN CHO THƯ VIỆN VIỆT NAM
Những khó khăn cơ bản như sau:
1 Chậm đổi mới:
Theo nhà thư viện học người Nga danh tiếng V.V Xcvortxov, trong giáo trình
“Thư viện học đại cương” được giảng dạy tại Nga, thì nền Thư viện học thế giới được
chia thành 5 giai đoạn Theo đó, ở giai đoạn (4) bước sang giữa thế kỷ XX đã hình thành một sự phân đôi giữa Thư viện học Xã hội chủ nghĩa và Thư viện học Tư bản
chủ nghĩa; đến nay (thế kỷ XXI) là giai đoạn hợp nhất (5) – Giai đoạn của sự phát
triển thư viện như một môn khoa học thống nhất gắn liền với công nghệ thông tin
Ngành TT-TV Việt Nam đã từng phát triển theo hướng Thư viện Xã hội chủ nghĩa, cụ thể là theo Liên Xô cũ, thì trong giai đoạn hợp nhất hiện nay gặp nhiều khó khăn trong vấn đề nhận thức về sự chuẩn hóa và đổi mới nghiệp vụ Do đó chậm phát triển Bản thân ngành TT-TV Nga đã nhanh chóng thay đổi và hội nhập với cộng đồng thư viện thế giới
Trang 15Cộng đồng thế giới ngày nay đang phát triển theo khuynh hướng toàn cầu hóa Chính sách của Đảng và Nhà nước ta là mở cửa Nếu chúng ta không hội nhập thì chúng ta sẽ bị đào thải hoặc chậm phát triển Khoa học kỹ thuật và những ngành tác động trực tiếp đến đời sống xã hội như Ngân hàng, Kinh tế, Kiểm toán , vv… thì chúng ta thấy ngay sự cần thiết của chuẩn hóa
Ngành TT-TV ít được quan tâm và bản thân những người trong ngành, thậm chí
đầu ngành không nhận thức sâu sắc rằng “Sự phát triển ngành TT-TV là gắn liền với
sự phát triển của CNTT”, mà chỉ xem CNTT như là một ứng dụng bình thường như
những ngành nghề khác Ngoài ra, còn nhiều yếu tố tâm lý khác tác động đến việc nhận thức về chuẩn hóa dẫn đến việc chậm đổi mới như hiện nay Ai cũng biết rằng
“Đổi mới là khó khăn” nhưng đặc biệt trong ngành TT-TV “Đổi mới là chìa khóa đi
vào tương lai” (Lesli Burger, 2006)
2 Thiếu nguồn nhân lực quản lý thư viện số:
Khó khăn ở trên là nguyên nhân dẫn đến khó khăn thứ hai này Vì chương trình đào tạo ngành TT-TV hiện nay thiếu cập nhật và hệ lụy là Chương trình đào tạo này
chưa đáp ứng được những nhu cầu trong một xã hội đang thay đổi từng ngày Chúng ta
có nhiều cơ sở đào tạo, nhưng vẫn thiếu trầm trọng nguồn nhân lực để quản lý thư viện
số nói riêng và để đáp ứng nhu cầu phát triển thư viện theo hướng chuẩn hóa–hội nhập nói chung
Một số thư viện có điều kiện tin học hóa và hiện đại hóa, trong số đó có những thư viện lớn, tiêu tốn rất nhiều tiền trong những dự án hiện đại hóa thư viện Những thư viện này hoàn toàn giao phó mọi công việc cho nhà thầu và chuyên viên CNTT Mỗi thư viện làm một kiểu khác nhau Không hề có ý kiến của chuyên viên thư viện về chuẩn nghiệp vụ thư viện (Thực ra chuyên viên thư viện không biết phải làm gì!) Tình trạng này là phổ biến Các thư viện này chủ yếu là mua sắm những thiết bị hiện đại, đắt tiền rồi “trùm mền” Rõ ràng việc làm này chỉ có lợi cho nhà thầu và những người có liên quan đến dự án hơn là làm lợi cho chính những thư viện đó và nhất là sự phát triển ngành TT-TV nước nhà
Trang 16 Hội nhập (để dễ dàng liên thông trên phạm vi toàn cầu)
Muốn thực hiện được điều đó phải có một đội ngũ chuyên viên thư viện được
đào tạo Nghiệp vụ thư viện đúng tiêu chuẩn và Kỹ năng CNTT cơ bản với một
Chương trình đào tạo theo tư tưởng chỉ đạo “Thư viện gắn liền với CNTT” Chỉ có
như vậy thì đội ngũ chuyên viên thư viện này mới phát huy đúng chức năng của mình
là người quyết định phương thức và giải pháp Tự động hóa thư viện, Tin học hóa, và Hiện đại hóa chứ không phải chuyên viên CNTT
Cả thế giới đã và đang làm như thế Thư viện thế giới đã hoạt động đồng nhất với tinh thần hội nhập cao độ Những sản phẩm công nghệ hỗ trợ thư viện như Phần mềm quản lý thư viện chẳng hạn chỉ có giá trị khi có sự thông qua của chuyên gia thư viện như Hội Thư viện Quốc gia hay Hiệp hội Thư viện Quốc tế
Ở nước ta, chúng ta hoàn toàn thông cảm cho sinh viên TT-TV cũng như đội ngũ chuyên viên TT-TV về việc họ e ngại CNTT Từ đó tạo nên một nghịch lý: Đất nước còn nghèo, ngành TT-TV còn lạc hậu, nhưng đã lãng phí tiền của một cách đáng kể cho việc ứng dụng tin học và công nghệ mới Ngày càng có nhiều thư viện chi tiền vô tội vạ cho những dự án gọi là nâng cấp thư viện, tin học hóa, hiện đại hóa, thư viện số vv… một cách thiếu đồng bộ Mỗi thư viện làm theo sự tư vấn thậm chí chỉ đạo của mỗi nhà thầu CNTT khác nhau Đúng là hiện đại về mặt công nghệ nhưng thiếu vắng
về nghiệp vụ thư viện Những thư viện đó tự cho mình là hiện đại và hay, hiện đại hơn
và hay hơn thư viện khác, thậm chí hiện đại nhất Việt Nam
Thế thì mỗi cái hiện đại đó giúp ích gì cho sự phát triển của Thư viện Việt Nam; đó là chúng ta chưa nhắc đến có nhiều thư viện trong ngành giáo dục chưa bao giờ sở hữu cho mình một cái máy tính!
Bao giờ tất cả mọi người đều thấm nhuần tư duy “Thư viện gắn liền với CNTT”
đặc biệt là trong giới “cầm cân nảy mực” để có đổi mới sâu sắc trong vấn đề đào tạo ngành TT-TV, khi đó bộ mặt Thư viện Việt Nam mới thực sự thay đổi theo hướng hội nhập với cộng đồng thế giới Chừng đó ta lại mơ ước Luật Thư viện sẽ ra đời
Trang 17TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 NGUYỄN MINH HIỆP Cơ sở khoa học thông tin và thư viện – TP HCM : Giáo
dục, 2008
2 REITZ, Joan M Dictionary for Llibrary and Information Science – Westport,
Connecticut: Libraries Unlimited, 2004
3 RUBIN, Richard E Foundations of Library and Information Science – 3rd edition – New York: Neal – Schuman Publishers, Inc., 2010
4 RHINO, Art Using Open Source Systems for Digital Libraries.-Westport,
Connecticut: Libraries Unlimited, 2004
5 Thư viện và nghề thư viện / Nguyễn Minh Hiệp chủ biên.- TP HCM.: Thông
tin-Văn hóa, 2013
6 XCVORTXOV, V.V Thư viện học đại cương: Phần 1: Những cơ sở lý thuyết
của Thư viện học / Nguyễn Thị Thư dịch.- Hà Nội: Văn hóa Thông tin, 2004
Trang 18PHÂN TÍCH NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA CÔNG NGHIỆP NỘI DUNG SỐ Ở VIỆT NAM TỚI HOẠT ĐỘNG
THÔNG TIN - THƯ VIỆN
BÙI THỊ THANH DIỆU
Trường Đại học Khánh Hoà
Tóm tắt: Công nghiệp nội dung số là ngành công nghiệp thiết kế, sản xuất, xuất bản, lưu trữ,
phân phối và ấn hành các sản phẩm nội dung dưới dạng số và truyền tải nó trong môi trường điện tử Công nghiệp nội dung số phát triển mạnh đã thâm nhập sâu vào nhiều lĩnh vực trong đó có hoạt động thông tin - thư viện Bài viết trình bày hiện trạng, cơ hội và những thách thức của ngành công nghiệp nội dung số ở Việt Nam Đồng thời cũng điểm qua những tác động của công nghiệp nội dung số tới sự phát triển của hoạt động thông tin – thư viện
Vào những năm 50 người ta nhận thấy sự phát triển không ngừng của một số lĩnh vực phi nông nghiệp, phi công nghiệp ở một số nền kinh tế tiên tiến Những khu vực
đó được xem là hạt nhân của nền kinh tế mới đang nổi lên, trong đó thông tin là một trong những yếu tố đóng vai trò chủ đạo, trở thành tín hiệu điều khiển nền kinh tế Sự gia tăng của các hoạt động thông tin và công nghệ thông tin đã tạo tiền để cho ngành công nghiệp nội dung số ra đời và nó dần trở thành thước đo để đánh giá sự phát triển nền kinh tế của một quốc gia Ở Việt Nam, sự xuất hiện của ngành công nghiệp nội dung số đã đem đến những cơ hội và thách thức mới, đặc biệt công nghiệp nội dung số
đã làm thay đổi diện mạo và hoạt động của các tổ chức, cơ quan Thông tin – Thư viện trên toàn quốc
1 Thực trạng và cơ hội phát triển công nghiệp nội dung số ở Việt Nam
1.1 Thực trạng ngành công nghiệp nội dung số
Công nghiệp nội dung số xuất hiện ở Việt Nam từ năm 1990 nhưng chỉ mới phát triển vào những năm gần đây với các loại hình dịch vụ giáo dục trực tuyến, game online, trò chơi tương tác trên truyền hình, trên điện thoại di động… Lĩnh vực công nghiệp nội dung số hiện nay đang được định hướng phát triển tập trung vào nhóm vấn
đề liên quan đến: Phát triển nội dung số cho Internet (cổng thông tin điện tử, dịch vụ email, dịch vụ tìm kiếm trên internet…); Phát triển nội dung số cho mạng điện thoại di động; Giáo dục điện tử trực tuyến elearning (đào tạo trực tuyến, tư vấn, tra cứu thông tin qua mạng, cung cấp chương trình học tập, giáo trình, bài giảng, thí nghiệm ảo…); Trò chơi điện tử; Cơ sở dữ liệu (văn bản pháp quy, số liệu thống kê, dữ liệu chuyên ngành, dữ liệu doanh nghiệp…) và những nội dung số phục vụ giải trí (truyền hình kỹ thuật số, sản phẩm đa phương tiện số…) Thị trường nội dung số nước ta gần đây rất sôi động, nội dung số được Việt hoá như quảng cáo, trò chơi, tin tức, âm nhạc, phim ảnh… xuất hiện ngày càng nhiều Sự bùng nổ nội dung số trên điện thoại di động buộc các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông phải chạy đua về công nghệ, hướng tới cung cấp cho người sử dụng các dịch vụ về điện thoại, truyền hình, truyền dữ liệu… trong môi trường không dây và phát triển mạnh dịch vụ liên kết giữa điện thoại di động với
Trang 19internet Xu hướng liên mạng phát triển trong tương lai sẽ tạo ra khả năng truy cập vào các mạng ở mọi nơi, mọi lúc Cho đến nay công nghiệp nội dung số vẫn là lĩnh vực giữ được tốc độ tăng trưởng khá, năm sau cao hơn năm trước Ước tính năm 2012, công nghiệp nội dung số đạt doanh thu 1,3 tỷ USD (tăng trưởng khoảng 12%) Ba doanh nghiệp chủ lực là VNG, VTC online và FPT online Việt Nam trở thành thị trường game lớn nhất khu vực Đông Nam Á và trở thành 1 trong 10 thị trường game online có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất thế giới Trong năm 2012 doanh thu của game online đạt 5000 tỷ VNĐ tăng khoảng 20% so với năm 2011 (Số liệu của công ty GameK) Thị trường xuất khẩu nội dung game online chủ đạo là Nhật Bản, Trung Quốc, các nước Mỹ la tinh và một số nước châu Âu
1.2 Cơ hội phát triển công nghiệp nội dung số
Đón nhận xu thế toàn cầu hoá và xu hướng phát triển các tập đoàn viễn thông đa quốc gia trong lĩnh vực nội dung số, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản, chính sách, chương trình, dự án ưu tiên phát triển ngành công nghiệp thông tin, trong đó công nghiệp nội dung số được xem là mũi nhọn phát triển Nghị định 108/2006/NĐ-
CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điểm của Luật đầu
tư đã đưa “sản xuất sản phẩm phần mềm, nội dung thông tin số” vào danh mục lĩnh
vực được đặc biệt ưu đãi đầu tư Tháng 5/2007, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định 56/2007/QĐTTg phê duyệt Chương trình phát triển công nghiệp nội dung số đến năm 2010 Theo đó, công nghiệp nội dung số được coi là một ngành kinh tế mới, có nhiều tiềm năng phát triển, đem lại giá trị gia tăng cao, thúc đẩy sự phát triển của xã hội thông tin và kinh tế tri thức, góp phần quan trọng vào sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước Nghị quyết nhấn mạnh, Nhà nước đặc biệt khuyến khích, ưu đãi đầu tư và hỗ trợ phát triển công nghiệp này thành một ngành kinh tế trọng điểm Nhà nước dành một phần ngân sách đầu tư đào tạo nguồn nhân lực, phát triển cơ sở hạ tầng thông tin – truyền thông hiện đại, hoàn thiện môi trường pháp lý, tạo môi trường thuận lợi, có chính sách đặc biệt ưu đãi đối với một số sản phẩm trọng điểm và khuyến khách phát triển thị trường nội dung thông tin số
Cụ thể hoá mục tiêu phát triển, Nghị quyết 56 chỉ ra: Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của công nghiệp nội dung số phải đạt từ 30-40%, đạt tổng doanh thu
400 triệu USD/năm; Xây dựng từ 10 – 20 doanh nghiệp nội dung số mạnh, có trên 500 lao động chuyên nghiệp; Làm chủ các công nghệ nền tảng, sản xuất được một số sản phẩm trọng điểm có khả năng cạnh tranh trong công nghiệp nội dung số; Hình thành
hệ thống thư viện số trực tuyến; Xây dựng một số cơ sở dữ liệu chuyên ngành; Cung cấp hiệu quả các dịch vụ tư vấn khám, chữa bệnh và đào tạo từ xa
Nhằm phát triển thị trường, chương trình công nghiệp nội dung số đã đưa ra giải pháp kích cầu, phát triển thị trường nội địa và xuất khẩu hướng vào thu hẹp khoảng cách số giữa thành thị và nông thôn, nâng cao nhận thức và văn hoá sử dụng internet, sản phẩm, dịch vụ nội dung thông tin số; tăng cường quản lý để đảm bảo môi trường cạnh tranh bình đẳng, chống gian lận thương mại, vi phạm sở hữu trí tuệ… Để đảm bảo cho sự phát triển của từng lĩnh vực, chương trình phát triển công nghiệp số của nhà nước có giải pháp huy động nguồn lực và thu hút đầu tư; phát triển hạ tầng truyền
Trang 20thông, internet; đào tạo phát triển nguồn nhân lực; đẩy mạnh nghiên cứu phát triển và tăng cường bảo đảm an toàn, an ninh và sở hữu trí tuệ
Cùng với những giải pháp thực hiện, về chính sách, chương trình hướng vào việc xây dựng và ban hành các văn bản hướng dẫn triển khai thực hiện và tăng cường hiệu lực của các bộ luật có liên quan như: Luật giao dịch điện tử, Luật công nghệ thông tin, Luật sở hữu trí tuệ, đơn giản hoá thủ tục quản lý internet; tạo môi trường kinh doanh cạnh tranh bình đẳng trong giao dịch, thanh toán, chứng thực điện tử; đảm bảo an toàn, bảo mật thông tin; ban hành các quy định cụ thể về bảo vệ thông tin cá nhân, bảo vệ bí mật kinh doanh và quyền riêng tư khác của người tham gia giao dịch điện tử
Nguồn kinh phí thức hiện các dự án của công nghiệp nội dung số được huy động
từ ngân sách trung ương 40%; 30% từ ngân sách địa phương và số còn lại được huy động từ sự đóng góp của các tổ chức doanh nghiệp và cá nhân trong và ngoài nước Nguồn nhân lực trong lĩnh vực nội dung số đang từng bước được chú ý đào tạo và nâng cao tay nghề Tận dụng thị trường lao động dồi dào, trẻ, khoẻ, có khả năng tiếp cận công nghệ nhanh Đây là những yếu tố tạo nên tiềm lực cho ngành công nghiệp non trẻ này phát huy hơn nữa thế mạnh của mình trong thời gian tới
2 Thách thức đối với sự phát triển ngành công nghiệp nội dung số
2.1 Hạn chế về thị trường và sản phẩm – dịch vụ
Dù là nằm trong khu vực phát triển năng động nhất ở Đông Nam Á song việc phát triển công nghiệp nội dung số vẫn không tránh khỏi sự cạnh tranh khốc liệt, đặc biệt là với Trung Quốc và các nước trong khu vực Bên cạnh đó hệ thống sản phẩm và dịch vụ nội dung số của nước ta còn quá khiêm tốn, không đủ sức cạnh tranh với các sản phẩm nội dung số của thị trường nước ngoài Chính hạn chế này đã đưa đến những khó khăn khi đưa các sản phẩm nội dung số ra ngoài thị trường thế giới và ngay ở thị trường trong nước, các sản phẩm, dịch vụ thông tin số cũng khó đứng vững trước sự đa dạng và phong phú về loại hình và chất lượng của các nước khác Như vậy vấn đề giảm sức cạnh tranh trên thị trường đã làm cho hiệu quả kinh tế của ngành công nghiệp nội dung không đạt được kết quả như mong đợi
2.2 Hạn chế về nguồn nhân lực
Tuy đã có một đội ngũ khoảng trên 10 ngàn người tham gia vào lĩnh vực công nghiệp nội dung số nhưng nhu cầu nhân lực của các doanh nghiệp công nghiệp số hiện nay rất lớn và cấp bách, vượt quá khả năng đáp ứng của thị trường Bên cạnh đó còn tồn tại khoảng cách khá lớn giữa nội dung đào tạo và yêu cầu của nhà tuyển dụng Các trường chưa có nhiều khoá học, môn học chuyên sâu về công nghệ nội dung số Thiếu các chuyên viên, kỹ sư có trình độ về đa phương tiện số Thiếu đội ngũ nhân lực vừa
am hiểu nghệ thuật vừa am hiểu công nghệ Chưa có nhiều các chương trình đào tạo nâng cao kỹ năng về công nghiệp nội dung số Nhìn chung đội ngũ phát triển nội dung còn mỏng và yếu, chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu phát triển của ngành
2.3 Hạn chế về viễn thông và đường truyền
Dung lượng và giá đường truyền Internet còn hạn chế Hạ tầng băng rộng chưa phát triển đủ mạnh Giá thuê kênh truyền vẫn cao so với khu vực và quốc tế Dung lượng và chất lượng đường truyền còn nhiều vấn đề Các dịch vụ thông tin di động 3G,
Trang 214G đã triển khai nhưng phát triển còn chậm Dịch vụ truyền dữ liệu trên mạng di động chưa được phổ biến do giá truy cập còn cao
2.4 Môi trường pháp lý còn thiếu
Môi trường pháp lý cho công nghiệp nội dung số còn rất thiếu Nhà nước cần nhận diện rõ ngành công nghiệp này để có văn bản quản lý, hỗ trợ phù hợp Nhà nước
đã có một số văn bản về quản lý phát hành các trang thông tin điện tử, nội dung điện
tử, tuy nhiên chưa đầy đủ và còn nhiều bất cập Thông tư liên bộ về game online chưa đầy đủ Bên cạnh đó môi trường pháp lý về sở hữu trí tuệ còn nhiều vấn đề như: Thiếu các văn bản dưới luật để quy định rõ các trường hợp vi phạm; Thiếu các quy định về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ; Thiếu các chế tài xử phạt; Tỷ lệ vi phạm bản quyền phần mềm cao
2.5 Nguồn kinh phí và thu hút đầu tư nước ngoài
Nguồn kinh phí dành riêng cho việc phát triển ngành công nghiệp nội dung số ở nước ta còn thiếu, không đủ để triển khai tất cả những hạng mục nội dung quan trọng của ngành công nghiệp thông tin mũi nhọn này Mặc dù đã tham gia nhiều tổ chức, liên hiệp quốc tế như: WTO, World Bank… nhưng chúng ta vẫn thu hút được rất ít nguồn vốn ODA vào hỗ trợ phát triển công nghiệp nội dung số Nguồn kinh phí chủ yếu dựa vào ngân sách của Nhà nước và kinh phí huy động được từ các doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực cung cấp nội dung số ở Việt Nam
3 Tác động của công nghiệp nội dung số tới hoạt động Thông tin – Thư viện
Sự bùng nổ của thông tin, cuộc cách mạng công nghệ thông tin và truyền thông,
sự bùng nổ các tài nguyên trên web, nguồn thông tin số được sử dụng với tốc độ cao, các sản phẩm và dịch vụ thông tin đòi hỏi nhiều hơn về số lượng và chất lượng, sự xuất hiện của các thư viện số, thư viện ảo, sự ra đời của các dịch vụ thông tin, nhà sách trực tuyến,… đã tác động không nhỏ tới hoạt động thông tin – thư viện Đây là những yếu tố tác động do ngành công nghiệp nội dung số mang lại buộc thư viện phải tiếp nhận và thay đổi để tồn tại và đáp ứng được nhu cầu tin ngày càng phong phú và đa dạng của độc giả Công nghiệp nội dung số đã làm thay đổi những yếu tố cấu thành cơ bản nhất của hoạt động thông tin – thư viện trên những phương diện sau:
3.1 Về tài nguyên thông tin:
Bên cạnh nguồn tài liệu in ấn truyền thống, sự xuất hiện của tài liệu điện tử/tài liệu số đã mang đến nhiều tiện ích trong việc chia sẻ dữ liệu giữa các thư viện với nhau và giữa thư viện với người dùng tin Với những đặc trưng nổi bật của mình như:
dễ dàng truy cập (Accessibility), đa truy cập (multy-access), tốc độ cao (hight–speed), mật độ thông tin lớn, biểu diễn thông tin phong phú và da dạng,… nguồn thông tin số này đã tạo ra nhiều cơ hội hơn cho thư viện trong việc cung cấp thông tin tới bạn đọc Tuy nhiên việc đầu tư và phát triển nội dung thông tin số khá tốn kém, đòi hỏi chi phí tác quyền cao, quy trình công nghệ thống nhất, tôn trọng các chỉ tiêu kỹ thuật… Quá trình tạp lập tài liệu số trong thư viện cần có sự phân công rạch ròi giữa người biên tập, sáng tác, cán bộ kỹ thuật và những người làm công tác tiếp thị Phân tích nhu cầu
và yêu cầu bạn đọc đối với sản phẩm và dịch vụ và có chiến lược phát triển thích hợp;
Số hoá để sản xuất song song 2 dạng sản phẩm: in ấn và điện tử hoặc tạo lập các
Trang 22nguồn tin điện tử trên các vật mang tin khác nhau được sử dụng đoạn tuyến hay trực tuyến Ngoài ra cần xây dựng, hoàn thiện môi trường pháp lý, cơ chế chính sách phát triển nội dung số trong thư viện như: Xác lập các loại hình, lĩnh vực nội dung thông tin số; Xây dựng, hoàn thiện các văn bản quản lý đối với các hoạt động cung cấp (phát hành) nội dung thông tin số; Xây dựng các cơ chế, chính sách ưu đãi hỗ trợ phát triển sản phẩm nội dung số; Xây dựng, hoàn thiện các văn bản pháp lý dưới luật, tăng cường việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cho phần mềm, nội dung số Đẩy mạnh thực thi bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực phần mềm, nội dung số,…
3.2 Về sản phẩm - dịch vụ thư viện
Bởi sự xuất hiện của thông tin số (digital content), thư viện số (digital library), mạng xã hội (social network),… nên hình thức các sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện cũng có sự thay đổi Các sản phẩm thông tin được bao gói trên các vật mang tin điện tử, được lưu trữ điện tử dưới dạng CSDL, sử dụng kỹ thuật đa phương tiện (multimedia), với hình thức siêu văn bản (hypertext) nên dễ dàng để truy cập, khai thác, và chia sẻ Dịch vụ thông tin thư viện cũng được triển khai dưới dạng trực tuyến, thông qua website, facebook, twitter,… nhiều hơn nên thông tin đến với bạn đọc nhanh hơn và khả năng tương tác để nâng cao chất lượng dịch vụ tốt hơn Tuy nhiên
để tận dụng được những lợi thế này, đòi hỏi bạn đọc phải có hiểu biết về công nghệ, bên cạnh đó thư viện phải liên tục hướng dẫn, đào tạo bạn đọc sử dụng thông tin và khai thác thông tin trên mạng Thiết kế và tăng cường các sản phẩn – dịch vụ có tính năng phù hợp với từng đối tượng bạn đọc để đạt hiệu quả cao hơn trong việc đáp ứng nhu cầu tin của người dùng tin
Bên cạnh đó cũng cần tăng cường các loại hình sản phẩm, dịch vụ thông tin – thư viện có giá trị gia tăng cao Đẩy mạnh hoạt động số hoá và xây dựng các thư viện điện
tử, trung tâm thông tin điện tử quy mô quốc gia và vùng lãnh thổ Xác định các loại hình sản phẩm, dịch vụ thông tin số có tiềm năng; Khuyến khích, hỗ trợ tạo lập nội dung thông tin số bằng cách: Ban hành cơ chế ưu đãi các doanh nghiệp phát triển nội dung số; Khuyến khích việc số hoá các ấn phẩm, báo chí, sách phổ biến kiến thức Đẩy mạnh hợp tác quốc tế và khu vực; Khuyến khích tận dụng khai thác nguồn thông tin (nội dung) trong nước và khu vực; Có cơ chế, chính sách hợp lý để thu hút các công ty nội dung số lớn trên thế giới đầu tư vào Việt Nam
3.3 Về nguồn nhân lực của thư viện
Sự phát triển của công nghiệp nội dung số đã tạo ra hình ảnh “người thủ thư số” Nhân viên thư viện trong thời đại số phải là một chuyên gia thông tin, am hiểu công nghệ thông tin, chuyên gia về quản trị thông tin tri thức, nhà cung cấp và tiếp thị các dịch vụ thông tin, chuyên gia định hướng thông tin cho người sử dụng thư viện Vì vậy nhân viên thư viện cần hoàn thiện thêm nhiều kỹ năng trong đó có: kỹ năng công nghệ,
kỹ năng tìm kiếm thông tin trên mạng, kỹ năng trình bày thông tin điện tử, kỹ năng về kiến thức thông tin,… Để đáp ứng được sự thay đổi này, ngoài việc nỗ lực học hỏi của mỗi cán bộ thư viện thì chương trình đào tạo về khoa học thông tin - thư viện cũng cần
có sự điều chỉnh về nội dung Xây dựng, đưa vào chương trình đào tạo các khoá học, môn học chuyên ngành về nội dung số như: Xây dựng và phát triển bộ sưu tập số,
Trang 23Kiến thức thông tin, Bảo đảm lưu trữ số, Quản lý dự án thư viện số, Truyền thông đa phương tiện,… Dành thêm nhiều chỉ tiêu cho đào tạo về phát triển nội dung số từ chương trình du học bằng tiền ngân sách (đề án 322, đề án 911); Tổ chức các khoá đào tạo nâng cao kỹ năng, cập nhật công nghệ phát triển nội dung số; Hỗ trợ các cơ quan, trung tâm thông tin – thư viện phát triển nguồn nhân lực, chuyển giao công nghệ; Xúc tiến chương trình đào tạo sử dụng các công cụ phần mềm, phát triển nội dung số cho sinh viên các trường văn hoá, nghệ thuật; Đẩy mạnh đào tạo bằng 2 về công nghệ thông tin cho cán bộ, sinh viên các ngành khoa học xã hội, văn hoá, nghệ thuật Tăng cường hợp tác quốc tế để đưa lao động trong công nghiệp nội dung số ra nước ngoài học tập, làm việc Tổ chức các cuộc thi, giải thưởng về phát triển nội dung số để khuyến khích những điển hình xuất sắc,… Thực hiện được điều này thì trình độ đội ngũ nhân viên thư viện trong thời đại mới sẽ đáp ứng được với những thách thức mới trong kỷ nguyên công nghệ
3.4 Về cơ sở hạ tầng, trang thiết bị thư viện
Sự ra đời và phát triển của công nghiệp nội dung số đã làm thay đổi diện mạo của thư viện Từ một môi trường mang đậm tính chất truyền thống với hạ tầng công nghệ thấp kém và trang thiết bị sơ sài, nghèo nàn, ngày nay thư viện đã phát triển thành những địa điểm có trụ sở và trang thiết bị công nghệ hiện đại để đủ điều kiện đáp ứng nhu cầu tìm kiếm và khai thác thông tin/tài liệu từ phía bạn đọc Các hệ thống thư viện công cộng, thư viện học thuật, thư viện chuyên ngành, Viện nghiên cứu… đều đang cố gắng phát triển thành mô hình thư viện số Việc làm này đòi hỏi sự đầu tư lớn không chỉ về CSDL số, mà còn về hệ thống phần mềm, máy chủ, trang thiết bị mượn trả tài liệu hiện đại Mặt khác, sự phát triển của cơ sở hạ tầng và trang thiết bị thư viện cũng mang đến nhiều lợi ích: giúp bạn đọc tiếp cận thông tin dễ dàng hơn, giúp thư viện nâng cao chất lượng phục vụ, cải thiện hình ảnh của thư viện Tuy nhiên, để có sự phát triển bền vững, thư viện phải tập trung đầu tư phát triển đồng bộ hạ tầng công nghệ; Nâng cao chất lượng đường truyền Viễn thông, Internet; Có các cơ chế, chính sách phát triển sản phẩm – dịch vụ phù hợp với đối tượng người sử dụng Có các lớp hướng dẫn sử dụng trang thiết bị thư viện và các khoá tập huấn về khai thác và tìm kiếm
thông tin Đầu tư cho các trường đại học làm nghiên cứu và phát triển về công nghệ,
chuẩn cho công nghiệp nội dung số Tận dụng tối đa các nguồn tài trợ, đầu tư cho nghiên cứu và phát triển nội dung số từ nước ngoài Đầu tư xây dựng các cơ sở nghiên cứu phát triển, các phòng thí nghiệm về công nghệ để các doanh nghiệp có thể dùng chung Nghiên cứu xây dựng, và chuẩn hoá các tiêu chuẩn về phát triển nội dung số Cởi mở, thông thoáng cơ chế chuyển giao công nghệ Lập các trại sáng tác kịch bản, nội dung cho phim hoạt hình, chương trình cho truyền hình số …
3.5 Về vấn đề phổ biến kiến thức cho người dùng tin
Công nghệ nội dung số đã tạo thêm nhiều cơ hội cho người dùng tin tiếp cận với thông tin Không còn rào cản về thời gian và không gian, người dùng tin bình đẳng hơn trong việc tiếp cận và sử dụng thông tin Để tăng cường khả năng tiếp cận và khai thác được thông tin số, người dùng tin cần phải tự trang bị cho mình những kỹ năng về công nghệ và về ngôn ngữ Đây là điều kiện tối thiểu để có thể khai thác thông tin
Trang 24trong môi trường điện tử Bên cạnh đó những kiến thức về thông tin cũng nên được các thư viện phổ biến tới người dùng tin Thư viện cần thường xuyên tổ chức các lớp: Hướng dẫn tra cứu tài liệu điện tử từ các nguồn CSDL trực tuyến; Hướng dẫn tìm kiếm và đánh giá thông tin trên mạng internet; Hướng dẫn kĩ năng thông tin chuyên ngành; Hướng dẫn lập danh mục tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu khoa học; Hướng dẫn bước đầu thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học,… để nâng cao trình độ và hiểu biết về khai thác thông tin của người dùng tin Trong môi trường thông tin số, người nắm bắt được các kỹ năng khai thác thông tin là người làm chủ thông tin Có thể thấy thông tin số đang đã và đang phát triển ở Việt Nam và dần khẳng định vị trí của mình trên trường quốc tế, bởi vậy người dùng tin phải được trang bị đủ kiến thức và khả năng về khoa học thông tin, khoa học thư viện, khoa học máy tính và công nghệ
để có thể lĩnh hội và phát triển lĩnh vực thông tin – thư viện trong tương lai
KẾT LUẬN
Công nghiệp nội dung số là một ngành kinh tế mới nhưng phát triển rất nhanh, Nhà nước cần nhanh chóng nhận diện rõ ngành kinh tế này để có biện pháp quản lý, thúc đẩy phát triển phù hợp Công nghiệp nội dung số là ngành kinh tế mang hàm lượng trí tuệ cao, lợi nhuận lớn, đồng thời là động lực và phương tiện để đẩy nhanh quá trình tiến tới xã hội thông tin, kinh tế tri thức Trong quá trình phát triển của công nghiệp nội dung số, thư viện là tổ chức đã góp phần quan trọng vào việc tạo lập, lưu trữ và chia sẻ, giúp thông tin có giá trị cao hơn và phục vụ hiệu quả hơn với những yêu cầu của người sử dụng trên thực tế Để phát triển ngành công nghiệp nội dung số ở Việt Nam, cần xây dựng chiến lược dựa trên những yêu cầu của thực tế, tạo mối liên
hệ đa ngành Có sự phối hợp, gắn kết cùng hành động giữa các cơ quan ngang Bộ và
có chương trình mục tiêu cụ thể cho từng giai đoạn nhất định
Trang 25TÀI LIỆU THAM KHẢO
chí Tin học và đời sống, tr 20-22
tương lai, Thông tin khoa học và công nghệ ngày nay - Kỷ yếu hội thảo khoa học - Đại
học KHXH NV - Hội Thông tin Tư liệu KH CN Việt Nam, tr 51-55
[3] Harris, Lesley Ellen (2009), Licensing Digital Content: A Practical Guide for
Librarians, United States of America
[4]
http://publiclibrariesonline.org/2015/11/is-digital-content-being-properly-preserved/ Truy cập ngày 14/03/2016
chí thông tin và phát triển, tr 53-56
[6] Nguyễn Tuấn Khoa (2010) Vai trò của thông tin và công nghiệp nội dung trong
xã hội thông tin, Kỉ yếu hội thảo khoa học: Xã hội thông tin, Nxb ĐHQGHN, Hà Nội
[7] Nick Moore (1995), The Information Society: A Contribution to world
information report, Unesco, Paris
[8] Trần Minh (2011), Sự gắn kết giữa thương mại điện tử và công nghệ thông tin
trong chương trình phát triển công nghiệp phần mềm và chương trình phát triển công nghiệp nội dung số Việt Nam, Kỷ yếu hội thảo Quốc tế thương mại điện tử và Phát
triển nguồn nhân lực, tr 32-38
phát triển trong xã hội thông tin, Thông tin khoa học xã hội – chuyên đề, 208tr
Title: ANALYZING THE IMPACT OF VIETNAM’S DIGITAL CONTENT INDUSTRY ON THE ACTIVITIES OF LIBRARY AND INFORMATION
Abstract: Digital content is any type of content that exists in the form of digital data Also known as digital media, digital content is stored on either digital or analog storage in specific formats Forms of digital content include information that is digitally broadcast, streamed or contained in computer files Developing Vietnam's digital content industry has impacted on many different areas of the social economy, including the field of library and information The paper presents the fact, the opportunities and the challenges of Vietnam’s digital content industry And analyzing the impact of Vietnam’s digital content industry on library and information activities
Ths BÙI THỊ THANH DIỆU
Tên cơ quan: Đại học Khánh Hoà
ĐT: 0983910947
Email: buithithanhdieu@ukh.edu.vn
Trang 26LỰA CHỌN PHẦN MỀM MÃ NGUỒN MỞ XÂY DỰNG BỘ
SƯU TẬP SỐ VÀ MỘT SỐ HIỂU BIẾT VỀ
ra những sản phẩm thông tin số phục vụ cho nhu cầu người dùng Bài viết đưa ra một
số giải pháp lựa chọn phần mềm khi các cơ quan thư viện tiến hành xây dựng bộ sưu tập số dựa trên các phần mềm mã nguồn mở đang được sử dụng rộng rãi ở Việt Nam hiện nay và một số hiểu biết về copyrifht, copyleft và khả năng ứng dụng vào ngành Thư viện
1 Các phần mềm mã nguồn mở thường sử dụng ở các Thư viện Việt Nam hiện nay
1.1 Phần mềm Greenstone:
Greenstone là một trong những phần mềm mã nguồn mở thư viện số nổi tiếng và phổ biến nhất hiện nay Được phát triển bởi Dự án thư viện số New Zealand của trường đại học Waikato, New Zealand năm 2000 Greenstone hiện đang được sử dụng rộng rãi trên khắp thế giới, đặc biệt trong các cơ quan của UNESCO, các tổ chức phi chính phủ, các chính phủ và thư viện các quốc gia các trường đại học trên thế giới Greenstone được dùng để thu thập và biên mục tài liệu theo Dublin Core, đồng thời tổ chức thành bộ sưu tập trênInternet hay xuất ra đĩa CD
Giao diện phân hệ biên mục Greenstone (hình 1)
1.2 Phần mềm DSpace:
DSpace là một bộ phần mềm hỗ trợ giải pháp xây dựng và phân phối các bộ sưu tập số trên Internet Nó cung cấp một phương thức mới trong việc tổ chức và xuất bản
Trang 27thông tin trên Internet DSpace do HP và The MIT Libraries phát triển vào năm 2002, hiện nay có hơn 200 trường đại học và các tổ chức văn hoá trên thế giới sử dụng phần mềm số DSpace để quản lý và chia sẻ nguồn tài nguyên thông tin điện tử như: sách, tạp chí, luận văn và các sưu tập hình ảnh, âm thanh và phim… Đây là một phần mềm mã nguồn mở cho phép các thư viện, các cơ quan nghiên cứu phát triển và mở rộng nhằm mục đích tạo lập các bộ sưu tập số
Giao diện phân hệ biên mục Dspace (hình 2)
2 So sánh một vài ưu nhược điểm của hai phần mềm (Greenstone và Dspace):
- Trang tra cứu của DSpace giống với cổng thông tin điện tử dạng website Trang tra cứu của Greenstone dạng OPAC (cổng thư mục có chứa toàn văn nội dụng tài liệu)
Trang 28- So sánh sự khác biệt giữa trang tìm kiếm Greenstone và Dspace qua hình 3 và hình 4 chúng ta thấy sự khác biệt của Greenstone so với Dspace
Giao diện trang tìm kiếm của Greenstne (hình 3)
Giao diện trang tìm kiếm của Dspace (hình 4)
- Giao diện trang tra cứu của DSpace không thân thiện bằng Greenstone Cấu trúc trang tìm kiếm không bài bản như trang trang tìm kiếm của Greenstone Người dùng muốn tra cứu, tìm kiếm tài liệu ở DSpace phải có Username và Password trong khi Greenstone thì không
- Tìm kiếm tài liệu trên Dspace cho kết quả không như mong muốn, có nghĩa là không cho kết quả với những từ khoá cần tìm mà cho kết quả hàng loạt làm cho người dùng rất khó khăn trong việc tìm chọn tài liệu Greenstone thì ngược lại
- Greenstone cho phép lưu trữ một gói thông tin trong một bộ sưu tập từ 1000 đến 3000 trang tài liệu trong khi khả năng này của Dspace lớn hơn nhiều
3 Vấn đề bản quyền và tính hữu ích
3.1 Các loại Copyleft
- Copyleft mạnh: Copyleft điều chỉnh một tác phẩm được xem là "mạnh hơn",
với ý nghĩa là các điều khoản copyleft có thể được áp dụng một cách hiệu quả cho tất
Trang 29cả các loại tác phẩm phái sinh Giấy phép phần mềm tự do nổi tiếng nhất sử dụng
copyleft mạnh là giấy phép tài liệu tự do GNU (GFDL hoặc GNU FDL)
- Copyleft yếu: là nói đến các giấy phép trong đó không phải tất cả các tác phẩm
phái sinh đều thừa kế giấy phép copyleft Giấy phép phần mềm tự do sử dụng copyleft
"yếu" bao gồm giấy phép tài liệu tự do GNU hạn chế và giấy phép công cộng
Mozilla
3.2 Lợi ích của copyleft:
Copyleft là hình thức bản quyền kiểu mới, nhằm tránh vi phạm copyright Các quốc gia chậm phát triển hoặc các nước đang phát triển sử dụng Copyleft sẽ đạt được những lợi ích như:
- Miễn phí các phiên bản nâng cấp trong toàn bộ vòng đời sử dụng sản phẩm
- Giảm chi phí phát triển, nâng cấp phần mềm đáp ứng theo yêu cầu
- Tăng cường độ tin cậy, tính ổn định, bảo mật toàn hệ thống khá an toàn…
3.4 Một vài so sánh Copyright và Copyleft
- Điểm giống nhau: Copyright và Copyleft là là đều bảo vệ quyền nhân thân tác
giả (trừ toàn vẹn tác phẩm) Copyleft cũng có những quy định với người dùng giống copyright
- Điểm khác biệt:
- Kí hiệu chữ C trong vòng tròn © - Kí hiệu chữ c ngược trong vòng tròn
- Cấm sao chép, chỉnh sửa, phân phối - Tự do sao chép, chỉnh sửa, phân phối
- Thương mại là chính - Miễn phí
- Sử dụng mã nguồn đóng (đối với phần
mềm máy tính)
- Sử dụng mã nguồn mở (đối với phần mềm máy tính)
- Có ý nghĩa pháp lý - Không có ý nghĩa pháp lý
Trang 304 Khả năng ứng dụng vào lĩnh vực thư viện:
Thư viện số ngày nay phổ biến trên thế giới Ở Việt Nam những năm gần đây thư viện của các trường đại học, cao đẳng, viện nghiên cứu, thư viện quốc gia đã đẩy mạnh
số hóa nguồn tài liệu nhằm phục vụ nhu cầu ngày càng cao của người dùng nhưng vẫn chưa có lối ra cho một giải pháp phần mềm hữu ích Việc ứng dụng copyleft vào lĩnh vực thư viện là một giải pháp khả quan cho những thư viện không đủ kinh phí mua phần mềm thư viện số (copyright) Chính vì vậy, khả năng áp dụng phần mềm miễn phí (copyleft) vào lĩnh vực thư viện trong bối cảnh hiện nay có được lợi ích như:
- Hỗ trợ nâng cao hiểu biết về lập trình phần mềm, đổi mới tư duy trong công tác quản lý thư viện
- Hỗ trợ xây dựng các cơ sở dữ liệu
- Hạn chế và hướng tới việc xóa bỏ việc vi phạm bản quyền phần mềm
- Tiết kiệm chi phí mua các phần mềm bản quyền
- Có khả năng tương tác với các sản phẩm phần mềm mã nguồn đóng
- Hệ thống thông tin và dữ liệu được đảm bảo an ninh
Với những khả năng trên các thư viện khi tiến hành xây dựng các bộ sưu tập số
có quyền tự do thừa hưởng những thành tựu và lợi ích của copyleft mang lại
5 Khả năng ứng dụng trong ngành giáo dục Việt Nam
Theo điều 5 thông tư số 08/2010/TT-BGDĐT quy định về sử dụng phần mềm tự
do mã nguồn mở trong cơ sở giáo dục Các sản phẩm phần mềm mã nguồn mở được yêu cầu sử dụng chính thức trong các cơ sở giáo dục như phần mềm văn phòng: OpenOffice gồm các module sau:
a Soạn thảo văn bản (Writer);
b Bảng tính điện tử (Calc);
c Trình chiếu (Impress);
d Cơ sở dữ liệu (Base);
e Đồ hoạ (Draw);
f Soạn thảo công thức toán học (Math);
g Bộ gõ tiếng Việt: Unikey
h Trình duyệt web Mozilla Firefox
j Phần mềm thư điện tử máy trạm của Mozilla: Thunderbird
k Hệ điều hành trên nền Linux
6 Một số kiến nghị khi tiến hành xây dựng thư viện số ở Việt Nam
+ Từ cấp độ quốc gia:
- Cần có sự vào cuộc của các cơ quan hữu quan để tạo cơ sở pháp lý thông
thoáng cũng như các nguồn lực tài chính cho các đơn vị tiến hành xây dựng thư viện
Trang 31- Mở các lớp tập huấn về các kỹ năng xây dựng thư viện số rộng khắp trên cả nước
- Giải pháp áp dựng các phần mềm mã nguồn mở chỉ là tạm thời, còn về lâu dài thì áp dụng phương tiện này cho thư viện số Việt Nam là không khả thi Nên chăng cần phải đầu tư một phần mềm thư viện số mang tính chất thương mại Điều này vừa thống nhất được chuyên môn cho các thư viện, vừa chia sẽ được nguồn lực thông tin đồng thời đáp ứng được bảo mật thông tin cho các bộ sưu tập đã được các đơn vị xây dựng
- Sử dụng phương án tạo một đường link để các đơn vị khi tiến hành xây dựng không bị chồng chéo và trùng lặp, tiết kiệm công sức, tài chính Làm được điều này thì hiệu quả thì vô cùng lớn “một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao”
+ Cấp độ đơn vị:
- Điều tiên quyết là lãnh đạo có chính sách đúng đắn, thông thoáng về mặt tài chính
- Xác định đúng nguồn, nội dung tài liệu cần số hóa phù hợp với nhu cầu độc giả
- Cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin đáp ứng đủ cho việc xây dựng thư viện số
- Đào tạo con người có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao về lĩnh vực thư viện số
- Lựa chọn một phần mềm khả thi nhất
- Nguồn lực tài chính dồi dào
- Việc xây dựng, phát triển bộ sưu tập tài liệu số cho mỗi thư viện sẽ được tiến hành dựa vào quy mô chức năng, nhiệm vụ và mức độ khác nhau dựa trên thực lực của đơn vị cụ thể
7 Chia sẻ nguồn lực thông tin với các thư viện trong nước và quốc tế
Xây dựng một thư viện số cho phép liên kết tất cả thư viện với nhau, giúp dễ dàng tìm kiếm mọi tài liệu đang cần, điều mà ta không thể làm được ở một thư viện truyền thống Khi một giải pháp phần mềm thống nhất, có hiệu quả thì tất cả các thư viện số trong và ngoài nước có thể chia sẻ nguồn lực thông tin một cách dễ dàng nhờ
mạng thông tin toàn cầu
KẾT LUẬN
Lợi ích lớn nhất khi xây dựng thư viện số là sản phẩm tạo ra một lần nhưng có thể có giá trị sử dụng mãi mãi, người dùng không bị giới hạn mà có thể vượt ra ngoài không gian thư viện, có thể truy cập bất kỳ thời gian nào khi cần và không hạn chế về địa lý Muốn làm được điều này, các cơ quan thông tin – thư viện khi tiến hành xây dựng bộ sưu tập số cần phải có giải pháp phần mềm thống nhất nhằm chia sẻ nguồn lực thông tin, tránh sự trùng lặp để đi đến xây dựng mô hình liên thư viện dạng số nhằm phục vụ lợi ích cho người dùng tin cũng như chính thư viện
Trang 32TÀI LIỆU THAM KHẢO
http://thuvienphapluat.vn/archive/Thong-tu-08-2010-TT-BGDDT-su-dung-phan Hận, Phạm Hoài (2010) Copyright vag copyleft: luận văn tốt nghiệp đại học
chuyên ngành luật tư pháp.- Cần Thơ, Đại học Cần Thơ, 2010
- Tuyến, Nguyễn (2004) Biên mục Phần mềm thư viện số DSpace (DSpace
Cataloguing) Bản tin Thư viện - Công nghệ thông tin tháng 10/2004
- Nguyễn, Minh Hiệp (2006) Thư viện số với hệ thống nguồn mở Bản tin thư viện
công nghệ thông tin, 8-2006
- Minh, Nguyễn Thanh (2005).Ứng dụng Phần mềm nguồn mở Thư viện số trong
việc tạo lập và phân phối kho tài nguyên số hóa phục vụ giảng dạy và nghiên cứu
trong trường đại học Bản tin thư viện công nghệ thông tin, 3-2005
- Minh, Nguyễn Thanh (2006) Ứng dụng Phần mềm nguồn mở thư viện số
Greenstone trong việc xây dựng bảo tàng tiền số Bản tin thư viện công nghệ thông
tin, 8-2006
- Liên, H Đ., Ty, N H (2007) Giải pháp xây dựng các bộ sưu tập số Trung tâm
Thông tin - Thư viện ĐH Nông nghiệp I: Tham luận tại hội thảo khoa học TT-TV Đà Lạt 8/2007
Trang 33SỬ DỤNG HIỆU QUẢ WEBSITE VÀ MẠNG XÃ HỘI
TRONG HOẠT ĐỘNG HƯỚNG DẪN NGƯỜI DÙNG TIN
NGUYỄN THỊ HỒNG NHUNG
Khoa TV-TT, Trường Đại học Văn hóa Tp HCM
Tóm tắt: Bài viết trình bày những lợi ích khi các thư viện sử dụng hiệu quả website và mạng
xã hội trong hoạt động hướng dẫn người dùng tin Đồng thời, trình bày qui trình thiết kế cụ thể để có thể áp dụng website và mạng xã hội vào hoạt động hướng dẫn người dùng tin một cách hợp lý và hiệu quả
1 Đặt vấn đề
Sự gia tăng không ngừng của các nguồn tài nguyên thông tin cùng với khả năng
đa dạng trong việc tiếp cận và sử dụng thông tin đòi hỏi thư viện phải thực hiện việc hướng dẫn để người dùng tin có thể sử dụng hiệu quả và đúng đắn các nguồn lực thông tin Bên cạnh đó, nhu cầu tin của mỗi cá nhân ngày càng phức tạp hơn, xuất hiện và thay đổi nhanh hơn, vì vậy để gia tăng hiệu quả cho quá trình sống, làm việc, học tập, người dùng tin cần được trang bị các kỹ năng thông tin giúp xác định và xử lý được nhu cầu tin của chính mình Chính vì vậy, các hoạt động hướng dẫn người dùng tin trở nên vô cùng quan trọng và ngày càng được đẩy mạnh trong các thư viện
Tại nhiều nước tiên tiến, các hoạt động mang tính hướng dẫn người dùng tin đã xuất hiện khá sớm, với nội dung xoay quanh kỹ năng sử dụng kho sách thư viện, sử dụng các công cụ mục lục và thư mục Lúc này, những thuật ngữ tiếng Anh thường dùng chỉ loại hoạt động hướng dẫn là Bibliographic instruction hay Library guidance Dần dần, nội dung hướng dẫn người dùng tin trở nên phong phú hơn do nguồn lực của thư viện trở nên phong phú hơn, cộng thêm khả năng kết nối của thư viện với các nguồn lực từ bên ngoài, bên cạnh đó là sự ứng dụng ngày càng sâu sắc của công nghệ khiến cho các công cụ tra cứu và các phương thức khai thác, sử dụng thông tin ngày càng đa dạng và phức tạp hơn Giờ đây, việc hướng dẫn người dùng tin bao gồm những nội dung mới như hướng dẫn sử dụng các dịch vụ thông tin và tiện ích của thư viện, các công cụ tra cứu tự động, các nguồn tài nguyên trực tuyến, các cách thức khai thác, sử dụng thông tin một cách hiệu quả và theo đúng luật định Cũng vì thế mà đã xuất hiện thêm khá nhiều thuật ngữ đề cập đến nhiều mức độ hoặc hình thức khác nhau của hoạt động hướng dẫn người dùng tin, như là Library orientation, Library instruction, User education, User training, Information literacy instruction, …
Các nội dung cơ bản như vừa nêu của hoạt động hướng dẫn người dùng tin được nhiều thư viện triển khai thành những nội dung cụ thể, dưới nhiều mức độ (tính sâu sắc
và hệ thống của các nội dung) và dưới nhiều hình thức (cách truyền đạt các nội dung đến với người dùng) khác nhau Có ba mức độ hướng dẫn cơ bản, bao gồm: Hướng dẫn người dùng tin nhận biết các nguồn lực của thư viện và cách sử dụng thư viện; Hướng dẫn người dùng tin sử dụng thư viện thành thạo; Huấn luyện các kỹ năng thông tin cho người dùng tin Các hình thức hướng dẫn phổ biến bao gồm: Hướng dẫn trực
Trang 34tiếp; Tổ chức tham quan; Sử dụng phương tiện nghe nhìn; Hướng dẫn thông qua website và mạng xã hội; Tổ chức lớp học; … Mỗi mức độ có phạm vi, mục tiêu của
nó Mỗi hình thức có công dụng và giá trị của nó
Có thể thấy, trong các hình thức hướng dẫn người dùng tin nêu trên, hướng dẫn thông qua website và mạng xã hội là hình thức đang nhận được sự quan tâm của các thư viện vì những hiệu quả và lợi ích mà hình thức này đem lại
2 Sử dụng hiệu quả website trong hoạt động hướng dẫn
Sự ra đời của WWW và mạng Internet đã tạo cho các thư viện những cơ hội và tiện ích thiết thực, giúp thư viện ứng dụng các kỹ thuật và công nghệ tiên tiến như công nghệ web vào việc nâng cao chất lượng hoạt động và dịch vụ của mình Vai trò của website thư viện ngày càng trở nên quan trọng, là một trong những yếu tố thiết yếu thể hiện hình ảnh và giá trị của thư viện
Hiện nay, hầu hết các thư viện đã có website nên thuận lợi để thư viện có thể tận dụng nhiều hình thức hướng dẫn người dùng tin cũng như quảng bá về hoạt động này với người dùng tin
Trên website, ngoài các nội dung như:
- Cung cấp thông tin trực tuyến về các nguồn lực dưới dạng in của thư viện và công cụ giúp người dùng kết nối và truy cập tới các nguồn lực ấy
- Điểm truy cập đến các nguồn lực dưới dạng số được tích hợp với mạng toàn cầu (cơ sở dữ liệu trực tuyến, các trang web…)
- Cung cấp thông tin và các dịch vụ tham khảo trực tuyến
- Môi trường giao lưu với các nhóm người dùng tin của thư viện, người hỗ trợ thư viện khác nhau
- Quảng bá thư viện và các dịch vụ thư viện, tạo ra hình ảnh và các mối quan hệ với công chúng một cách thân thiện
- …
Các thư viện còn cần tạo riêng một mục hướng dẫn người dùng tin trên website
để phục vụ cho việc triển khai hoạt động hướng dẫn người dùng tin của thư viện, bao gồm các nội dung:
- Các bài giảng trực tuyến trình bày các mức độ hướng dẫn người dùng tin, như: + Hướng dẫn người dùng tin nhận biết các nguồn lực của thư viện và cách sử dụng thư viện với các nội dung như hướng dẫn làm thẻ, quy định về mượn trả tài liệu,
… được hướng dẫn một cách rõ ràng, chi tiết ngay trên website thư viện
+ Hướng dẫn người dùng tin sử dụng thư viện thành thạo: Bao gồm những hướng dẫn cụ thể, chi tiết cách tra cứu mục lục trực tuyến của thư viện, hình thức sử dụng các sản phẩm – dịch vụ thư viện bằng các file, các hình ảnh, các video đính kèm
+ Huấn luyện các kỹ năng thông tin cho người dùng tin: Bao gồm thông tin về nội dung các lớp huấn luyện kỹ năng thông tin, file đính kèm nội dung một số kỹ năng thông tin cơ bản như: Kỹ năng tra cứu, tìm kiếm thông tin trên Internet; Kỹ năng tra cứu, tìm kiếm thông tin trong các CSDL điện tử; Kỹ năng trích dẫn tài liệu;
- Quảng bá hình ảnh về hoạt động hướng dẫn người dùng tin
- Cung cấp các tài liệu phục vụ hoạt động hướng dẫn người dùng tin
Trang 35- Cung cấp thông tin về lịch học, hình thức đăng ký, thông tin liên hệ, … của hoạt động hướng dẫn người dùng tin
Các thư viện có thể tham khảo website của một số thư viện/ trung tâm thông tin trong nước đã được sử dụng hiệu quả để thông tin, quảng bá về hoạt động hướng dẫn người dùng tin như website Thư viện Trung tâm Đại học Quốc gia Tp HCM (tại địa chỉ http://www.vnulib.edu.vn/?page_id=3336), website Trung tâm Học liệu Đại học Cần Thơ (tại địa chỉ http://www.lrc.ctu.edu.vn/dch-v/data-articles/tin-tuc/dich-vu-tt-h-lieu), website Thư viện Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tp HCM (tại địa chỉ
http://lib.hcmussh.edu.vn/Default.aspx?ArticleId=8651c89c-52c2-4757-b495-0336dfbfa071), …
3 Ứng dụng mạng xã hội trong hoạt động hướng dẫn người dùng tin
Bên cạnh website, các thư viện có thể ứng dụng mạng xã hội trong hoạt động hướng dẫn người dùng tin để đem lại hiệu quả tốt hơn, sinh động, sáng tạo và tốc độ lan tỏa mạnh hơn Đây là cách thức đang được nhiều thư viện vận dụng
Khi thư viện ứng dụng mạng xã hội vào hoạt động hướng dẫn người dùng tin sẽ đem lại những lợi ích nhất định:
- Nâng cao tính trực quan, sinh động thông qua các hình ảnh, video hướng dẫn cụ thể, chi tiết
- Tăng cường sự tương tác giữa thư viện và người dùng tin, rút ngắn dần khoảng cách với người dùng tin
- Cung cấp một không gian riêng cho việc quảng bá đầy đủ và chi tiết nhất về thư viện
- Giúp người dùng tin tiết kiệm thời gian, công sức
- Hỗ trợ người dùng tin tiếp cận thư viện, hệ thống sản phẩm – dịch vụ thư viện thường xuyên thông qua mạng Internet
- Nâng cao trình độ sử dụng công nghệ cho đội ngũ cán bộ thư viện, bản thân đội ngũ này phải không ngừng vận động để tích lũy thêm kỹ năng chuyên môn, khả năng công nghệ để thích ứng với môi trường thư viện đang phát triển
- Làm thay đổi diện mạo của thư viện: Đưa thư viện ra khỏi bức tường chật hẹp, tiến tới một không gian mở và tự do hơn để người dùng tin tiếp cận và khai thác
Các trang mạng xã hội phổ biến hiện nay, có thể kể đến: nhóm kết nối nhanh, như Facebook, Twitter; nhóm chia sẻ video, như YouTube; nhóm chia sẻ hình ảnh, như Flickr, Instagram
Để ứng dụng mạng xã hội một cách hiệu quả, thư viện cần có một qui trình thiết
kế hướng dẫn người dùng tin trực tuyến với mạng xã hội Các bước xây dựng qui trình thiết kế hướng dẫn người dùng tin như sau:
- Bước 1: Xác định nội dung hướng dẫn Cần dựa trên thực tiễn hoạt động của
mỗi thư viện, nhu cầu và kỳ vọng của người dùng tin để xác định nội dung
- Bước 2: Thiết kế nội dung hướng dẫn Nội dung cần được trình bày qua văn
bản (dạng text) mô tả chi tiết, cụ thể từng thao tác hoặc qua hình ảnh có chú thích Với nhóm mạng xã hội chia sẻ hình ảnh, như Flickr, Instagram tương ứng với mỗi hình ảnh phải có các thông tin diễn giải các bước thực hiện dễ hiểu
Trang 36- Bước 3: Xác định mạng xã hội phù hợp cho từng nội dung hướng dẫn sử dụng
Tùy theo tính chất, mục đích, nội dung của hướng dẫn mà lựa chọn ứng dụng chia sẻ hình ảnh hay chia sẻ video để đạt hiệu quả cao nhất
Chẳng hạn, thư viện có thể sử dụng:
+ Nhóm kết nối nhanh: Facebook là lựa chọn hàng đầu, vì người dùng tin Việt Nam, cũng như người dùng tin thư viện sử dụng Facebook đông đảo nhất Twitter dù được sử dụng phổ biến ở nước ngoài nhưng ở Việt Nam ít người dùng tin có thói quen dùng Thư viện có thể sử dụng Facebook để giới thiệu đầy đủ về năm thành lập, chức năng, nhiệm vụ, bản đồ đi đến thư viện ở mục Thông tin giới thiệu trên Facebook; ở mục chia sẻ trạng thái/ status sẽ đăng những nội dung thông tin được cập nhật thường xuyên, những thông tin mới và thay đổi thường xuyên như lịch hướng dẫn người dùng tin; hình ảnh hoạt động; lịch làm thẻ, nhận thẻ; thông báo và nội qui mới… Thư viện cũng có thể dùng Facebook để liên kết chia sẻ video từ YouTube, hình ảnh từ Flickr để tăng tốc độ lan truyền, cũng như cập nhật các video mới nhất cho người dùng tin + Nhóm chia sẻ video: Cán bộ thư viện có thể sử dụng YouTube để chia sẻ video giới thiệu chung về mọi hoạt động của thư viện mình cũng như video hướng dẫn cách
sử dụng thư viện; quảng bá về chương trình hướng dẫn người dùng tin, … Đây là một kênh giúp người dùng tin không bị nhàm chán khi đọc thông báo hay tài liệu hướng dẫn, … Ngoài ra, thư viện có thể ứng dụng liên kết đến các trang YouTube hữu ích từ những thư viện hoặc trường đại học lớn trên thế giới để người dùng tin của mình tham khảo, học hỏi Facebook và Flickr cũng có chức năng đưa video lên nhưng tốc độ tải, giao diện xem và tính phổ biến không bằng YouTube
+ Nhóm chia sẻ hình ảnh: Thư viện có thể dùng các mạng xã hội như Flickr, Instagram để chia sẻ hình ảnh về các hoạt động của thư viện nói chung, cũng như về hoạt động hướng dẫn người dùng tin nói riêng
- Bước 4: Xây dựng nội dung hoàn chỉnh dựa trên việc sắp xếp hình ảnh, video
theo một kịch bản hướng dẫn
- Bước 5: Thu nhận ý kiến của đồng nghiệp về nội dung, hình thức của hướng
dẫn để điều chỉnh (nếu cần thiết) trước khi gửi tới người dùng tin tham khảo và đánh giá
- Bước 6: Tạo lập các trang mạng xã hội và xuất bản các hướng dẫn người dùng
tin để người dùng tin tiếp cận, dùng thử và đánh giá
Tạo lập một trang mạng xã hội tuy đơn giản nhưng nếu người tạo lập không có kiến thức thì sẽ tốn thời gian mà không đem lại hiệu quả cao Chính vì vậy, trước hết thư viện cần tìm hiểu hình thức tạo các trang mạng xã hội thông qua:
+ Tài liệu trên Internet: Tìm kiếm và tham khảo các bài viết hướng dẫn tạo lập và quản lý mạng xã hội trên Internet để học hỏi và tích lũy kinh nghiệm
+ Tự tìm hiểu trực tiếp trên các trang mạng xã hội thông qua các tiện ích đã có sẵn trong các trang mạng xã hội
+ Tham khảo các trang mạng xã hội của một số thư viện/ trung tâm thông tin có quy mô lớn
Có thể thấy, Facebook và Flickr là hai trang mạng xã hội dễ tạo lập, nhanh chóng
và không phải chuẩn bị hồ sơ đi kèm Do đó, các thư viện nên ưu tiên tạo lập hai trang
Trang 37mạng xã hội này trước, đặc biệt là đối với Facebook vì kênh này có khả năng kết nối
và lan truyền đến người dùng tin rất nhanh
YouTube tuy cách tạo lập và sử dụng cũng rất dễ Tuy nhiên, cán bộ thư viện cần phải chuẩn bị các file và video giới thiệu hoặc Powerpoint để chuyển thành video nên cũng mất khá nhiều thời gian Do đó, thư viện có thể tạo lập YouTube sau Facebook
và Flickr
- Bước 7: Hoàn thiện và quảng bá các trang mạng xã hội
Sau khi tạo lập và xuất bản nội dung hướng dẫn lên các trang mạng xã hội, thư viện cần điều chỉnh (nếu có) những nội dung hướng dẫn người dùng tin một cách phù hợp dựa trên những nhận xét, đánh giá của người dùng tin và thực tiễn hoạt động của thư viện sao cho phù hợp nhất Sau đó, tiến hành quảng bá các trang mạng xã hội này
Để quảng bá các trang mạng xã hội, thư viện có thể áp dụng các hình thức như:
+ Đưa các trang mạng xã hội lên website của thư viện
+ Thông qua tài liệu hướng dẫn, cẩm nang, tờ rơi
+ Thông qua các lớp hướng dẫn người dùng tin
+ Thông qua bảng thông báo của thư viện
- Bước 8: Tổ chức và quản lý mạng xã hội
Để các trang mạng xã hội hoạt động tốt thì thư viện phải phân công cán bộ quản
lý các trang mạng xã hội này, và người quản lý phải thường xuyên cập nhật, tổ chức trang mạng xã hội một cách tốt nhất Vì nếu thông tin không được cập nhật thì người dùng tin sẽ không còn thói quen vào các trang mạng xã hội của thư viện nữa
- Bước 9: Thống kê và đánh giá hiệu quả
Tạo lập, tổ chức và quản lý tốt sẽ giúp cho các trang mạng xã hội của thư viện hoạt động tốt Tuy nhiên, nếu không thống kê, đánh giá thì sẽ không theo dõi được hiệu quả hoạt động của các trang này Thư viện có thể đánh giá bằng cách:
+ Tận dụng các chức năng thống kê sẵn có của các trang mạng xã hội để thống kê
số liệu hàng tháng Ví dụ: Facebook có tính năng thống kế số lượt xem trang, số lượt thích, số lượt bình luận; YouTube có thống kê số lượt xem, số lượt thích và không thích; …
+ Lập biểu đồ so sánh và đối chiếu xem mức độ tăng giảm giữa các tháng, phân tích lý do tăng, giảm
+ Tìm và đưa ra biện pháp cải thiện
Các thư viện có thể tham khảo facebook của một số thư viện/ trung tâm thông tin
đã được sử dụng hiệu quả trong việc thông tin, quảng bá về hoạt động hướng dẫn người dùng tin như facebook Thư viện Đại học KHXH và NV Tp HCM (tại địa chỉ
https://www.facebook.com/libhcmussh?fref=ts), facebook Thư viện Trung tâm ĐHQG
Tp HCM (tại địa chỉ https://www.facebook.com/CentralLibraryVNU?pnref=lhc), Thư viện cũng có thể tham khảo việc tạo lập và chia sẻ video về hoạt động hướng dẫn người dùng tin tại trang youtube của một số thư viện/ trung tâm thông tin thư viện như youtube của Thư viện Trung tâm Đại học Quốc gia Tp HCM (tại địa chỉ
https://www.youtube.com/user/HuongdanKNTT), đặc biệt, người dùng tin của Thư
Trang 38viện Trung tâm có thể link trực tiếp đến trang youtube của Thư viện Trung tâm ở mục
“Xem video” trên trang facebook của Thư viện
Như vậy, sử dụng website và mạng xã hội trong hoạt động hướng dẫn người dùng tin sẽ đem lại những hiệu quả và lợi ích nhất định Tuy nhiên, để có thể sử dụng website và mạng xã hội một cách hiệu quả các thư viện cần có hiểu biết nhất định về website và mạng xã hội, đồng thời, cần có một qui trình thiết kế cụ thể
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Esther S Grassian, Joan Kaplowitz (2001), Information literacy indtruction:
Theory and practice, Publisher ALA Neal-Schuman, New York
[2] Khoa Thông tin – Thư viện trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội (2006), Ngành thông tin – thư viện trong xã hội thông tin: Kỷ yếu hội thảo khoa học
“Kiến thức thông tin – Information literacy”
[3] Nancy J (1984), User education in libraries – 2 nd ed, Clive Bingley Limited, London
[4] Nguyễn Hồng Sinh, Nguyễn Thị Hồng Nhung (2014), Hoạt động hướng dẫn người dùng tin trong thư viện, Tạp chí Thông tin Tư liệu, Số 3
[5] Thư viện Trung tâm Đại học Quốc gia TP.HCM (2011), Kỷ yếu Hội thảo – Tập huấn “Nội dung và phương pháp thực hiện các khóa huấn luyện kỹ năng thông tin cho độc giả”
Title: EFFECTIVE USE SOCIAL NETWORKING AND WEBSITE IN USER TRAINING
Abstract: The paper presents the benefits of libraries / information centers to
effectively use social networking and website in user training At the same time, presents a specific design process can be applied to websites and social networks on user training a reasonable and effective way
ThS NGUYỄN THỊ HỒNG NHUNG
Giảng viên khoa Thư viện – Thông tin, Trường Đại học Văn hóa Tp HCM
ĐT: 0984.620.556
Email:nhung.nguyeenx@gmail.com
Trang 39ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ TRONG PHÁT TRIỂN, TRAO ĐỔI TÀI NGUYÊN ĐIỆN TỬ CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC
TÔN QUANG ĐĂNG
Trung tâm TT-TV, Đại học Tiền Giang
Những thành tựu phát triển của khoa học và công nghệ thời gian qua đã tác động đến nhiều ngành nghề, đặc biệt thư viện các trường đại học, cao đẳng đã vận dụng
công nghệ để thực hiện tổ chức, phát triển, trao đổi nguồn tài nguyên điện tử - bước
thay đổi lớn trong hoạt động Đây là việc làm cần thiết, quan trọng để đáp ứng ngày
càng tốt hơn yêu cầu thông tin của người dùng tin trong và ngoài trường phục vụ đổi mới phương pháp dạy - học và nâng cao chất lượng đào tạo của từng trường theo mục tiêu chiến lược Chính công nghệ đã mở ra nhiều cơ hội mới cho công việc nói trên nhằm giúp các thư viện hình thành kho tài nguyên thông tin chung trong hiện tại và tương lai phong phú, hấp dẫn Như vậy từng thư viện cần phải có giải pháp, bước đi cụ thể để phát triển tài nguyên điện tử của thư viện mình và cùng trao đổi, chia sẻ chung nguồn tài nguyên này giữa các thư viện nói trên theo thỏa thuận chung
I Thực trạng của việc phát triển, trao đổi nguồn tài nguyên điện tử của thư viện trường đại học
* Thực trạng
Một số việc nổi bật khi thực hiện phát triển, trao đổi nguồn tài nguyên điện tử
của các thư viện còn gặp phải như sau:
- Luật Sở hữu trí tuệ (quyền sở hữu tác giả) đã gây khó khăn trong việc liên kết chia sẻ tài nguyên điện tử;
- Quy mô đào tạo ngành, nghề của mỗi trường; quy mô tổ chức, cơ sở vật chất, hạ tầng CNTT, vốn tài liệu thư viện (bản in, bản đã số hóa) của mỗi trường khác nhau nên việc hợp tác trao đổi nguồn tài nguyên điện tử bị hạn chế, gặp khó khăn (nguyên nhân chủ và khách quan);
- Chính sách phát triển thư viện ở mỗi trường khác nhau (trường thực hiện mở
trong việc mượn, trả tài liệu in và trong sử dụng tài nguyên điện tử; có trường có thể trao đổi tài liệu qua cổng Z39.50 từ phần mềm quản trị thư viện nhưng một số trường khác lại không trao đổi được với nhiều nguyên nhân khác nhau, );
- Nguồn tài nguyên điện tử của các trường có số, chất lượng phát triển không đều (có trường nguồn tài nguyên điện tử phong phú: cơ sở dữ liệu trực tuyến, tài liệu điện
tử nội sinh và có trường thì nguồn tài nguyên hạn chế);
- Việc bồi dưỡng, tập huấn kiến thức cơ bản về công nghệ cho người làm công tác thư viện còn hạn chế nên ảnh hưởng đến việc phát triển, trao đổi nguồn tài liệu giữa các thư viện;
- Vị trí địa lý cũng là yếu tố cản trở việc trao đổi tài nguyên trong thư viện
Trang 40Thời gian qua, nhiều thư viện lớn trong hệ thống trường Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia TPHCM, Đại học Đà Nẵng, Đại học Cần Thơ, Đại học SP Kỹ thuật TPHCM, ĐH An Giang, Cao đẳng Thừa Thiên-Huế, … đã nỗ lực nhiều và thành công trong việc phát triển, trao đổi chia sẻ tài nguyên điện tử Tuy nhiên một số thư viện khác việc tổ chức, nguồn nhân lực, tài liệu, các dịch vụ thông tin và ứng dụng công nghệ trong hoạt động thư viện còn hạn chế so với nhu cầu hiện đại hóa thư viện như:
- Một số thư viện chưa trang bị đầy đủ trang thiết bị cần thiết để tổ chức phát triển tài nguyên điện tử, chưa hình thành các dịch vụ thông tin và làm cho người sử dụng gặp nhiều khó khăn trong việc khai thác nguồn tài nguyên;
- Chi phí chưa hợp lý và tính xác thực của nguồn thông tin thu thập khi người dùng tin đăng nhập vào nguồn tài nguyên được trao đổi;
- Hạn chế quyền đăng nhập vào nguồn tài nguyên được trao đổi, chia sẻ và dịch vụ phụ thuộc
Vì thế đòi hỏi các thư viện nói trên cần phải xây dựng cơ sở hạ tầng, có kiến thức
về lý thuyết và thực tiễn trong việc ứng dụng công nghệ để tạo sự thích nghi cùng thúc đẩy việc phát triển, trao đổi tài nguyên điện tử giữa của các thư viện đại học trong hiện tại và tương lai
II Giải pháp thực hiện việc phát triển, trao đổi nguồn tài nguyên điện tử của thư viện trường đại học
* Định hướng chung:
Với thực trạng đã nêu thì việc hợp tác phát triển, trao đổi chia sẻ tài nguyên trong các thư viện còn gặp khó khăn Vì thế các cấp quản lý trực tiếp và gián tiếp của thư viện cần quan tâm những việc cụ thể như sau:
Đối với nhà quản lý của trường: Cần xác định chức năng, nhiệm vụ của Thư
viện như trong Điều lệ trường Đại học do Bộ GD-ĐT ban hành để đầu tư về nhân lực, tài lực, định vị các phòng chức năng, cơ sở vật chất, trang thiết bị cần thiết cho thư viện phát triển với mục đích nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo nhà trường tức là nâng cao số, chất lượng nguồn tài nguyên diện tử, năng lực và vận dụng công nghệ cho thư viện
Đối với nhà quản lý thư viện: Cần có nhận thức, tư duy mới về tổ chức, hoạt động thư viện đều hướng đến người dùng tin và xây dựng định hướng chiến lược là
thư viện phù hợp với dây chuyền xử lý và phục vụ trong môi trường hiện đại và số hóa,
kịp thời tham mưu cho nhà trường có những quyết sách trong phát triển thư viện (tài liệu nội sinh, cơ sở dữ liệu trực tuyến khác) theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, hợp
tác và hội nhập trong phạm vi quốc gia và giữa các quốc gia; đẩy mạnh việc quan hệ
để xây dựng tiềm lực, tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật, đào tạo người làm công tác thư viện bộ có điều kiện và khả năng hội nhập với thế giới;
Đối với viên chức thư viện-là lực lượng chủ chốt trong việc vận hành, quản lý
và đổi mới thư viện nên cần được bồi dưỡng nghiệp vụ, kiến thức công nghệ, nắm bắt
được kỹ thuật tổ chức nguồn thông tin-tri thức và các phương tiện tìm tin hiện đại, có tinh thần tự học, không ngừng mở rộng kiến thức, kỹ năng và vận dụng cho hoạt động: