Phật giáo là lá cờ đầu của phong trào nói trên nhưng chủ trương “giải thoát” hay giải phóng con người và xã hội của Phật giáo không phải bằng con đường đấu tranh giai cấp, cách mạng xã h
Trang 11
Phật giáo xuất hiện cách đây gần 3000 năm Đó là thời kỳ xã hội Ấn Độ xuất hiện hàng loạt các cuộc đấu tranh chống lại trật tự đẳng cấp của đạo Bà La môn đòi thực hiện công bằng, dân chủ, bình đẳng xã hội
Phật giáo là lá cờ đầu của phong trào nói trên nhưng chủ trương “giải thoát” hay giải phóng con người và xã hội của Phật giáo không phải bằng con đường đấu tranh giai cấp, cách mạng xã hội bằng bạo lực mà giải phóng con người, xã hội về mặt đời sống tâm linh
Nhân sinh quan trong triết học Ấn Độ luôn xuất phát từ quan niệm cho rằng, cuộc đời của con người là khổ đau Sự khổ đau ấy được bắt nguồn từ nghiệp chướng của kiếp trước Con người càng trải qua nhiều kiếp thì nỗi khổ càng chồng chất, còn gọi là luân hồi Từ đó triết học Ấn Độ đề ra nhiệm vụ đi tìm con đường giải thoát con người ra khỏi khổ đau Nguyên nhân cuối cùng của
sự khổ đau là ngu dốt (vô minh) Con đường giải thoát thông qua hiểu biết, tức
là thông qua nhận thức đúng đắn về hiện thực
Hiện thực mà chúng ta đang sống thực chất lại là ảo Và mọi thứ quanh ta cũng chỉ là ảo, cuối cùng mọi thứ lại trở về với hư không – tính chất bất biến của vạn vật trong vũ trụ Bởi sự vô minh của con người, không hiểu được bản chất
hư không của mọi thứ mà con người muốn bám víu lấy những điều đó, muốn nó mãi bên cạnh ta, và khi không đạt được điều đó thì cảm thấy đau khổ
Phật giáo đặt vấn đề tìm kiếm mục tiêu nhân sinh ở sự “giải thoát” khỏi vòng luân hồi, giải thoát khỏi đau khổ đó bằng việc nhân thức cái khổ trong đời sống Từ nhận thức cái khổ đó mà đi tìm cách thoát khỏi cái khổ Điều đó thể hiện qua thuyết “Tứ diệu đế” với ý nghĩa là 4 chân lý tuyệt đối, vĩnh cửu bất di bất dịch Bốn chân lý ấy là Thánh Đế
- Khổ đế: Phật giáo cho rằng cuộc đời là bể khổ Cái khổ của cuộc đời được tóm trong tám nỗi khổ, còn gọi là “Bát khổ” Ngoài 4 nỗi khổ: sinh, lão, bệnh, tử còn có:
+ Thụ biệt ly: yêu thương nhau mà phải xa nhau
+ Oán tăng hội: ghét nhau mà vẫn phải tụ hội với nhau
Trang 22
+ Sở cầu bất đắc: muốn mà không được
+ Ngũ thụ uẩn: khổ vì có sự tồn tại thân xác
- Nhân đế (còn gọi Tập đế): Mọi cái khổ đều có nguyên nhân Ở đây Phật đưa ra
12 nhân duyên (thập nhị nhân duyên):
+ Vô minh: không sáng suốt, không nhận thức được thế giới, sự vật hiên tượng đều là ảo giả, nhưng lại cứ cho đó là thực
+ Hành: chỉ hoạt động của ý thức, sự dao động của tâm, của khuynh hướng và
đã có manh nha của nghiệp Nói cách khác, là hoạt động của ý thức do áp lực của nghiệp
+ Thức: Tâm thức từ chỗ trong sáng, cân bằng (minh) trở nên ô nhiễm, mất cân bằng (vô minh) Cái tâm thức đó tuỳ theo nghiệp mà tìm đến các nhân duyên khác để hiện hình, thành ra một cuộc đời khác (ý thức ban đầu của bào thai) + Danh - sắc: Là sự hội họp của các yếu tố vật chất và tinh thần Đối với loại hữu tình, sự hội nhập của danh và sắc sinh ra lục căn, tức các cơ quan cảm giác: nhãn, nhĩ, tị, thiệt, thân, ý Sự kết hợp đó tạo nên tâm sinh lý sinh vật
+ Lục nhập: là quá trình tiếp xúc của lục căn với các hiện tượng của thế giới khách quan xung quanh, tức lục trần Lục căn tiếp xúc với Lục trần (sắc, hanh, hương, vị, xúc, pháp) tạo thành cảm giác
+ Xúc: là sự tiếp xúc, phối hợp giữa Lục căn, Lục trần và Thức
+ Thụ: là cảm thụ của con người khi tiếp xúc với thế giới bên ngoài, gây ra cảm giác sướng và khổ (khổ thụ và lạc thụ) Đó là sự trải nghiệm cảm giác
+ Ái: ái là yêu thích, ở đây chỉ sự tham vọng, dục vọng, tức là khát vọng được hưởng thụ cảm giác
+ Thủ: có “ái” rồi thì có “thủ”, tức là đã yêu thích rồi thì muốngiữ lấy, chiếm lấy Là sự bám víu vào sự hưởng thụ
+ Hữu: tiến tới xác định chủ thể chiếm hữu (cái ta) thì phải tồn tại (hữu) tức là
đã có hành động tạo nghiệp Nói cách khác, là ý nguyện được sinh ra
+ Sinh: Đã có tạo nghiệp (hữu), tức là khi đã có nghiệp nhân thì ắt có nghiệp quả, tức là phải sinh ra ta Tức là sinh và tái sinh
Trang 33
+ Lão - Tử: Đã có sinh tất có già và chết đi Sinh – Lão – Tử là kết quả cuối cùng của một quá trình nhưng đồng thời cũng là những nguyên nhân của một vòng luânhồi mới, từ vô sinh của cuộc đời khác
Từ 1 -> 2 là nhân quá khứ; 3 -> 7 là quả hiện tại; 8 -> 10 là nhân hiện tại; 11 ->
12 là quả tương lai Nói một cách khái quát về nguyên nhân gây ra khổ là bởi tam độc: tham, sân, si
- Diệt đế: Chân lý cao cả thứ ba là có một lối thoát cho khổ đau Ðây là chân lý cao cả về sự chấm dứt khổ, gọi là Niết bàn Một con người được cấu tạo do sáu giới: địa, thủy, hỏa, phong, không và thức Khi phân tích sáu giới họ thấy không
có gì là "của tôi" hay "tôi" hay "tự ngã của tôi" Họ hiểu ý thức xuất hiện và tan biến như thế nào, những cảm giác vui, khổ, không vui, không khổ xuất hiện và biến mất ra sao Do cái biết ấy, tâm họ hết bị ràng buộc Khi ấy họ khám phá trong mình một trạng thái bình an thuần tịnh gọi là tâm xả mà họ có thể vận dụng để tiến đạt đến bất kỳ cảnh giới tâm linh cao siêu nào, và họ biết trạng thái
xả thuần tịnh ấy có thể kéo dài rất lâu Nhưng họ nghĩ: "Nếu ta vận dụng xả thuần tịnh này hướng đến hư không vô biên và phát triển một tâm tương ứng với không vô biên ấy, thì đấy cũng chỉ là một tạo tác hữu vi của tâm thức Nếu ta vận dụng xả thuần tịnh này vào cõi thức vô biên vào cõi vô sở hữu (không có
gì cả) hay vào cõi phi phi tưởng (không có tri giác cũng không tri giác) và phát triển một tâm tương ứng, thì đấy cũng chỉ là một tạo tác của tâm thức." Khi ấy
họ không tạo tác gì bằng tâm thức, vì không muốn trở thành hay hủy diệt Vì tâm không tạo tác, không muốn hữu hoặc phi hữu, nên họ không bám víu gì ở thế gian, do không bám víu nên không lo ngại, do không lo ngại nên hoàn toàn lắng dịu, hoàn toàn bị thổi tắt Và họ biết: "Sự sinh đã chấm dứt, đời sống trong sạch đã được sống, cái gì phải làm đã được làm, không còn có gì nữa phải làm." Bấy giờ, mỗi khi cảm thọ một cảm giác vui, khổ hoặc không vui không khổ, vị
ấy biết cảm giác ấy vô thường, biết nó không trói buộc được mình, biết nó không phải được cảm thọ với dục vọng Dù bất cứ cảm giác gì, vị ấy cảm thọ mà
Trang 44
không bị trói buộc vào nóVị ấy biết rằng mọi cảm giác sẽ an tịnh khi thể xác tan
rã, cũng như ngọn đèn tắt khi dầu và bấc đã cháy hết
Phật giáo khẳng định cái khổ có thể tiêu diệt được, có thể chấm dứt được luân hồi để đến với Niết bàn, hưởng một cuộc sống bình an, hạnh phúc Muốn diệt khổ phải diệt tham, sân, si, diệt thập nhị nhân duyên, đưa trạng thái ý thức của con người về tĩnh lặng, hư không Nghĩa là mọi vật phát sinh đều tuỳ thuộc vào một số nguyên nhân và điều kiện Khi nhân bị loại bỏ thì quả không còn tồn tại
Vì mọi vật có điều kiện và tương đối nên chúng đều mang tính nhất thời, và đã
là nhất thời thì phải bị biến mất Cái gì đã được sinh ra thì phải chết Sự sinh bao hàm cả sự diệt vong Niết bàn có hai trạng thái hay còn gọi là hai cấp độ giải thoát: toàn phần và từng phần Niết bàn từng phần là từng bước loại bỏ tham sân
si
“Tham” là tham lam Ham muốn thái quá Đắm say, thích thú muốn có nhiều những thứ mình ưa thích như tiền tài, sắc đẹp, danh vọng v.v… Lòng ham
đó chẳng hề biết chán, càng được thời càng ham Tham cho mình, rồi tham cho
cả bà con quyến thuộc, quốc gia, xã hội của mình Cũng vì lòng tham, mà nhân loại tranh giành giết hại lẫn nhau Kẻ tham hay ghen ghét những người thành tựu
Nếu có tâm tham thời phải “tu tâm” ngay, phải tập tính “thiểu dục tri túc” Thiểu dục là muốn ít, tri túc là biết đủ Người thiểu dục, tri túc thì có một đời sống giản dị, thanh cao và an toàn vì biết đủ với những thứ mình đã có Bỏ dần lòng tham đi để đạt tới được “vô tham” Vô tham là không tham lam
Ở đời, có năm món dục lạc, mà người ta thường ham muốn nhất là: tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ “Ngũ trần dục lạc” ấy, thật ra, vui ít mà khổ nhiều Tham tiền thời phải đày đọa thân sống, đôi khi còn dùng những phương tiện bất chính để chiếm đoạt và khi mất thì lại đau khổ Đối với sắc đẹp nên quán thân là bất tịnh, tham sắc thì nhiều khi lại lao vào những mưu chước tồi tệ để thỏa lòng dục vọng Tham danh vọng, quyền tước thì phải vào luồn ra
Trang 55
cúi, lao tâm khổ trí Tham ăn uống cao lương mỹ vị thì bị nhiều bệnh khó trị, thân thể mệt nhọc, mạng sống không thọ Tham ngủ nghỉ thì trí não hóa đần độn Ngũ trần dục lạc đó chính là những nguyên nhân ràng buộc kiếp người vào vòng sinh tử, luân hồi, sa đọa
“Sân” là cơn giận, lòng giận dữ, nóng nảy, thù hận khi không vừa lòng, không được thỏa thích như ý muốn Bất bình vì bị xúc phạm, nhân đó làm những chuyện sai trái Sau cơn giận thời giữ lại lòng oán ghét tìm dịp mà trả thù
Sở dĩ sân sinh khởi là do lòng yêu thích “cái ta” hay thích “cái của ta” Nếu người ta mắng nhiếc, chê bai kẻ nào khác thời ta không thấy giận, nhưng nếu ai chửi bới hoặc khiển trách ta hay người thân của ta, hoặc làm tổn hại tài sản của ta lập tức ta cảm thấy khó chịu ngay Khi khó chịu tăng dần thời sẽ trở thành nóng giận Phải tu tâm để đạt tới “vô sân” Vô sân là không nóng nảy, hết giận hờn Chúng sinh bị qua nhiều kiếp sinh tử luân hồi chính vì không thắng nổi lòng sân Chư Phật được tự tại, giải thoát, là do dứt trừ được lòng sân tận gốc Điều khó nhất là diệt trừ phẫn nộ ngay từ trong tâm Khi tâm chúng ta không còn nghĩ đến giận hờn thì tự nhiên cơn phẫn nộ sẽ không bộc phát
“Si” là si mê, vô minh, ngu tối Người vô minh không sáng suốt, không suy xét hiểu biết đúng lẽ phải, đúng sự thật để phán đoán việc hay dở, tốt xấu, lợi hại v.v… nên mới làm những điều nhiễm ô tội lỗi, có hại cho mình và người Si, vô minh theo thế tục gọi là “dại” hay “ngu” Vô minh che lấp tâm trí, làm cho con người không còn nhìn thấy được những chất bợn nhơ đang gậm nhấm từ bên trong con người khiến các thói hư tật xấu ấy sẽ tăng dần và cuối cùng đưa con người vào con đường tội lỗi triền miên Đức Phật dạy rằng vô minh là điều ô trược tệ hại nhất Hãy dứt bỏ vô minh để trở thành người trong sạch
Thường thời không sợ “tham” và “sân” nổi lên, mà chỉ sợ mình tự giác ngộ chậm, chỉ sợ mình si mê, vô minh mà thôi Nếu “tham” và “sân” nổi lên, mà ta sáng suốt phán đoán kịp thời, không có si mê, thì tham sân kia cũng chẳng làm
gì được Người học Phật phải dẹp trừ lòng si mê của mình, lúc nào cũng phải sáng suốt đối với tất cả mọi việc, phải tu tâm để đạt được “vô si” Vô si là không
Trang 66
mờ ám, không si mê Đối với tất cả mọi việc, lúc nào cũng có trí tuệ sáng suốt, suy xét, phán đoán việc tà chính, hay dở, phải trái v.v… Do đó, việc làm mới chính đáng, tránh khỏi những điều tai hại, vừa lợi ích cho mình và vừa lợi ích cho người, ở hiện tại cũng như ở tương lai
- Đạo đế: Phật giáo chỉ ra con đường giải thoát, diệt khổ, tức là tiêu diệt tham, sân, si Con đường tiêu diệt vô minh gồm 8 con đường chính (gọi là Bát chính đạo) gồm:
+ Chính kiến: hiểu biết đúng đắn, nhất là Tứ diệu đế Phải có niềm tin đúng đắn + Chính tư duy: suy nghĩ đúng đắn để đạt tới chân lý và giác ngộ, từ đó đi đến quyết định đúng đắn
+ Chính nghiệp: hành động, làm việc đúng đắn, không làm điều gian ác, giả dối + Chính ngữ: chỉ nói những điều đúng đắn, điều phải, điều tốt; không nói điều xấu, điều ác
+ Chính mệnh: sống đúng đắn, trung thực, nhân nghĩa không tham lam, vụ lợi + Chính tinh tiến: nỗ lực, sáng suốt vươn lên một cách đúng đắn
+ Chính niệm: phải luôn tâm niệm và suy nghĩ đến đạo lý chân chính, đến điều tốt, không được nghĩ đến điều xấu xa, tà đạo
+ Chính định: kiên định tập trung tư tưởng, tam trí vào con đường đạo lý chân chính, không để bất cứ điều gì làm lay chuyển tâm trí, đạt tới giác ngộ
Tám nguyên tắc này có thể thâu tóm vào ba điều học tập, rèn luyện là Tam học: Giới - định – tuệ (tức là giữ giới luật, thực hành thiền định và khai thông trí tuệ) Giới luật gồm ngũ giới: không sát sinh (giới sát); không trộm cắp; không tham dục; không điêu toa; không uống rượu Tuệ là kết quả của “giới” và
“định”, tức là người tu hành đạt đến trình độ giác ngộ
Tư tưởng triết lý nhân sinh của Phật giáo nêu cao tinh thần từ bi, bác ái, đề cao giá trị về đạo đức văn hóa cũng như cổ vũ sự học tập, rèn luyện, phấn đấu vươn lên không ngừng nghỉ đối với con người và xã hội
Trang 77
Phật giáo luôn quan tâm đến nỗi khổ của con người Phật giáo là con đường, là chiếc bè pháp để giải thoát, từ đó giải phóng cho cá nhân mỗi người, cho nhân sinh bằng triết lý từ bi, hỷ xả
Tuy nhiên, phật giáo đã nhìn cuộc sống một cách bi quan Họ có nhận ra sự bất công trong xã hội nhưng con đường giải thoát mà Phật giáo đề ra là bất bạo động, phi hiện thực vì nó chỉ đưa tới sự giải thoát về mặt tinh thần cá nhân chứ không giải phóng khỏi áp bức
Phật giáo là một học thuyết triết học – tôn giáo có sự kế thừa một cách chọn lọc truyền thống tư tưởng Ấn Độ Cái thiện chân trong học thuyết này thể hiện như là một đức tính tốt đẹp mà ai cũng có thể đạt được Mỗi một con người muốn đạt được sự giải thoát phải thực sự nỗ lực trên cơ sở tự do lựa chọn của mình Tóm lại để khẳng định phẩm chất đạo đức cá nhân, con người phải chiến thắng chính bản thân mình! Trong Khổ đau và giải thoát ra khỏi nỗi khổ đó thì mọi người đều bình đẳng Phật là Phật đại thành Chúng sinh là Phật chưa thành.Tuy nhiên, xu hướng xuất thế, xa lánh cuộc sống thực tiễn trần thế là điểm yếu của Phật giáo Nó chỉ khuyến khích con người tu luyện theo cách hướng nội, làm thay đổi tâm lý cá nhân chứ không có mục đích cải tạo xã hội, cải tạo tự nhiên theo hướng tích cực Đó là xu hướng yếm thế của Phật giáo Việc thừa nhận sự tồn tại của khổ đau và không đề cập đến niềm vui, sự sung sướng trong cuộc đời con người là điểm yếu của Phật giáo, bởi quan niệm đó dẫn con người đến thái độ bi quan, không có niềm tin vào tương lai của cuộc sống