Tuy nhiên ngày nay khi nền kinh tế thị trường ngày một phát triển thì việc thanh toán bằng tiền mặt không còn đủ khả năng đáp ứng nhu cầu thanh toán của toàn bộ nền kinh tế, nó bộc lộ nh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
CHI NHÁNH ĐÔNG HÀ NỘI
SINH VIÊN THỰC HIỆN : NGUYỄN MAI TRANG
HÀ NỘI - 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
CHI NHÁNH ĐÔNG HÀ NỘI
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, điều đầu tiên em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến giáo viên hướng dẫn của em cô Nguyễn Thị Thúy, cô đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn giúp đỡ em trong suốt thời gian làm khóa luận để em có thể hoàn thành khóa luận với kết quả tốt nhất Một lần nữa em xin được cảm ơn cô
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trường Đại học Thăng Long nói chung và các thầy cô bộ môn kinh tế nói riêng đã truyền đạt cho em những kiến thức hữu ích trong suốt 4 năm học vừa qua Những kiến thức quý giá ấy không chỉ giúp em trong việc nghiên cứu khóa luận mà còn là hành trang kiến thức để em có thể vững bước trên con đường tương lai phía trước
Em xin được gửi lời cảm ơn đến các anh chị công nhân viên của ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương – chi nhánh Đông Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi
để em được thực tập tại chi nhánh, đồng thời trong quá trình thực tập cảm ơn các anh chị đã chỉ bảo cho em nhiều điều về chuyên môn, nghiệp vụ cơ bản, động viên khích lệ
em nỗ lực cố gắng Em xin cảm ơn các anh Đỗ Mạnh Tường – phó giám đốc chi nhánh
đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong việc thu thập số liệu thông tin
Đặc biệt nhất em xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình em Cảm ơn bố
mẹ đã sinh thành và nuôi nấng con khôn lớn như ngày hôm nay, cảm ơn ông bà và hai bác đã dạy bảo con nên người, bao dung cho những lỗi lầm con gây ra, chỉ cho con những điều hay lẽ phải, những điều nên và không nên trong cuộc sống để con được trưởng thành như ngày hôm nay Con vô cùng biết ơn, yêu quý và kính trọng mọi người
Cuối cùng em xin được kính chúc các thầy cô trường Đại học Thăng Long luôn dồi dào sức khỏe, tràn đầy nhiệt huyết trong công việc Đồng kính chúc các cô, chú, anh, chị trong NHTMCP Công Thương – chi nhánh Đông Hà Nội mạnh khỏe, thành công trong công việc
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Mai Trang
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp này là do tự bản thân tôi thực hiện dưới
sự hỗ trợ của giáo viên hướng dẫn và không sao chép từ công trình nghiên cứu của người khác Các thông tin và dữ liệu thứ cấp có nguồn và được trích dẫn rõ ràng
Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
Hà Nội, ngày 27 tháng 10 năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Mai Trang
Trang 5MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN DỀ CƠ BAN VỀ PHAT TRIỂN THANH TOÁN
KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1
1.1 Tổng quan về thanh toán không dùng tiền mặt 1
1.1.1 Khái niệm thanh toán không dùng tiền mặt 1
1.1.2 Đặc điểm thanh toán không dùng tiền mặt 2
1.1.3 Nguyên tắc thanh toán không dùng tiền mặt 3
1.1.4 Các thành phần tham gia thanh toán không dùng tiền mặt 5
1.1.5 Vai trò của thanh toán không dùng tiền mặt 5
1.1.6 Các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt 7
1.1.7 Những rủi ro phát sinh trong thanh toán không dùng tiền mặt 20
1.2 Phát triển thanh toán không dùng tiền mặt của ngân hàng thương mại 22
1.2.1.Khái niệm phát triển thanh toán không dùng tiền mặt 22
1.2.2.Sự cần thiết phải phát triển thanh toán không dùng tiền mặt 22
1.2.3.Các chỉ tiêu đánh giá phát triển thanh toán không dùng tiền mặt 23
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển thanh toán không dùng tiền mặt 27
1.3.1 Nhân tố kiểm soát được 27
1.3.2 Nhân tố không kiểm soát được 28
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 31
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHAT TRIỂN THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG CHI NHANH ĐÔNG HÀ NỘI 32
2.1 Tổng quan về Ngân hàng Thương mại cổ phần Công Thương – Chi nhánh Đông Hà Nội 32
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng Thương mại cổ phần Công Thương 32
2.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng Thương mại cổ phần Công Thương, chi nhánh Đông Hà Nội 34
2.1.3 Cơ cấu tổ chức Ngân hàng Thương mại cổ phần Công Thương – Chi nhánh Đông Hà Nội 35
2.1.4 Chức năng nhiệm vụ các phòng ban 35
2.1.5 Kết quả kinh doanh của ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương chi nhánh Đông Hà Nội 38
2.2 Thực trạng thanh toán không dùng tiền mặt tại ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương – chi nhánh Đông Hà Nội 58
Trang 62.2.1 Các quy định về thanh toán không dùng tiền mặt của ngân hàng thương mại cổ
phần Công Thương – chi nhánh Đông Hà Nội 58
2.2.2 Thực trạng thanh toán không dùng tiền mặt tại ngân hàng thương mại cổ phần công thương – chi nhánh Đông Hà Nội 60
2.2.3 Kết quả thanh toán không dùng tiền mặt tại ngân hàng công thương – chi nhánh Đông Hà Nội 64
2.3 Phát triển dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt tại ngân hàng thương mại cổ phần công thương – chi nhánh Đông Hà Nội 66
2.3.1 Chỉ tiêu định tính 66
2.3.2 Chỉ tiêu định lượng 69
2.4 Đánh giá thực trạng phát triển thanh toán không dùng tiền mặt của ngân hàng công thương- phòng giao dịch Yên Viên 76
2.4.1 Kết quả đạt được 76
2.4.2 Hạn chế 78
2.4.3 Nguyên nhân 79
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 81
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG CHI NHÁNH ĐÔNG HÀ NỘI 82
3.1 Định hướng hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương – Chi nhánh Đông Hà Nội 82
3.1.1 Về chiến lược kinh doanh 82
3.1.2 Về công tác huy động vốn 82
3.1.3 Về hoạt động tín dụng 82
3.1.4 Về công tác khách hàng 83
3.1.5 Về chất lượng nguồn nhân lực 83
3.1.6 Về tuyên truyền quảng bá 83
3.1.8 Phát triển thương hiệu 83
3.2 Định hướng phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương – chi nhánh Đông Hà Nội 84
3.3 Giải pháp phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương – chi nhánh Đông Hà Nội 85
3.3.1 Giải pháp cụ thể đối với từng phương thức thanh toán không dùng tiền mặt 85
3.3.2 Giải pháp về phát triển công nghệ 87
3.3.3 Xây dựng chiến lược khách hàng 89
3.3.4 Giải pháp phát triển nguồn lực 90
3.3.5 Giải pháp đối với nhưng nơi thu thêm phụ phí sử dụng máy POS 93
Trang 73.3.6 Phát triển maketing ngân hàng 93
3.4 Một số kiến nghị 94
3.4.1 Kiến nghị với chính phủ 94
3.4.2 Kiến nghị đối với ngân hàng Nhà nước 94
3.4.3 Kiến nghị đối với ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương 96
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 97 KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
Bảng 2.1 Tình hình huy động vốn của Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương
Chi nhánh Đông Hà Nội 2012-2014 46
Bảng 2.2 Tình hình dư nợ cho vay của Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương – Chi nhánh Đông Hà Nội 2012-2014 52
Bảng 2.3 Tình hình bảo lãnh của Ngân hàng thương mại cổ phần 54
Công Thương – Chi nhánh Đông Hà Nội 54
Bảng 2.4 Số món nhận ủy thác của Ngân hàng thương mại cổ phần
Công Thương – Chi nhánh Đông Hà Nội 56
Bảng 2.5 Kết quả kinh doanh của Ngân hàng thương mại cổ phần 57
Công Thương – Chi nhánh Đông Hà Nội giai đoạn 2012-2014 57
Bảng 2.6.Tỷ trọng doanh số các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt 61
Bảng 2.7 Kết quả thanh toán không dùng tiền mặt tại Ngân hàng thương mại
cổ phần Công Thương – chi nhánh Đông Hà Nội 64
Bảng 2.8 Mức độ gia tăng doanh số thánh toán không dùng tiền mặt của 69
Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương– chi nhánh Đông Hà Nội 69
Bảng 2.9 Số món của các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt của Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương – chi nhánh Đông Hà Nội 72
Bảng 2.10 Thu nhập từ hoạt động thanh toán tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương - chi nhánh Đông Hà Nội giai đoạn 2012-2014 74
Bảng 2.11 Số lượng các máy ATM, POS trên địa bàn hoạt động của Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương – CN Đông Hà Nội 75
Bảng 2.12 Chi phí đầu tư cho hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt của Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương – chi nhánh Đông Hà Nội 76
Biểu đồ 2.1 Tình hình huy động vốn của Ngân hàng thương mại cổ phần
Công Thương – Chi nhánh Đông Hà Nội 2012-2014 40
Biểu đồ 2.2 Tình hình huy động vốn theo kì hạn của Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương – Chi nhánh Đông Hà Nội giai đoạn 2012-2014 41
Biểu đồ 2.3 Tình hình huy động vốn theo đối tượng gửi tiền của Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương – chi nhánh Đông Hà Nội 2012-2014 42
Biểu đồ 2.4.Thể hiện tổng nguồn vốn sử dụng 2012-2014 47
Biểu đồ 2.5 Thể hiện tình hình dư nợ cho vay 2012-2014 48
Trang 10Biểu đồ 2.6 Tỷ trọng số món của các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt của
Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương – chi nhánh Đông Hà Nội 73
Sơ đồ 1.1 Quy trình thanh toán séc chuyển khoản qua 2 ngân hàng 10
Sơ đồ 1.2 Thanh toán ủy nhiệm thu qua hai ngân hàng 13
Sơ đồ 1.3 Sơ đồ luân chuyển ủy nhiệm chi qua hai ngân hàng 14
Sơ đồ 1.4 Quy trình thanh toán thẻ 19
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức NHTMCP Công Thương – Chi nhánh Đông Hà Nội 35
Trang 11LỜI MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế là xu hướng tất yếu của thế giới, là đích hướng tới của mỗi quốc gia Và Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế chung đó, Việt Nam
đã và đang có những bước phát triển chuyển mình mạnh mẽ để bắt kịp guồng quay chung của nền kinh tế thế giới Đứng trước xu thế hội nhập kinh tế khu vực và thế giới diễn ra ngày càng mạnh mẽ và rộng khắp, các ngân hàng thương mại (NHTM) không chỉ chịu áp lực cạnh tranh từ các ngân hàng trong nước mà còn có sự cạnh tranh của các ngân hàng nước ngoài Do đó để tồn tại và phát triển được đòi hỏi các NHTM Việt Nam phải vươn lên mạnh mẽ, phấn đấu giữ vững và phát triển những lợi thế đồng thời khắc phục những hạn chế trong các hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Ngoài các nghiệp vụ huy động vốn, cho vay thì việc nghiên cứu phát triển các loại hình dịch vụ là vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt, trong đó nghiệp vụ thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) là biện pháp có tính thời sự vừa có tính chiến lược quyết định xu thế cạnh tranh và hội nhập của các NHTM Thực hiện tốt công tác này sẽ giúp cho việc chu chuyển vốn được diễn ra nhanh chóng, kịp thời, chính xác, và an toàn giúp các doanh nghiệp có vốn để để quay vòng sản xuất kinh doanh TTKDTM qua ngân hàng là một hình thức phong phú đa dạng và không ngừng phát triển qua thời gian
NHTM được coi là xương sống là huyết mạch của nền kinh tế, có tầm quan trọng đặc biệt góp phần tăng trưởng kinh tế đất nước Có thể thấy trong thời gian qua hệ thống NHTM Việt Nam đã từng bước phát triển và đổi mới Tuy nhiên sự phát triển đó còn nhiều bất cập và chưa thực sự bền vững Vì vậy chúng ta cần từng bước tạo lập hệ thống ngân hàng Việt Nam lớn mạnh cả về năng lực hoạch định chính sách, năng lực quản lí, cũng như mạnh về trình độ công nghệ hiện đại để có thể bắt kịp với nền kinh
tế thị trường Trong quá trình đó chúng ta không thể phủ nhận vai trò của hoạt động thanh toán qua ngân hàng, đặc biệt là hoạt động TTKDTM Thông qua đó tạo điều kiện đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước Vì vậy trong nhu cầu của nền kinh tế thị trường đòi hỏi mỗi NHTM cần phải phát triển hoạt động TTKDTM, sử dụng linh hoạt đa dạng các hình thức thanh toán Nhận thức được tầm quan trọng của TTKDTM trong thời gian thực tập tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương – chi nhánh Đông Hà Nội em đã lựa chọn đề tài “ Phát triển TTKDTM tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương – chi nhánh Đông Hà Nội” làm đề tài khóa luận của mình
Trang 121.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống cơ sở lý luận về TTKDTM
- Phân tích, đánh giá làm rõ thực trạng phát triển TTKDTM của Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương – chi nhánh Đông Hà Nội trong giai đoạn 2012-2014, để từ đó tìm ra các hạn chế trong việc phát triển TTKDTM, đồng thời xác định các nguyên nhân gây ra các hạn chế Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương – chi nhánh Đông Hà Nội
- Đề xuất giải pháp kiến nghị phát triển TTKDTM của Ngân hàng thương mại
cổ phần Công Thương – chi nhánh Đông Hà Nội
1.3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: “Phát triển TTKDTM tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương – chi nhánh Đông Hà Nội”
Phạm vi nghiên cứu là: Giai đoạn 2012-2014 của Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương – chi nhánh Đông Hà Nội
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Thu thập số liệu thông tin từ Báo cáo tài chính tình hình huy động vốn và cho vay, kết quả hoạt động kinh doanh, thực trạng phát triển TTKDTM trong 3 năm gần đây (2012-2014) của Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương – chi nhánh Đông
Hà Nội
Sử dụng các phương pháp thống kê, phân tích, so sánh, cùng với việc đưa ra các chỉ tiêu định tính, định lượng để đánh giá phát triển TTKDTM tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương – chi nhánh Đông Hà Nội”
1.5 Kết cấu của khóa luận
Ngoài lời mở đầu, lời kết, danh mục viết tắt, danh mục bảng biểu, biểu đồ, sơ đồ Khóa luận được kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về phát triển thanh toán không dùng tiền mặt của Ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương – chi nhánh Đông Hà Nội
Chương 3: Giải pháp phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương – chi nhánh Đông Hà Nội
Trang 131
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BÀN VỀ PHÁT TRIỂN THANH TOÁN KHÔNG
DÙNG TIỀN MẶT CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Tổng quan về thanh toán không dùng tiền mặt
1.1.1 Khái niệm thanh toán không dùng tiền mặt
Trong nền kinh tế thị trường để thực hiện các giao dịch, quan hệ thanh toán lẫn nhau phải sử dụng hình thức tiền tệ, vì vậy thanh toán tiền tệ là yêu cầu khách quan và cần thiết đối với xã hội Thanh toán tiền tệ được thực hiện dưới hai hình thức: thanh toán dùng tiền mặt và thanh toán không dùng tiền mặt Thanh toán bằng tiền mặt là việc chi trả tiền mặt trực tiếp giữa nhân dân với nhau, giữa các xí nghiệp, cơ quan Nhà nước với nhân dân,…sau khi xuất chuyển hàng hóa, dịch vụ cho người mua thì người bán nhận được tiền ngay và quá trình thanh toán cũng chấm dứt ở đó Tuy nhiên ngày nay khi nền kinh tế thị trường ngày một phát triển thì việc thanh toán bằng tiền mặt không còn đủ khả năng đáp ứng nhu cầu thanh toán của toàn bộ nền kinh tế, nó bộc lộ những hạn chế nhất định như: khó giao dịch với số lượng lớn, độ an toàn không cao,…Ví dụ: nếu các doanh nghiệp làm ăn lớn thì mỗi lần giao dịch số tiền chi trả hàng hóa sẽ rất lớn có thể lên đến vài trăm tỷ, thậm chí vài tỷ đồng, với số tiền lớn như vậy nếu thanh toán trực tiếp trong quá trình vận chuyển sẽ gặp nhiều khó khăn và nguy hiểm như: bị kẻ gian theo dõi ăn cắp, rủi ro bị thừa, thiếu tiền,…Từ thực tế khách quan trên đòi hỏi phải ra đời một phương thức thanh toán mới tiên tiến, hiện đại hơn mà vẫn phải đảm bảo độ an toàn, và hiệu quả trong hoạt động thanh toán Bên cạnh đó với sự phát triển vượt bậc của hệ thống ngân hàng, các công cụ thanh toán đã được ngân hàng nghiên cứu đưa ra để khách hàng lựa chọn cho mình một hình thức thanh toán phù hợp thay cho thanh toán bằng tiền mặt Hình thức thanh toán không dùng tiền mặt phát sinh
từ đó
“Thanh toán không dùng tiền mặt là cách thức thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ không có sự xuất hiện của tiền mặt mà được thực hiện bằng cách chuyển một số tiền từ tài khoản của người chi trả chuyển vào tài khoản người thụ hưởng, hoặc bằng cách bù trừ công nợ, mà không sử dụng đến tiền mặt thông qua vai trò trung gian của các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán”
(Nguồn: Nguyễn Thị Thanh Thủy, (2014), “Giáo trình nghiệp vụ thanh toán”,
NXB Lao Động, trang 123)
Thanh toán không dùng tiền mặt thường được các NHTM áp dụng cho các khoản chi trả có giá trị giữa doanh nghiệp và cá nhân Vì vậy tăng tỷ trọng thanh toán không dùng tiền mặt không chỉ có ý nghĩa về việc giảm bớt được lượng tiền trong lưu thông,
mà còn giúp cho công tác quản lý tài sản của doanh nghiệp được tốt hơn vì doanh
Trang 14nghiệp không cần phải mất không gian để cất trữ tiền, tốn chi phí thuê người bảo vệ kho tiền, điều này làm giảm chi phí cho doanh nghiệp, đồng thời tiền gửi trong tài khoản ngân hàng có độ an toàn cao, tránh được rủi ro bị kẻ gian đột nhập ăn cắp…Trên cơ sở tiền gửi, các khoản thanh toán được thực hiện qua ngân hàng đã giúp cho doanh nghiệp, các cơ quan quản lý như: bộ chủ quản, cơ quan thuế có điều kiện kiểm tra, giám sát được doanh thu, chi phí, kết quả kinh doanh một cách chính xác, bởi
lẽ khi doanh nghiệp thanh toán tiền hàng, ngân hàng sẽ trực tiếp trích chuyển tiền trong tài khoản tiền gửi của doanh nghiệp chuyển cho người thụ hưởng, ngân hàng là bên thứ ba tham gia quá trình thanh toán, đồng thời cũng là người giám sát hoạt động thanh toán, nếu doanh nghiệp chi trả sai mục đích sẽ không được ngân hàng chấp nhận thanh toán…
Thanh toán không dùng tiền mặt ra đời đã thỏa mãn được nhu cầu giao dịch thương mại của nền kinh tế, giảm bớt được lượng tiền mặt, giảm bớt được chi phí lưu thông xã hội, tăng tốc độ chu chuyển hàng hóa, chu chuyển vốn từ đó nâng cao tính hiệu quả của nền kinh tế sản xuất Điều này rất có ý nghĩa đối với việc thực thi chính sách tiền tệ, vì khi nền kinh tế có quá nhiều tiền lưu thông sẽ gây ra tình trạng người dân có quá nhiều tiền trong tay Ngoàira thanh toán không dùng tiền mặt còn giúp cho NHTM áp dụng được công cụ mới, công cụ tài khoản khách hàng để theo dõi, ghi chép tất cả các dịch vụ của ngân hàng về tiền tệ, tín dụng, và thanh toán toàn bộ bằng tiền ghi sổ thay cho tiền mặt
(Nguồn: Nguyễn Thị Thanh Thủy, (2014), “Giáo trình nghiệp vụ thanh toán”,
NXB Lao Động, trang 123)
1.1.2 Đặc điểm thanh toán không dùng tiền mặt
Thứ nhất: Trong TTKDTM, việc thanh toán không sử dụng tiền mặt, mà sử
dụng tiền ghi sổ Đây là đặc điểm cơ bản nhất của TTKDTM, việc thanh toán được thực hiện bằng cách trích chuyển tiền từ tài khoản của người trả tiền vào tài khoản của người thụ hưởng tại ngân hàng Vì vậy để tiến hành thanh toán qua trung gian ngân hàng, các chủ thể tham gia thanh toán bắt buộc phải mở tài khoản tại ngân hàng
Để hiểu rõ hơn ta xét một ví dụ điển hình trong mua hàng: Sau khi người bán giao hàng hoặc chuyển giao quyền sở hữu cho người mua, do số tiền thanh toán tương đối lớn hoặc do mua bán online qua mạng nên thay vì thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt, người mua muốn thanh toán cho người bán bằng phương thức TTKDTM để đảm bảo an toàn và nhanh chóng dưới các hình thức như thẻ, UNC,… thì lúc này ngân hàng
sẽ là trung gian thanh toán trích chuyển tiền từ tài khoản của người mua chuyển vào tài khoản của người bán theo lệnh của người mua Ngân hàng báo có cho tài khoản của người bán và báo nợ cho tài khoản của người mua Như vậy trong việc thanh toán này
Trang 153
người bán và người mua không cần gặp mặt để trao và nhận tiền mà vẫn hoàn thanh việc thanh toán
Thứ hai: Mỗi khoản thanh toán phải có ít nhất ba bên tham gia: đó là người trả
tiền, người nhận tiền, và tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán
Trong thanh toán bằng tiền mặt thông thường, việc thanh toán chỉ diễn ra giữa người mua và người bán, còn trong TTKDTM thì việc thanh toán cần thêm trung gian thanh toán thường là các NHTM Ngân hàng đứng ra trích chuyển tiền từ tài khoản của người mua chuyển sang tài khoản của người bán theo lệnh của người mua Nếu người bán và người mua cùng mở tài khoản tại một ngân hàng, thì lúc này quá trình thanh toán sẽ có 3 bên tham gia đó là người mua, người bán, và ngân hàng Còn nếu người mua và người bán mở tài khoản tại 2 ngân hàng khác hệ thống thì lúc này quá trình thanh toán sẽ có 4 bên tham gia đó là người mua, người bán, ngân hàng phục vụ người mua và ngân hàng phục vụ người bán Chính vì vậy ta nói quá trình thanh toán cần ít nhất 3 bên tham gia thanh toán
(Nguồn: Nguyễn Thị Thanh Thủy, (2014), “Giáo trình nghiệp vụ thanh toán”,
NXB Lao Động, trang 124)
1.1.3 Nguyên tắc thanh toán không dùng tiền mặt
Thanh toán không dùng tiền mặt phản ánh mối quan hệ kinh tế pháp lý trong thanh toán tiền, hàng hóa, dịch vụ, nên trong quá trình thanh toán, các bên tham gia cần tuân thủ những quy tắc sau:
Thứ nhất: các chủ thể tham gia thanh toán (kể cả pháp nhân hay thể nhân) đều
phải mở tài khoản thanh toán tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán (gồm: tài khoản trả tiền, tài khoản của bên nhận tiền, tài khoản trung gian thanh toán), và được quyền lựa chọn tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán để mở tài khoản mỗi tài khoản phải có
ba bên tham gia gồm người trả tiền, người nhận tiền và trung gian thanh toán Khi thanh toán phải thực hiện thanh toán thông qua tài khoản mở theo đúng chế độ quy định và phải trả phí thanh toán theo quy định của ngân hàng Ví dụ nếu một người muốn sử dụng dịch vụ chuyển tiền trong nước của ngân hàng Vietcapital Bank thì người đó phải mở tài khoản tại ngân hàng Vietcapital Bank và phải chịu phí tuân theo quy định của ngân hàng Nếu chuyển tiền giữa 2 ngân hàng trong cùng hệ thống thì mức phí là 0,03%/số tiền chuyển, còn nếu khác hệ thống và trước 15 giờ phí vẫn được tính là 0,03%/số tiền chuyển và sau 15 giờ là 0,05% trên số tiền chuyển Trường hợp đồng tiền thanh toán là ngoại tệ thì phải tuân theo quy định quản lý ngoại hối của Nhà nước Từ ngày 5/10/2015 giao dịch ngoại tệ với ngân hàng phải xuất trình giấy tờ và chứng từ chứng minh mục đích, số lượng, loại ngoại tệ thời hạn thanh toán theo quy định hiện hành về quản lý ngoại hối Cùng với đó, Ngân hàng Nhà nước cũng quy định
Trang 16chặt chẽ số ngày trong giao dịch ngoại tệ Đây là một nội dung quan trọng trong thông
tư số 15/2015 của thống đốc NHNN mới ban hành, hướng dẫn giao dịch ngoại tệ trên thị trường ngoại tệ của các tổ chức tín dụng được phép hoạt động trên thị trường ngoại hối
Thứ hai: Số tiền thanh toán phải dựa trên số lượng hàng hóa, dịch vụ đã giao
giữa người mua và người bán Nếu người mua chậm trễ thanh toán hoặc vi phạm thì phải chịu phạt theo chế độ thanh toán hiện hành
Thứ ba: Người bán phải có trách nhiệm giao hàng hay cung cấp dịch vụ kịp thời
và đúng với lượng giá trị mà người mua đã thanh toán Nếu người nhận tiền là người bán thì cơ sở được nhận tiền là hợp đồng kinh tế hoặc đơn đặt hàng Nếu người nhận là
tổ chức tài chính thì cơ sở để được nhận tiền sẽ là quyết định phân phối vốn của cấp trên Nếu người nhận tiền với tư cách chủ nợ thì cơ sở nhận tiền sẽ là hợp đồng kinh
tế, kế ước vay nợ
Thứ tư: Là trung gian thanh toán giữa người mua và người bán, các tổ chức cung
ứng dịch vụ thanh toán phải thực hiện đúng vai trò trung gian thanh toán:
- Các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán phải có trách nhiệm hướng dẫn khách hàng mở tài khoản, cung cấp đầy đủ chứng từ sử dụng trong quá trình thanh toán cho khách hàng Đồng thời giúp người trả tiền và người nhận tiền thực hiện giám sát các điều kiện đã thỏa thuận
- Chỉ trích tiền từ tài khoản người chi trả vào tài khoản người thụ hưởng khi có lệnh của người trả tiền (thể hiện trên các chứng từ thanh toán) Trường hợp không có lệnh của người trả tiền (không có chữ ký của chủ tài khoản trên chứng từ) chỉ áp dụng cho một số hình thức thanh toán như ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, hay lệnh của tòa án kinh tế
- Tổ chức hạch toán, và chuyển chứng từ thanh toán một cách nhanh chóng, chính xác Nếu hạch toán thiếu chính xác gây thiệt hại cho khách hàng, tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán phải chịu trách nhiệm bồi thường cho khách hàng
Thứ năm: Các chứng từ thanh toán phải được lập theo mẫu quy định
Trong thanh toán không dùng tiền mặt, chứng từ thanh toán là những phương tiện chuyển tải những điều kiện thanh toán và làm căn cứ để thực hiện chi trả
Công cụ thanh toán bao gồm các lệnh thu, lệnh chi do chính người nhận hoặc người trả tiền lập ra Người trả tiền lập các chứng từ ủy nhiệm chi, séc,… người nhận tiền lập các chứng từ ủy nhiệm thu, bảng kê nộp séc, bảng kê hóa đơn chứng từ bán hàng nếu trong thanh toán thư tín dụng
Trang 175
Bất kì lệnh thu hay lệnh chi nào cũng phải chứa đựng những yếu tố cơ bản là tên, địa chỉ người trả tiền, người nhận tiền, số tiền trả, lý do trả chữ ký và con dấu của những người có trách nhiệm như kế toán trưởng, chủ tài khoản,… Và phải lập theo mẫu thống nhất do ngân hàng cung cấp
Những nguyên tắc trên đây nhằm đảm bảo quá trình thanh toán được an toàn, và giúp ngân hàng kiểm soát được các hoạt động của chủ thể thanh toán trong nền kinh tế
(Nguồn: Nguyễn Thị Thanh Thủy, (2014), “Giáo trình nghiệp vụ thanh toán”,
NXB Lao Động, trang 125)
1.1.4 Các thành phần tham gia thanh toán không dùng tiền mặt
Người trả tiền: có thể là người mua, người sử dụng dịch vụ, người nộp thuế, hay
người có ý định chuyển nhượng một khoản tiền cho một người khác Người trả tiền có trách nhiệm trả tiền đúng thời hạn, và tôn trọng những thủ tục cần thiết như: làm, nộp chứng từ theo mẫu quy định và thời gian quy định Người trả tiền có quyền từ chối thanh toán nếu các bên tham gia còn lại vi phạm những cam kết hợp đồng thoả thuận giữa hai bên
Người nhận tiền (người thụ hưởng): là người bán hàng, người cung cấp dịch vụ
hay do luật định, hoặc thiện chí của người khác,…
Các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán: ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu
tư, kho bạc Nhà nước, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán, công ty tài chính,…
(Nguồn: Nguyễn Thị Thanh Thủy, (2014), “Giáo trình nghiệp vụ thanh toán”,
Thanh toán không dùng tiền mặt sẽ giúp quá trình giao dịch thanh toán nhanh chóng, giúp khách hàng rút ngắn thời gian quay vòng vốn, thúc đẩy quá trình sản xuất hiệu quả, bởi lẽ thay vì khách hàng phải chuyển tiền tận tay người thụ hưởng thì khi khách hàng sử dụng thanh toán không dùng tiền mặt, khách hàng chỉ mất vài phút để ngân hàng chuyển tiền từ tài khoản của khách hàng sang cho người thụ hưởng, quá trình thanh toán này dựa trên các lệnh trên máy tính nên diễn ra vô cùng nhanh chóng, đem lại sự tiện lợi cho khách hàng Ngoài ra khách hàng còn được hưởng những ưu đãi
Trang 18và tiện ích đi kèm khi tham gia loại hình thanh toán này như: được hưởng chiết khấu khi thanh toán bằng thẻ ghi nợ hoặc thẻ tín dụng nội địa,…Và tại cơ sở chấp nhận thẻ, thì khách hàng được hưởng lãi từ tài khoản tiền gửi thanh toán của mình, nghĩa là khi mình gửi tiền vào tài khoản tiền gửi thanh toán của ngân hàng, và trong thời gian khách hàng chưa sử dụng đến khoản tiền đó thì khách hàng vẫn nhận được lãi từ khoản tiền đó
Ví dụ như: hầu hết các NHTM hiện nay đều áp dụng mức lãi suất 1%/năm cho khách hàng khi gửi tiền vào tài khoản thanh toán Đây là mức lãi suất không kì hạn mà khách hàng được hưởng trên số dư tài khoản thanh toán của mình tại ngân hàng Các NHTM đặt mức lãi suất này thấp là vì mục đích khách hàng trong trường hợp này không phải là hưởng lãi tiết kiệm mà là để thanh toán, và hầu hết khách hàng thường không mấy quan tâm đến mức lãi suất này, với lãi suất 1%/năm trên số dư tài khoản thanh toán của khách hàng thì số tiền lãi khá nhỏ nhưng cũng phần nào làm tăng thu nhập cho khách hàng
1.1.5.2 Đối với ngân hàng thương mại
Khi có nhu cầu dịch vụ, khách hàng bắt buộc phải mở tài khoản tiền gửi tại ngân hàng, và ký thác vốn vào đó Điều này giúp cho ngân hàng kiểm soát được một phần lượng tiền của nền kinh tế và rút bớt được một khối lượng tiền mặt trong lưu thông, tiết kiệm được nhiều chi phí cho xã hội (chi phí in ấn, vận chuyển, bảo quản,…)
Thông qua tài khoản tiền gửi thanh toán, NHTM sẽ kiểm soát được tình hình biến động số dư tài khoản của khách hàng, đánh giá được khả năng tài chính và uy tín của khách hàng, từ đó làm căn cứ cho vay và thu hồi nợ nếu khách hàng có nhu cầu vay vốn của ngân hàng Thêm vào đó thanh toán không dùng tiền mặt mang lại nguồn thu
ổn định cho ngân hàng thông qua việc thu lãi và phí Đồng thời khi khách hàng gửi tiền trong tài khoản tiền gửi thanh toán của ngân hàng thì đây cũng chính là nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế, nếu ngân hàng có thể tận dụng được nguồn vốn này để phát triển sản xuất một cách có hiệu quả thì sẽ mang lại lợi ích lớn cho ngân hàng nói riêng và nền kinh tế nói chung
1.1.5.3 Đối với ngân hàng trung ương
Đối với ngân hàng trung ương, việc gia tăng tỷ trọng thanh toán không dùng tiền mặt sẽ làm giảm bớt lượng tiền lưu thông, giảm bớt chi phí in ấn, phát hành, chi phí bảo quản cất trữ,…giúp ngân hàng quản lý tốt chính sách tiền tệ, điều tiết được lượng tiền cung ứng trong lưu thông để phù hợp với chính sách tiền tệ thắt chặt hay mở rộng trong từng thời kì, đồng thời đảm bảo ổn định sức mua của đồng tiền
Trang 197
1.1.5.4 Đối với nền kinh tế
Đối với nền kinh tế đang ngày càng phát triển, thanh toán không dùng tiền mặt
đã trở thành một mắt xích không thể thiếu trong dây truyền sản xuất và lưu thông hàng hóa TTKDTM hiện nay đã phần nào đáp ứng được nhu cầu thanh toán của nền kinh
tế, giúp đẩy nhanh quá trình thanh toán, tiết kiệm thời gian, chi phí, thúc đẩy sản xuất, đẩy nhanh quá trình lưu thông hàng hóa, TTKDTM đã trở thành một hoạt động không thể tách rời đối với sự phát triển kinh tế của quốc gia
1.1.6 Các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt
1.1.6.1 Thanh toán bằng séc
Khái niệm
Theo ULC 1931: “Séc là lệnh trả tiền vô điều kiện do chủ tài khoản (khách hàng của ngân hàng) lập trên mẫu in sẵn của ngân hàng quy định ký phát ra lệnh cho ngân hàng hoặc tổ chức cung ứng dịch vụ trích một số tiền nhất định từ tài khoản của mình
để trả cho người thụ hưởng có tên ghi trên séc, hoặc người cầm séc”
Các chủ thể tham gia thanh toán séc
Người ký phát: là người chủ tài khoản thanh toán tại ngân hàng, là người ký tên
trên tờ séc, để ra lệnh cho người thực hiện thanh toán thay mặt mình trả số tiền ghi trên séc Nghĩa vụ của người ký phát là đảm bảo số dư trên tài khoản của mình để đủ thanh toán toàn bộ số tiền trên séc, thông thường số tiền ghi trên tờ séc không được vươt quá
số dư tài khoản, ngoại trừ trường hợp người chủ tài khoản được ngân hàng cho vay theo thể rút vượt (hay ngân hàng cho phép thực hiện nghiệp vụ thấu chi đối với chủ tài khoản) Người ký phát phải chịu mọi trách nhiệm do lỗi của mình gây ra hoặc để séc
bị lợi dụng, và chấp hành đúng quy định về luật cung ứng séc của pháp luật ngân hàng Nhà nước
Người thụ lệnh: là người nhận lệnh của người ký phát với nghĩa vụ trả số tiền ghi
trên séc Trong thanh toán séc thì người thụ lệnh là ngân hàng thực hiện bằng cách trích chuyển tài khoản của người ký phát séc trả cho người thụ hưởng
Người thụ hưởng: là người được hưởng số tiền ghi trên séc Người thụ hưởng có
thể là người cầm séc, người có tên trên tờ séc, hoặc được chuyển nhượng
Nội dung và quy định cơ bản của tờ séc
Séc là một lệnh trả tiền vô điều kiện, nên khi nhận được séc ngân hàng phải chấp hành thanh toán vô điều kiện nếu tài khoản thanh toán của người ký phát có đủ tiền, và mẫu chữ ký trên tờ séc khớp với mẫu chữ ký mà người ký phát đã đăng ký tại ngân hàng Chính vì vậy mà nội dung của séc cần đảm bảo đầy đủ các yếu tố sau:
Trang 20Tiêu đề séc: trên tờ séc phải có tiêu đề Séc (CHEQUE) nếu không có ngân hàng
sẽ từ chối thực hiện lệnh của người ký phát
Số tiền trên séc: số tiền trích phải ghi đầy đủ cả bằng chữ và số và phải trùng
khớp nhau
Thời gian ký phát: trên tờ séc bắt buộc phải có địa điểm, ngày tháng ký phát séc
vì nó liên quan đến thời hạn xuất trình séc, thời hạn hiệu lực của séc, và liên quan đến
số dư tài khoản của người ký phát séc tại thời điểm ký phát Việc ghi sai ngày phát hành sẽ gây ra nhiều rủi roc cho người thụ hưởng, bởi:
Nếu người ký phát cố tình ghi ngày ký phát trên tờ séc trước ngày ký phát thực tế thì sẽ rút ngắn thời gian hiệu lực của séc, hoặc do người phát hành tại thời điểm ký phát đã không còn khả năng phát hành séc theo luật định như: bị phá sản, bị truy nã,… Nếu người ký phát ghi thời gian trên séc lùi lại sau so với ngày ký phát thực tế thì nguyên nhân có thể do tại thời điểm ký phát tài khoản của người ký phát không có đủ
số tiền thanh toán cho tờ séc nên việc ghi lùi thời gian là để kì vọng tài khoản của mình sẽ có đủ tiền tại ngày ký phát trên tờ séc Ngoài ra còn có thể do ý đồ của người
ký phát, họ cố tình ghi lùi ngày là để cho tờ séc không còn hiệu lực vì lúc đó người ký phát đã không còn khả năng phát hành séc theo luật định
Chữ ký: Chữ ký tay của người phát hành phải khớp với mẫu chữ ký đăng ký tại
ngân hàng, không được sử dụng dấu khắc sẵn chữ ký, hoặc lăn vân tay vì như vậy séc
sẽ không có hiệu lực
Các yếu tố trên tờ séc không được tẩy xóa, phải cùng một màu mực, cùng một nét chữ, không ghi bằng bút chì, bút mực đỏ
Chuyển nhượng séc: Séc có thể chuyển nhượng trong thời hạn hiệu lực của séc
bằng cách ký hậu, ký hậu séc có 2 ý nghĩa: một là chứng nhận quyền chuyển nhượng séc cho người khác, hai là nó xác nhận trách nhiệm của người chuyển nhượng séc đối với những người thụ hưởng sau đó về việc trả tiền ghi trên tờ séc, đối với séc vô danh thì khi chuyển nhượng không cần ký hậu Tuy nhiên người chuyển nhượng có quyền thoái thác trách nhiệm của mình bằng cách thêm điều kiện chuyển nhượng miễn truy đòi
Về thời hạn xuất trình của séc: là thời gian người thụ hưởng phải nộp séc cho
ngân hàng để nhận tiền, trong thời gian này người ký phát phải duy trì số tiền trong tài khoản thanh toán của mình đủ để chi trả số tiền trên séc Theo ULC thời hạn xuất trình séc là thời gian kể từ ngày ký phát séc đến ngày mà người thụ hưởng xuất trình tờ séc cho ngân hàng, cụ thể thời hạn xuất trình được tuân theo quy định là 8/20/70 8 ngày đối với séc lưu hành trong một quốc gia, 20 ngày nếu trong cùng châu lục, và 70 ngày nếu khác châu lục Riêng đối với séc du lịch là vô thời hạn
Trang 219
Thời hạn hiệu lực của séc: là thời gian mà ngân hàng thụ lệnh của người ký phát
trả tiền cho người thụ hưởng, thường là 12 thang kể từ ngày hết hạn xuất trình Sau khi hết hạn hiệu lực, ngân hàng thụ lệnh không còn nghĩa vụ phải thanh toán cho người thụ hưởng nữa Tuy nhiên người ký phát vẫn phải có trách nhiệm thanh toán cho người thụ hưởng, vì séc vẫn còn giá trị trên hợp đồng dân sự
Đình chỉ thanh toán séc: sau khi phát hành ra tờ séc, người ký phát nếu không
muốn thanh toán cho người thụ hưởng nữa, thì phải lầm một văn bản yêu càu ngân hàng thụ lệnh không thanh toán cho tờ séc mà mình đã ký phát ra nữa
Ngân hàng thụ lệnh phạt người ký phát séc do phát hành séc quá số dư:
Lần 1: ngân hàng sẽ gửi thông báo cảnh cáo
Lần 2: ngân hàng sẽ đình chỉ tạm thời quyền phát hành séc của người ký phát trong vòng 3 tháng, thu hồi toàn bộ số séc trắng đã cung ứng
Lần 3: ngân hàng sẽ đình chỉ vĩnh viễn quyền phát hành séc, thu hồi toàn bộ séc trắng đã cung ứng, và gửi toàn bộ thông tin của người ký phát cho ngân hàng nhà nước
(Nguồn: Nguyễn Thị Thanh Thủy, (2014), “Giáo trình nghiệp vụ thanh toán”,
NXB Lao Động, trang 159)
Phân loại séc
Tùy theo các tiêu chí mà séc được phân thành nhiều loại khác nhau:
Theo tính chất lưu thông
Séc theo lệnh: là loại séc ghi trả tiền theo lệnh của người hưởng lợi trên ờ séc đó
Ví dụ: trả theo lệnh của ông B, thì nghĩa là chỉ có ông B mới có quyền được thanh toán, hoặc ký hậu chuyển nhượng cho người khác
Séc đích danh: là séc ghi rõ đầy đủ tên, thông tin của người hưởng lợi, và chỉ
người hưởng lợi mới lĩnh được tiền Séc này không thể chuyển nhượng bằng cách ký hậu
Séc vô danh: là séc không ghi tên người hưởng lợi, trên séc sẽ có câu: “trả cho
người cầm séc” Với loại séc này thì bất cứ ai cầm séc cũng có thể lĩnh được tiền, vì vậy mà séc vô danh nếu muốn chuyển nhượng thì không cần ký hậu
Căn cứ vào mục đích sử dụng séc:
Séc xác nhận: đây là séc do ngân hàng thụ lệnh phát ra trước khi người ký phát
hành, nhằm xác nhận khả năng thanh toán của tờ séc do người ký phát lập ra Séc này thường áp dụng trong trường hợp người thụ hưởng không tin tưởng vào khả năng thanh toán của người ký phát
Trang 22Séc gạch chéo: là loại séc mà trên mặt trước của tờ séc có hai vạch chéo song
song, séc này không thể rút tiền mặt, thường dùng để chuyển khoản Có 2 loại séc gạch chéo là gạch chéo thông thường và gạch chéo đặc biệt Séc gạch chéo thông thường là giữa hai gạch chéo không ghi tên ngân hàng thanh toán, như vậy ngân hàng nào cũng
có thể thanh toán, và người ký phát phải có nhiều tài khoản ở các ngân hàng khác nhau Còn đối với séc gạch chéo đặc biệt thì có ghi tên ngân hàng thanh toán, như vây người ký phát sẽ chỉ cần nộp tiền vào một ngân hàng cụ thể, thậm chí dưới tên ngân hàng thụ lệnh này còn có chữ không thể chuyển nhượng
Séc tiền mặt: Séc dùng để rút tiền mặt không có hai đường gạch chéo song song
bên trái, hoặc không có chữ “chuyển khoản” ở mặt trước tờ séc Người hưởng lợi chỉ được lĩnh tiền mặt mặt tại ngân hàng nơi khách hàng mở tài khoản, séc này ghi đích danh người hưởng lợi và không được chuyển nhượng
Séc du lịch: đây là loại séc đặc biệt do ngân hàng phát hành, ra lệnh cho bất kì chi
nhánh, ngân hàng đại lý nào cũng phải thanh toán cho người cầm séc này Tờ séc du lịch này có in mệnh giá, và có chữ ký thứ nhất của người hưởng lợi, khi người hưởng lợi đến ngân hàng lĩnh tiền thì phải ký tại chỗ chữ ký thứ hai của mình để ngân hàng kiểm tra, đối chiếu rồi mới thanh toán Thời hạn hiệu lực của séc du lịch là vô thời hạn
Séc chuyển khoản: séc này chỉ chuyển khoản số tiền được ghi trên séc từ tài
khoản người ký phát cho cho người hưởng lợi, đồng thời cũng không thể chuyển nhượng Séc chuyển khoản thường được sử dụng trong quan hệ mua bán hàng hóa, để tiện cho việc thanh toán tiền hàng cho người bán thì người mua sử dụng séc chuyển khoản Khi thanh toán bằng séc người mua tiết kiệm bớt được chi phí đi lại, thời gian,
và giảm thiểu rủi ro xảy ra như mất cắp, rơi tiền,…
Sơ đồ 1.1 Quy trình thanh toán séc chuyển khoản qua 2 ngân hàng
(1)
(2) (5)
Người thụ hưởng (người bán)
Ngân hàng phục vụ người mua
Ngân hàng phục vụ người bán
Trang 2311
Chú thích:
(1) Người bán giao hàng hóa, dịch vụ cho người mua trên cơ sở hợp đồng đã
ký kết
(2) Người mua ký phát hành séc và giao trực tiếp cho người bán
(3) Người bán lập bảng kê nộp séc cùng với các giấy tờ séc gửi vào ngân hàng phụ vụ người bán đề nghị thanh toán
(4) Ngân hàng phục vụ người bán chuyển bảng kê nộp séc kèm giấy tờ séc cho ngân hàng phục vụ người mua
(5) Ngân hàng phục vụ người mua thực hiện kiểm soát, hạch toán, ghi Cợ và gửi giấy báo Nợ cho người phát hành séc
(6) Ngân hàng phục vụ người mua truyền lệnh chuyển Có cho ngân hàng phục
vụ người bán
(7) Căn cứ vào lệnh chuyển có nhận được, ngân hàng phục vụ người bán ghi
Có cho người thụ hưởng
Nhận xét:
Ưu điểm của thanh toán séc: thanh toán bằng séc rất thuận tiện và nhanh chóng,
trong quá trình giao dịch buôn bán người mua chỉ việc ký séc và giao cho người bán
mà không cần đến ngân hàng làm thủ tục
Nhược điểm của thanh toán séc:
Phương thức này người thụ hưởng nhận được séc ngay sau khi giao hàng, dịch
vụ, nhưng tờ séc mới chỉ được coi là giấy hứa trả nợ, thực tế người bán có nhận được đày đủ số tiền hay không còn phụ thuộc vào số dư trên tài khoản của người mua Nên tâm lý của người bán thường lo ngại tài khoản của người mua không còn tiên hoặc người mua làm séc giả, nên người bán thường không hay lựa chọn phương thức thanh toán này
Hiện nay nếu người mua và người bán mở tài khoản cùng một ngân hàng thì khi người bán đến nộp séc, ngân hàng sẽ ghi có cho tài khoản người bán và ghi nợ cho tài khoản người mua Tuy nhiên nếu người bán và người mua mở tài khoản ở hai ngân hàng khác nhau thì việc thanh toán phải thực hiện qua thanh toán bù trừ của ngân hàng trung ương, mỗi ngày có hai phiên giao dịch vào lúc 10 giờ sang và 3 giờ chiều Việc kiểm tra séc của ngân hàng trung ương chủ yếu vẫn theo cách thủ công trực tiếp do nhân viên kiểm tra Nên nếu số lượng séc cần thanh toán bù trừ quá nhiều sẽ găp nhiều khó khăn như bị chậm trễ về thời gian,…
Trang 241.1.6.2 Thanh toán ủy nhiệm thu (hay nhờ thu)
Khái niệm: Ủy nhiệm thu là giấy ủy quyền do người thụ hưởng lập ra nhờ tổ
chức cung ứng dịch vụ thanh toán đứng ra thu hộ tiền hàng hóa dịch vụ, dựa trên cơ sở hàng hóa đã giao, hoặc dịch vụ cung ứng đã hoàn thành
(Nguồn: Nguyễn Thị Thanh Thủy, (2014), “Giáo trình nghiệp vụ thanh toán”,
NXB Lao Động, trang 186)
Đặc điểm của UNT:
UNT được áp dụng trong trường hợp thanh toán tiền, hàng hóa, dịch vụ giữa các chủ thể mở tài khoản thanh toán cùng một ngân hàng, hoặc các chi nhánh ngân hàng cùng hệ thống, khác hệ thống
Khách hàng mua bán phải thống nhất, thỏa thuận dùng hình thức thanh toán UNT với những điều kiện thanh toán cụ thể được ghi trong hợp đồng kinh tế, đồng thời phải thông báo bằng văn bản cho ngân hàng phục vụ mình biết, ngân hàng sẽ căn cứ vào cơ
sở đó để thực hiện UNT
Điều kiện thủ tục thanh toán, thời hạn thanh toán thực hiện UNT được ngân hàng thỏa thuận với người sử dụng dịch vụ thanh toán phù hợp với quy định của ngân hàng nhà nước
Sau khi giao hàng hay cung ứng dịch vụ, người thụ hưởng hay chính là người bán, người cung ứng dịch vụ sẽ lập ra 4 liên ủy nhiệm thu kèm theo hóa đơn giao hàng nộp vào ngân hàng phục vụ mình mình hoặc nộp trực tiếp vào ngân hàng phục vụ người trả tiền (hay chính là người mua) để yêu cầu thu hộ tiền Bên thụ hưởng phải ký tên, đóng dấu, ghi rõ các yếu tố quy định lên các liên UNT
Trong thời gian không quá một ngày kể từ khi nhận được UNT ngân hàng bên mua phải trích chuyển trả tiền từ tài khoản thanh toán của bên mua để trả ngay cho bên bán
Để thu ngay tiền bán hàng theo UNT, bên nhận tiền phải ghi rõ trên giấy UNT yêu cầu ngân hàng bên trả tiền chuyển tiền bằng điện hay fax, và bên nhận chịu mọi chi phí
Trang 2513
Quy trình thanh toán ủy nhiệm thu
Sơ đồ 1.2 Thanh toán ủy nhiệm thu qua hai ngân hàng
(1)
(6) (3)
Nhận xét:
Ưu điểm: Hình thức thanh toán UNT đơn giản, thuận tiện đối với các doanh
nghiệp tổ chức cung ứng dịch vụ như điện, nước, điện thoại,… các đối tác có niềm tin lẫn nhau
Nhược điểm: Hình thức thanh toán này vẫn có những hạn chế như vẫn có trường
hợp thanh toán chậm, hoặc không có tiền thanh toán do tài khoản thanh toán của bên trả tiền không có đủ số dư, trong trường hợp này bên trả tiền sẽ bị phạt theo quy định
1.1.6.3 Thanh toán bằng ủy nhiệm chi (hay lệnh chi)
Khái niệm: Lệnh chi hay UNC là lệnh chi tiền do chủ tài khoản lập theo mẫu của
ngân hàng yêu cầu ngân hàng phục vụ mình trích chuyển một số tiền nhất định từ tài khoản tiền gửi thanh toán của mình trả cho người tụ hưởng có tên trên lệnh chi (hay UNC)
(Nguồn: Nguyễn Thị Thanh Thủy, (2014), “Giáo trình nghiệp vụ thanh toán”,
NXB Lao Động, trang 183)
Người mua (người trả tiền)
Người bán (người lập UNT)
Ngân hàng phục
vụ người mua
Ngân hàng phục
vụ người bán
Trang 26Điều kiện áp dụng UNC:
UNC dùng để thanh toán các khoản tiền hàng hóa, dịch vụ, nộp thuế, cấp phát vốn cho đơn vị cấp dưới hoặc chuyển tiền tại một chi nhánh, giữa các chi nhánh, cùng
hệ thống, hay khác hệ thống trong phạm vi cả nước
Trong thanh toán UNC bên mua chủ động thanh toán bằng cách lập 4 liên UNC nộp vào ngân hàng phục vụ mình để ngân hàng trích chuyển tiền từ tài khoản tiền gửi thanh toán của mình chuyển cho bên thụ hưởng (người cung ứng dịch vụ, hàng hóa) Trên UNC bên trả tiền phải ghi đầy đủ các yếu tố khớp đúng với nội dung giữa các liên UNC
Khi nhận được UNC trong thời gian một ngày làm việc ngân hàng phục vụ người trả tiền phải hoàn tất lệnh chi hoặc từ chối thực hiện nếu tài khoản của khách hàng không đủ số dư, hoặc lệnh chi không hợp lệ
(Nguồn: Nguyễn Thị Thanh Thủy, (2014), “Giáo trình nghiệp vụ thanh toán”,
NXB Lao Động, trang 183)
Quy trình thanh toán ủy nhiệm chi
Sơ đồ Error! No text of specified style in document 1 Sơ đồ luân chuyển ủy nhiệm
chi qua hai ngân hàng
Trang 2715
(5) Ngân hàng phục vụ người bán ghi có và gửi giấy báo có cho người bán
Nhận xét:
Ưu điểm: UNC, hay lệnh chi là một phương thức thanh toán đơn giản, tiện lợi,
nhanh chóng phù hợp với việc áp dụng công nghệ thanh toán hiện đại UNC hiện nay đang là hình thức thanh toán chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng số các hình thức thanh toán qua ngân hàng
Nhược điểm: Cũng giống như UNT, UNC vẫn còn có những hạn chế nhất định
Hạn chế của UNC đó là không đảm bảo quyền lợi cho bên thụ hưởng (người bán, người cung ứng dịch vụ), bên nhận tiền có thể gặp rủi ro như: bên trả tiền không đủ khả năng thanh toán, chậm trả hay cố tình không thực hiện nghĩa vụ thanh toán Chính
vì vậy hình thức UNC thường chỉ áp dụng khi bên bán và bên mua tin tưởng lẫn nhau
1.1.6.4 Thanh toán bằng thẻ ngân hàng
Khái niệm:
Thẻ thanh toán là hình thức tiền điện tử, xuất hiện lần đầu với tư cách là phương tiện thanh toán tại Mỹ vào những năm 1914, nhưng cho đến tận những năm 1950 thẻ mới được sử dụng rộng rãi, và khoảng những năm 1960 thì thẻ đã sử dụng tại các nước Châu Âu, và ngày nay thì thẻ đã trở thành hình thức thanh toán thông dụng trên toàn thế giới
Thẻ thanh toán là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt do ngân hàng phát hành, phục vụ cho khách hàng sử dụng để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc rút tiền tại các máy rút tiền tự động hay tại các ngân hàng đại lý trong phạm vi số dư tài khoản tiền gửi hoặc hạn mức tín dụng đã ký giữa ngân hàng và chủ thẻ (như thẻ Phone card, Master card, ATM card, Vissa card,…)
(Nguồn: Nguyễn Thị Thanh Thủy, (2014), “Giáo trình nghiệp vụ thanh toán”,
NXB Lao Động, trang 165)
Hình thức của thẻ:
Mặt trước của thẻ:
Tên và logo của ngân hàng phát hành thẻ: mỗi loại thẻ phát hành mang tính đặc
trưng riêng của tổ chức phát hành thẻ Đây được xem như thương hiệu, yếu tố an ninh chống lại sự giả mạo Ví dụ: VISA CARD có ô hình chữ nhật ở góc trái phía trên bao gồm 3 màu xanh, trắng, vàng, và dòng chữ VISA chạy ngang giữa màu trắng, dưới ô này là hình chú chim bồ câu chìm
Số thẻ: số thẻ giành riêng cho mỗi chủ thẻ, được dập nổi trên mặt thẻ, và được in
lại trên hóa đơn khi chủ thẻ thanh toán bằng thẻ,
Trang 28Họ tên của chủ thẻ: được in nổi là tên cá nhân nếu thẻ là cá nhân, còn nếu là thẻ
công ty thì họ tên chủ thẻ sẽ là tên của người được ủy quyền sử dụng thẻ Ngoài ra có một số thẻ in cả ảnh của chủ thẻ
Thời gian hiệu lực của thẻ: là thời gian mà thẻ được phép lưu hành và sử dụng
(tùy vào từng loại thẻ) và được thống nhất là ngày dương lịch, tháng dương lịch, và năm dương lịch
Kí tự an ninh: là các số mật mã của đợt phát hành, mỗi loại thẻ có ký tự an ninh
kèm theo, in phía sau của ngày hiệu lực Ví dụ: thẻ VISA có chữ V, CV, PV hoặc RV, thẻ MASTER CARD có chữ M và chữ C lồng nhau
Các thông tin khác: số seri, địa chỉ giải đáp thắc mắc khi cần thiết,…
Mặt sau của thẻ:
Dải băng từ: có khả năng lưu trữ các thông tin như: số thẻ, ngày hiệu lực, tên chủ thẻ, ngân hàng phát hành
Ô chữ ký giành cho chủ thẻ: ô này có chữ ký của chủ thẻ để cơ sở chấp nhận thẻ
so sánh, đối chiếu khi thực hiện thanh toán
(Nguồn: Nguyễn Thị Thanh Thủy, (2014), “Giáo trình nghiệp vụ thanh toán”,
NXB Lao Động, trang 166)
Đặc tính của thẻ
Tính linh hoạt: thẻ có rất nhiều loại đa dạng phong phú, thích hợp với mọi đối
tượng khách hàng
Tính tiện lợi: thẻ ra đời thay thế cho tiền mặt trong lưu thông, mang lại nhiều tiện
ích cho khách hàng, đặc biệt thích hợp với những người có công việc đi xa, du lịch,…khi mang theo thẻ có thể giúp khách hàng rút tiền mặt, thanh toán ở khắp mọi nơi mà không cần mang theo nhiều tiền mặt
Tính an toàn: Tệ nạn xã hội luôn là mối quan tâm lo lắng của nhiều người, khi sử
dụng thẻ khách hàng hoàn toàn có thể yên tâm về nạn cướp giật tiền, làm rơi, làm mất tiền,… Ngay cả khi khách hàng làm mất thẻ, thì ngân hàng vẫn đảm bảo an toàn cho
số tiền trong tài khoản của khách hàng bằng mã PIN, số tài khoản, chữ ký, ảnh,… Điều này thể hiện tính an toàn ưu việt của thẻ so với những phương tiện thanh toán khác
(Nguồn: Nguyễn Thị Thanh Thủy, (2014), “Giáo trình nghiệp vụ thanh toán”,
NXB Lao Động, trang 169)
Trang 2917
Các thành phần tham gia thanh toán thẻ
Chủ thẻ: là người có tên in nổi trên thẻ, và sử dụng thẻ theo những khoản hợp
đồng đã ký với ngân hàng phát hành, được ngân hàng phát hành thẻ cho phép sử dụng thẻ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ, rút tiền,…thay tiền mặt theo hạn mức được cấp trên thẻ
Ngân hàng phát hành thẻ: là NHTM được ngân hàng nhà nước cho phép thực
hiện nghiệp vụ phát hành thẻ, và là thành viên chính thức của tổ chức thẻ quốc tế
Ngân hàng thanh toán thẻ: là ngân hàng trực tiếp ký hợp đồng với cơ sở chấp
nhận thẻ và thanh toán các chứng từ giao dịch do cơ sở chấp nhận thẻ xuất trình Một ngân hàng có thể vừa đóng vai trò là ngân hàng phát hành thẻ vừa là ngân hàng thanh toán thẻ
Cơ sở chấp nhận thẻ: là tổ chức hay cá nhân cung ứng hàng hóa, dịch vụ và
đồng ý chấp nhận thẻ làm phương tiện thanh toán Các cơ sở này thường có các trang thiết bị máy móc, thiết bị chuyên dụng để thực hiện thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ qua thẻ
(Nguồn: Nguyễn Thị Thanh Thủy, (2014), “Giáo trình nghiệp vụ thanh toán”,
NXB Lao Động, trang 170)
Phân loại thẻ thanh toán
Dựa theo đặc tính kĩ thuật của thẻ:
Thẻ khắc chữ nổi: là thẻ khắc những thông tin cần thiết bằng chữ nổi Ngày nay
không sử dụng thẻ này vì kĩ thuật thô sơ, dễ bị làm giả
Thẻ băng từ: thông tin của thẻ và chủ thẻ được mã hóa trên băng từ, thẻ này hiện
nay đang được sử dụng khá phổ biến, tuy nhiên vẫn có hạn chế đó là những thông tin được mã hóa bằng băng từ hẹp mang tính cố định, và có thể đọc được trên máy tính, nên vẫn có thể bị lợi dụng lấy mất tiền trong tài khoản
Thẻ điện tử có bộ vi xử lý chip (thẻ thông minh): hiện đang là thẻ mới nhất hiện
nay, dựa trên kĩ thuật xử lý tin học nhờ gắn chip điện tử có cấu trúc như một máy tính hoàn hảo vào thẻ thay thế cho băng từ sau thẻ Ngoài ra cũng có những thẻ thông minh
có cả chíp điển tử và băng từ Thẻ có khả năng lưu trữ thông tin về chủ thẻ, tích điểm thưởng, và số lượng những lần giao dịch tại đơn vị chấp nhạn thẻ Nhờ có tính năng này mà đã giúp cho ngân hàng tiết kiệm được chi phí đối chiếu, kiểm tra thông tin về thẻ và chủ thẻ
Dựa theo chủ thể phát hành thẻ:
Thẻ do ngân hàng phát hành: là loại thẻ giúp khách hàng sử dụng linh hoạt tài
khoản của mình tại ngân hàng Đây đang là loại thẻ được sử dụng nhiều nhất
Trang 30Thẻ do tổ chức phi ngân hàng phát hành: là các loại thẻ du lịch, thẻ vui chơi giải
trí Các tập đoàn kinh doanh lớn, các cửa hiệu lớn phát hành như: thẻ Dinner’s Club, Amex,…
- Theo đặc tính nội dung kinh tế của thẻ
Thẻ tín dụng: là loại thẻ mà người chủ thẻ được sử dụng một hạn mức tín dụng
không phải trả lãi (nếu chủ thẻ hoàn trả số tiền đúng hạn), nếu đến hạn thanh toán cho ngân hàng mà chủ thẻ vẫn chưa trả được số tiền đã sử dụng thì chủ thẻ phải chịu lãi trả chậm, và khoản phí Thẻ tín dụng cho phép chủ thẻ có thể chi tiêu trước, trả tiền sau Khi chủ thẻ trả được hết toàn bộ số tiền đã sử dụng trong thẻ tín dụng thì hạn mức tín dụng lại được khôi phục như ban đầu, đây được gọi là tính chất tuần hoàn của thẻ tín dụng Các tổ chức phát hành cấp hạn mức tín dụng cho mỗi khách hàng dựa trên các thông tin như thu nhập, năng lực tài chính của khách hàng, địa vị xã hội của khách hàng,…vì vậy mỗi khách hàng có một hạn mức tín dụng khác nhau
Thẻ rút tiền mặt: là loại thẻ dùng để rút tiền mặt từ tài khoản thanh toán của chủ
thẻ, để sử dụng được loại thẻ này yêu cầu chủ thẻ phải có tiền ký quỹ trêm tài khoản, hoặc được ngân hàng cấp tín dụng thấu chi
Thẻ ghi nợ: là loại thẻ có quan hệ trực tiếp với tài khoản thanh toán của chủ thẻ
Để sử dụng loại thẻ này, chủ thẻ phải có tài khoản thanh toán hoạt động thường xuyên, khi sử dụng thẻ này để mua bán hàng hóa, dịch vụ thì giá trị dịch vụ, hàng hóa sẽ được trừ trực tiếp vào tài khoản của chủ thẻ Như vậy người sử dụng thẻ này không phải lưu
ký tiền vào tài khoản, căn cứ để thanh toán là số dư trên tài khoản của chủ thẻ tại ngân hàng, và hạn mức tối đa của thẻ do ngân hàng quy định
Thẻ lưu giá trị: thẻ này cần phải nộp một số tiền nhất định để mua thẻ, sau đó
mỗi lần sử dụng thì số tiền trên thẻ sẽ bị trừ dần Ví dụ: thẻ điện thoại, thẻ thanh toán phí cầu đường,…
Theo phạm vi sử dụng:
Thẻ nội địa: thẻ được giới hạn phạm vi sử dụng trong một quốc gia
Thẻ quốc tế: là thẻ được sử dụng các loại ngoại tệ mạnh để thanh toán, và được
chấp nhận trên phạm vi toàn cầu như VISA CARD, MASTER CARD,…
Theo hạn mức của thẻ
Thẻ vàng: là loại thẻ có hạn mức tín dụng cao, thẻ này thường được phát hành
cho những khách hàng có thu nhập, uy tín cao, tiềm lực tài chính mạnh và có nhu cầu chi tiêu lớn
Trang 31Quy trình thanh toán thẻ
Sơ đồ 1.4 Quy trình thanh toán thẻ
(4)
(Nguồn: Nguyễn Thị Thanh Thủy, (2014), “Giáo trình nghiệp vụ thanh toán”,
NXB Lao Động, 195)
Chú thích:
(1) Chủ thẻ dùng thẻ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc rút tiền mặt tại cơ
sở chấp nhận thẻ hoặc ngân hàng đại lý
(2) Cơ sở chấp nhận thẻ hoặc ngân hàng đại lý khi nhận được thẻ từ khách hàng
sẽ kiểm tra tính hợp lệ của thẻ, thiêt lập hóa đơn thanh toán và trao hàng hóa cho khách
(3) Cơ sở chấp nhận thẻ giao dịch với ngân hàng, gửi hóa đơn thẻ cho ngân hàng thanh toán
(4) Ngân hàng thanh toán thẻ thanh toán cho cơ sở chấp nhận thẻ (ghi có vào tài khoản của cơ sở chấp nhận thẻ hoặc ngân hàng đại lý thanh toán
(5) Ngân hàng thanh toán thẻ thanh toán với tổ chức thẻ quốc tế và các thành viên khác Cuối mỗi ngày ngân hàng tổng hợp các giao dịch phát sinh từ thẻ
do ngân hàng khác phát hành và truyền dữ liệu cho tổ chức thẻ quốc tế
(6) Tổ chức thẻ quốc tế ghi có cho ngân hàng thanh toán Dữ liệu mà tổ chức thẻ quốc tế truyền về bao gồm các khoản ngân hàng thanh toán được trả, những khoản chi phi phải trả cho tổ chức thẻ quốc tế, những giao dịch bị rà soát
Cơ sở chấp nhận thẻ
Ngân hàng phát hành thẻ Chủ thẻ
Ngân hàng thanh toán thẻ
Tổ chức
Trang 32(7) Tổ chức thẻ quốc tế báo nợ cho ngân hàng phát hành (8) Ngân hàng phát hành thanh toán nợ cho tổ chức thẻ quốc tế
(9) Ngân hàng phát hành gửi sao kê cho chủ thẻ (10)Chủ thẻ thanh toán nợ cho ngân hàng phát hành
(Nguồn: Nguyễn Thị Thanh Thủy, (2014), “Giáo trình nghiệp vụ thanh toán”,
NXB Lao Động, trang 195)
Nhận xét:
Ưu điểm thanh toán thẻ: khi sử dụng thẻ khách hàng sẽ tránh được nhiều rủi ro
như: mất cắp, rơi tiền,… Thẻ được thiết kế nhỏ gọn, tiện lợi, dễ dàng cất giữ và mang
đi xa,…
Nhược điểm thanh toán thẻ:
- Có hạn mức rút thẻ, mỗi lần rút không được rút quá …
- Mỗi lần rút đều bị mất phí, có một số trường hợp mất phí mà vẫn không rút được tiền
- Máy ATM hết tiền, hoặc trục trặc, có thể nuốt luôn thẻ
1.1.7 Những rủi ro phát sinh trong thanh toán không dùng tiền mặt
Rủi ro là những biến cố không mong đợi xảy ra dẫn đến tổn thất cho ngân hàng, tổn thất về tài sản, tổn thất về uy tín, rủi ro có thể khiến lợi nhuận thực tế giảm so với lợi nhuận kì vọng của ngân hàng,…Ngân hàng là một trung gian thanh toán nên chịu nhiều rủi ro trong thanh toán như:
1.1.7.1 Rủi ro về mặt pháp lý:
Rủi ro pháp lý là những rủi ro xuất phát từ sự thiếu chặt chễ trong hệ thống văn bản pháp luật có liên quan về hoạt động thanh toán Khi rủi ro xảy ra, ngân hàng dựa vào hệ thống pháp luật để xem xét mức độ thiệt hại nghiêm trọng để xử lý theo quy định Vì vậy nếu hệ thống pháp luật chặt chẽ sẽ phần nào giúp ngân hàng ngăn ngừa rủi ro xảy ra, tuy nhiên ở Việt Nam hành lang pháp lý được đánh giá là chưa đầy đủ, đồng bộ, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến lĩnh vực thương mại điện và thanh toán điện tử Ví dụ như đối với giao dịch điện tử thì chưa có đủ cơ sở để các ngân hàng phát triển, khai thác các kênh giao dịch điện tử vì chưa tạo được một cơ chế tổng hợp điều chỉnh hoạt động thương mại điện tử trong ngành ngân hàng, chưa có sự chấp nhận đồng bộ các giao dịch điện tử, chứng từ điện tử giữa các cơ quan quản lý Nhà nước có liên quan như: Tổng cục hải quan, tổng cục thuế,…
Ngày 19/11/2005 luật giao dịch điện tử đã được Quốc hội thông qua, đây là bước tiến mang tính đột phá của Việt Nam trong việc ứng dụng công nghệ thông tin để phát triển kinh tế xã hội Nó tạo một nền tảng hành lang pháp lý cho các nghiệp vụ, dịch vụ
Trang 3321
ngân hàng hiện đại, tạo điều kiện cho các ngân hàng tham gia sâu rộng vào các hoạt động thương mại điện tử Tuy nhiên để luật này đi vào cuộc sống là một quá trình phấn đấu không phải chỉ riêng ngành ngân hàng mà là của toàn xã hội Hệ thống văn bản pháp lý liên quan đến lĩnh vực thanh toán vẫn cần tiếp tục chỉnh sửa đề phù hợp với thông lệ quốc tế, và nhu cầu sử dụng của người dùng
1.1.7.2 Rủi ro hoạt động:
Rủi ro hoạt động là những rủi ro xảy ra trong quá trình thanh toán Do TTKDTM không sử dụng tiền mặt mà sử dụng tiền ghi sổ, tất cả hoạt động trong quá tình thanh toán đều được xử lý trên hệ thống máy tính, nên không thể tránh được những sai xót
có thể xảy ra Rủi ro có thể do lỗi kĩ thuật, máy móc, hoặc đến từ con người như: sai xót nhầm lẫn khi đọc các con số quá lớn,…rủi ro này hoàn toàn có thể xảy ra vì hàng ngày nhân viên giao dịch phải ngồi trước máy tính liền tục trong nhiều giờ đồng hồ, dẫn đến tình trạng mỏi mắt, hoa mắt, nhìn mờ,…dẫn đến nhập sai số tiền, gây tổn thất cho khách hàng cũng như ngân hàng Quá trình TTKDTM đòi hỏi sự cẩn thận, tỷ mỉ trong từng bước, chính vì vậy mà nhân viên ngân hàng cần có trách nhiệm hướng dẫn khách hàng các thủ tục, cũng như thực hiện các thao tác nghiệp vụ một cách cẩn thận
để tranh sai xót xảy ra
1.1.7.3 Rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng là tình trạng một người tham gia thanh toán nhưng vì lý do nào
đó mà không thể trả được nợ, rủi ro này gây ra thiệt hại cho người thụ hưởng, hoặc cho chính ngân hàng cung ứng dịch vụ thanh toán Ví dụ: đối với khách hàng, rủi ro tín dụng xảy ra có thể khiến khách hàng không đòi được nợ Rủi ro tín dụng thuộc về ngân hàng khi khách hàng chi tiêu vượt quá hạn mức tín dụng nhưng không thể chi trả hoặc trả chậm cả gốc và lãi so với thời hạn trong hợp đồng, gây ra thiệt hại cho ngân hàng
1.1.7.4 Rủi ro thanh khoản:
Là rủi ro xuất phát từ việc mất khả năng thanh toán của chủ thể tham gia thanh toán, rủi ro này có thể xảy ra do hệ thống thanh toán gặp trục trặc, khiến người nhận không nhận được tiền trong tài khoản, hoặc do lỗi của nhân viên đã gửi nhầm tài khoản, hay có thể do khả năng thanh toán tạm thời của người có nghĩa vụ thanh toán gặp vấn đề
1.1.7.5 Rủi ro đạo đức
Rủi ro đạo đức là rủi ro khi một bên tham gia cố tình không thực hiện nghĩa vụ của mình, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các bên liên quan Trong trường hợp người mua và người bán không hề biết nhau, thậm chí chưa hề gặp nhau, vì vậy không nắm rõ được thông tin như uy tín, đạo đức năng lực tài chính của nhau, dẫn đến đưa ra
Trang 34các quyết định sai lầm gây nên rủi ro trong thanh toán Nếu một trong các bên có phẩm chất đạo đức kém, làm giả giấy tờ, chứng từ thanh toán, thì sẽ gây thiệt hại cho các bên liên quan
1.1.7.6 Rủi ro kĩ thuật
Do đặc thù TTKDTM phải sử dụng tiền ghi sổ, nên khách hàng thường xuyên phải tiếp xúc với các công nghệ hiện đại như máy ATM rút tiền, chính vì vậy nếu như máy móc gặp trục trặc, sự cố thì sẽ gây ra những bất lợi cho khách hàng Ví dụ: khách hàng đang cần tiền gấp, nhưng máy ATM lại bị hết tiền, hoặc nuốt thẻ, hoặc trục trặc
kĩ thuật,… khiến khách hàng mất thời gian chờ đợi, ảnh hưởng đến công việc sản xuất kinh doanh
Ngân hàng luôn đứng trước nhiều loại rủi ro khác nhau, khi TTKDTM ngày càng phát triển thì số giao dịch thanh toán, số khách hàng ngày càng tăng Để đảm bảo cho việc thanh toán được diễn ra an toàn, chính xác, nhanh chóng đòi hỏi các nhân viên, cũng như khách hàng có ý thức chấp hành đúng các quy định đề ra, cẩn thận, tỷ mỉ trong từng khâu thanh toán nhằm hạn chế thấp nhất các rủi ro có thể xảy ra
(Nguồn: Nguyễn Thị Thanh Thủy, (2014), “Giáo trình nghiệp vụ thanh toán”,
NXB Lao Động)
1.2 Phát triển thanh toán không dùng tiền mặt của ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm phát triển thanh toán không dùng tiền mặt
Phát triển TTKDTM là việc NHTM vận dụng tổng hợp các nguồn lực, các công
cụ, phương pháp nhằm gia tăng quy mô TTKDTM Phát triển TTKDTM được hiểu là
sự tăng lên về doanh số thanh toán, về số lượng khách hàng, số lượng các món giao dịch bằng các hình thức TTKDTM
1.2.2 Sự cần thiết phải phát triển thanh toán không dùng tiền mặt
Thanh toán không dùng tiền mặt ra đời đã góp phần thay đổi bộ mặt của nền kinh
tế thể hiện qua tốc độ thanh toán nhanh, an toàn và không phụ thuộc vào khoảng cách địa lý, công nghệ thanh toán hiện đại, con người trở nên văn minh hơn,… Nhờ có TTKDTM mà xã hội đã giảm được những tệ nạn như cướp giật tiền, mọi người không còn lo lắng bị mất trộm, rơi rớt trên đường khi đem một khoản tiền lớn trong người đi
xa nữa TTKDTM giúp cho trình độ văn hóa hiểu biết của con người được nâng cao, con người được tiếp cận với công nghệ hiện đại như internet banking, mobile banking, giúp làm giảm lượng tiền mặt trong lưu thông, giảm các chi phí liên quan như: chi phí thời gian, chi phí đi lại,…, đồng thời tạo ra một quy trình thanh toán nhanh chóng tiện lợi, đem lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế nói chung và hoạt động thanh toán của ngân hàng nói riêng Chính vì vậy mà TTKDTM đang rất cần được phát triển ở các NHTM hiện nay
Trang 3523
1.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá phát triển thanh toán không dùng tiền mặt
1.2.3.1 Chỉ tiêu định tính
Mức độ hài lòng của khách hàng về thanh toán không dùng tiền mặt
Khách hàng chính là những người chủ yếu mang lại nguồn thu cho ngân hàng Khó có thể đánh giá được chính xác được mức độ hài lòng của khách hàng vì mỗi người có một mức độ thỏa mãn khác nhau Tuy nhiên các ngân hàng luôn cố gắng hết sức để thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của khách hàng, bởi một khi nhu cầu của khách hàng được đáp ứng với độ thỏa mãn về nhu cầu càng cao thì khách hàng sẽ ngày càng tín nhiệm ngân hàng, tin tưởng và tiếp tục sử dụng các dịch vụ thanh toán của ngân hàng nhiều hơn, điều này giúp cho TTKDTM ngày càng được phát triển
Mức độ an toàn và chính xác trong cung cấp thanh toán không dùng tiền mặt
Tính an toàn và chính xác: là hai yêu cầu quan trọng của TTKDTM Như ta đã
biết đặc thù của ngân hàng là hoạt động trong môi trường có rủi ro cao, nên nếu ngân hàng cung cấp hoạt động TTKDTM với độ an toàn, chính xác cao thì sẽ tạo được lòng tin của khách hàng, từ đó thu hút được thêm khách hàng mới và giữ chân được khách hàng cũ đến giao dịch tại ngân hàng, từ đó tạo điều kiện cho TTKDTM phát triển và ngược lại
Tính nhanh chóng và kịp thời: thời gian thực hiện giao dịch thanh toán là khoảng
thời gian từ khi khách hàng ra lệnh thanh toán đến khi người nhận tiền được báo có trong tài khoản, đồng thời phía người trả tiền báo nợ Khách hàng luôn quan tâm và mong muốn quá trình thanh toán diễn ra nhanh, nhưng vẫn đảm bảo tính an toàn Chính vì vậy ngân hàng nào có quy trình xử lý TTKDTM càng nhanh chóng, kịp thời
mà an toàn thì sẽ thu hút được khách hàng tham gia thanh toán nhiều hơn, góp phần phát triển TTKDTM và ngược lại
Tiện ích các dịch vụ đi kèm
Các hình thức TTKDTM của các NHTM hiện nay thường có các tiện ích dịch vụ kèm theo Đây là một hình thức quảng bá, nhằm thu hút khách hàng Hiện nay các ngân hàng đang đưa ra nhiều chính sách ưu đãi, hình thức khuyễn mại, dịch vụ đi kèm
mà khách hàng được hưởng khi sử dụng hình thức TTKDTM tại ngân hàng Ví dụ như: khi khách hàng có thẻ tín dụng của ngân hàng Vietcombank, khách hàng sẽ nhận được những thông tin về du lịch từ các văn phòng dịch vụ du lịch của American Express trên khắp thế giới bao gồm: Thông tin về du lịch, tiện ích thanh toán (séc du lịch, đổi tiền, ứng tiền mặt khẩn cấp,…) dịch vụ trợ giúp khẩn cấp toàn cầu, thay thế thẻ khẩn cấp,… khi cần thiết Hay nhân dịp mừng sinh nhật 22 của VP bank, từ 24/8-18/10/2015 VP bank triển khai chương trình ưu đãi “thanh toán cực nhanh-nhận quà
Trang 36cực đã”, thông qua chương trình này khách hàng có cơ hội nhận ngay hàng ngàn phần thưởng tiền mặt khi tham gia thanh toán trực tuyến cùng VPbank,… Chính vì vậy mà ngân hàng nào có các tiện ích, dịch vụ đi kèm đa dạng, thực tế thì sẽ thu hút được nhiều khách hàng tham gia thanh toán qua ngân hàng đó hơn, từ đó tạo điều kiện để phát triển TTKDTM
1.2.3.2 Chỉ tiêu định lượng
Mức độ tăng trưởng doanh số từ thanh toán không dùng tiền mặt
Doanh số là một chỉ tiêu quan trọng dùng để đánh giá sự phát triển TTKDTM, Doanh số TTKDTM là số tiền được khách hàng thực hiện thanh toán thông qua ngân hàng theo dưới các hình thức TTKDTM Khi đó mức tăng trưởng doanh số TTKDTM được xác định theo công thức:
Mức độ tăng
trưởng doanh số =
Doanh sốTTKDTM năm (n) – Doanh số TTKDTM năm (n-1)
Doanh số TTKDTM năm (n-1) Chỉ tiêu này cho biết số tiền khách hàng thực hiện thanh toán theo các hình thức TTKDTM năm nay tăng hay giảm bao nhiêu phần trăm so với năm trước Qua đó giúp ngân hàng nắm được tình hình doanh số TTKDTM của các hình thức thanh toán từ đó
có những biện pháp và chính sách kịp thời giúp ngân hàng quản lý điều tiết kinh doanh được tốt hơn Chỉ tiêu này cao chứng tỏ nhu cầu thanh toán của người dân cao, lượng tiền thanh toán lớn Đây là điều kiện thuận lợi để ngân hàng mở rộng và phát triển TTKDTM mô các giao dịch TTKDTM tăng tức quy mô TTKDTM của ngân hàng đang phát triển
Mức độ tăng trưởng thu nhập từ hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt
Thu nhập là chỉ tiêu cơ bản được sử dụng để đo lường hiệu quả kinh doanh cuả ngân hàng khi phát triển TTKDTM
Thu nhập từ hoạt động TTKDTM là số tiền ngân hàng thu các dịch vụ TTKDTM như: phí phát hành séc, phí thanh toán qua thẻ, qua UNC, UNT,… Mức gia tăng thu nhập từ TTKDTM được xác định theo công thức:
Mức độ tăng trưởng
Thu nhập năm (n) – Thu nhập năm (n-1)
Thu nhập năm (n-1) Chỉ tiêu mức độ tăng trưởng thu nhập từ hoạt động TTKDTM cho biết tổng số tiền ngân hàng thu từ hoạt động TTKDTM năm nay tăng hay giảm bao nhiêu phần trăm so với năm trước, qua đó đánh giá được tình hình biến động của từng hình thức TTKDTM của ngân hàng
Mức độ gia tăng số món thanh toán không dùng tiền mặt
Trang 37Số món TTKDTM loại i năm (n) – Số món thanh toán loại i năm (n-1)
Số món thanh toán loại i năm (n-1)
Chỉ tiêu mức độ gia tăng số món TTKDTM cho biết số lượng thanh toán giao dịch của mỗi loại hình thức TTKDTM năm nay tăng bao nhiêu phần trăm so với năm trước Qua đó có thể đánh giá được tình hình phát triển của từng hình thức TTKDTM của ngân hàng Nếu chỉ tiêu mức độ gia tăng số món TTKDTM cao chứng tỏ hoạt động TTKDTM loại (i) của ngân hàng đã và đang được quan tâm, hoạt động thu hút khách hàng được đẩy mạnh Khi đó ngân hàng cần có những biện pháp nhằm củng cố tạo dựng niềm tin vững chắc hơn, nâng cao hình ảnh của ngân hàng đối với khách hàng
Mức gia tăng số lƣợng khách hàng thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng
Chỉ tiêu mức độ gia tăng số lượng khách hàng TTKDTM qua ngân hàng cho biết
số lượng khách hàng năm nay tăng hay giảm bao nhiêu phần trăm so với năm trước, chỉ tiêu được xác định qua công thức:
Trang 38Chi phí đầu tƣ vào thanh toán không dùng tiền mặt
Chi phí đầu tư vào TTKDTM là các chi phí như: chi phí đầu tư thêm cho các máy ATM, máy POS, hay chi phí tu chỉnh sửa chữa nâng cấp bảo trì các máy móc sử dụng trong TTKDTM, chi phí quảng cáo,… Mức độ gia tăng chi phí được đánh giá qua công thức
Chi phí đầu tư
vào TTKDTM =
Chi phí đầu tư năm (n) - Chi phí đầu tư năm(n-1)
Chi phí đầu tư năm(n-1) Chi phí đầu tư vào TTKDTM cao chứng tỏ ngân hàng trong năm nay đã đầu tư hơn về các trang thiết bị hiện đại phục vụ cho TTKDTM, đồng thời quan tâm xúc tiến các hoạt động quảng cáo, tuyên truyền các tiện ích khi sử dụng các hình thức TTKDTM của ngân hàng cho mọi người nhằm mục tiêu gia tăng số lượng khách hàng, tăng thu nhập từ hoạt động TTKDTM cho ngân hàng Tuy nhiên chỉ tiêu này không nên quá cao vì chi phí này sẽ làm giảm thu nhập của ngân hàng
Số lƣợng máy ATM (Automated Teller Machine) và máy POS (Point Of Sales)
Máy rút tiền tự động ATM là một thiết bị không còn xa lạ với người dân hiện nay, nó cho phép giao dịch tự động với khách hàng, nhận dạng khách hàng, thực hiện các yêu cầu của khách hàng như: kiểm tra tài khoản, rút tiền, chuyển khoản, thnah toán tiền hàng hóa, dịch vụ,…
Hệ thống máy POS là hệ thống máy chấp nhận thanh toán thẻ, giúp khách hàng thanh toán tại các trung tâm thương mại, siêu thi,…khách hàng có thể thanh toán trong nội địa hoặc quốc tế Thẻ ngân hàng có liên kết với các tổ chức thanh toán quốc tế như: VISA, MASTER CARD, AMEX, hay thẻ tín dụng do ngân hàng Việt Nam phát hành đều có thể thanh toán trên các máy POS
Để có thể tiếp cận và thu hút khách hàng các NHTM hiện nay đang không ngừng gia tăng số lượng máy ATM, máy POS về cả số lượng và chất lượng trên khắp các tỷnh thành nhằm mở rộng và phát triển TTKDTM
Chi phí giao dịch thanh toán không dùng tiền mặt
Chi phí cũng là một tiêu chí cạnh tranh của các NHTM trên lĩnh vực TTKDTM Ngân hàng nào có mức chi phí giao dịch thấp hơn sẽ dễ dàng trong việc thu hút khách hàng sử dụng các dịch vụ, các hình thức thanh toán qua ngân hàng hơn
Trang 3927
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển thanh toán không dùng tiền mặt
1.3.1 Nhân tố kiểm soát được
1.3.1.1 Quy trình thanh toán không dùng tiền mặt
Khách hàng luôn mong muốn quy trình cũng như các thủ tục thanh toán được diễn ra nhanh chóng, đơn giản thuận tiện trong cách thức làm việc Với quy trình thủ tục thanh toán nhanh gọn, kết hợp nhịp nhàng giữa các bước sẽ tạo điều kiện cho ngân hàng phát hiện kịp thời, ngăn ngừa các rủi ro xảy ra, thu hút nhiều khách hàng, từ đó
mở rộng và đa dạng hóa các hình thức TTKDTM Tuy nhiên phải luôn quan tâm đảm bảo an toàn trong quy trình, tránh những sai xót xảy ra, nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng của quy trình thanh toán, đồng thời khẳng định được uy tín của ngân hàng
1.3.1.2 Quy mô, phạm vi hoạt động của ngân hàng
Nếu các ngân hàng có mạng lưới rộng khắp cả nước sẽ tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân đến giao dịch, nói cách khác nếu mạng lưới chân rết càng rộng thì NHTM sẽ càng thực hiện được chức năng thanh toán của mình một cách
dễ dàng, đồng thời với chính sách đa dạng hóa sản phẩm sẽ giúp ngân hàng đạt được mục tiêu an toàn, sinh lời, giảm rủi ro Ngoài ra khi đa dạng hóa các loại hình kinh doanh ngân hàng sẽ có nhiều nguồn thu từ việc thu phí dịch vụ, trên cơ sở đó có thể giảm phí suất thanh toán, tạo điều kiện cạnh tranh với các NHTM khác, khuyến kých TTKDTM phát triển
1.3.1.3 Chất lượng nguồn nhân lực
Theo điều tra nghiên cứu thì con người là tài nguyên vô giá của ngân hàng, nếu biết tận dụng và khai thác tiềm năng này tốt thì ngân hàng sẽ ngày càng vững mạnh, phát triển Ngày nay máy móc hiện đại dần thay thế cho các thao tác thủ công, đòi hỏi người sử dụng phải có trình độ nghiệp vụ cao, và khả năng xử lý tình huống linh hoạt, Như vậy vấn đề nguồn nhân lực ở đây không đòi hỏi số lượng mà yêu cầu cao về chất lượng TTKDTM hiện nay không còn mới mẻ với chúng ta nhưng để thật sự am hiểu sâu về quy trình, nội dung nghiệp vụ thì các ngân hàng cần không ngừng đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ,…cho các nhân viên để có thể đáp ứng được nhu cầu thanh toán của khách hàng, đồng thời giúp cho TTKDTM của ngân hàng ngày càng phát triển Ví dụ như các NHTM hiện nay thường xuyên tổ chức các lớp nâng cao nghiệp vụ cho nhân viên ở các phòng ban, ngoài ra còn tổ chức cuộc thi cán bộ ngân hàng thông thái nhằm khích lệ động viên tinh thần rèn luyện, học hỏi của các nhân viên
1.3.1.4 Hoạt động maketing
Maketing trong hoạt động thanh toán là một hình thức quảng cáo, tuyên truyền, giới thiệu các sản phẩm TTKDTM đến với người tiêu dùng Hiện nay tuy rằng
Trang 40TTKDTM đã rất phổ biến, nhưng sự phổ biến này lại chỉ tập trung ở trung tâm thành phố lớn, ven các tỷnh thành phát triển, còn những nơi huyện, xã,…thì TTKDTM vẫn còn khá mới mẻ Chính vì vậy mà ngân hàng cần tập trung đẩy mạnh hoạt động maketing để quảng bá sâu rộng về lợi ích cũng như sự tiện lợi của hình thức TTKDTM trong cuộc sống hàng ngày Ví dụ: ngân hàng có thể đầu tư về quảng cáo trên tivi, đài báo truyền thông về các hình thức TTKDTM của ngân hàng, ngoài ra còn có thể cử nhân viên tư vấn và mở thẻ miễn phí cho sinh viên, người dân ở các thành phố, huyện chưa phát triển,…
1.3.1.5 Hiện đại hóa công nghệ ngân hàng
Khoa học công nghệ hiện nay là yếu tố vô cùng quan trọng đối với kinh doanh nói chung và TTKDTM nói riêng của các ngân hàng hiện nay Các NHTM đang tăng cường ứng dụng các nghiệp vụ ngân hàng điện tử như: internet banking, bomile banking,… Với các hình thức này sẽ giúp tiết kiệm thời gian cho khách hàng Khách hàng không cần tốn thời gian, chi phí đi lại để đến ngân hàng giao dịch mà vẫn có thể thực hiện được nhu cầu giao dịch của mình Bằng cách này các NHTM sẽ thu hút được nhiều khách hàng bởi những tiện ích của hình thức thanh toán hiện đại này mang lại
1.3.2 Nhân tố không kiểm soát được
1.3.2.1 Môi trường kinh tế
Môi trường kinh tế thể hiện thông qua những biến số kinh tế như nhu nhập quốc dân, tốc độ tăng trưởng thu nhập quốc dân, mức thu nhập bình quân đầu người, tỷ lệ thất nghiệp, lạm phát, Sự phát triển ổn định của các nhân tố này là điều kiện thuận lợi để phát huy chức năng thanh toán của ngân hàng, đồng thời tác động mạnh đến nhu cầu và cách thức sử dụng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng cảu khách hàng Môi trường kinh tế vĩ mô ổn định, cá biến số vĩ mô có dấu hiệu tốt, tình hình sản xuất kinh doanh phát triển thúc đẩy quá trình mua bán diễn ra thường xuyên, chi tiêu thực tế của dân cư tăng nhanh sẽ làm tăng nhu cầu tiêu dùng, dẫn đến nhu cầu thanh toán hàng hóa, dịch
vụ cao, tạo triển vọng phát triển TTKDTM Ngược lại nếu nền kinh tế suy thoái, kinh
tế vĩ mô bất ổn định sẽ gây mất lòng tin nghiêm trọng của người dân về triển vọng thu nhập của mình, qua đó thu nhập trong tương lai của người dân dự kiến giảm dẫn đến nhu cầu chi tiêu giảm, kéo theo nhu cầu thanh toán hàng hóa dịch vụ giảm, hoạt động TTKDTM không thể phát triển được
1.3.2.2 Môi trường chính trị
Môi trường chính trị ổn định, không xảy ra xung đột, đảo chính, nội chiến sẽ tạo ra một môi trường kinh doanh an toàn, lành mạnh tạo niềm tin cho người dân về sự phát triển kinh tế vững mạnh, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc mua bán hàng hóa, dịch vụ, tăng tỷ trọng thanh toán qua ngân hàng, tạo điều kiện cho ngân hàng thu hút