Việc bán các sản phẩm với mức giá thấp một cách bất hợp lý có thể đe dọa khả năng tài chính của các nhà sản xuất trong nước, nước mà các sản phẩm đó đang được xuất khẩu đến.. Việc sửa đổ
Trang 1Giới thiệu về luật chống bán phá giá của EU
Cẩm nang khóa học
Khóa đào tạo được POSMA tổ chức với sự hỗ trợ từ Danida (FSPS) Được chuẩn bị
và thực hiện bởi John Hambrey và David Blandford.
Tư vấn Hambrey 2010 - www.hambreyconsulting.co.uk
Trang 22
Giới thiệu……… 3
1 Giới thiệu sơ lược về lịch sử chống bán phá giá ……….… …5
2 Những nét cơ bản của các vụ kiện chống bán phá giá ……… ……… 8
3 Quy trình chống bán phá giá của Hoa Kỳ ……… …….10
4 Quy trình chống bán phá giá của EU……… ……… … 32
5 Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) - Hiệp định chống bán phá giá (ADA) …… 37
6 Các Quy trình giải quyết tranh chấp của WTO (DSP)……… … ……42
7 Chiến lược và hành động ……… ………… 48
Phụ lục 1: Một số định nghĩa ……….51
Phụ lục 2: Các vụ kiện giải quyết tranh chấp hiện nay của WTO và mối liên hệ đặc biệt đối với Việt Nam……….55
Phụ lục 3: Một số vấn đề chính phát sinh từ kinh nghiệm các thủ tục chống bán phá giá được thực hiện bởi Hoa Kỳ chống lại hàng nhập khẩu cá da trơn và tôm từ Việt Nam … 59
Phụ lục 4: Một số vấn đề trình bày dữ liệu……… ………65
Phụ lục 5: Các trang web liên kết hữu ích……….68
Phụ lục 6: Đề cương khóa học……….69
Phụ lục 7: Chương trình Đào tạo Mẫu ……….73
Trang 33
Giới thiệu
Tài liệu đào tạo này đã được soạn bởi Tiến sĩ John Hambrey
(nhà kinh tế học thuỷ sản) và Giáo sư David Blandford (chuyên gia
thương mại quốc tế), bổ sung thêm một số tài liệu có trong ba khóa
học một tuần tại Việt Nam – tại Đồ Sơn, Bình Định và Cần Thơ Các
khóa học được POSMA hỗ trợ với sự tài trợ của Danida (Chương
trình FSPS)
Quá trình bán phá giá diễn ra khi các sản phẩm của một quốc
gia này được bán sang một quốc gia khác (xuất khẩu) với mức giá
"thấp hơn giá thị trường" Thuật ngữ này được sử dụng để chỉ chi phí
sản xuất cùng một khoản lợi nhuận hợp lý Việc bán các sản phẩm với
mức giá thấp một cách bất hợp lý có thể đe dọa khả năng tài chính của
các nhà sản xuất trong nước, nước mà các sản phẩm đó đang được
xuất khẩu đến Nhiều quốc gia đã triển khai luật chống bán phá giá
để chống lại mối đe dọa này Theo luật đó, các nhà sản xuất tại nước
nhập khẩu có thể đệ đơn khiếu nại đến chính quyền quốc gia, cáo
buộc bán phá giá gây thiệt hại cho các doanh nghiệp của họ Nếu các
cáo buộc bán phá giá được chứng minh là đúng thì sẽ có một loại thuế
được áp dụng vào các mặt hàng xuất khẩu, tương đương với giá chênh
lệch bán phá giá, hoặc đủ để có thể ngăn ngừa thiệt hại
Ngành công nghiệp thủy sản của Việt Nam đã phải trải qua hai
vụ kiện chống bán phá giá khởi kiện bởi các nhà sản xuất Hoa Kỳ
chống lại hàng nhập khẩu cá da trơn (3/2002 ) và tôm (4/2003) Thuế
đánh vào các loại hàng hóa này là rất lớn, từ 37% đến 64% cho cá da
trơn và 4$-26% đối với tôm - cao hơn rất nhiều so với mức lợi nhuận
thông thường
Trong giai đoạn suy thoái, các quốc gia đều sẵn sàng bảo vệ
các ngành công nghiệp nội địa khỏi cạnh tranh nước ngoài Do đó, khi
Việt Nam tiếp tục xuất khẩu các loại mặt hàng thủy hải sản sang thị
trường Mỹ và Liên minh châu Âu thì khả năng có các vụ kiện trong
tương lai là đáng kể
Các hành động chống bán phá giá, mặc dù trên lý thuyết có ý
nghĩa giải quyết sự không công bằng trong thương mại, nhưng lại
đang được sử dụng như một rào cản chống lại sự cạnh tranh công
bằng, đặc biệt là chống lại giá lao động hiệu quả / thấp tại các nước
đang phát triển Các biện pháp đó mang tính phân biệt đối xử, làm suy
yếu các nguyên tắc lợi thế so sánh, và kết quả là người tiêu dùng tại
các quốc gia nhập khẩu phải trả nhiều tiền hơn cho mặt hàng đó, cũng
như làm giảm lợi nhuận cho các nhà sản xuất và xuất khẩu ở các nước
Bán phá giá là gì?
Quá trình bán phá giá diễn ra khi các sản phẩm của một quốc gia này được bán sang một quốc gia khác (xuất khẩu) với mức giá "thấp hơn giá thị trường" Thuật ngữ này được sử dụng để chỉ chi phí sản xuất cùng một khoản lợi nhuận hợp lý.
Trang 44
đang phát triển Hầu hết các nhà kinh tế coi luật chống bán phá giá là một điều xấu
Các loại thuế chống bán phá giá thông thường không chỉ dựa trên các cách tính toán có mục tiêu cứng nhắc mà đang bị ảnh hưởng nhiều bởi các cách tiếp cận, phương pháp, và các nguồn dữ liệu Điều này có nghĩa chúng có thể dễ dàng bị ảnh hưởng bởi vận động hành lang và chính trị; tuy nhiên nó cũng có nghĩa chúng ta có thể phản ứng, chống lại các loại thuế này một cách mạnh mẽ tại nhiều thời điểm trong cả quá trình kiện Trong khi các vụ kiện chống bán phá giá đều có nhiều thành kiến chống lại các quốc gia như Việt Nam, khả năng các vụ kiện được rút
là rất ít Do đó, với những chiến lược can thiệp hiệu quả, chúng ta vẫn có thể đạt được một thỏa thuận tốt hơn
Việt Nam đang ở một vị trí đặc biệt yếu do quy chế kinh tế phi thị trường (NME) của mình, được xác định khi gia nhập WTO năm 2007 Tình trạng này cho phép các quốc gia hoặc các tập đoàn kinh doanh như Mỹ và EU ước tính giá trị thị trường bằng cách sử dụng chi phí và giá cả tại các nước thứ 3 – các nước tương tự về tình trạng phát triển nhưng được công nhận là nền kinh tế thị trường Điều này không mang lại hiệu quả cho ngành sản xuất Việt Nam
Chống bán phá giá là một vấn đề đa chiều và cách giải quyết hiệu quả vấn đề này phải yêu cầu một sự hiểu biết về chính trị, kinh tế, pháp luật, thể chế và truyền thông
Khoá học này sẽ cung cấp một cái nhìn tổng quan rộng lớn nhằm hỗ trợ các nhà sản xuất chính tại Việt Nam phát triển một chiến lược hiệu quả để tránh hoặc giảm thiểu những ảnh hưởng xấu của các biện pháp chống bán phá giá
Bài tập 1: Tầm quan trọng của chống bán phá giá
1 Liệt kê c|c mối đe dọa chính đến khả năng sinh lời v{ tính bền vững
trong d{i hạn v{ của c|c doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Việt Nam
2 Xếp hạng (ưu tiên) đối với những đe dọa n{y theo khía cạnh
a) T|c động lịch sử
b) T|c động tiềm t{ng trong tương lai
3 Tầm quan trọng của chống b|n ph| gi| so với những rủi ro v{ mối đe
dọa kh|c?
Trang 55
bán phá giá
Nhiều luật pháp đã được ban hành trong những năm đầu thế
kỷ 20 như một biện pháp phòng thủ chống lại sự “bán phá giá bất
chính” “Bán phá giá bất chính” là quá trình xảy ra khi các công ty
có thị trường trong nước được bảo hộ chống lại cạnh tranh bằng
cách dùng tiền thu được từ bán hàng với giá cao trong nước để trợ
giá cho hàng hóa bán ở các thị trường nước ngoài, do đó loại bỏ
được sự cạnh tranh tại các thị trường đó Các công ty này sau đó
nắm sức mạnh độc quyền và bán lại hàng hóa với giá cao
Các luật chống bán phá giá đầu tiên đã được thông qua tại
Canada vào năm 1904 để không cho thép được nhập khẩu vào
Canada từ Mỹ, sau đó là các luật New Zealand (1905), Australia
(1906) và Nam Phi (1914) Trong mọi trường hợp các nhà chức
trách hải quan có thẩm quyền xác định việc bán phá giá có xảy ra
hay không và đánh thuế để tăng giá hàng nhập khẩu tới một mức
giá “thị trường” hoặc “bình thường”
Mục đích của các đạo luật đó đã nhanh chóng chuyển từ
ngăn chặn các hành xử phi cạnh tranh (ví dụ như “bán phá giá bất
chính”) sang hạn chế sự cạnh tranh của hàng nhập khẩu, tức là, để
bảo hộ ngành sản xuất nội địa trước sự cạnh tranh của nước ngoài
Việc sửa đổi luật Canada vào năm 1921 và 1930 có nghĩa rằng “giá
trị thị trường công bằng” trong mọi trường hợp không thể “ít hơn
chi phí sản xuất thực tế của mặt hàng tương tự… cộng với một mức
tăng hợp lý cho chi phí bán hàng và lợi nhuận.”
Đối với hầu hết các nước biểu thuế nhập khẩu hiện tại là
cách chủ yếu hạn chế cạnh tranh nước ngoài (ví dụ, Hoa Kỳ) nhưng
thẩm quyền chống bán phá giá đã được sử dụng rộng rãi ở Úc,
Canada và Nam Phi Việc sử dụng luật chống bán phá giá bắt đầu
tăng lên từ những năm 1960 khi việc cắt giảm thuế quan được đàm
phán theo Hiệp định chung về Thuế quan và Mậu Dịch (GATT) đã
trở nên ngày càng quan trọng
Kể từ đó, luật chống bán phá giá đã được sử dụng rộng
khắp ở cả các nước phát triển và đang phát triển
Sự chuyển đổi
từ luật chống cạnh tranh sang luật bảo hộ
“mối quan tâm chủ yếu
là để bảo vệ ngành sản xuất của Mỹ trước những nhà sản xuất nước ngoài
có chi phí sản xuất thật
sự thấp hơn, dù là do họ trả lương thấp hơn, gánh chịu ít chi phí điều tiết và kiểm soát ô nhiễm hơn, được quản lý tốt hơn, có nhân công giỏi hơn, hoặc
có nhiều nhà máy và thiết
bị hiện đại hơn.” (Richard Posner, Phân tích Luật pháp về mặt Kinh tế,
1992, trang 310-311.)
Trang 66
Hình 1: 10 nước đứng đầu trong các vụ kiện chống bán phá giá (1965-2008) (nguồn WTO)
Hình 2: Các nước bị kiện chống bán phá giá nhiều nhất (1965-2008) (nguồn WTO)
Không ngạc nhiên khi Trung Quốc, một quốc gia với mức hiệu quả về lương thấp cùng nền kinh
tế phát triển nhanh chóng đã là mục tiêu của nhiều vụ kiện chống bán phá giá nhất cho đến nay
Trang 7Những thông điệp chính: Chống bán phá giá có công bằng không? Không
Mang tính chất bảo hộ
Có khuynh hướng xử phạt những nhà sản xuất có hiệu quả
Quy trình này có cái nhìn thiên lệch về các nước đang phát triển và những nền kinh tế “phi thị
trường”
Chống bán phá giá sẽ xảy ra không? Có lẽ
Ngành sản xuất thủy sản tại Việt Nam đang tăng trưởng nhanh chóng với môi trường thuận lợi
Năng suất hoạt động và sản xuất tăng nhanh
Tiền lương tương đối thấp
“Sản phẩm tương tự đã được sản xuất tại các quốc gia phát triển hơn, với mức lương cao hơn
trong nhiều năm
Các nền kinh tế đã phát triển dường như đang trải qua vấn đề suy thoái kinh tế
Trang 88
Các thủ tục tố tụng thường được khởi xướng dưới hình thức một
đơn khiếu nại hoặc đơn khởi kiện nộp bởi hoặc thay mặt cho một
ngành công nghiệp trong nước, đưa ra bằng chứng về bán phá giá, thiệt
hại cho ngành công nghiệp trong nước, và mối quan hệ nhân quả giữa
việc bán phá giá và thiệt hại đó;
Các cuộc điều tra được thực hiện bởi các cơ quan chính phủ
(nhà chức trách theo thuật ngữ WTO) Việc điều tra xác định việc bán
phá giá có diễn ra hay không căn cứ vào việc giá xuất khẩu có thấp hơn
giá trị thị trường không (điển hình là giá của sản phẩm tương tự ở thị
trường trong nước xuất khẩu) Trường hợp không sử dụng được giá bán
hàng ở thị trường nội địa thì giá trị bình thường có thể được căn cứ vào
giá bán hàng cho các nước thứ 3 hoặc giá trị suy định bao gồm giá
thành sản xuất cộng với lợi nhuận
Người ta cũng xác định xem liệu hàng xuất khẩu được bán phá
giá có gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại vật chất cho ngành sản xuất
nội địa làm ra sản phẩm tương tự hay không?
Nếu sự xác định việc bán phá giá và thiệt hại đều được khẳng
định thì quyết định cuối cùng là áp thuế chống bán phá giá cho các đợt
nhập khẩu trong tương lai Ở một số nước (như Mỹ), thuế được đánh giá
trên cơ sở hiệu lực hồi tố – hàng nhập khẩu phải được đi kèm với thuế
ước tính dưới hình thức tiền đặt cọc với thuế thực tế được xác định hằng
năm Ở các nước khác (ví dụ như Liên minh Châu Âu), thuế được áp
trên cơ sở hiệu lực về sau, tức là được thu khi nhập khẩu với thuế suất
được xác định trong quá trình điều tra
Các biện pháp tạm thời: có thể được áp đặt trong quá trình điều
tra – sau khi xác định sơ bộ về việc bán phá giá và thiệt hại Các biện
pháp đó thường là các hình thức ký quỹ hoặc tiền đặt cọc kèm theo các
hàng nhập khẩu trong tương lai
Các cuộc điều tra có thể được đình chỉ hoặc chấm dứt nếu nhà
xuất khẩu đưa ra cam kết về giá, ví dụ : đồng ý tăng giá để loại bỏ tổn
thất gây ra bởi bán phá giá
Thường có thời hạn cho các biện pháp chống bán phá giá
Một số thuật ngữ và định nghĩa
Sản phẩm tương tự:
“Một sản phẩm giống hệt, hoặc nếu không giống hệt thì tương tự về đặc điểm và cách sử dụng như sản phẩm được điều tra”
Phần 771(4)(A) của Đạo luật Thuế quan Mỹ 1930
Ngành sản xuất bị tác động (Ảnh hưởng):
“Tập hợp tất cả các nhà sản xuất một sản phẩm tương tự nội địa, hoặc các nhà sản xuất với tổng sản lượng của 1 sản phẩm tương tự chiếm tỷ trọng lớn trong tổng sản phẩm quốc nội của sản phẩm (tương tự) đó”.
Phần 771(4)(A) của Đạo luật Thuế quan Mỹ
1930
Trang 99
Các vấn đề thảo luận
1 Ai được lợi nếu vụ kiện chống bán phá giá thành công?
2 Ai thua thiệt?
3 Cạnh tranh “không công bằng” là gì?
4 Có phải các vụ kiện chống phá giá giải quyết vấn đề cạnh tranh không bình
đẳng không? Nếu không phải thì mục đích của chúng là gì?
Trang 10Các cơ quan liên quan
1 Bộ Thương Mại Hoa Kỳ (DOC): có nhiệm vụ đẩy mạnh phát triển kinh tế và việc làm Có
trách nhiệm thực thi luật thương mại của Mỹ Đơn vị quản lý hoạt động nhập khẩu bao gồm 9 cơ
quan (văn phòng) Văn phòng Trung Quốc/Nền kinh tế phi thị trường (NME) chủ yếu xử lý
những những trường hợp có liên quan tới các quốc gia nêu trên
2 Ủy ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ (ITC): có trách nhiệm lớn trong các điều tra về các
vấn đề thương mại
Thủ tục chống bán phá giá được nêu rõ trong Cuốn Sổ tay về Chống bán phá giá và Thuế Chống bán phá giá (bản 4056) http://www.usitc.gov/publications/by_type.htm
Các bên tham gia tố tụng về chống bán phá giá
Có hai nhóm người tham gia vào các vụ kiện chống bán phá giá - những người có quyền đại diện pháp lý (các bên liên quan) và những người khác, người không có quyền đó
Các bên liên quan bao gồm:
Nhà chế tạo, sản xuất hoặc xuất khẩu nước ngoài, hoặc nhà nhập khẩu hoặc các tổ chức kinh doanh thương mại Mỹ với đa số các nhà sản xuất, xuất khẩu hoặc nhập khẩu mặt hàng liên quan;
Chính phủ của nước sản xuất/xuất khẩu;
Nhà chế tạo, sản xuất, bán buôn các sản phẩm tương tự trong nước của Mỹ;
Nghiệp đoàn hoặc nhóm công nhân Mỹ tham gia chế tạo, sản xuất hoặc bán buôn sản phẩm tương tự liên quan;
Hiệp hội thương mại hoặc kinh doanh doanh Mỹ với đa số tham gia chế tạo, sản xuất, hoặc bán buôn các sản phẩm tương tự liên quan
Đối tượng khác bao gồm người tiêu dùng và sử dụng hàng công nghiệp Mỹ
Tiếp cận thông tin
Thông tin công khai trong phòng hồ sơ cộng cộng tại DOC (1401 Đại lộ Constitution , NW, Washington, DC) Các thông tin Độc quyền kinh doanh chỉ có thể được xem xét theo quy định của Lệnh bảo mật hành chính (gọi tắt là APO) Chỉ có những đại diện pháp lý của các bên quan
tâm mới có thể xin tiếp cận với APO
Trang 11
11
Tổng quan về Quy trình chống bán phá giá (AD)
Các vụ kiện chống bán phá giá ở Mỹ thường được khởi
xướng bởi các nhà sản xuất nội địa (Mỹ) (“Bên khởi kiện”) chống
lại các nhà sản xuất nước ngoài (nhà xuất khẩu) (bên bị khởi kiện)
Bộ Thương Mại Hoa Kỳ cũng có thể tự bắt đầu một cuộc điều tra
chống bán phá giá, nhưng điều này rất hiếm (3 trường hợp trong 20
năm)
DOC and ITC cùng một lúc nhận đơn kiến nghị từ ngành
công nghiệp bị ảnh hưởng của Mỹ (một đơn vị trong DOC sẽ tư
vấn và hướng dẫn cho các doanh nghiệp kiến nghị)
DOC là cơ quan duy nhất có thẩm quyền mở hay không mở
một cuộc điều tra DOC xác định liệu việc bán phá giá có xảy ra
hay không và mức độ của việc bán phá giá – nghĩa là bán hàng với
mức giá dưới giá trị thị trường (LTFV) của các sản phẩm tương tự
Bên cạnh đó, ITC xác định xem ngành công nghiệp của Mỹ đang
cạnh tranh với những sản phẩm bị cáo buộc là bán phá giá có bị
thiệt hại hoặc đe dọa về vật chất bởi các hàng hóa nhập khẩu đó
hay không
Cùng các cơ quan thực hiện một đánh giá của cả hai bán
phá giá và thương tích, và nếu cả hai được tìm thấy sau đó ITC đưa
ra một quyết định cuối cùng là bán phá giá đang diễn ra và cho
phép tiền của thuế chống bán phá giá theo tính toán của DOC
Những cơ quan trên cùng nhau đưa ra đánh giá về mức độ
bán phá giá và thiệt hại, và nếu cả hai yếu tố trên đều có thì ITC sẽ
đưa ra quyết định cuối cùng rằng việc bán phá giá đang diễn ra
cũng như áp thuế chống bán phá giá theo mức tính của DOC
Hình 1: Trình tự các sự kiện trong điều tra chống bán phá giá
Thiệt hại vật chất
Đạo luật định nghĩa
“thiệt hại vật chất” là những thiệt hại nhỏ, vụn vặt, không đáng kể
Biên độ bán phá giá
Là sự khác biệt giữa giá trả cho sản phẩm của Việt Nam tại Mỹ (đôi khi được hiểu như Giá của Mỹ, hoặc giá xuất khẩu) và giá thông thường hay giá thị trường của sản phẩm (dựa trên giá thành sản phẩm tại thị trường của chính nước xuất khẩu, hay đánh giá dựa theo chi phí sản xuất cộng lợi nhuận)
Trang 1212
Các thủ tục khởi kiện
Bên khởi kiện phải điền vào một mẫu đơn khởi kiện với 5 phần
chính:
• Mục A Thông tin chung – yêu cầu mô tả phạm vi của điều
tra (ví dụ: những đặc tính kỹ thuật và chức năng của sản phẩm,
phân loại thuế quan)
• Mục B Mô tả về hàng hóa “tương tự”, ví dụ như đặc tính
của sản phẩm nhập khẩu hoặc được sản xuất trong nước, những nét
tương tự, mức độ tương tác tại thị trường Mục này cũng yêu cầu
thông tin về nhà xuất khẩu và nhập khẩu
• Mục C Yêu cầu các thông tin về giá và bằng chứng về bán
phá giá Dữ liệu phải bao gồm thông tin liên quan đến giá hàng hóa
của Mỹ và giá trị bình thường của sản phẩm tương tự ở nước ngoài
• Mục D Tìm hiểu chứng cứ của các trường hợp nghiêm
trọng như bán phá giá chiến lược nhằm xả hàng trước khi bị áp
thuế
• Mục E Liên quan tới chứng cứ về thiệt hại cho nhà sản xuất
trong nước – chứng cứ có thật hay mối đe dọa
Pháp luật của Mỹ quy định những yêu cầu dưới đây phải được đáp
ứng để mở một cuộc điều tra:
1 Phải có chứng cứ về bán phá giá
2 Phải có chứng cứ rằng ngành công nghiệp của Mỹ hoặc là
* bị thiệt hại vật chất
* bị đe dọa thiệt hại vật chất
* hoặc việc thành lập một ngành sản xuất tại Mỹ bị chậm trễ
công bằng do hàng hóa nhập khẩu
Đánh giá của DOC về cáo buộc thiệt hại có thể dựa trên :
giá trong nước sụt giảm
Tỷ lệ thành công của các đơn kiện tại Mỹ
Qua các quyết định sơ bộ, khoảng 80% các trường hợp có đơn kiện thành công
“Lũy tích”
Khi đánh giá thiệt hại, bên khởi kiện và chính quyền
có thể tổng hợp hoặc "lũy tích" các sản phẩm tương
tự đến từ nhiều quốc gia Điều này làm tăng tính tích cực trong quá trình đánh giá thiệt hại, và có nghĩa là chỉ một số ít các nhà xuất khẩu mới phải trả tiền thuế.
Trang 1313
sản xuất trong nước giảm
sử dụng công suất giảm
Giảm doanh thu ròng và thị phần
Doanh thu mất do hàng nhập khẩu
lợi nhuận giảm
Việc làm giảm
Ngoài ra, phải có chứng cứ về mức độ hỗ trợ hợp lý cho các hành động chống bán phá giá:
Bên khởi kiện và các bên ủng hộ của mình phải chiếm ít nhất 25% tổng giá trị khối lượng sản xuất trong nước
Những người phản đối phải đại diện cho ít hơn 50% tổng sản lượng đầu ra của tất cả các bên bày tỏ ý kiến
Để bắt đầu một cuộc điều tra, DOC cũng phải xác định tính chất và phạm vi của sản phẩm tương tự, và ước tính biên độ bán phá giá (xem bảng bên)
DOC có 20 ngày để đánh giá đơn yêu cầu và để xác định xem có nên bắt đầu một cuộc điều tra hay không Nếu DOC xác định có căn cứ để mở một cuộc điều tra, một thông báo về việc điều tra sẽ được công bố trên ấn bản Đăng ký Liên bang (tập san chính thức của Chính phủ Liên bang) Một bảng liệt kê danh mục về việc mở một cuộc điều tra cũng sẽ được cung cấp để cho phép các xác định thông tin
Bài tập 2: Làm thế nào để né tránh các đơn khởi kiện mặt hàng Tra/Basa vào
năm 2002
Thảo luận Tóm tắt kết luận của bạn trên đồ thị
1 Các tác nhân vào g}y ra mối lo lắng đầu tiên đến c|c hộ nuôi c| da trơn của
Mỹ?
2 Một c|ch chi tiết hơn, thảo luận lý do tại sao c|c nh{ xuất khẩu c|c da trơn
từ việt Nam b|n b|n với gi| thấp hơn so với những sản phẩm tương tự của Mỹ ở
một biên độ lớn như vậy?Liên quan đến c|c vấn đề sau:
a Chi phí sản xuất thấp ở Việt Nam?
b C|c biên độ lợi nhu}n (C|c hộ nuôi c| da trơn của Việt Nam)?
c Mối quan hệ mặc cả không công bằng giữa hộ nuôi với nh{ chế biến?
d Mối quan hệ mặc cả không công bằng giữa nh{ xuất khẩu v{ nh{ nhập
khẩu?
e Những nguyên nh}n kh|c?
3 Mối đe dọa đến c|c nh{ sản xuất nước ngo{i có thể được giảm như thế n{o
– m{ không mất đi sự tăng trưởng xuất khẩu l{nh mạnh?
Trang 1414
Quyết định của ITC
ITC chủ yếu tập trung vào việc xác định liệu có thiệt hại, mối đe dọa gây thiệt hại, hoặc
sự đình trệ nào theo như định nghĩa trong luật hay không Trong khi DOC đánh giá tính chất của
các chứng cứ gây thiệt hại, ICT sẽ quyết định xem liệu có bất cứ thiệt hại vật chất thực sự, hay mối đe dọa gây thiệt hại hay không ITC cũng đưa ra quyết định riêng đối với sản phẩm tương
tự
Trong đánh giá về thiệt hại của mình, ITC sẽ tiến hành đánh giá lũy tích các tác động liên
quan đến sản phẩm tương tự từ một số quốc gia Vì vậy, trong trường hợp vụ kiện chống bán phá giá tôm giữa Mỹ và Việt Nam, ITC "lũy tích" tôm nước lợ từ Việt Nam, Trung Quốc, Brazil, Thái Lan và Indonesia
ITC sẽ tham vấn rộng rãi trước khi đưa ra quyết định của mình ITC ban hành một phiếu điều tra sơ bộ tới các nhà sản xuất, nhập khẩu và nhà sản xuất nước ngoài được đại diện bởi luật
sư Mặc dù không cần thiết phải trả lời phiếu điều tra, nhưng hậu quả của việc không trả lời có thể sẽ rất tốn kém
Một Hội nghị công khai ở giai đoạn sơ bộ cho phép trình bày các lập luận Khuyến khích
có báo cáo tóm tắt sau hội nghị Báo cáo của nhân viên sau đó được chuẩn bị, Ủy ban sẽ bỏ phiếu về cuộc điều tra Cần chú ý rằng một nhân viên kinh tế của ITC sẽ tham gia vào quá trình điều tra, do đó những tranh luận mang tính chất kinh tế có thể có hiệu quả trong giai đoạn này
Thông điệp chính: Tránh chống bán phá giá
• Hiểu biết về thị trường tốt hơn: Người bán (nhà sản xuất và nhà xuất khẩu) có
khả năng cao hơn trong việc thương lượng mức giá tốt nhất có thể - “mức mà thị trường sẽ chấp nhận” – do đó bán hàng hóa rẻ hơn với biên độ thấp hơn
• Người bán xác định và tiếp cận được nhiều người mua hơn – để gia tăng cạnh
tranh giữa các người mua/nhà nhập khẩu và tăng cường vị thế mặc cả của mình
• Đa dạng hóa sản phẩm và tăng cường các sản phẩm giá trị gia tăng (nhiều yếu tố
chế biến hơn) – do đó sẽ có ít cạnh tranh hơn, ít gây tác động tới các nhà sản
xuất khác
• Đa dạng hóa thị trường - Ít gây tác động tới thị trường của bất kỳ ai, ít bị tổn
thương trước bất kỳ vấn đề nào phát sinh từ một thị trường
• Phối hợp / chia sẻ thông tin giữa nông dân-nhà chế biến-chính phủ
• Giảm một cách hiệu quả số lượng các trang trại nhỏ hơn (ví dụ: thông qua các
nhóm marketing hoặc hợp lý hóa) dẫn tới cạnh tranh giảm xuống và giá cả tăng
lên
Trên thực tế Việt Nam đã và đang tiến hành rất nhiều những biện pháp nêu trên (Ví
dụ như quảng bá cá Tra từ Mỹ là chủ yếu đến hơn 60 quốc gia – Châu Âu, Nga, Trung
Đông….; thông tin thị trường VASEP.)
Trang 1515
Một quyết định sơ bộ được đưa ra trong vòng 45 ngày sau khi nộp đơn kiến nghị, hoặc
25 ngày sau khi DOC mở cuộc điều tra chống bán phá giá Một quyết định cuối cùng thường
được đưa ra trong vòng 280 ngày kể từ khi nộp kiến nghị
Quyết định sơ bộ của DOC
Theo sau quyết định của ITC, DOC chuẩn bị một phiếu điều tra chi tiết cho các đối tượng bắt buộc, ví dụ như nhà sản xuất/xuất khẩu của “sản phẩm tương tự” Trường hợp không thể xem
xét từng nhà sản xuất hoặc nhà xuất khẩu đã biết, DOC hạn chế cuộc điều tra ở những mẫu ngẫu nhiên, hoặc những công ty có thị phần sản phẩm xuất khẩu lớn nhất Các công ty không được
chọn có thể yêu cầu được trở thành đối tượng tự nguyện, nhưng DOC sẽ quyết định có điều tra
họ hay không
Giai đoạn điều tra đối với các nền kinh tế phi thị trường sẽ là 2 quý tài khóa hoàn chỉnh
gần đây nhất cho đến tháng có đơn kiến nghị
Bán phá giá được tính toán dựa trên so sánh giá bán ở Mỹ và giá trị bình thường Với những nền kinh tế thị trường, giá trị bình thường được dựa trên
a) Giá bán của sản phẩm giống hoặc sản phẩm tương tự ở 1 thị trường so sánh, hoặc
b) “Giá trị suy định” dựa trên chi phí sản xuất cộng với lợi nhuận
Đối với những nền kinh tế phi thị trường như Việt Nam, giá trị suy định bình thường được dựa trên các yếu tố sản xuất tại nền kinh tế phi thị trường cùng với các dữ liệu về giá, chi phí gián tiếp và lợi nhuận từ một nền kinh tế thị trường thay thế khác (như Ấn Độ hoặc Bangladesh)
Phiếu điều tra của DOC
Phiếu điều tra của DOC cho các công ty (được hỏi) tại các nền kinh tế phi thị trường có cấu trúc như sau:
Đơn xin/Chứng nhận đánh giá riêng biệt
Mục A: Thông tin chung
Mục B: Không áp dụng (thông tin bán hàng trên thị trường so sánh cho một nền kinh tế thị trường)
Đối xử ―Nền Kinh tế Phi Thị trường‖
Đối xử “Nền kinh tế phi thị trường” được quy định cụ thể trong Luật Thương Mại Thuật ngữ
„quốc gia có nền kinh tế phi thị trường‟ chỉ:
“bất kỳ nước ngoài nào mà nhà cơ quan có thẩm quyền quyết định không vận hành theo các nguyên tắc chủ yếu về cơ cấu chi phí hay giá cả theo thị trường, khiến cho doanh số bán hàng tại nước đó không phản ánh „giá trị công bằng‟ của mặt hàng đó”
Trang 16về mặt pháp lý (theo luật) và trên thực tế;
Bằng chứng pháp lý (theo luật):
• không có quy định hạn chế trong giấy phép kinh doanh và xuất khẩu
• ban hành theo luật việc kiểm soát có phân cấp
• bất kỳ bằng chứng nào khác về sự kiểm soát có phân cấp
•
Chứng cứ trên thực tế:
• Các công ty đặt ra giá xuất khẩu độc lập với sự kiểm soát hay chấp thuận của chính phủ
• nhà xuất khẩu vẫn giữ lại tiền bán hàng và đưa ra quyết định độc lập trong việc phân bổ lợi nhuận/thua lỗ tài chính
• nhà xuất khẩu có quyền đàm phán và ký kết hợp đồng hay những thỏa thuận khác
• nhà xuất khẩu có quyền tự chủ trong việc lựa chọn ban quản lý
Quyết định cuối cùng của DOC
Sau khi xác định sơ bộ, DOC tiến hành xác minh tại chỗ những dữ liệu trong phiếu điều tra DOC xem xét những lập luận về pháp lý và thực tế từ bên kiến nghị và bị đơn Các bên tham gia có thể yêu cầu các phiên điều trần công khai hay kín để thảo luận các thông tin về vụ kiện Sau đó DOC sẽ xác định lần cuối xem cáo buộc về bán phá giá có thể được ủng hộ hay không (95 % phán quyết là ủng hộ!) và biên độ bán phá giá là bao nhiêu Khi có quyết định chính thức
sẽ tiến hành giai đoạn điều tra cuối cùng của ITC
Cuộc điều tra và quyết định cuối cùng của ITC
Phiếu điều tra cho giai đoạn cuối cùng của cuộc điều tra sẽ được phát ra, bao gồm tất cả các bên tham gia, bao gồm cả những bên mua hàng hóa nhập khẩu
Một phiên điều trần công khai sẽ được tổ chức Báo cáo Tóm tắt trước phiên điều trần cũng được nhận Lịch các đối tượng sẽ xuất hiện, nhân chứng… cũng được chuẩn bị trước Các bên sau đó trình bày lời khai có tuyên thệ Các Ủy viên hội đồng sẽ chất vấn các bên liên quan xem có phù hợp không
Báo cáo Tóm tắt sau phiên điều trần sẽ được tiến hành Nhân viên của ITC sẽ lập Dự thảo Báo cáo cuối cùng và lấy nhận xét từ các bên Sau đó các Ủy viên sẽ tổ chức một buổi họp báo cáo công khai cuối cùng và bỏ phiếu Quyết định cuối cùng sẽ được chuyển đến DOC
Trang 1717
Một số thông điệp chính: tìm hiểu về các cơ quan
• 2 cơ quan then chốt là : ITC và DOC, hoạt động một cách độc lập
• Có cơ hội trình bày quan điểm mang tính pháp lý và kỹ thuật đến cả 2
tổ chức:
– Thông qua trình bày tại các hội nghị/ phiên điều trần – Giải trình về những vấn đề pháp lý – kỹ thuật
– Trả lời Phiếu điều tra của cả 2 tổ chức
– Rà soát hành chính hàng năm và rà soát đột xuất (DOC)
• ITC tập trung vào các chứng cứ về thiệt hại đối với nhà sản xuất
trong nước, DOC tập trung vào biên độ bán phá giá
• ITC có lẽ ít thiên vị hơn cho ngành sản xuất nội địa hơn DOC
Trang 1818
Một số thông điệp chính: Lấy đúng thông tin và gửi tới đúng đối tượng
càng sớm càng tốt
• Cần thu thập những bằng chứng chắc chắn về “giá trị thực sự” Cần chứng
minh vì sao chi phí sản xuất lại thấp liên quan đến tiền công thấp và/hoặc hiệu
quả sản xuất của mình, cũng như đến tính cạnh tranh của ngành
• Thông tin này phải được đưa đến đúng người đúng thời điểm:
- Bộ Phương Mại Mỹ xem xét tại biên độ bán phá giá có thể xảy ra một cách
đặc biệt dựa trên đánh giá sơ bộ trong 20 ngày
- Có cơ hội trình bày quan điểm, tranh luận trước những quyết định sơ bộ của
Ủy ban thương mại quốc tế
- Mặc dù, Nếu một cuộc điều tra đầy đủ được khởi xướng, những thông tin tốt vẫn có thể ảnh hưởng đến cách tính toán biên độ bán phá giá của DOC
- Thậm chí, nếu có thất bại, có thể khiếu nại lên WTO
• Để gây ảnh hưởng, thông tin đệ trình phải kịp thời, phù hợp, súc tích và chính
xác
• Bạn cần tư vấn tốt về mặt pháp lý, kết hợp với sự am hiểu về các vấn đề kinh tế
và sản xuất tại:
- Đất nước của bạn
- Đất nước của bên khiếu nại
- Đất nước được chọn làm quốc gia thay thế hay so sánh
• Nếu không làm được sẽ tốn kém rất nhiều
• Bạn cần làm suy yếu luận điểm rằng sản phẩm xuất khẩu của bạn đang là
nguyên nhân gây ra vấn đề:
– Tách biệt sản phẩm của bạn với sản phẩm “tương tự” của đối phương
– Tách biệt sản phẩm của bạn càng nhiều càng tốt với hàng nhập khẩu từ các
nước khác
• Bạn (hay là ai?) cần phải trình bày những luận điểm then chốt càng sớm càng
tốt trong cả quá trình để gây ảnh hưởng tới phạm vi, phương pháp luận của cuộc điều tra
• Chuẩn bị thông tin kỹ thuật để hỗ trợ cho việc xác định giá trị thực sự tại thời
điểm DOC bắt đầu điều tra
• Chia sẻ, phối hợp và hợp tác tốt sẽ dẫn đến kết quả:
– Có thông tin tốt hơn – Có nhiều đầu vào hiệu quả hơn – Nhất quán hơn – và chắc chắn là đáng tin cậy hơn
• Đừng khước từ những phiếu điều tra – tốt hơn nên tình nguyện
Trang 1919
Bài tập 4: Sản phẩm tương tự và lũy tích
Thảo luận những ý sau đây Tóm tắt kết luận vào sơ đồ hoặc trên máy tính
1 Bạn có thể mô tả được sự kh|c biệt của sản phẩm tôm xuất khẩu của Việt Nam với c|c
quốc gia sau đ}y không? (Trung Quốc, Brazil, Ecuador, Ấn Độ, Th|i Lan, Việt Nam)? Bằng
những c|ch n{o?
2 Liệu c}u hỏi trên có h{m ý gì về c|ch tính to|n gi| trị thực sự hay không?
3 Việc chỉ ra một hay nhiều sản phẩm của bạn kh|c biệt với những sản phẩm đang được
nhập khẩu bởi c|c quốc gia kh|c như Trung Quốc v{ Th|i Lan có phải l{ quyền lợi của bạn
hay không?
4 Nếu có, trong bản tóm tắt gửi đến DOC hay ITC, bạn sẽ thực hiện điều đó như thế n{o?
Bài tập 3: Thông báo và gây ảnh hưởng tới cuộc điều tra
Thảo luận những ý dưới đây Tóm tắt kết luận vào sơ đồ hoặc trên máy vi tính
1 Tại sao định nghĩa về “các nhà sản xuất” ở c|c nước nhập khẩu lại quan
trọng trong việc đ|nh gi| “thiệt hại”?
2 Tại sao định nghĩa về “sản phẩm tương tự” lại quan trọng?
3 Bạn có nghĩ rằng c|c sản phẩm được liệt kê trong danh s|ch của vụ kiện
chống b|n gi| tôm của Mỹ có thể được x|c định như các sản phẩm tương
tự? Sử dụng c|c tiêu chuẩn của Ủy ban thương mại quốc tế Mỹ
4 Một số sản phẩm n{y, hoặc c|c dạng đặc biệt kh|c của chúng có nên bị
loại trừ không?
5 Nếu quyết định loại trừ h~y sử dụng những tiêu chuẩn của Mỹ
Danh s|ch sản phẩm tương tự trong vụ kiện chống b|n ph| gi| tôm của Mỹ:
“tôm, được đóng hộp hay đông lạnh, đánh bắt tự nhiên hay nuôi, bỏ đầu hay
nguyên con, lột hay còn vỏ, bỏ đuôi hay không bỏ đuôi, lột chỉ hay không lột chỉ,
được luộc hay con tươi, hoặc các chế biến khác ở dạng trong hộp hay đông lạnh”
Các tiêu chí sử dụng bởi ITC để quyết định “sản phẩm tương tự”
• Tính tương đồng vật lý (kích cỡ, lo{i,v v)
• Tính thay thế (như sản phẩm tiêu dùng cuối cùng, như đầu v{o cho chế
biến, tính vụ mùa)
• Kênh ph}n phối (ví dụ để b|n lẻ, dịch vụ thức ăn, nh{ h{ng)
• Cơ sở v{ quy trình chế biến
• Nhận thức của kh|ch h{ng v{ nh{ sản xuất (ví dụ: định nghĩa tiêu
chuẩn quốc gia)
• Giá
Trang 2020
Tính toán biên độ bán phá giá cho nền kinh tế phi thị
trường
Giá trị công bằng hay giá trị thị trường
Cách tính giá trị công bằng trong nền kinh tế phi thị trường
dựa trên giá cả và chi phí sản xuất của một quốc gia thay thế - một
nước có mức phát triển và nền kinh tế phi thị trường tương tự, là
nước sản xuất đáng kể mặt hàng đem so sánh;
DOC sử dụng các yếu tố về thông tin sản xuất từ phía bị
đơn (ví dụ như sô lượng đầu vào sử dụng để tạo ra một đơn vị đầu
ra trong suốt quá trình điều tra), và nhân những yếu tố đầu vào này
với giá thay thế từ những dữ liệu thương mại có sẵn công khai,
những ấn phẩm hay báo cáo tài chính của các nhà sản xuất tại quốc
gia thay thế DOC cũng sử dụng dữ liệu về các chi phí gián tiếp và
lợi nhuận từ các quốc gia thay thế
Bangladesh là nước thay thế được sử dụng trong các cuộc
điều tra về chống bán phá giá đối với Việt Nam liên quan đến mặt
hàng fillet cá đông lạnh (bổ sung bởi số liệu từ Ấn độ và
Indonesia) và mặt hàng tôm nước ấm
Một ví dụ được đưa ra trong hình 2 dưới đây
Hình 2: Tính toán giá trị bình thường
Các yếu tố sản xuất
DOC sử dụng các yếu tố về thông tin sản xuất từ phía
bị đơn cùng với các thông tin về giá cả tại thị trường của nước thay thế nhằm xây dựng giá trị thực sự cho nước có nền kinh tế phi thị trường
Yếu tố sản xuất là tổng số lượng đầu vào (nguyên liệu thô, lao động, năng lượng ) được yêu cầu nhằm sản xuất ra một đơn vị sản phẩm (ví dụ như đầu vào/đầu ra), được đo lường trong suốt giai đoạn điều tra
Trang 2121
Giá điều chỉnh của Mỹ
Để có một so sánh công bằng giữa giá cả của Mỹ (hoặc bên
xuất khẩu) đối với sản phẩm của Việt Nam và giá trị thị trường
hoặc giá trị công bằng theo như tính toán ở trên, giá cả của Mỹ phải
được điều chỉnh để có thể bao gồm các chi phí liên quan trong việc
bán sản phẩm từ Việt Nam sang thị trường Mỹ
Hình 3 dưới đây cho thấy các loại điều chỉnh được thực hiện,
mặc dù không phải tất cả đều liên quan đến xuất khẩu thủy sản Việt
Nam
Hình 3: Điều chỉnh giá của Mỹ - cho nền kinh tế phi thị trường
Các thực tế có sẵn
Nếu những thông tin nộp bởi phía bị đơn bị coi là không hợp l{ và đáng tin cậy, DOC có thể bỏ qua
“thực tế có sẵn” bất lợi – nói theo cách khác thì đây là trường hợp xấu nhất có thể xảy ra Điều này được thực hiện với mục đích trừng phạt các hành vi không hợp tác
Trang 2222
Tính toán biên độ bán phá giá
Biên độ bán phá giá có thể được tính toán đơn giản là sự khác biệt giữa giá trị ước tính thực sự
và giá do Mỹ điều chỉnh, chia cho giá của Mỹ, tức là:
Biên độ bán phá giá (%) = (giá trị công bằng- giá của Mỹ) / giá của Mỹ
Trang 2323
Bài tập 5: Giá trị thực sự hoặc giá trị thị trường
Sử dụng kiến thức cá nhân, hoặc dữ liệu có sẵn trên Internet (ví du: dữ liệu chính phủ, dữ liệu
của Viện nghiên cứu, dữ liệu của VIFEP, dữ liệu của VASEP) đưa ra ước lượng về giá trị
thực sự hoặc giá trị thị trường cho sản phẩm tôm hoặc là cá da trơn theo USD/kg
Cách tính toán của bạn nên bao gồm ước lượng về chi phí sản xuất và lợi nhuận cho các nhà
sản xuất (ví dụ: hộ nuôi hoặc ngư dân) và các nhà chế biến/xuất khẩu
Cách tính toán của bạn nên dựa trên cả giá đầu vào và sự hiệu quả của việc sử dụng yếu tố
đầu vào (năng suất hay các yếu tố sản xuất)
Làm việc theo nhiều nhóm hoặc nhóm đơn, tùy theo sự sắp xếp của lớp
1 Chi phí sản xuất vật liệu thô Số lượng
được sử dụng/kg sản phẩm
Giá /kg đầu vào
Chi phí/kg thành phẩm
Chi phí gián tiếp *
Bán hàng, các chi phí chung và chi phí quản lý
Chi phí cố định của nhà máy*
Bán hàng, các chi phí chung và chi phí quản lý
Trang 2424
Những thông điệp chính: Liệu có được phiên điều trần mang tính chất
công bằng không?
• Mặc dù DOC có thể khước từ sự phản đối từ phía các nhà xuất khẩu, hoặc từ chối
những thông tin đệ trình không đáng tin cậy:
– Theo suy luận, những thông tin sẵn có tốt nhất có thể được sử dụng – DOC/ITC nhận thức rõ Quy trình giải quyết tranh chấp của WTO có thể đưa ra phán quyết chống lại họ nếu các thông tin liên quan không được xem xét
• Bên cạnh đó…Nếu các thông tin không đầy đủ/ không đúng/ không nhất quán
được đưa ra, các nhà chức trách có thể sử dụng các thực tế có sẵn bất lợi, gây ra
sự tăng biên độ bán phá giá
• Nhìn chung quá trình này mang tính thiên vị và chống lại bạn Đó là vấn đề đặt
ra cho việc giảm thiểu mức độ thiệt hại Tuy nhiên cũng có rất nhiều cơ hội tại nhiều thời điểm khác nhau rong quá trình tránh hoặc gây ảnh hưởng tới quá trình chống
bán phá giá: sự hiểu biết, thông tin, phân tích, trình bày, ảnh hưởng.
Những thông điệp chính: tính biên độ bán phá giá
• Đối với một nền kinh tế phi thị trường, giá thành được xem là không đáng tin cậy
Giá trong nước được xem như là không đáng tin cậy Các nhà chức trách sử dụng
“giá trị thực sự trừ đi giá điều chỉnh của Mỹ”
• Điều đó có thể gây ra sai sót nghiêm trọng:
- Ước lượng giá nguyên vật liệu thô dựa vào nước thay thế - thường là những so sánh không thích hợp
- Cách vận dụng biên độ lợi nhuân cao, hoặc tính chỉ số bình quân ngành tùy ý
áp dụng cho tất cả các sản phẩm
Có thể sử dụng cách tính riêng của công ty (nếu muốn) nếu các công ty chứng
minh được sự độc lập của mình đối với sự kiểm soát/chi phối của Chính phủ
(bằng chứng)
Việc đánh giá sẽ diễn ra nghiêm khắc – thẩm tra tại chỗ
Trang 2525
Trang 2626
Quá trình điều tra và ra quyết định của Mỹ - một số nội dung chính
Xác định phạm vi của các điều khoản
Đơn khởi kiện thường được đưa ra bởi nhà sản xuất, thường là với sự giúp đỡ và tư vấn của DOC Đơn khởi kiện thường chỉ rõ bản chất và phạm vi ban đầu của cuộc điều tra Đơn khởi kiện thường bao gồm những nhận định ban đầu của “sản phẩm tương tự", "ngành công nghiệp trong nước" và có thể tập trung giải quyết vấn đề “lũy tích" Điều quan trọng là các bên bị đơn (hay bên bị đơn tiềm năng) phải bắt đầu tập trung chuẩn bị luận điểm của mình liên quan đến những vấn đề này khi có cơ hội
Định nghĩa mở rộng của “sản phẩm tương tự” sẽ có xu hướng làm tăng khả năng xác định thiệt hại Nó cũng sẽ có xu hướng “lũy tích” nhiều sản phẩm từ các quốc gia khác nhau hơn, do
đó sẽ làm tăng các luận điểm về thiệt hại Thông thường, các nhà sản xuất của Việt Nam, vì lợi ích của mình, cần phải chứng minh rằng sản phẩm của mình rất đa dạng và hầu hết (nếu không nói là tất cả) sản phẩm của mình đều không thể được phân loại như sản phẩm tương tự (xem tiêu chuẩn được sử dụng bởi ITC trong Bài tập 3)
Sự ghép đôi không tương thích giữa các sản phẩm tại thị trường trong nước và thị trường
Mỹ có thể làm cho biên độ trở nên cao hơn (ví dụ, các sản phẩm có giá thấp hơn chỉ được bán ở
Mỹ, sự khác biệt về giá cả liên quan đến nhu cầu theo mùa vụ; sự khác biệt trong cơ cấu chi phí sản xuất)
Một định nghĩa rộng về ngành công nghiệp trong nước có thể là một lợi thế hay bất lợi cho Việt Nam và phía bị đơn (tức là công ty bị ảnh hưởng) Một định nghĩa rộng có thể làm tăng
sự hỗ trợ cho các đơn kiện, nhưng việc chứng minh thiệt hại có thể sẽ gặp khó khăn hơn Tương
tự, một định nghĩa rộng có thể làm suy yếu sự hỗ trợ nếu nó bao gồm các xưởng gia công, các bên có thể hưởng lợi từ tính sẵn có của các sản phẩm rẻ hơn
Tránh việc vận dụng các thực tế (bất lợi) có sẵn
Một số lượng lớn các quyết định được đưa ra là dựa trên "những thực tế có sẵn" hơn là dữ liệu thực tế hoặc giá trị suy định" Việc cần thiết ở đây là phía bị đơn không được để cho DOC lấy lý do sử dụng những thực tế bất lợi sẵn có - nghĩa là phải đảm bảo rằng dữ liệu được cập nhật kịp thời, đầy đủ, chính xác và nhất quán
Phóng đại biên độ bán phá giá
Bên khởi kiện và DOC có thể phóng đại biên độ bán phá giá bằng cách sử dụng nhiều phương pháp gây nghi vấn
Bán trên mức chi phí: Trong trường hợp các dữ liệu buôn bán tại thị trường nội địa được
sử dụng để tính toán giá trị công bằng (với nền kinh tế thị trường), DOC chỉ áp dụng "giá bán trên mức chi phí" mà không sử dụng giá bán dưới mức chi phí Do đó, biên độ bán phá giá có thể được phóng đại thông qua so sánh việc bán hàng tại Mỹ chỉ với mức giá trên
Giá trị suy định: DOC có thể thay thế "giá trị suy định" cho dữ liệu giá thực tế nếu bị coi
là không tin cậy
Trang 2727
Lợi nhuận: Các quyết theo chi phí không đo lường xem liệu doanh số bán hàng của Mỹ có ở
dưới mức giá thành không – mà chỉ đo lường xem liệu chúng có ở dưới mức giá cộng với lợi nhuận hay không DOC có thể sử dụng một tỷ lệ lợi nhuận trung bình ngành cho các loại sản phẩm khác nhau, ngả về cách tính biên độ bán phá giá cao (các nhà cung cấp có thể tạo ra lợi nhuận trung bình ngành trên các dòng sản phẩm của mình, nhưng không nhất thiết phải là tất cả) Tương tự, khi ước tính “giá trị suy định”, DOC nhất quán trong việc sử dụng tỉ lệ lợi nhuận cao
Quy về không: là một biện pháp khét tiếng trong việc đảm bảo một cách hiệu quả biên độ bán
phá giá tích cực Khi tính toán biên độ bán phá giá trung bình qua thời gian hoặc qua các sản phẩm, DOC thường bỏ qua các biên độ bán phá giá "tiêu cực", ví dụ như trong trường hợp giá của các sản phẩm nhập khẩu ở Mỹ cao hơn giá thị trường nội địa Điều này thể hiện rõ ràng sự thiên vị trong quá trình xử lý dữ liệu, là nguyên nhân chính của một vài đơn khiếu nại tới Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)
Các tác động của các vụ kiện chống bán phá giá rất tốn kém
Hệ thống của Mỹ rất phức tạp, các quy định rất nghiêm ngặt, nhưng quá trình và các yêu cầu pháp lý tương đối minh bạch Tuy nhiên điều đó cũng không có nghĩa là hệ thống này mang tính công bằng!
Áp thuế bán phá giá
Sau khi có xác định sơ bộ về bán phá giá của DOC (gọi tắt là “prelim”), “Việc thanh khoản” (tức là quyết định cuối cùng về các khoản thuế còn nợ Ngành Hải quan) bị đình lại đối với tất cả các lô hàng nhập khẩu trong tương lai Các nhà nhập khẩu phải đặt cọc hoặc ký quỹ để
dự phòng nộp thuế chống bán phá giá đối với các lô hàng nhập khẩu tiếp theo trong thời gian xem xét (gọi tắt là POR) theo thuế suất được thông báo trong “prelim”
Sau khi có quyết định cuối cùng, phía bị đơn phải nộp tiền đặt cọc để dự phòng cho các mức thuế chống bán phá giá đối với các lô hàng nhập khẩu với thuế suất được thông báo trong quyết định cuối cùng
ITC có 45 ngày để hoàn thành báo cáo cuối cùng xác định thiệt hại Nếu có quyết định, hàng nhập khẩu trong tương lai phải chịu đặt cọc thuế chống bán phá giá với số tiền tương đương với thuế suất bán phá giá đã được tính toán
Nghĩa vụ pháp lý về tài chính cuối cùng đối với nhà nhập khẩu sẽ được xác định thông qua những rà soát hành chính do DOC tiến hành Những rà soát này xác định số tiền thuế công bằng còn nợ trong thời gian rà soát (POR)
Trang 28Các nhà xuất khẩu là đối tượng nộp thuế Chống bán phá giá theo quyết định sơ bộ của DOC Các nhà nhập khẩu phải đặt cọc hoặc k{ quỹ dự phòng nộp thuế chống bán phá giá đối với các lô hàng nhập khẩu tiếp theo trong thời gian xem xét đưa ra quyết định cuối cùng Tỷ giá được điều chỉnh tại quyết định cuối cùng và sau đó là tại các đánh giá hàng năm, đánh giá hành chính, đánh giá cuối kz Trách nhiệm của nước xuất khẩu (đối với các khoản thanh toán bổ sung, hoàn thuế) được điều chỉnh ở từng kz đánh giá kiểm điểm, dựa trên sự khác biệt giữa tỷ giá trước đó và tỷ giá mới Đây là một động cơ
để tăng giá
Trang 2929
Trang 3030
Quyền truy sách sau quyết định cuối cùng
1 Yêu cầu khắc phục các sai sót về phía Bộ (thương mại) – tức là, kiểm tra lại các con số xem việc tính toán các biên độ bán phá giá có đúng không (phải làm xong trong vòng 5 ngày sau khi DOC công bố các hồ sơ)
2 Quyết định kháng cáo lên Tòa án thương mại quốc tế của Mỹ tại NewYork – Tiến hành thẩm tra tư pháp các biện pháp hành chính của các cơ quan chính phủ xử lý hàng nhập khẩu
3 Đòi bồi hoàn thông qua thủ tục giải quyết tranh chấp WTO
4 Yêu cầu tiến hành rà soát hành chính trong Tháng đủ năm của Lệnh chống bán phá giá nhằm đạt được mức thuế chống bán phá giá thấp hơn
Trang 3131
Bài tập 6: Tình trạng nền kinh tế phi thị trường
Quy chế nền kinh tế phi thị trường là một vấn đề đối với Việt Nam, có khả năng dẫn đến mức thuế chống bán phá giá cao hơn Điều này cho phép giới chức trách của Mỹ sử dụng mức giá từ nước thứ 3 hoặc nước thay thế (như Bangladesh) để ước lượng giá trị thực
sự Vì ở Bangladesh, hệ thống sản xuất và phân phối là khác nhau và ít hiệu quả hơn, do vậy biên độ bán phá giá có thể sẽ cao hơn
Các tiêu chí được sử dụng để đánh giá nền kinh tế thị trường của chính phủ Mỹ
1 Mức độ chuyển đổi tiền tệ từ một quốc gia này sang tiền tệ của quốc gia khác
2 Mức độ tỷ lệ tiền lương được xác định trên cơ sở thỏa thuận tự do giữa người lao động và nhà quản lý doanh nghiệp
3 Mức độ các công ty liên doanh hay đầu tư của các nước được cho phép hoạt động tại một quốc gia
4 Mức độ các chính phủ chi phối duy trì sở hữu và kiểm soát các phương thức sản xuất ở trong nước
5 Mức độ chi phối/ kiểm soát của chính phủ trên sự phân phối về nguồn lực và các quyết định về giá hay sản lượng đầu ra của doanh nghiệp
6 Những nhân tố khác mà cơ quan quản lý xem xét là đúng là theo nền kinh tế thị trường
Một số những tiêu chí bổ sung áp dụng bởi Liên minh châu Âu:
7 Chi phí sản xuất và tình hình tài chính của các doanh nghiệp không phải gánh chịu những biến động đáng kể nào từ hệ thống kinh tế phi thị trường trước đây, đặc biệt là trong mối liên quan tới sự sụt giá của tài sản, xóa bỏ các khoản đã thanh toán, trao đổi thương mại và thanh toán thông qua các khoản nợ bồi thường
8 Các doanh nghiệp liên quan là đối tượng của Luật phá sản và Luật tài sản, các luật bảo
vệ tính nghiêm minh và ổn định của luật pháp cho sự hoạt động của các doanh nghiệp
Việt Nam được coi là nền kinh tế phi thị trường khi gia nhập WTO vào năm 2007 Việc
Việt Nam chuyển đổi thành nền kinh tế thị trường đóng vai trò hết sức cấp bách và quan trọng
Bài tập: xây dựng một tình huống nền kinh tế thị trường cho:
a) Việt Nam
b) Ngành hải sản Việt Nam
c) Một công ty hải sản Việt Nam
Sử dụng các tiêu chuẩn trình bày ở trên l{m cơ sở
Mỗi nhóm được phân công thực hiện 1 trong 3 nhiệm vụ nêu trên theo vai trò và sự quan
tâm của nhóm mình
Người điều phối các nhóm sẽ đóng vai Ủy viên thương mại EU hoặc DOC – nghe vụ kiện,
đặt câu hỏi cho c|c bên, đưa ra ph|n xét
Trang 32• Tổng vụ thương mại (viết tắt DG Trade) trong Ủy ban Châu Âu – nhận các khiếu nại và
tiến hành điều tra
• Đại diện của các nước thành viên EU – lập thành một ủy ban quyết định xem có đủ
chứng cứ để theo đuổi vụ khiếu nại
• Hội đồng bộ trưởng– chịu trách nhiệm chính thức thông qua các đề nghị của Ủy ban
• Tòa án Chung (trước đây gọi là Tòa sơ thẩm) – có thẩm quyền xét xử các vụ kiện chống
bán phá giá, đảm bảo các quyết định được thi hành
• Tòa án tối cao EU (viết tắt là ECJ) – tòa phúc thẩm cho các vụ việc thuộc lĩnh vực của
Tòa án Chung (tức là, xem xét xem luật pháp có được tuẩn thủ không)
Thủ tục
Thủ tục này được tóm tắt trong hình 6 Các nét chính bao gồm:
Đơn khiếu nại được ngành công nghiệp bị ảnh hưởng gửi tới Tổng vụ Thương mại
Ủy ban EU xác định căn cứ để điều tra thông của Tổng vụ Thương mại
Quá trình điều tra được thực hiện: tiến hành làm thủ tục mẫu; phát bảng câu hỏi điều tra
và nộp lại; thăm, gọi xác minh
Tạm kết luận và công bố các biện pháp tạm thời
Thảo luận / tư vấn
Công bố kết quả cuối cùng
Thảo luận / tư vấn; cơ hội để thảo luận về thực hiện giá
Biện pháp cuối cùng
Trang 3333
Hình 6: Các thủ tục chống bán phá giá của EU
Trang 3434
Những khác biệt chính so với Mỹ
Đồng thời xử lý các thiệt hại và bán phá giá
EC đánh giá chi tiết xem có đủ bằng chứng cho việc bán phá giá và thiệt hại hay không trước khi tiến hành điều tra Tuy nhiên, ngưỡng thiệt hại có thể thấp hơn ngưỡng do ITC áp dụng
Chứng cứ tài liệu
EC yêu cầu cứ liệu vững chắc về giá (thường là các hóa đơn) trong khi Mỹ lại linh hoạt hơn (ví
dụ, những bản khai xác nhận việc báo giá miệng) Tuy nhiên, số lượng văn bản người khiếu nại phải nộp tại EU lại thấp so với ở Mỹ Điều này liên quan tới các thủ tục mang nặng tính pháp lý của Mỹ (với chi phí pháp lý cao)
Xem xét và đánh giá các luận cứ về thiệt hại
Quy trình của EU bao gồm việc rà soát những luận cứ về thiệt hại muộn hơn (9-15 tháng) so với quy trình ở Mỹ (trong 45 ngày đầu)
Ít phiếu điều tra hơn
Hệ thống của EU bao gồm một phiếu điều tra duy nhất trong khi hệ thống Mỹ lại bao gồm phiếu điều tra khác nhau từ DOC & ITC, gây nhiều phiền hà cho các nhà xuất khẩu hơn so với hệ thống của EU
Thủ tục và chi phí pháp lý
EU không đòi hỏi sử dụng tư vấn pháp lý trong khi bản chất hệ thống của Mỹ khiến cho việc này trở nên cần thiết Điều này cũng có nghĩa là quy trình tại EU ít tốn kém hơn, ít sự tham gia của luật sư và ít đơn khiếu nại hơn
Xác minh dữ liệu
EC xác minh tất cả thông tin của bên khiếu nại trong khi ITC nói chung chỉ thực hiện công việc này đối với những nhà sản xuất lớn Tuy nhiên, EC dễ lượng thứ hơn đối với những thông tin không chính xác (những lỗi nhỏ và thiếu sót) so với DOC, và trong quy trình của EU, việc xác minh thông tin về nhà xuất khẩu nhanh hơn (2-3 ngày so với DOC 2 tuần)
Sự tiếp cận và tính minh bạch của thông tin
Hệ thống EU công khai ít thông tin hơn – chỉ các bên liên quan đăng ký mới được tiếp cận Hơn nữa, hệ thống của EU ít cho phép các bên tiếp cận các thông tin mật hơn so với hệ thống của Mỹ,
do đó các thông tin chi tiết có sẵn (ví dụ, các tính toán biên bán phá giá) ít hơn rất nhiều trong các vụ kiện của EU
Trang 3535
Trong quy trình của EU, các cuộc điều tra ít được thông báo trước
EC không tiết lộ đơn khiếu nại cho đến ngày mở cuộc điều tra trong
khi DOC thực hiện điều này trước khi quyết định bắt đầu điều tra
Việc tính toán của EC ít công khai cho các bên tham gia kiểm tra
Phần mềm ít “thân thiện với người sử dụng” so với Mỹ, và các nhà
xuất khẩu chỉ có thể kiểm tra tính toán của chính mình, chứ không
phải của các đối thủ cạnh tranh
Thời điểm tiến hành các biện pháp tạm thời
Các biện pháp tạm thời được thực hiện chậm hơn ở EU so với ở Mỹ
Các bên tham gia ở EU không biết liệu vụ việc có trở thành một vụ
kiện hay không trong suốt thời gian 9 tháng từ khi quy trình bắt đầu
Ở Mỹ, điều này thường là rõ ràng sau khi có sự xác định sơ bộ của
ITC (25 ngày)
Cam kết giá
EC sẽ áp dụng các cam kết về giá mà không cần có thỏa thuân giữa
các bên khiếu nại Điều này không có trong các vụ kiện ở Mỹ
Ít quy tắc về thuế hơn
EC thường áp mức thuế thấp hơn (xem thanh bên) trong khi DOC
thì không làm việc này
Rà soát tư pháp
Rà soát tư pháp ít phổ biến hơn ở EU (có thể do văn hóa tuân thủ
pháp luật ở Mỹ cao hơn)
Áp dụng và xem xét thuế
EC thường tính Biên độ bán phá giá thấp hơn Đó là do sự khác
nhau trong phương pháp tính giá trị bình thường và giá xuất khẩu
Tuy nhiên, thuế suất chỉ được thay đổi thông qua các rà soát tạm
thời Tại Mỹ, thuế suất có thể được thay đổi thông qua rà soát hành
chính bao gồm cả những yếu tố hoàn cảnh đặc biệt hoặc thay đổi
Tính không tiếp tục, không gia hạn (sau 5 năm): ở EU cao hơn Mỹ
Hơn 50% các vụ kiện hết hạn mà không cần rà soát so với dưới 20%
ở Mỹ Khoảng 50% số vụ được rà soát với kết quả tiếp tục kéo dài,
so với khoảng 90% số vụ ở Mỹ
Quy tắc áp thuế thấp hơn
b) Áp thuế dựa trên biên
độ bán phá giá đã tính toán
Quy tắc áp thuế thấp hơn, được đề cập tại Hiệp định Chống bán phá giá của WTO chỉ ra rằng thuế suất thấp hơn sẽ thường được lựa chọn
Trang 3636
Đối xử nền kinh tế phi thị trường
Về giá trị công bằng, EC lựa chọn một quốc gia tương tự và tính toán dựa trên kết quả của phiếu điều tra cho nước đó DOC phân tích quy trình sản xuất của Nền kinh tế phi thị trường và sử dụng những giá trị quy đổi từ 1 nền kinh tế thị trường thay thế
Các công ty có thể xin được hưởng đối xử kinh tế thị trường đầy đủ theo các thủ tục của EU Ở
Mỹ, các công ty có thể đăng ký hưởng đối xử riêng biệt, nhưng vẫn bị đánh giá dựa trên phương pháp tính toán nền kinh tế phi thị trường
Tổng quan
Hệ thống của EC được tập trung hóa (Tổng vụ Thương Mại là cơ quan đứng đầu), trong khi ở
Mỹ có 2 cơ quan chính tham gia (DOC và ITC), nhưng việc ra quyết định thì phức tạp hơn do có
sự dính líu của tất các nước thành viên trong quá trình rà soát
Hệ thống của EC ít minh bạch hơn – ít thông tin được cung cấp cho các bên tham gia hơn, nhưng
lại linh hoạt hơn (ví dụ như kiểm tra lợi ích của công chúng và việc sử dụng quy tắc áp mức thấp hơn)
• Những thông điệp chính : Quy trình châu Âu
• Quy trình bán phá giá ở Châu Âu gần tương tự với Mỹ, tuy nhiên:
- Ít minh bạch hơn
- Đơn giản, linh hoạt hơn
- Thiếu tính tuân thủ pháp lý hơn
- Cho phép xem xét đến lợi ích của công cộng
- Thường áp dụng quy tắc “áp thuế thấp hơn”
• Nhìn chung, mức áp thuế tại Châu Âu có xu hướng thấp hơn so với ở Mỹ
• Việc áp thuế thường được tránh thông qua các thỏa thuận
Trang 3737
mại Thế giới (WTO)
Nguồn gốc của ADA
GATT không có bất kỳ cố gằng nào trong việc điều tiết việc bán phá giá vì điều này liên quan đến hành động của 1 công ty tư nhân hơn là 1 chính phủ, và do đó không bị điều chỉnh bởi các quy định của GATT Tuy nhiên, cũng có mối quan ngại rằng việc quá hăng hái thực hiện chống
bán phá giá có thể hạn chế hàng nhập khẩu được định giá công bằng Điều VI của GATT 1947
cho phép sử dụng chống bán phá giá và đặt ra một số quy định cơ bản Vòng đàm phán Uruquay
đã mang lại kết quả là một Hiệp định toàn diện (ADA) về việc thực hiện Điều VI như một phần của GATT 1994 Sau đây là tóm tắt các điều khoản chính của Hiệp định chống bán phá giá năm
Điều 2 - Xác định việc bán phá giá
• Bán phá giá xảy ra khi sản phẩm được bán với giá thấp hơn giá trị công bằng của nó – thường là giá có thể so sánh được trong thị trường nội địa của nhà xuất khẩu
• Nếu giá nội địa không được áp dụng, thì giá trị công bằng có thể căn cứ vào:
– Giá xuất khẩu sang nước thứ ba, hoặc – Chi phí sản xuất ở nước xuất xứ cộng thêm chi phí bán hàng hợp lý và lợi nhuận
• Chi phí và lợi nhuận cần được tính toán dựa trên cơ sở các hồ sơ của nhà xuất khẩu
Cần có sự “so sánh công bằng” giữa Giá xuất khẩu và giá trị công bằng Tất cả các sự khác biệt ảnh hưởng đến tính chất so sánh của giá cả cần được cho phép (ví dụ như thuế)
Việc chuyển đổi đồng tiền phải dựa trên tỷ giá hối đoái của ngày giao dịch
Phải xác lập biên bán phá giá trên cơ sở so sánh về số bình quân gia trọng về giá hoặc trên cơ sở từng giao dich một
Điều 3 - Xác định thiệt hại
Phải trình bày được hàng nhập khẩu bán phá giá đang gây ra thiệt hại
Phải kết luận được rằng hàng xuất khẩu bán phá giá sẽ tiếp diễn gây thiệt hại vật chất
Điều 4 - Định nghĩa của ngành công nghiệp nội địa
Các công ty có thể bị loại trừ nếu có liên tới nhà xuất khẩu hoặc đang nhập khẩu sản phẩm liên quan
Điều 5 – Quá trình khởi đầu và điều tra tiếp theo