Qua quá trình đổi mới cơ chế quản lý của các doanh nghiệp Việt Nam đã cho thấy, doanh nghiệp nào xây dựng được chính sách quản lý tốt, sử dụng tốt tài sản ngắn hạn có hiệu quả thì doanh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
-o0o -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG
TÀI SẢN NGẮN HẠN TẠI CÔNG TY
CỔ PHẦN XD TM VÀ DL PHƯƠNG BẮC
SINH VIÊN THỰC HIỆN : ĐỖ MINH HẰNG
HÀ NỘI – 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
HÀ NỘI – 2015
Trang 3Bên cạnh đó, em cũng xin chân thành cảm ơn các cô chú, anh chị tại tất cả các phòng ban thuộc Công ty cổ phần Xây dựng Thương Mại và Du Lịch Phương Bắc đã hết sức tạo điều kiện cho em được thực tập, tìm hiểu về thực trạng kinh doanh của công ty trong suốt những tháng làm khóa luận
Cuối cùng, em xin cảm ơn gia đình và các bạn thân thiết đã hỗ trợ và động viên
em trong suốt thời gian qua
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 25 tháng 03 năm 2015
Sinh viên
Đỗ Minh Hằng
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp này là do tự bản thân thực hiện có sự hỗ trợ từ giáo viên hướng dẫn và không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác Các dữ liệu thông tin thứ cấp sử dụng trong Khóa luận là có nguồn gốc và được trích dẫn rõ ràng
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này!
Sinh viên
Đỗ Minh Hằng
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường có nhiều biến động ở Việt Nam như hiện nay, để có thể đứng vững trên thị trường, đáp ứng nhu cầu ngày một tăng của khách hàng, cũng như sự cạnh tranh của các doanh nghiệp khác, doanh nghiệp luôn phải chú trọng tới việc nâng cao chất lượng sản phẩm đi đôi với giá cả phù hợp Qua quá trình đổi mới
cơ chế quản lý của các doanh nghiệp Việt Nam đã cho thấy, doanh nghiệp nào xây dựng được chính sách quản lý tốt, sử dụng tốt tài sản ngắn hạn có hiệu quả thì doanh nghiệp đó sẽ có lợi nhuận cao, sản phẩm mới có tính cạnh tranh trên thị trường Do vậy, việc sử dụng tài sản ngắn hạn một cách hiệu quả luôn là vấn đề được đặt ra mà các nhà quản lý quan tâm
Thực tế nhiều năm qua cho thấy, bên cạnh những doanh nghiệp làm ăn phát đạt luôn có không ít những doanh nghiệp rơi vào tình trạng làm ăn thua lỗ, phá sản Mặc
dù hầu hết các vụ phá sản trong kinh doanh là kết quả của nhiều yếu tố chứ không phải chỉ do việc quản trị tài sản ngắn hạn không tốt Nhưng thực tế thì sự bất lực của một số công ty trong việc hoạch định và kiểm soát chặt chẽ các loại tài sản ngắn hạn và các khoản nợ ngắn hạn hầu như là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thất bại cuối cùng của công ty họ Trong thời gian qua, Công ty cổ phần Xây dựng Thương Mại và Du Lịch Phương Bắc đã có nhiều cố gắng trong việc quản lý và sử dụng tài sản ngắn hạn một cách có hiệu quả hơn, nhưng qua công tác thống kê vẫn cho thấy việc sử dụng tài sản ngắn hạn vẫn còn tồn tại nhiều điểm chưa hợp lý, dẫn đến hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn vẫn chưa đạt mức tối ưu Mặc dù mục tiêu hiệu quả đạt được của các doanh nghiệp là khác nhau nhưng tất cả đều hướng tới đạt được lợi nhuận cao nhất Đứng trước tình hình như hiện nay, Công ty cổ phần Xây dựng Thương Mại và Du Lịch Phương Bắc phải tìm cách để khắc phục được tình trạng đó, đẩy nhanh công tác hoạt động nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của Công ty trong thời gian tới
Xuất phát từ thực trạng của nền kinh tế và những tồn đọng trong doanh nghiệp
mà em nhận thấy trong quá trình thực tập, em quyết định lựa chọn đề tài “ Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại Công ty cổ phần Xây dựng Thương Mại và
Du Lịch Phương Bắc” làm khóa luận tốt ngiệp
Trang 7 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại Công ty cổ phần Xây dựng Thương Mại và Du Lịch Phương Bắc
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng: hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại Công ty cổ phần Xây dựng Thương Mại và Du Lịch Phương Bắc
Phạm vi: tài sản ngắn hạn tại Công ty cổ phần Xây dựng Thương Mại và Du Lịch Phương Bắc từ năm 2011 đến năm 2013
4 Phương pháp nghiên cứu:
Thu thập thông tin qua việc lấy số liệu bản cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, các sổ chi tiết, các hợp đồng và đặc điểm hoạt động tại Công ty
Thống kê - Phân tích - Tính toán - So sánh
5 Kết cấu của khoá luận tốt nghiệp:
Ngoài lời mở đầu, khóa luận tốt nghiệp được chia thành ba phần
Phần 1: Cơ sở lí luận về hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp Phần 2: Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại Công ty cổ phần Xây dựng Thương Mại và Du Lịch Phương Bắc
Phần 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại Công ty cổ phần Xây dựng Thương Mại và Du Lịch Phương Bắc
Trang 8MỤC LỤC CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN
HẠN CỦA DOANH NGHIỆP 1
1.1 Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp 1
1.1.1 Khái niệm và phân loại doanh nghiệp 1
1.1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp 1
1.1.1.2 Phân loại doanh nghiệp 1
1.1.2 Hoạt động cơ bản của doanh nghiệp 2
1.1.2.1 Hoạt động huy động vốn 2
1.1.2.2 Hoạt động sản xuất kinh doanh 3
1.1.2.3 Hoạt động khác 3
1.1.3 Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp 4
1.1.3.1 Khái niệm tài sản ngắn hạn 4
1.1.3.2 Vai trò của tài sản ngắn hạn 5
1.1.3.3 Phân loại tài sản ngắn hạn 6
1.1.3.4 Kết cấu của tài sản ngắn hạn và các nhân tố ảnh hưởng đến kết cấu tài sản ngắn hạn 9
1.2 Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp 10
1.2.1 Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn 10
1.2.1.1 Khái niệm hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn 10
1.2.1.2 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn 11
1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp 12
1.2.2.1 Chính sách quản lý tài sản ngắn hạn 12
1.2.2.2 Quản lý tiền mặt 13
1.2.2.3 Quản lý hàng tồn kho 17
1.2.2.4 Quản lý các khoản phải thu 20
1.2.3 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn 23
1.2.3.1 Nhóm chỉ tiêu tổng quát 23
1.2.3.2 Nhóm chỉ tiêu phản ánh tốc độ luân chuyển của tài sản ngắn hạn 25
1.2.3.3 Nhóm chỉ tiêu đánh giá năng lực hoạt động của tài sản ngắn hạn 26
1.2.3.4 Các chỉ tiêu về khả năng thanh toán 27
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh
Trang 91.3.1 Nhân tố chủ quan 29
1.3.2 Nhân tố khách quan 30
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG THƯƠNG MẠI VÀ DU LỊCH PHƯƠNG BẮC 32
2.1 Giới thiệu chung về Công ty cổ phần Xây dựng Thương Mại và Du Lịch Phương Bắc 32
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty 32
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của Công ty 32
2.1.3 Đặc điểm ngành nghề kinh doanh 35
2.1.4 Thực trạng sản xuất - kinh doanh của Công ty giai đoạn 2011 - 2013 35 2.1.4.1 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh 35
2.1.4.2 Thực trạng tài sản – nguồn vốn của Công ty giai đoạn 2011-2013 39
2.1.4.3 Chỉ tiêu tài chính của Công ty 44
2.2 Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của Công ty 46
2.2.1 Quy mô và cơ cấu tài sản ngắn hạn của Công ty giai đoạn 2011 – 2013
46
2.2.2 Thực trạng quản lý tài sản ngắn hạn của Công ty 49
2.2.2.1 Quản lý và sử dụng tiền 49
2.2.2.2 Quản lý các khoản phải thu 51
2.2.2.3 Quản lý và sử dụng hàng tồn kho 53
2.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của Công ty cổ phần Xây dựng Thương Mại và Du Lịch Phương Bắc giai đoạn 2011 - 2013 54
2.2.3.1 Nhóm chỉ tiêu tổng quát 54
2.2.3.2 Nhóm chỉ tiêu phản ánh tốc độ luân chuyển của tài sản ngắn hạn 58
2.2.3.3 Nhóm chỉ tiêu đánh giá năng lực hoạt động của tài sản ngắn hạn 60
2.2.3.4 Các chỉ tiêu về khả năng thanh toán 62
2.3 Đánh giá chung về hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của Công ty 65
2.3.1 Kết quả đạt được 65
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân Error! Bookmark not defined. 2.3.2.1 Hạn chế 65
2.3.2.2 Nguyên nhân 66
Trang 10CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG THƯƠNG MẠI VÀ DU
LỊCH PHƯƠNG BẮC 68
3.1 Định hướng phát triển của Công ty 68
3.1.1 Cơ hội và thách thức 68
3.1.2 Định hướng phát triển 69
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại Công ty 69
3.2.1 Nâng cao hiệu quả sử dụng ngân quỹ 69
3.2.2 Nâng cao hiệu quả sử dụng hàng tồn kho 70
3.2.3 Nâng cao hiệu quả quản lý giá vốn hàng bán 72
3.2.4 Nâng cao hiệu quả sử dụng các khoản phải thu 72
3.2.5 Một số giải pháp khác 75
3.3 Kiến nghị 76
3.3.1 Kiến nghị đối với nhà Nhà Nước 76
3.3.2 Kiến nghị đối với Công ty 76
Trang 11DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Bảng 1.1 Quyết định tín dụng 22
Bảng 2.1 Bảng phân tích kết quả hoạt động kinh doanh 36
Bảng 2.2 Bảng chỉ tiêu phản ánh mức độ sử dụng chi phí 38
Bảng 2.3 Bảng cân đối kế toán so giữa các năm 2011 - 2013 40
Bảng 2.4 Chỉ tiêu các khả năng sinh lợi của Công ty 44
Bảng 2.5 Chỉ tiêu các khả năng sinh lợi của Công ty 47
Bảng 2.6 Cơ cấu tiền của Công ty 49
Bảng 2.7 Cơ cấu khoản phải thu của Công ty 52
Bảng 2.8 Những khách hàng có tuổi nợ cao trong năm 2013 53
Bảng 2.9 Hàng tồn kho của Công ty giai đoạn 2011-2013 54
Bảng 2.10 Chỉ tiêu tổng quát về hiệu quả sử dụng TSNH của công ty 55
Bảng 2.11 Tốc độ luân chuyển TSNH của Công ty giai đoạn 2011-2013 58
Bảng 2.12 Năng lực hoạt động TSNH của công ty giai đoạn 2011-2013 60
Bảng 2.13 Khả năng thanh toán của công ty giai đoạn 2011-2013 63
Bảng 3.1 Bảng phân loại hàng hóa của Công ty 71
Bảng 3.2 Thủ tục thu nợ đối với các hợp đồng quá hạn 73
Bảng 3.3 Mức lãi suất ngân hàng 73
Biểu đồ 2.1.1 Cơ cấu tài sản công ty cổ phần 41
Biểu đồ 2.1.2 Cơ cấu nguồn vốn công ty 43
Biểu đồ 2.3 Biểu đồ so sánh chỉ tiêu ROA giữa 2 Công ty 45
Biểu đồ 2.4 Cơ cấu tài sản ngắn hạn của Công ty 47
Biểu đồ 2.5 Tỷ trọng tiền của Công ty 50
Hình 1.1 Chính sách quản lý tài sản ngắn hạn 12
Hình 1.2 Mô hình mức dự trữ tiền mặt tối ưu 14
Hình 1.3 Mô hình Miller Orr 15
Hình 1.4 Mô hình EOQ 18
Hình 1.5 Mô hình ABC 20
Hình 3.1 Mô hình ABC của Công ty 71
Sơ đồ 1.1 Sơ đồ luân chuyển tiền mặt 7
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức của Công ty 33
Trang 12CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN
HẠN CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm và phân loại doanh nghiệp
1.1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp
Theo điều 4 luật doanh nghiệp năm 2014 định nghĩa: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”
Căn cứ vào định nghĩa trên thì doanh nghiệp có những đặc điểm sau:
Là đơn vị kinh tế, hoạt động trên thương trường, có trụ sở giao dịch ổn định,
có tài sản;
Đã được đăng ký kinh doanh;
Hoạt động kinh doanh
Luật doanh nghiệp 2014 cũng giải thích kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi Như vậy doanh nghiệp là tổ chức kinh tế vị lợi, mặc dù thực tế một số tổ chức doanh nghiệp có các hoạt động không hoàn toàn nhằm mục tiêu lợi nhuận
1.1.1.2 Phân loại doanh nghiệp
a) Theo bản chất kinh tế của chủ sở hữu
Doanh nghiệp được chia ra làm ba loại hình chính dựa trên hình thức và giới hạn trách nhiệm của chủ sở hữu:
Doanh nghiệp tư nhân
Doanh nghiệp hợp danh
Doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn
b) Căn cứ vào hình thức pháp lý doanh nghiệp
Theo luật doanh nghiệp 2014 thì hình thức pháp lý của các loại hình doanh nghiệp tại Việt Nam bao gồm:
Công ty trách nhiệm hữu hạn (bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên) là doanh nghiệp
mà các thành viên trong công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty
Trang 13Trang 2
Công ty cổ phần là doanh nghiệp mà vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần Cá nhân hay tổ chức sở hữu cổ phần của doanh nghiệp được gọi là cổ đông và chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp
Công ty hợp danh là doanh nghiệp trong đó có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu của công ty, cùng kinh doanh dưới một cái tên chung (gọi là thành viên hợp danh) Thành viên hợp doanh phải là cá nhân và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty Ngoài ra trong công ty hợp danh còn có các thành viên góp vốn
Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân
Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập theo Luật đầu tư nước ngoài 1996 chưa đăng kí lại hay chuyển đổi theo quy định
c) Căn cứ vào chế độ trách nhiệm
Căn cứ vào chế độ trách nhiệm có thể phân loại các doanh nghiệp thành có chế
độ trách nhiệm vô hạn và chế độ trách nhiệm hữu hạn
Doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm vô hạn: là loại hình doanh nghiệp mà ở
đó chủ sở hữu doanh nghiệp có nghĩa vụ phải trả nợ thay cho doanh nghiệp bằng tất cả tài sản của mình, khi doanh nghiệp không đủ tài sản để thực hiện các nghĩa vụ tài chính của nó Theo pháp luật Việt Nam, có hai loại doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm vô hạn là doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh
Doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm hữu hạn: là những doanh nghiệp mà ở đó chủ sở hữu chỉ phải chịu trách nhiệm về mọi khoản nợ và nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp Điều đó có nghĩa là khi số tài sản của doanh nghiệp không đủ để trả nợ thì chủ sở hữu không có nghĩa vụ phải trả nợ thay cho doanh nghiệp
1.1.2 Hoạt động cơ bản của doanh nghiệp
1.1.2.1 Hoạt động huy động vốn
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường thì các phương thức huy động vốn của doanh nghiệp được đa dạng hóa Tùy theo tình hình phát triển thị trường tài chính của mỗi quốc gia, tùy theo loại hình thức doanh nghiệp và các đặc điểm hoạt động kinh doanh cụ thể mà mỗi doanh nghiệp có hình thức huy động vốn khác nhau
Vốn của doanh nghiệp bao gồm vốn chủ sở hữu và nợ
Trang 14Vốn chủ sở hữu được huy động từ:
1.1.2.2 Hoạt động sản xuất kinh doanh
Trong thời đại ngày nay, hoạt động sản xuất tạo ra của cải vật chất và dịch vụ luôn gắn liền với cuộc sống của con người, công việc sản xuất thuận lợi khi các sản phẩm tạo ra được thị trường chấp nhận tức là đồng ý sử dụng sản phẩm đó Để được như vậy thì các chủ thể tiến hành sản xuất phải có khả năng kinh doanh
Hoạt động kinh doanh là hoạt động mua bán trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa các doanh nghiệp với nhau hoặc giữa các doanh nghiệp với người tiêu dùng cuối cùng với mục đích là thu được lợi nhuận nhằm mục đích mở rộng sản xuất kinh doanh Vậy hoạt động sản xuất kinh doanh được hiểu là một quá trình liên tục từ nghiên cứu thị trường và tìm cách đáp ứng nhu cầu đó thông qua việc thỏa mãn nhu cầu người tiêu dùng để đạt được mục đích kinh doanh của doanh nghiệp
Đặc điểm cơ bản cùng hoạt động sản xuất kinh doanh là:
Hoạt động kinh doanh luôn chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế, hệ thống chính sách và luật pháp của nhà nước cũng như các yếu tố môi trường kinh doanh khác
Phải nghiên cứu phân tích để xác định được nhu cầu của thị trường
Xây dựng được chiến lược kinh doanh trên cơ sở huy động và sử dụng hợp lý của nguồn lực của doanh nghiệp
1.1.2.3 Hoạt động khác
Khi doanh nghiệp hoạt động, nguồn thu của doanh nghiệp không chỉ từ hoạt động sản xuất kinh doanh chính của doanh nghiệp đó mà nguồn thu có thể xuất phát từ nhiều hoạt động khác, bao gồm thu nhập từ chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng bất động sản; thu nhập từ quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản; thu nhập từ chuyển nhượng, cho thuê, thanh lý tài sản; thu nhập từ lãi tiền gửi, cho vay vốn, bán ngoại tệ;
Trang 15Trang 4
hoàn nhập các khoản dự phòng; thu khoản nợ khó đòi đã xóa nay đòi được; thu khoản
nợ phải trả không xác định được chủ; khoản thu nhập từ kinh doanh của những năm trước bị bỏ sót và các khoản thu nhập khác, kể cả thu nhập nhận được từ hoạt động sản xuất, kinh doanh bên ngoài Việt Nam
Thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản; chuyển nhượng dự án (không gắn liền với chuyển nhượng quyền sử dụng đất, chuyển nhượng quyền thuê đất); chuyển nhượng quyền thực hiện dự án, chuyển nhượng quyền thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản theo quy định của pháp luật phải hạch toán riêng để kê khai nộp thuế thu nhập doanh nghiệp với mức thuế suất 25%, không được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp và không được bù trừ với thu nhập hoặc lỗ của các hoạt động sản xuất kinh doanh khác Trường hợp doanh nghiệp có các hoạt động chuyển nhượng bất động sản; chuyển nhượng dự án (không gắn liền với chuyển quyền sử dụng đất, chuyển quyền thuê đất); chuyển nhượng quyền thực hiện dự án, chuyển nhượng quyền thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản theo quy định của pháp luật thì được bù trừ lãi, lỗ của các hoạt động này với nhau để kê khai nộp thuế thu nhập doanh nghiệp
1.1.3 Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp
1.1.3.1 Khái niệm tài sản ngắn hạn
Trong nền kinh tế hiện nay, có nhiều ngành nghề mới liên tục ra đời, cùng với đó
là sự vận động liên tục của các nguồn vốn của doanh nghiệp nên khái niệm về tài sản ngắn hạn ngày càng được mở rộng Tài sản là tất cả những nguồn lực có giá trị thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp và là yếu tố quan trọng không thể thiếu trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Khác với những tư liệu lao động, đối tượng lao động chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất, đến chu kỳ sản xuất tiếp theo phải sử dụng đối tượng lao động khác Lượng tiền ứng trước để thỏa mãn nhu cầu về các đối tượng lao động gọi là tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp
Như vậy, có thể định nghĩa: “Tài sản ngắn hạn là loại tài sản có thể dễ dàng
chuyển đổi sang tiền trong vòng 1 năm hoặc trong 1 chu kỳ sản xuất kinh doanh Tài sản ngắn hạn bao gồm tiền và các khoản tương đương tiền, các khoản phải thu ngắn hạn, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, hàng tồn kho và những tài sản khác có tính thanh khoản cao”
Tài sản ngắn hạn quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bởi đó là loại tài sản được sử dụng trong hoạt động kinh doanh hàng ngày, chi trả cho các chi phí phát sinh để tạo ra sản phẩm Cơ cấu của các loại tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thường chiếm tỷ trọng cao trong tổng tài sản Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn có ảnh hưởng đến việc hoàn thành chỉ tiêu kinh doanh của doanh nghiệp Mặc dù phần lớn các trường hợp
Trang 16phá sản trong kinh doanh là hệ quả của nhiều yếu tố, chứ không phải do việc quản trị tài sản ngắn hạn quyết định tất cả Nhưng cũng phải thấy rằng sự quản lý không tốt các loại tài sản ngắn hạn và các khoản nợ ngắn hạn là nguyên nhân đầu tiên dẫn đến những thất bại của doanh nghiệp
Trong doanh nghiệp, tài sản ngắn hạn được phân biệt với tài sản dài hạn ở những đặc điểm về luân chuyển Khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, khác với tài sản dài hạn chỉ dịch chuyển từng phần vào giá thành sản phẩm, thì tài sản ngắn hạn dịch chuyển toàn bộ và một lần vào giá trị sản phẩm Chính vì vậy, tài sản ngắn hạn chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất kinh doanh và khi kết thúc chu kỳ sẽ hoàn thành một vòng luân chuyển Ngoài ra, trong quá trình luân chuyển ngày, tài sản ngắn hạn liên tục thay đổi hình thái Trong doanh nghiệp sản xuất, sự thay đổi này được thể hiện qua chu trình: T-H-SX-H’-T’ Mở đầu chu kỳ sản xuất kinh doanh, tài sản ngắn hạn có hình thái tiền tệ Sau đó chuyển sang hình thái nguyên vật liệu dự trữ Qua quá trình sản xuất, các nguyên vật liệu dự trữ thành thành phẩm hay bán thành phẩm Kết thúc quá trình này, khi đã tiêu thụ được thành phẩm, tài sản ngắn hạn lại quay trở về hình thái ban đầu Đối với doanh nghiệp thương mại, quá trình này bao gồm: T-H-T’ Tài sản ngắn hạn cũng có hình thái ban đầu là tiền tệ, sau đó chuyển sang hàng hóa và cuối cùng quay trở lại hình thái tiền tệ Như vậy, có thể nói tài sản ngắn hạn luôn tham gia vào tất cả các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh thông qua sự vận động thường xuyên và thay đổi các hình thái
Từ đó có thể thấy rằng đặc điểm của tài sản ngắn hạn bao gồm những điểm sau:
Tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản cao nên đáp ứng được khả năng thanh toán của doanh nghiệp
Tài sản ngắn hạn là một bộ phần của nguồn vốn sản xuất nên nó vận động và luân chuyển liên tục trong mọi giai đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh
Tài sản ngắn hạn có thể dễ dàng chuyển đổi từ dạng vật chất sang tiền tệ nên việc quản lý là rất phức tạp
1.1.3.2 Vai trò của tài sản ngắn hạn
Để tiến hành sản xuất kinh doanh, ngoài những tài sản cố định như máy móc, nhà xưởng, thiết bị … doanh nghiệp cũng phải bỏ ra một lượng tiền nhất định để mua sắm hàng hóa, nguyên vật liệu phục vụ cho quá trình sản xuất Như vậy, tài sản ngắn hạn là điều kiện đầu tiên để doanh nghiệp đi vào hoạt động hay nói các khác tài sản ngắn hạn
là điều kiện tiên quyết của quá trình sản xuất kinh doanh
Trang 17Trang 6
Ngoài ra tài sản ngắn hạn còn đảm bảo cho quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp được tiến hành thường xuyên, liên tục Tài sản ngắn hạn còn là công cụ phản ánh đánh giá quá trình mua sắm, dự trữ, sản xuất, tiêu thụ của doanh nghiệp
Tài sản ngắn hạn còn có khả năng quyết định đến quy mô hoạt động của doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp hoàn toàn tự chủ trong việc sử dụng vốn nên khi muốn mở rộng quy mô của danh nghiệp phải huy động một lượng vốn nhất định để đầu tư ít nhất là đủ để dự trữ vật tư hàng hóa Tài sản ngắn hạn còn giúp cho doanh nghiệp chớp được thời cơ kinh doanh và tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp
Tài sản ngắn hạn còn là bộ phận chủ yếu cấu thành nên giá thành sản phẩm do đặc điểm luân chuyển toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm Giá trị của hàng hóa bán
ra được tính toán trên cơ sở bù đắp được giá thành sản phâm cộng thêm một phần lợi nhuận Do đó, tài sản ngắn hạn đóng vai trò quyết định trong việc tính giá cả của hàng hóa bán ra
1.1.3.3 Phân loại tài sản ngắn hạn
Việc quản lý và sử dụng tài sản ngắn hạn muốn tiến hành một cách khoa học và hiệu quả đòi hỏi nhà quản lý phải nắm được thành phần và kết cấu của tài sản ngắn hạn, từ đó có các biện pháp điều chỉnh và nâng cao hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn Người ta sử dụng các tiêu thức khác nhau để phân loại tài sản ngắn hạn tùy thuộc vào mục tiêu của nhà quản lý Có hai tiêu thức phân loại chủ yếu thường được sử dụng: phân loại theo hình thái biểu hiện và phân loại theo vai trò của tài sản ngắn hạn đối với quá trình sản xuất kinh doanh
a) Phân loại theo hình thái biểu hiện
Theo cách phân loại này tài sản ngắn hạn có thể chia thành các loại sau:
Tiền và các khoản tương đương tiền:
Gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển Tiền là loại tài sản
có tính thanh khoản cao nhất, đứng đầu tiên bên tài sản trên bảng cân đối kế toán Loại tài sản này có thể dễ dàng chuyển đổi thành các tài sản khác hoặc thanh toán các nghĩa
vụ tài chính cho doanh nghiệp, bởi vậy nó cho phép doanh nghiệp duy trì khả năng chi trả và phòng tránh rủi ro thanh toán Bên cạnh đó các tài sản dạng đặc biệt như: vàng, bạc, đá quý, kim khí quý được dùng chủ yếu cho mục đích dự trữ Tuy nhiên, tiền mặt cũng là loại tài sản không hoặc gần như không sinh lợi, bởi vậy việc giữ tiền mặt ở mức độ nào để vừa đảm bảo an toàn vừa tiết kiệm vốn lại là một câu hỏi quan trọng cần nhà quản trị tài chính quan tâm giải quyết
Trang 18 Đầu tư tài chính ngắn hạn:
Mục tiêu của các doanh nghiệp là việc sử dụng các loại tài sản sao cho hiệu quả đạt được là nhất Các loại chứng khoán gần như tiền mặt được giữ vai trò như một
“bước đệm” cho tiền mặt vì nếu số dư tiền mặt nhiều doanh nghiệp có thể đầu tư vào những loại chứng khoán có khả năng thanh khoản cao, nhưng khi cần thiết thì hoàn toàn cũng có thể chuyển đổi chúng sang tiền mặt một cách dễ dàng và ít tốn kém chi phí Do đó trong việc quản trị tài chính người ta sử dụng những loại chứng khoán có khả năng thanh khoản cao để duy trì tiền mặt ở mức độ mà doanh nghiệp mong muốn Qua phân tích trên ta thấy tiền mặt là một loại hàng hóa nhưng đây là hàng hóa đặc biệt-một tài sản có tính thanh khoản nhất Trong kinh doanh, doanh nghiệp luôn cần có một lượng tiền mặt và phải dùng nó để trả cho các hóa đơn một cách đều đặn Khi lượng tiền mặt này hết, doanh nghiệp phải bán các chứng khoán có khả năng thanh khoản cao để có lại được lượng tiền như ban đầu Ta có thể thấy rõ hơn điều này qua
sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1 Sơ đồ luân chuyển tiền mặt
Các khoản phải thu:
Trong nền kinh tế thị trường việc mua bán trả chậm là một hoạt động không thể thiếu Các doanh nghiệp bán hàng song có thể không nhận được ngay tiền hàng lúc bán mà có thể phải nhận sau một thời gian xác định mà hai bên đã thoả thuận, chính việc này đã hình thành nên phần lớn các khoản phải thu của doanh nghiệp.Việc cho các doanh nghiệp khác nợ như vậy chính là hình thức tín dụng thương mại Với hình thức này có thể làm cho doanh nghiệp đứng vững trên thị trường và trở nên giàu có
Các chứng khoán thanh
khoản cao
Đầu tư tạm thời bằng cách mua chứng khoán có tính thanh khoản cao
Bán những chứng khoán thanh khoản cao để bổ sung cho tiền mặt
Dòng thu tiền
mặt
Tiền mặt Dòng chi tiền
mặt
Trang 19Trang 8
nhưng cũng không tránh khỏi những rủi ro trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Khoản phải thu giữ một vai trò quan trọng bởi nếu các nhà quản lý không cân đối giữa các khoản phải thu thì doanh nghiệp sẽ gặp phải những khó khăn thâm chí có
thể dẫn đến tình trạng mất khả năng thanh toán
Hàng tồn kho:
Trong quá trình luân chuyển tài sản ngắn hạn phục vụ cho sản xuất, kinh doanh thì việc vật tư hàng hoá dự trữ, tồn kho là những bước đệm cần thiết cho quá trình hoạt động bình thường của doanh nghiệp Hàng tồn kho có ba loại: nguyên vật liệu thô phục vụ cho quá trình sản xuất, kinh doanh; sản phẩm dở dang và thành phẩm Các doanh nghiệp không thể tiến hành sản xuất đến đâu mua hàng đến đó mà cần phải có nguyên vật liệu dự trữ Nguyên vật liệu dự trữ không trực tiếp tạo ra lợi nhuận nhưng nó
có vai trò rất lớn để cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tiến hành được bình thường Tuy nhiên nếu doanh nghiệp dự trữ quá nhiều sẽ gây tốn kém chi phí, dẫn đến ứ đọng vốn và thậm chí nếu sản phẩm thuộc loại khó bảo quản có thể bị hư hỏng Ngược lại, nếu doanh nghiệp dự trữ quá ít nguyên vật liệu sẽ làm cho quá trình sản xuất kinh doanh bị gián đoạn, các khâu tiếp theo trong quá trình sản xuất sẽ không thể tiếp tục được nữa, việc này đồng thời với việc không hoàn thành được kế hoạch sản xuất Hàng tồn kho trong quá trình sản xuất là các loại nguyên liệu nằm tại từng công đoạn của dây truyền sản xuất Thông thường quá trình sản xuất của các doanh nghiệp được chia thành nhiều công đoạn, giữa những công đoạn này bao giờ cũng xuất hiện những bán thành phẩm Khi tiến hành sản xuất xong sản phẩm hầu hết các doanh nghiệp chưa thể tiêu thụ hết sản phẩm Phần vì lý do có “độ trễ” nhất định giữa quy trình sản xuất và tiêu dùng, phần khác là do phải có đủ lô hàng mới xuất được Những doanh nghiệp
mà sản xuất mang tính thời vụ và có quy trình chế tạo tốn nhiều thời gian thì phần dự trữ, tồn kho sản phẩm sẽ lớn Do đó để đảm bảo cho sự ổn định sản xuất, doanh nghiệp phải duy trì một lượng hàng tồn kho dự trữ an toàn và tuỳ thuộc vào loại hình doanh
nghiệp khác nhau mà mức dự trữ an toàn khác nhau
Phân loại theo hình thái biểu hiện cho phép doanh nghiệp xem xét đánh giá mức tồn kho dự trữ và khả năng thanh toán của doanh nghiệp, biết được kết cấu tài sản ngắn hạn theo hình thái biểu hiện để có hướng điều chỉnh hợp lý và hiệu quả
b) Phân loại theo vai trò của tài sản ngắn hạn với quá trình sản xuất kinh doanh
Tài sản ngắn hạn trong khâu dự trữ : là toàn bộ tài sản ngắn hạn có trong
khâu dự trữ của doanh nghiệp mà không tính đến hình thái biểu hiện của chúng, bao gồm: tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển, hàng mua đang đi đường, nguyên nhiên vật liệu tồn kho, công cụ dụng cụ trong kho, hàng gửi gia công, trả trước cho người bán
Trang 20 Tài sản ngắn hạn trong khâu sản xuất: là toàn bộ tài sản ngắn hạn có trong
khâu sản xuất của doanh nghiệp, bao gồm: giá trị bán thành phẩm, các chi phí sản xuất kinh doanh dở dang, chi phí trả trước, chi phí chờ kết chuyển, các khoản chi phí khác phục vụ cho quá trình sản xuất…
Tài sản ngắn hạn trong khâu lưu thông: là toàn bộ tài sản ngắn hạn có trong
khâu lưu thông của doanh nghiệp, bao gồm: thành phẩm tồn kho, hàng gửi bán, các khoản nợ phải thu của khách hàng
Cách phân loại tài sản ngắn hạn theo vai trò với quá trình sản xuất kinh doanh giúp cho các nhà quản lý doanh nghiệp xác định được các nhân tố gây ảnh hưởng đến quá trình luân chuyển của tài sản ngắn hạn để có thể đưa ra các biện pháp quản lý thích hợp để nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn một cách cao nhất
1.1.3.4 Kết cấu của tài sản ngắn hạn và các nhân tố ảnh hưởng đến kết cấu tài sản
ngắn hạn
Kết cấu tài sản ngắn hạn là tỷ trọng giữa từng bộ phận tài sản ngắn hạn trên tổng
số tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp Bên cạnh việc nghiên cứu các cách phân loại tài sản ngắn hạn theo những tiêu thức khác nhau, doanh nghiệp còn phải đánh giá và nắm bắt được kết cấu của tài sản ngắn hạn ở từng cách phân loại đó Kết cấu tài sản ngắn hạn thể hiện thành phần và các mối quan hệ tỷ lệ thành phần trong tổng số tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp Mỗi doanh nghiệp có kiểu kết cấu tài sản ngắn hạn khác nhau Việc phân tích kết cấu tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp theo các tiêu thức phân loại khác nhau sẽ giúp doanh nghiệp hiểu rõ hơn những đặc điểm của tài sản ngắn hạn mà mình đang quản lý, sử dụng từ đó xác định đúng các trọng điểm và các biện pháp quản
lý tài sản ngắn hạn có hiệu quả phù hợp với các điều kiện của doanh nghiệp Bên cạnh
đó việc phân tích, theo dõi kết cấu tài sản ngắn hạn trong các thời kì khác nhau có thể thấy được những biến đổi tích cực cũng như những hạn chế trong việc quản lý tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp Các nhân tố ảnh hưởng đến kết cấu của tài sản ngắn hạn doanh nghiệp có nhiều loại, tuy nhiên có thể chia thành những nhóm chính:
Các nhân tố về mặt cung ứng vật tư như khoảng cách giữa doanh nghiệp với nơi cung cấp, khả năng cung ứng của thị trường, kì hạn giao hàng và khối lượng vật tư được cung cấp mỗi lần giao hàng, chủng loại vật tư được cung cấp…đều ảnh hưởng đến tỷ trọng tài sản ngắn hạn vào khâu dự trữ
Các nhân tố về mặt sản xuất cũng như đặc điểm kĩ thuật, công nghệ sản xuất của doanh nghiệp, mức độ phức tạp của sản phẩm chế tạo: độ dài của chu kì sản xuất, trình độ tổ chức của quá trình sản xuất
Trang 21Trang 10
Những nhân tố về thanh toán: những doanh nghiệp sử dụng phương thức thanh toán hợp lí, giải quyết thanh toán kịp thời thì tỷ trọng tài sản ngắn hạn sẽ không thay đổi Đồng thời việc chấp hành kỉ luật thanh toán của khách hàng cũng ảnh hưởng tới kết cấu của tài sản ngắn hạn
Điều kiện tiêu thụ sản phẩm cũng có ảnh hưởng nhất định tới kết cấu tài sản ngắn hạn Quy mô sản phẩm tiêu thụ lớn hay nhỏ, khoảng cách giữa các công trình và doanh nghiệp dài hay ngắn đều ảnh hưởng đến tỷ trọng tài sản ngắn hạn trong lưu thông
1.2 Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp
Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường hiện nay thì việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn có ý nghĩa hết sức quan trọng trong công tác quản lý tài chính doanh nghiệp Thực tế trong nhiều năm trở lại đây cho thấy tài sản ngắn hạn ở một số doanh nghiệp được sử dụng còn tùy tiện, kém hiệu quả và đặc biệt là ở các doanh nghiệp nhà nước Do đó, việc sử dụng hiệu quả tài sản ngắn hạn hiện nay luôn là yêu cầu mang tính cấp thiết đối với sự phát triển của các doanh nghiệp
1.2.1 Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn
1.2.1.1 Khái niệm hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn
Hiệu quả sản xuất kinh doanh luôn là vấn đề mà các doanh nghiệp quan tâm, quản trị kinh doanh sản xuất có hiệu quả thì doanh nghiệp mới có thể bám trụ và phát triển trên thị trường Để đạt được hiệu quả đó đòi hỏi doanh nghiệp phải cần nhiều cố gắng và có những chiến lược cũng như sách lược hợp lý ngay từ khâu sản xuất cho đến tận khi sản phẩm được đến tay người tiêu dùng
Mục đích cuối cùng của doanh nghiệp bao giờ cũng là đạt được những mục tiêu
mà doanh nghiệp đã đề ra Chính vì vậy quan niệm về hiệu quả kinh doanh của mỗi doanh nghiệp là hoàn toàn khác nhau Tuy nhiên để đi đến mục đích cuối cùng thì vấn
đề chung mà các doanh nghiệp đều cần phải quan tâm và chú trọng đến đó chính là hiệu quả sử dụng vốn và tài sản trong doanh nghiệp
Hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ, năng lực khai thác và sử dụng tài sản của doanh nghiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh của mình nhằm mục đích tối đa hoá lợi ích và tối thiểu hoá chi phí Với mỗi doanh nghiệp có một sự cân đối về tài sản riêng, mỗi loại tài sản cũng phải khác nhau Nếu như các doanh nghiệp kinh doanh về lĩnh vực chế biến hay về lĩnh vực công nghiệp nặng thì tài sản cố định là phần chiếm một tỷ lệ rất cao trong tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp Ngược lại với các doanh nghiệp lĩnh vực thương
Trang 22mại thì tài sản ngắn hạn lại chiếm tỷ lệ chủ yếu trong tổng giá trị tài sản của doanh ngiệp
Đặc biệt đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu thì tài sản ngắn hạn đóng một vai trò hết sức là quan trọng Các nhà quản lý doanh nghiệp xuất nhập khẩu luôn phải cân nhắc làm thế nào để sử dụng các loại tài sản ngắn hạn một cách hiệu quả nhất
Sử dụng tài sản ngắn hạn một cách hiệu quả là kết quả đạt được cao nhất với mục tiêu mà doanh nghiệp đã đặt ra Nghĩa là phải làm như thế nào để có được nhiều lợi nhuận nhất từ việc khai thác và sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm tối đa hóa lợi ích và tối thiểu hóa chi phí
1.2.1.2 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn
Dù là loại hình doanh nghiệp nào thì việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn bao giờ cũng là một biện pháp quan trọng giúp các doanh nghiệp đạt được mục tiêu lợi nhuận và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra thường xuyên, liên tục
Kết quả kinh doanh của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào công tác quản lý và
sử dụng tài sản ngắn hạn Nếu doanh nghiệp không đảm bảo đủ lượng tài sản ngắn hạn đáp ứng kịp thời cho quá trình sản xuất kinh doanh thì quá trình này sẽ bị gian đoạn, ảnh hưởng đến việc quay vòng vốn Ngược lại, nếu doanh nghiệp tăng cường quản lý, nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn sẽ làm cho vốn quay vòng nhanh, chớp được
cơ hội đầu tư, thu được nhiều lợi nhuận Thường xuyên nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp
Hiệu quả sản xuất kinh doanh và lợi nhuận luôn là mối quan tâm và mục tiêu hàng đầu của các doanh nghiệp Để đạt được mục tiêu đó thì một trong những biện pháp mà mất kì một doanh nghiệp nào cũng cần đó là không ngừng nâng cao hiệu quả
sử dụng tài sản ngắn hạn Đó chính là chìa khóa, là con đường ngắn nhất giúp doanh nghiệp có được kết quả kinh doanh tốt nhất cho mình
Sự vận động của tài sản ngắn hạn phản ánh sự vận động của vật tư, hàng hóa, vốn bằng tiền…tài sản ngắn hạn luân chuyển nhanh hay chậm phản ánh số lượng vật
tư sử dụng tiết kiệm hay lãng phí, tốc độ thu hồi các khoản phải thu như thế nào Từ
đó, doanh nghiệp có các biện pháp thích hợp nhằm kiểm tra giảm sát một cách toàn diễn đối với các khoản mục trong cơ cấu tài sản ngắn hạn, đảm bảo tài sản ngắn hạn không bị ứ đọng ở các khâu Sử dụng tài sản ngắn hạn hợp lýkhông những giúp giảm chi phí hạ giá thành sản phẩm, tăng sức cạnh tranh trên thị trường mà còn giúp doanh
Trang 23Trang 12
nghiệp khai thác tối đa năng lực làm việc của tài sản cố định, làm tăng lợi nhuận, góp phần vào công tác bảo toàn và phát triển vốn kinh doanh
Mục tiêu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là thu được lợi nhuận và lợi ích
xã hội chung, nhưng bên cạnh đó một vấn đề quan trong đặt ra cho các doanh nghiệp
là bảo toàn tài sản ngắn hạn Do đặc điểm của tài sản ngắn hạn là chu chuyển một lần, toàn bộ vào giá trị của sản phẩm, hình thái vốn lưu động thường xuyên biến đổi nên việc bảo toàn tài sản ngắn hạn thực chất là đảm bảo cho số vốn cuối kì đủ mua một lượng vật tư, hàng hóa tương đương với đầu kì khi giá cả hàng hóa tăng lên
Như vậy, có thể nói nâng cao hiệu quả tổ chức và sử dụng tài sản ngắn hạn luôn
là mối quan tâm hàng đầu của mỗi doanh nghiệp Nó gắn liền với sự phát triển của mỗi doanh nghiệp, là tiêu chí để đo hiệu quả kinh doanh giữa các kỳ Do vậy, phải không ngừng nâng cao hiệu quả cao nhất với chi phí thấp nhất, đảm bảo mục tiêu kinh doanh của các doanh nghiệp
1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp
1.2.2.1 Chính sách quản lý tài sản ngắn hạn
Chính sách quản lý tài sản ngắn hạn là mô hình tài trợ cho tài sản ngắn hạn mà doanh nghiệp theo đuổi Trước khi xem xét chính sách quản lý tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp, chúng ta tìm hiểu các mô hình quản lý tài sản ngắn hạn và quản lý nợ ngắn hạn Sự kết hợp giữa chúng sẽ tạo nên những chính sách quản lý tài sản ngắn hạn khác nhau
Chính sách tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp có thể được nhận biết thông qua
mô hình quản lý tài sản ngắn hạn và mô hình quản lý nợ ngắn hạn của doanh nghiệp Khi kết hợp hai mô hình này, ta có thể có 3 chính sách: chính sách cấp tiến, chính sách thận trọng và chính sách dung hòa
Hình 1.1 Chính sách quản lý tài sản ngắn hạn Cấp tiến Thận trọng Dung hòa
Chính sách quản lý cấp tiến: Sự kết hợp giữa mô hình quản lý tài sản ngắn
hạn cấp tiến và nợ ngắn hạn cấp tiến tạo nên chính sách tài sản ngắn hạn cấp tiến Với chính sách này, doanh nghiệp đã sử dụng một phần tài sản ngắn hạn để tài trợ cho tài
Trang 24sản dài hạn Ưu điểm của chính sách này là chi phí huy động vốn thấp hơn, tuy nhiên
sự ổn định của nguồn không cao do nguồn ngắn hạn được sử dụng nhiều, khả năng thanh toán ngắn hạn cũng không được đảm bảo Tóm lại, chính sách này đem lại thu
nhập cao và rủi ro cao
Chính sách quản lý thận trọng:Chính sách này là sự kết hợp giữa mô hình
quản lý tài sản ngắn hạn thận trọng và nợ ngắn hạn thận trọng Doanh nghiệp đã sử dụng một phần nguồn tài sản dài hạn để tài trợ cho tài sản ngắn hạn Chính sách này mang lại khá nhiều ưu điểm như khả năng thanh toán được đảm bảo, tính ổn định của nguồn cao và hạn chế các rủi ro trong kinh doanh Tuy nhiên, doanh nghiệp lại mất chi phí huy động vốn cao hơn do lãi suất dài hạn thường cao hơn lãi suất ngắn hạn Tóm
lại, chính sách này, doanh nghiệp có mức thu nhập thấp và rủi ro thấp
Chính sách quản lý dung hòa:Với hai kiểu chính sách trên, doanh nghiệp chỉ
có thể đạt được thu nhập cao với mức rủi ro cao (chính sách cấp tiến) hoặc mức rủi ro thấp nhưng thu nhập lại thấp (chính sách thận trọng) Để dung hòa giữa hai phương án, doanh nghiệp có thể lựa chọn chính sách dung hòa: kết hợp quản lý tài sản thận trọng với nợ cấp tiến hoặc kết hợp quản lý tài sản cấp tiến với nợ thận trọng Chính sách này dựa trên cơ sở nguyên tắc tương thích: tài sản dài hạn được tài trợ hoàn toàn bằng nguồn ngắn hạn và tài sản ngắn hạn được tài trợ bằng nguồn dài hạn Tuy nhiên, trên thực tế, để đạt được trang thái tương thích không hề đơn giản do vấp phải những vấn
đề như sự tương thích kì hạn, luồng tiền hay khoảng thời gian, do vậy chính sách này
chỉ cố tiến tới trạng thái tương thích, duy hòa rủi ro và tạo ra mức thu nhập trung bình
Trên đây là các mô hình cơ bản về chính sách quản lý tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp Mỗi doanh nghiệp có thể lựa chọn một chính sách tài sản ngắn hạn riêng và việc quản lý tài sản ngắn hạn tại mỗi doanh nghiệp sẽ mang những đặc điểm rất khác nhau Tuy nhiên, về cơ bản, nội dung chính của quản lý tài sản ngắn hạn vẫn quản lý các bộ phận cấu thành nên tài sản ngắn hạn
1.2.2.2 Quản lý tiền mặt
Tiền mặt là một bộ phận cấu thành của tài sản ngắn, có tính thanh khoản cao nhất
và trực tiếp quyết định khả năng thanh toán của doanh nghiệp Tuy nhiên, tiền mặt bản thân nó không sinh lời, nó chỉ sinh lời khi được sử dụng vào mục đích nhất định Hơn nữa do có tính thanh khoản cao nên tiền mặt rất dễ bị thất thoát, gian lận và lợi dụng
Vì vậy quản lý tiền mặt đòi hỏi vừa phải đảm bảo độ an toàn tuyệt đối, khả năng sinh lời cao song cũng phải đáp ứng kịp thời các nhu cầu thanh toán của doanh nghiệp Trong các doanh nghiệp, nhu cầu tiền mặt thường do 3 lý do chính: nhằm đáp ứng yêu cầu giao dịch, thanh toán hằng ngày như chi trả tiền mua hàng, trả tiền lương, tiền công, cổ tức hoặc nộp thuế…; nắm bắt các cơ hội kinh doanh, cơ hội đầu tư sinh lời;
Trang 25Trang 14
nhu cầu dự phòng hoặc đề phòng các rủi ro bất ngờ ảnh hưởng đến việc thu chi tiền mặt của doanh nghiệp Quản lý tiền mặt là nội dung quan trọng trong việc quản lý tài sản ngắn hạn Nội dung chủ yếu của công tác quản trị tiền mặt của doanh nghiệp là xác định đủ mức dự trữ biên và quản lý hoạt động thu chi tiền mặt Để xác định được mức
dự trữ tiền tối ưu, chúng ta có thể áp dụng mô hình Baumol
William Baumol là người đầu tiên đưa ra mô hình quyết định số dư tiền mặt kết hợp giữa chi phí cơ hội và chi phí giao dịch Mô hình này được thiết lập nhằm xác định số dư tiền mặt mục tiêu với các giải định là: Nhu cầu về tiền của doanh nghiệp là
ổn định, không có dự trữ tiền mặt cho mục đích an toàn, doanh nghiệp chỉ có hai hình thức dự trữ: tiền mặt và chứng khoán khả thị, không có rủi ro trong đầu tư chứng khoán Mô hình này xác định mức tiền mặt mà tại đó, tổng chi phí là nhỏ nhất
Chi phí cơ hội (OC): là chi phí mất đi khi tiền mặt không đầu tư được vào chứng khoán khả thị
OC = C x K
2
C/2: Mức dự trữ tiền mặt trung bình K: lãi suất đầu tư chứng khoán
Tổng chi phí (TC)
TC = TrC + OC
Để tổng chi phí là nhỏ nhất thì đạo hàm cấp một của TC bằng 0 và mức dự trữ tiền mặt tối ưu là:
Hình 1.2 Mô hình mức dự trữ tiền mặt tối ưu
Chi phí giữ tiền mặt
Dự trữ tiền mặt
Tổng chi phí
C*
Phí cơ hội
Trang 26Mô hình Miller Orr, với các giả định của mô hình Miller Orr là:
Thu chi tiền mặt tại doanh nghiệp là ngẫu nhiên
Luồng tiền mặt ròng biến động theo phân phối chuẩn
Trong đó, chênh lệch giữa giới hạn trên và giới hạn dưới phụ thuộc 3 yếu tố: Sự biến động của dòng tiền hàng ngày tại Công ty; phí giao dịch trên thị trường tài chính; lãi suất của các nguồn huy động vốn
Hình 1.3 Mô hình Miller Orr
Việc sử dụng mô hình Miller Orr giúp Công ty có cơ sở để xác định được mức
dự trữ tiền mặt tối ưu cho hoạt động sản xuất kinh doanh, phù hợp với điều kiện phát triển, thông qua hoạt động tính toán mức dự trữ theo công thức:
Tồn quỹ tiền mặt mục tiêu:
Z* = (3Fσ² / 4K + L)1/3 Trong đó:
Z* là số dư tiền mặt tối ưu
F là chi phí cố định phát sinh khi giao dịch trên thị trường tài chính
0
Giới hạn trên
Giới hạn dưới
Mức tiền mặt theo thiết kế
Trang 27Trang 16
σ² là phương sai của dòng tiền mặt hàng ngày
K là chi phí cơ hội giữ tiền mặt
L là tồn quỹ tiền mặt tối thiểu (giới hạn dưới)
Tồn quỹ tiền mặt tối đa:
H* = 3Z* - 2L Trong đó:
H* là số dư tiền mặt tối đa
Z* là số dư tiền mặt tối ưu
L là tồn quỹ tiền mặt tối thiểu (giới hạn dưới)
Tồn quỹ tiền mặt trung bình:
Ctrung bình = 4Z
*
- L
3 Trong đó:
Ctrung bình là tồn quỹ tiền mặt trung bình
Z* là số dư tiền mặt tối ưu
L là tồn quỹ tiền mặt tối thiểu (giới hạn dưới)
Mục tiêu của quản lý tiền mặt là phải đảm bảo cho việc tăng đầu tư lượng tiền mặt nhàn rỗi nhằm thu lợi nhuận trong khi vẫn duy trì mức thanh khoản hợp lý để đáp ứng các nhu cầu trong tương lai Các công ty cần phải lập kế hoạch khi nào thì có tiền nhàn rỗi có thể dành cho đầu tư và khi nào thì cần vay thêm tiền
Như vậy để quản lý tiền mặt hiệu quả thì ta cần đưa ra các biện pháp sau:
Quản lý chặt chẽ các khoản thu chi bằng tiền doanh nghiệp cần phải xây dựng các nội quy, quy chế về quản lý các khoản thu, chi, đặc biệt là các khoản thu chi bằng tiền mặt để tránh sự mất mát, lạm dụng tiền của doanh nghiệp mưu lợi cho cá nhân
Tất cả các khoản thu chi bằng tiền mặt phải được thông qua quỹ, không được chi tiêu ngoài quỹ
Phải có sự phân định rõ ràng trong quản lý tiền mặt giữa nhân viên kế toán tiền mặt và thủ quỹ Việc xuất nhập quỹ tiền mặt hàng ngày do thủ quỹ tiến hành trên cơ sở các phiếu thu chi tiền mặt hợp thức và hợp pháp
Trang 28 Tăng tốc quá trình thu tiền và làm chậm đi quá trình chi tiền Dự đoán được thời gian chi trả, doanh nghiệp có thể tận dụng lượng tiền mặt trôi nổi trên một
số dư tiền mặt nhỏ hơn
Cần quản lý chặt chẽ các khoản tạm ứng tiền mặt Xác định rõ đối tượng tạm ứng, mức độ tạm ứng và thời gian được tạm ứng
Thường xuyên đảm bảo khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn cho doanh nghiệp Để chủ động trong thanh toán doanh nghiệp phải thực hiện tốt việc lập
kế hoạch lưu chuyển tiền tệ, trên cơ sở đó có biện pháp thích ứng nhằm đảm bảo sự cân bằng thu chi tiền mặt của doanh nghiệp và nâng cao khả năng sinh lời của số tiền mặt nhàn rỗi
1.2.2.3 Quản lý hàng tồn kho
Việc quản lý hàng tồn kho rất quan trọng không phải chỉ vì nó chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp mà quan trọng hơn là tránh được tình trạng vật tư hàng hóa bị ứ đọng, đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được diễn ra bình thường, góp phần đẩy nhanh tốc độ chu chuyển tài sản ngắn hạn Các doanh nghiệp sản xuất thường có ba loại hàng tồn kho ứng với ba giai đoạn khác nhau của một quá trình sản xuất: Tồn kho nguyên vật liệu, tồn kho sản phẩm dở dang, tồn kho thành phẩm
Đối với các doanh nghiệp thương mại, hàng tồn kho chủ yếu là dự trữ hàng hóa
để bán Để xác định được mức độ đầu tư vào hàng tồn kho tối ưu cần so sánh lợi ích đạt được từ dự trữ hàng tồn kho với chi phí phát sinh do dự trữ hàng tồn kho để có phương thức quyết định hợp lí Các chi phí liên quan đến dự trữ hàng tồn kho gồm:
Chi phí đặt hàng: gồm chi phí giao dịch, chi phí vận chuyển, chi phí giao
nhận hàng theo hợp đồng Trên thực tế chi phí cho mỗi lần đặt hàng thường bao gồm các chi phí cố định và chi phí biến đổi Tuy nhiên trong các mô hình quản lý, tài sản ngắn hạn về hàng tồn kho đơn giản thường giả định chi phí cho mỗi lần đặt hàng là cố định và độc lập với số đơn vị hàng đặt mua.
Chi phí lưu trữ (chi phí tồn trữ): là những chi phí liên quan đến việc thực
hiện dự trữ hàng tồn kho trong một khoảng thời gian xác định trước Chi phí lưu trữ bao gồm chi phí lưu kho và chi phí bảo quản; chi phí hư hỏng và chi phí thiệt hại do hàng tồn kho bị lỗi thời, giảm giá, biến chất; chi phí bảo hiểm; chi phí cơ hội về tài sản ngắn hạn lưu giữ đầu tư vào hàng tồn kho; chi phí trả tiền lãi vay để mua vật tư, hàng hóa dữ trữ; chi phí thuế Thông thường, chi phí lưu trữ hàng năm giao động từ 20-45% tính trên giá trị hàng tồn kho cho hầu hết các doanh nghiệp
Trang 29Trang 18
Chi phí thiệt hại khi không có hàng (hàng tồn kho hết): bao gồm chi phí đặt
hàng khẩn cấp, chi phí thiệt hại do ngừng trệ sản xuất, lợi nhuận bị mất do hết thành phẩm dự trữ để bán cho khách hàng…
Mô hình đặt hàng kinh tế - EOQ (Economic Order Quantity) là một mô hình quản lý hàng tồn kho mang tính định lượng được sử dụng để xác định mức tồn kho tối
ưu cho doanh nghiệp Dựa trên cơ sở giữa chi phí tồn trữ hàng tồn kho và chi phí đặt hàng có mối quan hệ tương quan tỷ lệ nghịch với nhau Cụ thể, nếu số lượng sản phẩm cho mỗi lần đặt hàng tăng lên thì số lần đặt hàng trong kỳ sẽ giảm xuống và dẫn đến chi phí đặt hàng trong kì giảm trong khi chi phí tồn trữ hàng hóa lại tăng lên Do đó mục đích của quản lý hàng tồn kho là cân bằng hai loại chi phí này: chi phí tồn trữ và chi phí đặt hàng sao cho tổng chi phí tồn kho là thấp nhất Các giả định của mô hình:
Nhu cầu về hàng tồn kho là ổn định
Không có biến động giá, hao hụt, mất mát trong khâu dự trữ
Thời gian từ khi đặt hàng đến khi nhận hàng là không đổi
Chỉ có duy nhất hai loại chi phí: chi phí đặt hàng và chi phí dự trữ
Không xảy ra thiếu hụt hàng hàng tồn kho nếu đơn đặt hàng được thực hiện đúng hạn
Hình 1.4 Mô hình EOQ
Trong mô hình EOQ, tổng chi phí bao gồm:
Chi phí đặt hàng là các chi phí về vận chuyển, kiểm tra hàng hóa về chất lượng
và số lượng, bốc xếp hàng vào kho Chi phí này thường là một con số cố định trên mỗi đơn hàng, không phụ thuộc vào số lượng hàng mua/lần là nhiều hay ít Khi doanh
Trang 30nghiệp tự sản xuất các yếu tố đầu vào thì chi phí đặt hàng chính là chi phí thiết đặt lại chế độ máy móc, dừng việc, chuẩn bị dụng cụ và không phụ thuộc vào số sản phẩm tạo ra sau lần thiết đặt đó là ít hay nhiều
Chi phí đặt hàng = S x O
Q Chi phí cất trữ là chi phí về nhà kho (là các chi phí thuê mặt bằng, người trông coi, điện, nước,….) và chi phí về hàng hóa (chi phí về biến chất, lỗi thời mất cắp, ứ đọng vốn) Chi phí cất trữ có thể được tính toán theo hai cách: một giá trị cụ thể hoặc một tỷ lệ phần trăm của giá mua đơn vị
Chi phí dự trữ =
Q
x C
2 Trong đó:
S: lượng hàng cần đặt trong năm
O: chi phí một lần đặt hàng
Q/2: mức tổng kho trung bình
C: Chi phí dự trữ kho trên một đơn vị hàng tồn kho trong năm
Tổng chi phí = Chi phí đặt hàng + Chi phí dự trữ
Tổng chi phí là một hàm của Q Để tổng chi phí nhỏ nhất, đạo hàm cấp một của hàm tổng chi phí phải bằng 0 và lượng đặt hàng tối ưu hay mức dự trữ kho tối ưu là:
Q* = √2𝑥𝑆𝑥𝑂
𝐶Thời gian dự trữ tối ưu:
T* = Q*
S/360 Điểm đặt hàng (Số lượng hàng còn lại trong kho còn lại trong kho khi bắt đầu đặt hàng)
OP = Thời gian chờ đặt hàng x S + Q an toàn
360 Chú ý: Nếu doanh nghiệp không dự trữ an toàn thì Qan toàn bằng 0
Trang 31Trang 20
Ngoài mô hình EOQ cũng có thể sử dụng mô hình ABC để quản lý hàng tồn kho
Mô hình ABC là mô hình quản lý hàng tồn kho trên cơ sở: Áp dụng mức độ khác nhau với các nhóm hàng lưu kho có giá trị cao hay thấp khác nhau
Hình 1.5 Mô hình ABC
Ví dụ: Một doanh nghiệp có hàng nghìn danh mục hàng lưu kho với giá trị từ rất đắt đến rất rẻ và chúng ta chia danh mục thành 3 nhóm: A, B và C Nhóm A chiếm 10% về mặt số lượng trong danh mục nhưng lại chiếm đến 50% giá trị tiền đầu tư vào hàng lưu kho Nhóm B chiếm 30% về mặt số lượng danh mục và chiếm 35% giá trị tiền đầu tư vào hàng tồn kho Nhóm C chiếm 60% về mặt số lượng trong danh mục nhưng chỉ chiếm 15% giá trị tiền đầu tư vào hàng lưu kho
Bằng việc chia hàng lưu kho thành nhiều nhóm, các doanh nghiệp có thể tập trung vào nhóm mà cần sự kiểm soát hiệu quả nhất, mà cụ thể ở ví dụ cụ thể này là nhóm A, tiếp theo là nhóm B và cuối cùng là nhóm C Nếu như nhóm A được xem xét quản lý một cách thường xuyên thì nhóm B sẽ ít được thường xuyên, có thể là hàng tháng, hàng quý và nhóm C sẽ ít hơn nữa có thể là hàng năm
1.2.2.4 Quản lý các khoản phải thu
Trong số các khoản mục phải thu của doanh nghiệp, phải thu khách hàng đóng vai trò quan trọng nhất Phải thu khách hàng là khoản mục xuất hiện trong quan hệ mua bán trả chậm giữa các doanh nghiệp, hay còn gọi là khoản tín dụng thương mại Khi doanh nghiệp bán hàng trả chậm cho khách hàng của mình nghĩa là doanh nghiệp cấp tín dụng thương mại cho khách hàng Trong nền kinh tế thị trường, các khoản tín dụng thương mại ngày càng trở nên phổ biến và cũng thể hiện mối quan hệ ràng buộc giữa các doanh nghiệp trong sản xuất kinh doanh
Trang 32Chính sách tín dụng thương mại
Việc lựa chọn chính sách tín dụng thương mại là hết sức quan trọng vì quyết định bán hàng trả chậm có thể cùng một lúc gây nhiều tác động Chúng ta hãy xem xét những ảnh hưởng của quyết định cấp tín dụng (bán hàng trả chậm)
Việc cấp tín dụng thương mại cho khách hàng có thể giúp tăng lợi nhuận do tăng doanh thu, nhưng cũng gây ra những chi phí cơ hội đầu tư vào các khoản phải thu, chi phí quản lý khoản phải thu hay các chi phí dự phòng nợ phải thu khi khách hàng không trả Do vậy, nguyên tắc cơ bản để đưa ra chính sách tín dụng đó là:
Khi lợi ích gia tăng lớn hơn chi phí gia tăng thì doanh nghiệp nên cấp tín dụng
Khi lợi ích gia tăng nhỏ hơn chi phí gia tăng thì doanh nghiệp nên thắt chặt tín dụng
Trường hợp cả lợi ích và chi phí đều giảm thì doanh nghiệp cần xem xét phần chi phí tiết kiệm được có đủ bù đắp cho phần lợi ích bị giảm đi không
Tiêu chuẩn về năng lực trả nợ: được xác định bẳng khả năng thanh toán nhanh, khả năng thanh toán tức thời và quy mô vốn bằng tiền của khách hàng
Tiêu chuẩn về quy mô vốn kinh doanh: thể hiện năng lực tài chính dài hạn của khách hàng
Tiêu chuẩn về khả năng phát triển: xác định khả năng phát triển của khách hàng và ngành nghề kinh doanh trong tương lai
Sau đó, doanh nghiệp tiến hành đánh giá khả năng tín dụng của khách hàng dựa trên thông tin từ các nguồn khác nhau như: báo cáo tài chính, báo cáo tín dụng, ngân hàng và các tổ chức thương mại, kinh nghiệm của doanh nghiệp Nếu khách hàng đáp ứng được các tiêu chuẩn của doanh nghiệp đề ra, doanh nghiệp sẽ tiến hành cấp tín dụng thương mại cho khách hàng Nếu cần cân nhắc, lựa chọn giữa nhiều khách hàng, Công ty có thể sử dụng phương pháp chấm điểm tín dụng trên cơ sở các tiêu chuẩn đã xây dựng kèm theo trọng số Sau đó, doanh nghiệp sẽ xếp hạng khách hàng và có thể
Trang 33Trang 22
Phân tích lợi ích thu được từ khoản tín dụng thương mại: Để hiểu rõ về các phương án, doanh nghiệp có thể lượng hóa những lợi ích ròng thu được từ việc cấp tín dụng thông qua xác định giá trị hiện tại ròng NPV
Quyết định tín dụng khi xem xét một phương án: cấp tín dụng
VC: tỷ lệ chi phí biến đổi trên doanh thu
S: doanh thu dự kiến mỗi kỳ
ACP: thời gian thu tiền trung bình
BD: tỷ lệ nợ xấu trên doanh thu
CD: chi phí tăng thêm của bộ phận tín dụng
T: thuế suất thuế TNDN
Sau khi tính toán chỉ tiêu NPV, doanh nghiệp đưa ra quyết định trên cơ sở
Chi phí SX bình quân (AC) AC0 AC1 (AC1> AC0)
Phương án bán trả ngay (không cấp tín dụng):
Trang 34Theo dõi các khoản phải thu
Việc theo dõi các khoản phải thu có thể được tiến hành theo ba phương pháp:
Theo dõi thời gian thu tiền trung bình (ACP):
Thời gian thu tiền trung bình =
Phải thu khách hàng x 365 Doanh thu thuần Theo dõi sự thay đổi của thời gian thu tiền trung bình sẽ giúp doanh nghiệp kịp thời đưa ra những điều chỉnh về chính sách tín dụng và thu tiền Tuy nhiên, đây lại là một chỉ tiêu tổng quát chịu ảnh hưởng của sự thay đổi về quy mô doanh thu và quy mô khoản phải thu, đồng thời có xu hướng ẩn đi những thay đổi cá biệt trong khách hàng nên không đạt được nhiều hiệu quả trong việc quản lý thu nợ
Theo dõi mẫu hình phải thu: Mẫu hình phải thu là tỷ lệ phần trăm doanh thu chưa thu được trên tổng doanh thu phát sinh trong một tháng và được theo dõi trong nhiều tháng kể từ tháng phát sinh Theo dõi sự thay đổi trong mẫu hình phải thu có thể giúp doanh nghiệp ghi nhận ngay sự thay đổi trong hành vi thanh toán của khách hàng
do các khoản phải thu đã được chia nhỏ theo từng tháng phát sinh doanh thu
Theo dõi “tuổi” của các khoản phải thu: Theo phương pháp này, các khoản phải thu sẽ được sắp xếp theo độ dài thời gian để theo dõi và có biện pháp giải quyết thu nợ khi đến hạn cũng như chính sách dự phòng hợp lí
1.2.3 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn
Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn là một phạm trù rộng, bao hàm nhiều mặt tác động khác nhau Vì vậy, khi phân tích các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn ta cần xem xét trên nhiều khía cạnh, góc độ đánh giá khác nhau
1.2.3.1 Nhóm chỉ tiêu tổng quát
Tỷ suất sinh lời của tài sản ngắn hạn:
Trang 35Trang 24
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của tài sản ngắn hạn Chỉ tiêu này cho biết doanh nghiệp đầu tư 100 đồng tài sản ngắn hạn thì tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế
Tỷ suất sinh lời của TSNH =
Lợi nhuận ròng x100 Tài sản ngắn hạn bình quân
Số vòng quay của tài sản ngắn hạn ( sức sản xuất của tài sản ngắn hạn):
Số vòng quay của tài sản ngắn hạn =
Doanh thu thuần Tài sản ngắn hạn bình quân
Đơn vị tính: vòng
Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích các tài sản ngắn hạn quay được bao nhiêu vòng, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn là tốt Hay nói cách khác chỉ tiêu này cho biết một đồng giá trị tài sản ngắn hạn đầu tư trong
kì thu được bao nhiêu đồng doanh thu thuần, chỉ tiêu này thể hiện sự vận động của tài sản ngắn hạn trong kỳ Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ tài sản ngắn hạn vận động nhanh, đó là nhân tố góp phần nâng cao lợi nhuận
- Suất hao phí của tài sản ngắn hạn so với doanh thu
Suất hao phí của tài sản ngắn hạn =
TSNH bình quân Doanh thu thuần
Đơn vị tính: lần
Chỉ tiêu này cho biết doanh nghiệp muốn có 1 đồng doanh thu thuần trong kỳ thì cần bao nhiêu đồng TSNH, đó là căn cứ để đầu tư các tài sản ngắn hạn cho phù hợp Chỉ tiêu này càng thấp chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn càng cao
- Suất hao phí của tài sản ngắn hạn so với lợi nhuận sau thuế
Trang 36Suất hao phí của TSNH so với lợi nhuận sau thuế =
TSNH bình quân Lợi nhuận sau thuế
Đơn vị tính: lần
Chỉ tiêu này cho biết để có 1 đồng lợi nhuận sau thuế thì cần bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn Chỉ tiêu này càng thấp chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn càng cao Chỉ tiêu này còn là căn cứ để các doanh nghiệp xây dựng dự toán về nhu cầu tài sản ngắn hạn khi muốn có mức lợi nhuận như mong muốn
1.2.3.2 Nhóm chỉ tiêu phản ánh tốc độ luân chuyển của tài sản ngắn hạn
- Số vòng luân chuyển (số vòng quay) của tài sản ngắn hạn:
- Thời gian một vòng luân chuyển của TSNH:
Thời gian một vòng luân chuyển
Hệ số đảm nhiệm tài sản ngắn hạn = Tài sản ngắn hạn bình quân
Tổng số luân chuyển thuần
Đơn vị tính: Lần
Chỉ tiêu này cho biết doanh nghiệp muốn có 1 đồng luân chuyển thuần thì cần bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn đầu tư Chỉ tiêu này càng thấp thì hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn càng cao Thông qua chỉ tiêu này các nhà quản trị kinh doanh xây dựng
kế hoạch về đầu tư tài sản ngắn hạn một cách hợp lý góp phần nâng cao hiệu quả kinh
Số vòng luân chuyển của TSNH = Tổng số luân chuyển thuần
TSNH bình quân
Trang 37Trang 26
1.2.3.3 Nhóm chỉ tiêu đánh giá năng lực hoạt động của tài sản ngắn hạn
Đây là các hệ số đo lường khả năng hoạt động của doanh nghiệp Để nâng cao hệ
số hoạt động, các nhà quản trị phải biết những tài sản nào chưa được sử dụng, không
sử dụng hoặc không tạo ra thu nhập cho doanh nghiệp Vì thế doanh nghiệp cần phải biết cách sử dụng những tài sản đó sao cho mang lại hiệu quả hoặc phải loại bỏ những tài sản đó đi Hệ số đo lường khả năng hoạt động đôi khi còn được gọi là hệ số hiệu quả hoặc hệ số luân chuyển Do đó, khi phân tích các chỉ tiêu hoạt động thì người ta thường sử dụng các chỉ tiêu thể hiện vòng quay, thể hiện chu kỳ của tài sản sau đây:
Vòng quay các khoản phải thu:
Các khoản phải thu là các khoản bán chịu mà doanh nghiệp chưa thu được tiền
về quỹ do thực hiện chính sách tín dụng thương mại Do đó vòng quay các khoản phải thu phản ánh tốc độ chuyển đổi các khoản phải thu của doanh nghiệp thành tiền mặt của doanh nghiệp và được xác định bằng công thức:
Đơn vị tính: Vòng
Vòng quay các khoản phải thu đo lường mức độ đầu tư vào các khoản phải thu
để duy trì mức doanh số bán hàng cần thiết cho doanh nghiệp, qua đó có thể đánh giá hiệu quả của một chính sách đầu tư của doanh nghiệp Vòng quay các khoản phải thu càng lớn cho thấy doanh nghiệp thu hồi càng nhanh các khoản vốn bị chiếm dụng và ngược lại
Kỳ thu tiền trung bình
Kỳ thu tiền bình quân là chỉ tiêu ngược của vòng quay các khoản phải thu, phản ánh số ngày của một vòng quay Chỉ tiêu này phản ánh số ngày bình quân để doanh nghiệp thu hồi được các khoản nợ phải thu trong năm
Kỳ thu tiền trung bình = 360
Vòng quay các khoản phải thu
Đơn vị tính: Ngày
Chỉ tiêu này được sử dụng để đánh giá việc quản lý các khoản phải thu của doanh nghiệp, số ngày của kỳ thu tiền càng ngắn thì doanh nghiệp càng không bị chiếm dụng vốn lâu và sử dụng khoản phải thu của doanh nghiệp là có hiệu quả Kỳ thu tiền trung bình càng ngắn còn thể hiện chính sách thu hồi công nợ của doanh nghiệp có hiệu quả Tuy nhiên, nếu thu tiền trung bình quá ngắn có thể gây ảnh hưởng không tốt đến quá trình tiêu thụ sản phẩm, do khách hàng sẽ giảm mua hàng dẫn đến giảm doanh thu
Vòng quay các khoản phải thu = Doanh thu thuần
Các khoản phải thu bình quân
Trang 38 Vòng quay hàng tồn kho:
Vòng quay hàng tồn kho là một tiêu chuẩn để đánh giá doanh nghiệp sử dụng hàng tồn kho của mình hiệu quả như thế nào Các doanh nghiệp kinh doanh, sản xuất luôn phải tính đến mức dự trữ tồn kho bởi doanh nghiệp không thể nào đến lúc sản xuất mới mua nguyên vật liệu Để tránh trường hợp bị ứ đọng hàng tồn kho thì doanh nghiệp phải có trước một lượng vật tư hàng hoá vừa phải bởi nếu quá nhiều doanh nghiệp sẽ mất khoản chi phí để bảo quản vật liệu Nếu lượng vật tư quá ít không đủ cho sản xuất sẽ dẫn đến tình trạng tạm ngừng hoạt động ở các khâu sản xuất tiếp theo
Vòng quay hàng tồn kho = Giá vốn hàng bán
Hàng tồn kho bình quân
Đơn vị tính: Vòng
Như vậy chỉ tiêu này rất quan trọng đối với doanh nghiệp, nó quyết định thời điểm đặt hàng cũng như mức dự trữ an toàn cho doanh nghiệp Vòng quay hàng tồn kho cao thể hiện được khả năng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là tốt, có như vậy mới đạt được mục tiêu mà doanh nghiệp đặt ra Chỉ tiêu này cao phản ánh được lượng vật tư, hàng hóa được đưa vào sử dụng cũng như được bán ra nhiều, như vậy là doanh thu sẽ tăng và đồng thời lợi nhuận mà doanh nghiệp đạt được cũng tăng lên Vòng quay hàng tồn kho cao hay thấp phụ thuộc vào đặc điểm của từng ngành nghề kinh doanh, phụ thuộc vào mặt hàng kinh doanh
Số ngày một vòng quay hàng tồn kho (Chu kỳ lưu kho):
Số ngày một vòng quay hàng tồn kho phản ánh số ngày trung bình của một vòng quay hàng tồn kho
Số ngày một vòng quay hàng tồn kho = 360
Vòng quay hàng tồn kho
Đơn vị tính: Ngày
Chỉ tiêu này cho ta biết trung bình kể từ khi doanh nghiệp mua hàng đến khi bán được hàng mất bao nhiêu ngày Từ chỉ tiêu này cho biết số ngày cần thiết cho việc luân chuyển kho vì hàng tồn kho có ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn ở khâu dự trữ Thời gian quay vòng hàng tồn kho càng ngắn thì việc kinh doanh được đánh giá càng tốt vì doanh nghiệp chỉ cần đầu tư cho hàng tồn kho thấp nhưng vẫn đạt được doanh số cao Thời gian luân chuyển hàng tồn kho càng ngắn càng tốt, điều này chứng tỏ doanh nghiệp không bị tồn đọng hàng dẫn đến thu hồi vốn nhanh và không mất nhiều chi phí
1.2.3.4 Các chỉ tiêu về khả năng thanh toán
Trang 39Trang 28
Do đặc điểm của tài sản ngắn hạn là có tính thanh khoản cao, cho nên việc sử dụng hiệu quả tài sản ngắn hạn là sự lựa chọn đánh đổi giữa khả năng sinh lời với tính thanh khoản Khi phân tích khả năng thanh toán của doanh nghiệp thì người ta thường
sử dụng các chỉ tiêu sau đây:
Khả năng thanh toán ngắn hạn:
Đây là một trong những thước đo khả năng thanh toán của một doanh nghiệp và được sử dụng rộng rãi nhất Khả năng thanh toán ngắn hạn cho biết khả năng đảm bảo các khoản nợ ngắn hạn bằng toàn bộ tài sản ngắn hạn
Khả năng thanh toán ngắn hạn =
Khả năng thanh toán nhanh:
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng nhanh chóng đáp ứng của tài sản ngắn hạn trước các khoản nợ ngắn hạn, vì vậy mà hàng tồn kho được loại trừ do đây là khoản mục có tính thanh toán thấp nhất trong tài sản ngắn hạn
Khả năng thanh toán nhanh =
Trang 40 Khả năng thanh toán tức thời:
Chỉ tiêu này cho biết mỗi đồng nợ của Công ty được đảm bảo bằng bao nhiêu đồng tiền mặt và các khoản tương đương tiền
Khả năng thanh toán tức thời = Tiền và các khoản tương đương tiền
Nợ ngắn hạn
Đơn vị tính: Lần
Tỉ số này thường biến động từ 0,5 đến 1 Tuy nhiên, cũng giống như trường hợp của hệ số thanh toán ngắn hạn để kết luận giá trị của hệ số thanh toán tức thời là tốt hay xấu cần xét đến đặc điểm và điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp Nếu hệ số này nhỏ hơn 0,5 thì doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong việc thanh toán nợ Chỉ tiêu này nhỏ cho thấy việc dự trữ tiền của Công ty chưa đảm bảo để thanh toán được các khoản nợ tức thời
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp
Để đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp, ngoài phân tích các chỉ tiêu nói trên, chúng ta cũng cần nghiên cứu đến các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn Có nhiều nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp nhưng về cơ bản thì có 2 nhóm nhân tố chính đó là các nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan
1.3.1 Nhân tố chủ quan
Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp luôn chịu sự tác động của nhiều nhân
tố Để đánh giá được hiệu quả sử dụng tài sản lưu động của doanh nghiệp, ngoài việc
sử dụng những chỉ tiêu ta phải nghiên cứu tới những nhân tố tác động, từ đó đưa ra các giải pháp để hạn chế những tác động không tốt và phát huy thêm những tác động tích cực đến hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn Các nhân tố chủ quan được nói đến ở đây
là những nhân tố xuất phát từ nội bộ của doanh nghiệp
Việc lựa chọn phương án đầu tư: Đây là nhân tố cơ bản ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sử dụng TSNH của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp đầu tư sản xuất ra những sản phẩm lao vụ dịch vụ chất lượng cao, mẫu mã phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng, đồng thời giá thành hạ thì doanh nghiệp thực hiện được quá trình tiêu thụ nhanh, tăng vòng quay của TSNH, nâng cao hiệu quả sử dụng TSNH và ngược lại
Thực trạng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp: Với thực trạng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, các nhà quản lý sẽ quyết định trong việc phân phối tài sản, đặc biệt là chu kỳ sản xuất kinh doanh Sản phẩm của mỗi doanh nghiệp là khác nhau do vậy mà có những doanh nghiệp có chu kỳ sản xuất dài nhưng những doanh