DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU ĐVT Đơn vị tính Đ/c Đối chứng KHCN Khoa học công nghệ NSLT Năng suất lý thuyết NSTT Năng suất thực thu PTNT Phát triển nông thôn TBNN Trung bình nhiều nă
Trang 1trường đại học nông lâm
VŨ KHẮC MINH
NGHIấN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ DềNG LÚA THUẦN VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT ĐẾN NĂNG SUẤT DềNG LÚA CL02 TẠI
TỈNH VĨNH PHÚC
luận văn thạc sỹ khoa học nông nghiệp
Thỏi Nguyờn, thỏng 10 năm 2008
Trang 2trường đại học nông lâm
VŨ KHẮC MINH
NGHIấN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ DềNG LÚA THUẦN VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT ĐẾN NĂNG SUẤT DềNG LÚA CL02 TẠI
TỈNH VĨNH PHÚC
chuyên ngành: trồng trọt
M# số: 60.62.01 luận văn thạc sỹ khoa học nông nghiệp
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Ngọc Ngoạn
Thỏi Nguyờn, thỏng 10 năm 2008
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là hoàn toàn trung thực, chưa hề sử dụng cho bảo vệ một học vị nào Mọi sự giúp đỡ cho hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn Các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn này đã được ghi rõ nguồn gốc
Tác giả
Vũ Khắc Minh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các tập thể, cá nhân, các cơ quan, chính quyền địa phương và nhân dân địa bàn nơi thực hiện đề tài
Trước tiên cho phép tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với
thầy giáo: PGS.TS. Trần Ngọc Ngoạn - người hướng dẫn khoa học, cùng
toàn thể các thầy, cô giáo trong khoa Sau đại học, các thầy giáo, cô giáo giảng dạy chuyên ngành Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã có những đóng góp ý kiến để tôi hoàn thành tốt bản luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn:
Sở Nông nghiệp & PTNT, Sở Khoa học & Công nghệ, Cục thống kê, Trung tâm Khuyến nông, Trung tâm Khí tượng Thuỷ văn khu vực Vĩnh Phúc; Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Yên Lạc; Đảng uỷ, UBND, Hợp tác xã Nông nghiệp, cán bộ Khuyến nông và bà con nông dân xã Trung Nguyên đã quan tâm và tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi thực hiện hoàn thành tốt các nội dung trong đề tài này
Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới tất cả các thầy giáo, cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp, các cơ quan, chính quyền địa phương, gia đình và người thân đã quan tâm động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả
Vũ Khắc Minh
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.3 Tình hình sản xuất và nghiên cứu lúa ở trong nước nhằm đáp ứng
nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu
18
Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trang 62.4 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 35
Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Trang 73.2.8 Năng suất thực thu 59
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
ĐVT Đơn vị tính
Đ/c Đối chứng
KHCN Khoa học công nghệ
NSLT Năng suất lý thuyết
NSTT Năng suất thực thu
PTNT Phát triển nông thôn
TBNN Trung bình nhiều năm
FAO Tổ chức Nông nghiệp và lương thực Thế giới
ICRISAT Viện nghiên cứu cây trồng cạn á nhiệt đới
IRRI Viện nghiên cứu lúa Quốc tế
USD Đô la Mỹ
WTO Tổ chức Thương mại Thế giới
≈ Xấp xỉ
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Tổng quan tài liệu nghiên cứu
1.1 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa của toàn Thế giới giai đoạn từ năm
1961 đến năm 2007
8
1.2 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa của 10 nước có sản lượng lúa hàng
đầu Thế giới năm 2007
9 1.3 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa của Việt Nam giai đoạn từ năm
1961 đến năm 2007
Trang 91961 đến năm 2007
Kết quả so sánh các dòng, giống lúa vụ mùa 2007
3.1 Tình hình sinh trưởng mạ của các dòng, giống lúa tham gia thí nghiệm 48
3.2 Các thời kỳ sinh trưởng, phát triển của các dòng, giống lúa tham gia thí
3.4 Tình hình sâu bệnh hại và khả năng chống đổ của các dòng, giống lúa
3.7 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất lý thuyết của các dòng,
Kết quả thí nghiệm về mật độ của dòng lúa CL02
3.11 Tình hình sâu bệnh hại và khả năng chống đổ của dòng lúa CL02 ở các mật
KÕt qu¶ thÝ nghiÖm vÒ bãn ph©n kh¸c nhau cña dßng lóa CL02
3.14 Khả năng đẻ nhánh và tỷ lệ thành bông của dòng lúa CL02 ở các mức bón
phân khác nhau
67
3.16 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất lý thuyết của dòng lúa CL02
Trang 103.17 Năng suất của dòng lúa CL02 ở các mức bón phân khác nhau 70
KÕt qu¶ xây dựng mô hình dßng lóa CL02 và NL061
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Lúa gạo là cây lương thực quan trọng đối với con người Trên thế giới có khoảng một nửa dân số sử dụng lúa gạo và các sản phẩm chế biến từ lúa gạo cho nhu cầu lương thực hàng ngày Châu Á là nơi sản xuất và cũng là nơi tiêu thụ đến 90% sản lượng gạo trên thế giới Trong tương lai xu thế sử dụng lúa gạo để
ăn sẽ còn tăng hơn vì đây là loại lương thực dễ bảo quản, dễ chế biến và cho năng lượng khá cao Theo tính toán của Peng et al (1999), đến năm 2030 sản lượng lúa của thế giới phải đạt 800 triệu tấn mới có thể đáp ứng được nhu cầu lương thực của con người
Một trong những thành tựu khoa học ở thập kỷ 70 - 90 (thế kỷ XX) trong lĩnh vực Nông nghiệp là lai tạo, chọn lọc thành công hàng ngàn giống lúa mới có năng suất cao, đáp ứng kịp thời nhu cầu và đảm bảo an ninh lương thực và xu hướng này luôn được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Tuy nhiên, khi xã hội càng phát triển thì nhu cầu lương thực và chất lượng lương thực của con người sẽ càng tăng Vì vậy, xu thế nghiên cứu và chọn tạo các giống lúa đặc sản, chất lượng cao đã được các nhà khoa học nghiên cứu cách đây 2 thập kỷ và cũng
đã chọn tạo được nhiều giống lúa chất lượng cao, nhưng khi tạo được giống lúa
có chất lượng cao thì năng suất lại là yếu tố hạn chế
Như đa số các nước ở Châu Á, trước thập kỷ 90 của thế kỷ XX Việt Nam cũng xuất phát từ một nước thiếu lượng thực, nhờ ứng dụng mạnh mẽ những thành tựu về giống và khoa học kỹ thuật nên đã giải quyết được vấn đề thiếu lương thực,
có phần tích luỹ và trở thành nước đứng thứ hai trên thế giới về xuất khẩu gạo Công tác cải tiến các giống lúa theo hướng chất lượng cũng đã được các nhà khoa học Việt Nam nghiên cứu, chọn tạo song vẫn có hạn chế chung về năng suất
Với vị trí địa lý thuận lợi, Vĩnh Phúc đã được Chính phủ xác định là một trong 8 tỉnh nằm trong vùng kinh tế phát triển Bắc Bộ; là vùng trọng điểm phát
Trang 12triển công nghiệp của các tỉnh phía Bắc và chương trình du lịch của tỉnh được đưa vào đầu tư như các khu du lịch trọng điểm quốc gia Những năm gần đây, nhờ phát triển sản xuất công nghiệp, nguồn thu cho ngân sách tăng nhanh đã tạo điều kiện thuận lợi trong việc thực hiện các chính sách, đầu tư cho sản xuất nông nghiệp Các chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế nông nghiệp - nông thôn, đặc biệt
là những cơ chế, chính sách riêng của tỉnh hỗ trợ trực tiếp cho nông dân được triển khai thực hiện trong thời gian qua đã trở thành động lực thúc đẩy sản xuất phát triển; từng bước thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn; đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá và giá trị cao; tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho nông dân; góp phần xoá đói giảm nghèo; xây dựng nông thôn mới (Nghị quyết 03NQ/TU, 2006) [6]
Đối với cây lúa, tuy diện tích gieo trồng có giảm dần qua các năm do nhu cầu sử dụng đất chuyên dùng, nhưng theo tinh thần Nghị quyết 03 của Ban chấp hành tỉnh Đảng bộ về phát triển nông nghiệp, nông thôn, nâng cao đời sống nông dân đến năm 2010 và giai đoạn 2011 đến năm 2020, diện tích đất trồng lúa của tỉnh sẽ ổn định 65 - 67 ngàn ha/năm Tuy nhiên, vấn đề đặt ra trong sản xuất lúa
ở Vĩnh Phúc là phải đảm bảo an ninh lương thực trên địa bàn vì vậy yêu cầu về sản lượng ngày càng tăng để đáp ứng đủ nhu cầu về lương thực khi dân số gia tăng; Đồng thời phải thay đổi bộ giống có chất lượng thấp như hiện tại bằng những giống có chất lượng cao để đáp ứng nhu cầu về chất lượng lương thực và nâng cao giá trị thu nhập trên 01 ha đất canh tác
Những năm gần đây, nhờ áp dụng thành tựu về giống và nhiều tiến bộ kỹ thuật mới trong sản xuất nên năng suất lúa của Vĩnh Phúc không ngừng tăng qua các năm, năng suất bình quân từ 42,2 tạ/ha năm 2001 tăng lên 50,53 tạ/ha năm
2005 và năm 2008 ước đạt 52,00 tạ/ha Đồng thời với việc áp dụng những giống mới vào sản xuất đảm bảo an ninh lương thực trên địa bàn, tỉnh cũng đầu tư
Trang 13mạnh cho công tác nghiên cứu, thử nghiệm, chọn lọc những giống lúa có chất lượng cao để mở rộng sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và nâng cao giá trị thu nhập cho nông dân (Sở Nông nghiệp&PTNT, 2008) [7]
Như vậy, vấn đề đặt ra cho công tác chọn tạo các giống lúa mới có chất lượng cao, năng suất khá trong giai đoạn hiện nay ở Vĩnh Phúc nói riêng và cả nước nói chung là hướng cần được quan tâm hàng đầu trong công tác chọn tạo ra giống lúa Nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa của việc này, chúng tôi
chọn đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển của một số dòng lúa thuần và ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến năng suất dòng lúa CL02 tại tỉnh Vĩnh Phúc”
2 Mục tiêu của đề tài:
Lựa chọn được giống lúa có năng suất, chất lượng tốt và hiệu quả kinh tế cao phù hợp với điều kiện sinh thái, khả năng đầu tư thâm canh và tập quán canh tác của địa phương Từ đó góp phần bổ xung vào cơ cấu giống cây trồng nói chung và làm phong phú bộ giống lúa chất lượng cao cũng như các giải pháp kỹ thuật trong thâm canh lúa ở Vĩnh Phúc
3 Yêu cầu của đề tài:
- Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của các dòng, giống lúa chất lượng
- Đánh giá khả năng chống chịu sâu, bệnh của các dòng, giống lúa chất lượng
- Đánh giá khả năng cho năng suất của các dòng, giống lúa thí nghiệm
- Tính hiệu quả kinh tế của dòng lúa chất lượng so với giống đối chứng
- Đánh giá sơ bộ chất lượng gạo bằng phương pháp cảm quan và kết hợp với các chỉ tiêu quan sát
- Đánh giá sự ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến dòng lúa có triển vọng
- Từ kết quả của vụ mùa 2007, lựa chọn giống có triển vọng, phù hợp với điều kiện địa phương để mở rộng diện tích gieo cấy ở vụ xuân 2008
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1 CƠ SỞ KHOA HỌC
Trong sản xuất nông nghiệp, giống cây trồng là yếu tố quan trọng hàng đầu Đặc tính của giống, yếu tố môi trường sinh thái và kỹ thuật canh tác quyết định đến năng suất Kiểu gen tốt chỉ được biểu hiện trong một phạm vi nhất định của môi trường Những giống được so sánh qua một loạt môi trường thì biểu hiện năng suất thường khác nhau Vì vậy, tính ổn định và thích nghi của giống với môi trường thường được sử dụng để đánh giá giống
Mặc dù hầu hết các nước trên Thế giới đều nghiên cứu phát triển giống cây trồng nói chung và giống lúa nói riêng nhưng chưa bao giờ đáp ứng đủ cho
nhu cầu sản xuất Viện nghiên cứu lúa quốc tế International Rice Research
Institute đã có chương trình nghiên cứu lâu dài về lúa, các vấn đề về chọn giống,
tạo giống nhằm đưa ra những giống có đặc trưng chính như: thời gian sinh trưởng, tính chống sâu, bệnh hại, chất lượng gạo, tính mẫn cảm với quang chu kỳ thích hợp nhất với những vùng trồng lúa khác nhau
Giống lúa mới được coi là tốt thì phải có độ thuần cao, thể hiện đầy đủ các yếu
tố di truyền của giống đó, khả năng chống chịu tốt với các điều kiện ngoại cảnh bất thuận của từng vùng khí hậu, đồng thời chịu thâm canh, kháng sâu bệnh hại, cho năng suất cao, phẩm chất tốt và ổn định qua nhiều thế hệ Muốn phát huy hết tiềm năng năng suất của một giống tốt đó phải sử dụng chúng hợp lý, phù hợp với đất đai, điều kiện khí hậu và kinh tế xã hội của vùng đó
Các giống khác nhau có khả năng phản ứng với điều kiện sinh thái ở mỗi vùng khác nhau Do đó, để xác định được một số giống tốt cho từng vùng sản xuất nông nghiệp là việc làm cần thiết và đòi hỏi có thời gian nhất định Bởi vậy
Trang 15việc xác định tính thích nghi của một giống mới trước khi đưa ra sản xuất trên diện rộng thì giống đó phải được trồng ở nhiều vùng sinh thái khác nhau Mục đích là để đánh giá tính khác biệt, độ đồng đều, tính ổn định, khả năng thích ứng, khả năng chống chịu sâu bệnh cũng như điều kiện bất thuận và khả năng cho năng suất chất lượng, hiệu quả kinh tế của giống đó
* Giống lúa là tiền đề của năng suất và phẩm chất Một giống lúa tốt cần thoả mãn một số yêu cầu sau:
- Sinh trưởng, phát triển tốt trong điều kiện khí hậu đất đai và điều kiện canh tác tại địa phương
- Cho năng suất cao, ổn định qua các năm khác nhau trong giới hạn biến động của thời tiết
- Có khả năng chống chịu tốt với điều kiện ngoại cảnh bất thuận và sâu bệnh
- Có chất lượng đáp ứng yêu cầu sử dụng
* Tất cả các giống lúa trước khi đưa ra khuyến cáo sản xuất đại trà, cần phải qua khảo nghiệm và khu vực hoá
* Trong sản xuất, lưu thông và tiêu thụ lúa gạo thì chất lượng gạo quyết định phần lớn giá cả trên thị trường Theo IRRI (1996) [9] thì những yếu tố quyết định chất lượng gạo bao gồm:
- Diện mạo chung: Các yếu tố cấu thành diện mạo của hạt gồm kích thước
và hình dạng hạt; độ đồng đều, độ bóng, độ bạc bụng, màu sắc hạt; tỷ lệ hạt bị
hư, bị gãy được đánh giá chủ quan bằng mắt thường
- Đặc điểm của hạt gạo: Loại hình của hạt được dựa trên 3 tiêu chuẩn là: Dài, rộng và trọng lượng Mỗi giống có thể căn cứ 3 tiêu chuẩn này để xếp loại Kích thước và hình dạng hạt là tiêu chuẩn chất lượng đầu tiên mà những nhà chọn lọc giống quan tâm trong phát triển giống mới Sự chọn lọc giống mang tính di truyền cao nhằm loại trừ những đặc tính không mong muốn của hạt
Trang 16- Nội nhũ, độ bóng và độ bạc bụng: Độ bạc bụng là đặc điểm không mong muốn, nó làm giảm năng suất xay trà bởi những hạt bạc bụng thường yếu và dễ
vỡ Độ bạc bụng gạo ở nước ta thường phụ thuộc và một số yếu tố như: Thu hoạch ở ẩm độ quá cao, chín không đều trong cùng bông lúa, nhiệt độ cao trong lúa chín và một phần là do những yếu tố di truyền của giống
- Màu sắc: Màu sắc được sử dụng như là một tiêu chuẩn chất lượng gạo ở
Mỹ Gạo sẽ mất tính hấp dẫn khi thấy những hạt màu xám hoặc đỏ làm màu sắc hoặc diện mạo chung của gạo thay đổi
- Chất lượng xay trà: Đây là tiêu chuẩn quan trọng của gạo, giá trị của năng suất xay trà là tỷ lệ gạo nguyên, gạo gãy và tấm; trong đó tỷ lệ gạo gãy và tấm chiếm khoảng 30 - 50 khối lượng toàn bộ hạt
- Chế biến: Những đặc điểm về xay trà và nấu ăn có tính quyết định hầu hết giá trị kinh tế của gạt gạo Chất lượng cơm ngon liên quan đến mùi thơm, độ dẻo, vị ngọt, độ sáng của cơm Đó chính là tiêu chuẩn cho sự đánh giá phẩm chất hạt gạo
* Hệ thống chỉ tiêu đánh giá về chất lượng gạo của Thế giới và Việt Nam (Bộ Nông nghiệp & PTNT, 2000) [1] đề cập đến 4 loại chất lượng:
- Chất lượng xay xát: Là tỷ lệ gạo lật và gạo xát tính theo % trọng lượng thóc; Tỷ lệ gạo nguyên tính theo % trọng lượng của gạo xát
- Chất lượng thương trường: Được xem xét các chỉ tiêu như hình dáng, độ bóng và độ trong của hạt
- Chất lượng nấu nướng: Một trong những chỉ tiêu quan trọng của chất lượng nấu nướng là độ hoá hồ của tinh bột gạo Ngoài hàm lượng amyloza là chỉ tiêu xác định chất lượng nấu nướng và chất lượng công nghệ của hạt Các giống
có hàm lượng amyloza = 20 % là thấp, từ 20 - 25 % là trung bình, và = 25 % là hàm lượng amyloza cao
Trang 17- Chất lượng dinh dưỡng của lúa gạo:
Hàm lượng protein là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng dinh dưỡng của lúa gạo, tỷ lệ protein trong hạt gạo biến đổi từ 7% - 10% tuỳ thuộc vào giống và điều kiện gieo cấy
Từ điều kiện thực tế địa phương, là tỉnh có cả đồng bằng, trung du và miền núi, có tiểu vùng khí hậu mang đặc điểm chung của khí hậu Bắc Bộ, hệ thống thuỷ lợi tương đối hoàn chỉnh, trình độ dân trí khá, thuận lợi cho việc phát triển sản xuất các giống lúa chất lượng cao tham gia vào thị trường Do đó trong những năm gần đây, diện tích gieo trồng một số giống lúa có chất lượng cao như HT1, N46, Nghi Hương 2308 đã được đưa vào gieo trồng ở nhiều địa phương trong tỉnh với diện tích ngày một tăng Tuy nhiên chưa có một nghiên cứu nào ở trong tỉnh đề cập đến hiệu quả và những hạn chế của các giống lúa này, đồng thời cũng cần bổ sung một số giống lúa mới chất lượng cao vào sản xuất nhằm
đa dạng cơ cấu giống lúa chất lượng cao góp phần tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế từ sản xuất lúa
1.2 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ NGHIÊN CỨU LÚA TRÊN THẾ GIỚI
1.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ, xuất khẩu gạo trên thế giới
Lúa là một trong những cây ngũ cốc có lịch sử lâu đời, trải qua một qúa trình biến đổi và chọn lọc từ cây lúa dại thành cây lúa ngày nay Trên thế giới có trên một trăm nước trồng lúa (ở hầu hết các châu lục), với tổng diện tích thu hoạch là 156,9 triệu ha Tuy nhiên, sản xuất lúa gạo vẫn tập trung chủ yếu ở các nước châu Á nơi chiếm tới 90% diện tích gieo trồng cũng như lượng sản xuất ra (FAOSTAT, 2008) [24] Trong đó Ấn Độ là nước có diện tích thu hoạch lúa lớn nhất (khoảng 43 triệu ha), tiếp đến là Trung Quốc khoảng 29 triệu ha (Ghost, R.L, 1998) [26]
Trang 18Biểu 1.1 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa của toàn Thế giới
giai đoạn từ năm 1961 đến năm 2007
Năm ( triệu ha ) Diện tích Năng suất ( Tạ/ha) ( Triệu tấn) Sản lượng
Theo tổng hợp trên ta thấy, về diện tích canh tác lúa có xu hướng tăng
Song tăng mạnh nhất là vào các thập kỷ 60 - 70 của thế kỷ XX, sau đó tăng chậm
dần và có xu hướng ổn định vào những năm đầu của thế kỷ XXI Về năng suất
lúa trên đơn vị diện tích cũng có chiều hướng tương tự Trong 4 thập kỷ cuối của
thế kỷ 20 năng suất lúa tăng gấp 2 lần, tăng từ 18,7 tạ/ha (năm 1961) lên 38,9
tạ/ha (năm 2000), sau đó năng suất lúa vẫn tăng nhưng chậm dần Điều đó có thể
lý giải là do giai đoạn từ 1961 - 2000 cuộc cách mạng xanh về giống lúa, kỹ
thuật canh tác lúa có nhiều cải tiến, phân hoá học và thuốc trừ sâu, bệnh được sử
dụng phổ biến
Trang 19Từ đầu của thế kỷ XXI, do nhận thức được những tác động trái của phân
bón và thuốc bảo vệ thực vật hoá học nên người ta có xu hướng hạn chế sử dụng
các chất hoá học tổng hợp trong thâm canh lúa, chú trọng chỉ tiêu chất lượng hơn
là số lượng làm cho năng suất lúa có xu hướng chững lại hoặc tăng chút ít Tuy
nhiên, ở những nước có nền khoa học kỹ thuật và kinh tế phát triển, năng suất
lúa vẫn cao hơn
Biểu 1.2 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa của 10 nước có sản lượng
lúa hàng đầu Thế giới năm 2007
Tên nước ( Triệu ha) Diện tích Năng suất ( Tạ/ha) (triệu tấn) Sản lượng
Trung Quốc 29,49 63,41 187,04
Ấn Độ 44,00 32,07 141,13 Inđônêxia 12,16 46,89 57,04
Băngladesh 11,20 38,84 43,5 Việt Nam 7,30 48,68 35,56
(Nguồn: FAO STAT, 2008) [24]
Trong 10 nước trồng lúa (biểu 1.2) có sản lượng trên 10 triệu tấn/năm đã
có 9 nước nằm ở châu Á, chỉ có một đại diện của châu Mỹ đó là Braxin (Nam
Mỹ) Trung Quốc và Nhật Bản là 2 nước có năng suất cao vượt trội, đạt 63,41
tạ/ha (Trung Quốc) và 65,37 tạ/ha (Nhật Bản) Điều đó có thể lý giải là vì Trung
Quốc là nước đi đầu trong lĩnh vực phát triển lúa lai và người dân nước này có
tinh thần lao động cần cù, có trình độ thâm canh cao Còn Nhật Bản là nước có
trình độ khoa học kỹ thuật cao, đầu tư lớn (Nguyễn Hữu Hồng, 1993) [14] Việt
Trang 20Nam ta cũng là nước có năng suất lúa cao đứng hàng thứ 3 trong 10 nước trồng lúa chính đạt 48,68 tạ/ha Thái Lan tuy là nước xuất khẩu gạo đứng hàng đầu thế giới trong nhiều năm liên tục, song năng suất chỉ đạt 26,91 tạ/ha, bởi vì Thái Lan chú trọng nhiều hơn đến canh tác các giống lúa dài ngày, chất lượng cao (Bùi Huy Đáp, 1999) [11]
Theo dự báo của các nhà khoa học thì sản lượng lúa sẽ tăng chậm và có xu hướng chững lại vì diện tích trồng lúa ngày càng thu hẹp do tốc độ đô thị hoá gia tăng (Beachel, H.M 1972) [21] Giá lúa tăng chậm trong khi đó giá vật tư đầu vào tăng cao không khuyến khích nông dân trồng lúa, hệ số sử dụng ruộng đất khó có thể tăng cao hơn nữa (ví dụ ở Việt Nam nhiều nơi đã trồng tới 3 vụ lúa/năm), nông dân chuyển diện tích trồng lúa sang trồng các cây khác và nuôi trồng thuỷ sản có hiệu quả kinh tế cao hơn hoặc chuyển sang trồng các giống lúa
có chất lượng cao mặc dù năng suất thấp hơn
Theo Bộ Nông nghiệp & PTNT, thị trường xuất nhập khẩu gạo trên Thế giới trong thời gian gần đây như sau:
- Xuất khẩu: Giai đoạn 1995-2004, lượng gạo xuất khẩu trên Thế giới hàng năm khoảng 23- 25 triệu tấn/năm (chiếm trên 6% tổng sản lượng gạo), bình quân tăng 3%/năm Năm 2007 mức xuất khẩu gạo đạt mức 30,2 triệu tấn (tăng 3,4% so với năm 2006) Châu Á chiếm 77% lượng gạo xuất khẩu của Thế giới
Có trên 20 nước tham gia xuất khẩu gạo Bảy nước xuất khẩu gạo chủ lực gồm: Thái Lan, Việt Nam, Mỹ, Ấn Độ, Pakistan, Mianma, Trung Quốc chiếm 85% tổng khối lượng gạo xuất khẩu trên toàn Thế giới
- Nhập khẩu: Hiện nay có khoảng 80 nước và vùng lãnh thổ nhập khẩu gạo, trong đó chủ lực là các nước thuộc Châu Á như: Philippines, Indonesia, Banglades; khu vực Châu Phi, Trung Đông và một số các nước thuộc khu vực Trung Mỹ lượng gạo nhập khẩu khá lớn
Trang 21- Giá gạo thị trường Thế giới: giai đoạn 1995-2000 diễn biến trong khoảng 220-250 USD/tấn (loại 25% tấm); giai đoạn 2001-2005 giá gạo thế giới xuống thấp dao động trong khoảng 160-200 USD/tấn Từ 2006 trở lại đây giá gạo liên tục tăng, đặc biệt cuối 2007 đến nay giá gạo tăng kỷ lục do nguồn cung bị hạn chế, hiện nay giá gạo giao dịch trên thị trường thế giới trong khoảng 800 -1.000 USD/tấn Theo dự báo giá gạo còn tiếp tục tăng trong thời gian tới
Dự báo tình hình sản xuất và tiêu thụ gạo trên thế giới đến năm 2020 (Bộ Nông nghiệp & PTNT, 2008) [4]:
- Trong 10 năm tới, sản xuất lúa gạo Trên thế giới tăng chậm do hạn chế việc
mở rộng diện tích gieo cấy, một số nước có diện tích lúa lớn có xu hướng giảm và năng suất lúa kém ổn định khi phải chịu ảnh hưởng của thiên tai dịch bệnh
+ Diện tích sản xuất lúa: Trong 10 năm tới, dự báo diện tích trồng lúa sẽ không có khả năng tăng nhiều và ở mức khoảng 151,5 triệu ha Hầu hết các nước Châu Á đều không có hoặc có rất ít khả năng mở rộng diện tích đất trồng lúa Một
số nước như Thái Lan, Inđônesia, Tiểu vùng Saharan của châu Phi có thể mở rộng một phần diện tích trồng lúa nhưng cũng chỉ bù vào phần diện tích đất lúa sẽ bị thu hẹp của các nước có diện tích lớn như Trung Quốc, Ấn Độ do thiếu nguồn nước và nhu cầu sử dụng đất cho các mục đích khác Mặt khác, theo dự báo biến đổi khí hậu
và nguy cơ mực nước biển dâng cao sẽ dẫn đến một phần diện tích đất nông nghiệp vùng ven biển, chủ yếu là đất trồng lúa sẽ bị ngập hoặc nhiễm mặn
+ Về sản lượng gạo: Theo Bộ Nông nghiệp Mỹ, sản lượng gạo toàn cầu năm
2008 ước đạt khoảng 420,8 triệu tấn Dự báo trong 10 năm tới nếu không có những đột biến về thiên tai và sâu bệnh hại trên quy mô lớn, sản lượng gạo tăng bình quân khoảng 0,6%/năm, đạt mức khoảng 440,2 triệu tấn vào năm 2017 Yếu tố để tăng sản lượng gạo trong 10 năm tới chủ yếu là tăng năng suất dựa trên cơ sở phát triển thủy lợi, áp dụng giống tốt và cải tiến kỹ thuật canh tác lúa Tuy nhiên việc thâm canh tăng năng suất lúa phụ thuộc nhiều vào nỗ lực của Chính phủ các nước trong việc đầu tư phát triển thủy lợi, sản xuất và cung ứng đủ nguồn phân bón, vật tư sản xuất khác
Trang 22- Tiêu dùng gạo trên thế giới tiếp tục tăng do tăng dân số, đặc biệt ở Châu Á, Châu Phi là khu vực sử dụng nhiều lúa gạo, khu vực Tây bán cầu và Trung Đông tăng mức tiêu thụ gạo trên đầu người
+ Dự báo của Bộ Nông nghiệp Mỹ, nhu cầu gạo năm 2008 khoảng 424,5 triệu tấn, tăng 1% so với năm trước và so với nguồn cung thiếu hụt khoảng 4 triệu tấn, do đó
dự báo giá gạo trên thế giới sẽ tiếp tục tăng và đứng ở mức cao trong thời gian dài Trong 10 năm tới dự báo mức tiêu dùng gạo Thế giới tăng bình quân 0,6%/năm và dự kiến tổng mức tiêu dùng gạo khoảng 441,2 triệu tấn năm 2017, trong đó: Gạo dùng làm lương thực khoảng 406,8 triệu tấn (92,2%), gạo dữ trữ có xu hướng giảm chỉ còn khoảng 72,7 triệu tấn năm 2017 và giảm 4,5 triệu tấn so với hiện nay
+ Trong giai đoạn 2007 - 2017, tiêu dùng gạo thế giới tăng phần lớn là do nhu cầu nhập khẩu tăng ở Ấn Độ, Indonesia, Bangladesh, Philippines và tiểu vùng Sahara của châu Phi (chiếm khoảng 2/3 mức tăng cầu toàn thế giới), một số nước Tây bán cầu tăng lượng gạo nhập khẩu như: Braxin, Cuba
- Nhiều quốc gia xuất khẩu gạo lớn giảm lượng gạo xuất khẩu, trong khi nhu cầu nhập khẩu gạo tăng, nguồn cung thị trường gạo sẽ thiếu hụt so với cầu, giá gạo trên thị trường Thế giới giữ ở mức cao: Theo dự báo của Bộ Nông nghiệp Mỹ, thương mại gạo toàn cầu năm 2008 dự kiến khoảng 29,38 triệu tấn, giảm 1,3 triệu tấn so với năm 2007 Dự báo lượng gạo thương mại trên Thế giới trong thập kỷ tới
sẽ tăng bình quân 2,4%/ năm và sẽ đạt mức 35 triệu tấn vào năm 2017 Tuy nhiên, trước nguy cơ khủng hoảng lương thực toàn cầu, để đảm bảo an ninh lương thực trong nước, một số nước như Trung Quốc, Ấn độ, Pakistan, Mỹ giảm lượng gạo xuất khẩu, trong khi nhiều nước tăng lượng nhập khẩu như Philippine, Indonesia, Bangladesh và tiểu vùng Saharan của Châu Phi, Trung đông, một số nước Tây bán cầu thiếu hụt nguồn cung sẽ làm cho giá gạo thế giới duy trì giữ ở mức cao trong trung và dài hạn
Trang 23Phát biểu với các nhà lãnh đạo Thế giới tại Hội nghị thượng đỉnh lương thực
ở Rome, Tổng thư ký Liên hợp quốc Ban Ki-moon cho rằng: lương thực của thế giới cần phải tăng thêm 50% vào năm 2030 mới đáp ứng được nhu cầu sử dụng lương thực do dân số gia tăng (http://www.vietnamnet.vn/thegioi/event, 2008)[10]
1.2.2 Tình hình nghiên cứu giống lúa trên thế giới
Cây lúa có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới, có khả năng thích nghi rộng nên cây lúa có thể trồng ở nhiều vùng khí hậu khác nhau và được trồng ở nhiều nơi trên thế giới Mặc dù đến nay vẫn còn nhiều bất đồng về nguồn gốc xuất xứ của cây lúa nhưng đa số ý kiến đều cho rằng tổ tiên cây lúa có nguồn gốc ở khu vực Vân Nam (Trung Quốc) và Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam Các tiêu bản lúa dại và di chỉ khảo cổ đã chứng minh điều đó Việt Nam có vinh dự được coi
là cái nôi của nền văn minh lúa nước với lịch sử 4 nghìn năm
1.2.2.1 Thu thập nguồn gen cây lúa và ứng dụng trong sản xuất
Từ những năm đầu của thế kỷ trước trên Thế giới người ta quan tâm đến việc bảo tồn nguồn gen nói chung và nguồn gen cây lúa nói riêng Ở Liên Xô (cũ), ngay từ những năm 1924 Viện nghiên cứu cây trồng đã được thành lập, nhiệm vụ chính của Viện là thu nhập và đánh giá bảo tồn nguồn gen cây trồng
Tổ chức Lương thực và nông nghiệp Thế giới (FAO) đã tổng hợp các kết quả nghiên cứu và đề ra phương hướng thúc đẩy việc xây dựng ngân hàng gen phục
vụ cho việc giữ gìn tài nguyên thiên nhiên nhằm phục vụ lợi ích lâu dài của nhân loại Trong vùng nhiệt đới và á nhiệt đới đã hình thành nhiều tổ chức quốc tế, đảm nhận việc thu thập tập đoàn giống trên Thế giới đồng thời cung cấp nguồn gen để cải tạo giống lúa trồng (Trần Đình Long 1992) [16]
Viện nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) thành lập năm 1960 đến năm 1962 đã tiến hành thu thập nguồn gen cây lúa, năm 1977 chính thức khai trương ngân hàng gen, tại đây đã thu thập tập đoàn cây lúa từ 110 quốc gia trên Thế giới trong bộ sưu tập có hơn 80 nghìn mẫu, trong đó có các giống lúa trồng ở Châu Á (O sativa) chiếm đến 95% (Gomez, KA 1995) [27]
Trang 24Với nguồn tài nguyên phong phú, cùng với đội ngũ các nhà khoa học giầu trí tuệ và những phương tiện nghiên cứu hiện đại IRRI đã thực hiện được vai trò trung tâm trong cuộc cách mạng xanh, đã góp phần thúc đẩy việc sản xuất nông nghiệp của nhiều quốc gia trồng lúa ở trên Thế giới IRRI đã có quan
hệ chính thức với Việt Nam ta từ năm 1975 trong chương trình thí nghiệm giống quốc tế trước đây và hiện nay là chương trình đánh giá nguồn gen cây lúa, trong quá trình hợp tác Việt Nam đã nhập được 279 tập đoàn lúa gồm hàng ngàn mẫu giống, mang nhiều đặc điểm sinh học tốt, chống chịu sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất thuận như nhiệt độ, nhiễm mặn, hạn hán, úng lụt vv (Shen,J.H, 2000) [30]
Viện nghiên cứu lúa Quốc tế đã lai tạo chọn lọc hàng trăm giống lúa tốt được gieo trồng phổ biến trên Thế giới Các giống lúa IR8, IR5, IR6, IR30 và những giống lúa khác đã tạo ra sự nhảy vọt về năng suất Các viện khác như IRAT, EAT, ICRISAT Cũng đã chọn lọc ra nhiều những giống lúa tốt phục vụ sản xuất
Đến nay người ta đã ứng dụng rất thành công ưu thế lai trong sản xuất lúa Trong lịch sử phát triển lúa lai, Trung Quốc là nước đầu tiên sử dụng thành công
ưu thế này Năm 1974, các nhà khoa học Trung Quốc đã cho ra đời những tổ hợp lai có ưu thế lai cao, đồng thời xây dựng quy trình kỹ thuật sản xuất hạt lai hệ "3 dòng" được hoàn thiện và đưa vào sản xuất năm 1975 Năm 1996, Trung Quốc lại thành công với qui trình sản xuất lúa lai "2 dòng" Chiến lược nghiên cứu phát triển lúa lai của Trung Quốc trong thế kỷ XXI là phát triển lúa lai "2 dòng", tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu lúa lai “1 dòng" và lúa lai siêu cao sản nhằm tăng năng suất và sản lượng lúa gạo của đất nước
Ở Thái Lan, từ năm 1950 đã thu nhập và làm thuần một số giống lúa địa phương, đưa các giống lúa cổ truyền vào trồng ở miền Nam và miền Bắc của nước này Hiện nay nước này vẫn đang nghiên cứu và sử dụng rất nhiều các giống lúa được chọn tạo từ các giống lúa cổ truyền nên chất lượng lúa của Thái Lan thường đứng đầu Thế giới
Trang 25Ở Nhật Bản việc tạo ra nhiều giống đã tạo được bước nhảy vọt về năng suất lúa Các nhà khoa học Nhật Bản đã tạo được giống lúa có tên Tomoaky Sakamoto có bộ lá cứng, tiêu tốn ít phân bón nhưng năng suất lại có thể tăng đến 30% so với giống cũ
Ở Mỹ, năm 1926 J.W Jones đã bắt đầu nêu vấn đề ưu thế lai của lúa khi khảo sát lúa ở Đài Loan Có hai người tham gia vào đề xuất vấn đề sản xuất lúa lai thương phẩm là Stansent va Craiglules
Các chuyên gia nông nghiệp Đài Loan cho biết đã nghiên cứu phát triển thành công các giống lúa mới giàu dinh dưỡng Các giống này không phải là biến đổi gen và có nhiều màu sắc khác nhau như đen, đỏ và vàng mà màu sắc phụ thuộc vào hàm lượng dinh dưỡng như Beta - carotene và Anthocyanins Một chất chống ôxy hoá Đây là kết quả nghiên cứu gần 9 năm thí nghiệm để kết luận đột biến trên cây lúa với việc sử dụng các tác nhân hoá học
Một số nước có tốc độ thay đổi giống lúa mới khá nhanh như Philippin 20,6%, Hàn Quốc 16,1%, Ấn Độ 13,5%, Thái Lan 6,7% Nhu cầu ngày càng tăng về giống lúa không những về số lượng và còn cả về chất lượng
1.2.2.2 Tình hình nghiên cứu giống lúa có chất lượng trên Thế giới
Trong sản xuất nông nghiệp, giống là tư liệu sản xuất quan trọng không kém gì đất đai, phân bón và công cụ sản xuất Nếu không có giống thì không thể sản xuất ra một loại nông sản nào cả Vì thế việc nghiên cứu chọn lọc, lai tạo giống đã được các nhà khoa học, các viện nghiên cứu và các trường đại học nông nghiệp ưu tiên hàng đầu Vào đầu những năm 1960, viện nghiên cứu lúa gạo quốc tế (IRRI) đã được thành lập tại Losbanos, Laguna, Philippin Sau đó các viện nghiên cứu nông nghiệp quốc tế khác cũng được thành lập ở các châu lục và tiểu vùng sinh thái khác nhau như IRAT, CIAT, ICRISAT (IRRI, 1997) [28] Tại các viện này việc chọn lọc và lai tạo các giống lúa cũng được ưu tiên hàng đầu Chỉ tính riêng viện nghiên cứu lúa gạo quốc tế ( IRRI) cũng đã lai tạo và đưa ra sản xuất hàng nghìn giống lúa các loại, trong đó tiêu biểu là các giống lúa như:
Trang 26IR5, IR6, IR8, IR30, IR34, IR64, Jasmin Đặc biệt là hai giống IR64 và Jasmin
là những giống có phẩm chất gạo tốt, được trồng rộng rãi ở nhiều nơi trên thế giới, trong đó có Việt Nam Hiện nay viện IRRI đang tập trung vào nghiên cứu chọn tạo ra các giống lúa có năng suất siêu cao (siêu lúa) có thể đạt 13 tấn/ vụ, đồng thời tập trung vào nghiên cứu chọn tạo các giống lúa có chất lượng cao (giàu vitamin A, giàu Protein, giàu Lisine, có mùi thơm ) để vừa hỗ trợ các nước giải quyết vấn đề an ninh lương thực, vừa đáp ứng đủ nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng (Cada, E.C, 1997) [22]
Trung Quốc là một nước trồng lúa hàng đầu trên thế giới nên công tác giống đã được chú trọng đặc biệt Vào những năm 1960, 1970 của thế kỷ trước, Trung Quốc đã cho ra đời hàng loạt các giống lúa có năng suất cao, phẩm chất tốt như: Đoàn kết, Bao Thai, Chân Châu lùn, Mộc Tuyền Các giống này cũng
đã nhập vào Việt Nam và cho tới nay nhiều giống vẫn được một số địa phương gieo trồng vì chất lượng gạo tốt, phù hợp với điều kiện gieo trồng và đất đai của địa phương Bước vào đầu những năm 1970, Trung Quốc đã thử nghiệm và lai tạo thành công các giống lúa lai 3 dòng và gần đây là các giống lúa lai 2 dòng có đặc tính ưu việt hơn hẳn về năng suất, chất lượng và khả năng chống chịu sâu, bệnh Có thể nói Trung Quốc là nước đi tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu và ứng dụng lúa lai ra sản xuất đại trà Nhờ đó đã làm tăng năng suất, sản lượng lúa của Trung Quốc lên gấp đôi trong vòng 3 thập kỷ qua, góp phần đảm bảo an ninh lương thực cho một nước có hơn 1,3 tỷ dân Các giống lúa lai có chất lượng như: Bồi Tạp Sơn Thanh, Nghi Hương 2308, Xuyên Hương, Sán Ưu Quế, Bắc Thơm
số 7 rất nổi tiếng ở Trung Quốc và ở các nước láng giềng (Lin, SC 2001) [25]
Ấn Độ là một nước trồng lúa với diện tích đứng đầu Thế giới Và cũng là một nước đi đầu trong công cuộc cách mạng xanh về cải tiến giống lúa Viện nghiên cứu giống lúa Trung ương của Ấn Độ được thành lập vào năm 1946 tại Cuttuck bang Orisa đóng vai trò đầu tầu trong việc nghiên cứu, lai tạo các giống lúa mới phục vụ cho sản xuất Ngoài ra tại các bang của Ấn Độ đều có các cơ sở nghiên cứu, trong đó các cơ sở quan trọng ở Madras heydrabat, Kerala, hoặc
Trang 27Viện Nghiên cứu cây trồng cạn Á nhiệt đới (ICRISAT) Ấn Độ cũng là nước có những giống lúa chất lượng cao nổi tiếng trên thế giới như: Basmati, Brimphun trong đó giống lúa Basmati có giá trị trên thị trường tới 850 USD/ tấn, trong khi giống gạo thơm Thái Lan nổi tiếng trên Thế giới cũng chỉ có giá trị 460 USD/tấn (ICARD, 2003) [8] Một trong những giống lúa chất lượng cao do các nhà khoa học chọn tạo thành công được nhập về Việt Nam là giống BTE-1, giống này đã được Bộ Nông nghiệp & PTNT Việt Nam công nhận năm 2007
Nhật Bản là một trong 10 nước trồng lúa có sản lượng hàng đầu thế giới, tuy diện tích trồng lúa không lớn Điều đó được lý giải là do năng suất lúa của Nhật Bản cao nhất Thế giới Ở Nhật Bản người ta chỉ trồng lúa 1 vụ/ năm, việc gieo trồng lúa được tiến hành trong những điều kiện thời tiết thuận lợi nhất Công tác nghiên cứu và sản xuất giống lúa của Nhật Bản được đặc biệt chú trọng
vì người Nhật Bản giàu có, ít ăn cơm nên đòi hỏi cơm phải ngon còn giá bán có cao thì họ vẫn chấp nhận Thực tế giá gạo tại Nhật Bản vào loại cao nhất thế giới
từ 5 - 10 USD/kg Để đáp ứng thị hiếu tiêu dùng cao, các Viện và các Trạm nghiên cứu giống lúa được thành lập ở hầu hết các tỉnh thành của Nhật Bản, trong đó có các trung tâm quan trọng nhất đặt ở Sendai, Niigata, Nagoya, Fukuoka, Kochi, Miyazaki, Sags, là những nơi diện tích trồng lúa lớn Các nhà khoa học Nhật Bản cũng đã lai tạo và đưa ra các giống lúa vừa có năng suất cao, vừa có phẩm chất tốt như: Koshihikari, Sasanisiki, Nipponbare, Koenshu, Minamisiki đặc biệt Giáo Sư Tiến Sĩ E Tsuzuki đã lai tạo được 2 giống lúa đặt tên là Miyazaki 1 và Miyazaki 2 Giống Miyazaki 1 là kết quả lai tạo và chọn lọc từ tổ hợp lai Koshihikari và Brimphun của Ấn Độ Đây là giống lúa có mùi thơm đặc biệt, chất lượng gạo ngon và năng suất cao, có giá trị bán cao trên thị trường Giống Migazaki 2 là kết quả lai tạo giống Nipponbare và một giống lúa khác của Ấn Độ, giống này có hàm lượng Lysin cũng rất cao (Nguyễn Hữu Hồng, 1993) [14]
Trang 28Thái Lan là nước xuất khẩu gạo hàng đầu Thế giới Nước này cũng được thiên nhiên ưu đãi với những vùng châu thổ trồng lúa phì nhiêu Các trung tâm nghiên cứu giống lúa được thành lập ở nhiều tỉnh và khu vực Nhiệm vụ của các cơ
sở này là tiến hành chọn lọc, phục tráng, lai tạo ra các giống lúa tốt phục vụ cho nội tiêu và đặc biệt là cho xuất khẩu để thu ngoại tệ Tiêu chí chọn giống lúa của các nhà khoa học Thái Lan là các giống phải có thời gian sinh trưởng trung bình đến dài ngày (vì phần lớn lúa ở Thái Lan chỉ trồng được 1 vụ/năm) hạt gạo dài và trong, ít dập gãy khi xay sát, có hương thơm, coi trọng chất lượng hơn là năng suất điều này cho chúng ta thấy tại sao giá gạo xuất khẩu của Thái Lan luôn cao hơn của Việt Nam Theo hướng này Thái Lan đã tạo ra các giống lúa chất lượng nổi tiếng Thế giới, trong đó phải kể đến các giống như: Khao đomali, Jasmin (Hương nhài) Các giống này cũng được gieo trồng ở Việt Nam và một số nước khác
Ở khu vực Đông Á còn có các nước trồng lúa quan trọng khác như: Hàn Quốc, Bắc Triều Tiên, Đài Loan Các giống lúa ở đây thuộc loại hình Japonica, có hạt gạo tròn, cơm dẻo và chất lượng cũng rất tốt Các giống lúa nổi tiếng của khu vực này là Tongil (Hàn Quốc), Tai chung 1, Tai chung 2, Gang changi, Đee - Geo-Woo-Gen (Đài Loan) đặc biệt giống Đee - Geo-Woo-Gen là một trong những vật liệu khởi đầu để tạo ra giống IR8 nổi tiếng một thời (Hoang, CH, 1999) [23]
Indonesia là nước đứng thứ 4 trên thế giới về diện tích trồng lúa Đây cũng
là nước có rất nhiều giống lúa chất lượng cao, có nguồn gốc bản địa hoặc được lai tạo tại các cơ sở nghiên cứu Các giống lúa chất lượng cao của Indonesia thường dẻo, có mùi thơm Các giống lúa chất lượng nổi tiếng của nước này là Peta, BenWan, Sigadis, Synthe, Pelita1-1 và Pelita1-2 (IRRI, 1997) [28]
1.3 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ NGHIÊN CỨU LÚA Ở TRONG NƯỚC NHẰM ĐÁP ỨNG NHU CẦU TIÊU DÙNG VÀ XUẤT KHẨU
1.3.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ lúa trong nước
Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, lượng bức xạ mặt trời cao và đất đai phù hợp nên có thể trồng được nhiều vụ lúa trong năm và với
Trang 29nhiều giống lúa khác nhau Sản xuất lúa gắn liền với sự phát triển nông nghiệp, theo tài liệu khảo cổ học cho thấy lúa được trồng ở nước ta cách đây 3.000 - 2.000 năm trước Công nguyên
Hiện nay, Việt nam là một nước trồng lúa trọng điểm trên Thế giới, người Việt Nam vẫn thường tự hào về nền văn minh lúa nước của đất nước mình Từ xa xưa cây lúa đã trở thành cây lương thực chủ yếu, có ý nghĩa quan trọng trong đời sống của người dân Việt Nam (Bùi Huy Đáp, 1999) [11] Suốt từ Bắc đến Nam, đâu đâu cũng thấy người dân trồng lúa, song diện tích tập trung chủ yếu ở hai vùng châu thổ lớn đó là Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long Quá trình khai hoang phục hoá cùng với việc thâm canh tăng vụ đã đưa tổng diện tích lúa thu hoạch của nước ta từ 4,74 triệu ha năm 1961 lên 7,67 triệu ha năm
2000, sau đó giảm dần xuống còn 7,34 triệu ha vào năm 2003 (Nguyễn Thị Lẫm
và cộng sự 2003)[15] Cùng thời gian đó năng suất và sản lượng lúa cũng tăng lên
rõ rệt nhờ vào công cuộc cải cách về giống lúa và ứng dụng các tiến bộ khoa học
kỹ thuật về phân bón, tưới tiêu, phòng trừ sâu bệnh một cánh hợp lý, đồng bộ Tính từ năm 1961 đến năm 2005, năng suất lúa của nước ta đã tăng lên 2,8 lần Giai đoạn tăng cao nhất là từ thập kỷ 80 đến nay Điều này gắn liền với các tiến bộ mới trong thâm canh tăng năng suất lúa được ứng dụng rộng rãi, trong thời gian này và điều quan trọng hơn là việc chuyển đổi cơ chế quản lý đất đai, từ cơ chế hợp tác sang tư nhân hoá (khoán 10), lấy hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ đã khuyến khích người dân đầu tư, thâm canh sản xuất lúa Sản lượng lúa của Việt Nam cũng vì thế mà tăng liên tục từ 9,0 triệu tấn năm 1961 lên 35,9 triệu tấn năm
2007 (biểu 1.3) Từ một nước thiếu ăn, phải nhập khẩu gần 2 triệu tấn gạo/năm trước đây, Việt Nam đã vươn lên giải quyết an ninh lương thực cho 83 triệu dân, ngoài ra còn xuất khẩu một lượng gạo lớn ra thị trường Thế giới Những năm gần đây, nước ta luôn đứng hàng thứ 2 trên thế giới (sau Thái Lan) về lượng gạo xuất khẩu (đạt 5,25 triệu tấn năm 2005) và sẽ ổn định vào những năm tiếp theo Đây là thành công lớn trong công tác chỉ đạo và phát triển sản xuất lúa của Việt Nam
Trang 30Biểu 1.3 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa của Việt Nam
giai đoạn từ năm 1961 đến năm 2007
Năm ( triệu ha) Diện tích Năng suất ( tạ/ha) Sản lượng (triệu tấn)
Nhìn chung ngành sản xuất lúa của nước ta đến nay đã đạt được nhiều
thành tựu quan trọng Tuy nhiên một điều đáng chú ý là trong những năm gần
đây, ngược lại với quá trình khai hoang phục hoá trong mấy thập kỷ trước thì
quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá đã và đang làm giảm đáng kể diện tích đất
Trang 31nông nghiệp nói chung và dành cho sản xuất nói riêng Vì thế mặc dù việc thâm canh tăng vụ rất được chú trọng, song tổng diện tích lúa thu hoạch hàng năm trong khoảng thời gian từ 2001 - 2007 đang giảm dần
Ngoài ra nếu so sánh với các nước trồng lúa tiên tiến như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan thì năng suất lúa của Việt Nam vẫn còn kém xa (Itoh
và cộng sự, 2000) [29] Vì thế để đảm bảo an ninh lương thực cho một quốc gia đông dân cư như nước ta và giữ vững vị thế là một nước xuất khẩu lúa gạo hàng đầu Thế giới thì điều kiện cần thiết là phải tiếp tục đầu tư thâm canh tăng vụ, lai tạo và nhập khẩu các giống mới có năng suất cao, phẩm chất tốt, chống chịu tốt với sâu, bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất lợi Để nâng cao giá trị xuất khẩu, Nhà nước Việt Nam cũng đã có chiến lược phát triển 1 triệu ha lúa chất lượng cao phục
vụ cho công tác xuất khẩu (Báo Nhân Dân ngày 02/06/2004) [2]
Trước đây chúng ta mới chú trọng về số lượng nhằm nhanh chóng giải quyết sự thiếu hụt về lương thực Tuy nhiên khi chúng ta cơ bản đã giải quyết vấn đề an ninh lương thực và có dư thừa xuất khẩu với số lượng lớn trong 18 năm liên tục (tính đến năm 2007) Thị trường xuất khẩu gạo mở rộng do Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và uy tín lúa gạo Việt Nam trên thị trường Thế giới được cải thiện Quá trình hội nhập sâu vào kinh tế Thế giới và khu vực, bên cạnh thách thức, lúa gạo Việt Nam cũng có nhiều cơ hội để mở rộng thị trường xuất khẩu Trong khi đó nhu cầu gạo trên thị trường Thế giới và khu vực 5 năm tới dự báo vẫn tiếp tục sôi động do cầu vẫn tăng Việt Nam và các nước như Indonesia, philippin, Nhật Bản đã có sự phối hợp trong các hoạt động xuất khẩu gạo giữa các nước trên thị trường Thế giới
Điều kiện cơ bản của sản xuất lúa đến năm 2010 của Việt Nam là: Đất, nước, phân bón, giống, khoa học công nghệ, thị trường tiêu thụ gạo khá đảm bảo Sản lượng phân bón sản xuất trong nước đang tăng dần do các nhà máy sản xuất phân đạm Phú Mỹ đã đi vào hoạt động, công trình khí-điện-đạm Cà Mau đi
Trang 32vào hoạt động cùng với các nhà máy phân lân, supe phôt phát tăng công suất đảm bảo ổn định nguồn cung cấp trong nước; ứng dụng rộng rãi các tiến bộ khoa học kỹ thuật, nhất là giống mới vào sản xuất để thực hiện các biện pháp thâm canh lúa nhằm tăng năng suất và chất lượng, giảm chi phí trung gian, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm lúa gạo trên thị trường; Tổ chức quản lý nông nghiệp không ngừng đổi mới và hoàn thiện theo hướng phát huy vai trò tự chủ của kinh
tế hộ nông dân, tăng cường sự hỗ trợ của nhà nước, phù hợp với yêu cầu sản xuất hàng hoá gắn với xuất khẩu gạo trong thời kỳ hội nhập; Quá trình hội nhập sâu vào kinh tế thế giới và khu vực, bên cạnh thách thức, lúa gạo Việt Nam cũng có nhiều cơ hội để mở rộng thị trường xuất khẩu Trong khi đó nhu cầu gạo trên thị trường và khu vực 5 năm tới dự báo vẫn tiếp tục sôi động do cầu vẫn tăng Những năm gần đây, Hiệp hội xuất khẩu gạo Thái Lan và Việt Nam đã có sự phối hợp trong các hoạt động xuất khẩu gạo giữa 2 nước trên thị trường Thế giới và khu vực, cũng tạo điều kiện thuận lợi cho mỗi nước
Thách thức với Việt Nam là thành viên của WTO nên thị trường nông sản nói chung, thị trường lúa gạo Việt Nam nói riêng sẽ mở rộng cửa cho hàng nhập khẩu từ các nước Hàng rào thuế quan và sự bảo hộ của Nhà nước đối với sản xuất và xuất khẩu gạo sẽ dần hạn chế và tiến tới bãi bỏ Gạo Thái Lan, Mỹ, Trung Quốc, Pakistan… và các nước khác có chất lượng cao, giá rẻ hơn sẽ tràn vào thị trường Việt Nam với thuế nhập khẩu không đáng kể (94% hàng hoá Mỹ nhập vào Việt Nam hưởng thuế suất 15%, trong đó hàng lương thực gạo, ngô không đáng kể) Do đó lúa gạo Việt Nam phải chịu sức ép cạnh tranh gay gắt ngay trên sân nhà, trong khi đó cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất, chế biến gạo của ta còn lạc hậu
Dân số Việt Nam vẫn tăng nhanh, trong khi quỹ đất dành cho trồng lúa có hạn, năng suất lúa nhiều vùng, nhất là vùng Đồng bằng sông Hồng, đã chạm trần nên khả năng tăng năng suất là khó khăn Trong khi đó tập quán sản xuất nhỏ,
Trang 33quy mô gia đình, tự cung tự cấp, chạy theo năng suất, xem nhẹ chất lượng gạo vẫn phổ biến trong hầu hết các hộ trồng lúa của các vùng, trình độ dân trí, khoa học công nghệ, kiến thức thị trường của nông dân trồng lúa vẫn còn thấp
Do diện tích đất lúa giảm nên diện tích gieo trồng lúa liên tục giảm từ năm
2001 đến nay: Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, diện tích gieo trồng lúa cả năm
2007 đạt 7,2 triệu ha, so với năm 2000 giảm 466 nghìn ha, bình quân giảm 66,6 nghìn ha (0,81%)/năm Diện tích gieo trồng lúa giảm nhiều từ năm 2003 trở lại đây, bình quân giai đoạn từ 2003-2007 đạt 7,367 triệu ha, giảm 88 nghìn ha so với giai đoạn 1997-2001 (1,1%); Các vùng có diện tích gieo trồng lúa giảm nhiều là vùng Đông Nam Bộ giảm 42 nghìn ha (9,2%), Duyên Hải Nam trung bộ giảm 33,6 nghìn
ha (7,9%), Đồng bằng Sông Hồng giảm 51 nghìn ha (4,2%), Đồng bằng Sông Cửu Long giảm 52 nghìn ha (0,2%) Trong khi đó các vùng Đông Bắc, Tây Bắc và Tây Nguyên diện tích gieo trồng lúa tăng từ 11 đến 27% do tăng cường thủy lợi Tính trên diện tích gieo trồng lúa giảm từ 2001- 2007, đã làm giảm sản lượng lúa mỗi năm khoảng trên 300 nghìn tấn lúa, riêng từ năm 2003 trở lại đây mỗi năm làm giảm khoảng 416 nghìn tấn lúa
Vì thế chiến lược sản xuất lúa của Việt Nam trong thời gian tới là: Phấn đấu đạt và duy trì sản lượng lúa hàng năm là 40 triệu tấn/năm, đẩy mạnh sản xuất các giống lúa có chất lượng cao, dành 1 triệu ha để sản xuất lúa phục vụ mục tiêu xuất khẩu, duy trì sản lượng gạo xuất khẩu hàng năm từ 4-5 triệu tấn Để đạt mục tiêu này một mặt chúng ta phải đẩy mạnh đầu tư (phân bón, thuốc trừ cỏ, thuốc trừ sâu, bệnh, thuỷ lợi, cơ giới hoá…) chuyển đổi cơ cấu giống theo hướng năng suất cao, chất lượng tốt, chống chịu với các loại sâu, bệnh hại chính Như vậy việc nghiên cứu, chọn lọc, lai tạo và nhập khẩu các loại giống lúa có chất lượng cao phục vụ cho yêu cầu của sản xuất là một nhiệm vụ sống còn và phải đặt thành chương trình cấp quốc gia và phải huy động cả "4 nhà" (Nhà nước, nhà Khoa học, nhà Nông và nhà Doanh nghiệp) cùng tham gia thì mới hy vọng đạt kết quả như mong muốn
Trang 34Những giải pháp cơ bản để thúc đẩy xuất khẩu gạo đó là: Đưa vào gieo trồng đại trà những giống lúa mới phù hợp với thị hiếu của thị trường, tiến tới xây dựng vùng chuyên canh lúa cao cấp với sản lượng 1 triệu tấn/năm tại Đồng bằng sông Cửu Long Với một số loại gạo đã được khẳng định như gạo Chợ Đào
ở Long An, Tám Xoan ở Bắc Bộ thì xây dựng thương hiệu độc quyền Áp dụng qui trình canh tác, bảo quản sau thu hoạch tiên tiến, nâng cao kỹ thuật và năng lực xay xát; tăng cường khả năng bốc xếp tại các cảng xuất khẩu
1.3.2 Tình hình nghiên cứu và ứng dụng giống lúa trong nước
1.3.2.1 Sự đa dạng di truyền lúa Việt Nam và khu vực Đông Nam Á
Ngày nay các nhà khoa học nhất trí thừa nhận trung tâm đa dạng di truyền của các loài lúa trồng ở Châu Á, O.sativa nằm trên vùng địa lý kéo dài từ Nepan đến Bắc Việt Nam, do đó nguồn gen cây lúa Việt Nam rất phong phú:
Theo nhận định của Vũ Thị Lập, ở trên lãnh thổ Việt Nam có khoảng 62.400 loài thực vật bậc cao, trong đó có khoảng 150 loài cây có bột, 130 loài cây ăn quả, 100 loài cây có dầu, 90 loài cây có sợi, 8000 loài cây gỗ, 1863 loài cây dược liệu
Theo Lưu Ngọc Trình (1996) [20], hiện nay chúng ta đang khai thác sử dụng khoảng 700 loài cây trồng, thuộc 70 chi thực vật Tại ngân hàng gen Quốc gia đã thu thập và bảo quản 6.000 giống lúa cổ truyền, dự kiến trong những năm tới con số này có thể lớn đến 10.000 giống
Đối với cây lúa do đặc điểm khí hậu thời tiết, sự đa dạng về địa hình, đa dạng
về thành phần dân tộc, nghề trồng lúa và những tập quán canh tác lâu đời của nhân dân ta, tạo nên sự đa dạng quỹ gen cây lúa Gần đây khi thảo luận việc bảo tồn sự
đa dạng sinh học nông nghiệp sự đa dạng về thành phần giống trong từng loài cây trồng còn gọi là sự đa dạng di truyền thường được đề cập nhiều hơn cả
Để đánh giá định lượng sự đa dạng di truyền các nhà khoa học đã sử dụng chỉ số đa dạng di truyền Nei (1975) đã kết luận ở vùng phía Bắc nước Lào là
Trang 35vùng đất đa dạng nhất, đứng thứ hai là vùng phía Bắc nước Việt Nam còn ở vùng Bắc Thái lan đứng ở vị trí thứ ba Riêng ở Việt Nam thì Tây Nguyên và Miền Nam nguồn gen đa dạng hơn miền Bắc (Lưu Ngọc Trình và cộng sự, 1995) [19]
1.3.2.2 Thu thập nguồn gen cây lúa Việt Nam
Nghề trồng lúa đã có từ lâu đời, gắn với sự phát triển của dân tộc Việt Nam Từ bước sơ khai lạc nghiệp (đất được đắp bờ giữ nước, trồng lúa) nhiều giống lúa địa phương còn giữ cho đến ngày nay Sự phát triển của dân tộc Việt Nam về phía biển vào phía Nam gắn với sự phát triển những cánh đồng lúa nước Những cuộc khai hoang di dân lớn vào Miền Nam, gắn với việc đào kênh mương lớn khai thác đồng bằng Nam bộ
Theo Bùi Huy Đáp (1999) [11] thời Pháp thuộc đã thành lập Cục túc mễ Đông Dương, có nhiệm cụ đảm nhiệm nghiên cứu về cây lúa và triển khai kết quả nghiên cứu ra sản xuất, nhiệm vụ chủ yếu là thu thập các giống lúa ở các tỉnh rồi tiến hành các bước sau:
1- Lọc giống chọn ra những dòng tốt (EP)
2- Danh sách các dòng đã chọn được (CR)
3- Nhân giống hẹp (PM)
4- Nhân giống đại trà
Từ khi hoà bình lập lại nước ta không ngừng thu thập và nghiên cứu để bảo tồn sự đa dạng di truyền nguồn tài nguyên cây lúa, năm 1988 Viện cây lương thực và thực phẩm đã thu thập được 3.691 mẫu cây lúa, trong đó có 3.186 mẫu thu từ 30 nước khác nhau trên thế giới còn 500 giống lúa địa phương, các mẫu giống được đánh giá các tính trạng và sắp xếp thành nhóm theo thời gian sinh trưởng như sau:
- Nhóm cực ngắn: Loại này có thời gian sinh trưởng từ 90 - 110 ngày gồm
có 345 mẫu
- Nhóm ngắn ngày: Có thời gian sinh trưởng từ 110 - 120 ngày, nhóm này
có 860 mẫu
Trang 36- Nhóm trung ngày: Nhóm này có thời gian sinh trưởng 121 - 140 ngày, nhóm này có đến 1 684 mẫu
- Nhóm dài ngày: Nhóm này có thời gian sinh trưởng trên 140 ngày, ở nhóm này có 78 mẫu
Nghiên cứu về sử dụng quỹ gen cây trồng từ nguồn nhập nội, Trần Đình Long (1992) [16] đã khảo sát 53.124 mẫu giống cây trồng của 72 loài khác nhau, trong đó 47.970 mẫu nhập nội từ Liên Xô cũ, đã khảo sát đánh giá được 7.694 mẫu giống lúa, phía Bắc 5.629 mẫu, phía Nam 2.065 mẫu
Những mối đe doạ làm tổn hại nguồn gen cây lúa theo Lưu Ngọc Trình (1996) [20] trong vài chục năm trở lại đây do nhiều nguyên nhân khác nhau, sự
đa dạng của cây trồng nói chung và cây lúa nói riêng đã bị xói mòn đáng kể, sự xói mòn đa dạng di truyền nguồn gen của cây lúa đó là:
- Sự xói mòn di truyền: Từ khi tiến hành hình thành nền sản xuất nông nghiệp đến nay con người đã thuần hoá một khối lượng vô cùng lớn các giống của nhiều loại cây khác nhau Khi cách mạng xanh ra đời người nông dân đã sử dụng một số lượng lớn của các giống cải tiến có năng suất cao, thay thế vị trí của các giống cây địa phương đã tồn tại lâu đời trong sản xuất có nguồn gen quý nhưng năng suất không cao, kém chịu phân đạm nên không sử dụng được trong sản xuất và cũng không tồn tại trong thực tế
- Sự tồn tại di truyền: Do việc thu hẹp tiềm năng di truyền của các giống sản xuất gây nên, đây là mối nguy cơ của nền nông nghiệp đầu tư thâm canh cao
ở các nước phát triển Thực chất nền sản xuất nông nghiệp các nước phát triển trong thế kỷ qua từ đa canh chuyển sang độc canh, nhất là từ khi nền nông nghiệp sản xuất nhỏ thành nền sản xuất hàng hoá, từng khu vực chỉ sử dụng một loại cây trồng có giá trị hàng hoá cao, mỗi loại có một số lượng giống ít ỏi, vì vậy đã dẫn đến nhiều thảm hoạ dịch bệnh gây nên ở nước ta trong hơn 10 năm trở lại đây, ví dụ: Dịch dầy nâu gây hại vụ xuân năm 1986 - 1987 phá hoại nặng
Trang 37trên hai giống lúa đó là: NN8 và VN10 ở các tỉnh phía Bắc; dịch rầy nâu, vàng lùn, lùn xoắn lá xảy ra trên diện rộng ở các tỉnh Miền Nam năm 2006
- Sự huỷ diệt di truyền, có những loài và giống cây mất hẳn đi, do những nguyên nhân sau:
+ Sự xáo trộn tổ chức dân cư, có trường hợp cả tập đoàn giống bị mất hẳn
do việc thờ ơ sau những thay đổi về tổ chức nhân sự
+ Những biến động do chiến tranh, bạo loạn
+ Nguyên nhân đói kém mất mùa, nông dân ăn hết cả giống
Từ những nguyên nhân trên đây dẫn đến sự cạn kiệt về nguồn gen cây lúa
ở Việt Nam
1.3.2.3 Tình hình nghiên cứu các giống lúa ở Việt Nam
Vai trò của cây lúa đối với đời sống của người dân Việt Nam là không thể thay thế Có thể nói ngành sản xuất lúa là xương sống của nền Nông nghiệp Việt Nam, nó không những đáp ứng nhu cầu ăn của một nước đông dân như nước ta
mà còn góp phần quan trọng vào thị trường gạo trên Thế giới Chính vì tầm quan trọng của cây lúa như vậy nên Đảng và Nhà nước ta một mặt đầu tư vào sản xuất, mặt khác còn đầu tư vào công tác nghiên cứu toàn diện về cây lúa, trong đó
có công tác giống Muốn có năng suất sản lượng lúa cao thì việc thâm canh tăng năng suất, sản lượng lúa là yếu tố quyết định Việc đưa các giống lúa mới vào sản xuất có khả năng cho năng suất cao thích hợp với điều kiện khí hậu, đất đai
và kỹ thuật canh tác của từng địa phương là vấn đề rất quan trọng để nhanh chóng tạo ra bước nhảy vọt về năng suất và sản lượng lương thực, đảm bảo an ninh lương thực, góp phần vào việc thực hiện thành công các mục tiêu kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nước bằng cách tuyển chọn giống cũ, lai tạo giống mới và nhập nội thêm giống mới Hiện nay nước ta có trên trên 300 loại giống lúa được công nhận cho các vụ và các vùng khác nhau, các giống này đều đáp ứng được yêu cầu sản xuất của các vùng thâm canh lúa, vùng đất khó khăn như hạn, úng, chua, mặn và các loại giống chống chịu sâu bệnh như kháng rầy, đạo ôn
Trang 38Trong sản xuất nông nghiệp, giống là tư liệu sản xuất vô cùng quan trọng cũng như đất đai, phân bón và công cụ sản xuất Nếu không có giống thì không thể sản xuất ra một loại nông sản nào Giống cây trồng chính là yếu tố quan trọng trong việc thâm canh tăng năng suất và chất lượng nông sản phẩm Do giống là tư liệu sản xuất đặc biệt, là tư liệu sống mang đầy đủ tính trạng, đặc tính
về hình thái, sinh học, di truyền và kinh tế nhất định, do vậy giống gắn bó mật thiết với môi trường Muốn tăng năng suất cần chú ý tác động đến các điều kiện trồng trọt thích hợp với yêu cầu của giống
Điều kiện sinh thái của nước ta rất đa dạng nên đòi hỏi phải có bộ giống lúa phong phú có thể đáp ứng được các tiểu vùng sinh thái Do đó trong những năm qua chúng ta đã tạo được nhiều giống lúa mới phục vụ cho sản xuất Theo thống kê của Trung tâm khảo kiểm nghiệm giống cây trồng (Cục trồng trọt) thì trong vụ lúa đông xuân 2000 riêng ở các tỉnh phía Bắc có 192 giống lúa (chưa kể 1 số giống địa phương không có tên rõ ràng) đã được gieo trồng trong sản xuất Trong đó lúa thuần Việt nam chiếm 45% diện tích và giống lúa của Trung Quốc chiếm khoảng 55% Trong các giống trên có 10 giống lúa thâm canh có diện tích gieo trồng lớn nhất lá Khang dân 18, Q5, Sán ưu 63, IR 17494, X21, Nhị ưu 63, CR 203
Việt Nam có hàng nghìn giống lúa được gieo trồng từ Bắc vào Nam, trong đó
có rất nhiều giống "cổ truyền" có chất lượng cao như các loại lúa "Tám Thơm, Lúa
Di, Nàng Thơm, Nếp Cái Hoa Vàng, Nếp Cẩm, Nếp Tú Lệ…" Chúng ta đã nhập và thuần hoá nhiều giống lúa tốt từ nước ngoài mà nay đã thành các giống lúa đặc sản của Việt Nam có thương hiệu như: IR64 Điện Biên, Bao Thai Định Hoá, Khaodomaly Tiền Giang…(Nguyễn Thị Hương Thuỷ, 2003) [18]
Trong quá trình nghiên cứu phát triển các giống lúa có chất lượng cao vai trò của các Viện nghiên cứu và Trường đại học nông nghiệp là hết sức quan trọng Viện cây lương thực và cây thực phẩm là Viện nghiên cứu các giống lúa hàng đầu ở Việt Nam được thành lập từ rất sớm Viện này đã được các nhà khoa học danh tiếng như: Giáo sư Nông học Lương Đình Của, Viện sĩ Vũ Tuyên Hoàng… lãnh đạo và chỉ đạo
Trang 39công tác nghiên cứu, chọn tạo các giống lúa Hàng trăm giống lúa xuân, lúa mùa, lúa chịu hạn, chịu úng, lúa nếp, lúa có hàm lượng Protein cao, lúa chịu mặn đã được chọn tạo và bồi dục ở Viện này, trong đó có các giống lúa chất lượng cao Hai giống P4 và P6 là những giống lúa được lai tạo theo hướng chất lượng Protein cao Giống P4 có thời gian sinh trưởng trung bình, trồng được 2 vụ/năm, năng suất khá đạt 45 đến 55 tạ/ha cao nhất có thể đạt 72 tạ/ha Giống P4 có hàm lượng protein cao tới 11%, hàm lượng amiloza 16-20%, hạt gạo dài, tỉ lệ gạo sát đạt 70%, tỷ lệ gạo nguyên đạt 65% Giống lúa P6 ngắn ngày hơn giống lúa P4 thuộc loại hình thâm canh, hàm lượng protein đạt 10,5%, năng suất đạt 45-55 tạ/ha, cao nhất đạt 60 tạ/ha Đây là giống lúa có chất lượng gạo tốt, đạt tiêu chuẩn xuất khẩu (Vũ Tuyên Hoàng và cộng
sự, 1997) [12],[13] Giống lúa nếp K12 do Viện cây lương thực và thực phẩm lai tạo
ra có khả năng chống chịu với bệnh đạo ôn, có thể đạt năng suất từ 33,5- 58 tạ/ha chất lượng gạo khá (Lưu Văn Quyết, 1998) [17]
Viện khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam là một viện nghiên cứu nông nghiệp hàng đầu ở Việt nam và đã có nhiều thành tựu trong việc chọn tạo các giống lúa, nhất là các giống lúa chất lượng cao và lúa lai Trước đây Viện đã nhập và chọn lọc thành công các giống lúa có chất lượng tốt như: IR64, IR66, NN9A là những giống lúa đạt tiêu chuẩn xuất khẩu Giống lúa Nếp 314 do viện lai tạo ra cũng được trồng phổ biến Hiện tại các giống lúa lai HYT84 của Viện lai tạo ra đã được công nhận năm 2004, đã được ứng dụng ở nhiều nơi và có kết quả rất khả quan (Bộ Nông nghiệp & PTNT, 2005) [3]
Viện Di Truyền nông nghiệp cũng đã nghiên cứu tạo ra các giống lúa mới, nổi tiếng như: DT10, DT12, V18 đây là những giống lúa đạt chất lượng tốt cho năng suất cao
Viện Bảo vệ thực vật cũng đã chọn tạo được nhiều giống lúa có chất lượng tốt năng suất cao như: CR203, C70, C71
Viện Lúa Đồng Bằng Sông Cửu Long là một viện nghiên cứu chuyên sâu
về các giống lúa đặt tại trung tâm của châu thổ sông Cửu Long Các giống lúa
Trang 40MTL241, MTL305, MTL385, MTL386, MTL389, OM35-36 do viện chọn lọc, lai tạo đang được trồng phổ biến ở đồng bằng này, tạo ra bước ngoặt lớn về năng suất
và chất lượng Ngoài ra Viện cũng đang hướng dẫn nông dân vùng này trồng các giống lúa có chất lượng cao như: JASMIN85 (Hương Nhài) Khaodomaly, Nàng Thơm Viện này đang chịu trách nhiệm quy hoạch và hướng dẫn nông dân trồng 1 triệu ha lúa có chất lượng cao phục vụ cho công tác xuất khẩu
Cả nước hiện có trên 30 đơn vị nghiên cứu gia chọn tạo giống cây trồng mới, trong đó 15 đơn vị thuộc Bộ Nông nghiệp và PTNT, 7 thuộc Bộ Giáo dục và đào tạo,
1 thuộc Viện Khoa học tự nhiên và công nghệ quốc gia và 2 thuộc Bộ Công thương Bên cạnh đó, còn có hàng chục công ty nước ngoài, công ty trong nước đang thực hiện các hoạt động nghiên cứu chọn tạo hoặc nhập nội giống phục vụ sản xuất
Thực tiễn sản xuất nông nghiệp trên Thế giới cũng như trong nước khẳng định giống cây trồng là nhân tố quyết định năng suất, chất lượng và hiệu quả của sản xuất nông nghiệp Nhờ có bộ giống cây trồng phong phú đa dạng chúng ta đã và đang thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng mùa vụ nhằm khai thác hiệu quả hơn tiềm năng và khắc phục những hạn chế về đất đai, thời tiết khí hậu của nước ta, làm đa dạng hoá các sản phẩm nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá, thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn
Giai đoạn 1977 - 2007 các nhà chọn tạo giống cây trồng trong nước đã nỗ lực ứng dụng các phương pháp truyền thống kết hợp với công nghệ sinh học tạo ra gần
600 giống và cây đầu dòng được công nhận (trong đó có hơn 300 giống lúa) và nhiều giống mới có triển vọng khác được phép sản xuất thử Bên cạnh đó sự trợ giúp và hợp tác quốc tế là rất quan trọng trong trao đổi nguồn gen và du nhập các giống cây trồng mới vào nước ta Với sự phát triển của nền kinh tế nhiều thành phần, các công
ty giống trong và ngoài nước đã và đang đóng vai trò ngày càng quan trọng trong việc đưa ra sản xuất các giống cây trồng mới mà phần lớn các giống cây trồng này đã đáp ứng được mục tiêu của công tác chọn tạo giống trong thời gian qua là: ''Chọn, tạo giống cây trồng đáp ứng nhu cầu sản xuất nông nghiệp bền vững, đảm bảo an ninh lương thực, đa dạng di truyền, khai thác lợi thế so sánh về điều kiện tự nhiên, né tránh điều kiện bất lợi của tự nhiên, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước và xuất khẩu"