1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SKKN phương pháp hình thành và bồi dưỡng kỹ năng nói cho học sinh dân tộc lớp 1

22 321 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 159 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

I.2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU Đề tài này tiếp tục tìm hiểu hình thành kỹ năng nói cho học sinh dân tộc của lớp 1 trường tiểu học Bạch Đằng Trong quá trình giảng dạy tôi chọn lọc và đúc rút ,

Trang 1

1 mà lớp nào cũng có học sinh dân tộc , Nên khi học sinh bước vào lớp 1 gặp rất nhiều khó khăn nói trước đông người , có một số em nói chưa rõ Tiếng Việt còn quen nói tiếng mẹ đẻ Đây chính là việc nhìn nhận tầm quan trọng và ý nghĩa của kỹ năng nói Vấn đề ở đây là làm sao rèn khả năng nói

rõ ràng , lưu loát cho học sinh nói chung và học sinh dân tộc nói riêng Đây chính là vấn đề quan trọng đang bức xúc , nên tôi trăn trở và tiếp tục nghiêncứu đề tài Mặt khác trường tôi chưa có giáo viên dạy song ngữ Đó là lý

do mà tôi nghiên cứu đề tài “ phương pháp hình thành và bồi dưỡng kỹ

năng nói cho học sinh dân tộc lớp 1’’

Trang 2

I.2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Đề tài này tiếp tục tìm hiểu hình thành kỹ năng nói cho học sinh dân tộc của lớp 1 trường tiểu học Bạch Đằng

Trong quá trình giảng dạy tôi chọn lọc và đúc rút , bổ sung thêm về kinh nghiệm cho bản thân và cho đồng nghiệp nhằm hình thành cho học sinh nói Tiếng Việt tốt hơn và nghiên cứu áp dụng để tài có hiệu quả hơn

I.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu của đề tài hình thành và bồi dưỡng kỹ năng nói chohọc sinh lớp một nói chung , học sinh dân tộc nói riêng của học sinh lớp

IV GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU

- Quá trình nghiên cứu 2 năm

- Tìm hiểu kỹ năng nói tiếng việt của học sinh dân tộc bước vào lớp 1

- Tìm hiểu kĩ năng phát âm của học sinh

V PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để giúp cho các em nói đủ câu tôi đã sử dụng một số phương pháp sau :

1 Phương pháp trò chuyện , đàm thoại :

Giáo viên hỏi – trò đáp” dựa trên lời nói của học sinh , giáo viên sẽ sửa câu nói sao cho rõ gọn , đủ ý

2 Phương pháp quan sát tranh ảnh :

Quan sát tranh trả lời câu hỏi qua môn Học Vần , Kể Chuyện , Đạo Đức ,

Tự Nhiên Xã Hội Học sinh đã quen với việc luyện nói , giáo viên sẽ nâng dần hình thức trong qua trình luyện nói , giao tiếp hằng ngày

3 Phương pháp thực nghiệm :

Trang 3

Tiến hành thực nghiệm giảng dạy thực tế dạy học của cỏc lớp 1 Tiến hành nghiờn cứu cỏc lớp qua dự giờ , kiểm tra định kỳ

4 Phương phỏp xử lớ số liệu :

Phõn tớch định tớnh và định lượng cỏc kết quả nghiờn cứu

5 Phương phỏp tổng kết kinh nghiệm

Bằng phương phỏp tổng kết kinh nghiệm sau khi sử dụng một số

phương phỏp trờn tụi đó đỳc rỳt , chọn lọc những phương phỏp tối ưu để xỏcđịnh được trỡnh độ cho học sinh

II PHẦN NỘI DUNG

II.1 CƠ SỞ Lí LUẬN

Mục tiờu giỏo dục là đào tạo con người Việt Nam phỏt triển toàn diện ,

cú đạo đức , trớ thức , sức khỏ , thẩm mĩ

Trước mục tiờu lơn của giỏo giục việt nam , hệ thống giỏo dục núi chung và giỏo dục tiểu học núi riờng được toàn xó hội quan tõm Đảng và nhà nớc ta khẳng định:" Giáo dục là quốc sách hàng đầu"

Vậy muốn có hệ thống giáo dục quốc dân phát triển mạnh trong bối cảnh hộinhập kinh tế quốc tế và xu thế toàn cầu hoá, chúng ta cần có một nền tảng vững chắc đó là bậc Tiểu học, Chơng trình SGK tiếng việt 1 mới có nhiều u việt tập trung rèn luyện 4 kỹ năng: Nghe - Nói - Đọc - Viết Kiến thức đợc hình thành và cung cấp qua hoạt động giao tiếp tự nhiên của chính các em trong môi trờng học tập và sinh hoạt hàng ngày trên lớp cũng nh ở nhà Kĩ năng núi là một trong bốn kĩ năng quan trọng cần đề cập đến đối với học sinh lớp 1

Muốn phỏt triển ngụn ngữ của trẻ nhất là học sinh cấp tiểu học thỡ phải thụng qua cỏc hoạt động tập thể, điều kiện và mụi trường sống Cỏc hoạt động ngày càng phong phỳ và đa dạng thỡ vốn hiểu biết của trẻ càng rộng Hỡnh thức để ta luyện núi cho học sinh một cỏch nhanh chúng và tốt nhất là

Trang 4

thông qua hoạt động dạy học Ơ tất cả các môn học, người giáo viên cần chú

ý rèn luyện cho các em biết dùng đúng từ, chọn lời hay ý đẹp để sử dụng trong cuộc sống hàng ngày, từ đó từng bước nâng cao vốn hiểu biết của trẻ.Đối tượng học sinh của tôi ở đây là học sinh lớp Một ở lứa tuổi này khả năng tập trung chú ý của trẻ chưa cao, tư duy chưa phát triển nên việc bồi dưỡng vốn từ cho các em ở giai đoạn này rất khó khăn Để giải quyết khó khăn ban đầu đấy thì trong hoạt động dạy học của mình, tôi đã sử dụng một

số biện pháp để giúp trẻ dùng từ sinh động và chính xác để các em nói tốt tạo đà cho những năm học sau

Giáo viên có một số đồ dùng phục vụ cho môn Tiếng Việt

Khó khăn :

Do học sinh là dân tộc thiểu số nên khả năng giao tiếp hạn chế , các em còn nhút nhát , trong giờ học ít phát biểu trong giờ học Chưa tự tin trong khi giao tiếp

trong các bài học phân môn học vần một số chủ đề xa lạ với các em nên các

em khó hình dung để phát huy khả năng nói của mình một cách phong phú

b Thành công - hạn chế

Tuy đề tài này đã áp dụng và có kết quả , thế nhưng để học sinh luyện nói lưu loát , đạt hiệu quả giáo viên cần phải có cách tổ chức dạy học gây hứng thú bộc lộ cảm xúc , ý nghĩ của mình nhằm phát huy kỹ năng nói của

Trang 5

các em , nhằm giúp các em có tính cách mạnh dạn tự tin hơn trong quá trình giao tiếp

c Mặt mạnh - mặt yếu :

Trong quá trình luyện nói cho học sinh tôi đã dựa vào phân môn Tiếng

Việt để áp dụng luyện nói cho các em Đây là môn học giúp học sinh luyệnnói xuyên suốt cả một năm học Ngoài ra tôi áp dụng một số các môn học khác

Tuy nhiên còn một số hạn chế khi nghiên cứu và áp dụng đề tài vì học sinh lớp 1 ở lứa tuổi này khả năng tập trung chú ý của trẻ chưa cao , tư duy chưa phát triển Bên cạnh các em là học sinh vùng sâu khả năng phát triển ngôn ngữ để giao tiếp so với thành thị còn hạn chế , các em lại thiếu mạnh dạn thiếu tự tin

d.Nguyên nhân và các yếu tố tác động :

Đối với học sinh :

- Do đặc thù là học sinh dân tộc việc nói Tiếng Việt là rất khó khăn vì :

Vì học sinh chưa biết Tiếng việt Do học sinh nói chỉ nói bằng tư duy gián tiếp, thông qua sự tiếp cận qua bài học , qua tiếp cận hằng ngày , do đó học sinh thường không tự tin khi đông người

- Do học sinh biến đổi tâm lý , khi chưa đi học trẻ nói một cách tự do không có chủ định không theo từng chủ đề

- Tư duy của học sinh lớp 1là tư duy trực quan , hình ảnh , tư duy cụ thể qua tranh ảnh minh họa nhưng quan sát các chi tiết còn hạn chế

- Các em rụt rè sợ hãi khi đứng trước đông người

Đối với giáo viên :

- Trong giảng dạy chưa đổi mới phương pháp dạy học

Trang 6

- Trong dạy học chưa biết vận dụng sự tích hợp nội dung dạy học kĩ năng nói với các kĩ năng còn lại ( đọc ,viết, nghe )

và các môn học khác Bởi vì kĩ năng nói được hình thành và rèn luyện qua các môn học khác

- Trường chưa có giáo viên song ngữ

- Bước đầu các em làm quen tiếng việt

e Phân tích , đánh giá các vấn đề và thực trạng mà đề tài đặt ra :

Bản thân tôi là một giáo viên giảng dạy lớp 1 nhiều năm tôi thấy kỹ năng nói của học sinh dân tộc trước tập thể và trước đông người lại rất khó khăn hơn Nhiều học sinh rụt sè , nói không rõ , thậm chí không nói được

Bên cạnh đó học sinh học lớp 1 phải thực hiện đủ 4 kỹ năng nghe , nói , đọc , viết Trong đó kỹ năng nói được luyện tập kết hợp với các kỹ năng đọc , nghe , viết Việc rèn kỹ năng nói cho học sinh nói lưu loát đạt hiệu quảgiáo viên cần phải có cách tổ chức phù hợp trong tiết dạy đó Chính vì học sinh dân tộc lớp 1 trường tôi còn hạn chế khi giao tiếp mọi người nhất là học sinh dân tộc tại chỗ Vậy để làm sao thu hút trẻ vào một giờ ,buổi học nhẹ nhàng mà có hiệu quả bởi tuổi của các em còn là tuôi học mà chơi , chơi mà học đặc biệt là môn Tiếng Việt Bởi môn Tiếng Việt đối với học sinh lớp một đi sâu vào mọi lĩnh vực quá phong phú ,học sinh trường tôi lại

là học sinh dân tộc khã năng phát triển ngôn ngữ để giao tiếp so với thành thị còn hạn chế Bên cạnh đó các em lại thiếu mạnh dạn thiếu tự tin Nắm được đặc điểm tình hình của lúa tuổi Cho nên từ những băn khoăn này tôi

đã vận dụng vào các bài dạy trên lớp để luyện nói cho học sinh và đã tiếp tục

đề tài này để nghiên cứu

Trang 7

a Mục tiêu của giải pháp và biện pháp :

cuối năm

Học sinh lớp 1 các em còn quá nhỏ, chưa ý thức tự giác, cố gắng trong học tập Vì vậy giáo viên chúng ta phải biết được đặc điểm tình hình của từng đối tượng, khả năng tiếp thu của từng em để phát huy tính tích cực ham học cho học sinh Tổ chức tiết dạy sao cho các em luôn cảm thấy nhẹ nhàng, vui tươi và các em sẽ thích học Nhận thức rõ được các khó khăn cơ bản về học sinh tôi đã có những biện pháp cụ thể sau

b Nội dung và cách thức thực hiên giải pháp , biện pháp

1 Luyện nói trong giao tiếp hằng ngày

Ngày đầu tiên HS vào lớp 1 vấn là giao tiếp hằng ngày là vấn đề quan trọng Do còn rụt rè nên giáo viên cần tạo cho học sinh một tâm thế hào

Trang 8

hứng , không khí học tập nhẹ nhàng để bước vào giờ học ngay vào ngày đầutiên các em đến trường Cho nên giáo viên phải hướng cho học sinh tự tin khi giao tiếp hằng ngày trước qua các môn học , khi học sinh thưa với giáo viên hay giáo viên hỏi lại học sinh , giáo viên phải nhẹ nhàng , gần gũi với học sinh Để tạo cho các em tự tin , mạnh dạn hơn khi trả lời với giáo viên một số học sinh đến lớp rất sợ giáo viên nên không dám thưa hỏi

HS vào lớp một đã được làm quen luyện nói như : Em chào cô , cô ơi em làm xong rồi , nhưng bên cạnh đó HS dân tộc vẫn còn rụt rè vẫn chưa giám thưa , thì GV phải có tình cảm giao tiếp thân mật với các em VD : GV hỏi “

Em đã làm xong bài tập chưa ?’’

HS sẽ trả lời : xong rồi khi đó GV phải sửa cho HS ngay , em phải nói là : thưa cô , “ em làm xong rồi ạ !’’ Như vậy luyện nói cho học sinh phải được uốn nắn hằng ngày trong quá trình dạy học

- Tổ chức cho học sinh tiếp xúc , làm quen với các anh chị đội viên lớp trên qua buổi sinh hoạt sao , tham dự và chứng kiến các cuộc thi của nhà trường để các em có cơ hội làm quen và bắt chước

- Tổ chức đọc và nghe đọc truyện , đọc báo nhi đồng 15 phút đầu giờ , sinhhoạt lớp

- Thi đọc hay để giúp HS mạnh dạn trong khi đọc cũng như trong khi nói

2/ Dạy kết hợp nghe và nói :

Dạy áp dụng vào các môn học có các hoạt động trò chơi : trong các môn học ngoại khóa , sinh hoạt lớp

Là dạy nghe ,nói cùng một hoạt động như tổ chức trò chơi hỏi đáp thông quamôn học hoạt động ngoại khóa Ví dụ : như chỉ vào một đồ vật và nói “ cái này màu gì ….? ; trẻ trả lời màu sắc của đồ vật (có thẻ ) là màu ( đỏ ) , sau

đó trẻ thử nói bằng các cụm từ tương tự với bạn bè Hoặc trò chơi Thì thầm ;trẻ ngồi thành vòng tròn Giáo viên nói nhỏ 3 từ cho một bạn , sau đó , bạn

Trang 9

đó lại thì thầm cho bạn gần nhất cho đến khi tất cả đều được nghe 3 từ đó Trẻ được nghe cuối cùng phải nói to cả 3 từ đó lên

- Hoạt động này giúp trẻ nói nhiều hơn

- Tập nói bằng cách mô tả tranh

Học sinh sẽ mô tả những gì chúng thấy trong tranh : ví dụ như tranh con hổ ,con chim qua môn học ngoại khóa

3 Dạy luyện nói kết hợp với các môn học khác

Xây dựng cho HS cách phát biểu miệng tốt , trao đổi sôi nổi khi tham gia hoạt động nhóm thì phải tập luyện nói vào các môn học khác GV nên cho

HS tập luyện nói

Thực tế luyện nói không chỉ diễn ra trong môn tiếng Việt mà ở các môn học khác như Tự Nhiên Xã Hội , Đạo Đức , Thể Dục …cũng là môi trường rất tốt để các em thực hành luyện nói

Ví dụ : Khi dạy bài “ Gia đình em ’’ bài 4 môn Đạo Đức GV cho HS kể về

gia đình mình cho các bạn nghe theo nhóm , sau đó nói trước lớp

4/ Dạy luyện nói theo phân môn Học vần

Môn Tiếng Việt là môn có phần luyện nói chiếm ưu thế nhất , luyện nói cho học sinh xuyên suốt cả một năm học Vì vậy giáo viên cần giúp học sinh xác định được những việc cần làm để học sinh mạnh dạn hơn trong khi nói

Đó là : Nói về đề tài gì ?

- Xây dựng trên các chủ đề gần gũi với HS thì tổ chức nói theo nhóm

nhóm 4 em một nhóm để trong nhóm có nhiều cách nói khác nhau

GV chuẩn bị bằng tranh ảnh minh họa để nhằm gây hứng thú và tập trung

cho học sinh , bằng cách sử dụng tranh ảnh đẹp , chứa nội dung cần luyện nói để tạo tính tò mò muốn khám phá

Trang 10

- Giáo viên sử dụng bằng các câu hỏi gợi ý và hướng dẫn học sinh nói theo

ý tưởng của mình

- Luyện nói trước lớp để tránh tình trạng chây lười , ỷ lại các bạn học tốt , giáo viên gọi bất kỳ trong nhóm lên luyện nói , đặc biệt là những em hay rụt

rè , không giám nói trước đám đông

- Giáo viên cho học sinh nhận xét cách luyện nói của các bạn mình , hướngdẫn học sinh nhận xét cụ thể về nội dung luyện nói , tác phong , mạnh dạn hay còn rụt rè

- Giáo viên nhận xét cách luyện nói của bạn mình , của nhóm này với nhóm khác , và sau đó nhận xét chung

Ví dụ : Khi dạy bài luyện nói về chủ đề ‘ Bé với bạn bè ’’ trong bài 44 phần

học vần trong SGK Tiếng Việt 1, tập 1 , trang 91 tôi đã hướng dẫn học sinh theo các bước sau :

Hỏi nhau : Kể các bạn của bạn ? bạn đó ở đâu ?

Các bạn có hay giúp đỡ nhau không ? ( như giúp bạn học bài …)

Bạn mong muốn gì đối với các bạn ?

Trang 11

Học sinh yếu giáo viên gợi ý kĩ hơn chẳng hạn đoàn kết và giúp đỡ bạn cùng nhau trong học tập , còn học khá cần mở rông thêm bằng cách gợi mở Bước 3 :

Học sinh nói trước lớp

+ Học sinh giới thiệu bạn của mình trước lớp

Đại diện các nhóm trình bày

Khi gọi HS nói trước lớp phải gọi nhiều đối tượng khác nhau trong lớp vừa uốn nắn , sửa chữa , vừa học tập lẫn nhau để các em cùng tiến bộ

Bước 4 :

Hướng dẫn nhận xét

+ Cho học sinh nhận xét cách luyện nói câu bạn mình , cụ thể :

Nội dung bài nói của bạn đã phù hợp với chủ đề “ bé và các bạn ’’ chưa ? Bạn nói đã thành câu tự nhiên chưa ?

Nhận xét cụ thể đối tượng học sinh yếu có tiến bộ không

Học sinh nhận xét cụ thể từng bạn về điểm đạt được và chưa đạt được cần khắc phục

Bước 5 : Giáo viên nhận xét tổng kết chung

Nhận xét vấn đề chi tiết học sinh đã thể hiện được và chưa được để khuyến khích cho bài sau

*Đối với chủ đề xa lại với học sinh

GV phải đặt mình là vai người hướng dẫn viên du lịch , còn các em là học sinh tham quan du lịch để giới thiệu tạo không khí học tập cho các em

học sinh

Ví dụ : Khi dạy bài luyện nói về chủ đề ‘ Thủ đô ’’ trong bài 17 phần học

vần trong SGK Tiếng Việt 1, tập 1 , trang 36 là một chủ đề luyện nói xa lạ với học sinh vì các em chưa hiểu thủ đô là gì , tôi đã hướng dẫn học sinh theo các bước sau :

Trang 12

Bước 1 : GV giới thiệu Thủ đô qua các bức tranh sưu tầm các cảnh ở Hà Nội như : Hồ hoàn kiếm , đến Ngọc Sơn …

Giáo viên gỉới thiệu : Chùa Một cột ở Hà Nội

Hà Nội là thủ đô của nước ta

Hồ Hoàn Kiếm ở giữa lòng thủ đô

Tại thủ đô Hà Nội có lăng Bác Hồ

- Bước 2 :Gọi một số học sinh nhìn tranh tập nói theo hiểu biết của mình qua cô giáo kể , gợi ý học sinh đã xem ti vi , qua các câu chuyện nói về Hà Nội

- Bước 3 : Tuyên dương khích lệ học sinh

*Đối với chủ đề luyện nói tôi sử dụng trò chơi như : Nặn đồ chơi học

sinh sẽ tham gia chơi nặn hình bằng đất hoặc chủ đề các con vật thì cho học

sinh tập thể hiện bắt chước tiếng các con vật

Ở học kì I các em đã quen với việc luyện nói Sang học kì II giáo viên sẽ nâng dần hình thức trong quá trình luyện nói qua phân môn tập đọc và kể chuyện

5 Dạy luyện nói môn tập đọc

Khi dạy bài tập đọc có phân vai , giáo viên hướng dẫn HS biết ngữ điệu của nhân vật để tập thể hiện vai giúp HS tập nói đúng nhiều hơn

Ví dụ Bài : Mèo con đi học ( Tiếng Việt 1 , tập 2 )

Giáo viên hướng dẫn giọng nói của Mèo và Cừu , người dẫn chuyện để HS tập nói chính xác giọng của nhân vật

Giọng Cừu : to nhanh nhẹn , láu táu

Giọng Mèo ở những câu thơ trên : chậm chạp , vờ mỏi mệt , kiếm cớ cái đuôi ốm để trốn học

+ Sử dụng các hình thức sau :

- Cho HS thi đọc qua nhiều nhóm nhỏ thể hiện giọng nhân vật

Ngày đăng: 27/05/2016, 10:43

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w