Hoạt động thanh toán quốc tế còn là mắt xích quan trọng thúc đẩy phát triển các hoạt động khác như mua bán ngoại tệ, tài trợ xuất nhập khẩu, bảo lãnh,… Mở rộng hoạt động thanh toán quốc
Trang 1BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
-o0o -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC
TẾ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN
ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM CHI NHÁNH
BẮC NINH
HÀ NỘI – 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
-o0o -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC
TẾ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN
ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM CHI NHÁNH
BẮC NINH
HÀ NỘI – 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, em xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới toàn thể thầy cô tại Trường đại học Thăng Long, trong suốt thời gian qua đã truyền dạy cho em những kiến thức chuyên ngành
về Tài chính cũng như trang bị cho em những kỹ năng cần thiết Có thể nói đây là nền tảng
cơ bản để em hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp này
Em cũng xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo, cán bộ nhân viên trong Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Bắc Ninh đã tạo điều kiện
và tận tình giúp đỡ em trong quá trình thực tập tại Chi nhánh
Nguyễn Thị Thúy Hằng
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp này là do tự bản thân thực hiện có sự hỗ trợ
từ giáo viên hướng dẫn và không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác Các
dữ liệu thông tin thứ cấp sử dụng trong Khóa luận là có nguồn gốc và được trích dẫn rõ ràng
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này!
(Ký và ghi rõ họ tên)
Nguyễn Thị Thúy Hằng
Trang 5MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN
QUỐC TẾ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1
1.1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1
1.1.1.Khái niệm và ý nghĩa của thanh toán quốc tế 1
1.1.2 Đặc điểm của hoạt động thanh toán quốc tế 2
1.1.3 Các văn bản pháp lý điều chỉnh trong thanh toán quốc tế 3
1.1.4 Các công cụ thanh toán quốc tế chủ yếu 4
1.1.5 Các phương thức thanh toán quốc tế chủ yếu 9
1.1.6 Rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế 19
1.2 MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 20
1.2.1 Sự cần thiết phải mở rộng hoạt động thanh toán quốc tế trong kinh doanh của ngân hàng thương mại 20
1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá sự mở rộng của hoạt động thanh toán quốc tế 22
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ MỞ RỘNG CỦA HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ 25
1.3.1.Các nhân tố khách quan 25
1.3.2 Các nhân tố chủ quan 27
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 29
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM CHI NHÁNH BẮC NINH 31
2.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM CHI NHÁNH BẮC NINH 31
2.1.1 Vài nét về Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam 31
2.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Bắc Ninh 32
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chi nhánh Bắc Ninh 33
Trang 62.1.3.Tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và
Phát triển Việt Nam Chi nhánh Bắc Ninh giai đoạn 2012- 2014 35
2.2 THỰC TRẠNG MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM CHI NHÁNH BẮC NINH 44
2.2.1 Tình hình xuất nhập khẩu tại tỉnh Bắc Ninh 44
2.2.2 Quy định chung về hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chi nhánh Bắc Ninh 45
2.2.3 Các sản phẩm thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chi nhánh Bắc Ninh 46
2.2.4 Quy trình nghiệp vụ thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chi nhánh Bắc Ninh 47
2.3 KẾT QUẢ MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM CHI NHÁNH BẮC NINH 61
2.3.1 Doanh số thực hiện hoạt động thanh toán quốc tế 61
2.3.2 Doanh thu thực hiện hoạt động thanh toán quốc tế 63
2.3.3 Số món thanh toán quốc tế 66
2.3.4 Số lượng khách hàng sử dụng dịch vụ thanh toán quốc tế 67
2.3.5 Sản phẩm tài trợ xuất khẩu, nhập khẩu 69
2.3.6 Doanh thu từ các sản phẩm bổ sung 71
2.3.7 Rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế 72
2.3.8 Mạng lưới ngân hàng đại lý 73
2.3.9 Số vụ khiếu nại 73
2.4 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ KHẢ NĂNG MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM CHI NHÁNH BẮC NINH 73
2.4.1 Kết quả đạt được 73
2.4.2 Hạn chế 76
2.4.3 Nguyên nhân 77
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 78
Trang 7CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT
TRIỂN CHI NHÁNH BẮC NINH 80
3.1 MỤC TIÊU, CHIẾN LƯỢC KINH DOANH VÀ ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM - CHI NHÁNH BẮC NINH TRONG THỜI GIAN TỚI 80
3.1.1 Định hướng phát triển chung 80
3.1.2 Định hướng phát triển hoạt động TTQT tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chi nhánh Bắc Ninh 81
3.2 GIẢI PHÁP MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM CHI NHÁNH BẮC NINH 82
3.2.1 Tiếp tục nâng cao trình độ của cán bộ TTQT 82
3.2.2 Đa dạng hóa các loại hình TTQT 83
3.2.3 Đẩy mạnh Marketing cho hoạt động TTQT 84
3.2.4 Tiếp tục phòng tránh rủi ro trong hoạt động TTQT 84
3.2.5 Hiện đại hóa công nghệ ngân hàng 85
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 86
KẾT LUẬN 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8DANH MỤC VIẾT TẮT
Ký hiệu viết tắt Tên đầy đủ
BIDV
CVTT
Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư
và Phát triển Việt Nam Chuyên viên thanh toán KSV
Trang 9DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Quy trình nghiệp vụ của phương thức chuyển tiền 10
Sơ đồ 1.2 Quy trình nghiệp vụ của phương thức thanh toán tín dụng chứng từ 17
Sơ đồ 1.3 Quy trình nghiệp vụ của phương phức nhờ thu trơn 13
Sơ đồ 1.4 Quy trình nghiệp vụ của phương phức nhờ thu kèm chứng từ 14
Sơ đồ 2.1 : Mô hình tổ chức của BIDV Bắc Ninh 34
Sơ đồ 2.2 Quy trình nghiệp vụ của phương thức chuyển tiền của BIDV Bắc Ninh 48
Sơ đồ 2.3 Quy trình thực hiện nghiệp vụ thanh toán L/C nhập khẩu của BIDV Bắc Ninh 54
Sơ đồ 2.4 Quy trình nghiệp vụ thanh toán L/C xuất khẩu của BIDV Bắc Ninh 58
Sơ đồ 2.5 Quy trình nghiệp vụ của phương thức nhờ thu của BIDV Bắc Ninh 50
Trang 10DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Tình hình huy động vốn của BIDV Bắc Ninh giai đoạn 2012-2014 36
Bảng 2.2 Tình hình dư nợ của BIDV Bắc Ninh giai đoạn 2012-2014 40
Bảng 2.3 Kết quả kinh doanh ngoại tệ của BIDV Bắc Ninh giai đoạn 2012-2014 42
Bảng 2.4 Kết quả kinh doanh của BIDV Bắc Ninh giai đoạn 2012-2014 43
Bảng 2.5 Doanh số thực hiện hoạt động TTQT của BIDV Bắc Ninh giai đoạn 2012-2014 61
Bảng 2.6 Doanh thu từ hoạt động TTQT của BIDV Bắc Ninh giai đoạn 2012-2014 64
Bảng 2.7 Doanh thu từ hoạt động TTQT so với tổng doanh thu 64
Bảng 2.8 Số món TTQT của BIDV Chi nhánh Bắc Ninh giai đoạn 2012-2014 66
Bảng 2.9 Số lượng khách hàng sử dụng dịch vụ TTQT của BIDV Bắc Ninh giai đoạn 2012-2014 68
Bảng 2.10 Doanh số tài trợ XK, NK của BIDV Bắc Ninh giai đoạn 2012-2014 70
Bảng 2.11 Doanh thu từ các sản phẩm bổ sung của BIDV Bắc Ninh giai đoạn 2012-2014 71
Trang 11LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Từ khi gia nhập WTO, các mối quan hệ kinh tế đối ngoại của nước ta ngày càng được mở rộng, thương mại quốc tế ngày càng diễn ra sôi động Xu thế hội nhập quốc tế khiến các nước mở rộng cánh cửa, tăng cường giao lưu; các hoạt động xuất nhập khẩu cũng vì thế mà trở nên sôi động
Trong tình hình đó, ngành ngân hàng,với vai trò là trung gian trong các hoạt động ngoại thương, đang đứng trước cơ hội lớn để phát triển Các ngân hàng là cầu nối thanh toán, tham gia vào các quan hệ kinh tế, thương mại giữa các tổ chức, cá nhân trong nước với các tổ chức, cá nhân nước ngoài
Trong số các hoạt động kinh doanh đối ngoại, hoạt động thanh toán quốc tế là một trong các nghiệp vụ ngoại bảng có tốc độ tăng trưởng mạnh về cả số lượng và tỷ trọng Hoạt động thanh toán quốc tế còn là mắt xích quan trọng thúc đẩy phát triển các hoạt động khác như mua bán ngoại tệ, tài trợ xuất nhập khẩu, bảo lãnh,… Mở rộng hoạt động thanh toán quốc tế còn giúp các Ngân hàng đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của khách hàng về dịch vụ thanh toán xuất nhập khẩu Cơ hội mở ra để phát triển thanh toán quốc tế là rất lớn nhưng ngày càng có nhiều ngân hàng tham gia vào thị trường nên cạnh tranh trở nên gay gắt hơn
Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) Chi nhánh Bắc Ninh
đã nhận ra được tính cấp thiết của việc mở rộng hoạt động thanh toán quốc tế Ngân hàng đã và đang xây dựng, triển khai chiến lược phát triển Chất lượng dịch vụ cũng như số lượng khách hàng sử dụng dịch vụ của chi nhánh không ngừng được nâng cao qua các năm Tuy nhiên, bên cạnh thành công thì hoạt động thanh toán tại chi nhánh vẫn chưa được khai thác triệt để, và còn tồn tại những hạn chế
Từ thực trạng trên và mong muốn tìm hiểu sâu hơn về lĩnh vực thanh toán quốc
tế, sau thời gian thực tập tại BIDV chi nhánh Bắc Ninh, em đã lựa chọn đề tài:“Mở rộng hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chi nhánh Bắc Ninh” làm đề tài cho khóa luận tốt nghiệp của
mình
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của khóa luận là hệ thống hóa lý luận cơ bản về hoạt động thanh toán quốc tế Trên cơ sở lý luận đó, tiến hành phân tích tình hình mở rộng hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chi nhánh Bắc Ninh Từ những phân tích trên, đưa ra những thành tích và tồn tại của chi nhánh trong thời gian qua, để đề xuất một số giải pháp nhằm giúp Ngân hàng
Trang 12thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chi nhánh Bắc Ninh mở rộng hoạt động thanh toán quốc tế
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là mở rộng hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng thương mại
Phạm vi nghiên cứu: Khóa luận nghiên cứu hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chi nhánh Bắc Ninh trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2014
4 Phương pháp nghiên cứu
Nguồn dữ liệu: Nguồn thứ cấp lấy từ các tạp chí, báo về kinh tế đối ngoại, tài chính ngân hàng Nguồn sơ cấp lấy từ các báo cáo, thống kê của Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chi nhánh Bắc Ninh; các văn bản pháp lý; giáo trình liên quan đến hoạt động thanh toán quốc tế
Phương pháp phân tích dữ liệu: phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát dựa trên những số liệu mà ngân hàng cung cấp
Chương 3: Giải pháp mở rộng hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chi nhánh Bắc Ninh trong thời gian tới
Trang 131
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN
QUỐC TẾ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1.Khái niệm và ý nghĩa của thanh toán quốc tế
Hiện nay, quan hệ kinh tế quốc tế ngày càng phát triển do khối lượng mua bán, đầu tư quốc tế và chuyển tiền quốc tế ngày càng gia tăng Hoạt động thanh toán quốc tế (TTQT) ở các ngân hàng trong khu vực và trên thế giới được chú trọng phát triển là một xu hướng tất yếu, phù hợp với xu hướng hội nhập kinh tế thế giới Hoạt động TTQT đã thực sự bùng nổ, làm thay đổi cách tiếp cận kinh tế của các quốc gia trên thế giới và đã trở thành dịch vụ kinh doanh đối ngoại quan trọng nhất của Ngân hàng thương mại (NHTM)
Có rất nhiều định nghĩa về thanh toán quốc tế Một số khái niệm được sử dụng phổ biến hiện nay gồm:
Theo cách hiểu thông thường nhất, “thanh toán quốc tế” có nghĩa là “một trong
số các nghiệp vụ của ngân hàng trong việc thanh toán giá trị của các lô hàng giữa bên mua và bên bán hàng thuộc lĩnh vực ngoại thương
Theo giáo trình Thanh toán quốc tế và Tài trợ ngoại thương của GS TS
Nguyễn Văn Tiến: “Thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả và quyền hưởng lợi về tiền tệ phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các
tổ chức, cá nhân nước này với tổ chức, cá nhân nước khác hay giữa một quốc gia với
tổ chức kinh tế, thông qua quan hệ giữa các ngân hàng của các nước liên quan” [2,
Tr.294]
Theo giáo trình Thanh toán quốc tế của GS Đinh Xuân Trình: “Việc trao đổi các hoạt động kinh tế và thương mại giữa các quốc gia làm phát sinh các khoản thu và chi bằng tiền của nước này đối với một nước khác trong từng giao dịch hoặc trong từng định kỳ chi trả do hai nước quy định Trong mối quan hệ chi trả này, các quốc gia phải cùng nhau quy định những yếu tố cấu thành cơ chế thanh toán giữa các quốc gia như quy định về chủ thể tham gia thanh toán, lựa chọn tiền tệ, các công cụ và các phương thức đòi và hoặc chi trả tiền tệ Tổng hợp các yếu tố cấu thành cơ chế đó tạo thành thanh toán quốc tế giữa các quốc gia”.[3,tr.11]
Mỗi khái niệm đều có những nét riêng, nhưng chung quy lại, chúng ta có thể
hiểu: thanh toán quốc tế thực chất là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả tiền tệ quốc tế
thông qua hệ thống ngân hàng ở các nước liên quan được phát sinh từ các hoạt động
Trang 14kinh tế và phi kinh tế giữa các chủ thể, doanh nghiệp, tổ chức kinh tế - xã hội đến từ
các quốc gia khác nhau
Dưới giác độ kinh tế, các quan hệ kinh tế được phân chia thành hai loại là quan
hệ mậu dịch và quan hệ phi mậu dịch Do đó, TTQT cũng bao gồm thanh toán mậu dịch và thanh toán phi mậu dịch
Thanh toán phi mậu dịch là quan hệ thanh toán phát sinh không liên quan đến hàng hóa cũng như cung ứng lao vụ, không mang tính chất thương mại Đó là những chi phí của các cơ quan ngoại giao, ngoại thương ở nước sở tại, các chi phí về vận chuyển và đi lại của các quan khách, các tổ chức Nhà nước
Thanh toán mậu dịch là thanh toán mậu dịch phát sinh trên cơ sở trao đổi hàng hóa và các dịch vụ thương mại theo giá cả quốc tế Thông thường trong nghiệp vụ thanh toán mậu dịch phải có chứng từ hàng hóa kèm theo Các bên mua bán bị ràng buộc với nhau bởi hợp đồng thương mại hoặc một hình thức cam kết khác (thư, điện giao dịch) Mỗi hợp đồng chỉ ra một mối quan hệ nhất định, nội dung hợp đồng phải quy định điều kiện thanh tốn cụ thể
Việc phân chia thanh toán quốc tế thành thanh toán mậu dịch và thanh toán phi mậu dịch có ý nghĩa quan trọng, vì mỗi loại sẽ có những yêu cầu cụ thể khác nhau và chi phí khác nhau ở mỗi phương thức TTQT Ngân hàng sẽ căn cứ vào đó là thanh toán mậu dịch hay phi mậu dịch để áp dụng những quy trình riêng
1.1.2 Đặc điểm của hoạt động thanh toán quốc tế
Thanh toán quốc tế có bản chất là thanh toán các nghĩa vụ tiền tệ giữa các chủ thể ở các quốc gia khác nhau TTQT có các đặc điểm chính như sau:
Thanh toán quốc tế diễn ra trên phạm vi toàn cầu, phục vụ các giao dịch thương mại, đầu tư, hợp tác quốc tế thông qua mạng lưới ngân hàng thế giới TTQT liên quan đến việc trao đổi tiền của quốc gia này lấy tiền của quốc gia khác nên khi ký kết các hợp đồng, các bên phải thỏa thuận đồng tiền của nước nào là tiền tệ tính toán và thanh toán, đồng thời phải tính toán thận trọng để phòng ngừa rủi ro
Đối với các ngân hàng thương mại, TTQT là một dịch vụ sinh lời nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro Rủi ro phát sinh trong quá trình thực hiện thanh toán quốc tế liên quan đến các giao dịch quốc tế, phát sinh từ quan hệ các chủ thể tham gia hoặc do những nhân tố khách quan khác như thiên tai, chiến tranh, chính trị, biến động tỷ giá hối đoái,…
Trong TTQT, tiền mặt hầu như không được sử dụng trực tiếp mà được thanh toán thông qua hệ thống dưới hình thức các phương tiện thanh toán như thư chuyển
Trang 153
tiền, điện chuyển tiền, hối phiếu, kỳ phiếu và séc ghi bằng ngoại tệ Do vậy thanh toán quốc tế về bản chất chính là các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế Chúng được hình thành
và phát triển trên cơ sở các hợp đồng ngoại thương và các trao đổi tiền tệ quốc tế
Thanh toán quốc tế được thực hiện dựa trên nền tảng pháp luật và tập quán thương mại quốc tế, đồng thời TTQT cũng bị chi phối bởi luật pháp của các quốc gia, bởi các chính sách kinh tế, chính sách ngoại thương và chính sách ngoại hối của các quốc gia tham gia trong thanh toán
1.1.3 Các văn bản pháp lý điều chỉnh trong thanh toán quốc tế
Hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động TTQT là yếu tố đầu tiên cấu thành môi trường pháp lý của hoạt động TTQT Điều này có nghĩa là hoạt động TTQT cũng chịu
sự điều chỉnh của pháp luật Nói cách khác, khi tham gia vào hoạt động TTQT, các bên tham gia phải thực hiện đúng quy định của pháp luật, ví dụ như quy định về vai trò và chức năng của Nhà nước trong việc xây dựng chính sách về tỷ giá, về kiểm tra, giám sát hoạt động TTQT; quy định về điều kiện để doanh nghiệp được mở tài khoản thanh toán bằng ngoại tệ tại ngân hàng, điều kiện để doanh nghiệp được mua ngoại tệ để chi trả tiền cho khách hàng nước ngoài, điều kiện để ngân hàng được cung cấp dịch vụ TTQT và chuyển tiền ra nước ngoài…Khác với hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động thanh toán trong nước, hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động TTQT phức tạp hơn vì hệ thống này không chỉ bao gồm luật của một nước mà bao gồm luật của ít nhất
là hai nước (nước xuất khẩu và nước nhập khẩu), Luật quốc tế (các hiệp định về thanh toán quốc tế có liên quan…) và các Tập quán quốc tế hình thành và được thừa nhận rộng rãi trong thực tiễn của hoạt động TTQT Vì vậy, các bên tham gia vào quá trình TTQT cần phải có sự hiểu biết thấu đáo về quy trình nghiệp vụ, thông lệ, tập quán nơi doanh nghiệp hoạt động cũng như quốc tế
Các nguồn luật và công ước quốc tế được sử dụng
Công ước Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (Công ước Viên 1980) có tên viết tắt tiếng Anh là CISG – Convention on Contracts for the Internetional Sale of Goods CISG là một hiệp ước quy định một luật mua bán hàng hóa quốc tế thống nhất được phát triển bởi Ủy ban Liên Hiệp Quốc về Luật Thương mại quốc tế (UNCITRAL), và đã được ký kết tại Viên vào năm 1980 Công ước này có hiệu lực như một hiệp ước đa phương vào ngày 1 tháng 1 năm 1988 Tính đến tháng 9 năm 2014, đã có 83 quốc gia phê chuẩn, chiếm một tỷ lệ đáng kể trong hoạt động thương mại thế giới, làm cho công ước này trở thành một trong những pháp luật quốc
tế thống nhất thành công nhất
Trang 16Công ước Geneva 1930 là luật thống nhất về hối phiếu Tên tiếng anh viết tắt là ULB 1930 – Uniform Law of Bills of exchange- Geneve Convention 1930 Các nước châu Âu đều tham gia ULB 1930 ngoại trừ Anh Nhiều nước khác mặc dù không tham gia ULB 1930 nhưng vẫn xây dựng Luật hối phiếu của họ tương thích với ULB 1930
Luật hối phiếu của Anh 1882có tên viết tắt tiếng Anh là BEA – Bills of Exchange Act of 1882 BEA được áp dụng cho nước Anh và các nước thuộc địa Anh,
Công ước Liên Hợp Quốc về hối phiếu và kỳ phiếu (International Bill of Exchange & International Promisory note – United Nation convention 1980)
Công ước Geneva 1931 và Séc quốc tế (Geneva Convention for Check 1931) Các luật và công ước quốc tế về vận tải và bảo hiểm
Các hiệp định song phương và đa phương…
Các nguồn luật quốc gia được sử dụng
Các nguồn luật này bao gồm: Bộ luật dân sự, Luật thương mại, Luật ngoại hối, Luật các công cụ chuyển nhượng, Luật thanh toán quốc tế,…
Các thông lệ và tập quán quốc tế
Các thông lệ và tập quán quốc tế được sử dụng bao gồm:
Quy tắc và thực hành thông nhất về tín dụng chứng từ - The Uniform Customer& Practice for Documentary Credit – UCP do International Chamber of Commerce – ICC phát hành Ấn phẩm UCP 600 ngày 1/7/2007
Tập quán ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế - The International Standard Banking Practice – ISBP 681 2007
Quy tắc thống nhất về nhờ thu – Uniform Rules for bank-to-bank Reimburement under documentary credit, URR-ICC Pub No 525 1995/URR-ICC Pub No 575 01/10/2008
Các điều kiện thương mại quốc tế (International Commercial Term – INCOTERMS)
Nếu có mâu thuẫn giữa các nguồn Luật thì trình tự ưu tiên về tính pháp lý giảm dần của hệ thống văn bản pháp lý điều chỉnh hoạt động thanh toán quốc tế như sau: Các nguồn luật và công ước quốc tế, các nguồn luật quốc gia, thông lệ và tập quán quốc tế
1.1.4 Các công cụ thanh toán quốc tế chủ yếu
Thanh toán quốc tế diễn ra giữa các quốc gia với nhau nên công cụ thanh toán quốc tế cũng có những đặc trưng riêng Các công cụ thanh toán quốc tế chủ yêu bao gồm:
Trang 17a Ðịa điểm hối phiếu được kí phát;
b Ðịa điểm ghi bên cạnh chữ kí của người kí phát;
c Địa điểm ghi bên cạnh tên của người trả tiền;
d Ðịa điểm ghi bên cạnh tên của người hưởng lợi;
e Ðịa điểm trả tiền
Với điều kiện là hoặc địa điểm nơi hối phiếu được kí phát hoặc địa điểm trả tiền được ghi trên hối phiếu thuộc một Quốc gia thành viên
Theo Luật Hối phiếu của Anh: Hối phiếu là một mệnh lệnh vô điều kiênj của một người ký phát cho một người khác, yêu cầu người này khi nhìn thấy hối phiếu hoặc đến một ngày cụ thể nhất định, hoặc đến một ngày có thể xác định trong tương lai phải trả một số tiền nhất định cho một người nào đó hoặc theo lệnh của người này trả cho một người khác hoặc trả cho người cầm phiếu
phiếu đòi nợ là giấy tờ có giá do người ký phát lập, yêu cầu người bị ký phát thanh toán không có điều kiện một số tiền xác định khi có yêu cầu hoặc vào một thời điểm nhất định trong tương lai cho người thụ hưởng”.[8, Tr.23]
Như vậy, định nghĩa hối phiếu của Việt Nam đã kế thừa định nghĩa của Liên hợp quốc, và có những điều chỉnh để dễ hiểu và phù hợp với nước ta
Các bên tham gia
Người ký phát hối phiếu hay người phát hành (Drawer) thường là người bán, đại diện tổ chức xuất khẩu, cung ứng dịch vụ
Người bị ký phát hay người trả tiền hối phiếu (Drawee) có thể là người mua, ngân hàng mở L/C, ngân hàng thanh toán,…
Người chấp nhận (Acceptor) là người bị ký phát sau khi ký chấp nhận hối phiếu, thường là ngân hàng
Người thụ hưởng (Beneficiary) là người ký phát hối phiếu, tiếp theo là người do người ký phát hối phiếu chỉ định trên hối phiếu.Theo luật quản chế ngoại hối ở nước ta người thụ hưởng là các ngân hàng kinh doanh đối ngoại được ngân hàng Nhà nước cấp giấy phép
Trang 18Người chuyển nhượng hay người ký hậu (Endorser/Assigner) là người chuyển quyền chuyển nhượng hối phiếu cho người khác bằng cách trao tay hoặc ký hậu Bị ràng buộc trách nhiệm với những người ký hậu phía sau và người cầm phiếu Người chuyển nhượng đầu tiên chính là người ký phát hối phiếu
Người bảo lãnh (Avaliseur) là bất kỳ người nào ký tên vào hối phiếu, trừ người
ký phát và người bị ký phát, thường là ngân hàng có tín nhiệm cao
Đặc điểm của hối phiếu
Hối phiếu có tính trừu tượng: Hối phiếu được lập dựa trên cơ sở hoạt động thương mại giữa người mua và người bán, nhưng hối phiếu trở thành nghĩa vụ trả tiền độc lập Trên hối phiếu không cần phải ghi các nội dung quan hệ kinh tế
Tính bắt buộc trả tiền của hối phiếu là việc trả tiền của người bị ký phát là vô điều kiện, trừ khi hối phiếu ký phát sai luật Người ký phát là người chịu trách nhiệm cuối cùng trong việc thanh toán cho người thụ hưởng (nếu đã chuyển nhượng mà người
bị ký phát từ chối thanh toán/chấp nhận)
Tính lưu thông của hối phiếu do hối phiếu có các đặc tính trừu tượng, tính bắt buộc trả tiền Có thể dùng để thanh toán tiền mua hàng/trả nợ, chuyển nhượng, cầm cố, thế chấp vay vốn, chiết khấu và tái chiết khấu
1.1.4.2 Kỳ phiếu (Promissory Note)
Định nghĩa
cam kết trả tiền hộ vô điều kiện do người lập phiếu phát ra, hứa trả một số tiền nhất định cho người thụ hưởng quy định trên kỳ phiếu hoặc theo lệnh của người này để trả cho một người khác hoặc trả cho người cầm phiếu.” [8, Tr.24]
Đặc điểm
Kỳ phiếu thường được ngân hàng bảo lãnh thanh toán và chỉ lập một bản do chính người nợ phát ra để chuyển cho người hưởng lợi Do đó, kỳ phiếu ít được sử dụng hơn hối phiếu Kỳ hạn trả tiền được quy định rõ trên kỳ phiếu Một kỳ phiếu có thể do một hay nhiều người ký phát để cam kết thanh toán cho một hay nhiều người hưởng lợi
1.1.4.3 Séc (Check / Cheque)
Định nghĩa
Theo công ước Geneva 1931, “Séc là một tờ mệnh lệnh vô điều kiện do một người (chủ tài khoản tiền gửi) ký phát, ra lệnh cho ngân hàng trích từ tài khoản của
Trang 19Séc ra đời từ chức năng làm phương tiện thanh toán của tiền tệ và được sử dụng rộng rãi trong các nước có hệ thống Ngân hàng phát triển cao Hiện nay séc là phương tiện chi trả được dùng hầu như phổ biến trong giao dịch thanh toán nội địa của tất cả các nước Séc cũng được sử dụng rộng rãi trong TTQT và các chi trả phi mậu dịch khác
Các bên tham gia
Người phát hành séc hay người ký phát (Drawer): là người có tài khoản phát
hành séc ở ngân hàng (là người chủ tài khoản tiền gửi tại ngân hàng) Thường thì người
ký phát séc là người mua hàng, phát hành séc để trả nợ
Ngân hàng thanh toán hay người trả tiền (Drawee): là người trích trả tiền tờ séc
từ tài khoản của người phát hành séc để trả cho người khác
Người thụ hưởng (Beneficiary):là người nhận tiền từ tờ séc do người ký phát chỉ định đích danh hay thông qua thủ tục chuyển nhượng
Đặc điểm và phân loại
Séc đích danh (Nominal cheque) là loại séc ghi rõ tên người hưởng lợi trên tờ séc
Séc vô danh (Bearer cheque) là loại séc không ghi rõ tên người thụ hưởng, chỉ ghi câu “trả cho người cầm séc” (Pay to the bearer) Đối với loại séc này có thể chuyển qua tay nhiều người, ai là người cầm séc, người đó có thể mang séc đến ngân hàng lĩnh tiền
Séc theo lệnh (Order cheque) là loại séc được dùng phổ biến trong thanh toán quốc tế và là loại séc ghi trả theo lệnh của người hưởng lợi trên tờ séc Trên séc có ghi câu “trả theo lệnh của ông (bà)…” Loại séc này có thể chuyển nhượng cho người khác bằng thủ tục ký hậu giống như hối phiếu Trong thời hạn hiệu lực, séc theo lệnh có thể chuyển nhượng cho nhiều người liên tiếp bằng cách ký hậu
Séc gạch chéo (Crossed check) là loại séc mà trên mặt trước có 2 gạch chéo song song với nhau Mục đích của gạch chéo là để không rút được tiền mặt, dùng để chuyển khoản qua ngân hàng
Trang 20Séc du lịch (Traveller’s cheque) là loại séc do ngân hàng phát hành và được trả tiền tại bất cứ chi nhánh hay đại lý của ngân hàng đó ở trong hay ngoài nước Ngân hàng phát hành séc đồng thời là người trả tiền Người hưởng lợi séc du lịch là người có tiền gửi vào ngân hàng phát hành séc
Séc xác nhận (certified cheque) còn gọi là séc bảo chi, là loại séc được ngân hàng đứng ra xác nhận việc trả tiền Mục đích của việc xác nhận là nhằm đảm bảo khả năng chi trả của tờ séc và ngăn chặn tình trạng phát hành séc quá số dư trên tài khoản
1.1.4.4 Thẻ ngân hàng
Định nghĩa
Quyết định số 96/2014/NĐ-CP về việc ban hành, sử dụng và thanh toán thẻ
ngân hàng đã đưa ra định nghĩa: “Thẻ ngân hàng là phương tiện do tổ chức phát hành thẻ phát hành để thực hiện giao dịch thẻ theo các điều kiện và điều khoản được các bên thoả thuận.”
Tổ chức phát hành thẻ thường bao gồm nhiều đơn vị như là các trung gian tài chính, các trung tâm thanh toán bù trừ, các tập đoàn thương mại, du lịch,…Tuy nhiên, Ngân hàng là tổ chức phát hành thẻ chủ yếu trong nền kinh tế quốc dân, cho nên, người
ta thường gọi loại thẻ này là thẻ Ngân hàng
Các bên tham gia: gồm có chủ thẻ, ngân hàng phát hành thẻ, tổ chức chấp nhận
thẻ, ngân hàng thanh toán, đơn vị chấp nhận thẻ
Phân loại
- Thẻ nội địa là thẻ được tổ chức phát hành thẻ tại Việt Nam phát hành để giao dịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam Thẻ nội địa có thể được sử dụng để giao dịch tại nước ngoài thông qua kết nối của tổ chức chuyển mạch thẻ tại Việt Nam với tổ chức chuyển mạch thẻ tại nước ngoài
- Thẻ quốc tế là thẻ được tổ chức phát hành thẻ ở nước ngoài phát hành và giao dịch trong lãnh thổ Việt Nam hoặc tổ chức phát hành thẻ tại Việt Nam liên kết với tổ chức thẻ quốc tế phát hành để giao dịch trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam
- Thẻ ghi nợ (debit card) là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi số tiền và hạn mức thấu chi (nếu có) trên tài khoản thanh toán của chủ thẻ được mở tại tổ chức phát hành thẻ
- Thẻ tín dụng (credit card) là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi hạn mức tín dụng đã được cấp theo thoả thuận với tổ chức phát hành thẻ
Trang 219
- Thẻ trả trước (prepaid card) là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi giá trị tiền được nạp vào thẻ tương ứng với số tiền đã trả trước cho tổ chức phát hành thẻ
Thẻ trả trước bao gồm: Thẻ trả trước định danh (đã xác định các thông tin định danh chủ thẻ) và thẻ trả trước vô danh (chưa xác định các thông tin định danh chủ thẻ)
1.1.5 Các phương thức thanh toán quốc tế chủ yếu
Mỗi phương thức thanh toán đều mang lại ưu và nhược điểm riêng, mang đến những quyền lợi cũng như rủi ro cho cả nhà nhập khẩu và xuất khẩu Vì vậy, các bên liên quan phải có sự thỏa thuận trước để quyết định phương thức thanh toán hợp lý để hạn chế được rủi ro
1.1.5.1 Phương thức chuyển tiền
Định nghĩa
PGS TS Trần Hoàng Ngân và TS Nguyễn Minh Kiều trong sách Thanh toán quốc tế đã đưa ra định nghĩa: Phương thức chuyển tiền là phương thức trong đó khách hàng (người chuyển tiền) yêu cầu Ngân hàng của mình chuyển một số tiền nhất định cho một người khác (người hưởng lợi) ở một địa điểm nhất định bằng phương tiện chuyển tiền cho khách hàng theo yêu cầu [3, Tr.29]
Trong phương thức này, người chuyển tiền và người nhận tiền thanh toán trực tiếp với nhau, ngân hàng chỉ đóng vai trung gian thanh toán theo ủy nhiệm và hưởng phí dịch vụ, vì thế ít chịu rủi ro; trừ khi ngân hàng cấp tín dụng cho người có hợp đồng thanh toán Thanh toán bằng phương thức này chủ yếu áp dụng trong trường hợp hai bên mua bán có uy tín và tin tưởng lẫn nhau
Phương tiện chuyển tiền: Có hai phương tiện chuyển tiền là
Chuyển tiền bằng thư (Mail Transfer – M/T): là hình thức chuyển tiền mà lệnh
thanh toán của ngân hàng chuyển tiền được chuyển bằng thư cho ngân hàng trả tiền
Hình thức chuyển tiền này có mức phí rẻ nhưng mất nhiều thời gian Thường bên nhà nhập khẩu sẽ phải trả phí cho ngân hàng
Chuyển tiền bằng điện (telegraphic Transfer – T/T): là hình thức chuyển tiền mà
trong đó lệnh thanh toán của ngân hàng chuyển tiền được thể hiện trong nội dung một bức điện tín gửi cho ngân hàng trả tiền Phương tiện này chi phí cao nhưng tốc độ xử
lý nhanh, có lợi cho nhà xuất khẩu
Có hai dạng điện là Telex và SWIFT (Society for Worldwide Interbank Financial Tecomminucation) Bây giờ người ta chủ yếu chuyển tiền thông qua mạng
Trang 22SWIFT do ưu điểm là chuyển thông tin thanh toán với giá thành thấp, an toàn, không
sử dụng chứng từ và thông tin được truyền trực tiếp từ ngân hàng đến ngân hàng
Các bên tham gia
Người yêu cầu chuyển tiền (Remitter) là người yêu cầu ngân hàng thay mình thực hiện chuyển tiền ra nước ngoài Họ thường là người nhập khẩu, người mua, người mắc nợ, nhà đầu tư…
Người thụ hưởng (Beneficicary) là người nhận được số tiền chuyển tới thông qua ngân hàng Họ thường là người xuất khẩu, người bán, chủ nợ, người nhận vốn đầu tư…
Ngân hàng chuyển tiền (Remitting bank) là ngân hàng phục vụ người chuyển tiền Ngân hàng trả tiền (Paying bank) là ngân hàng trực tiếp trả tiền cho người thụ hưởng
Việc xác định các bên tham gia giúp xác định vị trí, vai trò của họ trong quy trình, còn đối với Ngân hàng, giúp Ngân hàng thực hiện nghiệp vụ một cách dễ dàng hơn
Quy trình thực hiện nghiệp vụ trong phương thức nàynhư sau:
Trong thực tế, chuyển tiền có thể thực hiện theo một trong hai hình thức: chuyển tiền trả sau và chuyển tiền trả trước
Chuyển tiền trả sau là hình thức chuyển tiền trả cho người thụ hưởng sau khi
nhận hàng
Chuyển tiền trả trước là hình thức chuyển tiền tương tự như chuyển tiền trả sau chỉ khác ở chỗ người chuyển tiền lập lệnh chuyển tiền trước và, do đó người thụ hưởng nhận tiền trước khi giao hàng
Sơ đồ 1.1 Quy trình nghiệp vụ của phương thức chuyển tiền
(5) (3)
(2)
(4)
(1)
Trang 23Bước 3: Sau khi kiểm tra chứng từ và các điều kiện chuyển tiền, nếu thấy hợp lệ
và đủ khả năng thanh toán, ngân hàng thực hiện trích tài khoản để chuyển tiền và gửi giấy báo nợ cho nhà nhập khẩu
Bước 4: Ngân hàng chuyển tiền ra lệnh (bằng M/T hay T/T theo yêu cầu của người chuyển tiền) cho ngân hàng đại lý (ngân hàng trả tiền) để chuyển cho người hưởng thụ
Bước 5: Ngân hàng trả tiền ghi Có vào tài khoản của người hưởng thụ, đồng thời gửi giấy báo Có cho người hưởng lợi
Các bên tham gia:
Ngân hàng nhờ thu (Principal) là người yêu cầu ngân hàng nhờ thu, thông thường là người xuất khẩu, người bán, chủ nợ, người nhận vốn đầu tư…
Ngân hàng chuyển chứng từ (Remitting Bank) là ngân hàng nhận ủy thác của người xuất khẩu
Ngân hàng nhờ thu (Collecting / Presenting Bank) là ngân hàng đại lý của ngân hàng chuyển chứng từ và ở nước người nhập khẩu
Người trả tiền (Drawee) là người nhập khẩu, người mua, người mắc nợ, nhà đầu tư,…
Phân loại: Theo loại hình người ta có thể chia thành nhờ thu trơn và nhờ thu kèm chứng từ
Nhờ thu trơn (Clean Collection) là phương thức thanh toán trong đó người có
các khoản tiền phải thu từ các công cụ thanh toán nhưng không thể tự mình thu được
Trang 24nên phải uỷ thác cho ngân hàng thu hộ tiền trên công cụ thanh toán đó không kèm với điều kiện chuyển giao chứng từ Nhờ thu trơn là nhờ thu các chứng từ tài chính mà không kèm theo chứng từ thương mại
Các công cụ thanh toán thông thường của phương thức thanh toán nhờ thu trơn
là hối phiếu thương mại, kỳ phiếu thương mại, séc, hóa đơn thu tiền
Phương thức nhờ thu phiếu trơn chỉ áp dụng trong các trường hợp người bán và người mua tin cậy lẫn nhau hoặc là có quan hệ liên doanh với nhau giữa công ty mẹ, công ty con hoặc chi nhánh của nhau Hoặc trong trường hợp thanh toán về các dịch vụ
có liên quan tới xuất khẩu hàng hoá
Trong phương thức này, rủi ro chủ yếu thuộc về người bán vì việc thanh toán phần lớn dựa trên chứng từ tài chính Người bán có thể gặp rủi ro như người mua không chịu thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ, chậm trễ… Người mua cũng có thể gặp rủi ro nếu hối phiếu đến sớm hơn chứng từ, người mua sẽ phải thanh toán tiền trong khi không biết được người bán có làm đúng hợp đồng hay không
Phương thức nhờ thu phiếu trơn có chi phí thấp nhưng rủi ro lớn nên ít được sử dụng
Nhờ thu kèm chứng từ (Documentary Collection) là phương thức thanh toán
trong đó người không thể tự mình thu được các khoản tiền phải thu ghi trên các công
cụ thanh toán của mình Do đó, người này sẽ ủy thác cho ngân hàng thu hộ tiền trên công cụ thanh toán đó với điều kiện sẽ chuyển giao chứng từ nếu người bị ký phát thanh toán, hoặc chấp nhận thanh toán hoặc thực hiện các điều kiện khác đã quy định Nhờ thu kèm chứng từ là nhờ thu chứng từ thương mại kèm hoặc không kèm theo chứng từ tài chính
Phương thức nhờ thu kèm chứng từ có mức độ rủi ro ít hơn so với phương thức nhờ thu phiếu trơn Trường hợp này người bán có thể khống chế quyền định đoạt hàng hóa đối với người mua Nhưng người bán chưa thể khống chế được việc trả tiền của người mua bởi ngân hàng tham gia vào quá trình nhờ thu nhưng lại không có cam kết hay đảm bảo về việc thanh toán cũng như thực hiện của người mua và người bán Trong ngoại thương, nhờ thu chủ yếu sử dụng khi các bên có mối quan hệ lâu dài và bền vững
Các hình thức nhờ thu kèm chứng từ gồm 3 loại:
- D/A (Documents against Acceptance) là chứng từ đổi chấp nhận
- D/P (Documents against Payment) là chứng từ đổi thanh toán
Trang 25Quy trình thực hiện nghiệp vụ nhờ thu trơn phải trải qua các bước sau:
Bước 1: Ký kết hợp đồng mua bán, trong đó điều khoản thanh toán quy định áp dụng phương thức “ Nhờ thu phiếu trơn”
Bước 2: Người ủy thác gửi hàng hóa và bộ chứng từ thương mại trực tiếp cho người trả tiền
Bước 3: Nhà xuất khẩu gửi đơn yêu cầu nhờ thu cùng chứng từ tài chính cho ngân hàng nhờ thu để thu tiền từ nhà nhập khẩu
Bước 4: Ngân hàng nhờ thu lập và gửi lệnh nhờ thu cùng chứng từ tài chính tới ngân hàng thu hộ để thu tiền từ nhà nhập khẩu
Bước 5: Ngân hàng thu hộ thông báo lệnh nhờ thu để nhà nhập khẩu trả tiền ngay hoặc ký chấp nhận hối phiếu hoặc chấp nhận các điều kiện và các điều khoản khác
Bước 6: Nhà nhập khẩu trả tiền ngay, hoặc chấp nhận trả tiền
Bước 7: Ngân hàng thu hộ chuyển tiền nhờ thu hoặc hối phiếu kỳ hạn đã chấp nhận cho ngân hàng nhờ thu
Bước 8: Ngân hàng nhờ thu chuyển tiền nhờ thu, hoặc hối phiếu kỳ hạn đã chấp nhận cho nhà xuất khẩu
Trang 26Sơ đồ 1.3 Quy trình nghiệp vụ của phương phức nhờ thu kèm chứng từ
(4) (1) (4) (4) (3)
Bước 2: Nhà xuất khẩu gửi hàng hóa cho nhà nhập khẩu
Bước 3: Nhà xuất khẩu lập đơn yêu cầu nhờ thu gửi cùng chứng từ (bao gồm chứng từ thương mại cùng chứng từ tài chính, nếu có) tới ngân hàng nhờ thu
Bước 4: Ngân hàng nhờ thu lập lệnh nhờ thu và gửi cùng bộ chứng từ cho nhà nhập khẩu
Bước 5: Ngân hàng thu hộ thông báo lệnh nhờ thu và xuất trình bộ chứng từ cho nhà nhập khẩu
Bước 6: Nhà nhập khẩu chấp hành lệnh nhờ thu bằng cách thanh toán ngay hoặc chấp nhận hối phiếu hoặc ký phát hành kỳ phiếu hoặc giấy nhận nợ
Bước 7: Ngân hàng thu hộ trao bộ chứng từ thương mại cho nhà nhập khẩu
Bước 8: Ngân hàng thu hộ chuyển tiền nhờ thu, hoặc hối phiếu chấp nhận, hoặc
kỳ phiếu hay giấy nhận nợ cho ngân hàng nhờ thu
1.1.5.3 Phương thức thanh toán bằng thư tín dụng (Letter of Credit – L/C)
Một phương thức TTQT được sử dụng khá phổ biến nữa là thanh toán bằng thư tín dụng
Định nghĩa
Có nhiều định nghĩa về tín dụng chứng từ, nhưng định nghĩa được sử dụng rộng rãi nhất là của UCP600
Trang 2715
Theo điều 2 - UCP600: “Tín dụng chứng từ là một sự thoả thuận bất kỳ, cho dù được mô tả hoặc gọi tên như thế nào, thể hiện một cam kết chắc chắn và không huỷ ngang của ngân hàng phát hành về việc thanh toán khi xuất trình phù hợp”.[6, Tr.12]
Phương thức tín dụng chưng từ có thể hiểu là một thỏa thuận của ngân hàng phát hành thư tín dụng và khách hàng, cam kết chắc chắn thanh toán một số tiền nhất định cho một người khác hoặc chấp nhận hối phiếu do người này ký phát khi người này xuất trình cho ngân hàng bộ chứng từ thanh toán phù hợp theo quy định của thư tín dụng
Các bên tham gia vào quá trình thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ
gồm 4 bên:
Người yêu cầu mở L/C (Applicant) là người mua, người nhập khẩu hoặc là người mua uỷ thác cho một người khác
Người hưởng lợi (Beneficiary) là người bán, người xuất khẩu
Ngân hàng phát hành (Issuing Bank) là ngân hàng mở L/C, là ngân hàng phục
- Ngân hàng được chỉ định ( Nominated Bank): là ngân hàng mà ở đó L/C có giá trị thanh toán hoặc chiết khấu hoặc chấp nhận thanh toán
- Ngân hàng xác nhận ( Confirming Bank): là ngân hàng cam kết thanh toán cho nhà xuất khẩu thay cho ngân hàng phát hành L/C, áp dụng khi người thụ hưởng không tin tưởng khả năng thanh toán của ngân hàng phát hành L/C
-Ngân hàng hoàn trả ( Reimbursing Bank): là ngân hàng được ngân hàng phát hành ủy nhiệm thực hiện thanh toán L/C cho ngân hàng được chỉ đinh thanh toán hoặc chiết khấu, áp dụng khi ngân hàng phát hành và ngân hàng được chỉ định thanh toán không có quan hệ tài khoản
Phân loại: Trong thực tế có một số loại thư tín dụng chủ yếu sau:
Thư tín dụng có thể huỷ ngang (Revocable L/C) là thư tín dụng mà sau khi được
mở thì người nhập khẩu có thể yêu cầu ngân hàng sửa đổi, bổ sung hoặc huỷ bỏ bất cứ lúc nào mà không cần có sự đồng ý của người hưởng lợi L/C
Trang 28Thư tín dụng không thể huỷ ngang (Irrevocable L/C) là loại thư tín dụng mà sau
khi được mở thì người yêu cầu mở L/C sẽ không được tự ý sửa đổi, bổ sung hay huỷ
bỏ những nội dung của nó nếu không được sự đồng ý của người thụ hưởng L/C
Thư tín dụng không thể huỷ ngang có xác nhận (Confirmed Irrevocable L/C) là
L/C không thể huỷ bỏ, theo yêu cầu của Ngân hàng phát hành, một ngân hàng khác xác nhận trả tiền cho L/C này
Thư tín dụng không thể huỷ ngang có thể chuyển nhượng (Transferable L/C) là
L/C không huỷ ngang, theo đó người hưởng lợi thứ nhất chuyển nhượng một phần hay toàn bộ nghĩa vụ thực hiện L/C cũng như quyền đòi tiền mà mình có được cho những người hưởng lợi thứ hai, mỗi người hưởng lợi thứ hai nhận cho mình một phần của thương vụ
Thư tín dụng giáp lưng (Back to back L/C): Sau khi nhận được l/C do người
nhập khẩu mở cho mình hưởng, nhà xuất khẩu căn cứ vào nội dung L/C này và dùng chính L/C này để thế chấp mở một L/C khác cho người khác hưởng với nội dung gần giống như L/C ban đầu
Thư tín dụng đối ứng (Reciprocal L/C) là L/C chỉ bắt đầu có hiệu lực khi L/C
kia đối ứng với nó được mở
Thư tín dụng tuần hoàn (Revolving L/C) là L/C không thể huỷ ngang mà sau khi
đã sử dụng hết giá trị hoặc đã hết thời hạn hiệu lực thì nó lại (tự động) có giá trị như cũ
và vẫn tiếp tục được sử dụng một cách tuần hoàn trong một thời hạn nhất định cho đến khi tổng giá trị hợp đồng được thực hiện
Thư tín dụng điều khoản đỏ (Red Clause L/C) là L/C mà ngân hàng phát hành
cho phép ngân hàng thông báo ứng trước cho người thụ hưởng để mua hàng hoá, nguyên liệu phục vụ sản xuất hàng hoá theo L/C đã mở
Thư tín dụng dự phòng (Standby L/C): Để bảo vệ quyền lợi của nhà nhập khẩu
trong trường hợp nhà xuất khẩu đã nhận được L/C, tiền đặt cọc và tiến ứng trước, nhưng không có khả năng giao hàng, hoặc không hoàn thành nghĩa vụ giao hàng như
đã quy định trong L/C, đòi hỏi ngân hàng phục vụ nhà xuất khẩu phát hành một L/C trong đó cam kết với người nhập khẩu là sẽ hoàn trả lại số tiền đã đặt cọc, tiền ứng trước và chi phí mở L/C cho nhà nhập khẩu
Cách phân loại này giúp người yêu cầu mở L/C có nhiều sự lựa chọn, phù hợp với mục đích và điều kiện của mình
Trang 2917
Quy trình nghiệp vụ
Sơ đồ 1.4 Quy trình nghiệp vụ của phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
tại Ngân hàng thanh toán
(Nguồn: [2, Tr.356])
Trước hết, người xuất khẩu và người nhập khẩu phải ký kết hợp đồng ngoại thương Trong đó, lựa chọn điều khoản thanh toán tín dụng chứng từ Trình tự thanh toán sẽ diễn ra như sau:
Bước 1: Hai bên mua bán ký kết hợp đồng ngoại thương với điều khoản thanh toán theo phương thức L/C
Bước 2: Căn cứ các điều khoản và điều kiện của hợp đồng ngoại thương, nhà nhập khẩu làm đơn gửi đến ngân hàng phục vụ mình, yêu cầu ngân hàng phát hành một L/C cho nhà xuất khẩu hưởng
Bước 3: Căn cứ vào đơn mở L/C, nếu đồng ý, Ngân hàng phát hành lập L/C và thông qua ngân hàng đại lý hoặc chi nhánh của mình ở nước nhà xuất khẩu để thông báo L/C cho nhà xuất khẩu
Bước 4: Khi nhận được L/C, Ngân hàng thông báo kiểm tra, nếu L/C là thật thì thông báo L/C cho nhà xuất khẩu, nếu không thật thì trả lại cho Ngân hàng phát hành
Bước 5: Nhà xuất khẩu kiểm tra L/C, nếu phù hợp với hợp đồng đã ký thì tiến hành giao hàng, nếu không phù hợp thì đề nghị sửa đổi, bổ sung L/C cho phù hợp với hợp đồng ngoại thương
Ngân hàng Phát hành
Ngân hàng Thông báo
(4) (2)
(6’)
Trang 30Bước 6 và 6’: Sau khi giao hàng, nhà xuất khẩu lập bộ chứng từ theo yêu cầu
của L/C và xuất trình cho Ngân hàng phát hành để được thanh toán
Bước 7: Ngân hàng phát hành sau khi kiểm tra chứng từ, nếu thấy xuất trình
phù hợp thì tiến hành thanh toán; nếu thấy không phù hợp thì từ chối thanh toán và gửi
trả lại nguyên vẹn bộ chứng từ cho nhà xuất khẩu
Bước 8: Nhà nhập khẩu hoàn trả tiền cho Ngân hàng phát hành
Bước 9: Ngân hàng phát hành trao bộ chứng từ cho nhà nhập khẩu
Sơ đồ 1.5 Quy trình nghiệp vụ của phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
tại Ngân hàng phát hành
Bước 1: người nhập khẩu làm đơn xin mở thư tín dụng gửi đến ngân hàng của
mình yêu cầu mở một thư tín dụng cho người xuất khẩu hưởng
Bước 2: Căn cứ vào đơn xin m ở thư tín dụng, ngân hàng mở thư tín dụng sẽ lập
một thư tín dụng và thông qua ngân hàng đại lý của mình ở nước người xuất khẩu
thông báo việc mở thư tín dụng và chuyển thư tín dụng đến người xuất khẩu
Bước 3: Khi nhận được thông báo này, ngân hàng thông báo sẽ thông báo cho
người xuất khẩu toàn bộ nội dung thông báo về việc mở thư tín dụng đó, khi nhận được
bản gốc thư tín dụng thì chuyển ngay cho người xuất khẩu
Bước 4: Người xuất khẩu nếu chấp nhận thư tín dụng thì tiến hành giao hàng,
nếu không đề nghị ngân hàng mở L/C sửa đổi, bổ sung thư tín dụng cho phù hợp với
hợp đồng
Bước 5: Sau khi giao hàng, người xuất khẩu lập bộ chứng từ theo yêu cầu của
thư tín dụng xuất trình thông qua ngân hàng thông báo cho ngân hàng mở thư tín dụng
xin thanh toán
Trang 3119
Bước 6: Ngân hàng m ở thư tín dụng kiểm tra bộ chứng từ, nếu thấy phù hợp với thư tín dụng thì tiến hành trả tiền cho người xuất khẩu Nếu thấy không phù hợp, ngân hàng từ chối thanh toán và gửi trả lại toàn bộ chứng từ cho người xuất khẩu
Bước 7: Ngân hàng mở thư tín dụng đòi tiền người nhập khẩu và chuyển bộ chứng từ cho người nhập khẩu sau khi nhận được tiền hoặc chấp nhận thanh toán
Bước 8: Người nhập khẩu kiểm tra chứng từ, nếu thấy ph ù hợp với thư tín dụng thì hoàn trả tiền lại cho ngân hàng mở thư tín dụng, nếu không thì có quyền từ chối trả tiền
1.1.6 Rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế
Trong quá trình hoạt động, TTQT không chỉ đơn thuần mang lại những lợi ích kinh tế mà còn phát sinh những nguy cơ có thể gây ra rủi ro Rủi ro trong hoạt động TTQT của NHTM là vấn đề xảy ra ngoài ý muốn trong quá trình tiến hành hoạt động TTQT và ảnh hưởng xấu đến hoạt động kinh doanh của NHTM Trong quá trình tiến hành hoạt động TTQT, rủi ro xảy ra khi quyền lợi của một bên tham gia bị vi phạm Rủi ro phát sinh từ bất kỳ bên tham gia nào đều gây tổn thất trực tiếp cho cho doanh nghiệp, cho NHTM, cho đất nước
Các loại rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế bao gồm:
Thứ nhất là rủi ro hối đoái Đây là những rủi ro liên quan đến tỷ giá hối đoái Tỷ
giá là đơn vị đo lường giá trị đồng tiền này với giá trị đồng tiền khác Trong hoạt động TTQT thường sử dụng đồng tiền ngoại tệ mạnh để đo lường giá trị của hàng hóa Rủi
ro hối đoái xảy ra khi có sự biến động tỷ giá hối đoái giữa đồng tiền tính toán và đồng tiền thanh toán
Thứ hai là rủi ro về tác nghiệp Đây là những rủi ro trong quá trình thực hiện
nghiệp vụ Trong hoạt động TTQT theo phương thức tín dụng chứng từ, rủi ro phần lớn
từ trình độ của cán bộ nhân viên Ngoài ra, rủi ro tác nghiệp còn xuất phát từ chính các bên tham gia gây nên; rủi ro này được thể hiện trong việc lập hồ sơ chứng từ không hoàn hảo, không đáp ứng đủ các điều khoản và các điều kiện của L/C hoặc không hành động đúng theo UCP 600 và các thông lệ, tập quán quốc tế khác
Thứ ba là rủi ro tín dụng Đây là rủi ro xảy ra khi ngân hàng không thu hồi được
các khoản tín dụng đã cấp cho các bên tham gia khi đến hạn Đặc biệt đối với phương thức tín dụng chứng từ, rủi ro tín dụng đến từ các hoạt động: mở L/C theo yêu cầu nhà nhập khẩu, cho nhà nhập khẩu vay để thanh toán L/C, chiết khấu bộ chứng từ xuất khẩu theo L/C,…
Trang 32Thứ tư là rủi ro thanh khoản Đây là những thiệt hại ngân hàng phải gánh chịu
khi không có đủ tiền để đáp ứng yêu cầu của khách hàng Đối với những quốc gia mà đồng tiền yếu sẽ phải sự trữ một lượng lớn ngoại tệ mạnh Đôi khi ngân hàng không dự trữ đủ lượng ngoại tệ lớn để đáp ứng nhu cầu nhà nhập khẩu gây ra sự chậm trễ làm giảm uy tín của ngân hàng
Như vậy, TTQT không chỉ mang lại lợi ích mà còn tồn tại rất nhiều rủi ro Các ngân hàng trong quá trình cung cấp dịch vụ thanh toán quốc tế cần quan tâm đúng mức đến các biện pháp phòng ngừa rủi ro, hạn chế thiệt hại ở mức thấp nhất
1.2 MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.2.1 Sự cần thiết phải mở rộng hoạt động thanh toán quốc tế trong kinh doanh của ngân hàng thương mại
Mở rộng hoạt động TTQT thực chất chính là mở rộng thị phần TTQT và số lượng cũng như chất lượng sản phẩm dịch vụ TTQT mà ngân hàng cung ứng
Sự cần thiết phải mở rộng hoạt động TTQT xuất phát từ vai trò quan trọng của TTQT đối với ngân hàng và đối với nền kinh tế
1.2.1.1 Đối với ngân hàng
Đối với hoạt động của ngân hàng, việc hoàn thiện và mở rộng hoạt động TTQT
có vị trí quan trọng TTQT là hoạt động không thể thiếu trong hoạt động kinh doanh đối ngoại của NHTM
Trước hết, TTQT giúp ngân hàng thu hút thêm được khách hàng có nhu cầu giao dịch quốc tế, mở rộng quan hệ quốc tế Trên cơ sở đó, ngân hàng phát triển thêm quy mô, tăng thêm nguồn thu nhập, tăng khả năng cạnh tranh trong nền cơ chế thị trường mở
Thứ hai, thông qua mở rộng TTQT, ngân hàng có thể đẩy mạnh hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu cũng như tăng được nguồn vốn huy động tạm thời do quản lý được nguồn vốn nhàn rỗi của các tổ chức, cá nhân có quan hệ TTQT qua ngân hàng
Thứ ba, TTQT giúp ngân hàng thu được một nguồn ngoại tệ lớn từ đó ngân hàng có thể phát triển nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối, bảo lãnh và nghiệp vụ ngân hàng quốc tế khác
Thứ tư, hoạt động TTQT giúp ngân hàng tăng tính thanh khoản thông qua lượng tiền ký quỹ.Mức ký quỹ phụ thuộc vào độ tin cậy, an toàn của từng khách hàng cụ thể Song xét về tổng thể thì các khoản ký quỹ này phát sinh một cách thường xuyên và ổn định Vì vậy trong thời gian chờ đợi thanh toán, ngân hàng có thể sử dụng các khoản
Trang 331.2.1.2 Đối với khách hàng
Vai trò trung gian thanh toán trong hoạt động TTQT của các NHTM giúp quá trình thanh toán theo yêu cầu của khách hàng được tiến hành nhanh chóng, chính xác,
an toàn, tiện lợi và tiết kiệm tối đa chi phí Do đó, hoạt động TTQT đối với khách hàng
là vô cùng quan trọng Trong quá trình thực hiện thanh toán, nếu khách hàng không có
đủ khả năng tài chính cần đến sự tài trợ của ngân hàng thì ngân hàng sẽ chiết khấu bộ chứng từ Qua việc thực hiện thanh toán, ngân hàng còn có thể giám sát được tình hình kinh doanh của doanh nghiệp để có những tư vấn cho khách hàng và điều chỉnh chiến
lược khách hàng
1.2.1.3 Đối với nền kinh tế
Trong xu hướng toàn cầu hóa hiện nay, các quốc gia đã và đang tăng cường mở rộng thị trường, hợp tác và hội nhập Hoạt động TTQT là cầu nối giữa người nhập khẩu
và người xuất khẩu góp phần tăng cường hoạt động xuất nhập khẩu và đầu tư quốc tế Khi hoạt động TTQT phát triển, các ngân hàng liên kết với nhau tạo nên mạng lưới TTQT sâu rộng Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động luân chuyển vốn và lợi nhuận giữa các quốc gia, từ đó thúc đẩy hoạt động đầu tư quốc tế
Ngoài việc tăng cường xuất nhập khẩu và đầu tư quốc tế thì hoạt động TTQT còn tạo điều kiện cho các ngành thương mại dịch vụ quốc tế phát triển, thu hút kiều hối
và thúc đẩy thị trường tài chính hội nhập quốc tế.Về phương diện quản lý của Nhà nước, TTQT giúp tập trung và quản lý nguồn ngoại tệ trong nước và sử dụng ngoại tệ một cách hiệu quả, tạo điều kiện thực hiện tốt cơ chế quản lý ngoại hối của nhà nước, quản lý hiệu quả các hoạt động xuất nhập khẩu theo chính sách ngoại thương đã đề ra
Như vậy hoạt động TTQT của các NHTM trong thương mại quốc tê nói riêng và kinh tế đối ngoại nói chung có một vị trí hết sức quan trọng, việc mở rộng TTQT là yêu cầu cấp thiết và có ý nghĩa to lớn
Trang 341.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá sự mở rộng của hoạt động thanh toán quốc tế
Để đánh giá hiệu quả hoạt động TTQT của NHTM một cách đầy đủ và chính xác, ta không chỉ xem xét tính hiệu quả ở góc độ riêng Ngân hàng mà phải xem xét cả
về góc độ kinh tế và xã hội
Doanh số thực hiện hoạt động TTQT
Doanh số TTQT là tổng giá trị các khoản thanh toán quốc tế
Doanh số TTQT = Doanh số thanh toán nhập khẩu + Doanh số thanh toán xuất khẩu
Doanh thu thực hiện hoạt động TTQT
Doanh thu từ hoạt động TTQT là số tiền thực tế ngân hàng thu được từ hoạt động TTQT, bằng tổng phí thu được Doanh thu từ hoạt động TTQT càng cao tương ứng với số lượng khách hàng đến với ngân hàng càng nhiều, ngân hàng càng khẳng định được vị thế của mình
Số món TTQT qua ngân hàng
Một trong những mục tiêu của ngân hàng là có được doanh số thanh toán quốc
tế ngày càng cao.Vì vậy, ngân hàng cần tăng được số món thanh toán quốc tế qua ngân hàng và giá trị món thanh toán cao Số món thanh toán qua ngân hàng tăng phản ánh khách hàng ngày càng tin tưởng vào ngân hàng, và tìm đến với ngân hàng nhiều hơn
Số lượng khách hàng sử dụng dịch vụ thanh toán quốc tế
Để kinh doanh hoạt động TTQT có hiệu quả thì các NHTM phải tăng doanh thu, thị phần cho ngân hàng mình Làm được điều đó thì ngân hàng cần phải tăng số lượng khách hàng đến giao dịch Trong hoạt động TTQT, số lượng khách hàng sử dụng dịch
vụ càng lớn càng khẳng định được chất lượng dịch vụ, sự uy tín của NHTM Do đó, gia tăng số lượng khách hàng TTQT là sự cần thiết để mở rộng hoạt động TTQT của NHTM
Trang 3523
Số lượng sản phẩm tài trợ xuất khẩu và nhập khẩu
Cho vay tài trợ xuất nhập khẩu của NHTM là hình thức cho vay nhằm tài trợ cho hoạt động ngoại thương, kỳ hạn gắn liền với thời gian thực hiện hợp đồng kinh tế, đối tượng tài trợ là các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trực tiếp hoặc ủy thác Tiêu chí này được đánh giá thông qua số lượng sản phẩm và doanh số tài trợ xuất khẩu, nhập khẩu
Doanh số cho vay nhập khẩu, cho vay xuất khẩu
Doanh số cho vay tài trợ xuất nhập khẩu của một ngân hàng chính là tổng giá trị của tất cả những khoản cho vay với mục đích tài trợ xuất nhập khẩu của ngân hàng đó trong một kỳ kinh doanh Đây là một chỉ tiêu định lượng, và thông thường, chỉ tiêu này càng lớn càng tốt Doanh số cho vay thể hiện được quy mô và uy tín của ngân hàng Chỉ tiêu này càng lớn càng thể hiện quy mô vốn của ngân hàng lớn, và thêm nữa còn thể được uy tín của ngân hàng đó Bởi vì, một ngân hàng có uy tín cao, chất lượng dịch
vụ tốt thì mới thu hút được nhiều khách hàng với nhiều hợp đồng lớn, do đó doanh số cho vay mới cao
Doanh số cho vay xuất khẩu là giá trị thanh toán cho vay hàng xuất khẩu Doanh
số cho vay xuất khẩu cao thì sẽ góp phần tái tạo ngoại tệ để phục vụ hoạt động nhập khẩu của ngân hàng Khi đó, khả năng thanh khoản của ngân hàng cao giúp nâng cao
uy tín của ngân hàng trên trường quốc tế
Doanh số cho vay nhập khẩu là giá trị thanh toán cho vay hàng nhập khẩu
Doanh số cho vay nhập khẩu cao thì rủi ro đối với NHTM sẽ tăng
Rủi ro từ hoạt động cho vay xuất nhập khẩu
Với sự gia tăng của hoạt động xuất nhập khẩu (XNK) thì vai trò của ngân hàng trong việc hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong hoạt động XNK ngày càng lớn, và cũng
do vậy những rủi ro với các ngân hàng cũng ngày càng lớn hơn Những rủi ro tín dụng tài trợ XNK là rất đa dạng và khó quản lý vì trong quan hệ XNK thường luôn có một phía đối tác nước ngoài, và như vậy, các doanh nghiệp kinh doanh XNK trong nước cũng như ngân hàng tài trợ rất khó nắm bắt được tất cả các thông tin cần thiết về đối tác một cách chính xác Do đó, khả năng xảy ra rủi ro đã xảy ra thì tổn thất không thể tránh khỏi đối với doanh nghiệp cũng như ngân hàng Mặc dù, về nguyên tắc trong hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng và đơn vị được tài trợ luôn có những điều khoản quy định rõ ràng quyền hạn của ngân hàng cũng như trách nhiệm của doanh nghiệp, các điều khoản này nhằm đảm bảo khả năng trả nợ của doanh nghiệp và sử dụng vốn đúng
Trang 36mục đích, có hiệu quả Đồng thời đơn vị được tài trợ cũng luôn phải có tài sản thế chấp đảm bảo khoản vay Tuy nhiên, những tài sản thế chấp này lại chính là lô hàng đó
Thậm chí ngay cả khi hợp đồng XNK hàng hoá của doanh nghiệp là hoàn hảo
và doanh nghiệp thực hiện hợp đồng một cách suôn sẻ thì rủi ro vẫn có thể xảy ra do sự
vi phạm các điều khoản trong hợp đồng tín dụng, ngay cả khi các đơn vị được tài trợ hoàn toàn và có khả năng thực hiện tốt các cam kết đó
Chỉ tiêu này được đánh giá cụ thể qua:
+ Số nợ xấu
+ Số nợ quá hạn
+ Số nợ mất trắn
+ Số khách hàng có nợ quá hạn từ hoạt động XNK
Doanh thu các sản phẩm bổ sung
Doanh thu từ hoạt động mua bán ngoại tệ là giá trị chênh lệch tỷ giá mà ngân hàng nhận được giữa tỷ giá mua và tỷ giá bán
Doanh thu phí bảo lãnh thanh toán là mức phí trực tiếp thu được từ hoạt động bảo lãnh thanh toán
Doanh thu các sản phẩm bổ sung trên đều góp phần tăng thêm doanh thu cho NHTM
Tỷ trọng doanh thu thực hiện TTQT trong tổng doanh thu
Tỷ lệ này phản ánh mức độ đóng góp của các hoạt động TTQT vào tổng doanh thu của ngân hàng Hoạt động TTQT đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc tăng lợi nhuận, phát triển ngân hàng, vì vậy việc đánh giá tỷ lệ doanh thu thực hiện TTQT trong tổng doanh thu cho biết khả năng đem lại thu nhập cho ngân hàng từ hoạt động TTQT so với các dịch vụ khác của ngân hàng
Tỷ trọng doanh thu thực hiện TTQT trong tổng doanh thu = Doanh thu thực hiện TTQT / Tổng doanh thu
Mạng lưới ngân hàng đại lý
Mạng lưới ngân hàng đại lý thể hiện sự sẵn sàng trong cung cấp dịch vụ thanh toán quốc tế cho khách hàng
Một ngân hàng có hệ thống ngân hàng đại lý rộng lớn và có sự phân bố hợp lý trên địa bàn hoàn động thì sẽ có điều kiện tốt hơn để mở rộng hoạt động thanh toán quốc tế Các khách hàng có hoạt động TTQT ngày càng có xu hướng mở rộng đối tác làm ăn ra ngoài thị trường truyền thống vì vậy sẽ có nhiều thương vụ với các đối tác
Trang 37Ngược lại, nếu chi nhánh Ngân hàng có quy trình rõ ràng; mọi hoạt động TTQT dều tuân theo quy trình một cách nghiêm ngặt thì sô vụ khiếu nại sẽ ít hoặc không có khiếu nại từ phía khách hàng
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ MỞ RỘNG CỦA HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ
1.3.1.Các nhân tố khách quan
Trong hoạt động thương mại, yếu tố khách quan có tác động rất nhiều vào hoạt động kinh doanh Môi trường khách quan luôn chứa đựng nhiều cơ hội cũng như thách thức cho các NHTM Do đó, để mở rộng hoạt động TTQT thì các NHTM cần phải xem xét kỹ môi trường kinh doanh để tránh được phần nào rủi ro cũng như nắm bắt được cơ hội
Môi trường chính trị
Chế độ chính sách, luật pháp của nhà nước là những yếu tố mà các doanh nghiệp xuất nhập khẩu buộc phải nắm rõ và tuân thủ một cách vô điều kiện Tình hình chính trị trong nước và quốc tế có ảnh hưởng đến hoạt động xuất nhập khẩu cũng như hoạt động TTQT của NHTM
Bất ổn chính trị của một nước, trước hết gây khó khăn cho hoạt động kinh tế của nước đó Các hoạt động thương mại quốc tế cũng sẽ bị ảnh hưởng theo, trong đó có hoạt động XNK Kéo theo đó, hoạt động của Ngân hàng với các ngân hàng khác trên thế giới cũng gặp nhiều bất lợi, vừa do hoạt động xuất nhập khẩu kém; vừa do đối tác ngại rủi ro không dám đầu tư vào
Trong một hợp đồng mà một trong hai đối tác có xung đột về chính trị sẽ gây cản trở đến tiến trình thực hiện hoạt động TTQT Ngược lại, nếu tình hình chính trị trong nước cũng như trên thế giới ổn định sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh
tế đối ngoại
Việc mở rộng và phát triển hoạt động kinh tế đối ngoại có ý nghĩa to lớn đặc biệt đối với hoạt động TTQT Kinh tế đối ngoại đặc biệt là ngoại thương phát triển làm phát sinh nhiều nhu cầu thực hiện các nghĩa vụ tiền tệ với các quốc gia khác Đây là
Trang 38điều kiện thuận lợi để mở rộng và phát triển các nghiệp vụ TTQT Hơn nữa, kinh tế ngoại thương phát triển sẽ yêu cầu nhiều loại hình dịch vụ TTQT phát triển theo để đáp ứng các nhu cầu đa dạng đó
Chính sách pháp luật
Hoạt đồn TTQT bị điều chỉnh bởi nhiều hệ thống pháp luật của các nước; các công ước quốc tế, các tập quán… nên chính sách pháp luạt có ảnh hưởng mạnh mẽ và trực tiếp đến hoạt động này
Các nước có thể dùng chính sách pháp luật như là một công cụ để thúc đẩy mở rộng hoặc hạn chế hoạt động TTQT thông qua điều chỉnh hoạt động XNK và thông qua các chính sách liên quan đến TTQT Với một hệ thống pháp luật minh bạch, đồng bộ, thông thoáng và có nhiều chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho ngân hàng thực hiện hoạt động TTQT thì chắc chắn việc mở rộng TTQT sẽ dễ dàng hơn Ngược lại, nếu các chính sách của Nhà nước có nhiều mâu thuẫn với Luật pháp quốc tế, các quy định về TTQT còn chồng chéo thì sẽ gây nhiều khó khăn, làm hạn chế mở rộng TTQT
Chính sách quản lý ngoại hối
Chính sách quản lý ngoại hối là những quy định, pháp lý của Nhà nước trong quản lý ngoại tệ, quản lý chứng từ có giá trị ngoại tệ… cũng như việc trao đổi sử dụng mua bán ngoại tệ trên thị trường nội địa và quan hệ thanh toán, tín dụng với nước ngoài
Nội dung của chính sách quản lý ngoại hối là quản lý và kiểm soát luồng vận động của ngoại hối từ nước ngoài vào và trong nước ra Chính sách này có liên quan trực tiếp đến quan hệ ngoại thương cũng nhu các quan hệ TMQT khác bằng ngoại tệ Bên cạnh đó, chính sách quản lý ngoại hối còn quản lý và kiểm soát sự lưu thông của ngoại hối
Ở nước ta, Nhà nước quản lý chặt luồng vận động của ngoại tệ Các NHTM với chức năng là trung gian thanh toán, là cửa ngõ ra vào của ngoại tệ, đóng vai trò kiểm soát luồng tiền ra vào của các quốc gia Vì thế cho nên các NHTM được phép TTQT được NHNN trao đặc quyền kiểm soát các hoạt động TTQT do khách hàng ủy thác cho
họ theo đúng quy định của chế độ quản lý ngoại hối hiện hành
Tỷ giá hối đoái và tỷ suất ngoại tệ hàng nhập khẩu
Tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệ nước này biểu hiện bằng một số đơn vị tiền tệ của nước kia, là hệ số quy đổi của đồng tiền nước này sang đồng tiền nước khác, được xác định bởi mối quan hệ cung cầu trên thị trường tiền tệ
Trang 3927
Sự biến động lên hay xuống của tỷ giá hối đoái sẽ ảnh hưởng đến hoạt động trong nền kinh tế, trong đó có hoạt động TTQT của ngân hàng
Khi đồng tiền trong nước mất giá so với ngoại tệ, giá cả hàng hóa trong nước sẽ
rẻ đi một cách tương đối so với hàng hóa nước ngoài, và ngược lại, hàng hóa nhập khẩu sẽ bị đắt lên Trong trường hợp này, với các nước chưa phát triển, hoạt động nhập khẩu bị co hẹp nhưng hoạt động xuất khẩu không thể tăng lên một cách tương ứng do các mặt hàng xuất khẩu của các nước này chủ yếu là hàng thô, hàng sơ chế Doanh thu xuất nhập khẩu bị giảm đi rất lớn Vì thế sẽ làm hạn chế hoạt động TTQT của các NHTM trong nước
Khi đồng tiền trong nước mạnh lên so với ngoại tệ, giá cả hàng hóa trong nước sẽ đắt lên một cách tương đối và hàng hóa nhập khẩu vào nội địa rẻ hơn Nước có đồng tiền lên giá sẽ khó khăn hơn khi xuất khẩu và có lợi hơn khi nhập khẩu Các hoạt động nhập khẩu sẽ được tăng cường và hoạt động TTQT có điều kiện được mở rộng
Tương tự với tỷ suất ngoại tệ hàng nhập khẩu Tỷ suất ngoại tệ nhập khẩu là đại lượng so sánh giữa khoản thu (tính bằng bản tệ) do việc nhập khẩu đem lại với số chi phí đầu vào (tính bằng ngoại tệ) đã phải bỏ ra để mua bán hàng nhập khẩu Tỷ suất này càng cao nghĩa là nhập khẩu mang lại nhiều lợi nhuận, thì hoạt động nhập khẩu sẽ sôi động, tạo điều kiện cho các ngân hàng mở rộng hoạt động TTQT
1.3.2 Các nhân tố chủ quan
Quy mô hoạt động của chi nhánh
Quy mô hoạt động của chi nhánh ảnh hưởng đến việc mở rộng TTQT theo hai hướng khác nhau Chi nhánh với quy mô hoạt động lớn có thể phục vụ được khách hàng tốt hơn, việc mở rộng TTQT cũng dễ dàng hơn Chi nhánh có quy mô hoạt động nhỏ thì sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc phục vụ khách hàng cũng như công tác mở rộng hoạt động TTQT
Chiến lược kinh doanh của chi nhánh
Chiến lược kinh doanh là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của chi nhánh Một chi nhánh ngân hàng có chiến lược kinh doanh rõ ràng, đặt ra các mục tiêu cụ thể thì chi nhánh sẽ hoạt động suôn sẻ hơn
Đối với việc mở rộng TTQT, tầm quan trọng của chiến lược kinh doanh được thể hiện ở các khía cạnh sau:
Chiến lược kinh doanh giúp chi nhánh định hướng cho hoạt động TTQT của mình trong tương lai thông qua việc phân tích và dự báo môi trường Chiến lược kinh doanh giúp chi nhánh vừa linh hoạt vừa chủ động để thích ứng với những biến động
Trang 40của thị trường, đồng thời còn đảm bảo cho hoạt động TTQT phát triển theo đúng hướng Điều đó có thể giúp chi nhánh phấn đấu thực hiện mục tiêu tăng doanh thu và doanh số, nâng cao vị thế của mình
Chiến lược kinh doanh giúp chi nhánh nắm bắt được các cơ hội cũng như đầy
đủ các nguy cơ đối với việc mở rộng TTQT Nó giúp chi nhánh khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn lực, phát huy sức mạnh của chi nhánh
Mạng lưới đại lý của NHTM
Bất kỳ một ngân hàng nào muốn cung cấp cho khách hàng các sản phẩm dịch vụ của mình đều cần phải có một mạng lưới đại lý rộng khắp, có mối quan hệ với nhiều quốc gia trên thế giới Quan hệ đại lý giữa hai ngân hàng là quan hệ dịch vụ Trên cơ
sở đó, các NHTM có thể tăng được doanh thu nhờ việc thực hiện các dịch vụ uỷ thác của ngân hàng đại lý của mình, mở rộng nghiệp vụ TTQT của mình như: trở thành ngân hàng thu hộ, ngân hàng thông báo, ngân hàng bảo lãnh, ngân hàng chuyển nhượng, ngân hàng chiết khấu Ngược lại, các NHTM có thể sử dụng mạng lưới ngân hàng đại lý của mình để thực hiện các nghiệp vụ TTQT, giới thiệu thêm các sản phẩm dịch vụ của mình Hơn thế nữa với mối quan hệ đại lý tốt giữa các ngân hàng, ngân hàng còn có được những thông tin xác minh về khách hàng, tránh được những rủi ro thanh toán
Ngược lại, một ngân hàng có tình hình tài chính không ổn định, trước hết sẽ khiến uy tín của ngân hàng không được đảm bảo, khách hàng sẽ phải cân nhắc nhiều khi sử dụng dịch vụ của Công ty Thêm vào đó, các chi phí cho các hoạt động Marketing cũng hạn chế, dẫn đến việc mở rộng TTQT nói riêng, các hoạt động khác của chi nhánh nói chung, gặp nhiều bất lợi
Nguồn nhân lực
Trình độ nguồn nhân lực của các NHTM là nhân tố chủ quan quan trọng nhất vì con người sẽ quyết định toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh, đặc biệt trong điều kiện doanh nghiệp là đơn vị kinh doanh nhập khẩu