1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty TNHH thương mại và du lịch bảo long

85 162 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 3,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các khoản mục này tương ứng với các mục đích chuyên biệt khác nhau của TSNH trong doanh nghiệp: tiền và các tài sản tương đương tiền hay chứng khoán khả thị đảm bảo khả năng thanh toán c

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

THƯƠNG MẠI VÀ DU LỊCH BẢO LONG

HÀ NỘI – 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

THƯƠNG MẠI VÀ DU LỊCH BẢO LONG

Giảng viên hướng dẫn : Th.s Phạm Thị Bảo Oanh Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thùy Linh

Chuyên nghành : Tài chính

HÀ NỘI – 2015

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Với tình cảm chân thành, em xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô giáo

Trường Đại học Thăng Long, cùng các bác, cô chú và anh chị trong Công ty TNHH

Thương mại và Du lịch Bảo Long đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành khoá luận tốt

nghiệp này Em cũng xin cảm ơn các thầy cô giáo giảng dạy trong truờng đã truyền đạt

cho em rất nhiều kiến thức bổ ích để thực hiện khoá luận và cũng như có được hành

trang vững chắc cho sự nghiệp trong tương lai

Do giới hạn kiến thức và khả năng lý luận của bản thân còn nhiều thiếu sót và

hạn chế, kính mong sự chỉ dẫn và đóng góp của các thầy cô giáo để khoá luận của em

được hoàn thiện hơn

Hà Nội, ngày 30 tháng 03 năm 2015

Sinh viên Nguyễn Thùy Linh

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp này là do tự bản thân thực hiện có sự hỗ trợ từ giáo viên hướng dẫn và không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác Các dữ liệu thông tin thứ cấp sử dụng trong khóa luận là có nguồn gốc và được trích dẫn rõ ràng

Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này!

Sinh viên

Trang 5

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG 1

TÀI SẢN NGẮN HẠN TRONG DOANH NGHIỆP 1

1.1 Một số vấn đề cơ bản về tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp 1

1.1.1 Khái niệm tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp 1

1.1.2 Đặc điểm của tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp 1

1.1.3 Vai trò của tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp 2

1.1.4 Phân loại tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp 3

1.2 Một số vấn đề cơ bản về hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp 5

1.2.1 Khái niệm hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp 5

1.2.2 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn 6

1.2.3 Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp 7

1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp 26

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN TẠI CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI VÀ DU LỊCH BẢO LONG 31

2.1 Tổng quan về Công ty TNHH Thương mại và Du lịch Bảo Long 31

2.1.1 Thông tin cơ bản về Công ty TNHH Thương mại và Du lịch Bảo Long 31

2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty TNHH Thương mại và Du lịch Bảo Long 31

2.1.3 Bộ máy tổ chức của công ty 32

2.1.4 Đặc điểm ngành nghề kinh doanh 33

2.1.5 Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty TNHH Thương mại và Du lịch Bảo Long giai đoạn năm 2011 – 2013 34

2.2 Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại Công ty TNHH Thương mại và Du Lịch Bảo Long 42

2.2.1 Thực trạng quy mô và cơ cấu tài sản ngắn hạn tại Công ty TNHH Thương mại và Du lịch Bảo Long 42

2.2.2 Tình hình quản lý tài sản ngắn hạn tại Công ty TNHH Thương mại và Du lịch Bảo Long 45

2.2.3 Phân tích các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại Công ty TNHH Thương mại và Du Lịch Bảo Long 51

2.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại Công ty TNHH Thương mại và Du lịch Bảo Long 58

2.3.1 Kết quả đạt được 58

Trang 6

2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 59

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN TẠI CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI VÀ DU LỊCH BẢO LONG 62

3.1 Định hướng phát triển của Công ty TNHH Thương mại và Du lịch Bảo Long trong thời gian tới 62

3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng tài sản ngắn hạn tại Công ty TNHH Thương mại và Du lịch Bảo Long 63

3.2.1 Xác định mức dự trữ tiền 63

3.2.2 Áp dụng mô hình Z-core trong tính điểm tín dụng khách hàng 65

3.2.3 Bổ sung chính sách thu hồi nợ trong công ty 67

3.2.4 Đa dạng hóa cơ cấu nguồn vốn 68

3.3.5 Các giải pháp khác 69

3.2 Kiến nghị 70

Trang 7

DANH MỤC VIẾT TẮT

Ký hiệu viết tắt Tên đầy đủ

DN Doanh nghiệp GVHB Giá vốn hàng bán GTGT Giá trị gia tăng TSCĐ Tài sản cố định TSNH Tài sản ngắn hạn TNDN Thu nhập doanh nghiệp TNHH Trách nhiệm hữu hạn SXKD Sản xuất kinh doanh

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ

Sơ đồ 2.1 Cơ cấu bộ máy tổ chức Công ty TNHH Thương mại và Du lịch 32

Bảo Long 32

Bảng 2.1 Báo cáo kết quả kinh doanh giai đoạn 2011 – 2013 34

Bảng 2.2 Bảng cân đối kế toán Công ty giai đoạn 2011 – 2013 39

Bảng 2.3 Cơ cấu tài sản – nguồn vốn 41

Bảng 2.4 Cơ cấu tài sản ngắn hạn tại Công ty TNHH Thương mại và Du lịch Bảo Long 42

Bảng 2.5 Mô hình tính điểm tín dụng 48

Bảng 2.6 Đánh giá điểm tín dụng của Công ty TNHH Vietsense Travel 48

Bảng 2.7 Điểm số và phân nhóm khách hàng theo mô hình điểm tín dụng năm 2013 49

Bảng 2.8 Các chỉ tiêu về khả năng thanh toán 51

Bảng 2.9 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại Công ty TNHH Thương mại và Du lịch Bảo Long 52

Bảng 2.10 Ảnh hưởng của ROS và hiệu suất sử dụng TSNH lên ROCA 54

Bảng 2.11 Mức tiết kiệm (lãng phí) tài sản ngắn hạn tại Công ty TNHH Thương mại và Du lịch Bảo Long 56

Bảng 2.12 Các chỉ tiêu hiệu quản bộ phận tài sản ngắn hạn 56

Bảng 3.1 Điểm số và phân nhóm khách hàng theo mô hình Z – core năm 2013 66

Bảng 3.2 Thủ tục thu nợ 68

Trang 9

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong nền kinh tế thị trường, để có thể đứng vững trên thị trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của khách hàng, các công ty luôn phải chú trọng tới việc nâng cao chất lượng sản phẩm, giá cả phù hợp Quá trình đổi mới cơ chế quản lý của các doanh nghiệp Việt Nam cũng cho thấy, doanh nghiệp nào xây dựng và thực thi tốt chính sách sử dụng tài sản ngắn hạn thì doanh nghiệp đó sẽ có lợi nhuận cao, sản phẩm mới có tính cạnh tranh Do vậy việc sử dụng tài sản ngắn hạn một cách hiệu quả luôn là vấn đề đặt ra mà các nhà quản lý phải quan tâm

Thực tế nhiều năm qua cho thấy, bên cạnh những doanh nghiệp làm ăn phát đạt còn không ít những doanh nghiệp rơi vào tình trạng thua lỗ, phá sản Mặc dù hầu hết các

vụ phá sản trong kinh doanh là hệ quả của nhiều yếu tố chứ không phải chỉ do hiệu quả tài sản ngắn hạn không tốt Nhưng thực tế thì sự bất lực của một số công ty trong việc hoạch định, kiểm soát chặt chẽ và sử dụng không có hiệu quả các loại tài sản ngắn hạn và các khoản nợ ngắn hạn hầu như là nguyên nhân dẫn đến thất bại cuối cùng của

họ

Trong thời gian qua, mặc dù Công ty TNHH Thương mại và Du lịch Bảo Long đã

có nhiều cố gắng trong việc sử dụng tài sản ngắn hạn một cách hiệu quả hơn, công ty

có lợi nhuận tăng Nhưng kết quả cho thấy việc sử dụng tài sản ngắn hạn còn có nhiều điểm chưa hợp lý dẫn đến hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn còn chưa cao Mặc dù mục tiêu hiệu quả đạt được của các doanh nghiệp là khác nhau nhưng tất cả đều hướng tới đạt được lợi nhuận cao nhất, đứng trước tình hình như hiện nay Công ty Bảo Long phải tìm cách để khắc phục tình trạng đó, đẩy nhanh công tác hoạt động nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của công ty mình trong thời gian tới

Do tầm quan trọng của vấn đề và quá trình tìm hiểu tình hình thực tế tại Công ty TNHH Thương mại và Du lịch Bảo Long, được sự giúp đỡ nhiệt tình giáo viên hướng dẫn cùng các cán bộ công nhân viên trong công ty, đặc biệt là các cán bộ phòng tài

chính – kế toán, em quyết định lựa chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao hiệu quả sử

dụng tài sản ngắn hạn tại Công ty TNHH Thương mại và Du lịch Bảo Long” làm

đề tài cho khóa luận tốt nghiệp chương trình đào tạo bậc Đại học của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, đề tài tập trung làm rõ mục tiêu như sau:

Thứ nhất, nghiên cứu những lý luận cơ bản về hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp

Trang 10

Thứ hai là phân tích làm rõ thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại Công

ty TNHH Thương mại và Du lịch Bảo Long giai đoạn năm 2011 - 2013 Từ đó tìm ra các hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân của những hạn chế đó

Cuối cùng là đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại Công ty TNHH Thương mại và Du lịch Bảo Long

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Tài sản ngắn hạn và hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn

trong doanh nghiệp

Phạm vi nghiên cứu: Tài sản ngắn hạn và hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại

Công ty TNHH Thương mại và Du lịch Bảo Long giai đoạn từ năm 2011 đến năm

2013

4 Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu, song tập trung vào ba phương pháp nghiên cứu chính sau: Phương pháp thống kê, phương pháp so sánh và phương pháp phân tích tổng hợp để từ đó làm rõ đối tượng nghiên cứu và đạt được mục tiêu nghiên cứu của đề tài

5 Kết cấu khóa luận

Ngoài lời mở đầu, kết luận, doanh mục các từ viết tắt, danh mục bảng biểu và đồ thị, nội dung khóa luận tốt nghiệp bao gồm ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận chung về sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh

nghiệp Chương 2: Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại Công ty trách

nhiệm hữu hạn Thương mại và Du lịch Bảo Long Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại Công ty

trách nhiệm hữu hạn Thương mại và Du lịch Bảo Long

Trang 11

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG

TÀI SẢN NGẮN HẠN TRONG DOANH NGHIỆP

1.1 Một số vấn đề cơ bản về tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp

1.1.1 Khái niệm tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp

Theo PGS.TS Lưu Thị Hương, Giáo trình Tài chính doanh nghiệp – nhà xuất

bản Đại học Kinh tế Quốc dân thì: “Tài sản ngắn hạn là những tài sản thường xuyên

luân chuyển trong quá trình kinh doanh Trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp, tài sản ngắn hạn được thể hiện ở các bộ phận tiền mặt, các chứng khoán thanh khoản cao, phải thu và dự trữ tồn kho”

Trong cuốn Kế toán – Kiểm toán và Phân tích tài chính doanh nghiệp, NXB Tài chính Hà Hội năm 2010 của GS Ngô Thế Chi, PTS Đoàn Xuân Tiến và PTS Vương Đình

Huệ đã định nghĩa: “Tài sản ngắn hạn là tiền, các khoản tương đương tiền và các tài

sản khác có thể chuyển đổi thành tiền, hoặc có thể bán hay sử dụng trong vòng một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh bình thường của doanh nghiệp Tài sản ngắn hạn phản ánh tổng giá trị tiền, các khoản tương đương tiền và các tài sản ngắn hạn khác

có đến thời điểm báo cáo”

Như vậy, tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp là những khoản mục có khả năng chuyển đổi dễ dàng và là mắt xích quan trọng trong quá trình tạo ra doanh thu Tuy là yếu tố tồn tại trong ngắn hạn đúng như tên gọi nhưng nếu có phát sinh trục trặc sẽ ảnh hưởng đến quá trình hoạt động của công ty

Từ những quan điểm trên về tài sản ngắn hạn, ta đưa ra được khái niệm đầy đủ

nhất về tài sản ngắn hạn như sau: “Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp là những tài

sản thuộc quyền sở hữu và quản lý của doanh nghiệp, có thời gian sử dụng, luân chuyển, thu hồi vốn trong một chu kỳ kinh doanh hoặc trong một năm Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp có thể tồn tại dưới hình thái tiền, hiện vật (vật tư hàng hóa), dưới dạng đầu tư ngắn hạn và các khoản phải thu khác.” Đây cũng là khái niệm được

sử dụng xuyên suốt trong khóa luận

1.1.2 Đặc điểm của tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp

Thứ nhất, tài sản ngắn hạn biểu hiện dưới các hình thái khác nhau như:

tiền và các tài sản tương đương tiền, khoản phải thu khách hàng, hàng tồn kho và các tài sản khác Các khoản mục này tương ứng với các mục đích chuyên biệt khác nhau của TSNH trong doanh nghiệp: tiền và các tài sản tương đương tiền hay chứng khoán khả thị đảm bảo khả năng thanh toán cho doanh nghiệp, hàng tồn kho được sử dụng trong khâu sản xuất kinh doanh, các khoản phải thu khách hàng dùng để ghi nhận các khoản tín dụng thương mại Tài sản ngắn hạn biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau bởi nó tham gia vào tất cả các khâu trong hoạt động sản xuất – kinh doanh của

Trang 12

doanh nghiệp, từ khâu dự trữ đến khâu sản xuất và lưu thông Qua mỗi giai đoạn của chu kỳ kinh doanh tài sản ngắn hạn lại thay đổi hình thái biểu hiện

Thứ hai, tài sản ngắn hạn thường luân chuyển trong một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh Tài sản ngắn hạn như tiền mặt, hàng tồn kho thường được sử

dụng trong một chu kỳ kinh doanh Một chu kỳ luân chuyển của tài sản ngắn hạn bắt đầu tư giai đoạn cung cấp dùng tiền để mua nguyên vật liệu dự trữ quá trình sản xuất, sau đó tiến hành tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Chính đặc điểm này đòi hỏi doanh nghiệp phải duy trì một lượng vốn ngắn hạn nhất định đề đầu tư, mua sắm tài sản ngắn hạn, đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh được tiến hành liên tục

Thứ ba, tài sản ngắn hạn thường thay đổi hình thái vật chất ban đầu để tạo thành thực thể của sản phẩm Trong doanh nghiệp thương mại, tài sản ngắn hạn bắt

đầu từ trạng thái tiền mặt, sau đó được sử dụng để mua hàng hóa, lúc này từ trạng thái tiền mặt, tài sản ngắn hạn đã chuyển sang một trang thái mới là hàng hóa (hay nói cách khác là hàng tồn kho) Sau khi hàng hóa được xuất bán, một lần nữa tài sản ngắn hạn tại chuyển đổi về trạng thái ban đầu là tiền mặt, tuy nhiên giá trị của tài sản ngắn hạn lúc này sẽ lớn hơn giá trị ban đầu của nó Đối với loại hình doanh nghiệp SXKD, tài sản ngắn hạn thường được biểu hiện dưới hình thái là hàng tồn kho (nguyên vật liệu) dùng cho mục đích sản xuất phải trải qua một quá trình biến đổi thành thành phẩm, hàng hóa hoàn chỉnh để xuất bán ra thị trường

Thứ tư, tài sản ngắn hạn có giá trị luân chuyển toàn bộ một lần vào giá thành sản phẩm làm ra Để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh doanh

nghiệp cần phải có ba yếu tố là: Đối tượng lao động, tư liệu lao động và sức lao động Biểu hiện dưới hình thái vật chất của đối tượng lao động chính là tài sản ngắn hạn Quá trình sản xuất kinh doanh là quá trình kết hợp các yếu tố đó để tạo ra sản phẩm hàng hoá lao vụ, dịch vụ Khác với tư liệu lao động, giá trị của các đối tượng lao động (là các nguyên vật liệu tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất) được chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm và được bù đắp khi giá trị sản phẩm được thực hiện Điều này có nghĩa là mọi chi phí phát sinh trong quá trình biến đổi tài sản ngắn hạn thành thành phẩm đã được tính vào giá thành của sản phẩm trước khi đưa ra thị trường

1.1.3 Vai trò của tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp

Là điều kiện quan trọng để doanh nghiệp có thể thực hiện hoạt động kinh doanh Tài sản ngắn hạn thường chiếm tỷ trọng cao trong tổng giá trị tài sản của

doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp kinh doanh thương mại Giá trị các loại tài sản ngắn hạn của các doanh nghiệp kinh doanh sản xuất thường chiếm từ 25% đến 50% tổng giá trị tài sản Do đó, tài sản ngắn hạn đóng vai trò rất quan trọng trong sự tồn tại

và phát triển của doanh nghiệp Tài sản ngắn hạn chính là đối tượng lao động trực tiếp

Trang 13

tham gia vào quá trình sản xuất Ngoài ra, doanh nghiệp cần dự trữ tài sản ngắn hạn để đáp ứng cho các chi phí giao dịch, chi phí giao dịch bao gồm phí dịch vụ cho việc mua bán chứng khoán, các khoản lỗ tiềm tàng do phải bán gấp các tài sản trong khi có thể kiếm lời nhiều hơn nếu có thêm thời gian Chính vì vậy mà doanh nghiệp luôn phải dự trữ một lượng tiền hoặc chứng khoán khả thị đủ để đảm bảo khả năng thanh toán, đây cũng là loại tài sản có tính thanh khoản cao, có khả năng chuyển đổi thành tiền mặt nhanh chóng với chi phí thấp đáp ứng cho các mục tiêu ngắn hạn

(Nguyễn Hải Sản – Quản trị tài chính doanh nghiệp – trang 367)

Hỗ trợ thanh toán cho các giao dịch có độ trễ về thời gian Điều này xuất

hiện trong quá trình sản xuất, marketing và thu tiền Do các giao dịch diễn ra không đồng thời, nhiều hoạt động tác động đến nhu cầu vốn lưu động như lưu trữ hàng tồn kho, áp dụng các chính sách hỗ trợ bán hàng, chiết khấu thanh toán để khuyến khích khách hàng thanh toán sớm, giảm thời gian chuyển tiền khi thu hồi nợ Ví dụ trong hoạt động đầu tư ngắn hạn, độ trễ về thời gian thể hiện ở khả năng xảy ra chậm trễ trong quá trình thực hiện công việc nào đó của dự án, mà qua đó ảnh hưởng tới tiến độ thực hiện của các bước hoặc của cả dự án Điều này sẽ ảnh hưởng đến thời gian thu hồi vốn đầu tư của doanh nghiệp Tuy nhiên, trong một doanh nghiệp có nhiều hoạt động đầu tư thì không phải hoạt động đầu tư nào cũng có độ trễ về mặt thời gian Lúc này, nguồn vốn của các hoạt động đầu tư đảm bảo về mặt thời gian sẽ hỗ trợ các hoạt động đầu tư bị trễ về mặt thời gian thông qua việc hỗ trợ về tiền, về nguyên vật liệu, hàng hóa (nếu hai hoạt động đầu tư có chung nhu cầu) để hoạt động đầu tư bị trễ được rút ngắn thời gian thu hồi vốn kinh doanh, giúp công ty tăng doanh thu và lợi nhuận, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn cho hoạt động đầu tư ngắn hạn

Giải quyết trong các trường hợp cần phải chi trả các chi phí liên quan đến pháp luật và chi phí gián tiếp Chi phí liên quan đến pháp luật như chi phí thuế thu

nhập, thuế giá trị gia tăng, phí môn bài, hay chi phí gián tiếp như chi phí nguyên vật liệu phụ, chi phí công phụ, chi phí quảng cáo, Những chi phí này rất lớn nên nhà quản lý thường xem chúng như những áp lực tài chính và có xu hướng dự trữ một lượng lớn tài sản có tính thanh khoản cao để đảm bảo khả năng thanh toán kể cả khi việc này đem lại ít lợi nhuận hơn so với đầu tư tài sản dài hạn

1.1.4 Phân loại tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp

1.1.4.1 Phân loại theo vai trò của tài sản ngắn hạn trong quá trình sản xuất kinh doanh

Tài sản ngắn hạn trong khâu dự trữ bao gồm các khoản: Nguyên vật liệu

chính, nguyên vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, công cụ và dụng cụ

Tài sản nằm trong khâu sản xuất bao gồm sản phẩm dở dang, bán thành

phẩm và các khoản chi phí chờ kết chuyển

Trang 14

Tài sản ngắn hạn trong khâu lưu thông bao gồm thành phẩm, hàng hóa mua

ngoài, hàng gửi bán, vốn bằng tiền và các khoản vốn dùng trong thanh toán

Hình thức phân loại này cho ta biết vai trò của các tài khoản, dựa vào đó, nhà quản lý điều chỉnh cơ cấu tài sản hợp lý và có biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp

1.1.4.2 Phân loại theo hình thái biểu hiện của tài sản ngắn hạn

Tài sản bằng vật tư hàng hóa: những tài sản được biểu hiện dưới hình thái

như hàng tồn kho, nguyên vật liệu

Tài sản bằng tiền: các khoản tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, v.v

Cách phân loại này cho doanh nghiệp biết cơ cấu dự trữ của các khoản mục, khả năng thanh toán của doanh nghiệp và có giải pháp điều chỉnh hợp lý

1.1.4.3 Phân loại tài sản ngắn hạn dựa trên các khoản mục trên bảng cân đối kế toán

Căn cứ theo các khoản mục trên bảng cân đối kế toán, tài sản ngắn hạn bao gồm: tiền và chứng khoán khả thị, khoản phải thu khách hàng, hàng tồn kho và tài sản ngắn hạn khác

Tiền: được biểu hiện là tiền tồn quỹ, tiền gửi trong ngân hàng, tiền đang

chuyển Tiền mặt được sử dụng để mua nguyên vật liệu, mua sắm tài sản cố định, trả lương nhân viên và chi trả các khoản khác

Chứng khoán khả thị: bao gồm các loại chứng khoán có khả năng sinh lời cho

doanh nghiệp và có thể chuyển đổi sang tiền mặt dễ dàng với chi phí thấp

Phải thu khách hàng: được hình thành từ việc bán chịu cho khách hàng, khoản

thu được tạo lập dựa trên cam kết giữa doanh nghiệp và người mua hàng Phổ biến nhất là hình thức tín dụng thương mại - cho các doanh nghiệp khác nợ, hình thức này thu hút được nhiều khách hàng cho doanh nghiệp nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro về thanh toán

Hàng tồn kho: bao gồm nguyên vật liệu thô phục vụ cho quá trình sản xuất

kinh doanh, sản phẩm dở dang và thành phầm Với doanh nghiệp, vật liệu thô không sinh lời song là điều kiện căn bản để sản xuất hàng hóa thành phẩm nên việc dự trữ hàng tồn kho hợp lý là vấn đề với nhà quản lý để vừa đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mà không làm phát sinh quá nhiều chi phí dự trữ của doanh nghiệp

Tài sản ngắn hạn khác: bao gồm các khoản chi phí trả trước ngắn hạn, cầm

cố, ký quỹ, ký cược…

Phân loại tài sản ngắn hạn theo tiêu chí này giúp doanh nghiệp xem xét, đánh giá mức tồn kho dự trữ, đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp

Trang 15

1.2 Một số vấn đề cơ bản về hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp

1.2.1 Khái niệm hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp

Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì vấn đề sống còn doanh nghiệp cần quan tâm là tính hiệu quả Chỉ khi hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả doanh nghiệp mới có thể tự trang trải chi phí đã bỏ ra, làm nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước và quan trọng hơn là duy trì và phát triển quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp Hiệu quả kinh tế là kết quả tổng hợp của một loạt các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của các yếu tố bộ phận Trong đó, hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn gắn liền với lợi ích của doanh nghiệp cũng như hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Do đó các doanh nghiệp phải luôn tìm mọi biện pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn

Theo nghĩa chung nhất: “Hiệu quả là một khái niệm phản ánh trình độ sử dụng

các yếu tố đầu vào để tạo ra kết quả đầu ra tốt nhất với mục đích xác định” Như vậy,

có thể hiểu hiệu quả sử dụng là một phạm trù kinh tế đánh giá trình độ sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp để đạt kết quả cao nhất trong quá trình sản xuất kinh doanh, tối đa hóa lợi ích của chủ sở hữu với tổng chi phí thấp nhất

Do đó, hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn là phạm trù kinh tế đánh giá trình độ

sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp để đạt được mục tiêu cao nhất với mức tài sản ngắn hạn hợp lý (tối đa hóa lợi ích và tối thiểu hóa chi phí) Trình độ sử dụng tài sản ngắn hạn được thể hiện ở viêc doanh nghiệp sử dụng tài sản ngắn hạn như thế nào trong các quá trình dự trữ, sản xuất và lưu thông Cụ thể, quá trình vận động của tài sản ngắn hạn bắt đầu từ việc dùng tiền tệ mua sắm vật tư dự trữ cho sản xuất, tiến hành sản xuất và khi sản xuất xong doanh nghiệp tổ chức tiêu thụ để thu về một số vốn dưới hình thái tiền tệ ban đầu với giá trị tăng thêm Mỗi lần vận động như vậy được gọi là một vòng luân chuyển của tài sản ngắn hạn Doanh nghiệp sử dụng vốn đó càng có hiệu quả bao nhiêu thì càng có thể sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nhiều bấy nhiêu Với lợi ích kinh doanh đòi hỏi các doanh nghiệp phải sử dụng hợp lý, hiệu quả hơn từng đồng tài sản ngắn hạn, làm cho mỗi đồng tài sản ngắn hạn hàng năm có thể mua sắm nguyên, nhiên vật liệu nhiều hơn, sản xuất ra sản phẩm và tiêu thụ được nhiều hơn Nhưng điều đó cũng đồng nghĩa với việc doanh nghiệp nâng cao tốc độ luân chuyển tài sản ngắn hạn (số vòng quay tài sản ngắn hạn trong một năm)

Tóm lại, “Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn là một phạm trù kinh tế, phản

ánh tình hình sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp để đạt lợi nhuận cao nhất với chi phí thấp nhất” [2, tr.199] Điều này sẽ giúp doanh nghiệp gia tăng được lợi

nhuận, giúp doanh nghiệp phát huy được hiệu quả mà các tài sản ngắn hạn đem lại trong quá trình sử dụng

Trang 16

1.2.2 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn

Quá trình hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp là quá trình hình thành

và sử dụng vốn kinh doanh Ngày nay các doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế thị trường yêu cầu về tài sản ngắn hạn là rất lớn, có thể coi tài sản ngắn hạn là nhựa sống tuần hoàn trong doanh nghiệp

Để đánh giá trình độ quản lý, điều hành sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp, người ta sử dụng thước đo hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đó Hiệu quả sản xuất kinh doanh được đánh giá trên hai góc độ là hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội Vì thế, việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn là yêu cầu mang tính bắt buộc và thường xuyên đối với doanh nghiệp

1.2.2.1 Xuất phát từ mục đích kinh doanh của doanh nghiệp

Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp hoạt động với mục tiêu xuyên suốt là tối đa hóa giá trị doanh nghiệp Để đảm bảo mục tiêu này, doanh nghiệp thường xuyên phải đưa ra và giải quyết tập hợp các quyết định tài chính dài hạn và ngắn hạn Quản lý và sử dụng hiệu quả tài sản ngắn hạn là một nội dung trọng tâm trong các quyết định tài chính ngắn hạn và là nội dung có ảnh hưởng lớn đến mục tiêu tối đa hóa giá trị doanh nghiệp

Với bản chất và định hướng mục tiêu như trên, doanh nghiệp luôn luôn tìm mọi biện pháp để tồn tại và phát triển Xuất phát từ vai trò to lớn đó khiến cho yêu cầu doanh nghiệp phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nói chung và tài sản ngắn hạn nói riêng là một yêu cầu khách quan, gắn liền với bản chất của doanh nghiệp

1.2.2.2 Xuất phát từ vai trò quan trọng của tài sản ngắn hạn

Đối với doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường Một doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường, muốn hoạt động kinh doanh thì cần phải có vốn Tài sản ngắn hạn là một thành phần quan trọng trong tất cả các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh

Trong khâu dự trữ và sản xuất, tài sản ngắn hạn đảm bảo cho sản xuất của doanh nghiệp được tiến hành liên tục, đảm bảo quy trình công nghệ, công đoạn sản xuất Trong lưu thông, tài sản ngắn hạn đảm bảo dự trữ thành phẩm đáp ứng đủ cho nhu cầu tiêu thụ được liên tục, nhịp nhàng và phù hợp với nhu cầu của khách hàng Thời gian luân chuyển tài sản ngắn hạn lớn khiến cho công việc quản lý và sử dụng tài sản ngắn hạn luôn luôn diễn ra thường xuyên, hàng ngày với vai trò to lớn như vậy, việc tăng tốc độ luân chuyển tài sản ngắn hạn, nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp là một yêu cầu tất yếu

1.2.2.3 Xuất phát từ ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn

Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tức là có thể tăng tốc độ luân chuyển tài sản ngắn hạn, rút ngắn thời gian tài sản ngắn hạn nằm trong lĩnh vực dự trữ,

Trang 17

sản xuất và lưu thông, từ đó giảm bớt số lượng tài sản ngắn hạn bị chiếm dụng, tiết kiệm tài sản ngắn hạn trong luân chuyển

Tăng tốc độ luân chuyển tài sản ngắn hạn cũng có ảnh hưởng tích cực đối với việc hạ thấp giá thành sản phẩm, tạo điều kiện cho doanh nghiệp có đủ vốn thỏa mãn nhu cầu sản xuất và hoàn thành nghĩa vụ nộp các khoản thuế cho ngân sách Nhà nước, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội trong cả nước

1.2.2.4 Xuất phát từ thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại các doanh nghiệp

Trên thực tế, có rất nhiều nguyên nhân khiến một doanh nghiệp làm ăn thiếu hiệu quả thậm chí thất bại trên thương trường Các nguyên nhân chủ quan, nguyên nhân khách quan, tuy nhiên một nguyên nhân phổ biến vẫn là việc sử dụng tài sản ngắn hạn không hiệu quả Trong việc mua sắm, dự trữ, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Điều này dẫn đến việc sử dụng lãng phí tài sản ngắn hạn, tốc độ luân chuyển tài sản ngắn hạn thấp, mức sinh lợi kém và thậm chí có doanh nghiệp còn gây thất thoát không kiểm soát được tài sản lưu động dẫn đến mất khả năng tổ chức sản xuất kinh doanh, khả năng thanh toán

Do đó, yêu cầu cần phải nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn là một nội dung quan trọng, không chỉ đảm bảo lợi ích riêng doanh nghiệp mà còn có ý nghĩa chung đối với nền kinh tế quốc dân

1.2.3 Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp

1.2.3.1 Phân tích quy mô và cơ cấu tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp

Phân tích quy mô tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp được thực hiện bằng cách tính ra sự thay đổi (chênh lệch) tổng lượng tài sản ngắn hạn biến động giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc về giá trị tuyệt đối và tương đối Sự thay đổi của tài sản ngắn hạn qua các năm được xác định như sau:

Chênh lệch tuyệt đối TSNH TSNH kỳ phân tích - TSNH kỳ gốc

Chênh lệch tương đối TSNH TSNH kỳ phân tích - TSNH kỳ gốc

TSNH kỳ gốc Phương pháp phân tích: Phân tích quy mô tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp sử dụng phương pháp phân tích tỷ lệ bằng cách tính ra giá trị chênh lệch tuyệt đối và tương đối giữa các kì Các số liệu sau khi tính toán sẽ được liệt kê thành các bảng biểu

để thực hiện phân tích ngang, tức là so sánh tình hình biến động giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc trên tổng số tài sản ngắn hạn Thông qua việc phân tích quy mô tài sản ngắn hạn sẽ cho ta thấy chính sách phân bổ vốn cho tài sản ngắn hạn tại doanh nghiệp

và liệu việc bổ sung hay cắt giảm lượng tài sản ngắn hạn có đem lại hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tốt hơn cho doanh nghiệp hay không

Trang 18

Phân tích cơ cấu tài sản ngắn hạn bằng việc đi xác định tỷ trọng của từng bộ phận tài sản ngắn hạn chiếm trong tổng số tài sản ngắn hạn Phân tích cơ cấu tài sản ngắn hạn là đi phân tích quy mô, tỷ trọng của từng loại tài sản ngắn hạn trong tổng tài sản ngắn hạn Tỷ trọng của từng bộ phận tài sản ngắn hạn được xác định như sau:

T trọng của t ng bộ phận TSNH Giá trị của t ng bộ phận TSNH

Tổng tài sản ngắn hạn Việc xem xét tình hình biến động về tỷ trọng của từng bộ phận tài sản ngắn hạn chiếm trong tổng số tài sản ngắn hạn giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc mặc dầu cho phép các nhà quản lý đánh giá được khái quát tình hình phân bổ (sử dụng) vốn nhưng lại không cho biết được chính xác các nhân tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến sự biến động về cơ cấu tài sản ngắn hạn Do đó, các nhà phân tích còn kết hợp cả việc phân tích ngang, tức là so sánh sự biến động giữa kỳ phân tích với kỳ gốc (cả về số tuyệt đối và tương đối) trên tổng số tài sản ngắn hạn

Thông qua bước phân tích trên, các nhà quản lý sẽ thấy được những đặc trưng

cơ bản trong cơ cấu tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp, xác định được tính hợp lý của việc đầu tư, sử dụng tài sản ngắn hạn Qua việc xem xét cơ cấu tài sản ngắn hạn và sự biến động về cơ cấu tài sản ngắn hạn qua nhiều kỳ kinh doanh, các nhà quản lý sẽ quyết định đầu tư vào khoản mục tài sản ngắn hạn nào là thích hợp, đầu tư vào thời điểm nào; xác định được việc gia tăng hay cắt giảm hàng tồn kho cũng như mức dự trữ hàng tồn kho hợp lý trong từng thời kỳ để sao cho có đủ lượng hàng tồn kho cần thiết đáp ứng chu cầu sản xuất kinh doanh và nhu cầu của thị trường mà không làm tăng chi phí tồn kho; có chính sách thích hợp về thanh toán để vừa khuyến khích được khách hàng vừa thu hồi vốn kịp thời, tránh bị chiếm dụng vốn, Khi phân tích cơ cấu tài sản ngắn hạn, nhà phân tích cần liên hệ với số liệu bình quân của ngành cũng như số liệu của các doanh nghiệp khác (nếu có) để có nhận xét thích đáng hơn về tình hình sử dụng tài sản ngắn hạn và tính hợp lý của cơ cấu tài sản ngắn hạn Đồng thời, căn cứ vào tính hình thực tế của doanh nghiệp cũng như chính sách đầu tư và chính sách kinh doanh mà doanh nghiệp vận dụng trong từng thời kỳ đánh giá

1.2.3.2 Chính sách quản lý tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp

Tài sản ngắn hạn là những tài sản thường xuyên luân chuyển trong quá trình sản xuất kinh doanh Do đó, sử dụng hiệu quả tài sản ngắn hạn có ảnh hưởng rất quan trọng đối với việc hoàn thành nhiệm vụ chung của doanh nghiệp Chính sách quản lý tài sản có ảnh hướng rất lớn tới hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại doanh nghiệp Chính sách quản lý tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp được thể hiện như sau:

(1) Chính sách quản lý tiền

Quản lý tiền mặt và các tài sản tương đương tiền ở đây chính là quản lý tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, các loại chứng khoán khả thị Chúng ta cần lưu ý khái niệm

Trang 19

tiền và các khoản tương đương tiền ở đây biểu hiện theo nghĩa rộng bao gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, còn các loại chứng khoán khả thị xem như là tài sản tương đương đương tiền mặt Doanh nghiệp cần phải quản lý tiền và chứng khoản khả thị để

có thể thực hiện giao dịch, đối phó với các biến cố bất thường xảy đến với doanh nghiệp hoặc đầu tư sinh lời

Dự trữ nhiều tiền vừa có lợi ích song cũng tiềm ẩn rủi ro Về mặt lợi ích, doanh nghiệp luôn đảm bảo được khả năng thanh toán từ đó cải thiện được uy tín và vị thế của doanh nghiệp, nếu mang tiền đi đầu tư còn có thể có lãi Ngược lại, rủi ro khi dự trữ tiền mặt cũng dễ xảy ra, nếu dự trữ quá ít sẽ giảm khả năng thanh toán, đặc biệt là khả năng thanh toán tức thời, lúc này doanh nghiệp sẽ không có đủ tiền để thanh toán các nghĩa vụ nợ ngắn hạn đến hạn thanh toán, ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn; nếu dự trữ quá nhiều sẽ giảm khả năng sinh lời của số tiền đó, đồng thời doanh nghiệp phải phát sinh tăng chi phí quản lý cho số tài sản này Số tiền dư thừa khi dự trữ quá nhiều không được đem đi để đầu tư sinh lời, giúp doanh nghiệp gia tăng lợi nhuận sẽ ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời của tài sản ngắn hạn khi mà lượng đầu tư cho tài sản ngắn hạn lớn nhưng lợi nhuận kinh tế lại không cao

Bởi vậy, quản lý tốt lượng tiền tại công ty, giúp cho lượng tiền tại doanh nghiệp

có khả năng sinh lời cao nhất mà không gây lãng phí vốn, doanh nghiệp cần phải đưa

ra những chính sách quản lý tiền hợp lý Quản lý tiền và chứng khoán khả thị cần tập trung vào các quyết định sau: Quản lý hoạt động thu - chi của tiền mặt; xác định nhu cầu dự trữ tiền mặt tối ưu, quản lý danh mục đầu tư chứng khoán khả thị và quản lý ngân quỹ

(1.1) Quản lý hoạt động thu – chi tiền mặt

Trong quản lý thu chi tiền mặt, một nguyên tắc tất yếu đó chính là “tăng thu – giảm chi”, tức là nhà quản lý cần tăng tốc độ thu hồi những khoản tiền nhận được và chậm chi những khoản cần phải chi trả Tăng thu là doanh nghiệp tích cực thu hồi được các khoản nợ từ khách hàng để sớm có vốn quay vòng đầu tư vào các hoạt động của doanh nghiệp, đảm bảo thông suốt quá trình giao dịch kinh doanh Giảm chi là tận dụng thời gian chênh lệch của các khoản thu, chi, chậm trả lương để có càng nhiều tiền nhàn rỗi để đầu tư sinh lời Lúc này, doanh nghiệp sẽ có một lượng tiền nhàn rỗi để đem đầu tư tài chính ngắn hạn hay bổ sung cho tài sản ngắn hạn để nâng cao hiệu quả

sử dụng tài sản ngắn hạn

Để chọn được một phương thức hiệu quả, nhà quản lý cần so sánh giữa lợi ích

và chi phí tăng thêm của các phương thức thu – chi sao cho lợi ích đem lại là lớn nhất đối với doanh nghiệp Ta có thể dựa trên cơ sở dưới đây để thực hiện so sánh, đánh giá:

∆B ∆t * TS * I * (1 – T)

Trang 20

∆C (C 2 – C 1 ) * (1 – T)

Trong đó:

∆B = Lợi ích tăng thêm khi áp dụng phương thức đề xuất

∆C = Phần chi phí tăng thêm khi áp dụng phương thức đề xuất

∆t = Số ngày thay đổi khi áp dụng phương thức đề xuất

+ Đối với phương thức thu tiền: là số ngày được rút ngắn + Đối với phương thức chi tiền: là số ngày tăng thêm

TS = Quy mô chuyển tiền

I = Lãi suất đầu tư

T = Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp

C1 = Chi phí của phương thức đang sử dụng

C2 = Chi phí của phương thức đề xuất

Dựa vào kết quả tính toán theo mô hình trên, nhà quản lý có thể đưa ra quyết định như sau:

- ∆B > ∆C: chuyển sang phương thức đề xuất vì lợi ích thu được cao hơn chi phí tăng thêm

- ∆B = ∆C: bàng quan với cả hai phương thức do áp dụng phương thức đề xuất không đem lại lợi ích tăng thêm cho doanh nghiệp

- ∆B < ∆C: giữ nguyên phương thức cũ do phương thức mới không đem lại lợi ích lớn hơn mà doanh nghiệp còn phải bỏ ra chi phí để bù đắp cho hình thức này Ngoài vấn đề tăng thu, doanh nghiệp còn phải duy trì giảm chi, tức là nên trì hoãn việc thanh toán nhưng trong phạm vi thời gian cho phép) để có thể tận dụng những lợi ích

có từ các khoản chậm thanh toán này Hình thức thông dụng nhất được các doanh nghiệp sử dụng phổ biến rộng rãi đó chính là chậm trả lương Cụ thể hơn, doanh nghiệp sẽ thiết lập một hệ thống thời gian trả lương cho từng bộ phận nhân viên và trả lương theo thời gian biểu đó thay vì trả lương đồng thời tất cả các nhân viên một lúc Trong khoảng thời gian chênh lệch đó, ít nhiều những khoản tiền này cũng có thể đem lại lợi nhuận Tuy nhiên, việc chậm thanh toán trả lương cần phải được tính toán kĩ lưỡng và nhận được sự đồng tình từ phía người lao động

(1.2) Xác định mức dự trữ tiền mặt tối ưu

Mức tồn quỹ tiền mặt mục tiêu là một phần chuẩn mực để làm cơ sở cho các quyết định tài chính ngắn hạn như đầu tư tiền nhàn rỗi vào các loại tích sản sinh lợi, mức đầu tư nào là hợp lý và khi nào thì bán các tích sản này để bổ sung làm cân bằng cán cân tiền mặt Do tiền mặt biến động hầu như liên tục và không thể giữ chúng ở mức vừa đúng với hạn mức chuẩn trong tất cả mọi thời điểm, do đó chúng ta phải thiết lập một mô hình để xác định mức tiền mặt mà công ty phải mua hay bán các loại chứng khoán thanh khoản cao Việc thiết lập mức dự trữ tiền tối ưu không những đảm

Trang 21

bảo doanh nghiệp có đủ tiền để thực hiện thanh toán các chi phí giao dịch thường xuyên mà còn giúp cho lượng tiền nhàn rỗi được đem đi đầu tư sinh lời, gia tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp nâng cao tỷ suất sinh lời của tài sản ngắn hạn

Người đầu tiên vận dụng mô hình EOQ vào quản trị tiền mặt là nhà khoa học người Hoa Kỳ William J.Baumol (1952) Mô hình cho rằng, mỗi doanh nghiệp đều có một dòng lưu kim thuần ổn định, là kết quả của dòng lưu kim chi phí và dòng lưu kim thu nhập trên phương diện kế hoạch Giả sử một doanh nghiệp có kỳ vọng có dòng lưu kim thu nhập đều đặn là A/kỳ và dòng lưu kim chi phí là B/kỳ Bởi vậy dòng lưu kim

chi phí thuần là (B-A)/kỳ

Doanh nghiệp khởi sự các giao dịch chuyển tiền tệ ở đầu kỳ đầu tiên có cán cân tiền mặt là C (Hình 01) Với lượng tiền sử dụng ổn định mỗi kỳ là (B-A), số tiền này

sẽ hết sau C/(B-A) kỳ Tại thời điểm kết thức kỳ thứ C/(B-A), cán cân tiền mặt bằng 0

và cần phải bán một lượng chứng khoán có giá trị C để phục hồi cán cân tiền ban đầu Như hình 02 cho thấy, cán cân tiền mặt khi bắt đầu các hoạt động là C và giảm dần đều đến hết mỗi chu kỳ C/(B-A) Bởi vậy, lượng tiền mặt trung bình của doanh nghiệp

(Nguồn: PGS.TS Nguyễn Minh Kiều – Tài chính doanh nghiệp căn bản)

Giả sử tỷ lệ sinh lời một năm do các công cụ của thị trường tiện tệ mang lại là I, thì phần lợi nhuận bị bỏ qua mỗi năm trên khoản tiền mặt trung bình là (C/2).I Nhưng

để có cán cân tiền mặt trung bình (C/2) thì cần phải bán lượng chứng khoán có giá trị

là C tại những thời điểm mà cán cân tiền mặt bằng 0 Nếu tổng nhu cầu của dòng lưu kim thuần trong suốt năm được ký hiệu là T, thì số lần các loại chứng khoán được chuyển đổi thành tiền mặt là (T/C) Giả sử chi phí cho mỗi lần giao dịch là F thì tổng chi phí cho các giao dịch chuyển đổi các loại chứng khoán trong năm là (T/C).F

Trong đó:

C = Trị giá của các loại chứng khoán được bán ra trong mỗi lần giao dịch

Trang 22

F = Tổng giá trị của dòng lưu kim thuần dự định cần đến trong năm

k = Tỷ lệ sinh lời cơ hội của các công cụ được giao dịch trên thị trường tiền tệ

Sử dụng các công cụ này, chúng ta có thể thiết lập công thức tính toán hai loại chi phí thành phần như sau:

C’ là mức dự trữ tiền mặt tối ưu

(1.3) Quản lý ngân quỹ

Ngân quỹ có thể được hiểu là toàn bộ khoản tiền thu chi của một tổ chức hay đoàn thể Quản lý ngân quỹ là sự tác động của các chủ thể quản lý trong doanh nghiệp lên các khoản thực thu và thực chi bằng tiền nhằm thay đổi mức tồn quỹ thực tế của doanh nghiệp sao cho ngân quỹ doanh nghiệp đạt mức tối ưu nhằm tối đa hoá giá trị tài sản của chủ sở hữu và đảm bảo khả năng chi trả của doanh nghiệp trong từng thời

kỳ trong điều kiện biến động của môi trường Do vậy mà việc quản trị dòng tiền luôn được coi trọng, doanh nghiệp nên duy trì mức tồn quỹ hợp lý để vừa phù hợp với hoạt động kinh doanh, vừa đảm bảo khả năng thanh toán tức thời; tận dụng tối đa khả năng sinh lời của dòng tiền, không để tiền chết một chỗ quá lâu sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu quả sử dụng tiền nói riêng và hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn nói chung

Để giải quyết vẫn đề này thì các học giả trên thế giới đã đề xuất nhiều mô hình như Baumol, Miller – Orr,… Tuy nhiên, mô hình này chưa được ứng dụng rộng rãi tại doanh nghiệp Việt Nam Dưới đây là mô hình Miller Orr, một mô hình quản lý tiên tiến và khoa học nên được áp dụng trong các doanh nghiệp

Trang 23

Hình 1.2 Mô hình Miller - Orr

(Nguồn: PGS.TS Nguyễn Minh Kiều – Tài chính doanh nghiệp căn bản)

Có ba khái niệm cần chú ý trong mô hình này: Giới hạn trên (H), giới hạn dưới (L) và tồn quỹ tiền mặt (Z) Ban quản lý công ty thiết lập H căn cứ vào chi phí cơ hội giữ tiền mặt và thiết lập L căn cứ vào mức độ rủi ro thiếu tiền mặt Công ty cho phép tồn quỹ biến động ngẫu nhiên trong phạm vi giới hạn và nếu như tồn quỹ vẫn nằm trong mức giới hạn trên và giới hạn dưới thì công ty không cần thực hiện giao dịch mua bán chứng khoán ngắn hạn Khi tồn quỹ đụng giới hạn trên tại điểm X thì công ty

sẽ mua (H-Z) đồng chứng khoán ngắn hạn để giảm tồn quỹ trở về Z Ngược lại, khi tồn quỹ giảm đụng giới hạn dưới tại điểm Y thì công ty sẽ bán (Z-L) đồng chứng khoán để tăng tồn quỹ lên đến điểm Z

Mô hình Miller Orr xác định mức tồn quỹ dựa vào chi phí cơ hội và chi phí giao dịch Chi phí giao dịch (F) là chi phí liên quan đến việc mua bán chứng khoán ngắn hạn để chuyển đổi từ tài sản đầu tư cho mục đích sinh lời ra tiền mặt nhằm mục đích thanh toán Chi phí giao dịch không phụ thuộc vào doanh số mua bán chứng khoán ngắn hạn Chi phí cơ hội giữ tiền mặt là K, bằng lãi suất ngắn hạn Trong mô hình Miller Orr, số lần giao dịch của một kỳ là số ngẫu nhiên thay đổi tùy thuộc vào biến động của luồng thu và luồng chi tiền mặt Kết quả là chi phí giao dịch phụ thuộc vào

số lần giao dịch chứng khoán ngắn hạn kỳ vọng còn chi phí cơ hội phụ thuộc vào tồn quỹ kỳ vọng

Với tồn quỹ thấp nhất L đã cho, giải mô hình Miller Orr chúng ta tìm được tồn quỹ mục tiêu (Z) và giới hạn trên (H) Giá trị của Z và H làm cho tổng chi phí tối thiểu được quyết định theo mô hinh Miller Orr là:

Trang 24

K = Chi phí cơ hội Tồn quỹ trung bình theo mô hình Milller Orr là:

Caverage=

(2) Chính sách quản lý khoản phải thu

Khoản phải thu là giá trị các sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp bán cho khách hàng và đang trong quá trình chờ khách hàng thanh toán Quản lý khoản phải thu khách hàng rất quan trọng bởi nếu không thu được tiền đúng hạn doanh nghiệp sẽ thiếu một khoản thu, tốc độ quay vòng vốn chậm lại, doanh nghiệp lại phải phát sinh thêm chi phí quản lý, chi phí thu hồi nợ, Nói cách khác, đây cũng chính là một rủi ro trong thanh toán mà doanh nghiệp phải đối mặt Nếu doanh nghiệp quản lý tốt chính sách này sẽ giúp doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí quản lý, gia tăng lợi nhuận; đồng thời còn giúp doanh nghiệp nhanh chóng thu hồi nợ, đẩy nhanh vòng quay các khoản phải thu và rút ngắn thời gian quay vòng tiền, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn Chính vì vậy, để làm được những điều trên, đồng thời giảm rủi

ro trong thanh toán, doanh nghiệp có thể xây dựng một chính sách tín dụng thông qua một số yếu tố sau: điều khoản bán trả chậm; phân tích tín dụng; quyết định tín dụng và chính sách thu tiền

Các yếu tố này được xem xét cụ thể như sau:

(2.1) Điều khoản bán trả chậm

Mỗi doanh nghiệp hoạt động trong một ngành nghề, lĩnh vực khác nhau đều cung cấp tín dụng thương mại nhưng có sự khác biệt giữa các điều khoản Nếu hàng hóa được sản xuất theo đơn đặt hàng thì khách hàng thường được yêu cầu tạm ứng một khoản tiền Còn nếu đơn hàng là không thường xuyên hoặc có rủi ro thì doanh nghiệp

sẽ yêu cầu khách hàng trả tiền ngay Nếu việc cấp tín dụng là thường xuyên và kéo dài thì thời gian thanh toán có thể kéo dài thêm, thường là 30 – 60 ngày Để khuyến khách khách hàng của mình thanh toán sớm, doanh nghiệp thường cung cấp chiết khấu thanh toán Nếu công ty bán hàng với điều khoản tín dụng 2/10 net 30 tức là nếu khách hàng thanh toán trong vòng 10 ngày sẽ được hưởng chiết khấu thanh toán 2%, còn nếu không thì khách hàng phải đảm bảo trả nợ trong vòng 30 ngày Một đặc điểm trong điều khoản bán chậm đó là khi nghi ngờ khả năng thanh toán của khách hàng, doanh nghiệp có thể áp dụng công cụ hối phiếu – một loại giấy quy định cụ thể thời hạn trả tiền của người mua vào một thời điểm nhất định Việc áp dụng điều khoản bán hàng trả chậm giúp doanh nghiệp dễ dàng thu hút thêm lượng khách hàng mới, đồng thời gia tăng khối lượng đơn hàng, giúp doanh nghiệp tăng trưởng doanh thu Tuy nhiên, trong trường hợp khách hàng chậm thanh toán sẽ gây ra những bất lợi cho doanh nghiệp, trước hết là sự ảnh hưởng đến kế hoạch thu hồi vốn cho kỳ sản xuất kinh

Trang 25

doanh mới, thứ hai sẽ khiến cho khoản phải thu khách hàng tăng lên, chi phí thu tiền bán hàng cũng tăng lên, ảnh hưởng không nhỏ đến lợi nhuận của doanh nghiệp

(2.2) Phân tích tín dụng

Phân tích tín dụng là yếu tố cần thiết để quyết định có bán trả chậm cho khách hàng hay không, quy định điều khoản tín dụng cụ thể cho khách hàng như thế nào Để phân tích tín dụng khách hàng, doanh nghiệp thông thường thu thập một số thông tin:

Thứ nhất, phân tích tín dụng từ các báo cáo tài chính: Dựa vào những báo cáo tài chính do khách hàng cung cấp, doanh nghiệp có thể xác định mức độ ổn định, tự chủ tài chính và khả năng chi trả của khách hàng

Thứ hai, phân tích tín dụng từ các xếp hạng tín dụng báo cáo: Doanh nghiệp tham khảo bảng xếp hạng tín dụng của các tổ chức có uy tín trong việc đánh giá khả năng tín dụng của khách hàng Báo cáo tín dụng thường bao gồm:

 Tóm tắt báo cáo tài chính

 Các chỉ số quan trọng và có xu hướng thay đổi theo thời gian

 Các thông tin về mô hình thanh toán của đối tượng đang xét

 Bản mô tả điều kiện tự nhiên và hoàn cảnh bất thường liên quan đến doanh nghiệp đang xét

 Tư cách tín dụng của khách hàng thông qua điều tra trực tiếp hoặc thông qua các trung tâm xử lý dữ liệu

Cuối cùng, phân tích tín dụng từ kinh nghiệm của doanh nghiệp: Dựa trên kinh nghiệm của bản thân, nhà quản lý cũng có thể đánh giá vị thế tín dụng của các khách hàng tiềm năng của mình Khi đã thu thập đủ thông tin tín dụng, doanh nghiệp sẽ đưa

ra quyết định có cung cấp tín dụng hay không

(2.3) Quyết định tín dụng

Sau khi đã thực hiện thu thập thông tin tín dụng, doanh nghiệp sẽ cân nhắc việc cung cấp tín dụng thông qua chỉ tiêu NPV thông qua ba mô hình dưới đây:

Quyết định tín dụng khi xem xét một phương án: Mô hình này so sánh giá trị

hiện tại của lợi ích (giá trị dòng tiền vào hay dòng tiền sau thuế của các năm) và chi phí của việc cấp tín dụng với một mức rủi ro cho trước

CF 0 = VC * S * (ACP/360)

= [S *(1 – VC) – S * BD – CD]* (1 – T)

Trong đó:

CFt: Dòng tiền thu được sau thuế trong mỗi thời kỳ

CF0: Dòng tiền đầu tư vào khoản phải thu khách hàng

k: Tỷ lệ thu nhập theo yêu cầu

Trang 26

VC: Luồng tiền ra biến đổi, được tính theo tỷ lệ % dòng tiền vào

S: Doanh thu dự kiến trong từng thời kỳ

ACP: Thời gian thu tiền trung bình (ngày)

BD: Tỷ lệ nợ xấu trên doanh thu

CD: Luồng tiền gia tăng của bộ phận tín dụng

T: Thuế suất thuế TNDN

Từ kết quả thu được, nhà quản lý đưa ra quyết định dựa trên nguyên tắc giá trị hiện tại ròng:

+ NPV > 0: cấp tín dụng

+ NPV = 0: bàng quan

+ NPV < 0: không cấp tín dụng

Quyết định cấp tín dụng giữa phương án trả tiền ngay và bán trả chậm: Trước

tiên ta xem xét một số điểm khác nhau giữa việc cấp tín dụng và không cấp tín dụng

Số lƣợng sản phẩm bán (Q): Nếu coi số lượng sản phẩm bán trước khi cung

cấp tín dụng là Q0 và số lượng sản phẩm khi cho khách hàng nợ là Q1 thì Q1 > Q0 do việc cung cấp tín dụng sẽ tăng tính cạnh tranh của doanh nghiệp trong tiêu thụ và làm tăng doanh số bán

Giá bán trên một sản phẩm (P): Giá bán sau khi cung cấp tín dụng thường

cao hơn giá bán trước khi cung cấp tín dụng cho doanh nghiệp sẽ đánh đổi rủi ro thất thoát vốn khi cho khách hàng nợ với lợi nhuận kiếm được từ hoạt động bán hàng

Chi phí bình quân (AC): Chi phí của doanh nghiệp sẽ đội lên (AC1 > AC0)

khi doanh nghiệp quyết định cấp tín dụng do có nhiều khả năng sẽ gặp phải những khoản nợ xấu và phải xóa nợ hay nới lỏng chính sách tín dụng, khoản này được coi là chi phí nợ xấu và làm tăng chí phí hợp lý của doanh nghiệp

Xác suất thanh toán: khi doanh nghiệp không cung cấp tín dụng mà thu tiền

ngay thì xác suất thanh toán lúc này là 100%, do tất cả các lần bán của doanh nghiệp đều thu ngay bằng tiền Nếu gọi h1 là xác suất thanh toán của doanh nghiệp cấp tín dụng cho khách hàng thì xác suất này sẽ nhỏ hơn 100% do khả năng xảy ra việc khách hàng không thanh toán là rất cao

Thời gian nợ: Khi doanh nghiệp không cấp tín dụng mà thu tiền ngay thì thời

gian cho khách hàng nợ là bằng 0 Ngược lại, khi doanh nghiệp cấp tín dụng thì sẽ có một khoảng thời gian t kể từ khi khách hàng xác nhận nợ cho đến khi khách hàng thanh toán khoản nợ đó

T lệ chiết khấu: Đại diện cho chi phí cơ hội của việc đầu tư vào tài khoản

phải thu khách hàng, là lãi suất được hưởng khi đầu tư vào tài sản sinh lời khác thay vì

bị ứ đọng vốn trong khoản phải thu khách hàng Để đưa ra quyết định có nên cấp tín

Trang 27

dụng hay không, nhà quản lý tài chính phải so sánh giá trị hiện tại ròng của từng phương án:

NPV 0 =P 0 Q 0 – AC 0 Q 0

Trong đó:

NPV0 = Giá trị hiện tại ròng khi chưa cấp tín dụng

NPV1 = Giá trị hiện tại ròng khi cấp tín dụng

P0, Q0, AC0: Giá bán, số lượng bán và chi phí sản xuất bình quân khi không cấp tín dụng

P1, Q1, AC1: giá bán, số lượng bán và chi phí sản xuất bình quân khi cấp tín dụng

h: xác suất thanh toán

Rt: tỷ suất chiết khấu thanh toán

Trong đó:

NPV2: giá trị hiện tại ròng khi cấp tín dụng và có sử dụng đến thông tin rủi ro C: chi phí sử dụng thông tin rủi ro tín dụng

Trang 28

Doanh nghiệp cần thường xuyên theo dõi các khoản nợ để nhanh chóng đối phó với các tình huống xảy ra bất ngờ như khách hàng phá sản, mất tích bằng việc trích lập

dự phòng rủi ro

Chính sách thu tiền hay phương thức thu hồi nợ quá hạn bao gồm nhiều hình thức như: gửi thư, gọi điện thoại, cử người trực tiếp, ủy quyền thu nợ v.v các hình thức này càng cứng rắn thì cơ hội thu hồi nợ càng cao hơn nhưng có thể tiềm ẩn nguy

cơ giảm doanh số do khách hàng thấy khó chịu khi bị thu nợ gắt gao

(3) Chính sách quản lý hàng tồn kho

Ngoài tiền và các khoản phải thu trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, một phần lớn tài sản ngắn hạn còn được phân bổ vào hàng tồn kho Hàng tồn kho được xem như là một bộ phận của tài sản ngắn hạn cần thiết cho hoạt động của doanh nghiệp Tuy nhiên, duy trì hàng tồn kho cũng có những mặt trái của

nó là làm phát sinh chi phí liên quan đến tồn kho bao gồm chi phí kho bãi, bảo quản và

cả chi phí cơ hội do kẹt vốn đầu tư vào hàng tồn kho Quản trị hàng tồn kho cần lưu ý xem xét sự đánh đổi giữa lợi ích và phí tổn của việc duy trì hàng tồn kho

Trong hoạt động quản lý hàng tồn kho, doanh nghiệp cần tập trung xác định mức dự trữ tối ưu thông qua mô hình đặt hàng hiệu quả nhất – EOQ Mô hình được dựa trên giả định là những lần cung cấp hàng hoá là bằng nhau Khi doanh nghiệp tiến hành dự trữ hàng hoá sẽ kéo theo hàng loạt các chi phí như chi phí bốc xếp hàng hoá, chi phí bảo quản, chi phí đặt hàng, chi phí bảo hiểm … nhưng chung quy lại có hai loại chi phí chính:

Chi phí lưu kho (Chi phí tồn dự trữ): Đây là chi phí liên quan đến việc tồn trữ

hàng hoá, loại này bao gồm:

- Chi phí hoạt động như chi phí bốc xếp hàng hoá, chi phí bảo hiểm hàng hoá, chi phí do giảm giá trị hàng hoá, chi phí hao hụt mất mát, chi phí bảo quản…

- Chi phí tài chính bao gồm chi phí sử dụng vốn như trả lãi tiền vay, chi phí về thuế, khấu hao…

Nếu gọi mỗi lần cung ứng hàng hoá là Q thì dự trữ cung ứng trung bình sẽ là Q/2

Hình 1.3 Mô hình tồn kho theo thời gian

Trang 29

Gọi C1 là chi phí lưu kho đơn vị hàng hoá thì tổng chi phí lưu kho của doanh

nghiệp sẽ là:

C 1 *Q/2

Tổng chi phí lưu kho bình quân sẽ tăng nếu số lượng hàng hoá mỗi lần cung

ứng tăng

Chi phí đặt hàng (Chi phí hợp đồng): Chi phí đặt hàng bao gồm chi phí quản

lý giao dịch và vận chuyển hàng hoá, chi phí đặt hàng cho mỗi lần đặt hàng thường ổn

định không phụ thuộc vào số lượng hàng hoá được mua

Nếu gọi D là toàn bộ số lượng hàng hoá cần sử dụng trong một đơn vị thời gian (năm, quý, tháng) thì số lượng lần cung ứng hàng hoá sẽ là D/Q Gọi C2 là chi phí mỗi lần đặt hàng thì tổng chi phí đặt hàng sẽ là:

C 2 *D/Q

Tổng chi phí đặt hàng tăng nếu số lượng mỗi lần cung ứng giảm

Gọi TC là tổng chi phí tồn trữ hàng hoá, ta có công thức:

(Nguồn: PGS.TS Nguyễn Minh Kiều – Tài chính doanh nghiệp căn bản)

Qua hình trên ta thấy khối lượng hàng hoá cung ứng mỗi lần là Q* thì tổng chi phí dự trữ là thấp nhất

1.2.3.3 Phân tích các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp

Trong hoạt động tài chính của doanh nghiệp các hệ thống chỉ tiêu tài chính được đưa ra để đánh giá các hoạt động của doanh nghiệp trong một niên độ kế toán là không thể thiếu Qua quá trình phân tích hệ thống chỉ tiêu này thì doanh nghiệp có thể

Trang 30

đánh giá hiệu quả hoạt động của mình và đưa ra các giải pháp cần thiết để khắc phục khó khăn trong niên độ tiếp theo Để đánh giá khách quan hiệu quả sử dụng TSNH chúng ta có thể sử dụng nhiều chỉ tiêu khác nhau như sau:

(1) Khả năng thanh toán

Do đặc điểm của tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản cao, cho nên việc sử dụng hiệu quả tài sản ngắn hạn là sự lựa chọn đánh đổi giữa khả năng sinh lời với tính thanh khoản Do đó, khi phân tích khả năng thanh toán để thông qua đó phân tích hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp thì người ta thường sử dụng các chỉ tiêu sau đây:

Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn

Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn Tài sản ngắn hạn

Tổng nợ ngắn hạn

Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn là chỉ tiêu cho thấy khả năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp bằng TSNH là cao hay thấp Nợ ngắn hạn là những khoản nợ mà doanh nghiệp phải thanh toán trong vòng một năm hay một chu

kỳ kinh doanh Nếu một doanh nghiệp gặp khó khăn về tài chính, doanh nghiệp sẽ chi trả cho các hóa đơn thanh toán bị chậm trễ (các khoản phải trả nhà cung cấp) hoặc đi vay thêm tiền từ ngân hàng,… Tất cả những hoạt động này sẽ làm cho khoản nợ ngắn hạn tăng lên Nếu nợ ngắn hạn tăng nhanh hơn tài sản ngắn hạn, khả năng thanh toán ngắn hạn sẽ giảm xuống và đây là dấu hiệu của khó khăn, rắc rối tài chính có thể xảy đến đối với doanh nghiệp Thông thường, nếu trị số của chỉ tiêu này xấp xỉ bằng 1, doanh nghiệp có đủ khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn và tình hình tài chính

là bình thường hoặc khả quan Tuy nhiên, nếu hệ số này cao quá sẽ giảm hiệu quả hoạt động vì doanh nghiệp đầu tư quá nhiều vào tài sản ngắn hạn Ngược lại, nếu “Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn” < 1, doanh nghiệp không bảo đảm đáp ứng được các khoản nợ ngắn hạn Trị số của chỉ tiêu này càng nhỏ hơn 1, khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp càng thấp

Hệ số khả năng thanh toán nhanh

Hệ số khả năng thanh toán nhanh Tài sản ngắn hạn - Hàng tồn kho

Tổng nợ ngắn hạn

Hệ số khả năng thanh toán nhanh là chỉ tiêu được dùng để đánh giá khả năng thanh toán trong thời gian ngắn các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp bằng các tài sản dễ chuyển đổi thành tiền Hàng tồn kho trong công thức này bị tách ra bởi đây là khoản mục có tính thanh khoản kém nhất trong các tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp,

vì thế chúng là tài sản có khả năng lớn nhất bị thiệt hại giá trị trong trường hợp thanh

lý Chỉ tiêu này cao quá, kéo dài cũng không tốt, có thể dẫn tới hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn giảm Hệ số khả năng thanh toán cao tức là tài sản ngắn hạn dễ chuyển

Trang 31

đổi thành tiền như tiền và các khoản tương đương tiền, đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu cao; trường hợp tiền và các khoản tương đương tiền cao có thể dẫn đến khả năng lượng tiền mặt không được đem đi đầu tư, gây lãng phí vốn; trường hợp đầu

tư tài chính ngắn hạn lớn nhưng lại không đem lại doanh thu đầu tư tài chính ngắn hạn

có thể làm giảm doanh thu, ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp; trường hợp các khoản phải thu ngắn hạn quá lớn khiến cho một lượng vốn của doanh nghiệp bị khách hàng chiếm dụng, có thể khiến doanh nghiệp bị thiếu vốn trong kinh doanh Chỉ tiêu này thấp quá và kéo dài càng không tốt, bởi lúc này có thể xuất hiện rủi ro tài chính, nguy cơ phá sản có thể xảy ra Ta có thể tham khảo hệ số thanh toán nhanh (k) qua thực tế nghiên cứu tại các doanh nghiệp:

nợ ngắn hạn mà không cần phải bán toàn bộ tài sản ngắn hạn Đây là hệ số phản ánh

sự chắc chắn nhất khả năng của công ty đáp ứng nghĩa vụ nợ hiện thời

(Nguồn: PGS.TS Nguyễn Năng Phúc, Phân tích báo cáo tài chính – trang 185)

Hệ số khả năng thanh toán bằng tiền

Hệ số khả năng thanh toán bằng tiền Tiền và các khoản tương đương tiền

Tổng nợ ngắn hạn

Hệ số này cho biết, với lượng tiền và tương đương tiền hiện có, doanh nghiệp

có đủ khả năng trang trải các khoản nợ ngắn hạn, đặc biệt là nợ ngắn hạn đến hạn không Hay nói cách khác, chỉ tiêu này cho biết khả năng chuyển đổi của tài sản ngắn hạn thành tiền tại thời điểm phân tích Chỉ tiêu này cao quá, chứng tỏ khả năng chuyển đổi thành tiền lớn dẫn đến tình hình thanh toán dồi dào Chỉ tiêu này nhỏ khả năng chuyển đổi kém, sẽ gây áp lực tài chính trong quá trình tìm kiếm nguồn thanh toán

(2) Các chỉ tiêu đánh giá chung về hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn

Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn (Số vòng quay của tài sản ngắn hạn)

Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn Doanh thu thuần

Tổng tài sản ngắn hạn

Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn bỏ ra đầu tư cho tài sản ngắn hạn trong một

kỳ thì đem lại bao nhiêu đơn vị doanh thu thuần Chỉ tiêu này thể hiện sự vận động của tài sản ngắn hạn trong kỳ, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ tài sản ngắn hạn vận động càng nhanh, từ đó góp phần tạo ra doanh thu thuần càng cao và là cơ sở để tăng lợi nhuận của doanh nghiệp

Trang 32

Suất hao phí của tài sản ngắn hạn so với doanh thu

Suất hao phí của TSNH so với doanh thu TSNH bình quân

Doanh thu thuần

Chỉ tiêu này cho biết để có một đồng doanh thu thì doanh nghiệp phải bỏ ra bao nhiêu đồng sản xuất kinh doanh, đó chính là căn cứ để để đầu tư tài sản ngắn hạn cho thích hợp, chỉ tiêu này càng thấp chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn càng cao

Suất hao phí của tài sản ngắn hạn so với lợi nhuận sau thuế

Suất hao phí của TSNH so với lợi nhuận sau thuế TSNH bình quân

Lợi nhuận sau thuế

Chỉ tiêu này cho biết để có một đồng lợi nhuận sau thuế thì cần bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn bình quân, chỉ tiêu này càng thấp chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn càng cao bởi doanh nghiệp sẽ chỉ cần bỏ ra một lượng tài sản thấp hơn nhưng vẫn đảm bảo gia tăng được lợi nhuận, chỉ tiêu này là căn cứ để các doanh nghiệp dự toán nhu cầu về tài sản ngắn hạn khi muốn có mức độ lợi nhuận mong muốn:

Tỷ suất sinh lời trên tài sản ngắn hạn (ROCA)

T suất sinh lời của TSNH Lợi nhuận sau thuế

TSNH bình quân

Chỉ tiêu này cho biết mỗi đơn vị tài sản ngắn hạn có trong kỳ đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế Chỉ tiêu này cao phản ánh lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp cao, các doanh nghiệp đều mong muốn chỉ số này càng cao càng tốt vì như vậy

đã sử dụng được hết giá trị của tài sản ngắn hạn Hiệu quả của việc sử dụng tài sản ngắn hạn thể hiện ở lợi nhuận của doanh nghiệp, đây chính là kết quả cuối cùng mà doanh nghiệp đạt được Kết quả này phản ánh hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn nói riêng Với công thưc trên ta thấy, nếu tài sản ngắn hạn sử dụng bình quân trong kỳ thấp mà lợi nhuận sau thuế cao thì hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn cao

(3) Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả t ng bộ phận cấu thành tài sản ngắn hạn

Trang 33

hàng tồn kho thấp Tuy nhiên, hàng tồn kho mang đậm tính chất ngành nghề kinh doanh nên không phải cứ mức tồn kho thấp là tốt, mức tồn kho cao là xấu

Hệ số vòng quay hàng tồn kho càng cao càng cho thấy doanh nghiệp bán hàng càng nhanh và hàng tồn kho không bị ứ đọng nhiều, giá trị hàng tồn kho thấp Nếu như nhu cầu thị trường tăng đột ngột thì rất có khả năng doanh nghiệp bị mất khách hàng

và bị đối thủ cạnh tranh giành thị phần Hơn nữa, dự trữ nguyên vật liệu đầu vào cho các khâu sản xuất không đủ có thể khiến dây chuyền sản xuất bị ngưng trệ, từ đó làm giảm doanh thu, giảm hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn Vì vậy, hệ số vòng quay hàng tồn kho cần phải đủ lớn để đảm bảo mức độ sản xuất và đáp ứng được nhu cầu khách hàng

Như vậy chỉ tiêu này rất quan trọng đối với doanh nghiệp, nó quyết định thời điểm đặt hàng cũng như mức dự trữ an toàn cho doanh nghiệp Vòng quay càng cao thể hiện khả năng sử dụng tài sản ngắn hạn cao bởi lúc này tài sản ngắn hạn sẽ được vận động nhanh hơn

Vòng quay dự trữ, tồn kho cao thể hiện được khả năng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tốt, có như vậy mới đạt được mục tiêu mà doanh nghiệp đặt ra Chỉ tiêu này cao phản ánh được lượng vật tư, hàng hóa được đưa vào sử dụng cũng như được bán ra nhiều, như vậy là doanh thu sẽ tăng và đồng thời lợi nhuận mà doanh nghiệp đạt được cũng tăng lên Vòng quay hàng tồn kho cao hay thấp phụ thuộc vào đặc điểm của tong ngành nghề kinh doanh, phụ thuộc vào mặt hàng kinh doanh

Thời gian quay vòng hàng tồn kho

Thời gian quay v ng hàng tồn kho 365

Số v ng quay hàng tồn kho

Chỉ tiêu này cho ta biết số ngày lượng hàng hàng tồn kho được chuyển đổi thành doanh thu Từ chỉ tiêu này cho biết số ngày cần thiết cho việc luân chuyển kho

vì hàng tồn kho có ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn ở khâu

dự trữ Hệ số này chứng tỏ công tác quản lý hàng tồn kho càng tốt, hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn càng cao và ngược lại

Số vòng quay các khoản phải thu

Số vòng quay các

khoản phải thu =

Doanh thu thuần Khoản phải thu khách hàng

Chỉ tiêu này cho biết khả năng thu nợ của doanh nghiệp trong kỳ phân tích doanh nghiệp đã thu được bao nhiêu nợ và số nợ còn tồn đọng chưa thu được là bao nhiêu Tỷ số này càng lớn chứng tỏ tốc độ thu hồi các khoản phải thu là cao, doanh nghiệp ít bị chiếm dụng vốn, lượng vốn nhanh chóng được thu hồi và tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, giúp công ty tăng doanh thu và lợi nhuận góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn Tuy nhiên chỉ tiêu này quá cao cho thấy phương

Trang 34

thức thanh toán tiền của doanh nghiệp quá chặt chẽ, khi đó sẽ ảnh hưởng đến doanh thu của doanh nghiệp, giảm hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn Quan sát số vòng quay khoản phải thu sẽ cho biết chính sách bán hàng trả chậm của doanh nghiệp hay tình hình thu hồi nợ của doanh nghiêp

Kỳ thu tiền bình quân

Kỳ thu tiền bình quân = 365

Số vòng quay các khoản phải thu

Chỉ tiêu này được đánh giá khả năng thu hồi vốn trong các doanh nghiệp, trên

cơ sở các khoản phải thu và doanh thu tiêu thụ bình quân 1 ngày Nó phản ánh số ngày cần thiết để thu được các khoản phải thu Vòng quay các khoản phải thu càng lớn thì

kỳ thu tiền bình quân càng nhỏ và ngược lại Tuy nhiên kỳ thu tiền bình quân cao hay thấp trong nhiều trường hợp chưa thể kết luận chắc chắn mà còn phải xem xét lại mục tiêu và chính sách của doanh nghiệp như: mục tiêu mở rộng thị trường, chính sách tín dụng của doanh nghiệp Mặt khác khi chỉ tiêu này được đánh giá là khả quan, thì doanh nghiệp cũng cần phải phân tích kỹ hơn vì tầm quan trọng của nó và kỹ thuật tính toán che dấu đi các khuyết tật trong việc quản lý các khoản phải thu

Thời gian trả nợ trung bình

Thời gian trả nợ

trung bình =

365

Hệ số trả nợ

Hệ số trả nợ = Giá vốn hàng bán + Chi phí chung bán hàng, quản lý

Phải trả người bán + Lương, thưởng, thuế phải trả

Hệ số trả nợ (hay chính là vòng quay trả nợ) và thời gian trả nợ trung bình là chỉ tiêu vừa phản ánh uy tín của doanh nghiệp đối với bạn hàng vừa phản ánh khả năng trả nợ của doanh nghiệp Đối lập với vòng quay khoản phải thu và hàng tồn kho

có xu hướng ngày càng tăng càng tốt thì đối với doanh nghiệp càng chậm trả nợ thì càng tốt, vậy nên họ rất muốn kéo dài thời gian hoàn trả nợ dẫn đến vòng quay phải trả thấp Vòng quay phải trả thấp, số ngày trả nợ kéo dài có thể là dấu hiệu cho thấy công

ty rất có uy tín và là khách hàng tốt nhất của nhà cung cấp nên được cho trả chậm, nhưng cũng là dấu hiệu cho thấy doanh nghiệp đang gặp khó khăn trong việc trả các khoản nợ đến hạn

Thời gian quay vòng tiền trung bình

Thời gian quay v ng tiền

trung bình =

Kỳ thu tiền bình quân +

Thời gian quay vòng hàng tồn kho -

Thời gian trả nợ trung bình

Trang 35

Chỉ tiêu thời gian quay vòng tiền là sự kết hợp của ba chỉ tiêu đánh giá công tác quản lý hàng lưu kho, khoản phải thu, khoản phải trả Chỉ số này cho biết sau bao nhiêu ngày thì số vốn của doanh nghiệp được quay vòng để tiếp tục hoạt động sản xuất kinh doanh kể từ khi doanh nghiệp bỏ vốn ra Thời gian quay vòng tiền ngắn, chứng tỏ doanh nghiệp sớm thu hồi được tiền mặt trong hoạt động sản xuất kinh doanh, quản lý hiệu quả khi giữ được thời gian quay vòng hàng tồn kho và các khoản phải thu ở mức thấp, chiếm dụng được thời gian dài đối với các khoản nợ Tuy nhiên, cũng tùy vào đặc điểm của ngành nghề kinh doanh mà doanh nghiệp hoạt động, đối với doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại dịch vụ thì thời gian quay vòng tiền sẽ ngắn hơn nhiều so với doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất

(4) Mức tiết kiệm tài sản ngắn hạn

Mức tiết kiệm tài sản ngắn hạn có được do tăng hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn được biểu hiện bằng hai chỉ tiêu là mức tiết kiệm tương đối và mức tiết kiệm tuyệt đối

Mức tiết kiệm tài sản ngắn hạn tuyệt đối: Nếu quy mô kinh doanh không thay

đổi, việc tăng hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn giúp cho doanh nghiệp tiết kiệm được một lượng tài sản ngắn hạn có thể rút ra khỏi luân chuyển dùng vào việc khác Công thức xác định số tài sản ngắn hạn tiết kiệm tuyệt đối:

Mức tiết kiệm tài sản ngắn hạn tương đối: Nếu quy mô kinh doanh được mở

rộng, việc tăng hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn đã giúp doanh nghiệp không cần tăng thêm tài sản ngắn hạn hoặc bỏ ra số tài sản ngắn hạn ít hơn so với trước Công thức xác định số tài sản ngắn hạn tiết kiệm tương đối:

Trong đó:

M0, M1: Doanh thu thuần kỳ trước, kỳ này

V0 ,V1: Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn kỳ trước và kỳ này

(5) Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn thông qua mô hình Dupont

Dupont là tên của một nhà quản trị tài chính người Pháp tham gia kinh doanh ở

Mỹ Dupont đã chỉ ra được mối quan hệ tương hỗ giữa các chỉ số hoạt động trên phương diện chi phí và các chỉ số hiệu quả sử dụng vốn

Trang 36

Mô hình Dupont là kỹ thuật được sử dụng để phân tích khả năng sinh lời của một doanh nghiệp bằng các công cụ quản lý hiệu quả truyền thống Mô hình Dupont tích hợp nhiều yếu tố của báo cáo kết quả kinh doanh và bảng cân đối kế toán Trong phân tích tài chính, người ta vận dụng mô hình Dupont để phân tích mối liên hệ giữa các chỉ tiêu tài chính Chính nhờ sự phân tích mối liên kết giữa các chỉ tiêu tài chính, chúng ta có thể phát hiện ra những nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân tích theo một trình tự nhất định

Để phân tích tỷ suất sinh lời của tài sản ngắn hạn có thể xác định thông qua mô hình sau

ROCA Lợi nhuận sau thuế

Doanh thu thuần kinh doanh

Doanh thu thuần kinh doanh Tài sản ngắn hạn

Tức là:

ROCA T suất sinh lời trên doanh thu Hiệu suất sử dụng TSNH

Qua công thức trên có thể thấy hai nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời trên tài sản ngắn hạn là tỷ suất sinh lời trên doanh thu và hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn, như vậy muốn nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn thì nâng cao hai tỷ số trên Về việc nâng cao tỷ suất sinh lời trên doanh thu đã đề cập ở phần trên, trong phần này chỉ đề cập đến nhân tố tốc độ luân chuyển tài sản ngắn hạn

Tóm lại, phân tích hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn bằng mô hình Dupont có ý nghĩa lớn đối với quản trị doanh nghiệp thể hiện ở chỗ có thể đánh giá đầy đủ và khách quan các nhân tố tác động đến hiệu quả sản xuất kinh doanh từ đó tiến hành công tác cải tiến tổ chức quản lý của doanh nghiệp

1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp

Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố khác nhau chính vì vậy để đưa ra một quyết định tài chính nhà quản trị tài chính doanh nghiệp phải xác định được và xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề cần giải quyết Có thể chia các nhân tố đó dưới 2 góc độ nghiên cứu

1.2.4.1 Nhân tố chủ quan

(1) Ngành nghề kinh doanh

Trên thị trường, mỗi ngành nghề kinh doanh có những đặc điểm khác nhau như tính mùa vụ, chu kỳ sản xuất kinh doanh v.v từ đó có tác động không nhỏ tới hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp Doanh nghiệp kinh doanh có tính chất mùa vụ thường có biến động trong sử dụng tài sản ngắn hạn tương ứng với mùa vụ đó Ngoài

ra, các doanh nghiệp có chu kỳ sản xuất ngắn sẽ có thời gian quay vòng vốn nhanh và tác động đến hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp Cụ thể, với một

Trang 37

quay vòng nhanh hơn, giúp doanh nghiệp nhanh chóng thu hồi vốn, gia tăng doanh thu

và lợi nhuận trong năm Vòng quay hàng tồn kho tăng, thời gian quay vòng hàng tồn kho giảm giúp doanh nghiệp rút ngắn thời gian luân chuyển tiền trong doanh nghiệp, nâng cao khả năng sinh lời của tiền sẽ giúp công ty nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn

Ngành nghề kinh doanh tạo nên đặc điểm riêng cho từng doanh nghiệp Đó là nhân tố có ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp Doanh nghiệp có đặc điểm khác nhau về ngành nghề kinh doanh sẽ đầu tư vào tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn khác nhau Tỷ trọng tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn khác nhau nên hệ số sinh lợi của tài sản chung cũng như tài sản bộ phận cũng khác nhau Doanh nghiệp có đặc điểm hàng hoá khác nhau và đối tượng khách hàng khác nhau nên chính sách tín dụng thương mại cũng khác nhau dẫn đến tỷ trọng khoản phải thu khác nhau Như vậy, đặc điểm sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp tác động quan trọng đến hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn, ảnh hưởng trực tiếp đến cơ cấu tài sản ngắn hạn, vòng quay và hệ số sinh lợi của tài sản ngắn hạn

(2) Xác định nhu cầu tài sản ngắn hạn

Việc xác định đúng nhu cầu của doanh nghiệp về tài sản ngắn hạn cho chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp giúp định hướng rõ về cơ cấu của tài sản ngắn hạn, đảm bảo cho hoạt động của doanh nghiệp diễn ra đúng hạn Nếu xác định thiếu, ngay lập tức doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong chi trả, thanh toán hoặc thiếu hàng hóa để cung cấp cho đối tác Lúc này doanh nghiệp có thể rơi vao trạng thái mất khả năng thanh toán, hàng tồn kho bị ứ đọng trong thời gian dài do chưa đủ đơn hàng cấp cho khách hàng, thêm vào đó lượng tiền bị ứ đọng ở hàng tồn kho có thể khiến doanh nghiệp không đủ vốn để bắt đầu cho chu kỳ kinh doanh sau, ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế, hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp Nếu rơi vào tình trạng quá cấp bách, doanh nghiệp có thể phải đi vay mượn, làm tăng chi phí sử dụng tài sản ngắn hạn Trường hợp xấu hơn, doanh nghiệp không đi vay mượn được sẽ trực tiếp tạo ảnh hưởng tiêu cực đến lợi nhuận của doanh nghiệp Lợi nhuận thấp sẽ ảnh hưởng lớn đến

tỷ suất sinh lời của các tài sản ngắn hạn, lúc này một đồng tài sản ngắn hạn đem ra đầu

tư sẽ đem lại ít đồng lợi nhuận hơn Ngược lại, nếu xác định dư thừa, doanh nghiệp sẽ phải phát sinh các khoản như chi phí cơ hội do dự trữ tiền mặt, chi phí quản lý kho dẫn đến hiệu suất sử dụng tài sản thấp Chính vì vậy, xác định được đúng nhu cầu tài sản cho doanh nghiệp là việc hết sức quan trọng để đảm bảo chu trình hoạt động của doanh nghiệp

(3) Chi phí

Chi phí là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp, do đó

sẽ ảnh hưởng lớn tới hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn Nhà quản lý cần cân nhắc các

Trang 38

quyết định về chi phí để đảm bảo hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mình Nếu chi phí bị đẩy lên quá cao sẽ khiến cho giá thành của hàng hóa, dịch vụ tăng theo, tất yếu dẫn theo sức mua giảm, doanh thu bị giảm theo, đồng thời lợi nhuận thu được cũng sẽ giảm (trong trường hợp doanh nghiệp không tăng giá bán) Chính vì vậy, doanh nghiệp cần tìm kiếm các giải pháp làm giảm thiểu chi phí, hạ thấp giá hành sản phẩm của doanh nghiệp để tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường

(4) Năng lực và trình độ quản lý

Năng lực và trình độ quản lý doanh nghiệp tác động trực tiếp đến hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn thông qua các quyết định của nhà điều hành Phẩm chất và năng lực của nhà quản lý cần phải tốt để dẫn dắt doanh nghiệp trong bối cảnh thị trường đầy cạnh tranh Khả năng nhanh nhạy trong bắt nhịp xu thế thị trường và điều phối tài nguyên của doanh nghiệp có thể nâng cao lợi nhuận cho doanh nghiệp Lợi nhuận được nâng cao cho thấy tính hiệu quả trong việc đầu tư, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Tóm lại, hai nhóm nhân tố trên có ảnh hưởng đến kinh doanh của doanh nghiệp bắt nguồn từ nhiều yếu tố khác nhau, phụ thuộc vào lĩnh vực, loại hình kinh doanh và môi trường Song việc nắm bắt tổng thể các yếu tố này có thể quản lý được mọi tác động của các yếu tố đến doanh nghiệp, kể cả các yếu tố mang tính biến động, bất ngờ

1.2.4.2 Nhân tố khách quan

(1) Tình hình kinh tế

Nhân tố này thể hiện các đặc trưng của hệ thống kinh tế trong đó các doanh nghiệp tiến hành hoạt động sản xuất – kinh doanh như: Chu kỳ phát triển kinh tế, tăng trưởng kinh tế, hệ thống tài chính - tiền tệ, tình hình lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp, các chính sách tài chính – tín dụng của Nhà nước

Nền kinh tế nằm trong giai đoạn nào của chu kỳ phát triển kinh tế, tăng trưởng kinh tế sẽ quyết định đến nhu cầu sản phẩm cũng như khả năng phát triển các hoạt động sản xuất – kinh doanh của các doanh nghiệp Nắm bắt được nhu cầu sản phẩm lớn, doanh nghiệp sẽ đẩy mạnh đầu tư sản xuất kinh doanh đáp ứng nhu cầu của khách hàng sẽ giúp doanh nghiệp có được một kết quả kinh doanh khả quan với lượng doanh thu và lợi nhuận tăng, lúc này sự đầu tư vào các tài sản, trong đó có tài sản ngắn hạn

đã đem lại được hiệu quả kinh tế cho doanh nghiệp

Hệ thống tài chính - tiền tệ, lạm phát, thất nghiệp và các chính sách tài khoá của chính phủ có tác động lớn tới quá trình ra quyết định sản xuất – kinh doanh và kết quả hoạt động của doanh nghiệp Nếu tỷ lệ lạm phát cao thì hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp sẽ khó có thể cao được do sự mất giá của đồng tiền

Trang 39

Trong điều kiện nền kinh tế mở cửa, doanh nghiệp còn chịu tác động của thị trường quốc tế Sự thay đổi chính sách thương mại của các nước, sự bất ổn của nền kinh tế các nước tác động trực tiếp đến thị trường đầu vào và đầu ra của doanh nghiệp

Như vậy, những thay đổi của môi trường kinh tế ngày càng có tác động mạnh đến hoạt động sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp, tạo cho doanh nghiệp những thuận lợi đồng thời cả những khó khăn Do đó, doanh nghiệp phải luôn đánh giá và dự báo những thay đổi đó để có thể đưa ra những biện pháp thích hợp nhằm tranh thủ những cơ hội và hạn chế những tác động tiêu cực từ sự thay đổi của môi trường kinh

tế

(2) Rủi ro trong sản xuất kinh doanh

Những rủi ro bất thường trong quá trình sản xuất kinh doanh mà các doanh nghiệp thường gặp phải trong điều kiện kinh doanh của cơ chế thị trường có nhiều thành phần kinh tế (kinh tế nhà nước, kinh tập thể, kinh tế tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài) tham gia cùng cạnh tranh với nhau Ngoài ra doanh nghiệp còn gặp phải những rủi ro do thiên nhiên gây ra như động đất, lũ lụt, núi lửa mà các doanh nghiệp khó có thể lường trước được

(3) Nhân tố công nghệ

Khoa học công nghệ luôn phát triển nhanh và vượt trội với nhiều thay đổi, chính những sự thay đổi này đem lại lợi ích cho doanh nghiệp nếu bắt kịp xu hướng mới, hiệu quả kinh doanh được tăng cường Song để có thể nhanh chóng bắt kịp được những tiến bộ này cũng đòi hỏi doanh nghiệp chịu khó đầu tư, thay đổi, điều này là không dễ với nhưng doanh nghiệp có quy mô nhỏ

Khoa học – công nghệ là một trong những nhân tố quyết định đến năng suất lao động và trình độ sản xuất của nền kinh tế nói chung và của từng doanh nghiệp nói riêng Sự tiến bộ của khoa học – công nghệ sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nâng cao năng lực sản xuất, giảm bớt chi phí, tăng khả năng cạnh tranh Tuy nhiên, tiến bộ khoa học – công nghệ cũng có thể làm cho tài sản của doanh nghiệp bị hao mòn vô hình nhanh hơn Có những máy móc, thiết bị, quy trình công nghệ… mới chỉ nằm trên các dự án, các dự thảo, phát minh đã trở nên lạc hậu trong chính thời điểm

đó

Như vậy, việc theo dõi cập nhật sự phát triển của khoa hoc – công nghệ là hết sức cần thiết đối với doanh nghiệp khi lựa chọn phương án đầu tư để có thể đạt được hiệu quả cao nhất trong việc sử dụng tài sản ngắn hạn, đảm bảo hoạt động sản xuất – kinh doanh của mình

(4) Chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước

Đây là một trong những nhân tố khách quan tác động đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Nhà nước tạo hành lang pháp lý, môi trường kinh doanh cho doanh

Trang 40

nghiệp hoạt động, do đó doanh nghiệp phải chấp hành những chế độ, quy định của Nhà nước Bất kỳ sự thay đổi nào trong cơ chế quản lý của Nhà nước đều tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Nhà nước điều tiết hoạt động thị trường thông qua các chính sách thuế, chính sách đầu tư, chính sách bảo trợ Các chính sách tích cực của Nhà nước như ưu đãi tín dụng, ký kết các hiệp định thương mại, tham gia các tổ chức thương mại trong khu vực

và thế giới đã tạo môi trường và hành lang pháp lý thuận lợi cho doanh nghiệp có cơ hội phát triển kinh doanh, nâng cao hiệu quả kinh tế Tuy nhiên, trong chính sách quản

lý kinh tế của Nhà nước còn nhiều điểm hạn chế và chưa hoàn thiện khiến cho doanh nghiệp gặp không ít khó khăn trong khi làm thủ tục hành chính, thương mại

Bởi vậy, các chính sách vĩ mô của Nhà nước khi có sự điều chỉnh, thay đổi về chính sách chế độ, hệ thống pháp luật, thuế cũng tác động đến hiệu quả sử dụng TSNH của doanh nghiệp Một cơ chế quản lý ổn định, thích hợp với các loại hình doanh nghiệp sẽ là điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển, giúp cho họ yên tâm khi tiến hành sản xuất kinh doanh, dồn hết năng lực sẵn có của mình vào kinh doanh mà không sợ sự biến động của thị trường

Ngày đăng: 26/05/2016, 18:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. PGS.TS. Nguyễn Năng Phúc, Phân tích báo cáo tài chính, NXB Đại học Kinh tế quốc dân , tái bản lần 2 năm 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích báo cáo tài chính
Nhà XB: NXB Đại học Kinh tế quốc dân
3. GS. Ngô Thế Chi, PTS. Đoàn Xuân Tiến, PTS. Vương Đình Huệ (2010), Kế toán - Kiểm toán và Phân tích tài chính doanh nghiệp, NXB Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế toán - Kiểm toán và Phân tích tài chính doanh nghiệp
Tác giả: GS. Ngô Thế Chi, PTS. Đoàn Xuân Tiến, PTS. Vương Đình Huệ
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 2010
1. PGS.TS. Lưu Thị Hương, Giáo trình Tài chính doanh nghiệp, NXB Đại học Kinh tế quốc dân năm 2013 Khác
4. Giáo trình Quản lý Tài chính công - nhà xuất bản tài chính năm 2009 Khác
5. Nguyễn Hải Sản – Quản trị tài chính doanh nghiệp – Nhà xuất bản Lao động năm 2012 Khác
6. Giáo trình Quản trị tài chính – Nhà xuất bản Nông nghiệp Khác
7. PGS.TS. Nguyễn Minh Kiều – Tài chính doanh nghiệp căn bản – Nhà xuất bản Lao động xã hội năm 2013 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.4. Mô hình lƣợng đặt hàng kinh tế (EOQ) - Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty TNHH thương mại và du lịch bảo long
Hình 1.4. Mô hình lƣợng đặt hàng kinh tế (EOQ) (Trang 29)
Sơ đồ  2.1. Cơ cấu bộ máy tổ chức Công ty TNHH Thương mại và Du lịch - Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty TNHH thương mại và du lịch bảo long
2.1. Cơ cấu bộ máy tổ chức Công ty TNHH Thương mại và Du lịch (Trang 42)
Bảng 2.1. Báo cáo kết quả kinh doanh giai đoạn 2011 – 2013 - Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty TNHH thương mại và du lịch bảo long
Bảng 2.1. Báo cáo kết quả kinh doanh giai đoạn 2011 – 2013 (Trang 45)
Bảng 2.2. Bảng cân đối kế toán Công ty giai đoạn 2011 – 2013 - Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty TNHH thương mại và du lịch bảo long
Bảng 2.2. Bảng cân đối kế toán Công ty giai đoạn 2011 – 2013 (Trang 50)
Bảng 2.3. Cơ cấu tài sản – nguồn vốn - Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty TNHH thương mại và du lịch bảo long
Bảng 2.3. Cơ cấu tài sản – nguồn vốn (Trang 52)
Bảng 2.4. Cơ cấu tài sản ngắn hạn tại Công ty TNHH Thương mại và Du lịch Bảo - Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty TNHH thương mại và du lịch bảo long
Bảng 2.4. Cơ cấu tài sản ngắn hạn tại Công ty TNHH Thương mại và Du lịch Bảo (Trang 53)
Bảng 2.6. Đánh giá điểm tín dụng của Công ty TNHH Vietsense Travel - Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty TNHH thương mại và du lịch bảo long
Bảng 2.6. Đánh giá điểm tín dụng của Công ty TNHH Vietsense Travel (Trang 59)
Bảng 2.7. Điểm số và phân nhóm khách hàng theo mô hình điểm tín dụng năm - Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty TNHH thương mại và du lịch bảo long
Bảng 2.7. Điểm số và phân nhóm khách hàng theo mô hình điểm tín dụng năm (Trang 60)
Bảng 2.11. Mức tiết kiệm (lãng phí) tài sản ngắn hạn tại Công ty TNHH Thương - Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty TNHH thương mại và du lịch bảo long
Bảng 2.11. Mức tiết kiệm (lãng phí) tài sản ngắn hạn tại Công ty TNHH Thương (Trang 67)
Bảng 3.1. Điểm số và phân nhóm khách hàng theo mô hình Z – core năm 2013 - Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty TNHH thương mại và du lịch bảo long
Bảng 3.1. Điểm số và phân nhóm khách hàng theo mô hình Z – core năm 2013 (Trang 77)
Bảng 3.2. Thủ tục thu nợ  Thời gian - Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty TNHH thương mại và du lịch bảo long
Bảng 3.2. Thủ tục thu nợ Thời gian (Trang 79)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w