- Xây dựng được quy trình nhân giống loài Đỗ quyên hoa bông bằng phương pháp giâm hom, từ kết quả này các tổ chức, cá nhân và người dân địa phương có thể áp dụng để phát triển các vườn Đ
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊNTRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN XUÂN KHOA
NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ KHẢ NĂNG NHÂN GIỐNG HOA ĐỖ QUYÊN TẠI VƯỜN QUỐC GIA HOÀNG LIÊN SA PA - LÀO CAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
THÁI NGUYÊN - NĂM 2010
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa hề sử dụng cho bảo vệ một học
vị nào
Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn Các thông tin, tài liệu trong luận văn này đã được ghi rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Xuân Khoa
Trang 3
LỜI CẢM ƠN
Với mong muốn góp phần công sức của mình vào sự nghiệp bảo tồn đa
dạng sinh học, từ năm 2008 đến nay, tôi đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu tính
đa dạng sinh học và khả năng nhân giống hoa Đỗ quyên tại Vườn Quốc gia Hoàng Liên - Sa Pa - Lào Cai”
Để hoàn thành được đề tài và bản luận văn này, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình và những ý kiến đóng góp quý báu của các thày, cô giáo, bạn bè đồng nghiệp Nhân dịp này cho tôi bày
tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn khoa học PGS.TS Đào Thanh Vân đã tận tình giúp đỡ tôi trong cả quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn, xin cảm ơn các thày cô giáo và Ban giám hiệu Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu
để hoàn thành các nội dung và chương trình mà luận văn đặt ra
Tôi xin trân thành cảm ơn Ban giám đốc và cán bộ công nhân viên của Vườn Quốc gia Hoàng Liên, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Lào Cai đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong việc điều tra, nghiên cứu, thu thập số liệu tại hiện trường và kế thừa các số liệu sẵn có để hoàn thành tốt luận văn
Vì điều kiện thời gian, nhân lực và những khó khăn khách quan nên bản luận văn này chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các các thầy, cô giáo, bạn bè đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin trân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 8 tháng 10 năm 2010
Tác giả luận văn
Nguyễn Xuân Khoa
Trang 4MỤC LỤC
1.3 Tình hình nghiên cứu và tư liệu về hoa Đỗ quyên trên thế giới và
1.3.3 Tính đa dạng sinh học của hoa Đỗ quyên tại Vườn Quốc gia
Trang 51.4.2 Ở Việt Nam 24
2.3.2.2 Điều tra, khảo sát ngoài thực địa kết hợp thu mẫu vật, mô tả
2.3.2.3 Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống Đỗ quyên bằng phương pháp giâm
3.1 Điều tra, phân loại các loài Đỗ quyên theo các nhóm chức năng và
3.3 Nghiên cứu nhân giống loài Đỗ quyên Hoa bông bằng phương
3.3.1 Ảnh hưởng của nồng độ IBA đến khả năng nhân giống Đỗ
3.3.1.1 Ảnh hưởng của nồng độ IBA đến khả năng ra mô sẹo của hom
3.3.1.2 Ảnh hưởng của nồng độ IBA đến khả năng ra lá, bật mầm và
Trang 63.3.1.3 Ảnh hưởng của nồng độ IBA đến khả năng ra rễ, thời gian ra
3.3.2 Ảnh hưởng của thời vụ giâm hom đến khả năng nhân giống Đỗ
3.3.2.1 Ảnh hưởng của thời vụ giâm hom đến khả năng ra mô sẹo của
3.3.2.2 Ảnh hưởng của thời vụ giâm hom đến khả năng ra lá, bật mầm
3.3.2.3 Ảnh hưởng của thời vụ giâm hom đến khả năng ra rễ, thời
3.3.3 Ảnh hưởng của độ dài hom giâm đến khả năng nhân giống Đỗ
3.3.3.1 Ảnh hưởng của độ dài hom giâm đến khả năng ra mô sẹo của
3.3.3.2 Ảnh hưởng của độ dài hom giâm đến khả năng ra lá, bật mầm
3.3.3.3 Ảnh hưởng của độ dài hom giâm đến khả năng ra rễ, thời gian
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.2 Phân loại Đỗ quyên theo nhóm chức năng và nhóm đánh
Bảng 3.3 Đặc điểm hình thái thân của các loài Đỗ quyên tại khu
Bảng 3.5 Đặc điểm hình thái hoa và sự ra hoa của các loài Đỗ
Bảng 3.6 Đặc điểm hình thái quả các loài Đỗ quyên tại khu vực
Bảng 3.7 Tình hình phân bố các loài Đỗ quyên tại khu vực Hoàng
Bảng 3.8 Ảnh hưởng của nồng độ IBA đến khả năng ra mô sẹo của
Bảng 3.9 Ảnh hưởng của nồng độ IBA đến khả năng ra lá, bật
Bảng 3.10 Ảnh hưởng của nồng độ IBA đến khả năng ra rễ, thời
Bảng 3.11 Ảnh hưởng của thời vụ giâm hom đến khả ra mô sẹo
Bảng 3.12 Ảnh hưởng của thời vụ giâm hom đến khả năng ra lá,
Bảng 3.13 Ảnh hưởng của thời vụ giâm hom đến khả năng ra rễ,
thời gian ra rễ, hom sống và tỷ lệ xuất vườn của hom Đỗ quyên hoa
Bảng 3.14 Ảnh hưởng của độ dài hom giâm đến khả năng ra mô
Bảng 3.15 Ảnh hưởng của độ dài hom giâm đến khả năng ra lá,
Bảng 3.16 Ảnh hưởng của độ dài hom đến khả ra rễ, thời gian ra
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1 Ảnh hưởng của nồng độ IBA đến tỷ lệ ra mô sẹo của
Hình 3.2 Ảnh hưởng của nồng độ IBA đến tỷ lệ ra rễ của hom
Hình 3.3 Ảnh hưởng của thời vụ giâm hom đến tỷ lệ ra mô
Hình 3.4 Ảnh hưởng của thời vụ giâm hom đến tỷ lệ ra rễ của
Hình 3.5 Ảnh hưởng của độ dài hom giâm đến tỷ lệ ra mô sẹo
Hình 3.6 Ảnh hưởng của độ dài hom giâm đến tỷ lệ ra rễ của
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hoa có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống xã hội ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt ở các nước Á Đông Trồng hoa và chơi hoa là một thú vui tao nhã của mọi người, từ các bậc quyền quý đến các hộ dân nghèo Những năm trở lại đây, nhu cầu về hoa trên thế giới ngày càng tăng cả về số lượng và chất lượng Ở Lào Cai, với những điều kiện khí hậu, đất đai phù hợp cho việc trồng và phát triển nhiều loại hoa, đặc biệt
ở các huyện vùng cao như: Sa Pa, Bắc Hà với khí hậu ôn đới mát mẻ có thể trồng được nhiều loại hoa chất lượng cao mà địa phương khác không trồng được Từ năm 2001 đến nay, nghề trồng hoa ở Lào Cai đã được hình thành và phát triển, mang lại thu nhập kinh tế cao cho nhiều doanh nghiệp, hộ gia đình và cung cấp các sản phẩm có chất lượng cho thị trường trong và ngoài nước Các loại hoa chất lượng cao như: Hoa Lily, hồng, Đỗ Quyên và các loài Lan bản địa đã dần có tên tuổi, gắn liền với những vùng du lịch nổi tiếng
Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường,
sự phát triển ồ ạt của các ngành công nghiệp cùng với áp lực của sự gia tăng dân số đã có nhiều tác động xấu đến các hệ sinh thái rừng, đặc biệt
là rừng tự nhiên Nhiều loài động, thực vật quý, hiếm bị khai thác, săn bắn, xâm lấn nơi ở hoặc môi trường sống bị ô nhiễm đã dẫn đến nguy cơ
bị tuyệt chủng Hơn thế, cuộc sống của chúng ta ngày càng bận rộn, lo toan nên khoảng cách giữa con người và tự nhiên dường như ngày càng
xa cách Cho dù vậy, thiên nhiên luôn cần thiết cho mỗi chúng ta, bởi nó
là khởi nguồn của sự sống, nó sẽ đem đến tình yêu và sức mạnh, đó chính là lý do giải thích về tầm quan trọng của du lịch sinh thái, một ngành kinh tế không thể thiếu trong cuộc sống hiện đại Du lịch sinh thái
là khâu kết nối giữa con người với tự nhiên và giữa con người với nhau,
Trang 11sự hấp dẫn, lôi cuốn của nó chính là vẻ đẹp, sự hùng vĩ của thiên nhiên với những danh thắng, chim muông và những loài hoa đồng nội, trong đó
có các loài hoa Đỗ quyên được coi như những loài hoa vương giả
Địa bàn huyện Sa Pa trong đó có Vườn Quốc gia Hoàng Liên được xem như có tính đa dạng sinh học cao nhất trong hệ thống rừng đặc dụng Việt Nam với gần 3.000 loài thực vật và trên 500 loài động vật Trong số đó có 116 loài thực vật và 60 loài động vật đang bị đe dọa được ghi trong Sách đỏ Việt Nam và Danh lục đỏ Thế giới Tài nguyên thực vật rừng nơi đây cũng rất đa dạng về công dụng với 16 nhóm công dụng chính như: Lấy gỗ, làm thuốc, cây bóng mát hoặc làm cảnh, làm rau ăn, lấy quả, cho nhựa mủ, cho tanin, cho tinh dầu, Đặc biệt, nhóm các loài cây Đỗ quyên (viết tắt là ĐQ) có nhiều giá trị công dụng khác nhau như trồng làm cây cảnh, làm nguồn dược liệu chữa bệnh hoặc có thể trồng cây đường phố và trồng cảnh quan Hoa Đỗ quyên có giá trị kinh tế rất cao, mỗi chậu hoa cảnh có giá từ vài trăm nghìn đến hàng triệu đồng
Đỗ quyên là một nhóm các loài cây cho hoa đẹp, đa tác dụng và có giá trị về nhiều mặt, nhiều lĩnh vực nên được rất nhiều người ưa thích Chúng chỉ phân bố tự nhiên ở những vùng núi cao, có khí hậu quanh năm mát mẻ, vì đây là những loài cây của vùng Á nhiệt đới hoặc Ôn đới núi cao Ở Việt Nam, Đỗ quyên thường có ở Sa Pa, Tam đảo, Bạch mã,
Đà lạt, v.v, trong đó Sa Pa nơi có các dãy núi thuộc Vườn Quốc gia Hoàng Liên, được coi là trung tâm có nhiều hoa Đỗ quyên nhất với khoảng 30 loài khác nhau Chính về sự đa dạng về giá trị và công dụng, nhiều loài Đỗ quyên có nguy cơ bị khai thác quá tải nên có thể bị đe dọa tiêu diệt, do nhiều nguyên nhân khác nhau như: nhu cầu chơi cây cảnh, nhu cầu làm dược liệu và đặc biệt do thị trường Trung Quốc thu mua rất lớn với giá mua rất cao nên người dân địa phương đã vào rừng thu hái trái phép ngày càng nhiều Điều đó đã dẫn đến làm suy giảm số lượng và
Trang 12trữ lượng loài Bên cạnh đó, nạn cháy rừng cũng đã làm mất đi nơi sống của chúng Trong khi đó, việc nghiên cứu cơ bản về loài cây này còn rất hạn chế, rất có thể có loài bị tiêu diệt trước khi được nghiên cứu
Để thực hiện ngày càng tốt hơn công tác bảo tồn phát triển các loài cây ĐQ và ngăn chặn các tổn thất đa dạng sinh học Đồng thời tạo hướng sản xuất hàng hóa những loài cây này phục vụ nhu cầu chơi cây cảnh, sử dụng làm thuốc chữa bệnh, trồng cây cảnh quan, tăng thu nhập cho người dân địa phương và giảm áp lực của cộng đồng lên tài nguyên thiên nhiên VQG Hoàng Liên Xuất phát từ thực tế và yêu cầu của sản xuất và bảo tồn đa dạng sinh học nên chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu tính đa dạng sinh học và khả năng nhân giống hoa Đỗ quyên tại Vườn Quốc gia Hoàng Liên - Sa Pa - Lào Cai”
2 Mục đích yêu cầu của đề tài
2.1 Mục đích
- Mô tả các đặc điểm hình thái, tình hình sinh trưởng của các loài
Đỗ quyên tại khu vực Hoàng Liên
- Một số biện pháp kỹ thuật trong nhân giống loài Đỗ quyên hoa bông bằng phương pháp giâm hom tại Vườn Quốc gia Hoàng Liên - Sa
Trang 133 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
- Xây dựng cơ sở dữ liệu về các loài hoa Đỗ quyên, sử dụng làm tài liệu tham khảo trong quá trình thực hiện các đề án phát triển rau, hoa cây cảnh tại Sa Pa, Lào Cai
- Xây dựng được quy trình nhân giống loài Đỗ quyên hoa bông bằng phương pháp giâm hom, từ kết quả này các tổ chức, cá nhân và người dân địa phương có thể áp dụng để phát triển các vườn Đỗ quyên, sản xuất và cung cấp giống chất lượng cao đáp ứng nhu cầu thị trường hoa cây cảnh
- Từ kết quả nghiên cứu có thể làm cơ sở để ứng dụng tiếp tục nhân giống một số loài Đỗ quyên khác có giá trị
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Ứng dụng kết quả nghiên cứu của đề tài từ đó mở ra một hướng mới về việc sử dụng, phát triển loài Đỗ quyên thành một loài cây cảnh có giá trị kinh tế và thẩm mỹ cao phục vụ cho nhu cầu trong và ngoài nước
- Tạo điều kiện phát triển hoạt động du lịch sinh thái từ rừng cảnh quan Đỗ quyên, vườn Đỗ quyên, với nhưng loài Đỗ quyên cổ thụ cho hoa đẹp
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Nguồn gốc, đặc điểm hình thái, thực vật học hoa Đỗ quyên
1.1.1 Nguồn gốc, phân loại hoa Đỗ quyên
Theo Jiang Qing Hai, Trần Văn Mão dịch (2006) [8], Đỗ quyên (Rhododendron spp.) là một loài cây cảnh nổi tiếng, dân gian thường nói
“Hoa trung Tây thi” (Tây thi trong hoa, ND) Hiện nay có khoảng hơn 1.000 loài Trung Quốc có khoảng hơn 600 loài, có thể chia ra xuân quyên, hạ quyên, xuân hạ quyên
Đỗ quyên nguyên sản ở Trung Quốc, thuộc họ Đỗ quyên, là cây bụi thường xanh, nửa thường xanh hoặc dụng lá hoặc là cây bụi, cây gỗ thân to có cây cao hơn 20m, cây nhiều nhánh, nhánh nhỏ dày, nhánh non
có lông, màu nâu Lá mọc lệch hình dạng khác nhau theo loài, hình tròn, hình bầu dục, hình trứng, Màu hoa cũng rất nhiều và khác nhau theo loài, trắng, tím, hồng, vàng, đỏ, tím nhạt, Cũng nhiều loài có hai màu hoa Hoa xuân quyên nở vào tháng 4 - 5, hoa hạ quyên nở vào tháng 5-6 Quả chín màu nâu sẫm, hạt màu vàng sẫm, nhỏ
Hoa Đỗ quyên còn gọi là Thạch lựu núi, khái niệm hẹp này có nghĩa là chỉ phân bố ở vùng núi phía nam lưu vực sông Trường Giang, người ta cho rằng loài hoa Đỗ quyên có nguồn gốc từ Trung Quốc được phân bố nhiều ở các bờ nam và bắc các con sông lớn của Trung Quốc, mỗi lần tiết thanh minh đến hoa đều nở rộ và được cho vào các bình, chậu được xem như gió thơm xuân và khi đi dọc đường có hoa Đỗ quyên
nở người ta thường có cảm giác như là một rừng hoa núi
Hoa Đỗ quyên có lịch sử lâu đời tại Trung Quốc, vào năm 402 sau công nguyên đã xuất hiện hoa Đỗ quyên, sử sách Trung Quốc có ghi lại thời đó Dê ăn lá Đỗ quyên bị chết; Thời đường ở Giang Tô đã trồng cây
Đỗ quyên và lưu truyền rằng Hoàng hậu Đường chinh thường đi thưởng thức hoa Đỗ quyên vào ngày tết Người ngoại quốc lấy rễ cây hoa Đỗ
Trang 15quyên làm thuốc chữa bệnh Đến thời Minh có rất nhiều tài liệu ghi chép lại về hoa Đỗ quyên nhưng đến đời Thanh mới có một cuốn sách mô tả, tổng kết kinh nghiệm về tập tính và cách trồng hoa Đỗ quyên Đến thời cận đại trước giải phóng do vận nước suy tàn nên nhiều loài hoa Đỗ quyên bị mất ra nước ngoài Lúc đó có 4 nhà học giả người Mỹ đã 31 lần đến Trung Quốc thu lượm hoa trong đó có 1 phần hoa Đỗ quyên Hiện nay ở Anh có một vườn hoa có đến 350 loài hoa Đỗ quyên của Trung Quốc Trong một khu bảo tàng thực vật ở nước Anh có 1 cây hoa Đỗ quyên được giữ làm tiêu bản gốc từ năm 1915, cây Đỗ quyên này có đường kính là 2,6m, 280 năm tuổi theo vòng năm, sau này ở Anh đã khai thác sử dụng tài nguyên di truyền phong phú của Trung Quốc, Nhật Bản
và châu Âu để lai tạo ra nhiều giống hoa Đỗ quyên mới, rồi hàng loạt các loài hoa ưu tú xuất hiện, trong đó các nhà nghệ thuật vườn của nước Bỉ
đã chọn lọc lai tạo và nuôi dưỡng những loài hoa lớn mọc thích hợp vào mùa đông được mọi người dân Bỉ rất hoan nghênh và được gọi là Đỗ quyên Bỉ, sau này được đem về Trung Quốc và được gọi là hoa Đỗ quyên tây Hoa đỗ quyên ở Trung Quốc đã trở thành “Hoa nở trong tường, hương thơm ngoài ngõ”
Phân loại thực vật học hoa Đỗ quyên:
- Giới (regnum) : Plantae
- Tên thông thường : Đỗ quyên
- Tên khoa học : Rhododendron (/roudə'dendrən/)
Hoa Đỗ quyên có giá trị thưởng thức rất cao Nói về màu sắc hoa
Đỗ quyên trong hệ thống hoa màu đỏ có Đỗ quyên hồng, Đỗ quyên đỏ thẫm, Đỗ quyên đỏ tím, Đỗ quyên đỏ cam Trong hệ thống hoa màu
Trang 16vàng có Đỗ quyên vàng lam, Đỗ quyên vàng nâu, Đỗ quyên vàng thẫm, vàng nhạt, vàng xanh,… [2],[10],[12]
Theo I Miyajima, K Ureshino, N Kobayashi, M Akabane (2000) [30], R De Loose (1978) [34], phân tích hóa học cho thấy nguyên do màu đỏ ở hoa Đỗ quyên là các chất sắc anthocyanin Hai chất chính cyanidin glucosid và cyanidin diglucosid thường gặp bên cạnh peonidin diglucosid Hoa màu tía chứa đựng malvidin diglucosid, màu tím là do myricetin methyl ether mà ra, còn quercetin, azaleatin, methoxy kaempferol chuyển màu đỏ xanh Lượng các cyanidin hay flavonol, mà nhiều nhất là azaleatin rhamnosyl gucosid, làm thay đổi màu hoa từ đỏ thẫm, đỏ xanh qua hồng nhiệt, đỏ cam, đỏ vàng Càng ít cyanidin glucosid, màu đỏ càng chuyển qua xanh Cyanidin còn hiện ra dưới các thể galactosid, arabinosid, galactosid glucosid, araginosid Trong số các flavon khác, đã xác định được những pelargonidin, delphinidin, petunidin, còn flavonol glycosid thì có quercetin galactosid, rhamnosid, azaleatin galactosid, malvidin glucosid, delphinidin glucosid Hai chất sau nầy nhuộm hoa màu tía, còn caroten hiến màu vàng trong hoa Rh japonicum f flavum
1.1.2 Đặc điểm thực vật học
Cây bụi, cây thân gỗ, thường xanh hoặc lá rụng
Lá đơn, mọc cách, ít khi mọc đối hoặc mọc vòng, mép lá nguyên hoặc có răng cưa, không có lá kèm
Hoa tự đơn lẻ hoặc chùm, tán hoặc viền thùy ở nách lá hoặc đầu cành, thường có 1 - 3 lá bắc Hoa lưỡng tính đều hoặc không đều Đài 4 -
5 cánh hợp gốc, tràng hợp ống, 4 - 5 cánh xếp lợp, đỉnh cánh tràng thường có vết lõm Nhị rời, thường gấp đôi số cánh tràng, bao phấn 2 ô thường mở lỗ và có cựa Triền hoa trong nhị Bầu trên 4 - 5 ô, đôi khi nhiều hơn Mỗi ô 1 đến nhiều noãn, đính noãn trung trụ Vòi nhụy nguyên
Quả nang, thường có múi, đôi khi quả mọng Hạt thường có cánh, nhiều phôi nhũ [3]
Trang 171.2 Yêu cầu sinh thái của cây hoa Đỗ quyên
1.2.1 Ánh sáng
Hoa Đỗ quyên là loại cây chiếu sáng dài, thông thường phải có điều kiện chiếu sáng - không gian thì mới nở hoa, lúc sinh trưởng chế độ chiếu sáng phải chọn lọc nhất định, các loài hoa Đỗ quyên rất ưa nửa bóng, kỵ chiếu sáng mạnh, ánh sáng trực xạ sẽ làm cho chức năng quang hợp của lá
bị thay đổi dẫn đến hiện tượng héo sinh lý, nhất là khi độ chiếu sáng mạnh của mùa hè nhiệt độ tăng đột ngột quá trình quang hợp sẽ bị ngừng trệ ảnh hưởng đến hoạt động sinh lý bình thường thậm chí phá hoại chất diệp lục
lá chuyển sang màu nâu, xuất hiện hiện tượng lão hoá Mùa chiếu sáng mạnh nên đưa hoa vào nơi giâm mát để chăm sóc như vậy thì sinh trưởng của cây mới bình thường, lá mới xanh nếu chiếu sáng quá nhiều lá mất màu xanh và bị khô Các chủng loại hoa Đỗ quyên khác nhau thì sức đề kháng với ánh sáng cũng khác nhau [8],[21]
1.2.2 Nhiệt độ
Hoa Đỗ quyên là loài ưa mát không thích hợp với môi trường ánh sáng, nhiệt độ cao Nhưng các giai đoạn sinh trưởng phát triển khác nhau yêu cầu đối với nhiệt độ cũng khác nhau, nhiệt độ cao hay thấp đều có liên quan rất mật thiết đối với sinh trưởng phát triển của hoa Đỗ quyên, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình ra chồi hoa và nụ hoa, là nhân tố quan trọng khống chế sự ra hoa Sinh trưởng mạnh nhất của hoa Đỗ quyên vẫn yêu cầu khí hậu mát mẻ của mùa xuân và mùa thu, những mùa nhiệt độ cao sinh trưởng rất chậm, trong thời kỳ ra hoa môi trường nhiệt độ cao chồi hoa khó hình thành, thực tế chứng minh rằng trong điều kiện chiếu sáng nhiệt độ từ 15-25oC thì nụ hoa phát triển nhanh từ 1 chồi hoa thành
1 bông hoa nở trong 30 - 40 ngày, nhưng nhiệt độ thấp hơn 15oC thì hoa
nở mất 50 ngày, nhiệt độ lớn hơn 30oC thì sinh trưởng của hoa Đỗ quyên
và sự ra hoa càng bị ảnh hưởng, có một số loài hoa Đỗ quyên ở nơi chiếu sáng mạnh nhiệt độ cao thì các lá sẽ nhỏ lại nụ hoa phát triển không
Trang 18đồng đều, nếu ở nhiệt độ dưới 10oC thời gian hoa nở kéo rất dài có khi đến 80 ngày không bị héo, nếu nhiệt độ lớn hơn 20oC thời gian sẽ ngắn hơn chỉ được khoảng 40 ngày Do hoa Đỗ quyên sinh trưởng ở vùng cao nên có khả năng chịu rét rất tốt thậm chí có loài hoa Đỗ quyên chịu được nhiệt độ là âm 30oC [8],[21]
1.2.3 Nước
Nước đóng vai trò quan trọng trong cơ thể thực vật Nước giữ vai trò quan trọng trong phân chia tế bào, khi có đầy đủ nước và môi trường thích hợp, tế bào phân chia, phát triển thuận lợi cây sinh trưởng nhanh Khi thiếu nước các quá trình sinh lý, sinh hóa trong cây hoa giảm, các hợp chất hữu cơ được tạo thành ít, cây còi cọc, phát triển kém Nếu sự thiếu nước kéo dài, cây hoa có thể khô héo và chết Nhưng, nếu quá nhiều nước, cây bị úng ngập, sinh trưởng phát triển của cây cũng bị ngừng trệ Quá ẩm ướt, sâu bệnh phát triển mạnh, hoa cho năng suất thấp, chất lượng hoa kém Mỗi loại hoa yêu cầu độ ẩm khác nhau Hoa
Đỗ quyên thuộc ôn đới yêu cầu độ ẩm đất thường khoảng 70 - 90%, nếu khống chế ẩm độ thích hợp thì độ dài cành tăng thêm trung bình 8,2% Hoa Đỗ quyên trong quá trình phát triển có bộ rễ rất mảnh, phản ứng rất nhạy cảm đối với nước vừa sợ hạn vừa sợ úng chỉ cần cung cấp
đủ, quá khô hoặc quá ẩm đều không có lợi cho sinh trưởng Hoa Đỗ quyên cũng yêu cầu rất nghiêm khắc với trữ lượng nước, bình thường thì
ưa nước hơi chua nếu như tưới nước hơi kiềm thì sẽ làm cho đất chua biến thành kiềm sẽ ảnh hưởng đến hoa Nếu cây ra lá thiếu nước cây sẽ
bị vàng lá, đọt lá xoăn, hoa rủ không tươi và có thể chết Cần phải căn cứ vào tình hình thời tiết, không khí khô hay ẩm và lượng nước trong đất để tưới Nguyên tắc của tưới nước cho Đỗ quyên là không khô không tưới, không tưới thấm, tránh chỉ tưới một nửa Hai mùa xuân và thu, thời kỳ sinh trưởng, nở hoa và ra nụ cần tưới nhiều hơn, khi nhiệt độ cao mỗi ngày cần tưới 1 - 2 lần Khi phân hóa chồi hoa, phải khống chế lượng
Trang 19nước để chồi hoa hình thành Chất lượng nước tưới cũng là vấn đề cần phải chú ý, nên tưới bằng nước tự nhiên là tốt nhất
Độ ẩm của không khí và đất đều ảnh hưởng tới sinh trưởng và phát triển của cây hoa Độ ẩm thích hợp thì cây hoa sinh trưởng, phát triển tốt
ít sâu bệnh, ra hoa đẹp, chất lượng hoa cao[8],[21]
1.2.4 Đất
Đất là một yếu tố môi trường quan trọng cơ bản nhất, là nơi nâng
đỡ cây trồng, cung cấp nước, dinh dưỡng cơ bản và không khí cho sự sống của cây hoa Phần lớn các cây hoa yêu cầu đất tốt, nhiều mùn, tơi xốp, thoát nước, có khả năng giữ ẩm, tầng canh tác dày
Đất trồng thích hợp cho cây Đỗ quyên là một vấn đề quan trọng, có ảnh hưởng mạnh đến sinh trưởng và phát triển của cây, Đỗ quyên có bộ
rễ phát triển nông chỉ đạt 20 - 60cm và có tính chọn lọc rất mạnh đối với chất đất Thông thường Đỗ quyên ưa đất chua, nếu đất kiềm lá sẽ héo vàng và chết Đỗ quyên là loài thực vật chỉ thị của vùng đất chua Hàm lượng mùn trong đất trồng cây hoa Đỗ quyên phải cao mới phù hợp cho chúng sinh trưởng Mùn nhiều có thể bổ sung dinh dưỡng cho cây, cải thiện kết cấu đất, làm tăng khả năng giữ nước, giữ phân, thông gió, hút nhiệt, xúc tiến ra rễ [8],[21]
1.2.5 Nhu cầu dinh dưỡng khoáng của cây hoa Đỗ quyên
Nhu cầu dinh dưỡng và đặc điểm hút dinh dưỡng của cây có liên quan đến nguồn gốc cây và giống Nhu cầu và tác dụng sinh lý của các nguyên tố khoáng với hoa Đỗ quyên có đặc điểm sau:
Theo Nguyễn Như Hà (2006) [7], Nguyễn Ngọc Nông (2009) [15] + Đạm (N): là nguyên tố quan trọng nhất của cây, nó là thành phần của axit amin, protein, axit nucleic, men, chất kích thích sinh trưởng, vitamin (chiếm khoảng 1-2% khối lượng chất khô) Cây có thể hút đạm dưới các dạng: NO3-, NO2-, NH4+, axit amin, Đạm ảnh hưởng rất lớn tới sản lượng và chất lượng hoa, thiếu đạm cây sinh trưởng chậm, phân cành
Trang 20yếu, cành, lá nhỏ, diệp lục tố ít, lá biến vàng, lá già và dễ bị rụng, rễ nhỏ dài và ít, cây thấp khả năng quang hợp giảm
+ Lân (P): tham gia vào thành phần quan trọng của axit nucleic và màng tế bào, tạo thành ATP là vật chất mang và tải năng lượng Lân thường chiếm từ 1 - 1,4% khối lượng chất khô của cây Cây hút lân dưới dạng H2PO4- và HPO42-, lân có thể di chuyển trong cây, chủ yếu tập trung ở phần non Khi thiếu lân thì phần già biểu hiện trước Lân cũng ảnh hưởng lớn đến phẩm chất cây Thiếu lân dẫn tới tích lũy đạm dạng nitrat gây trở ngại cho việc tổng hợp protein Cành, lá, rễ sinh trưởng chậm, cây thấp bé, lá có màu tím tối hoặc tím đỏ ảnh hưởng đến tổng hợp chất tinh bột, hoa nở khó Nhiều lân quá sẽ ức chế sinh trưởng dẫn tới thừa sắt, lá biến vàng, ảnh hưởng tới sự hút sắt
+ Kali (K): không tham gia thành phần cấu tạo của cây, thường tồn tại trong dịch bào dưới dạng ion Tác dụng chủ yếu của kali là điều tiết
áp suất thẩm thấu của tế bào, thúc đẩy quá trình hút nước, hút dinh dưỡng của cây Khi ánh sáng yếu kali có tác dụng kích thích quang hợp, tăng sức đề kháng cho cây Trong cây, kali di động tự do Nếu thiếu kali,
sự sinh trưởng, phát dục của cây giảm sút, mép lá thiếu màu xanh, ngọn
lá khô héo sau đó lan ra toàn lá, các đốt ngắn lại, nụ hoa nhỏ và dễ trở thành hoa mù kali là nguyên tố mà cây hút nhiều nhất, (gấp 1,8 lần đạm), kali ít ảnh hưởng tới phát triển của cây so với đạm và lân Tuy nhiên, thiếu kali cây sinh trưởng kém, thiếu nhiều ảnh hưởng tới việc hút canxi và magiê từ đó ảnh hưởng đến độ cứng của thân, cành và chất lượng hoa
+ Canxi (Ca): Chủ yếu tham gia vào sự tạo vách tế bào và hoạt chất của nhiều loại men, có tác dụng tới việc duy trì công năng của màng tế bào và duy trì cân bằng của môi trường bên ngoài Trong cây, canxi không di động tự do Nếu thiếu canxi, phần bị hại trước tiên là chóp rễ sau đó đỉnh ngọn chồi bị xám đen và chết, quanh mép lá non xuất hiện
Trang 21những vết màu tím tối rồi lá khô và rụng, nụ bị teo và rụng Canxi trong đất rất ít di chuyển, vì vậy phải bón làm nhiều lần
+ Magie (Mg): tham gia vào hoạt chất của nhiều loại men và tham gia vào thành phần của chất diệp lục Thiếu Mg ảnh hưởng tới quang hợp, mặt dưới và gân lá bị vàng; nếu thiếu nhiều quá, gân lá sẽ thâm đen,
lá bị rụng Mg còn tham gia vào quá trình tổng hợp protein và xúc tác cho một số loại men Mg có thể di chuyển trong cây
+ Lưu huỳnh (S): tham gia vào quá trình hình thành protein Cây hút lưu huỳnh dưới dạng SO4 Lưu huỳnh di động trong cây rất yếu Thiếu lưu huỳnh biểu hiện ở phần non rõ hơn phần già, protein tạo thành
ít, cây sinh trưởng chậm Thừa lưu huỳnh gây độc cho cây
+ Sắt (Fe): là thành phần của nhiều loại men có liên quan tới quang hợp Nếu thiếu sắt, quang hợp sẽ giảm, lá non thiếu màu xanh Sắt không
di động được trong cây, thiếu sắt trước hết biểu hiện ở các phần non Trong đất sắt thường tồn tại ở dạng Fe2O3, cây hút sắt ở dạng FeSO4 Nói chung trong đất không thiếu sắt nhưng do có nhiều hợp chất sắt cây không hút được dẫn tới thiếu Khi hàm lượng axit phosphoric cao, sắt không hòa tan được, khi pH trên 6,5 sắt cũng dễ bị kết tủa
+ Mangan (Mn): không phải là thành phần của diệp lục nhưng có quan hệ chặt với sự hình thành diệp lục và quá trình quang hợp Nếu thiếu Mn, quang hợp sẽ giảm Mn làm tăng hoạt tính của rất nhiều loại men Trong cây, Mn và sắt có tính đối kháng, nhiều Mn thì thiếu sắt, sắt quá nhiều thì thiếu Mn Khi thiếu Mn, trên lá xuất hiện những vết vàng + Bo (Bo): có tác dụng rất quan trọng tới sự phân hóa hoa, tới quá trình thụ phấn, thụ tinh và sự phát dục của cơ quan sinh thực, đồng thời còn có tác động tới sự chuyển hóa và vận chuyển của đường Nếu thiếu
Bo, phần chóp ngọn cây ngừng sinh trưởng, lá và cành hoa cong lại, đốt ngắn lại Nếu nhiều Bo quá, mép lá biến thành màu nâu, các phần khác biến vàng
Trang 22+ Kẽm (Zn): kích thích sự giải phóng CO2 trong diệp lục, kích thích quang hợp Kẽm có liên quan đến sự hình thành kích tố sinh trưởng Nếu thiếu kẽm, chất kích thích sinh trưởng khó hình thành, ảnh hưởng tới sự sinh trưởng của cây, đốt ngắn lại, lá và gân lá thiếu màu xanh sau đó chuyển vàng, trắng và chết khô
+ Đồng (Cu): có trong các Coenzyme, trong nhiều loại men oxidase, tham gia vào quá trình ôxi hóa khử trong cây Đồng có quan hệ rất chặt chẽ với việc hình thành chất diệp lục, quan hệ tới hiệu suất quang hợp đồng thời còn tham gia vào quá trình trao đổi của đường và protein
1.2.6 Các loại sâu, bệnh thường gặp ở Đỗ quyên
Theo kết quả nghiên cứu của Trần Văn Mão (2001) [14] về các loại sâu, bệnh hại thường gặp ở trên cây hoa Đỗ quyên cho thấy:
Các loại bệnh thường gặp ở Đỗ quyên:
Bệnh thối rễ, bệnh đốm nâu, bệnh đốm đen, bệnh khô lá và bệnh vàng lá
- Bệnh thối rễ: Sau khi bị bệnh cây khô héo, trên rễ có các đốm nâu, nhiều nước Bệnh nặng vỏ bị bóc ra, gỗ biến màu đen, trong điều kiện nhiệt độ cao, độ ẩm lớn bệnh dễ phát sinh
Phương pháp phòng trừ: Trước khi thay chậu cần khử trùng đất,
giữ cho đất tơi xốp, ẩm, tránh tích tụ nước Nếu phát hiện cây bệnh phải kịp thời xử lý cây và đất chậu Khi phòng trừ dùng thuốc tím 0,1% hoặc Sunfat sắt 2% tưới vào cây bệnh, dùng nước rửa sạch rồi đưa vào chậu; dùng Topsin 0,1% phun vào chậu cũng có hiệu quả
- Bệnh đốm nâu Bệnh đốm nâu là bệnh hại chủ yếu của cây Đỗ quyên Khi bệnh mới xuất hiện, trên lá có các đốm nhỏ màu nâu rồi lan rộng thành đốm lớn, trên đốm có các điểm đen Bệnh làm cho lá rụng ảnh hưởng đến sự ra hoa
Trang 23Phương pháp phòng trừ: Cần chú ý để nơi vào nơi thông thoáng, khi
bón phân cần tăng cường bón phân tổng hợp N, P, K Nếu phát hiện lá bị bệnh cần cắt và đốt đi Khi mới chớm bệnh phun thuốc Booc đô 1% hoặc hợp chất lưu huỳnh vôi 0,40Be Bệnh đốm nâu và đốm đen có cùng một phương pháp phòng trừ
- Bệnh vàng lá do thiếu sắt Trồng trên đất có kiềm thường xuất hiện hiện tượng vàng lá Có thể phun Sunfat sắt 0,2-0,3% lên cây hoặc
đổ dung dịch Sunfat sắt tỷ lệ 1:30 vào lỗ chọc sâu 15cm xung quanh cây
để tăng độ chua cho đất
Các loại sâu hại thường gặp ở Đỗ quyên:
Nhện đỏ, rệp ống, nhện râu ngắn
- Nhện đỏ: chủ yếu gây hại hoa
Phương pháp phòng trừ: bắt diệt, phun thuốc hợp chất lưu huỳnh
vôi 0,50Be, có thể dùng nước ngâm lá Trúc đào, Thanh hao pha loãng để phun, phun DDVT 0,1% để diệt
- Rệp ống: chủ yếu hại lá, cành non và hoa, làm cho lá vàng xoăn, mất dinh dưỡng ảnh hưởng đến ra hoa
Phương pháp phòng trừ: cần đặc biệt chú ý đến diệt rệp qua đông
Mùa đông dùng hợp chất lưu huỳnh vôi 5% để diệt trứng rệp Cuốc cỏ xung quanh cây để diệt rệp trú ngụ Kỳ rệp gây hại dùng thuốc Rogor 0,1% phun 3-4 lần
- Nhện râu ngắn: là một trong những loài sâu nguy hiểm, thường hút nhựa trên lá cành non và gây hại vào mùa hè khô nóng; mưa nhiều số lượng sâu sẽ giảm bớt
Phương pháp phòng trừ: trong tháng 10 đến tháng 3 năm sau phun
1 lần hỗn hợp chất lưu huỳnh vôi 0,50Be, hoặc phun Sumithion 0,2% để diệt
Trang 241.3 Tình hình nghiên cứu và tư liệu về hoa Đỗ quyên trên thế giới và Việt Nam
1.3.1 Trên thế giới
Theo Nguyễn Thị Thanh Hương, Trần Minh Hợi, Nguyễn Tiến Hiệp (2009) [9], Lê Khả Kế (1969-1976) [12], Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn Thị Thời (1998) [20], Đỗ quyên là một nhóm các loài cây có hoa đẹp và được nhiều người ưa thích ở nhiều nước trên thế giới với vẻ đẹp dịu dàng của nó Chúng chỉ phân bố tự nhiên ở những vùng núi cao,
có khí hậu quanh năm mát mẻ Với đặc điểm hoa to, màu sắc đẹp và đa
dạng nên rất nhiều loài (đặc biệt trong chi Đỗ quyên - Rhododendron L.)
được sử dụng trồng và là nguồn để tạo ra hơn 1000 loài lai đẹp dùng làm cây cảnh bán trên thị trường thế giới Đỗ quyên được coi là những loài hoa vương giả Chính vì mục đích đó, ở châu Á, châu Âu và châu Mỹ hàng nghìn loài hoang dại và lai đã được trồng trong các vườn gia đình
và nơi công cộng
Họ Đỗ quyên (Ericaceae) trên thế giới có chừng 107-111 chi với
khoảng 3400-3500 loài, phân bố rất rộng, đặc biệt tập trung tại vùng Himalaya, Tây Nam Trung Quốc, vài nơi ở châu Úc, Niu-Di-Lân và Nam châu Phi Ở Việt Nam, họ này hiện gặp 12 chi với khoảng 91 loài
Chi Đỗ quyên (Rhododendron L.) có khoảng gần 40 loài, phân bố chủ
yếu ở vùng núi cao trên 1000m trong hệ sinh thái núi đá và đất
Chi Đỗ quyên, danh pháp khoa học: Rhododendron (từ tiếng Hy Lạp: rhodos, "hoa hồng", và dendron, "cây"), là một chi thực vật có hoa
thuộc họ Thạch nam (Ericaceae) Đây là một chi lớn với khoảng
850-1.000 loài và hầu hết các loài đều có hoa rực rỡ Đỗ quyên là Quốc hoa của Nepal Nhiều loài Đỗ quyên được trồng làm cây cảnh, một số loài
có tác dụng chữa bệnh [2]
Chi Đỗ quyên có đặc điểm là cây bụi và lớn (hiếm), những loài nhỏ
Trang 25nhất cao chừng 10-100cm, loài lớn nhất, Rh giganteum, được ghi nhận
là cao tới 30m Lá cây xếp theo hình xoắn ốc; kích thước lá có thể từ 1-2
cm tới hơn 50cm, ngoại lệ là R sinogrande có lá dài 100cm Đỗ quyên
có thể là cây thường xanh hoặc cây rụng lá theo mùa Ở một số loài, mặt dưới lá có phủ vảy hoặc lông tơ Một số loài nổi tiếng vì hoa nở thành chùm lớn Có các loài ở vùng núi có hoa và lá nhỏ, một số loài nhiệt đới sống bám ở dạng tầm gửi [3]
Đỗ quyên là chi có phân bố rất rộng, xuất hiện ở hầu khắp Bắc bán cầu ngoại trừ các vùng khô hạn, và trải dài xuống Nam bán cầu ở Đông Nam Á và vùng bắc Australasia Độ đa dạng loài cao nhất được tìm thấy
ở vùng núi Himalaya từ Uttarakhand, Nepal và Sikkim tới Vân Nam và
Tứ Xuyên, ở các vùng núi khác cũng có độ đa dạng cao như ở Đông Dương, Hàn Quốc, Nhật Bản và Đài Loan Ngoài ra, có rất nhiều loài Đỗ quyên nhiệt đới gốc Đông Nam Á và Bắc Úc Người ta đã ghi nhận 55 loài ở Borneo và 164 loài ở New Guinea Tương đối ít loài hơn có tại Bắc Mỹ và châu Âu Người ta chưa tìm thấy Đỗ quyên ở Nam Mỹ hay châu Phi Ở Việt Nam có khoảng 30 loài Đỗ quyên
Cây Đỗ quyên (Rhododendron af) phân bố tự nhiên ở những vùng
có khí hậu quanh năm mát mẻ, thuộc loài cây của vùng á nhiệt đới hoặc
ôn đới Trên thế giới, Đỗ quyên phân bố nhiều ở vùng ôn đới Bắc Mỹ, vùng cao nguyên tiếp giáp Á - Âu và Đông Á, phổ biến ở Nhật Bản, Bắc Triều Tiên và Trung Quốc
Theo Lê Trần Đức (1997) [6], Trần Hợp (1993) [11], hoa Đỗ quyên
Rhododendron, còn có tên Đỗ quyên ấn, hồng thụ ấn, thạch nam, thuộc
họ cùng tên Đỗ quyên Ericaceae, ngày nay với kỹ thuật hợp lai phổ biến
rộng rãi, không chỉ toàn một màu đỏ thắm mà tùy nơi còn mang nhiều sắc trắng, tím, tía, son qua hồng nhiệt, đỏ thẫm, đỏ gạch, đỏ hồng, đỏ xanh, đỏ cam, đỏ vàng,… Nguồn gốc núi cao châu Á nhiệt đới (Nhật
Trang 26Bản, Trung Quốc, Myanmar, Nepal) ngày nay nó mọc hoang và được trồng khắp nơi, ở châu Á (Nhật Bản, Trung Quốc, Myanmar, Nepal), cũng như ở châu Âu, châu Mỹ Là một cây trang trí rất được ưa thích, nó
đã được pha giống thành hàng trăm loại đủ cỡ lớn, nhỏ, đủ màu sắc lộng
lẫy Hoa Rh.simsii Planch (tức Rh.indicum Sweet var simsii Maxim, hay var ignescens Sweet, hay Azalea indica Sims non Linn) màu đỏ hồng, Rh.kaempferi Planch màu đỏ cam tươi, Rh.obtusum Planch màu trắng, đỏ gạch, đỏ tía, đều thuộc chủng của Rh.indicum Sweet
Ở các nước như Nhật Bản, Trung Quốc người ta đã nhân giống thành công hầu hết tất cả các loài Đỗ quyên bằng phương pháp nhân giống giâm hom và gieo hạt Ngoài ra, họ đã tiến hành nhân giống bằng nuôi cấy mô tế bào từ hạt và chồi của cây Đỗ quyên Bên cạnh đó, họ đã tiến hành lai tạo các loài Đỗ quyên với nhau để tạo ra các giống mới có giá trị thương mại cao
Đỗ quyên là một trong những loài hoa trồng phổ biến nhất trên thế giới và được ưa chuộng bởi sự đa dạng về chủng loại và phong phú về màu sắc Chính vì thế, hoa ĐQ được nhiều nước trên thế giới trồng theo hướng hàng hóa đầu tư thâm canh cao và trở thành một ngành thương mại lớn Sản xuất hoa Đỗ quyên đã mang lại những lợi ích to lớn cho nền kinh tế của các nước trồng hoa trên thế giới
1.3.2 Ở Việt Nam
Những loài cây Đỗ quyên phân bố chủ yếu ở những vùng á nhiệt đới và ôn đới Đó là những loài cây có giá trị làm cảnh rất được ưa chuộng ở Việt Nam và trên toàn thế giới Hiện nay một số các nhà thực vật học và một số những nhà làm vườn nổi tiếng của các nước đã tổ chức thành một Hiệp hội Đỗ quyên Quốc tế nhằm sưu tầm, nghiên cứu các biện pháp nhân giống và lai tạo các loài Đỗ quyên để phục vụ cho các mục đích bảo tồn và cảnh quan Ở nước ta các công trình nghiên cứu về
Trang 27Đỗ quyên còn rất ít, mới chỉ có một số nhà làm vườn ở Hà Nội và Đà Lạt, Thành phố Hồ Chí Minh, đang nghiên cứu thuần hoá, nhân giống một số loài Đỗ quyên trong tự nhiên và cấy ghép lai tạo với một số loài nhập nội để phục vụ cho mục đích làm cảnh Các công trình nghiên cứu khoa học về hoa Đỗ quyên còn hạn chế mới chỉ dừng ở mức độ nghiên cứu phân loại và tính đa dạng về các loài Đỗ quyên Cụ thể mới có một công trình nghiên cứu về đổi tên khoa học cho một số loài Đỗ quyên ở nước ta của TS Nguyễn Tiến Hiệp - Viện Sinh thái và Tài Nguyên Sinh Vật và hiện nay đang nghiên cứu đánh giá các loài Đỗ quyên phân bố ở Việt Nam
Ở Việt Nam, Đỗ quyên có ở Vườn Quốc gia Tam Đảo, Bạch Mã,
Bà Nà, Đà Lạt, Kon Tum, Thế nhưng, Đỗ quyên đặc biệt và đẹp vẫn là
ở SaPa Vườn quốc gia Hoàng Liên được coi là trung tâm của các loài
Đỗ quyên khác nhau đang trú ngụ Theo các nhà khoa học nghiên cứu
về thực vật dân tộc học và dược học thì Đỗ quyên là một trong những loài cây đa tác dụng, có giá trị nhiều mặt Ngoài làm cảnh ra thì có một
số loài dùng để chữa bệnh như Đỗ quyên Mũi, Đỗ quyên Trên Đá, Đỗ quyên Hoa Đỏ Những loài hoa Đỗ quyên có thể vừa làm cảnh, vừa là một vị thuốc chữa bệnh, sống ở những độ cao khác nhau trong rừng nhiệt đới Hoàng Liên Sơn, trên đường lên đỉnh Fanxipăng Mùa chính của Đỗ quyên là thời gian sau Tết âm lịch Đó là thời gian để các loài Đỗ quyên đua nhau khoe sắc, rực rỡ đủ các màu, từ đỏ ối, đỏ nhạt, đến tím đậm, tím nhạt, rồi nhạt dần, nhạt dần về đến trắng; rồi màu vàng, màu xanh nhạt, màu tím Đỗ quyên đẹp, sống ở độ cao từ 800m so với mực nước biển trở lên Càng lên cao, Đỗ quyên càng có điều kiện phát triển và nở hoa với những màu sắc rất đằm thắm, dịu dàng [5],[18],[19]
Cho đến nay mới chỉ có một vài nghiên cứu thành công một số phương pháp nhân giống vô tính (giâm hom) đối với một số loài dạng
Trang 28cây bụi cho hoa đẹp và làm cảnh Những loài này hầu hết có nguồn gốc xuất xứ từ Trung Quốc và Nhật Bản, được nhân giống ở các khu vực chủ yếu như Đà Lạt, Tam Đảo, Hà Nội, Nam Định Những nghiên cứu về phương pháp nhân giống hữu tính (gieo hạt) không được quan tâm nhiều
do các loài Đỗ quyên được du nhập về Việt Nam thường không có khả năng cho quả, cây con sinh trưởng chậm nên hầu như chưa có nghiên cứu nào về phương pháp này ở Việt Nam
Hiện nay, tại Vườn Quốc gia Tam Đảo (tỉnh Vĩnh Phúc) đã thuần dưỡng và nhân giống thành công 6 loài hoa Đỗ quyên rừng quý hiếm bằng phương pháp giâm hom Những loài này chỉ sống ở độ cao từ 800 mét trở lên, rất khó di thực và thuần dưỡng khi đưa ra khỏi vùng phân bố
tự nhiên Tại Vườn Quốc gia Tam Đảo, các nhà khoa học mới phát hiện được 6 loại hoa Đỗ quyên với các màu sắc khác nhau như: Đỏ, trắng, vàng, tím nhạt, đỏ nhạt, trắng hồng, Hoa mọc từng chùm (6 hoa/chùm), bông to từ 5-6 cm, có mùi thơm dịu Màu sắc của bông hoa và hương thơm đều khác lạ Đặc biệt mỗi loại hoa nở vào các tháng khác nhau, mùa hoa kéo dài quanh năm
1.3.3 Tính đa dạng sinh học của hoa Đỗ quyên tại Vườn Quốc gia Hoàng Liên - SaPa - Lào Cai
Với những thuận lợi về thời tiết, nơi đây có nhiều tiềm năng để phát triển hoa thương mại như: Hoa phong lan, Lily, Đỗ quyên, các loại hoa thảm,… Nhưng Sa Pa cũng như các vùng khác của Việt Nam, sản xuất hoa còn mang nặng tính tự phát, người dân chủ yếu dựa vào kinh nghiệm sản xuất rau áp dụng vào hoa Công nghệ sản xuất còn thô sơ, thiếu tính đồng bộ, diện tích nhà công nghệ đạt tiêu chuẩn còn ít nên số lượng, chất lượng hoa chưa đạt so với tiềm sẵn có
Vườn Quốc gia Hoàng Liên tỉnh Lào Cai nằm ở phía Đông dãy núi Hoàng Liên Sơn, là phần kéo dài của cao nguyên Vân Quí và núi
Trang 29Ailao Shan từ Trung Quốc, phía đông của dãy núi Himalaya Khu vực Vườn Quốc gia Hoàng Liên gồm nhiều đỉnh núi có độ cao trên 1.000m, trong đó có đỉnh Fanxipăng cao 3.143m so với mặt nước biển được ví như “Nóc nhà Đông Dương”,… Với vị trí địa lý và địa hình đặc trưng như vậy, nên VQG Hoàng Liên là một trong những VQG có nhiều nét đặc biệt hiện đang bảo tồn các kiểu rừng nhiệt đới, á nhiệt đới và đặc biệt
là rừng ôn đới ở đai độ cao cao nhất nước ta [23],[24]
Các loài cây ĐQ thuộc nhóm cây thân gỗ hay cây bụi, phân bố đặc trưng nơi khu vực núi cao khí hậu á nhiệt đới và ôn đới Trước đây, theo GS.TSKH Nguyễn Nghĩa Thìn và GS Võ Văn Chi thì có thể coi khu vực dãy núi Hoàng Liên Sơn là trung tâm đa dạng các loài ĐQ của Việt Nam với gần 20 loài trong tổng số khoảng 30 loài trên phạm vi cả nước Những loài thường gặp gồm: ĐQ răng nhỏ, ĐQ trên đá, ĐQ hoa bông,
ĐQ Vân nam,…[2],[20]
Theo Nguyễn Tiến Bân (2003) [1], Nguyễn Nghĩa Thìn (2008) [18], VQG Hoàng Liên là trung tâm đa dạng và là nơi có môi trường thuận lợi, thích hợp cho các loài Đỗ quyên sinh sống phát triển Nghiên cứu cho thấy Hệ thực vật của VQG Hoàng Liên gồm 2432 loài thuộc 898
chi, 209 họ, thuộc 6 ngành Trong đó họ Đỗ quyên Ericaceae được xếp
vào một trong 10 họ đa dạng nhất với tổng số 74 loài chiếm 3,04% tổng
số loài và 10 chi chiếm 1,11% tổng số chi thực vật có ở VQG Hoàng
Liên, xét về mức độ đa dạng thì họ Đỗ quyên Ericaceae chỉ đứng sau các Họ: Họ Lan Orchidaceae, Họ Cà phê Rubiaceae, Họ Cúc Asteraceae,
Họ Hoa hồng Rosaceae, Họ Cói Cyperaceae (cụ thể được thể hiện ở
bảng 1.1)
Trang 30Bảng 1.1 Các họ đa dạng nhất hệ thực vật Hoàng Liên
TT Tên họ Tên Việt
(Nguồn: GS.TSKH Nguyễn Nghĩa Thìn - 2008) [18]
Chi Đỗ quyên Rhododendron được xếp vào một trong 10 chi đa
dạng nhất với tổng số 42 loài chiếm 1,59% tổng số loài thực vật có ở VQG Hoàng Liên Xét về mức độ đa dạng thì Chi Đỗ quyên
Rhododendron Chỉ đứng sau Chi Carex thuộc Họ Cói Cyperaceae (cụ
thể được thể hiện ở bảng 1.2)
Trang 31Bảng 1.2 Các chi đa dạng nhất hệ thực vật Hoàng Liên
(Nguồn: GS.TSKH Nguyễn Nghĩa Thìn - 2008) [18]
Với vị trí nằm liền kề Thị trấn nghỉ mát Sa Pa, lượng du khách đến tham quan nghỉ mát tăng mạnh hàng năm cùng với nhu cầu mua cây cảnh, mua thuốc dân gian để sử dụng hoặc tặng quà cũng không ngừng tăng theo Rất nhiều người dân địa phương đã vào khu vực VQG Hoàng Liên lùng tìm, lấy đi nhiều loài cây ĐQ đáp ứng nhu cầu của du khách và thu lời bất chính Các hoạt động trái phép này đã gây tổn thất đa dạng sinh học rất nặng nề và đe dọa nghiêm trọng sự suy giảm số lượng đối với nhiều loài ĐQ trên dãy Hoàng Liên
Để quản lý và nghiên cứu các loài, giống Đỗ quyên cần thiết phải nghiên cứu các biện pháp nhân giống có hiệu quả để bảo tồn và phát triển giống Đỗ quyên tốt hiện có trong khu vực
Trang 321.4 Các nghiên cứu về ứng dụng cây hoa Đỗ quyên
1.4.1 Trên thế giới
Nghiên cứu về mặt ứng dụng, lá cây Đỗ quyên chứa đựng vitamin
C Lượng sinh tố có nhiều về mùa hè so với mùa đông, có nhiều ở chỗ có ánh nắng mặt trời so với trong bóng râm, tăng lên trước khi mặt trời mọc rồi giảm dần Ở phần để chiết chứa đựng nhiều flavonoid ở liều lượng
300 mg/kg chữa bệnh viêm phế quản mạn tính rất hiệu nghiệm Nước chiết từ cây cung cấp một chất thuốc có khả năng ức chế trùng VSH-II,
những flavon glucosid ở lá cây Rh anthopogonoid, cấu chất của
anthorhododendrin hiệu nghiệm trong cuộc trị liệu viêm phế quản Ở phần chiết của nhiều cây Đỗ quyên khác cũng có tính chất long đờm nhờ những chất farrerol, astragalin, kaempferol, scopoletin, hay ngừa ho nhờ hyperin và quercetin Chất quercetin này còn có khả năng ức chế
những hoại tử khối u ở đại thực bào Dầu lá cây Rh dauricum chứa
đựng flavon được dùng chữa ho hen và bệnh suyễn Dùng methanol chiết
lá thì được một chất thuốc làm giảm đau Chiết với ethanol 95%, cây Rh
cephaluntum cung cấp một chất chromen có khả năng ức chế hoạt động của 5-lipoxygenase và được dùng chống viêm, dị ứng, hen suyễn [25],[29],[32],[35]
Nghiên cứu của R De Loose (1968) [33], rễ cây Đỗ quyên Rh
Simsii chứa đựng những flavon như quercetin, kaempferol, hyperin cùng sitosterol Bên cạnh acid amin, những kim loại Zn, Fe, Cu, Co, Se, Mn
và Cr đã được xác định trong thân cây và rễ cây, lá cây, cùng với triterpen, flavonon glycosid và chất phản oxy hóa "matteucinol", những flavonoid aglycon như quercetin, kaempferol đã được trích chiết làm rượu thuốc Jinjuan
Ở Nhật Bản, Nepal, Brazil, Turkey và ngay ở châu Âu và châu
Mỹ, các loại hoa Đỗ quyên Rh.ponticum, Rh.luteum chứa một chất độc,
grayantoxin, được ong hút về cùng nhựa hoa làm mật, ăn vào có thể bị
Trang 33nôn mửa, hôn mê hay huyết áp giảm xuống, nhịp chim chậm lại Chất độc này tác động lên cuộc gián phân bạch huyết bào con người Mang
tên andromedotoxin, được phát hiện ở Rh.hunnewellianum hay acetylandromedol ở Rh.chrysanthum, Rh.campylocarpum và các hoa Đỗ quyên khác cùng họ Đỗ quyên Ericaceae, đồng thời tác dụng lên tim,
nó còn kích thích da cùng các màng nhầy [26],[27], [28]
1.4.2 Ở Việt Nam
Theo các nhà khoa học nghiên cứu về thực vật, dân tộc học và dược học thì ĐQ là một trong những loài cây đa tác dụng, có giá trị về nhiều mặt, nhiều lĩnh vực Đa số các loài trong nhóm cho hoa rất đẹp, có thân dáng cây thấp nhỏ vì thế có thể làm cảnh rất đẹp như: Đỗ quyên răng nhỏ, Đỗ quyên mao ngựa, Đỗ quyên hồng, Đỗ quyên lõm, Đỗ quyên loa kèn lớn, Một số loài có thể dùng chữa bệnh như: Đỗ quyên mũi, Đỗ quyên trên đá, Bên cạnh đó nhiều loài Đỗ quyên mộc cao khoảng 8-14m, cây cho hoa đẹp, cành lá xum xuê, xanh tốt quanh năm
có thể trồng thành rừng tạo cảnh quan, hay trồng cây đường phố phục vụ cho thăm quan, du lịch rất phù hợp [5],[9]
Trong Đông y, Đỗ quyên vị đắng tính bình, hơi độc vào can thận,
có tác dụng dưỡng thận khí, bổ thận khu phong, trị âm suy, chân yếu lưng mỏi, yếu sinh lý phối hợp với các vị khác như tật lê, hà thủ ô, ba kích, ngũ gia bì, thỏ ty tử (quả hạt tơ hồng), uy linh tiên, chữa can thận
hư, phong hàn thấp, chân tê yếu
Hoa ĐQ vị chua ngọt, tính ấm, có công dụng hòa huyết, trừ đàm, làm hết ngứa, được dùng để chữa các chứng phong thấp, thổ huyết,…
Lá Đỗ quyên vị chua, tính bình, có công dụng thanh nhiệt, giải độc, cầm máu, chủ trị ung thũng, mụn nhọt, xuất huyết do chấn thương,
dị ứng, viêm khí phế quản,
Rễ Đỗ quyên vị chua ngọt, tính ấm, có công dụng hòa huyết, trừ phong thấp, giảm đau; được dùng để chữa các chứng xuất huyết, kinh
Trang 34nguyệt không đều, băng lậu, trĩ xuất huyết, lỵ, viêm khớp,
Ngoài ra Đỗ quyên còn có một số tác dụng khác như:
Lấy tinh dầu: có nhiều loại cho tinh dầu như Rh thymifolium; tùy chủng loại khác nhau mà có hàm lượng tinh dầu khác nhau (từ 0,7 - 3%)
Hoa của một số loài Đỗ quyên có thể làm thực phẩm, vỏ và lá có thể dùng để chưng cất tanin
Gỗ của một số cây to có thể dùng làm đồ thủ công mỹ nghệ có giá trị, đồ gia dụng bền chắc
Đỗ quyên còn có tác dụng giữ đất, giữ nước: do cây có bộ rễ phát triển, ở trên núi cao thường mọc thành từng rừng cây bụi dày đặc có tác
và Đông Á, khá phổ biến ở Nhật và Bắc Triều Tiên Hoa Đỗ quyên cũng hay được nhắc đến trong các tác phẩm nghệ thuật như thi ca và hội họa Nhật Bản, Triều Tiên, Trung Quốc Ở Việt Nam, Đỗ quyên có ở những vùng núi cao như Đà Lạt, Sapa, Tam Đảo, Bạch Mã, làng Trình Xuyên bên bờ sông Trà Lý phụ cận thành phố Nam Định [11]
Đỗ quyên là loài cây đặc trưng cho những khu vực á nhiệt đới và
ôn đới Chính vì vậy Sa Pa được coi là môi trường sống lý tưởng cho các loài Đỗ quyên và cũng là trung tâm đa dạng về Đỗ quyên của Việt Nam, theo Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn Thị Thời (1998) [20], khu vực dãy
Trang 35núi Hoàng Liên - Sa Pa là một trong những trung tâm đa dạng Đỗ quyên
của Việt Nam Trong đó có những loài cho hoa rất đẹp, có giá trị làm cảnh cao như các loài: Đỗ quyên chén (Rhododendron sinofanconeri),
Đỗ quyên ly (Rhododendron lyi), Đỗ quyên lá hẹp (Rhododendron
tanastylum), Đỗ quyên huyền diệu (Rhododendron exellens), Đỗ quyên flơri (Rhododendron fleuryi), Đỗ quyên lưu huỳnh (Rhododendron
sulphureum ), Đỗ quyên lá trứng (Rhododendron ovaltum), Đỗ quyên lõm (Rhododendron emarginatum), Đỗ quyên mộc (Rhododendron
arborem) Trong những năm gần đây do nhu cầu chơi cây cảnh ngày càng cao do đó những người dân địa phương và những người săn tìm Đỗ quyên đã tập trung khai thác vô ý thức một số loài cây Đỗ quyên trong
tự nhiên về thuần hoá trong vườn nhân tạo, điều này đã dẫn đến một số loài đang có nguy cơ bị đe doạ rất lớn trong môi trường tự nhiên Nếu như trước kia dọc theo con đường từ Ô Quí Hồ đi Bản Khoang và con đường đi Thác Bạc (thuộc Sa Pa) là rực rỡ những cánh hoa muôn màu sắc của các loài Đỗ quyên cứ mỗi độ xuân về thì hiện nay hầu như không còn nữa Mặt khác những nạn cháy rừng, những hiện tượng khai thác bừa bãi của người dân địa phương đã làm mất đi môi trường sống của một số loài Một số loài có môi trường sống hẹp do vậy khi bị phá
vỡ môi trường sống nó đã bị suy thoái trong tự nhiên Xét về mặt sinh thái học thì các loài Đỗ quyên trong khu vực Sa Pa đóng một vai trò nhất định trong cấu trúc tổ thành loài của một số các trạng thái rừng như: Trạng thái rừng ôn đới Sorbus, thảm thực vật ôn đới nguyên sinh, thảm cây bụi nguyên sinh, Xét về mặt kinh tế thì những loài cây Đỗ quyên cho các giá trị kinh tế về cây làm cảnh, cây làm thuốc, và một số cây cho quả ăn Đặc biệt những loài cây Đỗ quyên góp phần tôn tạo cảnh quan
du lịch trong việc phát triển du lịch sinh thái của huyện [9],[18]
Với những lý do trên mà việc nghiên cứu các giải pháp nhằm phát triển một số loài Đỗ quyên đang có nguy cơ bị đe doạ trong địa bàn
Trang 36huyện Sa Pa là rất cần thiết và cấp bách Nó góp phần to lớn trong công tác phát triển, bảo tồn và ngăn chặn các tổn thất đa dạng sinh học trong Vườn Quốc gia Hoàng Liên, đồng thời đáp ứng được các nhu cầu về mục đích sử dụng hoa Đỗ quyên của người Việt Nam nói riêng và của toàn thế giới nói chung
1.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả giâm hom
Theo nghiên cứu của Cục Lâm nghiệp Việt Nam (2007) [4], Lê Đình Khả, Đoàn Thị Bích (1997) [13], có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ ra rễ trong quá trình giâm giâm hom Về cơ bản chia thành hai nhóm nhân tố nội sinh và nhân tố ngoại sinh
a) Các nhân tố nội sinh
a1 Đặc điểm di truyền của loài theo khả năng giâm hom có thể chia thực vật làm hai nhóm chính là :
+ Nhóm sinh sản chủ yếu bằng hom cành bao gồm những loài cây thuộc họ Dâu tằm (Moraceae) như Dâu tằm, Đa, Sung, một số loài cây thuộc họ Liễu (Salicaceae) như: Dương (Populus.sp), Liễu (Salix sp) và các loài cây nông nghiệp khác như: sắn, mía, khoai lang, rau muống, Đối với những loài cây này khi giâm hom không cần xử lý thuốc vẫn đạt kết quả ra rễ bình thường
+ Nhóm sinh sản chủ yếu bằng hạt là các loài cây được nhân giống gây trồng từ hạt Với các loài cây này muốn có tỷ lệ ra rễ cao phải chú ý lựa chọn cây mẹ cho hom và sử lý các chất kích thích ra rễ thích hợp
a2 Tác dụng của chồi và lá trên hom: nhà sinh lý học người Đức Sach (1882) cho rằng chồi và lá có tác dụng tổng hợp Auxin và các chất kích thích ra rễ đặc biệt khác và được vận chuyển xuống đáy hom kích thích sự hình thành rễ bất định ở hom Ngoài ra chúng còn có tác dụng tổng hợp nên Hydrat cacbon rất cần cho sự hình thành và phát triển rễ
Trang 37Lá cũng là cơ quan điều tiết chất điều hòa sinh trưởng ở hom giâm
vì thế khi giâm hom nhất thiết phải để lại một số diện tích lá cần thiết, không có lá thì hom không ra rễ, song nếu để diện tích lá quá lớn thì quá trình thoát nước mạnh làm cho hom bị héo, do đó hom dễ bị chết
a3 Ảnh hưởng của vị trí lấy cành, tuổi cành và loại hom: hom được lấy từ các cành ở các vị trí khác nhau thì khả năng ra rễ cũng khác nhau và mỗi loài cây có loại hom phù hợp riêng Ở cây Trà mi, loại hom nửa cứng là phù hợp nhưng ở cây Ngọc lan thì loại hom gỗ mềm là thích hợp nhất Thông thường người ta hay chọn hom ở trạng thái bánh tẻ - không quá già hoặc quá non Một số đặc điểm khá rõ nét là cành chồi vượt dễ ra rễ hơn cành từ tán cây Vì vậy, đối với nhiều loại cây, người
ta thường xử lý cho cây ra chồi vượt để lấy hom giâm
b) Nhóm nhân tố ngoại sinh: các nhân tố ngoại sinh ảnh hưởng
đến ra rễ của hom giâm bao gồm thời vụ giâm hom, nhiệt độ, độ ẩm giá thể giâm hom, ánh sáng và chất kích thích ra rễ
b1 Thời vụ giâm hom: một số loài cây có thể giâm hom quanh năm như Keo, Bạch đàn, nhưng nhiều loài cây có tính thời vụ rất rõ Đa
số các loài cây được giâm trong các tháng xuân hè và đầu thu vừa mau ra
rễ vừa có tỷ lệ ra rễ cao Khi giâm hom vào các tháng có nhiệt độ thấp thì tỷ lệ ra rễ thấp, lâu ra rễ, ít rễ và rễ ngắn
b2 Nhiệt độ: yêu cầu về nhiệt độ phụ thuộc vào đặc tính của từng loài cây Nếu nhiệt độ quá thấp hom ở trạng thái tiềm ẩn sẽ ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của chồi và rễ bất định Nếu nhiệt độ quá cao làm tăng cường độ hô hấp và hom bị đốt nóng, lúc đó xảy ra quá trình thoát hơi nước mạnh nên hom rễ bị chết do thối và héo Nhìn chung nhiệt độ thích hợp cho hom đối với nhiều loài cây ra rễ tốt là 21-27oC, nhiệt độ giá thể thích hợp là 25-30oC Với các loài cây vùng lạnh ở vĩ độ cao hoặc vùng cao, nhiệt độ không khí trong nhà giâm hom thích hợp là 23-270C, nhiệt độ giá thể thích hợp là 22-240C
Trang 38b3 Độ ẩm: trong giâm hom, độ ẩm của môi trường (gồm độ ẩm không khí và độ ẩm giá thể) là nhân tố quan trọng quyết định đến khả năng ra rễ của hom Khi bị tách khỏi cây mẹ hom vẫn cần nước cho các quá trình sinh lý bên trong, đồng thời cũng thoát hơi nước qua lá Nếu lượng nước hom hút vào nhỏ hơn lượng bay hơi ra thì hom sẽ bị héo, rồi chết Do vậy trong giâm hom cần phải giảm lượng thoát hơi nước đến mức tối thiểu Hom cần được đặt vào nơi có độ ẩm không khí cao, tối thiểu phải lớn hơn 80% độ ẩm bão hoà Độ ẩm thích hợp nhất là ở trạng thái gần bão hòa
Nếu độ ẩm giá thể quá cao, hom rất rễ bị thối và chết; nếu quá thấp, hom không hút được nước dẫn đến bị héo và chết Do vậy, việc tạo
và duy trì độ ẩm thích hợp trong giâm hom là rất quan trọng Thường người ta duy trì độ ẩm bằng cách phun sương và đặt cây trong nhà kính hoặc lồng Polyetylen Tùy theo từng giai đoạn mà hom có nhu cầu về độ
ẩm khác nhau: thời kỳ chưa ra rễ hom cần độ ẩm lớn, khi ra rễ rồi thì độ
ẩm giảm Độ ẩm giá thể thích hợp cho nhiều loài cây từ 60-70% Tuy nhiên, với một số loài khi độ ẩm tăng lên 100% vẫn giữ được tỷ lệ ra rễ cao Hom hóa gỗ yêu cầu độ ẩm giá thể thấp, hom nửa hoá gỗ yêu cầu độ
ẩm giá thể cao hơn
b4 Ánh sáng: không có ánh sáng và không có lá, hom sẽ không
có hoạt động quang hợp, quá trình trao đổi chất sẽ khó xảy ra và không
có hoạt động ra rễ Nói chung, ánh sáng mạnh đối với hom là có hại Người ta hạn chế ánh sáng trực xạ chiếu vào hom và thường dùng ánh sáng tán xạ Với hom của hầu hết các loài cây, việc sử dụng ánh sánh tán
xạ thích hợp đều có hiệu quả Nếu đặt hom ở nơi quá tối, hom sẽ không
ra rễ hoặc quá trình ra rễ chậm
b5 Giá thể giâm hom: giá thể giâm hom (thể nền) có 3 chức năng chính là: giữ hom trong suốt quá trình giâm, cho phép thông không khí tốt ở phần đáy hom, cung cấp nước và chất dinh dưỡng cho hom Muốn vậy, một thể nền được coi là tốt cần đảm bảo có đủ độ xốp để cho phép
Trang 39khí lưu thông, phải có khả năng giữ ẩm và cho phép thoát nước tốt, duy trì được độ ẩm trong thời gian dài mà không ứ nước, tạo điều kiện cho hệ
rễ phát triển tốt; đồng thời phải sạch, không bị nhiễm nấm và nguồn sâu bệnh hại Nước cũng có vai trò quan trọng trong giâm hom, nước phải đảm bảo sạch, không chứa các nguồn bệnh và các yếu tố gây bệnh khác cho hom
Khi giâm hom chỉ để tạo cây ra rễ, sau đó cấy hom vào bầu Giá thể thường được sử dụng là cát tinh, tốt nhất là cát vàng Khi giâm hom trực tiếp vào bầu, giá thể thường là đất tầng B có khả năng thoát nước tốt, hoặc mùn cưa để mục, xơ dừa băm nhỏ, hoặc có sự trộn lẫn giữa chúng với nhau
b6 Sử dụng các chất kích thích ra rễ:
- Các Auxin: Auxin có tác dụng sinh lý rất nhiều mặt lên các quá
trình sinh trưởng của tế bào, hoạt động của tượng tầng, hiện tượng ưu thế ngọn, tính hướng của thực vật, sự sinh trưởng của quả và tạo quả không hạt, đặc biệt là kích thích sự hình thành rễ của hom giâm, trong đó các Auxin được sử dụng nhiều nhất Các Auxin gồm 2 nhóm là Auxin tự nhiên, hiện nay có IAA (Indol axetic axit) và Auxin tổng hợp là IBA (Indo butyric axit), NAA (naphtalen axit axetic) Trong nhân giống vô tính thì việc sử dụng auxin để kích thích sự ra rễ là cực kỳ quan trọng và bắt buộc [22]
- Xử lý hom bằng thuốc nước: khi dùng thuốc nước để xử lý hom
thì nồng độ và thời gian sử lý có ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ ra rễ của hom giâm Nồng độ thấp thì thời gian sử lý dài, nồng độ cao thì thời gian
sử lý ngắn Hiện nay có khuynh hướng sử dụng nồng độ cao 2.000ppm - 3.000ppm để xử lý hom trong thời gian 3-4 giây đã gây lại hiệu quả ra rễ cho hom giâm
- Xử lý bằng thuốc bột: xử lý bằng thuốc bột là phương pháp đơn
giản dễ thao tác, tiện lợi cho sản xuất cây con với quy mô lớn
Trang 40Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Các loài Đỗ quyên tại Sa Pa, trong đó cây
chọn thử nghiệm giâm hom là Đỗ quyên hoa bông (Rhododendron
moulmainense Hook.)
Loài Đỗ quyên hoa bông là loài có số lượng cá thể trưởng thành khá nhiều, cây sinh trưởng tốt và phân bố hầu hết ở dải núi Hoàng Liên Cây thích nghi với biên độ rộng Hoa to, đẹp thời gian nở vào tháng 4-5, cây có tán đẹp và cao 3-6m rất phù hợp để trồng làm cây cảnh quan đường phố và trồng rừng cảnh quan Lượng cây cho hom tốt khá cao nên có thể
2.2.2 Thời gian thực hiện
Đề tài được thực hiện từ tháng 5/2009 - 5/2010
2.3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Nội dung nghiên cứu
- Điều tra, phân loại các loài theo các nhóm chức năng và nhóm đánh giá, mô tả đặc diểm hình thái, tình hình sinh trưởng các loài Đỗ quyên tại khu vực Hoàng Liên
- Nghiên cứu phương pháp nhân giống loài Đỗ quyên hoa bông bằng phương pháp giâm hom
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu