1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên Cứu Một Số Biện Pháp Kỹ Thuật Tăng Năng Suất, Chất Lượng Chè PH10 Dùng Cho Chế Biến Chè Ô long

112 353 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 2,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ảnh hưởng của bón bổ sung phân trung lượng MgSO4 và chiết xuất đậu tương ngâm đến năng suất và sản lượng chè.. Ảnh hưởng của bón bổ sung phân trung lượng MgSO4 và chiết xuất đậu tương

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM - -

CAO XUÂN CHIẾN

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT TĂNG NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG CHÈ PH10

DÙNG CHO CHẾ BIẾN CHÈ ÔLONG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

THÁI NGUYÊN - 2012

Trang 2

CAO XUÂN CHIẾN

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT TĂNG NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG CHÈ PH10

DÙNG CHO CHẾ BIẾN CHÈ ÔLONG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Chuyên ngành : KHOA HỌC CÂY TRỒNG

Người hướng dẫn khoa học: TS ĐỖ THỊ NGỌC OANH

THÁI NGUYÊN - 2012

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều đã được chỉ rõ nguồn gốc./

Thái Nguyên, tháng 9 năm 2012

Người hướng dẫn khoa học

Đỗ Thị Ngọc Oanh

Tác giả luận văn

Cao Xuân Chiến

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn tận tình của

các thầy cô giáo giảng dạy, thầy cô giáo hướng dẫn khoa học, được sự giúp đỡ của cơ quan, các đồng nghiệp và gia đình Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và kính trọng đến:

TS Đỗ Thị Ngọc Oanh – Khoa sau đại học – Trường Đại học Nông Lâm Thái

Lâm Thái Nguyên

Tập thể lãnh đạo Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp miền núi phía Bắc

Gia đình, bạn bè và các bạn đồng nghiệp đã động viên giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập, thực hiện đề tài

Phú Thọ, tháng 9 năm 2012

Tác giả luận văn

Cao Xuân Chiến

Trang 5

Đối chứng Đậu tương

Trung bình

Trang 6

Ảnh hưởng của bón bổ sung phân trung lượng MgSO4 và chiết xuất

của hạt đậu tương ngâm đến chiều cao của cây chè

Ảnh hưởng của bón bổ sung phân trung lượng MgSO4 và chiết

xuất đậu tương ngâm đến chiều rộng tán chè

Ảnh hưởng của bón bổ sung phân trung lượng MgSO4 và chiết

xuất đậu tương ngâm đến mật độ búp/cây

Ảnh hưởng của bón bổ sung phân trung lượng MgSO4 và chiết

xuất đậu tương ngâm đến khối lượng búp 1 tôm 3 lá

Ảnh hưởng của bón bổ sung phân trung lượng MgSO4 và chiết

xuất đậu tương ngâm đến chiều dài búp chè

Ảnh hưởng của bón bổ sung phân trung lượng MgSO4 và chiết

xuất đậu tương ngâm đến tỷ lệ mù xòe

Ảnh hưởng của bón bổ sung phân trung lượng MgSO4 và chiết

xuất đậu tương ngâm đến tỷ lệ bánh tẻ

Ảnh hưởng của bón bổ sung phân trung lượng MgSO4 và chiết

xuất đậu tương ngâm đến thành phần sinh hóa của búp chè

Ảnh hưởng của bón bổ sung phân trung lượng MgSO4 và chiết

xuất đậu tương ngâm đến chất lượng chè thành phẩm

Ảnh hưởng của bón bổ sung phân trung lượng MgSO4 và chiết

xuất đậu tương ngâm đến năng suất và sản lượng chè

Ảnh hưởng của bón bổ sung phân trung lượng MgSO4 và chiết

xuất đậu tương ngâm đến mật độ rầy xanh

Ảnh hưởng của bón bổ sung phân trung lượng MgSO4 và chiết

xuất đậu tương ngâm đến mật độ bọ cánh tơ

Ảnh hưởng của bón bổ sung phân trung lượng MgSO4 và chiết

xuất đậu tương ngâm đến mật độ nhện đỏ

Trang 7

Ảnh hưởng của kỹ thuật hái đến chiều cao cây chè

Ảnh hưởng của kỹ thuật hái đến chiều rộng tán chè

Ảnh hưởng của kỹ thuật hái đến mật độ búp/ cây

Ảnh hưởng của kỹ thuật hái đến khối lượng búp chè

Ảnh hưởng của kỹ thuật hái đến chiều dài búp

Ảnh hưởng của kỹ thuật hái đến tỷ lệ búp mù xòe

Ảnh hưởng của kỹ thuật hái đến tỷ lệ bánh tẻ

Ảnh hưởng của kỹ thuật hái đến thành phần sinh hóa của búp chè

Ảnh hưởng của kỹ thuật hái đến chất lượng chè thành phẩm

Ảnh hưởng của kỹ thuật hái đến năng suất và sản lượng chè

Ảnh hưởng của kỹ thuật hái đến mật độ rầy xanh

Ảnh hưởng của kỹ thuật hái đến mật độ bọ cánh tơ

Ảnh hưởng của kỹ thuật hái đến mật độ nhện đỏ

Hiệu quả kinh tế của việc bón bổ sung phân trung lượng (MgSO4),

chiết xuất của hạt đậu tương ngâm và kỹ thuật hái

Trang 8

Ảnh hưởng của bón bổ sung phân trung lượng MgSO4 và chiết xuất

của hạt đậu tương ngâm đến chiều rộng của tán chè

Ảnh hưởng của bón bổ sung phân trung lượng MgSO4 và chiết

xuất đậu tương ngâm đến mật độ búp /cây

Ảnh hưởng của bón bổ sung phân trung lượng MgSO4 và chiết

xuất đậu tương ngâm đến khối lượng búp 1 tôm 3 lá

Ảnh hưởng của bón bổ sung phân trung lượng MgSO4 và chiết

xuất đậu tương ngâm đến tỷ lệ mù xòe

Ảnh hưởng của bón bổ sung phân trung lượng MgSO4 và chiết

xuất đậu tương ngâm đến tỷ lệ bánh tẻ

Ảnh hưởng của bón bổ sung phân trung lượng MgSO4 và chiết

xuất đậu tương ngâm đến năng suất và sản lượng chè

Ảnh hưởng của bón bổ sung phân trung lượng MgSO4 và chiết

xuất đậu tương ngâm đến mật độ rầy xanh

Ảnh hưởng của kỹ thuật hái đến mật độ búp/ cây

Ảnh hưởng của kỹ thuật hái đến khối lượng búp chè

Ảnh hưởng của kỹ thuật hái đến chiều dài búp

.Ảnh hưởng của kỹ thuật hái đến tỷ lệ bánh tẻ

Ảnh hưởng của kỹ thuật hái đến mật độ rầy xanh

Trang 9

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT………

DANH MỤC BẢNG………

DANH MỤC CÁC HÌNH………

MỞ ĐẦU………

1 Tính cấp thiết của đề tài……….………

2 Mục đích và yêu cầu……… ………

2.1 Mục đích………

2.2 Yêu cầu………

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài……… ……

3.1 Ý nghĩa khoa học………

3.2 Ý nghĩa thực tiễn………

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU…… ………… …

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài……….……… ………

1.1.1 Vai trò của Mg đối với sinh trưởng năng suất và chất lượng chè……

1.1.2 Vai trò của axitamin (có trong chiết xuất của đậu tương) đối với sinh trưởng năng suất và chất lượng chè………

1.1.3 Cơ sở khoa học của kỹ thuật hái chè………

1.2.Tình hình nghiên cứu về bón phân trung lượng và nguồn dinh dưỡng giàu axitamin cho chè trên thế giới và ở Việt Nam………

1.2.1 Tình hình nghiên cứu về phân trung lượng và nguồn dinh dưỡng giàu axitamin cho chè trên thế giới………

1.2.2 Tình hình nghiên cứu về phân trung lượng và nguồn dinh dưỡng giàu axitamin cho cho chè Việt Nam………

1.3 Tình hình nghiên cứu về kỹ thuật hái chè trên thế giới và ở Việt Nam………

1.3.1 Tình hình nghiên cứu về kỹ thuật hái chè trên thế giới

1.3.2 Tình hình nghiên cứu về kỹ thuật hái chè ở Việt Nam

… i

…… …ii

…… iv

1

…….….1

….…….3

………3

….…….3

.……….3

….…….3

.….… 4

…….….5

….…….5

….…….5

…….6

….…….7

…….….9

…… 9

….… 10

…… 11

…… 11

… …13

Trang 10

CHƯƠNG II: VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN

CỨU

2.1 Vật liệu nghiên cứu

2.2 Phạm vi nghiên cứu

2.3 Nội dung nghiên cứu

2.3.1 Nội dung nghiên cứu

2.3.1.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón trung lượng (MgSO4 ) và hữu cơ (đậu tương ngâm thối) đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng của chè PH10

2.3.1.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của kỹ thuật hái đến đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng của chè PH10

2.3.2 Công thức thí nghiệm

2.4 Các chỉ tiêu nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Các chỉ tiêu sinh trưởng

2.4.2 Các chỉ tiêu về năng suất chè

2.4.3 Các chỉ tiêu phẩm cấp nguyên liệu

2.4.4 Các chỉ tiêu chất lượng nguyên liệu

2.4.5 Các chỉ tiêu về khả năng chống chịu của cây chè

2.4.6 Tính hiệu quả của việc bón phân

2.5 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Ảnh hưởng của bón bổ sung phân trung lượng MgSO4 và chiết xuất của hạt đậu tương ngâm đến các chỉ tiêu theo dõi

3.1.1 Ảnh hưởng của bón bổ sung phân trung lượng MgSO4 và chiết xuất của hạt đậu tương ngâm đến các yếu tố cấu thành năng suất chè

3.1.1.1 Ảnh hưởng của bón bổ sung phân trung lượng MgSO4 và chiết xuất của hạt đậu tương ngâm đến chiều cao của cây chè

3.1.1.2 Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón MgSO4 và đậu tương ngâm đến chiều rộng tán của cây chè

….… 15

……15

…… 15

… …15

………15

……15

……15

………15

….…18

……18

…… 19

….… 20

… …21

….…21

…… 22

…… 22

…… 23

….…23

….…23

… …23

… ….24

Trang 11

3.1.2 Ảnh hưởng của bón bổ sung phân trung lượng MgSO4 và chiết xuất

đậu tương ngâm đến các yếu tố cấu thành năng suất chè

3.1.2.1 Ảnh hưởng của bón bổ sung phân trung lượng MgSO4 và chiết

xuất đậu tương ngâm đến mật độ búp trên cây

3.1.2.2 Ảnh hưởng của bón bổ sung phân trung lượng MgSO4 và chiết

xuất đậu tương ngâm đến khối lượng búp chè

3.1.2.3 Ảnh hưởng của bón bổ sung phân trung lượng MgSO4 và chiết

xuất đậu tương ngâm đến chiều dài búp chè

3.1.2.4 Ảnh hưởng của bón bổ sung phân trung lượng MgSO4 và chiết

xuất đậu tương ngâm đến tỷ lệ mù xòe

3.1.2.5 Ảnh hưởng của bón bổ sung phân trung lượng MgSO4 và chiết

xuất đậu tương ngâm đến tỷ lệ bánh tẻ

hạt đậu tương ngâm đến chất lượng chè thành phẩm

3.1.3.1 Phân tích thành phần sinh hóa

đậu tương ngâm đến năng suất và sản lượng chè

đậu tương ngâm đến sâu bệnh hại chè

3.1.5.1 Ảnh hưởng của bón bổ sung phân trung lượng MgSO4 và chiết

xuất đậu tương ngâm đến mật độ rầy xanh

3.1.5.2 Ảnh hưởng của bón bổ sung phân trung lượng MgSO4 và chiết

xuất đậu tương ngâm đến mật độ bọ cánh tơ

3.1.5.3 Ảnh hưởng của bón bổ sung phân trung lượng MgSO4 và chiết

xuất đậu tương ngâm đến mật độ nhện đỏ

3.2 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của kỹ thuật hái tới năng suất, chất

Trang 12

3.2.1.1 Ảnh hưởng của kỹ thuật hái đến chiều cao của cây chè

3.2.1.2 Ảnh hưởng của kỹ thuật hái đến chiều rộng của tán chè

3.2.2 Ảnh hưởng của kỹ thuật hái đến các yếu tố cấu thành năng suất chè

3.2.2.1 Ảnh hưởng của kỹ thuật hái đến mật độ búp trên cây

3.2.2.2 Ảnh hưởng của kỹ thuật hái đến khối lượng búp chè

3.2.2.3 Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón MgSO4 và đậu tương ngâm đến chiều dài búp chè

3.2.2.4 Ảnh hưởng của kỹ thuật hái đến tỷ lệ mù xòe

3.2.2.5 Ảnh hưởng của kỹ thuật hái đến tỷ lệ bánh tẻ

3.2.3 Ảnh hưởng của kỹ thuật hái đến chất lượng chè thành phẩm

3.2.3.1 Phân tích thành phần sinh hóa

3.2.3.2 Phân tích chè thành phẩm

3.2.4 Ảnh hưởng của kỹ thuật hái đến năng suất và sản lượng chè

3.2.5 Ảnh hưởng của kỹ thuật hái đến sâu bệnh hại chè

3.2.5.1 Ảnh hưởng của kỹ thuật hái đến mật độ rầy xanh

3.2.5.2 Ảnh hưởng của kỹ thuật hái đến mật độ bọ cánh tơ

3.2.5.3 Ảnh hưởng của kỹ thuật hái đến mật độ nhện đỏ

3.3 Hiệu quả kinh tế sau khi bón bổ sung phân trung lượng (MgSO4), chiết xuất của hạt đậu tương ngâm và kỹ thuật hái

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ………

1 Kết luận………

1.1.Ảnh hưởng của bón bổ sung phân trung lượng MgSO4 và chiết xuất từ hạt đậu tương ngâm đến năng suất, chất lượng của chè PH10

1 2 Ảnh hưởng của kỹ thuật hái tới năng suất, chất lượng của chè PH 10

2 Đề nghị

45

………… 46

… … 47

… ….49

….… 51

… … 51

….… 53

… …54

…… 55

…… 55

…… 56

… 58

59

….… 60

….… 61

….… 63

…… 64

…… 68

…… 68

… … 68

………68

ơ…… 69

Trang 13

MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài

Sử dụng phân bón là biện pháp quan trọng làm tăng sản lượng và chất lượng búp chè Tác dụng của phân bón được nâng cao khi bón kết hợp nguyên tố đa lượng, trung lượng và vi lượng Ví dụ đối với chè, bón đơn độc nitơ mà thiếu kali và phospho sẽ gây ảnh hưởng xấu đến chất lượng chè Đặc biệt trên nền phân đa lượng tương đổi đầy đủ muốn tăng năng suất và chất lượng chè hơn nữa thì cần bổ sung phân trung lượng và vi lượng Tác dụng của những loại phân này là ảnh hưởng đến hoạt tính của men Mg là nguyên tố trung lượng được dùng trong sản xuất chè vì ngoài ảnh hưởng đến hoạt động của men nó còn tham gia vào quá trình hình thành diệp lục tố có vai trò quan trọng trong quang hợp, là hoạt chất của hệ enzyme gắn liền với sự chuyển hoá hydratcarbon và tổng hợp axit nucleic

Magiê có vai trò thúc đẩy hấp thu và vận chuyển lân của cây, giúp đường vận chuyển dễ dàng trong cây [19]

Trong cây, Mg thường chiếm từ 0,10 – 0,30% MgO so với chất khô Trong tro thực vật thường chứa ít nhất là 10% MgO, và có thể lên đến 30 – 40% Đối với nhiều quá trình sinh hoá do men điều khiển, Mg đóng một vai trò quan trọng Việc hình thành ra Protein trong trường hợp thiếu Mg sẽ bị hạn chế Sự hình thành các sắc tố của lá trong trường hợp thiếu Mg cũng bị ảnh hưởng Ngoài ra

Mg còn ảnh hưởng đến màu sắc chè thành phẩm

Chất hữu cơ giàu Protein có khả năng cung cấp lượng lớn axitamin cũng là nguồn dinh dưỡng có khả năng tăng năng xuất và chất lượng chè Các chất dinh dưỡng đa lượng N, P, K và các vi lượng khoáng chất không tạo ra được axít amin,

do vậy trên nền đa lượng này việc bón bổ sung axitamin cho chè là rất cần thiết Nguồn bổ sung axitamin cho cây trồng có thể từ nhiều nguồn khác nhau, nhưng

chủ yếu từ quá trình thủy phân Protein Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng hàm lượng

protein của đậu nành cao hơn cả thịt, cá và gần gấp đôi các loại đậu khác Tuy nhiên để Protein trong đậu tương phân giải thành axitamin cung cấp cho cây chè

thì trước khi bón, đậu tương cần phải nghiền và ngâm trong nước khoảng 1 tháng

Trang 14

Như vậy bón phân trung lượng MgSO4 và chất hữu cơ giàu axitamin là kỹ thuật

có khả năng làm tăng năng suất và đặc biệt là chất lượng chè

Chè Ô Long là loại chè nổi tiếng được thế giới ưa chuộng vì có nhiều ưu

điểm hơn những loại chè khác như acid amin tổng số 1.6%, một số vitamin B1, B2

và C, cafein đạt khoảng 150mg/g do đó có giá trị kinh tế cao Vì thế yêu cầu nguyên liệu để chế biến chè Ôlong là phải có hàm lượng axitamin lớn hơn 2,5% Khác với loại chè khác, nguyên liệu chế biến chè Ôlong đòi hỏi độ chín sinh lý cao hơn (tỷ lệ bánh tẻ cao hơn) so với các loại sản phẩm chè khác Độ chín sinh lý phụ thuộc vào quy cách hái bởi vì nó ảnh hưởng trực tiếp tới thành phần cơ giới búp Tôm, lá 1, lá 2, lá 3 có thành phần và hàm lượng tích lũy các chất khác nhau Đây

là lý do mà ngoài yếu tố giống, bón phân trung lượng MgSO4 và chất hữu cơ giàu hàm lượng axitamin và kỹ thuật hái là những hướng nghiên cứu mà nhiều nơi sản

xuất chè Ôlong trên thế giới như Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan đang tập trung nghiên cứu

Mỗi giống chè có đặc điểm riêng nên việc nghiên cứu một số biện pháp kỹ phù hợp với từng giống chè là rất cần thiết Giống chè PH10 được chọn làm đối tượng nghiên cứu là vì giống mới được chọn lọc có triển vọng, được hội đồng khoa học Bộ NN-PTNT thông qua năm 2010 cho sản xuất thử nghiệm tại các tỉnh Thái Nguyên, Phú Thọ, Tuyên Quang và Sơn La có khả năng chế biến chè Ôlong có hương thơm, vị dịu, đậm có hậu

Đất trồng chè vùng Phú Hộ thuộc loại đất Mica và Gnai, là vùng đất luôn

thiếu hụt Mg do quá trình Feralit và môi trường chua Đất ở đây đã được sử dụng để trồng chè qua nhiều năm (trên 20 năm) Đất có độ dốc, xảy ra hiện tượng rửa trôi, làm cho hàm lượng Mg trong đất càng giảm vì vậy để nâng cao năng suất, chất lượng chè nguyên liệu cần bón bổ sung Mg cho đất trồng chè Từ thực tế trên chúng tôi tiến hành đề tài bón bổ sung Mg cho đất trồng chè vùng thấp Phú Hộ dưới dạng MgSO4

Trang 15

Với mục đích bổ sung phân Mg làm thay đổi diệp lục tố, làm tăng phẩm chất chè nguyên liệu góp phần nâng cao được chất lượng chè Ôlong thành phẩm Từ đó

sẽ tăng được hiệu quả kinh tế trong sản xuất chè Ôlong hiện nay tại vùng chè Phú Thọ

Xuất phát từ mục đích trên, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật tăng năng suất, chất lượng chè PH10 dùng cho chế biến chè Ôlong”

2 Mục đích và yêu cầu

2.1 Mục đích

- Xác định ảnh hưởng của bón bổ sung phân trung lượng MgSO4 và axitamin

có trong của hạt đậu tương ngâm đến năng suất, chất lượng của giống chè PH10 làm nguyên liệu chế biến chè Ôlong

- Xác định kỹ thuật hái cho chất lượng chè ôlong tốt nhất

2.2 Yêu cầu

Đánh giá ảnh hưởng của MgSO4; tổ hợp phân bón MgSO4, đậu tương ngâm

và kỹ thuật hái chè tới:

- Khả năng sinh trưởng, phát triển của cây chè

- Năng suất, chất lượng chè nguyên liệu

- Khả năng chống chịu sâu bệnh hại chè

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

3.1 Ý nghĩa khoa học

- Xác định cơ sở khoa học cho việc bón bổ sung MgSO4 và chất chiết xuất của hạt đậu tương và kỹ thuật hái chè tới tới năng suất, chất lượng của giống chè PH10 làm nguyên liệu chế biến chè Ôlong

- Kết quả của đề tài sẽ bổ sung tài liệu cho công tác nghiên cứu khoa học, giảng dạy và chuyển giao cho sản xuất

Trang 17

CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

1.1.1 Vai trò của Mg đối với sinh trưởng năng suất và chất lượng chè

Magiê có vai trò rất quan trọng trong đời sống của thực vật:

- Magiê là thành phần cấu tạo của diệp lục tố, có vai trò quan trọng trong quang hợp, là hoạt chất của hệ enzyme gắn liền với sự chuyển hoá hydratcarbon và tổng hợp axit nucleic

- Magiê có vai trò thúc đẩy hấp thu và vận chuyển lân của cây Giúp đường vận chuyển dễ dàng trong cây [19]

Trong cây, Mg thường chiếm từ 0,10 – 0,30% MgO so với chất khô Trong tro thực vật thường chứa ít nhất là 10% MgO, và có thể lên đến 30 – 40% Vì vậy ở những vùng chè có tập quán sử dụng nhiều tàn dư hữu cơ, đặc biệt là bón kết hợp các phụ phẩm nông nghiệp thường không bị thiếu Mg Trong diệp lục tố có 4% MgO, giữ vai trò quan trọng trong quá trình quang hợp và sự hình thành gluxit

Triệu chứng thiếu hụt magiê thường có biểu hiện sau:

- Úa vàng ở phần thịt giữa các gân lá, chủ yếu ở lá già do diệp lục tố hình thành không đầy đủ, gây nên vết sọc hoặc vết không liên tục

- Lá nhỏ, giòn ở thời kỳ cuối và mép lá cong lên

- Nhánh yếu và dễ bị nấm bệnh tấn công và thường bị rụng lá sớm

Với cây chè, có nhiệm kỳ kinh tế dài, Mg cũng có vai trò hết sức quan trọng

Mg ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và chất lượng chè Đối với nhiều quá trình sinh hoá do men điều khiển, Mg cũng đóng một vai trò quan trọng Việc hình thành

ra Protein trong trường hợp thiếu Mg sẽ bị hạn chế và ngược lại, những hợp chất

đạm không protit tăng lên Sự hình thành các sắc tố của lá trong trường hợp thiếu

Mg cũng bị ảnh hưởng [16]

Chè là cây trồng ưa đất chua mà trong đất chua sự thiếu hụt Mg càng lớn Để

bổ sung sự thiếu hụt Mg vào đất, người ta thường bón MgO dưới dạng đôlômit chứa

từ 20 - 35% MgO, hoặc bón phối hợp MgO với các lần bón phân khoáng trong năm

Trang 18

Trong một số trường hợp có thể kết hợp bón phân đa lượng qua lá để bón bổ sung

Mg

Ở Việt Nam giống PH10 là giống có tiềm năng năng suất cao, được trồng

nhiều ở vùng trung du miền núi phía Bắc Nguyên liệu búp chè giống PH10 có chất lượng tốt, chế biến chè xanh có ngoại hình đẹp xoăn, xanh non, thoáng tuyết Có hương thơm đặc trưng của giống, vị đậm dịu, có hậu So với giống Kim Tuyên giống PH10 có hương thơm mạnh và vị đậm dịu hơn, các chỉ tiêu chất lượng ổn

định qua các thời vụ, điểm thử nếm chè xanh đạt từ 17,36 - 17,72 điểm Có khả

năng chế biến chè Ôlong chất lượng cao

1.1.4 Vai trò của axitamin (có trong đậu tương ngâm) đối với sinh trưởng năng suất và chất lượng chè

Chất hữu cơ giàu Protein có khả năng cung cấp lượng lớn axitamin cho cây chè là rất quan trọng Cây trồng tạo ra khoảng 300 loại axít amin, nhưng chỉ 20 loại

được dùng đến để sản xuất ra protein ( như cysteine, methionine, proline, leucine,

histidine, arginine, threonine, lysine, serine, glycine, glutamine, glutamate, aspartic acid, asparagine, alaine, tryptophan, valine, phenylalanine) Cây trồng có khả năng

tự tổng hợp axít amin, nhưng các chất dinh dưỡng cung cấp cho cây trồng như N, P,

K và các vi lượng khoáng chất không tạo ra được axít amin

Do vậy, nếu như có thể cung cấp trực tiếp các axít amin cho cây trồng sẽ hết sức tốt

Theo tác giả Trịnh Văn Loan (1996), nguồn cung cấp axít amin cho cây trồng có thể từ nhiều nguồn khác nhau, nhưng chủ yếu từ quá trình thuỷ phân protein Các chất giầu protein thường đi từ nguồn động vật và thực vật Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng Hàm lượng protein của đậu tương cao hơn cả thịt, cá và gần gấp

đôi các loại đậu khác Cùng một mẫu đất, số thu hoạch chất đạm đậu tương nhiều

hơn 33 phần trăm với bất kỳ một thứ nông sản nào khác

Protein của đậu tương có giá trị cao không chỉ về sản lượng thu hoạch mà

nó chứa đầy đủ tám loại amino acids thiết yếu (essential amino acids) Hàm lượng của các chất amino acids này tương đương với hàm lượng của các chất amino acids

Trang 19

của trứng gà, đặc biệt là của tryptophan rất cao, gần gấp rưỡi của trứng Vì thế mà khi nói đến giá trị của protein ở đậu tương cao là nói đến hàm lượng lớn của nó cả

sự đầy đủ và cân đối của tám loại amino acids Tuy nhiên để Protein của đậu tương

dễ dàng thủy phân tạo ra axitamin thì trước khi bón cho cây trồng cần phải nghiền, ngâm trong nước đến khi đậu thối mất sức nảy mầm

Protein được phân huỷ thành axít amin bằng các phương pháp thuỷ phân khác nhau ví dụ như thuỷ phân bằng hoá học, bằng enzyme Theo tác giả Trịnh Văn Loan (1996), ngâm đậu tương là một cách thủy phân đơn giản nhằm cung cấp nguồn dinh dưỡng giàu axitamin cho cây chè

1.1.3 Cơ sở khoa học của kỹ thuật hái chè

Hái chè là khâu đặc biệt quan trọng trong công nghệ chè, vì đó là mục tiêu của khâu trồng trọt và khởi điểm của khâu chế biến Hái chè có ảnh hưởng quyết định đến sinh trưởng, phát dục, sản lượng cây chè, phẩm cấp nguyên liệu búp chè,

chất lượng chè thành phẩm và hiệu suất lao động hái chè, cho nên hái chè đúng kỹ thuật sẽ thu được nhiều búp tốt, để chế biến ra chè khô chất lượng cao với giá thành hợp lý, dễ được khách hàng ưa thích

Năm 1936 J.J.B Deuss (Hà Lan) viết trong tài liệu “hái chè” (Tạp chí thực vật học ứng dụng và nông nghiệp nhiệt đới):

Đốn và hái chè rất giống nhau vì cùng lấy đi những phần non nhất của cây chè (chặt đốn cây chè) Phản ứng của cây chè là tái sinh bằng các hiện tượng sinh

trưởng

Muốn nắm được vấn đề này phải nghiên cứu các chỉ tiêu sinh trưởng của một

cành bình thường không đốn, không hái, sau đó là một cành có đốn hái và cuối cùng

là những thí nghiệm hái chè để xác định được các tỷ lệ lá có chất lượng khác nhau

đã thu hái được Từ đó định ra phương pháp hái chè có lợi nhất cho nhà sản xuất

Tiến trình mọc lá của ngọn chè không hái đốn (Theo kết quả nghiên cứu của Cohen Stuart) như sau: Cây chè sau khi đốn mọc lên những lá cá Lá các không phải

lá thông thường, có kích thước nhỏ hơn và không có răng cưa dìa lá Tiếp theo là

những lá chè bình thường rồi búp (tôm) chè Búp chè không phát triển tiếp trở thành

Trang 20

búp mù xòe Những búp này ngủ nghỉ một thời gian rồi lại mọc lên lá cả, lá bình

thường Búp mù xòe ngủ nghỉ trong 1-2 tuần Và cứ thế tiếp tục quanh năm, dưới

tác dụng của nhiệt độ và ẩm độ

Trên cành chè có hái búp ( Theo kết quả nghiên cứu của Cohen Stuart) số lượng lá chè mọc lên, sau khi tái sinh, phụ thuộc vào cường độ sinh trưởng của cành

chè và số lượng lá chè đã hái đi Sau khi hái chè xuất hiện 2 hiện tượng:

- Chu kỳ sản xuất đều đặn của các cây chè có năng suất rộ sau 6 đến 8

ngày

- Giảm sút của trọng lượng búp chè theo quá trình hái trong thí nghiệm đã

quan trắc được, trọng lượng búp 1 tôm + 3 lá hái lần đầu là 1,25g và lần cuối sau 15 tuần lễ là 0,89g Điều này nói lên sự cần thiết phải đốn và hái chè

Năm 1953, A Guinard (dẫn theo ZieZ L., 1991) Viết trong tài liệu

“sản xuất chè ở Đông Dương” như sau:

Hái chè là một cách đốn xanh liên tục, lấy đi phần đầu của ngọn (cành) chè,

để kích thích mầm nách mọc ra ngọn chè mới

Hái non chỉ gồm các lá non như tôm (búp) lá 1 và lá 2 Hái lá già là hái tôm

(búp) + 4 đến 5 lá thật Hái đau nhiều hay nhẹ là tùy số lá chừa lại trên ngọn (cành)

chè ít hay nhiều

Hái chè ảnh hưởng đến sinh trưởng chất lượng và sản lượng chè

Về sinh trưởng cây chè, sau khi hái búp, sinh trưởng ngọn chè bị gián đoạn, cây chè phản ứng bằng cách mọc ra những búp chè mới, bằng các chất dinh dưỡng

dự trữ trong rễ, và nhựa tạo nên trong các lá trưởng thành

Cây chè bị hái lá liền bị suy yếu ngay, nhưng khi cành lá non mọc lên và

phát triển sẽ tạo ra và cung cấp chất dinh dưỡng cho cây chè Hái chè Đau sẽ làm

kiệt cây chè, hái đi càng nhiều búp non, và để chừa lại càng ít lá trưởng thành thì

càng đau

Theo Eden (1949), hái đau (chỉ để lại lá cá) so với hái nhẹ (để lại 1 lá cá và 1

lá thật) trong 4 năm liền đã làm giảm 2/3 trọng lượng các lá thật, 1/2 trọng lượng gỗ

Trang 21

của cây chè và 1/3 sinh khối của cây chè (Gỗ và lá trưởng thành) Wight (1948) còn

quan trắc thấy đường kính cành chè giảm, mà số cành chè tăng lên

Nếu chừa lại 2 lá (LC +2) cây chè ít bị các tác động như nói ở trên, nhưng

tán chóng cao, nhất là đối với giống chè có lóng dài, nên phải đốn sớm, đốn nhiều,

vì thế nên hạn chế áp dụng

Nếu số lá chừa như nhau thì hái non (Tôm + 2) làm kiệt sức cây chè hơn lá

già (Tôm + 3 hay 4 tôm) vì lá chừa để lại non hơn, khả năng quang hợp kém hơn

Lá chè già có hàm lượng Tanin thấp, khó làm héo, khó vò, vị chè nhạt, nước kém và nhiều vụn nát Hái già làm lá non và già trộn lẫn, phải phân loại riêng để chế

biến nên tốn công, giá thành cao

Thành phần cơ giới búp chè biến động theo chu kỳ đốn Càng xa ngày đốn, búp chè càng nhỏ đi và sản lượng bị giảm (Tubbs, 1949)

1.2.Tình hình nghiên cứu về bón phân trung lượng và nguồn dinh dưỡng giàu axitamin cho chè trên thế giới và ở Việt Nam

1.2.1 Tình hình nghiên cứu về phân trung lượng và nguồn dinh dưỡng giàu axitamin cho chè trên thế giới

Godishvili G.C và Beridze A.F (1962) đã nghiên cứu việc sử dụng phân khoáng thường xuyên bón vào đất chè dẫn đến sự biến đổi hoá học của đất Các chất dinh dưỡng được hoà tan mạnh hơn khi đất ẩm có mưa, nhất là những vùng á nhiệt đới và đới ẩm các chất khoáng của đất thường bị rửa trôi Sử dụng phân chua sinh lý ở điều kiện thâm canh cao làm thúc đẩy mạnh cường độ rửa trôi các Ion Bazơ trong đất, trong đó có Mg Khi bón NPK với mức cao, độ chua của đất tăng cao, ngược lại hàm lượng bazơ lại giảm thấp: CaO 14,4 mg/100g đất, đặc biệt MgO chỉ còn 1,8 mg/100g đất Trong khi đó đối chứng tương tự là CaO: 28,8 MgO: 5,8 mg/100g đất

- Geus J.G.De, 1983: Việc sử dụng lâu dài amôn sunphát và các loại phân chua sinh lý đã làm thay đổi đáng kể tính chất lý hoá học của đất.Trong môi trường chua sự rửa trôi MgO lớn hơn CaO, mặt khác CaO được bổ sung cùng việc bón lân còn MgO bị lấy đi cùng búp chè thu hoạch, sự thiếu hụt MgO ngày càng trầm trọng

Trang 22

Sự thể hiện thiếu MgO của cây chè có nhiều nguyên nhân: Do nhiều năm sử dụng amôn sunphát liên tục, do nhiều năm sử dụng kali trên đất liparit nghèo hoặc thiếu magiê, do thừa mangan trên đất tro núi lửa Khắc phục sự thiếu magiê người ta bón vào đất 125kg dolomit/1ha, khi thiếu magiê nặng hơn bón 100 – 125 kg kiseserit (24% MgO), hoặc phun MgSO4 1 lần trên năm với nồng độ 2%/lá được thực hiện ở

Srilanka, Nam ấn Độ đã làm tăng sản lượng 11-16% trên các nương chè già

1.2.2 Tình hình nghiên cứu về phân trung lượng và nguồn dinh dưỡng giàu axitamin cho cho chè Việt Nam

Nghiên cứu về ảnh hưởng của phân bón đối với đời sống cây trồng nhiều tác giả chủ yếu chú trọng đến các loại phân đa lượng như N, P, K còn các loại phân trung vi lượng như S, Zn, Mn, Mg, Bo, Al rất ít tác giả đề cập đến hoặc nếu có cũng chỉ nghiên cứu trên một số loại cây như cà phê, đậu, đỗ, bông…

Tác giả Lê Xuân Đính cho biết cây cà phê Robusta ở Indonesia lấy đi từ đất

là 52,3kgN; 10,5kgP2O5; 80,7kgK2O; 16,5kgMgO; 28kgCaO thì năng suất đạt 1,75 tấn/ha Để đảm bảo cho đất không bị nghèo đi thì mức bón tối thiểu phải bù đắp

được sự hao hụt các nguyên tố này trong đất Tuỳ theo đặc điểm tồn tại của từng

nguyên tố trong đất mà ngoài phần cây hấp thụ, ta còn phải bù đắp cả phần mất đi

do rửa trôi, bay hơi hoặc do các quá trình hoá học hoặc xói mòn… khiến các nguyên tố này không còn nằm trong vùng rễ cây Đối với nguyên tố trung lượng, Ca

và Mg là hai nguyên tố ít bị rửa trôi hơn S và mức bón (tuỳ theo năng suất cà phê)

ta có thể tính toán từ mức cây hút ở trên và cộng thêm 30% nữa là đủ

Còn trên cây chè có ít tác giả đề cập tới Tác giả Lê Văn Đức đã nghiên cứu

về ảnh hưởng của Mg đến chất lượng giống chè PH1 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón và Mg đến năng suất, chất lượng giống chè PH1 trồng tại Phú

Hộ - Phú Thọ Bón Mg ở các liều lượng 50kg và 70kg MgSO4/ha làm tăng mật độ búp chè 10,5% và 18,9% Tỷ lệ mù xoè giảm, trọng lượng và chiều dài búp không tăng có tác dụng tích cực đến năng suất và chất lượng giống chè PH1 Bón Mg với các công thức 50kg MgSO4/ ha và 75kg MgSO4/ha làm tăng dung lượng đốn của

Trang 23

chè 25% và 32,8% so với đối chứng Bón Mg làm tăng hàm lượng đường khử, đặc biệt là axit amin, do đó ảnh hưởng tốt đến chất lượng chè [26]

Việc bón magiê (khoảng 10-20kg MgO/ha) cho chè cũng đảm bảo tăng năng suất và chất lượng búp Ở Việt Nam có thể dùng một tỷ lệ nhất định phân lân nung chảy như một nguồn phân magiê cho chè Ngoài các nguyên tố đa và trung lượng, kẽm cũng có hiệu lực khá với chè, do vậy phun dung dịch sunphat kẽm cũng có tác dụng tăng năng suất và phẩm chất đáng kể Theo một số tác giả, nếu năng suất cao hơn 3 tấn búp khô thì cần bón thêm cả Bo và Molipđen

1.3 Tình hình nghiên cứu về kỹ thuật hái chè trên thế giới và ở Việt Nam

Quy cách hái khác nhau cho chất lượng nguyên liệu khác nhau Lý do là: các thành phần cơ giới búp (tôm, lá 1, lá 2, lá 3 ) khác nhau có thành phần và hàm lượng tích lũy các chất khác nhau; tuổi của búp chè hái khác nhau( Thời gian tính từ khi bắt đầu búp sinh trưởng đến khi hái búp) có chất lượng, thành phần sinh hóa khác nhau Mỗi loại sản phẩm chè chỉ có chất lượng tốt khi chế biến từ nguyên liệu

có chất lượng phù hợp Nguyên liệu để chế biến chè Ôlong đòi hỏi độ chín sinh lý cao hơn (tỷ lệ bánh tẻ cao hơn) so với các sản phẩm chè khác Do vậy kỹ thuật hái

là chỉ tiêu quan trọng cần nghiên cứu để nâng cao chất lượng chè Ôlong

1.3.1 Tình hình nghiên cứu về kỹ thuật hái chè trên thế giới

Kỹ thuật hái búp chè non của các đồn điền chè châu Âu, dựa vào kỹ thuật đã

áp dụng trong sản xuất của Srilanka cũng như tại Ấn Độ Thực chất kỹ thuật này là của người Anh và Hà Lan Các công trình nghiên cứu về hái chè ở Đông Dương rất

ít Chỉ có 3 tác giả (Du Pasquier, J.J.B Deus và A Guinard) có những nghiên cứu

và phát biểu về hái chè, trong đó Deuss (Hà Lan) và Guinard (Pháp) đã có các công trình in trong các tạp chí và sách in tại Pháp (Paris) và Đông Dương (Hà Nội – Sài Gòn)

Năm 1923 Du Pasquier trong báo cáo kết quả nghiên cứu về cây chè ở trạm

Phú Thọ – Tập san kinh tế Đông Dương – 1923, đã viết:

Về thí nghiệm “Taping” hay bấm bẻ búp (cành non) sau đốn chè: Nương chè

Trại cũ, chia thành 2 lô, chỉ bấm bẻ búp lô 1 Kết quả cho thấy cành non giữa tán

Trang 24

cây, bấm bẻ vào quãng 10 cm cao hơn mức đốn chè, sau đó ở độ cao 20 cm Lô chè

1 có những cây chè hình dạng đồng đều và dễ hái hơn lô chè 2 (không bấm bẻ búp non) Sản lượng lô 1 hơi cao hơn lô 2

Năm 1934 Theo F Roule, ở các đồn điền chè của người Châu Âu tại tây nguyên đã thực hiện hái búp non khi trên ngọn chè đã có 3 lá và búp (tôm) thì hái 1 tôm + 2 lá Nếu ngọn chè có 4 lá, hái lá thứ 2 trên lá bỏ đi Lúc đầu hái 15 ngày 1 lần, về sau cứ 8 ngày hái 1 lần vào vụ mưa

Theo Eden (1947) hài chè chỉ để lại lá cá, làm giảm kích thước búp 30%, nhưng số lượng búp tăng

Theo tài liệu Trung Quốc (dẫn theo ZieZ L., 1991) [58], hệ số diện tích lá trong điều kiện hái búp biến động từ 01- 06 Tương quan giữa hệ số diện tích lá với sản lượng chè r = 0,8087 Hệ số diện tích lá từ 03-04 thì sản lượng tăng dần cho tới khi đạt tới 05 thì năng suất cao nhất vượt qua giới hạn này thì năng suất sẽ giảm Khi áp dụng hái chừa lá cá trong một thời gian dài nhiều năm liên tục thì không giảm sản lượng chè nhưng sinh trưởng của cây chè yếu đi rõ rệt vì nó làm giảm vật chất hữu cơ, cơ quan đồng hoá tích luỹ giảm Mặt khác, khi nghiên cứu áp dụng hình thức hái chừa một lá và hái chừa lá cá cho thấy hái sát

cá tốn công lao động hơn và nó ảnh hưởng tới sinh trưởng của cây Do đó ở người ta đã cải tiến hình thức hái và thay thế bằng kỹ thuật đốn hái tạo hình chè con, khi cây chè 1 tuổi có 75% số cây cao trên 30 cm thì đốn lần 1 cách mặt đất 10 -15 cm, lần 2 cách 15- 20 cm

Ở Liên Xô (cũ) (dẫn theo Lê Triệu Hoàng Trung, 2002), các nghiên

cứu đã được tiến hành với 2 phương thức hái khác nhau liên tục 11 năm với các công thức là:

- Công thức 1: Hái 1 tôm 2-3 lá với số lá chừa (tháng 5 chừa 2 lá, tháng 6 chừa 1 lá, sau đó chỉ chừa lá cá)

- Công thức 2: Chỉ hái 1 tôm 2 lá (tháng 5 chừa 2 lá, tháng 6 chừa 1 lá, sau

đó chỉ chừa lá cá)

- Công thức 3: Hái 1 tôm 2-3 lá cuối mùa chỉ chừa lá cá

Trang 25

Kết quả cho thấy, năng suất ở công thức 2 = 83% so với công thức 1 Như vậy, muốn sản xuất chè hảo hạng chỉ hái 1 tôm 2 lá

Tuy nhiên, hình thức hái này tốn rất nhiều công lao động, do đó người ta

đã phát triển hình thức đốn hái và sau đó nó được áp dụng khá phổ biến Khi

cây chè 2- 3 tuổi, chiều cao trên 50 cm thì đốn lần 1 cách mặt ñất 10 -12 cm, lần 2 cách mặt ñất 30 cm Song song việc đốn thì áp dụng biện pháp hái tạo hình như sau:

Chè 2 tuổi để lá nuôi cây là chính Sau khi trồng được 18 tháng cây sinh trưởng mạnh, thu hái nhẹ vào 6 tháng cuối năm, hái những búp cao trên 50

cm

Chè 3 tuổi hái những búp cao trên 60 cm, hái ñúng tiêu chuẩn 1 tôm 2 lá, không hái búp chưa đủ tiêu chuẩn

Chè 4 tuổi: Hái nuôi tán và sửa tán đúng kỹ thuật

Qua tổng kết sản xuất và tư liệu hái chè của Trung Quốc, Pháp, Anh, Hà Lan đã thấy rõ vai trò của việc hái chè trong việc nâng cao năng suất, chất lượng của chè

1.3.2 Tình hình nghiên cứu về kỹ thuật hái chè ở Việt Nam

Ở Việt Nam từ xa xưa do phong tục uống chè ở các vùng miền khác

nhau nên hình thành các phương pháp hái chè khác nhau Có vùng thường thích uống chè tươi, nguyên liệu là lá bánh tẻ, lá già Kỹ thuật hái là vặt các lá già,

lá bánh tẻ hoặc cắt cành chè đun sôi làm nước uống

Kỹ thuật hái chè cũ phổ biến của nông dân vùng chè Thanh Ba (Phú Thọ) là

một năm hái 6 lứa chính, cách nhau 40 – 45 ngày Sau mỗi lứa chính 10 -15 ngày, thường hái nhặt lại một số ít búp già quá, gọi là trật xép Một số xã Phú Xuân (Phú

Thọ) đã hái chè 2 tay, hái búp non như ở trại thí nghiệm Phú Hộ, còn đa số các xã khác như (Ninh Dân, Kiến Thiết, Đồng Xuân) hái chè 1 tay bằng dao quai (dao bổ

cau ăn giầu không) cắt trụi búp chè non, lá già bánh tẻ đồng loạt

Tập quán hái chè truyền thống này làm hỏng tán chè, búp đã ít lại lẫn cả non

già, lá và cọng nên phẩm chất nguyên liệu kém, làm chè thành phẩm không đồng đều, giá trị hàng hóa thấp

Trang 26

Theo kết quả nghiên cứu kỹ thuật hái chè trong đề tài: “Nghiên cứu các

giải pháp khoa học công nghệ và thị trường để nâng cao chất lượng chè xuất khẩu”

của Viện khoa học Nông lâm nghiệp miền núi phía bắc thì:

Hái chè LDP1 đầu thời kì sản xuất kinh doanh : Vụ xuân hái cách vết đốn 10

cm, các lứa sau luôn hái tạo mặt tán phẳng, kết quả cho thấy mật độ búp chè tăng

27 % so đối chứng (Đ/C) , HSDT (Hệ số lá) cao, chất lượng chè A+B đạt 88,7%

Hái chè LDP1 sản xuất kinh doanh, vụ xuân hái chừa cách vết đốn 10 cm

đến 15 cm, các lứa sau hái tạo mặt tán phẳng, tăng năng suất chè tới 12,1% so với Đ/C

Sau các lứa hái cuối tháng 4, đầu tháng 7, sửa lại tán chè phẳng bằng máy

đốn chè Nhật Bản, làm giảm số lứa hái/ năm, có ảnh hưởng tốt đến năng suất, chất

lượng chè

Trang 27

CHƯƠNG II VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Vật liệu nghiên cứu

- Giống chè PH10 ở thời kỳ kinh doanh (tuổi 6)

- Phân bón trung lượng MgSO4 và đậu tương ngâm

2.2 Phạm vi nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu được thực hiện từ tháng 9 năm

2011 đến tháng 5 năm 2012

- Địa điểm: Thí nghiệm được bố trí tại Gò hội đồng, Viện Khoa học Kỹ thuật

Nông Lâm Nghiệp miền núi phía Bắc

2.3 Nội dung nghiên cứu

2.3.1 Nội dung nghiên cứu

2.3.1.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của bón bổ sung phân trung lượng (MgSO4) và axitamin có trong hạt đậu tương ngâm đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng

của chè PH10

2.3.1.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của kỹ thuật hái đến đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng của chè PH10

2.3.2 Công thức thí nghiệm

và axitamin có trong hạt đậu tương ngâm đến chất lượng và năng suất chè PH10 Thí nghiệm có 3 công thức như sau:

1 30 tấn phân chuồng hoai mục + 120 N/ha + 40P2O5/ha + 80K2O /ha - Đối chứng (Đ/ C)

2 Đ/C + 75 kg MgSO4/ha

3 Đ/C + 75 kg MgSO4/ha +1000 kg hạt đậu tương ngâm/ha

Công thức đối chứng bón theo quy trình của Bộ nông nghiệp, căn cứ để tính lượng phân bón là 40 kg N cho 1 tấn sản phẩm, với tỷ lệ NPK là 3:1:2

Thí nghiệm gồm 3 công thức với 3 lần nhắc lại, bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh, các khối đều ở trên một đường đồng mức để hạn chế ảnh hưởng của nhân tố

Trang 28

phi thí nghiệm; Mỗi lần nhắc lại bố trí 5 hàng; Diện tích 1 ô thí nghiệm là 50 m2( dài 10 m x 5 hàng x 1m/ hàng) Cách ly giữa các lần nhắc lại để hạn chế ảnh hưởng của nhân tố phi thí nghiệm là 2 hàng chè ( 2m )

+ Cách bón bổ sung kết hợp phân trung lượng MgSO4 và đậu tương ngâm:

Đậu tương được nghiền và ngâm trong nước lã khoảng 1 tháng, sau đó vớt lên trộn đều với phân trung lượng MgSO4, rạch hàng bón sâu 6-8cm, cách gốc 25 - 30 cm.

Trang 29

+ MgSO4 bón 1 lần/năm: 12 tháng 8 (100%)

+ MgSO4 + Đậu tương ngâm bón 1 lần /năm: 12 tháng 8 /2011 (100%)

+ Bón phân chuồng bổ sung: bón 100% sau đốn

+ Thí nghiệm 2: Xác định kỹ thuật hái thích hợp nhằm tăng chất lượng sản phẩm

chè Ôlong của giống PH10

CT1: Búp 1 tôm, 2 lá (Đ/c)

CT2: Búp 1 tôm, 3 lá

CT3: Lá thứ nhất và lá thứ hai ( bấm bỏ tôm 5-6 ngày trước khi hái)

Thí nghiệm được hái trên nền phân bón là: 30 tấn phân chuồng hoai mục/ha + 120

N + 40P2O5/ha + 80K2O /ha + 75kg MgSO4/ha.

Thí nghiệm gồm 3 công thức với 3 lần nhắc lại, bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh, các khối đều ở trên một đường đồng mức để hạn chế ảnh hưởng của nhân tố phi thí nghiệm; Mỗi lần nhắc lại bố trí 5 hàng; Diện tích 1 ô thí nghiệm là

50 m2 ( dài 10 m x 5 hàng x 1m /hàng) Cách ly giữa các lần nhắc lại để hạn chế

ảnh hưởng của nhân tố phi thí nghiệm là 2 hàng chè ( 2m )

- Cách hái: Chè được hái khi trên cành chè có 6 lá, riêng công thức 3 trước

khi hái búp chè gồm lá 1, lá 2 cần phải bấm bỏ tôm chè trước hái 5- 6

ngày

- Thời điểm hái: Thu hái 6 lứa chè vào các tháng 9/ 2011; 10 /2011; 11 /2011; 3 /2012; 4 /2012; 5 /2012 khi trên cành chè có 6 lá

Trang 30

Các yếu tố phi thí nghiệm đều được áp dụng giống nhau ở tất cả các công

thức của cả thí nghiệm 1, thí nghiệm 2 và áp dụng theo quy trình kỹ thuật trồng, chăm sóc nguyên liệu sản xuất chè Ôlong

2.4 Các chỉ tiêu nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Các chỉ tiêu sinh trưởng

Chọn cây đại diện theo phương pháp ngẫu nhiên Mỗi công thức chọn 5 cây theo phương pháp 5 điểm chéo góc, với 3 lần nhắc lại tổng là 15 cây theo dõi

Các chỉ tiêu theo dõi gồm:

- Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây (cm/tháng)

Thời gian đo: Định kỳ theo dõi 1 tháng/lần sau phun

Phương pháp đo: Đo từ mặt đất đến đỉnh sinh trưởng cao nhất của cây Chiều cao cây là trung bình của các lần đo

T2 - T1

Tốc độ tăng trưởng (cm/ngày) =

30 Trong đó: T1: Chiều cao cây đo lần 1 (cm)

T2: Chiều cao cây đo lần 2 (cm)

- Tốc độ tăng trưởng độ rộng tán (cm/tháng)

Thời gian đo: Định kỳ theo dõi 1 tháng/lần sau bón

Phương pháp đo: Đo điểm rộng nhất và hẹp nhất của tán chè sau đó lấy giá trị trung bình Chiều cao cây là trung bình của các lần đo

R2 - R1

Tốc độ tăng trưởng (cm/ngày) =

30 Trong đó: R1: Độ rộng tán đo lần 1 (cm)

R2: Độ rộng tán đo lần 2 (cm)

- Theo dõi đợt sinh trưởng

Đợt sinh trưởng: Là thời gian hoàn thành chu kỳ sinh trưởng, phát triển của những

búp chè Hàng năm ở cây chè thu hái búp có từ 6 - 8 đợt sinh trưởng tự nhiên

Trang 31

Phương pháp theo dõi: Khi các chồi lá ở nách lá chừa phình to, bắt đầu đánh dấu thời gian theo dõi sinh trưởng búp cho đến khi búp chè đủ tiêu chuẩn thu hái và hái búp là kết thúc một đợt sinh trưởng Thời gian từ khi mầm phát động đến khi hái

là một đợt sinh trưởng nhân tạo

- Chiều dài búp (cm): Chiều dài búp là chiều dài từ điểm giữa lá 2 và lá 3

đến đỉnh sinh trưởng búp

Mỗi công thức thí nghiệm lấy 150 g mẫu Đo chiều dài 15 búp được lấy ngẫu nhiên, thực hiện 03 lần nhắc Chiều dài búp là bình quân chiều dài một búp của 03 lần nhắc lại

- Dày tán (cm): Đo từ mặt vết đốn đến điểm cao nhất của tán, đo 1 lần khi

kết thúc đề tài

- Chỉ số diện tích lá (HSDTL): Làm vào sau đốn và cuối năm theo phương

pháp cân trọng lượng theo diện tích của m2 lá

2.4.2 Các chỉ tiêu về năng suất chè

- Mật độ búp (búp/m2): Dùng khung vuông kích thước 25cm x 25 cm đếm số

búp đủ tiêu chuẩn hái (tại 5 điểm theo đường chéo góc của ô thí nghiệm)

- Khối lượng búp một tôm hai lá, một tôm ba lá, búp gồm lá thứ nhất và lá

thứ 2 sau tôm( bỏ tôm chè 5-6 ngày trước hái) (g)

+ Thời điểm theo dõi: Khi hái búp

+ Cách theo dõi: Hái mỗi điểm theo dõi 30 búp một tôm hai lá, một tôm ba

lá hoặc búp gồm lá thứ nhất và lá thứ 2 sau tôm, chia làm 3 lần cân, mỗi lần 10 búp,

tính giá trị trung bình

- Năng suất tươi trong mỗi lứa hái (kg): Cân toàn bộ búp chè hái được, tính

trung bình năng suất 03 lần nhắc lại là năng suất bình quân ở mỗi lứa hái ở mỗi công thức

- Số lứa hái/năm (lứa)

- Năng suất thực thu

Trang 32

2.4.3 Các chỉ tiêu phẩm cấp nguyên liệu

- Thành phần cơ giới búp: Trong mỗi ô thí nghiệm hái 10 búp một tôm ba lá,

tách riêng búp, lá một, lá hai, lá ba, cuộng sau đó cân lấy khối lượng và tính tỷ lệ phần trăm

Trong đó: P1, P2, P3, P4 lần lượt là trọng lượng tôm, lá một, lá hai, lá 3 và cuộng

P là trọng lượng của 10 búp một tôm 3 lá

- Xác định tỷ lệ bánh tẻ: Lấy mẫu của lô búp theo phương pháp đường chéo 5

điểm

Phương pháp xác định: Dùng phương pháp xác định bấm bẻ để xác định độ non già của búp chè Mỗi lần nhắc cân 50g mẫu thực hiện bấm bẻ số búp của mẫu

Đối với cuống bẻ ngược từ cuống hái đến đỉnh búp, đối với lá bấm bẻ từ cuống lá đến đầu lá, phần bấm bẻ có xơ gỗ là phần bánh tẻ có trong lượng P1, phần non có trọng lượng P2

Tỷ lệ (%) búp bánh tẻ = P1:50x100

Tỷ lệ (%) búp non = P2:50x100.(P1 +P2=50g)

- Căn cứ vào tỷ lệ bánh tẻ để đánh giá phẩm cấp búp theo từng công thức

Tiêu chuẩn chè đọt tươi được quy định như sau (theo TCVN 1053-71):

Trang 33

Tỷ lệ các thành phần búp trung bình là bình quân lần lượt các giá trị ở 3 lần nhắc lại

- Tỉ lệ búp mù xoè (%)

Phương pháp xác định: Mỗi công thức chọn 5 cây, hái tổng số búp của cây, rồi đếm số búp mù có trong tổng số búp của 5 cây

Tổng số búp mù BM% = - x 100%

Tổng số búp

2.4.4 Các chỉ tiêu chất lượng nguyên liệu

- Các chỉ tiêu sinh hóa

+ Phân tích hàm lượng tanin theo LeWenthal với K = 0,582 (1964)

+ Xác định hàm lượng chất tan (HCT) theo Vonronxop V E (1946)

+ Xác định hàm lượng đường khử theo Betrand

+ Xác định hàm lượng axitamin theo V.R.Papove (1966)

2.4.5 Các chỉ tiêu về khả năng chống chịu của cây chè

- Mức độ gây hại của rầy xanh (con/khay): Định kỳ theo dõi 10 ngày một lần

(vào các ngày 9, 19, 29) Dùng khay có kích thước 35x25x5cm, đáy khay có tráng một lớp dầu hỏa Đặt nghiêng khay dưới tán chè, dùng tay đập mạnh 5 cái trên tán chè theo phương vuông góc với khay từ trên xuống, đếm số rầy xanh rơi vào khay

Cách tính: Mật độ rầy xanh (con/khay) =

tra iÒu khay sè Tæng

tra iÒu rÇy sè Tæng

đ đ

- Mức độ gây hại của bọ cánh tơ (con/búp): Tại mỗi điểm điều tra hái ngẫu

nhiên 25 búp cho vào túi nilon sau đó đem vào phòng dùng kính lúp đếm số bọ cánh

tơ trên búp

Cách tính: Mật độ bọ cánh tơ (con/búp) =

bóp) (25 bóp sè Tæng

to c¸n bä sè Tæng h

Trang 34

- Mức độ gây hại của nhện đỏ nâu (con/lá): Tại mỗi điểm điều tra hái ngẫu

nhiên 25 lá (bao gồm lá non, lá bánh tẻ và lá già) cho vào túi nilon sau đó

đem vào phòng dùng kính lúp đếm số nhện đỏ trên lá

Cách tính: Mật độ nhện (con/lá)=

l¸) (25 tra iÒu l¸

sè Tæng

tra iÒu nhÖn sè Tæng

đ đ

2.4.6 Tính hiệu quả của việc bón phân

- Lợi nhuận (RVAC) được tính bằng tổng thu nhập (GR) trừ đi tổng chi phí (TC): RVAC = GR – TC

- Tỷ suất lãi toàn phần = (GR – TC)/TC (%)

2.5 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

Số liệu được xử lý theo phương pháp thống kê sinh học bằng phần mềm IRRISTAT và EXCEL

Trang 35

CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Ảnh hưởng của bón bổ sung phân trung lượng MgSO4 và axitamin

có trong hạt đậu tương ngâm đến các chỉ tiêu theo dõi

có trong hạt đậu tương ngâm đến chiều cao cây, chiều rộng tán chè

3.1.1.1 Ảnh hưởng của bón bổ sung phân trung lượng MgSO4 và axitamin

có trong hạt đậu tương ngâm đến chiều cao của cây chè

Sự tăng trưởng chiều cao cây là do sinh trưởng của cành lá; bón phân cho chè

có vai trò thúc đẩy sinh trưởng sinh dưỡng làm cho thân cây sinh trưởng cân đối, số

lượng mầm đỉnh phân hóa nhiều là cơ sở cho năng suất cao

Nếu thân cây sinh trưởng kém, số lượng cành ít, làm giảm mật độ và khối lượng búp do đó sẽ làm giảm năng suất

Kết quả theo dõi thể hiện ở bảng 3.1

Bảng 3.1 cho thấy bón bổ sung đơn độc phân trung lượng MgSO4 và bổ sung

kết hợp phân trung lượng MgSO4, axitamin có trong hạt đậu tương ngâm cho sinh trưởng chiều cao cây chè ở các tháng theo dõi không sai khác so với đối chứng (P > 0,05)

Bón bổ sung kết hợp (MgSO4 và chiết xuất đậu tương ngâm) cho kết quả

sinh trưởng chiều cao cây chè PH10 ở các tháng theo dõi không sai khác (P > 0,05)

so với bổ sung đơn độc phân trung lượng (MgSO4)

Kết quả trên cho ta nhận xét: Bón bổ sung kết hợp (MgSO4 và axitamin có

trong hạt đậu tương ngâm hay bón bổ sung đơn độc phân trung lượng (MgSO4) đều cho sinh trưởng chiều cao cây không sai khác so với đối chứng (P>0,05)

Trang 36

Bảng 3.1 Ảnh hưởng của bón bổ sung phân trung lượng MgSO4 và axitamin có

trong hạt đậu tương ngâm đến chiều cao của cây chè

(Đơn vị: cm)

Tháng

Tăng trưởng (So

3.1.1.2 Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón MgSO4 và axitamin có trong đậu

tương ngâm đến chiều rộng tán của cây chè

Độ rộng tán là một chỉ tiêu phản ánh năng suất của một nương chè, nó được tạo nên từ thân và cành chè

Với lượng cành chè thích hợp và cân đối trên tán chè sẽ cho sản lượng cao, nếu vượt qua giới hạn đó sản lượng chè không tăng mà phẩm chất búp còn giảm do

còn nhiều búp mù xòe

Qua theo dõi sinh trưởng về độ rộng tán chúng tôi thu được kết quả ở bảng 3.2

Bảng 3.2 cho thấy bón bổ sung phân trung lượng MgSO4 và axitamin có

trong đậu tương ngâm đã làm tăng sinh trưởng rộng tán của chè PH10 chắc chắn (P

< 0,05) Chênh lệch chiều rộng tán chè của hai công thức bón bổ sung so đối chứng lần lượt là 2,3 cm và 4,1 cm

Trang 37

Bảng 3.2 Ảnh hưởng của bón bổ sung phân trung lượng MgSO4

axitamin có trong đậu tương ngâm đến chiều rộng tán chè

Bón bổ sung kết hợp (MgSO4 và axitamin có trong đậu tương ngâm) đã làm

tăng sinh trưởng rộng tán của chè PH10 chắc chắn (P < 0,05) so với bổ sung đơn

độc (MgSO4) Chênh lệch giữa đối chứng với bổ sung kết hợp (4,1 cm) gần gấp đôi chênh lệch giữa đối chứng với bổ sung đơn độc (2,3 cm)

Sinh trưởng về chiều rộng tán chè qua các tháng được biểu diễn qua hình 3.1

Trang 38

Hình 3.1 Ảnh hưởng của bón bổ xung phân trung lượng MgSO4 và axitamin có

trong đậu tương ngâm đến chiều rộng tán chè

có trong đậu tương ngâm đến các yếu tố cấu thành năng suất chè

Năng suất là một chỉ tiêu quan trọng để khẳng định giống chè đó tốt hay xấu Cùng với chất lượng, năng suất là chỉ tiêu quyết định hiệu quả kinh tế trong kinh doanh và đánh giá khả năng đầu tư của từng vùng

Năng suất chè gồm nhiều yếu tố cấu thành như: Mật độ búp, khối lượng búp,

tỷ lệ búp có tôm, chiều dài búp… Sản lượng của búp chè phụ thuộc vào số lượng búp và trọng lượng búp Số lượng búp phụ thuộc vào mật độ búp trên tán và số lần hái trong năm

Qua theo dõi một số chỉ tiêu cấu thành năng suất của giống chè tham gia thí nghiệm bón bổ sung tổ hợp phân bón MgSO4 và đậu tương ngâm chúng tôi thu được

một số kết quả sau:

3.1.2.1 Ảnh hưởng của bón bổ sung phân trung lượng MgSO4 và axitamin

có trong đậu tương ngâm đến mật độ búp trên cây

Búp chè là đoạn non của một cành chè Búp được hình thành từ các mầm dinh dưỡng, gồm có tôm (phần lá non ở trên đỉnh của cành chưa xòe ra) và hai hoặc

ba lá non

Búp chè trong quá trình sinh trưởng chịu sự chi phối của nhiều yếu tố ngoại cảnh và nội tại

Trang 39

Kích thước búp chè thay đổi theo giống, chế độ phân bón, các biện pháp kỹ thuật canh tác và các điều kiện tự nhiên như đất đai, khí hậu…

Búp chè là nguyên liệu để chế biến ra các loại chè, vì vậy nó quan hệ trực tiếp đến năng suất và phẩm chất của chè

Nghiên cứu của Bakhơtatze (1974) cho thấy tương quan giữa số lượng búp chè trên một đơn vị diện tích (mật độ búp) đến năng suất là một tương quan rất chặt chẽ r = 0,956 ±0,004

Búp chè hoạt động sinh trưởng theo một quy luật nhất định và hình thành nên các đợt sinh trưởng theo thứ tự thời gian

Thời gian của mỗi đợt sinh trưởng phụ thuộc vào giống, chế độ dinh dưỡng

và điều kiện khí hậu

Qua theo dõi sinh trưởng búp của giống chè tham gia thí nghiệm ở các lứa hái chúng tôi thu được kết quả thể hiện ở bảng 3.3:

Bảng 3.3 cho thấy bón bổ sung phân trung lượng MgSO4 và axitamin có

trong đậu tương ngâm đã làm tăng mật độ búp trên cây của chè PH10 chắc chắn ( P

< 0,05) Chênh lệch về mật độ búp chè / cây của hai công thức bón bổ sung so với

đối chứng lần lượt là 8,0 búp/ m2 và 13,2 búp/ m2

Bón bổ sung kết hợp (MgSO4 và axitamin có trong đậu tương ngâm) đã làm

tăng mật độ búp/ cây của chè PH10 chắc chắn (P < 0,05) so với bổ sung đơn độc (MgSO4) Chênh lệch giữa đối chứng với bổ sung kết hợp (13,2 búp/ m2) gần gấp

đôi chênh lệch giữa đối chứng với bổ sung đơn độc (8,0 búp/ m2

)

Kết quả trên cho ta nhận xét: Bón bổ sung đơn độc phân trung lượng MgSO4hay bón bổ sung kết hợp (MgSO4 và axitamin có trong đậu tương ngâm) đều làm

tăng mật độ búp /cây, trong đó bón bổ sung kết hợp (MgSO4 và axitamin có trong

đậu tương ngâm) cho mật độ búp /cây cao nhất đạt 229,5 búp /m2

Trang 40

Bảng 3.3 Ảnh hưởng của bón bổ sung phân trung lượng MgSO4

axitamin có trong đậu tương ngâm đến mật độ búp/cây

300

M ậ t độ bú p/cây

( bú p/m2)

T9/2011 T10/2011 T11/2011 T3/2012 T4/2012 T5/2012

N ề n

N ề n + MgSO4

N ề n+ MgSO4 + Đậ u t ươ ng

Ngày đăng: 26/05/2016, 17:38

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1. Ảnh hưởng của bón bổ sung phân trung lượng MgSO 4  và axitamin có - Nghiên Cứu Một Số Biện Pháp Kỹ Thuật Tăng Năng Suất, Chất Lượng Chè PH10 Dùng Cho Chế Biến Chè Ô long
Bảng 3.1. Ảnh hưởng của bón bổ sung phân trung lượng MgSO 4 và axitamin có (Trang 36)
Hình 3.1. Ảnh hưởng của bón bổ xung phân trung lượng MgSO4 và axitamin có - Nghiên Cứu Một Số Biện Pháp Kỹ Thuật Tăng Năng Suất, Chất Lượng Chè PH10 Dùng Cho Chế Biến Chè Ô long
Hình 3.1. Ảnh hưởng của bón bổ xung phân trung lượng MgSO4 và axitamin có (Trang 38)
Hình 3.2. Ảnh hưởng của bón bổ xung phân trung lượng MgSO4 và axitamin có trong đậu - Nghiên Cứu Một Số Biện Pháp Kỹ Thuật Tăng Năng Suất, Chất Lượng Chè PH10 Dùng Cho Chế Biến Chè Ô long
Hình 3.2. Ảnh hưởng của bón bổ xung phân trung lượng MgSO4 và axitamin có trong đậu (Trang 40)
Hình 3.3. Ảnh hưởng của bón bổ xung phân trung lượng MgSO4 và axitamin có trong đậu - Nghiên Cứu Một Số Biện Pháp Kỹ Thuật Tăng Năng Suất, Chất Lượng Chè PH10 Dùng Cho Chế Biến Chè Ô long
Hình 3.3. Ảnh hưởng của bón bổ xung phân trung lượng MgSO4 và axitamin có trong đậu (Trang 41)
Bảng 3.5. Ảnh hưởng của bón bổ sung phân trung lượng MgSO 4  và - Nghiên Cứu Một Số Biện Pháp Kỹ Thuật Tăng Năng Suất, Chất Lượng Chè PH10 Dùng Cho Chế Biến Chè Ô long
Bảng 3.5. Ảnh hưởng của bón bổ sung phân trung lượng MgSO 4 và (Trang 43)
Hình 3.5. Ảnh hưởng của bón bổ xung phân trung lượng MgSO4 và axitamin có - Nghiên Cứu Một Số Biện Pháp Kỹ Thuật Tăng Năng Suất, Chất Lượng Chè PH10 Dùng Cho Chế Biến Chè Ô long
Hình 3.5. Ảnh hưởng của bón bổ xung phân trung lượng MgSO4 và axitamin có (Trang 47)
Bảng  3.10  cho  thấy  bón  bổ  sung  phân  trung  lượng  MgSO 4   và  axitamin  có  trong  đậu  tương  ngâm  đã  làm  tăng  năng  suất  trung  bình  6  lứa  hái  của  chè  PH10  chắc chắn (P &lt; 0,05) - Nghiên Cứu Một Số Biện Pháp Kỹ Thuật Tăng Năng Suất, Chất Lượng Chè PH10 Dùng Cho Chế Biến Chè Ô long
ng 3.10 cho thấy bón bổ sung phân trung lượng MgSO 4 và axitamin có trong đậu tương ngâm đã làm tăng năng suất trung bình 6 lứa hái của chè PH10 chắc chắn (P &lt; 0,05) (Trang 52)
Bảng  3.11  cho  thấy  bón  bổ  sung  phân  trung  lượng  MgSO 4   và  axitamin  có  trong đậu tương ngâm đã làm giảm mật độ rầy xanh trên chè PH10 chắc chắn (P &lt;  0,05) - Nghiên Cứu Một Số Biện Pháp Kỹ Thuật Tăng Năng Suất, Chất Lượng Chè PH10 Dùng Cho Chế Biến Chè Ô long
ng 3.11 cho thấy bón bổ sung phân trung lượng MgSO 4 và axitamin có trong đậu tương ngâm đã làm giảm mật độ rầy xanh trên chè PH10 chắc chắn (P &lt; 0,05) (Trang 54)
Hình 3.8. Ảnh hưởng của kỹ thuật hái đến mật độ búp - Nghiên Cứu Một Số Biện Pháp Kỹ Thuật Tăng Năng Suất, Chất Lượng Chè PH10 Dùng Cho Chế Biến Chè Ô long
Hình 3.8. Ảnh hưởng của kỹ thuật hái đến mật độ búp (Trang 61)
Hình 3.9. Ảnh hưởng của kỹ thuật hái đến khối lượng búp - Nghiên Cứu Một Số Biện Pháp Kỹ Thuật Tăng Năng Suất, Chất Lượng Chè PH10 Dùng Cho Chế Biến Chè Ô long
Hình 3.9. Ảnh hưởng của kỹ thuật hái đến khối lượng búp (Trang 63)
Hình 3.10. Ảnh hưởng của kỹ thuật hái đến chiều dài búp - Nghiên Cứu Một Số Biện Pháp Kỹ Thuật Tăng Năng Suất, Chất Lượng Chè PH10 Dùng Cho Chế Biến Chè Ô long
Hình 3.10. Ảnh hưởng của kỹ thuật hái đến chiều dài búp (Trang 64)
Bảng 3.23. Ảnh hưởng của kỹ thuật hái đến năng suất và sản lượng chè. - Nghiên Cứu Một Số Biện Pháp Kỹ Thuật Tăng Năng Suất, Chất Lượng Chè PH10 Dùng Cho Chế Biến Chè Ô long
Bảng 3.23. Ảnh hưởng của kỹ thuật hái đến năng suất và sản lượng chè (Trang 71)
Hình ảnh 1. Khu vực bố trí thí nghiệm - Nghiên Cứu Một Số Biện Pháp Kỹ Thuật Tăng Năng Suất, Chất Lượng Chè PH10 Dùng Cho Chế Biến Chè Ô long
nh ảnh 1. Khu vực bố trí thí nghiệm (Trang 86)
Hình ảnh 2. Xác định thành phần cơ giới búp - Nghiên Cứu Một Số Biện Pháp Kỹ Thuật Tăng Năng Suất, Chất Lượng Chè PH10 Dùng Cho Chế Biến Chè Ô long
nh ảnh 2. Xác định thành phần cơ giới búp (Trang 87)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm