1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Biện Pháp Canh Tác Hữu Cơ Đến Sinh Trưởng, Năng Suất, Chất Lượng Vải Thiều Thanh Hà Tại Huyện Lục Ngạn Tỉnh Bắc Giang

116 347 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 6,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN --- LÃ VĂN ĐOÀN NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA BIỆN PHÁP CANH TÁC HỮU CƠ ĐẾN SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG VẢI THIỀU THANH HÀ TẠI HUYỆN LỤC N

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

-

LÃ VĂN ĐOÀN

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA BIỆN PHÁP CANH TÁC HỮU

CƠ ĐẾN SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG VẢI THIỀU THANH HÀ TẠI HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Chuyên ngành: Trồng trọt

Hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thế Huấn

THÁI NGUYÊN - 2010

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn

là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, tháng 3, năm 2010

Tác giả

Lã Văn Đoàn

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Thế Huấn người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong bộ môn cây ăn quả - Khoa Nông học - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã nhiệt tình giúp

đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian thực tập

Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến ban lãnh đạo, tập thể cán

bộ Hội Nông dân tỉnh Bắc Giang, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bắc Giang, Phòng NN&PTNT huyện Lục Ngạn đã góp ý, động viên và tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Qua đây tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình người thân, anh em, bạn bè, đồng nghiệp những người luôn ủng hộ, động viên và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập, công tác và thực hiện luận văn

Thái Nguyên, tháng 3, năm 2010

Tác giả

Lã Văn Đoàn

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii Mục lục iii Danh mục bảng vi Phần 1: Đặt vấn đề 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1 1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài 9 1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 10 Phần 2: Tổng quan tài liệu 4

2.1 Giới thiệu chung vê cây vải 11 2.2 Các nghiên cứu về yêu cầu sinh thái của cây vải 17 2.3 Những nghiên cứu về các biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất và chất lượng cây vải 20 2.4 Ảnh hưởng của một số loài sâu bệnh hại chính đối với sản xuất vải 30 2.5 Lịch sử tóm tắt về canh tác hữu cơ 24

2.6 Canh tác hữu cơ tại Việt Nam 25

2.7 Tại sao cần làm nông nghiệp hữu cơ 26

2.8 Nông nghiệp hữu cơ - một phương pháp phối hợp toàn diện 28

2.9 Các nguyên tắc của nông nghiệp hữu cơ 30

2.10 Lợi ích của nông nghiệp hữu cơ 32

2.11 Có phải canh tác truyền thống là canh tác hữu cơ 32

2.12 Vài nét về dự án phát triển vải hữu cơ của huyện Lục Ngạn 34

Phần 3: Đối tượng, địa điểm, nội dung và phương pháp nghiên cứu 35

3.1 Đốitượng nghiên cứu 42

Trang 5

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận 40

4.1 Đánh giá thực trạng sản xuất và tiêu thụ vải ở huyện Lục Ngạn 40 4.1.1 Tình hình sản xuất vải ở huyện Lục Ngạn 40

4.1.3 Tiêu thụ và chế biến vải 44 4.1.4 Tiềm năng, hạn chế đối với sản xuất vải của huyện Lục Ngạn 44 4.2 Điều tra, đánh giá thực trạng sản xuất vải tại 3 xã trồng vải trọng

4.2.2 Kết quả điều tra về thời gian bón và phương pháp bón phân 48 4.2.3 Kết quả điều tra về các biện pháp kỹ thuật được áp dụng

4.2.5 Đánh giá hiệu quả sản xuất vải thiều ở các vùng nghiên cứu 54 4.2.6 Kết luận chung về tình hình sản xuất vải tại 3 xã

vùng nghiên cứu 56 4.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của các biện pháp canh tác hữu cơ đến năng

4.3.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của các cây phân xanh trồng xen đến

4.3.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng bón phân Biogro kết

hợp với phân chuồng qua ủ đến sinh trưởng và năng suất vải 60 4.3.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp canh tác hữu cơ dến

4.3.3.1 Ảnh hưởng của biện pháp canh tác hữu cơ đến các chỉ tiêu sinh

hoá của quả 65 4.3.3.2 So sánh ảnh hưởng của biện pháp canh tác hữu cơ tới các chỉ tiêu

đánh giá cảm quan 67 4.3.3.3 Hạch toán hiệu quả sản xuất của các công thức thí nghiệm 68

Trang 6

4.4 Thuận lợi, khó khăn và giải pháp áp dụng biện pháp canh tác vải

Trang 7

Danh mục bảng

2.2 Diện tích và sản lượng vải của một số nước trên thế giới 8

4.1 Diện tích, năng suất và sản lượng vải của các huyện trong tỉnh năm

4.4 Kết quả điều tra về mức độ đầu tư phân bón cho vải ở các vùng

nghiên cứu năm 2008 46

4.5 Kết quả điều tra về thời gian bón phân và phương pháp bón phân

của các vùng nghiên cứu năm 2008 48

4.6 Các biện pháp kỹ thuật được áp dụng trong thâm canh vải của các hộ

nông dân của các vùng nghiên cứu năm 2008 51

4.7 Tình hình sâu bệnh hại vải ở giai đoạn hoa và quả ở các vùng

nghiên cứu năm 2008

53

4.8 Kết quả điều tra về mức độ đầu tư, thu nhập và hiệu quả sản xuất từ

4.9 Ảnh hưởng của cây trồng xen đến khả năng ra hoa, đậu quả 59

4.10 Ảnh hưởng của một số loại cây trồng xen đến một số yếu tố cấu

4.11 Ảnh hưởng của các công thức bón phân đến khả năng ra hoa và tỷ lệ

Trang 8

4.12 Ảnh hưởng của các công thức bón phân đến các yếu tố cấu thành

4.13 Ảnh hưởng của các biện pháp canh tác hữu cơ đến sinh trưởng của

4.14 Ảnh hưởng của các biện pháp canh tác hữu cơ đến thời gian xuất

4.15 Ảnh hưởng của canh tác hữu cơ dến khả năng ra hoa, đậu quả 644.16 Ảnh hưởng của canh tác hữu cơ đến các yếu tố cấu thành năng suất

654.17 Ảnh hưởng của canh tác hữu cơ đến các chỉ tiêu sinh hoá quả 66

4.19 đánh giá hiệu quả kinh tế của các biện pháp canh tác hữu cơ 68

Trang 9

Phần 1 ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Cây vải (Litchi chinensis Sonn), thuộc họ Sapindacea có nguồn gốc ở

Trung Quốc và là cây ăn quả đặc sản có giá trị kinh tế cao Cây vải có khả năng thích nghi trên nhiều loại đất Quả vải có giá trị kinh tế cao, trong cùi vải

có hàm lượng đường tổng số chiếm 11-14%, axít từ 0,4 – 0,8%, vitamin C 36 mg/100g, ngoài ra còn chứa các vitamin B1, B2, PP , đều là những chất bổ cho sức khoẻ con người Quả vải có thể ăn tươi, làm đồ hộp hoặc sấy khô, làm rượu để cất giữ lâu dài Chính vì vậy, mà những năm qua vải đã được chú

ý phát triển mạnh tại các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc đặc biệt là tại tỉnh Bắc Giang cây vải đã trở thành cây hàng hoá chủ lực trong cơ cấu cây trồng của tỉnh

Tuy nhiên, trong sản xuất vải thâm canh hiện nay đang có những mặt trái của nó, do nhận thức không đầy đủ của người dân nên họ đang lạm dụng phân vô cơ và thuốc trừ sâu; dành ưu tiên cho việc thu lợi nhuận lên trên cả vấn đề sức khoẻ và môi trường Đất trồng trở lên cằn cỗi, mỗi năm lại cần nhiều phân bón hoá học hơn, sâu và bệnh ngày càng trở lên khó kiểm soát Việc gia tăng hàm lượng phân bón hóa học không những không làm tăng hiệu quả sản xuất mà còn để lại một khối lượng lớn tồn dư trong đất, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường Hiện tại, nhiều nông dân đã nhận thấy

sự nguy hại của hoá chất trong sản xuất, đặc biệt là ảnh hưởng của nó đến an toàn thực phẩm và sức khoẻ con người Bên cạnh đó, trong bối cảnh hội nhập hiện nay, thị trường rau quả ở trong và ngoài nước ngày càng yêu cầu khắt khe với sản phẩm quả nói chung và quả vải nói riêng

Trước tình hình đó, sản xuất vải thiều áp dụng kỹ thuật canh tác hữu

Trang 10

đoạn hiện nay Để đáp ứng được những yêu cầu đó các nhà khoa học nông nghiệp đã nghiên cứu sản xuất các loại phân bón hữu cơ (phân ủ) đảm bảo dinh dưỡng cho cây trồng sinh trưởng và phát triển Bảo vệ đất trồng cho tương lai, làm cho đất màu mỡ hơn, kiểm soát được sâu bệnh mà không ảnh hưởng đến sức khoẻ con người Những phương pháp đề cập ở trên chỉ sử dụng các nguồn lực mà người nông dân sẵn có, vì vậy người nông dân cần ít tiền hơn để mua vật tư đầu vào cho sản xuất canh tác Theo đó biện pháp sản xuất vải theo hướng canh tác hữu cơ có chất lượng sản phẩm tốt vừa có năng suất ổn định, không ô nhiễm môi trường, không ảnh hưởng đến sức khoẻ con người, đang trở thành hướng đi phù hợp hiện nay và trong tương lai Tuy nhiên, phương pháp canh tác vải hữu cơ hiện nay chưa được nhiều hộ dân tin

tưởng áp dụng, do lo ngại năng suất giảm Vì vậy, đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp canh tác hữu cơ đến sinh trưởng, năng suất, chất lượng vải thiều Thanh Hà, tại huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang” là việc

làm thiết thực tạo cơ sở cho việc thực hiện xây dựng vùng sản xuất vải hữu cơ hàng hoá có thương hiệu trên địa bàn huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang

1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài

Đề tài sẽ giúp cho Huyện uỷ, UBND huyện Lục Ngạn có chiến lược đầu tư phát triển sản xuất vải hữu cơ hàng hoá đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước giai đoạn 2010 - 2015

1.2.2 Yêu cầu

- Xác định điều kiện tự nhiên của Bắc Giang tác động đến sản xuất vải

- Tình hình sản xuất vải và sản xuất vải hữu cơ tại Bắc Giang

Trang 11

- Ảnh hưởng của biện pháp canh tác hữu cơ đến sinh trưởng, năng suất

- Bố trí thí nghiệm để đánh giá hiệu quả các biện pháp canh tác hữu

cơ trồng xen, cắt tỉa, bón phân đến năng suất chất lượng và hiệu quả kinh tế của cây vải

- Đề xuất các biện pháp kỹ thuật canh tác hữu cơ nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất vải của huyện trong thời gian tới

1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

1.3.1 Ý nghĩa khoa học

Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo trong giảng dạy và nghiên cứu

về biện pháp kỹ thuật canh tác hữu cơ trên cây vải thiều Thanh Hà tại huyện Lục Ngạn và các vùng trồng vải tại tỉnh Bắc Giang nói chung

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần giải quyết các vấn đề khó khăn trong sản xuất vải hiện nay như: năng suất chưa cao, vấn đề sâu bệnh, vấn đề lạm dụng thuốc trừ sâu, phân hóa học, mẫu mã, chất lượng vải thiều Thanh Hà chưa đạt yêu cầu của thị trường dẫn đến hiệu quả sản xuất thấp

- Kết quả nghiên cứu này sẽ giúp các nhà khoa học và cán bộ kỹ thuật đưa ra các biện pháp canh tác mới phù hợp cho vùng vải thiều của huyện, nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm đáp ứng được yêu cầu thị trường tiêu thụ trong nước và ngoài nước, góp phần nâng cao giá trị sản xuất vải thiều Thanh Hà tại Bắc Giang

- Kết quả nghiên cứu đề tài, là cơ sở giúp Huyện uỷ, UBND huyện quy hoạch và có chính sách phát triển vùng trồng vải hữu cơ hàng hoá, tập trung,

an toàn, chất lượng cao, có thương hiệu trên thị trường trong thời gian tới

Trang 12

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Giới thiệu chung về cây vải

2.1.1 Nguồn gốc và phân bố cây vải

Cây vải (Nephelium litchi, Litchi chinensis Sonn); thuộc Chi: Vải Litchi; Họ: Bồ hòn Sapindaceae; Bộ: Bồ hòn Sapindales; Phân lớp: Hoa hồng

Rosidae ; Lớp: Ngọc lan Dicotyledoneae (Magnoliopsida); Ngành: Ngọc lan

Magnoliophyta (Angiospermae)

Theo Menzel (2002) [69] và Hoàng Thị Sản (2003) [31] thì họ Bồ hòn

có 150 chi với trên 2000 loài Ở Việt Nam họ Bồ hòn được biết đến với 25 chi

và trên 70 loài phân bố trên khắp đất nước, nhiều loài điển hình cho rừng thứ sinh ẩm nhiệt đới trong đó có một số cây cho quả ăn ngon như vải, nhãn, chôm chôm [40] Về đặc điểm phân loại cây vải là cây gỗ nhỡ, thường xanh,

lá kép lông chim, hoa nhỏ không có cánh hoa, bầu có 2 ngăn, vỏ quả mỏng màu đỏ hồng hay đỏ nâu mặt ngoài sần sùi có hạt, ăn hơi chua hay ngọt

Theo FAO (1989) [65] theo tài liệu này viết về cây vải đã ghi lại thời gian vào năm 100 trước công nguyên Hoàng Đế Hán Vũ đã đem vải vào miền Nam Trung Quốc và miền Bắc Inđônêxia

Theo Trần Thế Tục (2004) [46] nguồn gốc cây vải có ở giữa miền Nam Trung Quốc và miền Bắc Việt Nam và bán đảo Malaisia Người ta thấy vải dại mọc trong rừng 4 tỉnh phía nam Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam, đảo Hải Nam và có nơi vải dại mọc thành rừng trên diện rộng và theo điều tra của các nhà khoa học Trung Quốc thì trên sáu vạn núi lớn ở huyện giáp ranh huyện Bác Bạch và huyện Hồ Bắc của tỉnh Quảng Tây đều có cây vải dại chứng tỏ cây vải có nguồn gốc từ Trung Quốc [30]

Ở Việt Nam, cây vải được trồng từ cách đây khoảng 2000 năm và phân

bố từ 18-190 vĩ Bắc trở ra nhưng chủ yếu vẫn là vùng đồng bằng sông Hồng,

Trang 13

trung du miền núi phía Bắc và một phần khu 4 cũ [46] Theo các tài liệu lịch

sử thì cách đây 10 thế kỷ dưới thời Bắc thuộc vải là một trong những cống vật hằng năm mà Đại Việt phải mang cống nộp cho Trung Hoa [22], [47] Cây vải dại cũng đã được tìm thấy ở vườn quốc gia Ba Vì, Hà Tây và nhiều nơi khác Từ đó, miền Bắc Việt Nam cũng được coi là nguồn gốc của cây vải [22]

Ngày nay, trên thế giới khoảng trên 20 nước trồng vải [30], [47] Châu

Á có: Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Việt Nam, Mianma, Lào, Campuchia, Malaisia, Philippin, Inđônêxia, Srilanka, Nhật Bản, Ixrael

Châu Mỹ: Hundurat, Panama, Cuba, Tsinidat, Brazil, Jamaca…

Châu Phi: Nam Phi, Madagatca, Rêunyniong, Gabông, Cônggô…

Châu Đại Dương: Austraylia, Newzilan…

Việt Nam, cây vải được Nhà nước cũng như người sản xuất rất quan tâm, cây vải đã và đang được phát triển mạnh và đã hình thành một số vùng trồng tập trung như Lục Ngạn, Lục Nam, Lạng Giang (Bắc Giang), Thanh Hà - Chí Linh (Hải Dương), Đông Triều (Quảng Ninh), Đồng Hỷ - Phú Lương (Thái Nguyên) Đình Lập - Hữu Lũng (Lạng Sơn), Chương Mỹ (Hà Tây), Phù Yên- Bắc Yên (Sơn La), Phú Thọ Ngoài ra còn một số địa phương ở Tây nguyên như Đăk Nông, Đăk Lăk, Kontum…[48]

2.1.2 Các giống vải chủ yếu trên thế giới và ở Việt Nam

2.1.2.1 Trên thế giới

Các giống vải trên thế giới thì hiện tại Trung Quốc là nước có số lượng giống vải nhiều nhất Tuy vậy trong số hơn 100 giống vải được trồng ở Trung Quốc chỉ có khoảng 15 giống là có khả năng sản xuất theo hướng hàng hóa, ở mỗi vùng sinh thái có một số giống chủ lực

Ở Ấn Độ có khoảng 50 giống vải được trồng ở các bang khác nhau Ở Bang Bihat nơi có diện tích vải lớn nhất của Ấn Độ Những giống cho năng suất và phẩm chất tốt ở Ấn Độ là West Bengal, Bombai, Elaichi, China, Bedana

Ở Australia, những vùng trồng vải tập trung nằm theo dải bờ biển từ

Trang 14

Cairrus, Atherton Tablelands Ingham, Mackay, Bundaberg đến Coffs Harbour với các giống chính là Fay Zee Siu, Tai So, Bengal,…S K Mitra [63] Ở bảng 2.1 là các giống vải chính được trồng ở một số nước trên thế giới

Bảng 2.1 Giống vải chính của một số nước trên thế giới

TT Tên nước Các giống vải chính

7 Trung Quốc Fay Zee Siu, Bahlwp, No mai chee, Souey Tung, Taiso

Nguồn: Menzel ( 2002) [69]

2.1.2.2 Ở Việt Nam

Ở Việt Nam sự phân chia các giống còn mang tính chất tương đối, xét theo phẩm chất quả, có các nhóm: vải chua, vải nhỡ, vải thiều; xét theo thời gian thu hoạch, có các nhóm vải: vải chín sớm, chính vụ, chín muộn

- Nhóm vải chua (hay còn gọi là tu hú): cây cao lớn (khoảng 20m) lá to, phiến lá mỏng Khi ra hoa, chùm hoa vải từ cuống đến nụ hoa đều phủ một lớp lông đen Quả thường chín vào cuối tháng 4 và đầu tháng 5 Khi chín vỏ quả mầu đỏ tươi, trọng lượng quả 30 - 50g, vỏ dày, hạt to, cùi mỏng và rất chua, tỷ lệ cùi chiếm 60 - 65% trọng lượng quả Ở nước ta hiện còn ở các tỉnh trung du và miền núi như : Phú Thọ, Hà Tây, Tuyên Quang,…

- Nhóm vải nhỡ: cây to trung bình, tán cây thường rộng 5 - 10m, dạng trứng, cây sinh trưởng khoẻ, chùm hoa không có lông đen, nhưng hoa mọc thưa hơn vải chua, quả chín muộn hơn nhóm vải chua, nhưng sớm hơn nhóm vải thiều Cây cao từ 10 - 15m, lá nhỏ, phiến lá dày bóng, khả năng chịu hạn tốt, phù hợp với đất có độ pH 5 - 6, khi ra hoa chùm hoa không phủ lớp lông

Trang 15

đen mà có màu trắng vàng, chín chính vụ (tháng 6) Trọng lượng trung bình của quả Quả có trọng lượng trung bình từ 28 - 34g [46], [2]

- Nhóm vải thiều: cây có tán hình mâm, trọng lượng quả từ 18 - 25g, vỏ quả mỏng, hạt nhỏ, dày cùi, tỷ lệ ăn được 70 - 80% cùi thơm và ngọt hơn 2 nhóm vải trên [46], [2]

2.1.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ vải trên thế giới và ở trong nước

2.1.3.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ vải trên thế giới

Trên thế giới, diện tích trồng vải năm 1990 là 183.700 ha, sản lượng 251.000 tấn Năm 2000 là 780.000 ha với tổng sản lượng đạt tới 1.95 triệu tấn Trong đó các nước Đông Nam Á chiếm khoảng 600.000 ha và sản lượng 1,75 triệu tấn, (chiếm 78% diện tích và 90% sản lượng vải của thế giới) Trung Quốc được coi là quê hương của vải và cũng là nước đứng đầu về diện tích và sản lượng Năm 2001, diện tích trồng vải ở Trung Quốc là 584.000 ha

và sản lượng là 958.700 tấn [68]

Sau Trung Quốc thì Ấn Độ là nước đứng thứ 2 trên thế giới về diện tích

và sản lượng vải Theo Ghosh (2000) [66], đến năm 2000, diện tích là 56.200

ha và sản lượng đạt 428.900 tấn các vùng trồng vải chủ yếu của Ấn Độ là West Bengal (36.000 tấn), Tripura (27.000 tấn), Bihar (310.000 tấn) Uttar Pradesh (14.000 tấn)

Châu Phi có một số nước trồng vải theo hướng sản xuất hàng hóa là Nam Phi, Madagatca, Moritiuyt, Renyniong trong đó Madagatca có sản lượng lớn nhất khoảng 35.000 tấn [48] Theo số liệu của Tổ chức Lương thực thế giới- FAO (2002) [71] [72] và báo cáo của X Huang, L Zeng H.B Huang [67], R J Knigh (2000) [68]

Diện tích và sản lượng của một số nước trên thế giới được thể hiện trong bảng 2.2

Qua bảng 2.2 cho thấy, các nước xuất khẩu vải trên thế giới rất ít, chủ yếu vẫn là Trung Quốc Hiện nay vải Trung Quốc vẫn chiếm ưu thế về diện

Trang 16

tích và sản lượng, đặc biệt là các giống vải tốt đều tập trung ở nơi đây Thị trường tiêu thụ vải lớn trên thế giới phải kể đến đó là Hồng Kông, Singapore, hai thị trường này nhập vải chủ yếu từ Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan

Bảng 2.2 Diện tích và sản lượng vải của một số nước trên thế giới

TT Tên nước Năm Diện tích (ha) Sản lượng

Nguồn: Huang Y L., H B Huang Lychee and Longan production in China [67]

2.1.3.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ vải trong nước

Ở Việt Nam cây vải được trồng cách đây khoảng 2000 năm Vùng phân

bố tự nhiên của cây vải ở Việt Nam từ 18 - 190 vĩ Bắc trở ra Vải được trồng chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc, qua nhiều năm đã hình thành các vùng trồng vải

có diện tích tương đối lớn Năm 2000, diện tích vải của Việt Nam đạt trên 20.000 ha, trong đó có 13.5000 ha đang cho thu hoạch với năng suất 2 tấn/ha Sản lượng khoảng 25.000 - 27.000 tấn quả tươi [4]

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê đến năm 2004 diện tích trồng vải của cả nước đạt 102.300 ha, sản lượng 305.000 tấn (chiếm 13.69% diện tích và 16.62% sản lượng các loại quả trong cả nước) Giống trồng phổ biến là giống vải thiều Thanh Hà (chiếm 95% diện tích) Tập trung nhiều ở các tỉnh Bắc Giang, Hải Dương, Quảng Ninh, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Hà Tây,… Diện tích và sản lượng vải ở một số tỉnh nước ta được thể hiện trong bảng 2.3

Số liệu bảng 2.3 cho thấy, Bắc Giang là tỉnh có diện tích trồng vải lớn nhất cả nước với diện tích 39.985 ha chiếm 34,14% diện tích, sản lượng 218.758 chiếm 52,06% sản lượng vải của cả nước Đến năm 2009 diện tích

Trang 17

trồng vải ở Bắc Giang vẫn giữ ổn định

Bảng 2.3 Diện tích, sản lượng vải ở một số tỉnh của Việt Nam

TT Địa phương

Tổng diện tích (ha)

Diện tích cho sản phẩm

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng

2.1.3.3 Tình hình tiêu thụ và chế biến vải

Quả vải được tiêu thụ trên thị trường dưới hai dạng chính là quả tươi và một số sản phẩm chế biến chủ yếu là dạng vải sấy khô nguyên quả Trong những năm mất mùa thì vải được tiêu thụ đáp ứng nhu cầu ăn tươi là chủ yếu; những năm được mùa, sản lượng lớn, lượng vải đưa vào sấy khô thường chiếm trên 50% tổng sản lượng vải của tỉnh Một số sản phẩm chế biến khác

Trang 18

từ vải như cùi vải đóng hộp, cùi vải lạnh đông, rượu vang vải…nhưng với sản lượng nhỏ, hàng năm chỉ chiếm 3 đến 5% tổng sản lượng vải của tỉnh

Thị trường tiêu thụ vải hiện nay ngoài thị trường trong nước còn lại chủ yếu

là xuất khẩu sang Trung Quốc Hàng năm, lượng vải xuất bán sang Trung Quốc chiếm tới trên 80% tổng lượng vải sấy khô và trên 30% lượng vải tiêu thụ tươi của tỉnh Như vậy, Trung Quốc hiện nay vẫn là thị trường chính tiêu thụ vải thiều của tỉnh Tuy nhiên, quan hệ xuất khẩu vải sang Trung Quốc hiện nay vẫn chủ yếu là quan hệ biên mậu và xuất khẩu theo con đường tiểu ngạch nên giá cả không ổn định, tác động lớn đến sản xuất của nông dân và các nhà thu mua chế biến

2.2 Các nghiên cứu về yêu cầu sinh thái của cây vải

Sự ra hoa đậu quả của vải được quyết định bởi đặc tính của giống, song chúng cũng chịu sự chi phối nhiều của các yếu tố môi trường như: nhiệt độ,

ẩm độ, ánh sáng, đất đai

2.2.1 Yêu cầu về nhiệt độ

Nhiệt độ là một trong những nhân tố quan trọng tác động đến sinh trưởng dinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực của cây vải Nhiệt độ bình quân năm thích hợp cho sinh trưởng và phát triển của cây vải từ 21 - 260C thì có phản ứng tốt Giống chín sớm là ở 40C, giống chín muộn là ở 00C thì ngừng sinh trưởng dinh dưỡng Khi nhiệt độ từ 8 - 100C thì khôi phục sinh trưởng, nhiệt độ từ 10 - 120C cây sinh trưởng chậm, nhiệt độ trên 210C cây sinh trưởng tốt, ở nhiệt độ 23 - 260C là thời kỳ cây sinh trưởng mạnh nhất

Vì thể nguyên thủy của hoa vải là mầm hỗn hợp có hoa có lá, do vậy nhiệt độ cao ức chế sự hình thành các cơ quan hoa mà thiên về sinh trưởng sinh dưỡng, thúc đẩy sự sinh trưởng của lá Trái lại, nhiệt độ thấp thúc đẩy sự phân hóa cành hoa nhỏ và cơ quan hoa, ức chế sự phát dục của nguyên thủy của lá, thiên hướng về sinh thực

Nhiệt độ cũng ảnh hưởng tới tỷ lệ đực cái của hoa vải, ở Trung Quốc qua phân tích liên tục từ 1978 - 1985 về quan hệ giữa nhiệt độ bình quân ngày của tháng 1 - 2 và tỷ lệ phần trăm hoa cái trong năm đã phát hiện giữa chúng

Trang 19

có mối tương quan nghịch R= - 0,86 có nghĩa là nhiệt độ càng thấp thì tỷ lệ hoa cái càng cao [30]

Nhiệt độ còn ảnh hưởng đến hoạt động của bộ rễ và cành lá vải Khi nhiệt độ đất từ 10 - 200C, rễ hoạt động mạnh, từ 23 - 260C, rễ hoạt động thích hợp nhất Cành lá vải họat động mạnh từ 24 - 320C Nhiệt độ quá cáo hoặc quá thấp đều không có lợi cho mầm cành [48]

2.2.2 Yêu cầu về lượng mưa và độ ẩm

Cây vải có nguồn gốc ở các vùng có lượng mưa hàng năm là 1.250 -1700

mm, lượng mưa thích hợp nhất là 1.500 mm mỗi năm Độ ẩm không khí là 85% nên nó chịu được độ ẩm không khí cao ở thời kỳ sinh trưởng thân lá Cây vải yêu cầu lượng mưa khác nhau qua các thời kỳ sinh trưởng, trong những tháng mưa nhiều, bộ lá cây vẫn xanh tốt Vải kém chịu úng hơn các cây ăn quả khác như nhãn, xoài… nhưng có khă năng chịu hạn tốt hơn Tháng 11-12 cây vải cần có thời tiết khô và rét để phân hóa mầm hoa [12]

75-Theo tác giả Nghê Diệu Nguyên và Ngô Tố Phần [29], nhân tố mưa ảnh hưởng đến hoa vải chủ yếu trong giai đoạn phân hóa trục chùm hoa, thời

kỳ phân hóa hoa, đủ nước thì tổng số hoa/ chùm và số hoa đực/chùm giảm nhưng số hoa cái không bị ảnh hưởng nhiều nên tỷ lệ hoa cái tăng Mưa nhiều trong thời gian hoa đang nở dẫn đến làm thối hoa, tỷ lệ đậu quả rất thấp có thể dẫn đến mất mùa

Theo Trần Thế Tục cây vải yêu cầu nước qua các thời kỳ như sau: Thời kỳ phân hoa mầm hoa: yêu cầu đất khô, không mưa để ức chế sinh trưởng dinh dưỡng, thúc đẩy sinh trưởng sinh thực

Thời kỳ ra hoa: đất đủ ẩm, gặp hạn thời gian ra hoa chậm, nếu gặp hạn thì phải tưới

Thời kỳ tăng trưởng quả: cung cấp đủ nước, nếu gặp hạn phải tưới

2.2.3 Yêu cầu về ánh sáng

Cây vải là cây ưa sáng, cần có ánh sáng quanh năm Tổng số giờ chiếu sáng thích hợp cho vải cả năm là 1800 - 2100 giờ Theo Trần Thế Tục(1997),

Trang 20

cây vải phải được trồng ở nơi có ánh sáng trực xạ Ánh sáng đầy đủ làm tăng khả năng đồng hóa của cây, xúc tiến quá trình phân hóa mầm hoa làm tăng màu sắc của vỏ quả và làm tăng phẩm chất của quả Không đủ ánh sáng hoặc trồng quá dày sẽ ảnh hưởng tới quá trình quang hợp, ra hoa, đậu quả của cây [47]

Người Trung Quốc nói “Đương nhật Lệ chi, bối nhật long nhã” tức là nhãn quay lưng lại với mặt trời (ở chỗ râm mát một chút), còn vải thì phải ở chỗ đối diện với mặt trời (ở nơi có ánh sáng toàn phần) Cây vải cần ánh sáng chiếu quanh năm đặc biệt là thời kỳ hình thành phân hóa mầm hoa, hoa nở và quả phát triển [41]

2.2.4 Yêu cầu về đất đai

Theo các nhà nghiên cứu Trung Quốc, cây vải có thể trồng trên nhiều loại đất, kể cả đất chua, độ phì nhiêu kén vải vẫn sinh trưởng và phát triển tốt vì vải

có thể cộng sinh với một loại vi khuẩn rễ (Mycorthize) sống ở đất chua gọi là

“khuẩn căn” có thể phân giải dinh dưỡng khoáng trong đất để rễ hút nuôi cây

Đánh giá về mức độ thích nghi của cây vải thiều đối với các loại đất được thể hiện ở bảng 2.4

Bảng 2.4 Mức độ thích nghi của vải thiều đối với đất đai

Mức độ thích nghi

Chỉ tiêu Rất thích

Ít thích hợp

Không thích hợp

đỏ trên mac ma bazơ và trung tính; Fv: Đất nâu đỏ trên đá vôi

Trang 21

Theo Trần Thế Tục và Vũ Thiện Chính (1997) [48] Cây vải có tính thích nghi cao với điều kiện đất đai có thể trồng vải trên nhiều loại đất Đất bãi ven sông là loại đất phù sa có lý hóa tính thích hợp với vải, độ ẩm tốt, nên

ở đây cây vải sinh trưởng phát triển tốt, sản lượng cao, chất lượng tốt Độ pH thích hợp cho sinh trưởng và phát triển của cây vải là 5,5 - 6,5

2.2.5 Gió

Gió có tác dụng điều hòa nhiệt độ không khí, nâng cao hiệu suất quang hợp, giảm bớt sâu bệnh Mùa hoa ngày nắng, ẩm độ thấp, gió có tác dụng hỗ trợ cho truyền phấn thụ tinh, mùa hoa kị gió tây bắc và gió nam qua đêm, gió tây sẽ làm cho đầu nhị khô ảnh hưởng đến thụ phấn, gió nam qua đêm oi nóng,

ẩm ướt dễ làm cho hoa héo dẫn đến rụng hoa

2.3 Những nghiên cứu về các biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất và

Auxin tổng hợp đã được sử dụng để điều khiển sinh trưởng và ra hoa vải ở Florida và Hawai (Mỹ) vào những năm 1950 - 1960 Khan và cộng sự (1976) đã dùng GA3 100 ppm, NAA 20ppm, 2,4,5 TP 10 ppm phun lên giống vải Rose Scente vào giai đoạn quả bằng hạt đậu làm giảm rụng quả [64] Trên giống Early, GA3 50 ppm có tác động giữ quả tốt và GA3 100 ppm làm tăng kích thước của quả [75]

Để làm giảm kích thước hạt Kadman và Gzit (1970) sử dụng 2, 4, 5 - Trichlorophenoxy propionic acid (2,4,5 - TP) làm cho hơn 75% quả vải có hạt nhỏ Tuy nhiên, khi hoa nở, xử lý 2, 4, 5- TP lần thứ nhất sau đó phun phối

Trang 22

hợp 2, 4, 5 - TP và GA3 thì 50 - 100% quả lớn hơn khi chỉ xử lý 1 lần trước

đó, và 90-100% quả không có hạt

Theo Nguyễn Khắc Thái Sơn (2004) [33] trong việc nghiên cứu làm tăng

tỷ lệ đậu quả và rải vụ thu hoạch đã phun 4 lần GA3 cho vải thiều Thanh Hà 8 năm tuổi với nồng độ 15, 30, 75 ppm hoặc 20, 40, 100 ppm (vào các thời điểm hoa nở rộ, hình thành quả, hình thành cùi, quả chắc xanh) đã làm tỷ lệ đậu quả tăng từ 2,78% lên 4,92 - 5,05% quả to hơn mã đẹp hơn, tỷ lệ nứt vỏ giảm tỷ lệ phần ăn được tăng từ 70,5% lên 75 - 75,85% năng suất tăng từ 51% - 59%

Theo Nguyễn Mạnh Khải, Nguyễn Quang Thạch (1999) [24] về việc

sử dụng chất kích thích sinh trưởng trong công tác bảo quản quả tươi bước đầu cho thấy hỗn hợp chất kích thích sinh trưởng và vi lượng là Kiviva làm tăng tỷ lệ đậu quả (tăng 10% so với đối chứng) Thấy rụng quả (nếu phun 2lần lúc hoa nở rộ và sau đó 10 ngày) Làm tăng kích thước quả vải và cải thiện tình trạng vỏ quả (Phun sau khi hoa nở rộ 45 ngày) Làm chậm chín 10 ngày so với đối chứng và tăng khả năng bảo quản (phun vào lúc kích thước quả đạt tối đa và đang bước vào giai đoạn chín)

Theo Đỗ Phương Chi (2005) [8] khi xử lý GA3 khi xử lý GA3 4 lần trong quá trình phát triển của quả cho kết quả tốt nhất Tỷ lệ đậu quả tăng 20,28%, khối lượng trung bình quả tăng 12,18%, tỷ lệ ăn được tăng 19,19%

và năng suất tăng 21,76% so với đối chứng

2.3.1.2 Những nghiên cứu về các chất ức chế sinh trưởng

Sự sinh trưởng phát triển của cây được bảo đảm bởi hai tác nhân có tác dụng sinh lý đối lập nhau: tác nhân kích thích và tác nhân ức chế Sự cân bằng giữa các chất kích thích sinh trưởng và các chất ức chế sinh trưởng có một ý nghĩa rất quyết định trong việc điều hòa sinh trưởng gồm axít abxixic (ABA), Ethylen, các phenol…

Phun Ethrel cho vải có tác dụng làm giảm lượng hoa tổng số, tăng tỷ lệ hoa cái và tỷ lệ đậu quả, do vậy làm tăng năng suất rõ rệt Nồng độ Ethrel thích hợp là 1000 ppm Phun kết hợp Ethrel với GA3 và Oxyclorua đồng ở diện rộng

Trang 23

tăng năng suất 12% Phun chất điều hòa sinh trưởng đơn lẻ hay phối hợp đều làm tăng tỷ lệ hoa cái và tỷ lệ đậu quả dẫn đến nâng cao năng suất cây vải [13]

Trong các chất ức chế sinh trưởng, Ethrel có tác dụng diệt lộc đông, khống chế việc ra lộc đông của cây vải, kìm hãm sinh trưởng, xúc tiến phân hóa mầm hoa giúp cây vải ra hoa đậu quả tốt hơn Theo Phạm Minh Cương, 2005 [14] Phun Ethrel ngoài tác dụng ức chế sinh trưởng, kích thích phân hóa mầm hoa vải nó còn làm tăng tỷ lệ hoa cái chống nứt quả làm cho quả chín sớm [28]

Ở Trung Quốc một trong các biện pháp để khắc phục những nhân tố hạn chế trong việc sản xuất là sử dụng Ethrel, Paclobutrazol và B9 để ức chế sinh trưởng và thúc đẩy phân hóa mầm hoa (Zhuiyuab Huang, Yungu Zhang, Longhua Li, Aimin Guo, Zhiyong Cai và YunLi) (2000) [77] Theo Nivimala Ramburn khi phun Paclobutazol 5000 ppm+ Ethrel 1000 ppm có thể làm tăng khả năng ra hoa của giống Taiso trồng ở Mauritius [75]

Năm 1984 Khâu Tự Đức (Trung Quốc) dùng Malein hydrazit (MH) 1000-1500 ppm phun lên quả sau khi hoa nở 7 - 13 ngày đã làm cho quả vải Hoài Chi bé lại hiệu quả đạt 73 - 100% và nâng cao phẩm chất quả [30] Điều này giống như kết luận của Đào Quang Nghị (2005) [28] Xử lý Malein hydrazit bằng cách phun lên tán cây ở thời điểm sau khi tắt hoa 10 ngày có xu hướng làm giảm khối lượng quả, nhưng khối lượng hạt nhỏ đi nhiều và tỷ lệ

ăn được cũng tăng lên so với đối chứng

Các chất điều hòa sinh trưởng hiện nay có rất nhiều loại cùng một tác dụng kích thích hoặc ức chế nhưng đối với từng loại cây trồng, từng giai đoạn sinh trưởng phát triển khác nhau không phải lúc nào cũng cho tác dụng như nhau [28] Ta có thể sử dụng đơn lẻ hay phối hợp để kích thích hay ức chế quá trình sinh trưởng và phát triển của cây nhằm mục đích đem lại hiệu quả kinh tế cao cho con người

2.3.2 Những nghiên cứu về tạo hình cắt tỉa và tác động cơ giới

Theo kết quả nghiên cứu của C.M.Menzel (1998) [70] ở Austraylia cho biết cắt khoanh vỏ một đường rộng 0,3 cm trên cây vải 3 - 10 tuổi làm tăng

Trang 24

năng suất 15 - 40kg/cây Ở tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc) năm 1994 người

ta tiến hành cắt khoanh vỏ theo hình xoắn ốc trên gốc cây của 2 giống vải có tính ra hoa rất chậm (cây dưới 10 năm chưa bói quả) đã làm cho chúng ra hoa sớm

Theo Đỗ Xuân Bình (2003) [6] khoanh thân kết hợp với phun Ronstar

va Ethrel có hiệu quả cao trong việc xử lý những cây vải không ra hoa vào vụ xuân, làm cho 100% số cây ra lộc đụng đều ra hoa và đậu quả, có số quả đậu tăng 2,6 quả/chùm và năng suất tăng từ 15,8 - 20,5 kg/cây

Cắt tỉa cành ngoài việc tạo cho tán cây thông thoáng, hạn chế sâu bệnh hại, thuận lợi chăm sóc còn nhằm mục đích điều hoà sự sinh trưởng ra hoa và kết quả của cây Theo Phạm Văn Côn (2005) [12] ở cây vải thì có 3 lần cắt tỉa tạo cành đó là tạo cành cấp 1, tạo cành cấp 2 và tạo cành cấp 3, cành cấp 3 là những cành tạo quả và mang quả cho những năm sau, các cành này không được giao nhau và sắp xếp theo các hướng khác nhau để cây quang hợp được tốt Ngoài cắt tỉa cành cắt tỉa hoa có ý nghĩa rất lớn đối với năng suất chất lượng quả Theo Phùng Quốc Hưng (2006) [23] cắt tỉa để lại 15 nhánh hoa/chùm đã làm tăng năng suất của giống vải thiều 4,83%

Theo Phạm Minh Cương và cộng sự (2005) [14] thì tỷ lệ ra hoa cao ở phương pháp khoanh xoắn ốc với tỷ lệ 92%, đồng thời với số quả đậu cao nhất đạt tỷ lệ 86% trong khi đó khoanh vòng tròn chỉ đạt 42% và so với đối chứng là 26% Do vậy, khoanh vỏ có tác dụng làm tăng số cây ra hoa đồng thời tăng số cây có quả đậu

2.3.3 Những nghiên cứu về dinh dưỡng

2.3.3.1 Những nghiên cứu về dinh dưỡng cho cây vải

Những nghiên cứu về sinh lý và dinh dưỡng của cây vải cho đến nay có thể nói là còn ít, nhiều vấn đề chưa được làm rõ ví dụ muốn có 100 kg quả thì cần bón bao nhiêu đạm, lân, kali,… tỷ lệ ra sao, bón vào thời kỳ nào,… chưa

có công trình khoa học nào công bố đầy đủ Chỉ thông qua việc phân tích thành phần dinh dưỡng trong quả trong lá rồi từ đó suy luận ra Qua phân tích

Trang 25

quả và lá cho thấy cây vải cần nhiều K, sau đó đến đạm và lân Ở lá cây cần nhiều N sau đó đến Mg và K Tỷ lệ N: P2O5: K2O: CaO: MgO ở trong lá là 7,8: 1: 4,6: 2,3: 2,5 còn ở trong quả là 1,6: 1,9: 5,3: 1,3: 1 nhìn chung cây vải cần nhiều N và K [47]

Đạm là yếu tố cơ bản của qúa trình đồng hóa cacbon, kích thích sự phát triển của bộ rễ và hút các yếu tố dinh dưỡng, có tác dụng nâng cao năng suất, phẩm chất quả Bón đủ đạm cành quả phát triển nhiều, là cơ sở để đạt năng suất cao Nhưng nếu bón thừa đạm sẽ làm cho cành lá phát triển quả mạnh, ảnh hưởng đến phân hóa mầm hoa, gây nên rụng hoa, rụng quả, sản lượng thấp và phẩm chất kém, sức chống chịu sâu bệnh giảm Nếu thiếu đạm các đợt lộc phát sinh không đúng lúc mọc yếu, lá cành bé, có màu vàng, rụng hoa và rụng quả nhiều

Lân thúc đẩy quá trình phân hóa mầm hoa, sự phát dục của quả, sự thành thục của hạt, thúc đẩy ra rễ đặc biệt là rễ bên và lông hút tăng cường khả năng chống hạn, chống rét cho cây, nâng cao phẩm chất quả, hạn chế tác hại của bón thừa đạm

Kali trong các mô thực vật tồn tại dưới dạng ion ngậm nước giúp cho cấu tạo các mô thêm cứng cáp Việc vận chuyển các sản phẩm quang hợp đến các

tổ chức của cây được thuận lợi Kali làm tăng tính đề kháng của cây như chịu hạn, chịu nóng, chịu lạnh, tăng khả năng chống chịu sâu bệnh, giúp quả lớn nhanh và thành thục, tăng phẩm chất, tăng khả năng bảo vệ của vỏ quả

Theo nguyễn Văn Dũng, phun B 0,1% + urê (46%) 0,50% tăng cường được khả năng giữ quả, tăng hàm lượng đường tổng số, giảm tỷ lệ axít do đó nâng cao phẩm chất quả vải Để tránh hiện tượng quả vải ra cách năm thì cung cấp đủ dinh dưỡng cho cây qua 2 con đường (qua đất và qua lá) là hết sức quan trọng

2.3.3.2 Những nghiên cứu về phân bón qua đất

Cây vải cũng như cây trồng nói chung cần hút chất dinh dưỡng để tạo nên sản phẩm qua quá trình quang hợp Nếu thiếu dinh dưỡng hoặc các chất dinh dưỡng không cân đối làm cho cây sinh trưởng kém dẫn tới giảm sút năng

Trang 26

suất và phẩm chất sản phẩm Nhưng nếu thừa dinh dưỡng làm cho cây sinh trưởng quá mạnh cũng làm giảm năng suất và phẩm chất sản phẩm và đồng thời còn gây ô nhiễm môi trường đất, nước và không khí [13]

Theo Trần Thế Tục (2004) [46] bón phân cho vải những năm trước lúc

ra hoa rất quan trọng và sau khi trồng 1 tháng lúc cây đã bén rễ hồi xanh là đã

có thể bón cho cây Lúc này cây còn nhỏ, nên bộ rễ chưa phát triển khả năng hấp thụ của cây còn yếu có nhiều đợt lộc trong năm nên cần bón ít, nồng độ loãng và cần chia làm nhiều lần

Ở thời kỳ cây cho quả lượng phân bón và thời kỳ bón cho vải là hết sức quan trọng vì đây là một trong những yếu tố hết sức quan trọng để nâng cao năng suất của vải

Toàn bộ lượng phân được chia làm 3 lần chính trong năm

Lần 1: Bón thúc hoa và nuôi lộc xuân (6/1-20/1) bón 25% đạm urê, 25% kaliclorua và 30% lân supe

Lần 2: Bón thúc quả giúp quả phát triển nhanh, chống rụng quả khi quả

có đường kính bằng viên bi (đường kính khoảng 0,4 cm) bón 25% đạm urê, 50% kaliclorua và 30% lân supe

Lần 3: Bón sau thu hoạch 15 ngày nhằm thúc cành thu lúc này kết hợp với tỉa cành giúp cây phục hồi sinh trưởng bón 50% đạm urê, 25% kaliclorua 40% lân Supe và toàn bộ phân chuồng

2.3.3.3 Những nghiên cứu về phân bón qua lá

Ngoài khả năng hút dinh dưỡng từ đất qua rễ cây trồng còn có khả năng hút dinh dưỡng qua lá Cây tiếp nhận dinh dưỡng do bón qua lá với diện tích bằng 15- 20 lần diện tích đất ở tán cây che phủ Chất dinh dưỡng được bón qua lá chỉ có thể vào mô lá qua các lỗ khí khổng Như vậy bón phân qua lá vào thời điểm khí khổng mở rộng hoàn toàn thì hiệu quả đạt cao nhất [11]

Ngoài ra, phân bón lá dưới hình thức hỗn hợp chất lân còn giúp cho cây chịu đựng được một số vấn đề như hạn hán, bệnh tật và mật độ cây cao Phân bón lá có thể gồm các chất dinh dưỡng chính như đạm, lân, và các chất vi

Trang 27

lượng như Fe, Zn, Cu, Bo, Mn, Mg và cả các chất kích thích tố Sử dụng phân bón lá, nếu áp dụng đúng phương pháp, có thể thu được lợi nhuận kinh tế cao

vì hiệu quả của sự hấp thụ phân bón lá cao đến 80% so với 20 -50% phân bón được hấp thụ ở rễ

Mặt khác, bón phân qua lá giúp cho cây trồng trong những điều kiện hạn hán hoặc ngập lụt, thời kỳ khủng hoảng của cây trồng, cây suy kiệt là con đường nhanh nhất giúp cho cây nhanh chóng hồi phục Phun phân bón lá không chỉ có tác dụng làm tăng năng suất cây trồng mà nó còn có tác dụng làm tăng phẩm chất nông sản

Đối với cây vải khi hoa tàn là lúc cây huy động rất nhiều chất dinh dưỡng, sau khi hoa tàn lúc này cây đang khủng hoảng về dinh dưỡng vì vậy việc bổ sung kịp thời dinh dưỡng là việc làm cần thiết Vào thời điểm này bộ

rễ hoạt động kém vì bị ức chế do hoa nở rộ đất thiếu nước vì thế khi bón phân

rễ chưa có điều kiện hấp thu ngay được việc phun dinh dưỡng lên lá lúc này là nhằm bổ sung dinh dưỡng kịp thời cho cây để giảm bớt rụng quả sinh lý

Theo kết luận của Đỗ Văn Ái (2004) [1] khi sử dụng chế phẩm phân bún lỏ VACVINA-KB1 cho cây vải đó làm tăng khả năng tích lũy các nguyên

tố dinh dưỡng giúp cây phát triển nhanh, nhưng không gây độc hai cho cây

hệ số hấp phụ sinh học cao hơn và làm tăng năng suất tới 13% Quả tròn, màu

đỏ, vị thơm ngon và đặc biệt là cùi vải dày hơn, trong hơn

Theo Phạm Văn Côn (2005) [12] đã tiến hành trên vải Phú Hộ thì phun

Bo và phun phối hợp Bo + Zn đều làm tăng số quả cao nhất so với đối chứng (tăng 50,4-92,8%) Ở giống Phú Hộ phân vi lượng làm tăng hàm lượng đường (2,0-17,0% so với đối chứng), tăng hàm lượng vitamin (từ 17,0-22,7% so với đối chứng), giảm lượng axít (25% so với đối chứng), còn đối với vải Thanh

Hà các chỉ tiêu thay đổi rất ít Cũng với giống vải thiều Thanh Hà ở Lục Ngạn (Bắc Giang) Bo + Cu và Bo + Zn làm tăng số quả thu hoạch tới 90,3 - 109,5% Khối lượng quả tăng 5,9 - 8,5% tăng năng suất 101,3-127,3% Chất lượng quả cũng tăng: độ Brix tăng 4,5-7,3% đường tổng số tăng 4,5-12,1%

Trang 28

axít giảm 33,4% vitamin C giảm 3,7-3,1%

Đỗ Phương Chi (2005) [8] khi nghiên cứu về ảnh hưởng của chế phẩm đậu quả và chế phẩm KIVIVA trên vải có kết luận:

Đối với chế phẩm đậu quả có tác dụng làm tăng tỷ lệ đậu quả, tăng khối lượng trung bình quả, bệnh nứt vỏ quả và sâu đục quả không xuất hiện, tăng

tỷ lệ phần ăn được và tăng năng suất 26,42%

Đối với chế phẩm KIVIVA phun cả 4 giai đoạn phát triển của quả tăng tỷ

lệ đậu quả, tăng tỷ lệ phần ăn được và năng suất tăng 28,5% Ngoài ra làm cho thời gian chín của quả chậm hơn 7 ngày, vườn mã quả đẹp, quả không bị nứt

Theo Nguyễn Khắc Thái Sơn (2005) [34] Khi phun vân đài tố cho vải làm tăng tỷ lệ đậu quả và khối lượng quả dẫn đến năng suất vải tăng từ 19 - 34% Phun hai lần Vân đài tố 0,01% vào lúc tàn hoa và trước lúc thu hoạch 01 tháng cho hiệu quả cao nhất, và phun Vân đài tố đại trà 2 lần cho vải ở nồng

độ 0,03% cho vải đã làm tăng năng suất lên 28%

Như vậy, khi sử dụng các chất điều tiết sinh trưởng và dinh dưỡng qua

lá ngoài tác dụng làm tăng khả năng đậu quả, tăng khối lượng và năng suất quả, còn có tác dụng làm tăng đường tổng số, vitamin C, chất khô, bộ Brix, giảm tỷ lệ axít do đó nâng cao được phẩm chất của quả vải

2.3.4 Quản lý dinh dưỡng

Một trong những yếu tố chính gây nên sự hạn chế đến sản xuất vải thiều là thiếu một chương trình dinh dưỡng phù hợp Năng suất có thể thấp vì

sự sinh trưởng dinh dưỡng của cây phát triển quá mức vào cuối mùa Đông hoặc lượng đạm quá nhiều làm cho cây sinh trưởng quá mạnh Thiếu đạm, kaly và một số nguyên tố vi lượng như: Bo, Zn và Cu có thể làm hạn chế đến năng suất của cây, bởi vì sự hình thành và phát triển của quả bị hạn chế Đối với Trung Quốc, Australia, Thái Lan và Ấn Độ người trồng vải thường cung cấp dinh dưỡng dựa trên cơ sở kích thước tán cây, số lượng quả/ cây và tuổi cây, mặc dù tiêu chuẩn dinh dưỡng của lá đầy đủ [15], [16], [55], [56], [57], [60], [61]

Trang 29

Ở Trung Quốc, đã giới thiệu liều lượng bón hàng năm: 0,6 kg urê, 1,2

kg supe lân và 0,6 kg kalyclorua, đối với 1 cây 5 năm tuổi, với tỷ lệ N:P:K là 1: 0,96: 1,3 Phân bón hoá học được sử dụng riêng cho 3 thời kỳ: Thời kỳ nở hoa (từ đầu đến giữa tháng giêng); thời kỳ quả phát triển nhanh (từ đầu đến giữa tháng năm) và thời kỳ chuẩn bị quả chín (cuối tháng sáu đến tháng bảy) Mặc dù, việc bón phân cho các vườn cây ăn quả đã được áp dụng thường xuyên, với một liều lượng nhỏ trong mỗi lần bón (trong nhiều trường hợp có thể bón đến hơn 10 lần, kể cả việc bón dưới đất và phun lên lá) Đối với Australia, khi lập một kế hoạch bón phân cho cây được dựa trên cơ sở tuổi cây và kích thước tán cây (Menzel và Simpson, 1989) Tuy nhiên, những tỷ

lệ bón phân này được xem như là một sự hướng dẫn và lời khuyên, cần phải phân tích đất và lá Tỷ lệ đưa ra đối với một cây có 10 – 11 năm tuổi, với tán cây có đường kính 4,0 – 4,5 m và mức độ che phủ 12 – 16 m cần bón: 0,5 kg N; 0,7 kg P2O5 và 0,7 kg K2O Khuyến cáo bón một nửa số lượng đạm bón sau khi hình thành nhuỵ hoa, nửa còn lại bón sau khi thành quả Các loại dinh dưỡng khác (P và K) đựơc bón làm hai lần: Số lượng một nửa bón sau khi hình thành nhuỵ hoa, số còn lại bón sau khi đã thu hoạch quả Ở Ấn Độ, kế hoạch bón phân chủ yếu dựa vào tuổi cây, tuy nhiên các giống khác nhau thì sinh trưởng phát triển ở các vùng cũng khác nhau Những cây cho quả ở tuổi

7 – 10 năm thường nhận được 0,4 – 0,6 kg N; 0,2 – 0,3 kg P2O5; 0,4 – 0,6 kg

K2O và 40 – 50 kg phân chuồng hàng năm Liều lượng đủ đối với phân chuồng là toàn bộ lượng phân được bón ngay sau lúc thu hoạch vào tháng sáu

và tháng bẩy [12], [42], [43], [44], [45]

Tiêu chuẩn về dinh dưỡng của lá chủ yếu dựa vào việc nghiên cứu đánh giá về năng suất cao của cây trồng Thăm dò mức độ dinh dưỡng lá phù hợp ở các vườn vải ở Quảng Đông – Trung Quốc đưa ra là: 0,93 – 2,10 % N; 0,08 – 0,21 % P; 0,12 – 0,33 % K Ở tỉnh Quảng Tây đưa ra mức: 1,766 – 1,78 % N; 0,25 – 0,28 % P; 0,75 – 0,92 % K Mức độ phù hợp với các nguyên tố vi lượng là: 1,5 – 5,0 mg/ kg đối với Zn; 1,5 – 5,0 mg/ kg đối với khả năng thay

Trang 30

đổi của Mn; 1,0 – 5,0 mg/ kg đối với Cu; 0,4 – 1,00 mg/ kg đối với Bo hoà tan và 0,15 – 0,32 mg/ kg đối với Mo [49], [50], [51], [52], [53]

2.3.5 Quản lý việc tưới nước

Các nghiên cứu ở Australia, Ấn Độ và miền Bắc của Thái Lan, cây vải được tưới trực tiếp từ thời kỳ nở hoa cho đến sau thu hoạch hoàn toàn Nhiều vườn quả ở Australia được tưới nước từ 2 – 3 lần trong một tuần, nhưng điều này cũng có thể là thừa nếu thực hiện ở những khu vực trồng cây trên đất ướt Tuy nhiên, nếu thực hiện tưới được ở những khu vực bị khô hạn thì việc tưới nước lại là rất quan trọng, đặc biệt có hiệu quả đối với phát triển chồi hoa, thời kỳ nở hoa và phát triển quả Ở Ấn Độ, việc tưới nước cho cây được đưa

ra để tưới khi độ ẩm của đất bị mất nước từ 30 – 45 % Tuy nhiên, thực tế người trồng cây sẽ tưới thường xuyên từ 7 – 10 ngày một lần vào thời kỳ nẩy chồi hoa cho đến lúc thu hoạch hoặc cho đến sau thu hoạch, khi thấy mầm non xuất hiện Trong khi tưới phun là một thực tế được áp dụng hầu hết ở các vườn quả của Australia, miền Bắc Thái Lan và một số khu vực của Trung Quốc, thì việc tưới mặt (tưới tràn) lại chủ yếu được áp dụng ở Ấn Độ, Việt Nam, Bangladesh và Đài Loan

2.3.6 Điều khiển chu kỳ nẩy mầm và sự nở hoa

Sự nở hoa của cây vải được bắt đầu khi mới nứt mầm, cùng với điều kiện nhiệt độ thấp Vì vậy, sự nở hoa chỉ xẩy ra khi đồng thời có thời tiết mát

mẻ và phát triển sự nứt mầm Theo Olesen và các đồng nghiệp (2000), ở Australia đưa ra bốn cách có thể thay đổi hoàn toàn sự nảy mầm và sự nở hoa của cây vải Cây có thể bị ức chế để gây ra một hoặc hai đợt sinh trưởng sinh dưỡng qua mùa Hè và mùa Thu Lần thứ hai hoặc thứ ba vào mùa Đông hoặc làm khô hạn trong mùa Thu để kìm hãm tốt hơn một hoặc hai lần nẩy lộc trước lúc thu hoạch Người ta cũng có thể tỉa ngay trong mùa Đông đối với những cành đã cắt tỉa Công việc này cũng có thể dùng chất Ethephon (từ 1 –

3 lít Ethrel và 5 kg urê pha trong 1000 lít nước) để loại bỏ những mầm non trong mùa Đông

Trang 31

Theo điều tra đánh giá của Yuan và Huang (1993) ở Trung Quốc, dựa vào sự sinh trưởng phát triển ở đầu rễ cho thấy: Đặc điểm đầu rễ của giống vải Nuomici càng non thì rụng quả càng nhiều Theo Zhou el al (1996) không thấy xuất hiện đỉnh sinh trưởng rễ ở các vườn vải non đối với giống Huaizu cũng như vườn vải đã cho thu hoạch đối với giống Nuomici cho thấy rụng quả rất ít Câu trả lời chắc chắn, việc khoanh một vòng theo hình xoắn xung quanh thân cây đã được phát hiện ở Trung Quốc để đẩy nhanh tốc độ phân hoá mầm hoa trong mùa Thu và để hạn chế sự bắt đầu nở hoa trong mùa Đông Tỷ lệ nở hoa tăng, số quả được hình thành nhiều, tỷ lệ quả rụng cũng ít, chất lượng và kích thước quả cũng được cải thiện đáng kể Kết quả này được khuyến cáo đối với sự ra hoa, việc khoanh một vòng vỏ xung quanh thân cây nên thực hiện vào giữa giai đoạn rụng lá và thời kỳ bắt đầu phân hoá mầm hoa (mùa Đông) Để thúc đẩy sự nở hoa của giống vải Feizixiao thường được khoanh một vòng vỏ theo hình xoắn xung quanh thân hoặc cành có đường kính 10 cm vào giữa tháng 10, nhưng đối với giống Nuomici và Guiwei việc khoanh vỏ được thực hiện muộn hơn, vào tháng mười một và đầu tháng mười hai

2.4 Ảnh hưởng của một số loài sâu bệnh hại chính đối với sản xuất vải

Có đến hơn 58 loài sâu hại đã gây thiệt hại cho cây vải Các loài sâu hại

chính là: Bọ xít hại vải (Tessaratoma papillosa), sâu đục cuống quả

(Conopomorha sinensis) , xén tóc hại vải (Aristobia testudo), ruồi (Dasineura

sp) , nhện lông nhung Eriophyes lichi (Ren và Tian, 2000) là những loài nguy

hiểm nhất đối với cây vải ở Ấn Độ, Thái Lan, Việt Nam Sâu đục quả

(Cryptophlebia ombrodelta) là sâu hại vải nguy hiểm nhất ở Australia Những quy trình đã thật sự được kiểm soát đối với hầu hết các loài sâu hại ở các nước khác nhau Có khoảng 25 loài thiên địch sống ký sinh trên trứng của các

loài sâu hại vải Chẳng hạn như: Anastatus ssp quản lý đối với rệp, giun tròn

Steinemema calpocapsea đối với xén tóc và loài ăn thịt Agistemus exsetus đã

được sử dụng thành công

Trang 32

Có những bệnh không gây hại nghiêm trọng cho cây vải Tuy nhiên, hiện tượng cây vải chết đột ngột được quan sát thấy ở Australia, Trung Quốc, Việt Nam, đã đưa ra nhận xét bước đầu đối với hiện tượng tự nhiên cây bị héo

là do trong đất bị chua kết hợp với nấm Fusarium solani, Phytophrthora sp và

Phythium sp Cây vải trồng sâu ở vị trí thoát nước kém và dinh dưỡng không đầy đủ thì rất dễ bị bệnh (Hà Minh Trung, 2000) Một số loại bệnh có ảnh hưởng đến cây vải ở giai đoạn sau thu hoạch Chúng phát triển cùng với sự phát triển của quả, ngay từ đầu cho đến sau thu hoạch Một vài loài nấm đã liên kết với triệu chứng bệnh để gây ảnh hưởng đến kích thước quả hoặc bám

xung quanh thân, cành, của cây cho đến lúc thu hoạch Bệnh loét (Col

erolrichwnl oeosporioides) là nguyên nhân chính làm mất sản lượng vải ở Trung Quốc, Australia, Đài Loan, Thái Lan

2.5 Lịch sử tóm tắt về canh tác hữu cơ

Khó có thể nói nông nghiệp hữu cơ xuất hiện vào lúc nào Khái niệm

về “hữu cơ”, là lựa chọn cách thức canh tác khác đã được biểu lộ trước khi phát minh ra các hoá chất nông nghiệp tổng hợp Nó đã diễn ra trong những năm 1920-1949, từ sáng kiến của một số người tiên phong cố gắng cải tiến hệ canh tác truyền thống với những phương pháp đặc trưng của canh tác hữu cơ Vào thời điểm đó, việc cải tiến là các phương pháp mới tập trung vào dinh dưỡng của đất trên cơ sở mùn đất và hướng vào cân bằng sinh thái trong phạm vi trang trại

Khi việc giới thiệu các giống có năng suất cao kết hợp với việc sử dụng các hoá chất nông nghiệp và cơ giới hoá mạnh mẽ (Nông nghiệp "cách mạng xanh") trở nên phổ biến, một số người đã phản đối luận điểm mới này và các tập quán canh tác hữu cơ như làm phân ủ, cải tiến luân canh cây trồng, hoặc trồng cây phân xanh đã được tô vẽ Lỗ hổng giữa canh tác hữu cơ với nông nghiệp thông thường ("hoá chất") vì thế càng lớn hơn

Tác động tiêu cực tới sức khoẻ và môi trường của cách mạng xanh trong những năm 1970 và 1980 ngày càng trở nên rõ ràng, nhận thức của cả

Trang 33

nông dân và người tiêu dùng về vấn đề "hữu cơ" tăng lên một cách chậm chạp Hệ thống canh tác liên quan như "nông nghiệp vĩnh cửu" hoặc "nông nghiệp có đầu vào từ bên ngoài thấp" (LEIA) đã được mở rộng

Chỉ cho đến những năm 1990, trải nghiệm về canh tác hữu cơ tăng nhanh Số vụ bê bối về thực phẩm và thảm hoạ môi trường đã khuyến khích

và làm tăng nhận thức của người tiêu dùng và các chính sách hỗ trợ của một

số nước Cùng thời gian đó, một loạt cải tiến mới các kỹ thuật hữu cơ (đặc biệt là quản lý sâu hại theo phương pháp sinh học) và việc sắp xếp hệ thống canh tác hiệu quả hơn đã được phát triển

Tuy nhiên, nông nghiệp hữu cơ chỉ hình thành một phần nhỏ trong nền nông nghiệp của thế giới, thậm chí hình thành với một tỷ lệ nhỏ trong cơ cấu canh tác của nông thôn cũng rất ít Sự hỗ trợ từ phía nhà nước cho các hoạt động nghiên cứu, chuyển giao kỹ thuật hoặc marketing trong canh tác hữu cơ vẫn còn rất thấp ở hầu hết các nước Mặc dù vậy, canh tác hữu cơ hiện nay đang hứa hẹn tốc độ tăng trưởng nhanh trên toàn thế giới

2.6 Canh tác hữu cơ tại Việt Nam

Mặc dù có thể nói rằng nông dân ở tất cả các nước trên thế giới đã làm nông nghiệp hữu cơ cách đây hàng trăm năm, nhưng theo cách hiểu biết của quốc tế thì canh tác hữu cơ hoàn toàn mới mẻ đối với Việt Nam Cách đây khoảng 10 năm, một số công ty nước ngoài đã bắt đầu làm việc với một vài công ty nội địa và nông dân địa phương để canh tác hữu cơ cho mục đích xuất khẩu Sau nhiều năm với chỉ vài trăm hecta canh tác dưới phương pháp quản

lý hữu cơ, cho đến nay ước tính có khoảng 6.475 ha đất canh tác hữu cơ Các sản phẩm hữu cơ chủ yếu là thảo mộc như quế, hồi, gừng, chè, cá ba sa Những sản phẩm này đã được xác nhận theo tiêu chuẩn của các nước nhập khẩu như Châu Âu, Mỹ, và xác nhận của các cơ quan mô giới nước ngoài làm việc trong lĩnh vực thanh tra và chứng nhận sản phẩm

Toàn bộ thị trường địa phương đã không được phát triển, mặc dù cách đây vài năm có một công ty đã cố gắng giới thiệu các loại rau hữu cơ tới

Trang 34

người tiêu dùng Hà Nội Hiện có vài tổ chức quốc tế và địa phương đang hỗ trợ cho nông nghiệp hữu cơ (ngoài các tổ chức chính là ADDA và GTZ) Nhà nước cũng chưa có những chính sách cụ thể nào để hỗ trợ phát triển nông nghiệp hữu cơ trong nước và cũng chính vì vậy, hiện chỉ có rất ít sự chú ý tới nghiên cứu và các dịch vụ chuyển giao về nông nghiệp hữu cơ Tuy nhiên, năm

2007 Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn (MARD) đã ban hành các tiểu chuẩn

cơ bản cho nông nghiệp hữu cơ trong nước, có thể được dùng để tham khảo cho người sản xuất, chế biến và những đối tượng khác quan tâm đến các sản phẩm hữu

cơ cho thị trường nội địa MARD có kế hoạch cùng các cơ quan của nhà nước Việt Nam, các tổ chức phi chính phủ quốc tế, tư nhân và các tổ chức khác xây dựng một

hệ thống chứng nhận cho thị trường trong nước

2.7 Tại sao cần làm nông nghiệp hữu cơ

Thuật ngữ "Nông nghiệp thông thường" không rõ ràng nhưng ám chỉ

đến xu thế nông nghiệp hiện nay tức là nông nghiệp có sử dụng các hoá chất, đối nghịch với nông nghiệp hữu cơ

"Cách mạng xanh" liệu nó có xanh ?

Việc sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu hoá học như một công nghệ đã được lan rộng ra hầu hết các nước nhiệt đới từ những năm 1960 Một phương pháp mới kể đến trong "Cách mạng xanh" bao gồm các kỹ thuật trọn gói được

sử dụng để nhằm vào việc tăng năng suất trên mỗi đơn vị diện tích canh tác Các kỹ thuật trọn gói này bao gồm:

- Trồng độc canh những giống có năng suất cao

- Sử dụng đất canh tác tối đa (Thường với máy móc)

- Sử dụng thuốc trừ cỏ để loại trừ sự canh tranh của cỏ dại

- Sử dụng thuốc trừ dịch hại (Thuốc trừ côn trùng, thuốc trừ nấm, trừ sên, động vật thân mềm etc.) để loại trừ sâu bệnh hại

- Thâm canh cao với việc sử dụng các loại phân hoá học (N, P, K) thường được kết hợp với tưới nhiều nước

Trang 35

Sau khi "Cách mạng xanh" đạt được những thành công ban đầu, hiển nhiên nó đã cho thấy rằng phương pháp canh tác này có nhiều mặt có ảnh hưởng không mong muốn với sức khoẻ của con người và cả nguồn tài nguyên thiên nhiên khác (Đất, nước, đa dạng sinh học):

- Đất: Những khu vức đất đai màu mỡ rộng lớn trước kia đã bị suy biến xói mòn, hoá mặn hoặc bị rút kiệt toàn bộ dinh dưỡng

- Nước: Nguồn nước ngọt đã bị ô nhiễm do việc sử dụng quá nhiều hoá chất nông nghiệp hoặc bị khai thác quá mức

- Đa dạng sinh học: Làm tiệt chủng nhiều loại thực vật, động vật hoang

dã, tàn phá phong cảnh thiên nhiên và quang cảnh ngày càng trở nên nghèo nàn ảm đạm

- Sức khoẻ con người: Dư lượng thuốc trừ sâu có hại trong thực phẩm hoặc nước uống gây nguy hiểm tới sức khoẻ của cả người sản xuất và tiêu dùng Thêm vào hơn nữa là những rủi ro từ các chất kháng sinh trong thịt, sự nhiễm BSE (bệnh bò điên) và các sinh vật biến đổi gen (GMO)

Ngoài ra, kiểu nông nghiệp này dựa và các đầu vào từ bên ngoài quá mức và tiêu huỷ rất nhiều năng lượng từ các nguồn không thể tái sinh

Sự thành công và những thiếu sót của Cách mạng xanh

Phải thừa nhận rằng với sự trợ giúp kỹ thuật của cách mạng xanh, năng suất cây trồng tăng lên rất nhiều, đặc biệt là ở những vùng ôn đới Châu Âu và Bắc Mỹ Một số nước Phía Nam cũng đã trải nghiệm Cách mạng xanh như một câu chuyện về sự thành công, mặc dù năng suất có tăng lên nhưng thường thấp hơn các nước phía Bắc Ví dụ như ấn Độ đã cố gắng để trở thành một nước tự túc ngũ cốc nhưng nước này về danh chính ngôn thuận vẫn thường xuyên đói kém khốc liệt

Tuy nhiên thành công của Cách mạng xanh ở khu vực phía Nam là không đồng đều: trong kỹ thuật làm cho năng suất tăng lên một cách đáng kể

ở khu vực đồng bằng màu mỡ phì nhiêu hoặc những vùng đất có đủ nước tưới, thì nó lại ít thành công hơn ở những vùng đất khó trồng trọt, mà những

Trang 36

vùng đất này lại chiếm phần diện tích lớn ở vùng nhiệt đới Những vùng đất màu mỡ thường thuộc sở hữu của những nông dân giàu có hơn, còn những nông dân ở khu vực trồng trọt không thuận lợi lại không được hưởng lợi từ những kỹ thuật mới này

Một trong những lý do thất bại trên những vùng đất khó trồng là do trên đất nhiệt đới có hiệu quả bón phân thấp: Khác với đất ở vùng ôn đới, nhiều vùng đất nhiệt đới không có khả năng tích trữ phân hoá học để sử dụng Dinh dưỡng dễ bị rửa trôi khỏi đất hoặc bay hơi như khí gas (N), vì thế một lượng lớn phân bón có thể bị mất đi

Ở những nước có nhân công tương đối rẻ nhưng đầu vào đắt đỏ, phí tổn cho hoá chất nông nghiệp có thể chiếm một tỷ lệ lớn trong chi phí sản xuất Thường những đầu vào này được mua nhờ tiền vay và được hoàn trả lại khi sản phẩm thu hoạch được bán Nếu năng suất thấp hơn mong đợi (có thể do đất thiếu dinh dưỡng chẳng hạn) hoặc toàn bộ cây trồng bị thất bại (ví dụ do không khống chế được tấn công của sâu bệnh hại), nông dân vẫn phải bù đắp những chi phí hoá chất nông nghiệp họ đã dùng Do đó mắc nợ là một vấn đề phổ biến trong nông dân ở khu vực phía Nam và nhiều người mắc vào "bẫy nợ" ngày càng sâu hơn Trong khi giá nông sản có nhiều hướng liên tục giảm xuống thì giá do đầu vào lại tăng lên (chẳng hạn do trợ giá bị giảm), làm cho nhiều nông dân để kiếm đủ thu nhập bằng canh tác nông nghiệp thông thường càng trở nên khó khăn hơn

2.8 Nông nghiệp hữu cơ - Một phương pháp phối hợp toàn diện

Nông nghiệp hữu cơ là xem xét toàn cảnh "bức tranh lớn"

Nông nghiệp thông thường tập trung vào mục tiêu đạt được năng suất tối đa của cây trồng cụ thể nào đó Nó dựa trên quan niệm đơn giản là: năng suất cây trồng được tăng lên bởi các dinh dưỡng đầu vào và nó giảm xuống do sâu bệnh hại và cỏ dại, vì thế chúng phải bị tiêu diệt Nông nghiệp hữu cơ là một phương pháp canh tác phối hợp toàn diện: Bên cạnh mục tiêu sản xuất hàng hoá chất lượng cao, một mục tiêu quan trọng không thể bỏ qua là bảo

Trang 37

toàn nguồn dinh dưỡng tự nhiên trong đất, nguồn nước sạch và tính phong phú đa dạng sinh học Nghệ thuật trong canh tác hữu cơ đó là việc sử dụng tốt nhất các nguyên tắc và tiến trình sinh thái Nông nghiệp hữu cơ có thể học được rất nhiều điều từ việc nghiên cứu các mối tương tác trong hệ sinh thái tự nhiên như hệ sinh thái rừng

Mục tiêu của canh tác hữu cơ

- Từ những tiêu chuẩn của IFOAM, liên đoàn Quốc tế các phong trào nông nghiệp hữu cơ

- Trong nông trại

- Bảo toàn và cải thiện độ phì nhiêu của đất

- Thúc đẩy sự hợp tác có lợi giữa toàn thể các sinh vật có ích trong nông trại , từ vi sinh vật đến cây trồng và động vật nuôi

- Tạo sự cân bằng giữa trồng trọt và chăn nuôi gia súc

- Cung cấp cho động vật nuôi các điều kiện theo nhu cầu và thói quen sống tự nhiên của chúng

- Sự tương tác với môi trường

- Duy trì và làm tăng tính đa dạng di truyền trong hệ sinh thái nông trại

và tính tự nhiên của môi trường xung quanh bao gồm bảo vệ thực vật hoang dại và tập quán sống của động vật

- Phát triển tập quán canh tác trong đó môi trường thiên nhiên được đưa vào suy xét đến mức tối đa có thể

- Sử dụng chu trình dinh dưỡng khép kín và hình thành thói quen sử dụng nguồn dinh dưỡng từ địa phương

- Làm giảm tới mức tối thiểu việc sử dụng các nguồn tài nguyên không thể hồi phục trong nông nghiệp, công nghiệp chế biến bao gồm cả nhiên liệu hình thành từ xác động vật bị phân huỷ

- Cải thiện chất lượng rác thải hữu cơ thành thị và công nghiệp để có thể được tái sinh vào trong đất nông nghiệp

- Những khía cạnh xã hội

Trang 38

- Khuyến khích tính đa dạng trong sản xuất, chế biến và phân phối sản phẩm, đảm bảo công bằng xã hội và ổn định sinh thái

- Đảm bảo chất lượng cuộc sống tốt cho tất cả mọi người tham gia vào sản xuất và chế biến thực phẩm hữu cơ

- Sự tín nhiệm

- Sản xuất thực phẩm với chất lượng tốt

- Ngăn ngừa bất cứ sự ô nhiễm nào có thể tăng lên từ các hoạt động của khu vực sản xuất

- Khuyến khích chuyển đổi toàn bộ sản xuất trong vùng sang phương pháp sản xuất hữu cơ

Những mục tiêu này sẽ đạt được bởi

- Sự hợp tác chặt chẽ giữa nông dân và người tiêu dùng

- Sự trao đổi kinh nghiệm và phương pháp giữa người sản xuất hữu cơ với các dịch vụ bao gồm giáo dục liên quan và nghiên cứu các thể chế

Phương pháp canh tác hữu cơ không cho phép

- Sử dụng phân bón, thuốc sâu tổng hợp

- Ép cây trồng và động vật phát triển

- Công nghiệp hoá chăn nuôi gia súc

- Sử dụng cây trồng biến đổi gen

2.9 Các nguyên tắc của nông nghiệp hữu cơ

* Bảo toàn sinh thái trại/vùng sản xuất

Việc sử dụng hoá chất nông nghiệp trong canh tác đang tạo ra những thiệt hại nghiêm trọng cho môi trường và sinh thái của vùng sản xuất, và là nguyên nhân gây ra những vấn đề như nghèo dinh dưỡng, độ mặn trong đất cao, đất bị kết chặt, xói mòn, giảm tính đa dạng sinh thái trong đồng ruộng, suy yếu mức nước ngầm Những vấn đề về môi trường này giờ đây đang ở mức độ đe doạ tới tính bền vững của cộng đồng và sản xuất nông nghiệp Bảo toàn sinh thái vùng sản xuất bằng việc chấm dứt sử dụng hoá chất nông nghiệp, đặc biệt là thuốc trừ sâu và phân bón hoá học, có thể làm đảo ngược những tác động tiêu cực này Bảo tồn môi trường xung quanh và các thực vật địa phương trong phạm vi vùng sản xuất cũng sẽ làm tăng thêm lợi ích cho việc cải thiện tính đa dạng sinh học

* Làm phong phú hệ sinh thái nông nghiệp hơn

Trang 39

Ngoài việc bảo toàn sinh thái, các nguyên tắc nông nghiệp hữu cơ yêu cầu nông dân nỗ lực cải thiện mối cân băng sinh thái và dinh dưỡng đất Các nguyên tắc này tạo ra sự khác biệt rõ rệt giữa nông nghiệp hữu cơ với nông nghiêp tự do hoá chất hoặc "nông nghiệp an toàn" Biện pháp chính để cải thiện sinh thái vùng sản xuất là cải thiện đất bằng các vật liệu hữu cơ và làm tăng tính đa dạng sinh học

Trong hệ thống canh tác nông nghiệp hữu cơ thì đất đai là yếu tố then chốt Việc làm cho đất màu mỡ hơn cho phép cây trồng thu được dinh dưỡng một cách đầy đủ và cân đối Nó làm cho cây trồng khoẻ mạnh để chống đỡ lại sâu bệnh hại mà loại trừ nhu cầu chỉ dựa vào thuốc trừ sâu của nông dân Bên cạnh đó, hữu cơ tạo ra những sản phẩm có hương vị ngon, bảo quản tốt và sản xuất hữu cơ có thể làm tăng năng suất cây trồng theo cách bền vững hơn so với cách canh tác sử dụng hoá chất

Ngoài việc cải thiện dinh dưỡng đất, tăng tính đa dạng sinh học trong đồng ruồng là một yếu tố chủ đạo khác trong sinh thái nông trại bền vững Đó

là vì các sinh vật đa dạng sống bên cạnh nhau sẽ tạo điều kiện cho cân bằng sinh thái phát triển Có nhiều cách để làm tăng đa dạng sinh học như xen canh, luân canh cây trồng, trồng cây thân gỗ hoặc cung cấp những diện tích tự nhiên trong phạm vi xung quanh trại/vùng sản xuất

* Sử dụng biện pháp cơ học cùng chu trình tự nhiên

Các nguyên tắc của nông nghiệp hữu cơ được xác định dựa trên một nền canh tác bền vững phù hợp với quy luật tự nhiên, ví dụ như điều kiện khí hậu, chu trình dinh dưỡng và sự năng động của các quần thể côn trùng Nông nghiệp bền vững không vì mục đích sản xuất để cố đấu tranh lại với thiên nhiên, nhưng cố gắng học từ thiên nhiên và điều chỉnh hệ thống canh tác phù hợp với các phương pháp của tự nhiên

Quá trình tự nhiên quan trọng với nông nghiệp hữu cơ bao gồm: Chu trình dinh dưỡng (đặc biệt là chu trình đạm và các bon), chu trình thuỷ phân, điều kiện khí hậu, ánh sáng, mối quan hệ sinh thái và tính cân bằng (trong đồng ruộng và chuỗi thức ăn)

* Ngăn ngừa sự ô nhiễm từ bên ngoài

Mặc dù nông nghiệp hữu cơ cấm sử dụng hoá chất tổng hợp trong sản xuất, nhưng môi trường xung quanh nơi canh tác hữu cơ có thể đã bị nhiễm

Trang 40

dư không mong muốn qua nguồn nước, không khí hoặc ở chính trong đất Vì thế, nông dân hữu cơ phải cố gắng ngăn ngừa sự nhiễm bẩn từ bên ngoài vào khu vực sản xuất của họ Việc ngăn ngừa bao gồm có thể làm những vùng ranh giới xung quanh nơi sản xuất hoặc thiết lập vùng đệm

Bên cạnh sự ngăn ngừa sự nhiễm bẩn từ bên ngoài, canh tác hữu cơ cũng quy định rằng nông dân phải hạn chế hoặc ngăn chặn sự nhiễm bẩn có thể đến ngay từ quá trình sản xuất hữu cơ của trang trại

là sẵn có trong khu vực của địa phương

2.10 Lợi ích của nông nghiệp hữu cơ

* Lợi ích của canh tác hữu cơ có thể được so sánh với canh tác thông thường được tóm tắt như sau:

- Duy trì và bảo toàn độ phì nhiêu của đất

- Ít gây ô nhiễm nguồn nước (nước ngầm, sông hồ)

- Bảo vệ đời sống hoang dã (chim chóc, ếch nhái, côn trùng )

- Đa dạng sinh học cao, nhiều cảnh đẹp khác nhau

- Đối xử tốt hơn với động vật nuôi

- Ít dự lượng thuốc trừ sâu trong thực phẩm

- Không có hoóc môn và chất kháng sinh trong các sản phẩm động vật

- Chất lượng sản phẩm tốt hơn (hương vị, đặc tính tích luỹ)

2.11 Có phải canh tác truyền thống là canh tác hữu cơ

Chỉ từ những năm 60, nông nghiệp hoá chất đã sử dụng trên một phạm

vi rộng lớn Vì thế, những cộng đồng nông nghiệp không bị ảnh hưởng bởi cái gọi là "Cách mạng xanh" đã tự động tiếp nhận những tiêu chuẩn quan trọng nhất của nông nghiệp hữu cơ, nghĩa là không sử dụng bất kỳ phân bón, thuốc

Ngày đăng: 26/05/2016, 12:01

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.3. Diện tích, sản lượng vải ở một số tỉnh của Việt Nam - Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Biện Pháp Canh Tác Hữu Cơ Đến Sinh Trưởng, Năng Suất, Chất Lượng Vải Thiều Thanh Hà Tại Huyện Lục Ngạn Tỉnh Bắc Giang
Bảng 2.3. Diện tích, sản lượng vải ở một số tỉnh của Việt Nam (Trang 17)
Bảng 2.4. Mức độ thích nghi của vải thiều đối với đất đai - Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Biện Pháp Canh Tác Hữu Cơ Đến Sinh Trưởng, Năng Suất, Chất Lượng Vải Thiều Thanh Hà Tại Huyện Lục Ngạn Tỉnh Bắc Giang
Bảng 2.4. Mức độ thích nghi của vải thiều đối với đất đai (Trang 20)
Bảng 4.2. Diện tích, năng suất và sản lượng vải của huyện Lục Ngạn - Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Biện Pháp Canh Tác Hữu Cơ Đến Sinh Trưởng, Năng Suất, Chất Lượng Vải Thiều Thanh Hà Tại Huyện Lục Ngạn Tỉnh Bắc Giang
Bảng 4.2. Diện tích, năng suất và sản lượng vải của huyện Lục Ngạn (Trang 50)
Bảng 4.3. Diện tích, năng suấ t và sả n lượng vả i của 20 xã trồ ng vải - Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Biện Pháp Canh Tác Hữu Cơ Đến Sinh Trưởng, Năng Suất, Chất Lượng Vải Thiều Thanh Hà Tại Huyện Lục Ngạn Tỉnh Bắc Giang
Bảng 4.3. Diện tích, năng suấ t và sả n lượng vả i của 20 xã trồ ng vải (Trang 51)
Bảng 4.4. Kết quả điều tra về mức độ đầu tư phân bón cho vải - Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Biện Pháp Canh Tác Hữu Cơ Đến Sinh Trưởng, Năng Suất, Chất Lượng Vải Thiều Thanh Hà Tại Huyện Lục Ngạn Tỉnh Bắc Giang
Bảng 4.4. Kết quả điều tra về mức độ đầu tư phân bón cho vải (Trang 54)
Bảng 4.5. Kết quả điều tra về thời gian bón phân và phương pháp - Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Biện Pháp Canh Tác Hữu Cơ Đến Sinh Trưởng, Năng Suất, Chất Lượng Vải Thiều Thanh Hà Tại Huyện Lục Ngạn Tỉnh Bắc Giang
Bảng 4.5. Kết quả điều tra về thời gian bón phân và phương pháp (Trang 56)
Bảng 4.7. Tình hình sâu bệnh hại vải ở giai đoạn hoa và quả - Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Biện Pháp Canh Tác Hữu Cơ Đến Sinh Trưởng, Năng Suất, Chất Lượng Vải Thiều Thanh Hà Tại Huyện Lục Ngạn Tỉnh Bắc Giang
Bảng 4.7. Tình hình sâu bệnh hại vải ở giai đoạn hoa và quả (Trang 61)
Bảng 4.9. Ảnh hưởng c ủa cây trồ ng xen đến khả  nă ng ra hoa, đậu quả - Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Biện Pháp Canh Tác Hữu Cơ Đến Sinh Trưởng, Năng Suất, Chất Lượng Vải Thiều Thanh Hà Tại Huyện Lục Ngạn Tỉnh Bắc Giang
Bảng 4.9. Ảnh hưởng c ủa cây trồ ng xen đến khả nă ng ra hoa, đậu quả (Trang 67)
Bảng 4.10. Ảnh hưởng c ủa một số  loạ i cây trồ ng xen đến một số y ếu t ố cấu thành - Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Biện Pháp Canh Tác Hữu Cơ Đến Sinh Trưởng, Năng Suất, Chất Lượng Vải Thiều Thanh Hà Tại Huyện Lục Ngạn Tỉnh Bắc Giang
Bảng 4.10. Ảnh hưởng c ủa một số loạ i cây trồ ng xen đến một số y ếu t ố cấu thành (Trang 68)
Bảng 4.11. Ảnh hưởng của các công thức bón phân đến - Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Biện Pháp Canh Tác Hữu Cơ Đến Sinh Trưởng, Năng Suất, Chất Lượng Vải Thiều Thanh Hà Tại Huyện Lục Ngạn Tỉnh Bắc Giang
Bảng 4.11. Ảnh hưởng của các công thức bón phân đến (Trang 69)
Bảng 4.12. Ảnh hưởng của các công thức bón phân đến - Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Biện Pháp Canh Tác Hữu Cơ Đến Sinh Trưởng, Năng Suất, Chất Lượng Vải Thiều Thanh Hà Tại Huyện Lục Ngạn Tỉnh Bắc Giang
Bảng 4.12. Ảnh hưởng của các công thức bón phân đến (Trang 70)
Bảng 4.14. Ảnh hưởng của biện pháp canh tác hữu cơ   đến thời gian xuất hiện và phân hoá lộc xuân - Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Biện Pháp Canh Tác Hữu Cơ Đến Sinh Trưởng, Năng Suất, Chất Lượng Vải Thiều Thanh Hà Tại Huyện Lục Ngạn Tỉnh Bắc Giang
Bảng 4.14. Ảnh hưởng của biện pháp canh tác hữu cơ đến thời gian xuất hiện và phân hoá lộc xuân (Trang 71)
Bảng 4.16. Ảnh hưởng củ a biện pháp canh tác hữ u cơ đến các y ếu tố  cấu - Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Biện Pháp Canh Tác Hữu Cơ Đến Sinh Trưởng, Năng Suất, Chất Lượng Vải Thiều Thanh Hà Tại Huyện Lục Ngạn Tỉnh Bắc Giang
Bảng 4.16. Ảnh hưởng củ a biện pháp canh tác hữ u cơ đến các y ếu tố cấu (Trang 73)
Bảng 4.18. So sánh các chỉ tiêu đánh giá cảm quan   Chỉ tiêu - Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Biện Pháp Canh Tác Hữu Cơ Đến Sinh Trưởng, Năng Suất, Chất Lượng Vải Thiều Thanh Hà Tại Huyện Lục Ngạn Tỉnh Bắc Giang
Bảng 4.18. So sánh các chỉ tiêu đánh giá cảm quan Chỉ tiêu (Trang 75)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm