1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

skkn giải bài tập vật lý bằng phương pháp động lực học, áp dụng tại trường THPT số 1 bảo yên

24 377 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 744,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ đó vạch ra tiến trình hướng dẫn hoạt độngdạy học gồm hoạt động của giáo viên và hoạt động của học sinh nhằm giúphọc sinh nắm vững kiến thức về các định luật Niuton và các lực cơ học,

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

I Lý do chọn đề tài:

Khi giảng dạy phần chương trình vật lí phổ thông trung học, đặc biệtchương trình vật lí lớp 10 tôi nhận thấy rằng các em học sinh thường lúng túngkhi gặp phải các bài toán động lực học Các em giải một cách mò mẫm, không

có định hướng rõ ràng, áp dụng công thức máy móc và nhiều khi không giảiđược Có nhiều nguyên nhân:

- Học sinh chưa có phương pháp khoa học để giải bài tập Vật lý

- Chưa xác định được mục đích của việc giải bài tập là xem xét, phântích các hiện tượng vật lý để đi đến bản chất Vật lý

- Nguyên nhân là do các em hiểu còn chưa sâu phương pháp động lựchọc mà sách giáo khoa đã trình bày Mặt khác còn có một nguyên nhân mangtính chất thói quen của học sinh là khi giải một bài toán vật lí phần lớn các emchưa định hình được hướng đi của bài (Như để đạt được yêu cầu của bài toán đặt

ra ta phải tìm đại lượng nào? và phải sử dụng đến những công thức liên quannào? ) mà làm bài theo thói quen và theo kiểu suy luận xuôi

Phương pháp động lực học rất quan trọng giúp giải được các bài toán cơhọc trong chương trình học Đây là phần có nhiều dạng bài tập ,có nhiều côngthức cần nhớ và việc áp dụng các công thức toán học tương đối phức tạp Khókhăn lớn nhất của các em là việc xác định bài toán thuộc dạng nào để ra đưaphương pháp giải phù hợp cho việc giải bài toán đó

Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi là nhiệm vụ quan trọng trong việc nângcao chất lượng giáo dục, bồi dưỡng nhân tài cho nhà trường nói riêng, cho địaphương nói chung Bồi dưỡng học sinh giỏi là công việc khó khăn và lâu dài, đòihỏi nhiều công sức của thầy và trò Ngay từ lớp 10 giáo viên phải bồi dưỡng thật

cơ bản các phương pháp giải bài tập, nhất là phương pháp động lực học

Chính vì vậy tôi lựa chọn đề tài này

II Đối tượng nghiên cứu.

Tôi tiến hành nghiên cứu tại trường THPT số 1 Bảo Yên với hai đối tượng

là học sinh lớp 10A1 và 10A2; 10A3 ban cơ bản

Trong giảng dạy tôi chia học sinh làm hai nhóm :

* Nhóm 1 – Nhóm học sinh đối chứng: học sinh lớp 10 như : 10A2; 10A3ban cơ bản tôi không áp dụng phương pháp động lực học

Trang 2

* Nhóm 2 – Nhóm học sinh thực nghiệm: học sinh lớp 10A1 tôi giảng dạy

cả bằng phương pháp động lực học

III Mục đích nghiên cứu

Xây dựng hệ thống bài tập, hướng dẫn phương pháp giải các dạng bài tậpbằng phương pháp động lực học Từ đó vạch ra tiến trình hướng dẫn hoạt độngdạy học (gồm hoạt động của giáo viên và hoạt động của học sinh) nhằm giúphọc sinh nắm vững kiến thức về các định luật Niuton và các lực cơ học, trên cơ

sở đó học sinh có thể tự lực vận dụng kiến thức để giải các bài tập cùng dạngtheo phương pháp đã đưa ra

1 Nghiên cứu lý luận dạy học về bài tập Vật lý để vận dụng vào hoạt

động dạy học

2 Nghiên cứu nội các bài tập vận dụng phương pháp động lực học trongnội dung kiến thức Vật lí 10 cơ bản và nâng cao nhằm xác định nội dung kiếnthức cơ bản học sinh cần nắm vững và các kĩ năng giải bài tập cơ bản học sinhcần rèn luyện

3 Soạn thảo hệ thống bài tập của phương pháp này, đưa ra từng dạng bàitập trong hệ thống bài tập này

1 Nghiên cứu lý luận về dạy học bài tập Vật lý

2 Nghiên cứu chương trình Vật lý trung học phổ thông: bao gồm sáchgiáo khoa vật lý 10, sách bài tập, một số sách tham khảo Vật lý 10 về phươngpháp động lực học

3 Lựa chọn các dạng bài tập trong sách giáo khoa, sách bài tập, sách thamkhảo phù hợp với nội dung, kiến thức

VI Giới hạn nghiên cứu.

1 Do hạn chế về thời gian, kiến thức và phương pháp giảng dạy thực tếnên hệ thống bài tập được lựa chọn còn mang tính chủ quan và chưa thật sựphong phú, nhất là phần bài tập nâng cao

2 Vật lý học là khoa học thực nghiệm, tuy nhiên trong đề tài vẫn chưa thểđưa ra các bài tập thực nghiệm, cũng như chưa thực hiện được phần thực nghiệm

sư phạm

VII Thời gian nghiên nghiên cứu.

Thời gian tiến hành trong năm học 2013-2014

Trang 3

PHẦN LÝ LUẬN CHUNG

I Những cơ sở lý luận của hoạt động giải bài tập vật lý phổ thông

1 Mục đích, ý nghĩa của việc giải bài tập

- Quá trình giải một bài tập Vật lý là quá trình tìm hiểu điều kiện của bàitoán, xem xét hiện tượng Vật lý đề cập, dựa vào kiến thức Vật lý để tìm ranhững cái chưa biết trên cơ sở những cái đã biết Thông qua hoạt động giải bàitập, học sinh không những củng cố lý thuyết và tìm ra lời giải một cách chínhxác, mà còn hướng cho học sinh cách suy nghĩ, lập luận để hiểu rõ bản chất củavấn đề, và có cái nhìn đúng đắn khoa học Vì thế, mục đích cơ bản đặt ra khi giảibài tập Vật lý là làm cho học sinh hiểu sâu sắc hơn những quy luật Vật lý, biếtphân tích và ứng dụng chúng vào những vấn đề thực tiễn, vào tính toán kĩ thuật

và cuối cùng là phát triển được năng lực tư duy, năng lực tư giải quyết vấn đề

- Muốn giải được bài tập Vật lý, học sinh phải biết vận dụng các thao tác

tư duy, so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa…để xác định được bản chấtVật lý Vận dụng kiến thức Vật lý để giải quyết các nhiệm vụ học tập và nhữngvấn đề thực tế của đời sống chính là thước đo mức độ hiểu biết của học sinh Vìvậy, việc giải bài tập Vật lý là phương tiện kiểm tra kiến thức, kĩ năng của họcsinh

2 Tác dụng của bài tập Vật lý trong dạy học Vật lý.

2.1 Bài tập giúp cho việc ôn tập, đào sâu, mở rộng kiến thức.

Trong giai đoạn xây dựng kiến thức, học sinh đã nắm được cái chung,cái khái quát của các khái niệm, định luật và cũng là cái trừu tượng Trong bàitập, học sinh phải vận dụng những kiến thức khái quát, trừu tượng đó vào nhữngtrường hợp cụ thể rất đa dạng, nhờ thế mà học sinh nắm được những biểu hiện

cụ thể của chúng trong thực tế Ngoài những ứng dụng quan trọng trong kĩ thuật,bài tập Vật lý sẽ giúp học sinh thấy được những ứng dụng muôn hình, muôn vẻtrong thực tiễn của các kiến thức đã học

Các khái niệm, định luật Vật lý thì rất đơn giản, còn biểu hiện của chúngtrong tự nhiên thì rất phức tạp, bởi vì các sự vật, hiện tượng có thể bị chi phốibởi nhiều định luật, nhiều nguyên nhân đồng thời hay liên tiếp chồng chéo lênnhau Bài tập sẽ giúp luyện tập cho học sinh phân tích để nhận biết được nhữngtrường hợp phức tạp đó

Trang 4

Bài tập Vật lý là một phương tiện củng cố, ôn tập kiến thức sinh động.Khi giải bài tập, học sinh phải nhớ lại các kiến thức đã học, có khi phải sử dụngtổng hợp các kiến thức thuộc nhiều chương, nhiều phần của chương trình

2.2 Bài tập có thể là điểm khởi đầu để dẫn dắt đến kiến thức mới.

Các bài tập nếu được sử dụng khéo léo có thể dẫn học sinh đến những suynghĩ về một hiện tượng mới hoặc xây dựng một khái niệm mới để giải thích hiệntượng mới do bài tập phát hiện ra

2.3 Giải bài tập Vật lý rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo vận dụng lý thuyết vào thực tiễn, rèn luyện thói quen vận dụng kiến thức khái quát.

Bài tập Vật lý là một trong những phương tiện rất quý báu để rèn luyện

kĩ năng, kĩ xảo vận dụng lý thuyết vào thực tiễn, rèn luyện thói quen vận dụngkiến thức khái quát đã thu nhận được để giải quyết các vấn đề của thực tiễn Cóthể xây dựng nhiều bài tập có nội dung thực tiễn, trong đó học sinh phải biết vậndụng lý thuyết để giải thích hoặc dự đoán các hiện tượng xảy ra trong thực tiễn

ở những điều kiện cho trước

2.4 Giải bài tập là một trong những hình thức làm việc tự lực cao của học sinh.

Trong khi làm bài tập, do phải tự mình phân tích các điều kiện của đầu

bài, tự xây dựng những lập luận, kiểm tra và phê phán những kết luận mà họcsinh rút ra được nên tư duy học sinh được phát triển, năng lực làm việc tự lựccủa họ được nâng cao, tính kiên trì được phát triển

2.5 Giải bài tập Vật lý góp phần phát triển tư duy sáng tạo của học sinh.

Việc giải bài tập Vật lý đòi hỏi phải phân tích bài toán để tìm bản chấtvật lý với mức độ khó được nâng dần lên giúp học sinh phát triển tư duy

Có nhiều bài tập Vật lý không chỉ dừng lại trong phạm vi vận dụngnhững kiến thức đã học mà còn giúp bồi dưỡng cho học sinh tư duy sáng tạo.Đặc biệt là những bài tập giải thích hiện tượng, bài tập thí nghiệm, bài tập thiết

Trang 5

II Phương pháp giải bài tập Vật lý.

Đối với học sinh phổ thông, vấn đề giải và sửa bài tập gặp không ít khó

khăn vì học sinh thường không nắm vững lý thuyết và kĩ năng vận dụng kiếnthức Vật lý Vì vậy các em giải một cách mò mẫm, không có định hướng rõràng, áp dụng công thức máy móc và nhiều khi không giải được Có nhiềunguyên nhân:

- Học sinh chưa có phương pháp khoa học để giải bài tập Vật lý

- Chưa xác định được mục đích của việc giải bài tập là xem xét, phântích các hiện tượng vật lý để đi đến bản chất Vật lý

Việc rèn luyện cho học sinh biết cách giải bài tập một cách khoa học,đảm bảo đi đến kết quả một cách chính xác là một việc rất cần thiết Nó khôngnhững giúp học sinh nắm vững kiến thức mà còn rèn luyện kĩ năng suy luậnlogic, làm việc một cách khoa học, có kế hoạch

Quá trình giải một bài tập vật lý thực chất là quá trình tìm hiểu điều kiệncủa bài tập, xem xét hiện tượng vật lý, xác lập được những mối liên hệ cụ thểdựa trên sự vận dụng kiến thức vật lý vào điều kiện cụ thể của bài tập đã cho Từ

đó tính toán những mối liên hệ đã xác lập được để dẫn đến lời giải và kết luậnchính xác Sự nắm vững những mối liên hệ này sẽ giúp cho giáo viên địnhhướng phương pháp dạy bài tập một cách hiệu quả

Bài tập Vật lý rất đa dạng, cho nên phương pháp giải cũng rất phongphú Vì vậy không thể chỉ ra được một phương pháp nào cụ thể mà có thể ápdụng để giải được tất cả bài tập Từ sự phân tích như đã nêu ở trên, có thể vạch

ra một dàn bài chung gồm các bước chính như sau:

1 Tìm hiểu đầu bài, tóm tắt các dữ kiện.

- Đọc kĩ đề bài, tìm hiểu ý nghĩa của những thuật ngữ quan trọng, xácđịnh đâu là ẩn số, đâu là dữ kiện

- Dùng kí hiệu tóm tắt đề bài cho gì? Hỏi gì? Dùng hình vẽ mô tả lại tìnhhuống, minh họa nếu cần

2 Phân tích hiện tượng.

- Nhận biết các dữ liệu đã cho trong đề bài có liên quan đến những kiếnthức nào, khái niệm nào, hiện tượng nào, quy tắc nào, định luật nào trong vật lý

- Xác định các giai đoạn diễn biến của hiện tượng nêu trong đề bài, mỗigiai đoạn bị chi phối bởi những đặc tính nào, định luật nào Có như vậy học sinhmới hiểu rõ được bản chất của hiện tượng, tránh sự áp dụng máy móc công thức

Trang 6

3 Xây dựng lập luận.

Thực chất của bước này là tìm quan hệ giữa ẩn số phải tìm với các dữkiện đã cho Đối chiếu các dữ kiện đã cho và cái phải tìm liên hệ với nhau nhưthế nào, qua công thức, định luật nào để xác lập mối liên hệ Thành lập cácphương trình nếu cần với chú ý có bao nhiêu ẩn số thì có bấy nhiêu phươngtrình

Đối với những bài tập tổng hợp phức tạp, có hai phương pháp xây dựnglập luận để giải:

- Phương pháp phân tích: xuất phát từ ẩn số cần tìm, tìm ra mối liên hệgiữa ẩn số đó với một đại lượng nào đó theo một định luật đã xác định ở bước 2,diễn đạt bằng một công thức có chứa ẩn số Sau đó tiếp tục phát triển lập luậnhoặc biến đổi công thức này theo các dữ kiện đã cho Cuối cùng đi đến côngthức sau cùng chứa ẩn số và các dữ kiện đã cho

- Phương pháp tổng hợp: xuất phát từ dữ kiện đã cho của đầu bài, xâydựng lập luận hoặc biến đổi công thức diễn đạt mối quan hệ giữa các dữ kiện đãcho với các đại lượng khác để tiến dần đến công thức cuối cùng có chứa ẩn số vàcác dữ kiện đã cho

Đối với bài tập định tính: ta không cần tính toán nhiều mà chủ yếu sửdụng lập luận, suy luận logic dựa vào kiến thức vật lý để giải thích hoặc dự đoánhiện tượng xảy ra

Đối với bài tập trắc nghiệm trách quan: cần nắm thật vững kiến thứctrong sách giáo khoa, nếu không sẽ không nhận biết được trong các phương án

để lựa chọn đâu là phương án đúng Để làm tốt bài thi trắc nghiệm, ta nên chiaquỹ thời gian phù hợp với thời gian làm bài, đọc lướt qua toàn bộ câu trắcnghiệm câu nào chắc chắn thì trả lời luôn, và theo nguyên tắc dễ làm trước, khólàm sau Quay lại những câu chưa làm, đọc kĩ lại phần đề và gạch dưới nhữngchữ quan trọng, và không nên dừng lại tìm lời giải cho một câu quá lâu Cần lưu

ý là không nên bỏ trống câu nào vì ta sẽ được xác suất ¼ số câu trả lời đúngtrong số đó

4 Lựa chọn cách giải cho phù hợp.

Muốn giải được bài tập Vật lý, học sinh phải biết vận dụng các thao tác tưduy, so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa…để xác định hướng giải bàitập, việc làm này cũng đòi hỏi các em phải có các kiến thức toán học cơ bản, ápdụng phương pháp giải toán nhanh nhất để tìm ra kết quả

Trang 7

5 Kiểm tra, xác nhận kết quả và biện luận.

- Từ mối liên hệ cơ bản, lập luận giải để tìm ra kết quả

- Phân tích kết quả cuối cùng để loại bỏ những kết quả không phù hợpvới điều kiện đầu bài tập hoặc không phù hợp với thực tế Việc biện luận nàycũng là một cách để kiểm tra sự đúng đắn của quá trình lập luận Đôi khi, nhờ sựbiện luận này mà học sinh có thể tự phát hiện ra những sai lầm của quá trính lậpluận, do sự vô lý của kết quả thu được

III Lựa chọn và sử dụng bài tập trong dạy học Vật

1 Lựa chọn bài tập

Hệ thống bài tập mà giáo viên lựa chọn phải thỏa mãn các yêu cầu sau:

- Bài tập phải đi từ dễ tới khó, từ đơn giản đến phức tạp (phạm vi và sốlượng các kiến thức, kĩ năng cần vận dụng từ một đề tài đến nhiều đề tài, sốlượng các đại lượng cho biết và các đại lượng cần tìm…) giúp học sinh nắmđược phương pháp giải các loại bài tập điển hình

- Mỗi bài tập phải là một mắt xích trong hệ thống bài tập, đóng góp mộtphần nào đó vào việc củng cố, hoàn thiện và mở rộng kiến thức

- Hệ thống bài tập cần bao gồm nhiều thể loại bài tập: bài tập giả tạo vàbài tập có nội dung thực tế, bài tập luyện tập và bài tập sáng tạo, bài tập cho thừahoặc thiếu dữ kiện, bài tập mang tính chất ngụy biện và nghịch lý, bài tập cónhiều cách giải khác nhau và bài tập có nhiều lời giải tùy theo điều kiện cụ thểcủa bài tập mà giáo viên không nêu lên hoặc chỉ nêu lên một điều kiện nào đó

mà thôi

Bài tập giả tạo: là bài tập mà nội dung của nó không sát với thực tế, cácquá trình tự nhiên được đơn giản hóa đi nhiều hoặc ngược lại, cố ý ghép nhiềuyếu tố thành một đối tượng phức tạp để luyện tập, nghiên cứu Bài tập giả tạothường là bài tập định lượng, có tác dụng giúp học sinh sử dụng thành thạo cáccông thức để tính đại lượng nào đó khi biết các đại lượng khác có liên quan, mặc

dù trong thực tế ta có thể đo nó trực tiếp được

Bài tập có nội dung thực tế: là bài tập có đề cập đến những vấn đề có liênquan trực tiếp tới đối tượng có trong đời sống, kĩ thuật Dĩ nhiên những vấn đề

đó đã được thu hẹp và đơn giản hóa đi nhiều so với thực tế Trong các bài tập cónội dung thực tế, những bài tập mang nội dung kĩ thuật có tác dụng lớn về mặtgiáo dục kĩ thuật tổng hợp Nội dung của các bài tập này phải thỏa mãn các yêucầu:

Trang 8

- Nguyên tắc hoạt động của các đối tượng kĩ thuật nói đến trong bài tậpphải gắn bó mật thiết với những khái niệm và định luật vật lý đã học.

- Đối tượng kĩ thuật này phải có ứng dụng khá rộng rãi trong thực tiễn sảnxuất của nước ta hoặc địa phương nơi trường đóng

- Số liệu trong bài tập phải phù hợp với thực tế sản xuất

- Kết quả của bài tập phải có tác dụng thực tế, tức là phải đáp ứng một vấn

đề thực tiễn nào đó

Khi ra cho học sinh những bài tập vật lý có nội dung kĩ thuật, cần có bàitập không cho đầy đủ dữ kiện để giải, học sinh có nhiệm vụ phải tìm những dữkiện đó bằng cách tiến hành các phép đo hoặc tra cứu ở các tài liệu

Bài tập luyện tập: được dùng để rèn luyện cho học sinh áp dụng các kiếnthức đã học để giải từng loại bài tập theo mẫu xác định Việc giải những bài tậploại này không đòi hỏi tư duy sáng tạo của học sinh mà chủ yếu cho học sinhluyện tập để nằm vững cách giải đối với từng loại bài tập nhất định

Bài tập sáng tạo: là bài tập mà các dữ kiện đã cho trong đầu bài không chỉdẫn trực tiếp hay gián tiếp cách giải Các bài tập sáng tạo có tác dụng rất lớntrong việc phát triển tính tự lực và sáng tạo của học sinh, giúp học sinh nắmvững kiến thức chính xác, sâu sắc và mềm dẻo Bài tập sáng tạo có thể là bài tậpgiải thích một hiện tượng chưa biết trên cơ sở các kiến thức đã biết Hoặc là bàitập thiết kế, đòi hỏi thực hiện một hiện tượng thực, đáp ứng những yêu cầu đãcho

2 Sử dụng hệ thống bài tập.

- Các bài tập đã lựa chọn có thể sử dụng ở các khâu khác nhau của quátrình dạy học: nêu vấn đề, hình thành kiến thức mới củng cố hệ thống hóa, kiểmtra và đánh giá kiến thức kĩ năng của học sinh

- Trong tiến trình dạy học một đề tài cụ thể, việc giải hệ thống bài tập màgiáo viên đã lựa chọn cho học sinh thường bắt đầu bằng những bài tập định tínhhay những bài tập tập dợt Sau đó học sinh sẽ giải những bài tập tính toán, bàitập đồ thị, bài tập thí nghiệm có nội dung phức tạp hơn Việc giải những bài tậptính toán tổng hợp, những bài tập có nội dung kĩ thuật với dữ kiện không đầy đủ,những bài tập sáng tạo có thể coi là sự kết thúc việc giải hệ thống bài tập đãđược lựa chọn cho đề tài

- Cần chú ý cá biệt hóa học sinh trong việc giải bài tập vật lý, thộng quacác biện pháp sau

Trang 9

+ Biến đổi mức độ yêu cầu của bài tập ra cho các loại đối tượng học sinhkhaac1 nhau, thể hiện ở mức độ trừu tượng của đầu bài, loại vấn đề cần giảiquyết, phạm vi và tính phức hợp của các số liệu cần xử lý, loại và số lượng thaotác tư duy logic và các phép biến đổi toán học cần sử dụng, phạm vi và mức độcác kiến thức, kĩ năng cần huy động.

+ Biến đổi mức độ yêu cầu về số lượng bài tập cần giải, về mức độ tự lựccủa học sinh trong quá trình giải bài tập

IV Hướng dẫn học sinh giải bài tập bằng phương pháp động lực học.

1 Định nghĩa phương pháp động lực học.

Phương pháp động lực học là phương pháp vận dụng ba định luật Niu-tơn

(nhất là định luật II) và các lực cơ học để giải các bài toán cơ học

2 Những lưu ý khi giải bài tập bằng phương pháp động lực học.

2.1 Chọn vật nào.

Muốn áp dụng định luật II Niu-tơn thì ta phải biết áp dụng nó cho vậtnào

Trong các bài toán thí dụ dưới đây, ta đều chọn hệ quy chiếu gắn với mặtđất (HQC quán tính)

Trang 10

Chọn hệ trục toạ độ làm hệ quy chiếu để khảo sát chuyển động Khảo sátcác phương trình chuyển động theo từng phương của từng trục toạ độ: chiếu cácphương trình véc tơ trên lên các trục toạ độ đã chọn.

Trong đó Fx, Fy là các giá trị đại số của hình chiếu của hợp lực, ax, ay làcác giá trị đại số của vectơ gia tốc

2.5 Giải hệ phương trình trong đó có những đại lượng đã biết và những đại lượng phải tìm.

3 Các nguyên tắc cơ bản

Khi sử dụng các phương pháp định luật Niuton thì định luật II là phươngtrình cơ bản( định luật I coi là trường hợp riêng của định luật II), còn định luậtIII được coi như những phương trình phụ giúp ta loại bỏ các lực tương hỗ đểđơn giản hóa các giải

Nếu hệ nhiều vật ta phải viết cho mỗi vật một phương trình định luật IINiuton và giải hệ phương trình đó

Vì phương trình định luật II Niuton là phương trình vecto nên để thuậntiện cho tính toán ta phải chuyển phương trình đó thành các phương trình vôhướng Muốn vật ta chọn hệ trục tọa độ thích hợp, rồi chiếu phương trình vectoxuống các trục tọa độ Do đó, thay việc giải phương trình vecto, ta giải phươngtrình vô hướng

4 Trình tự giải bài toán bằng phương pháp động lực học

Để giải bài toán động lực học ta thực hiện theo các bước sau:

Bước 1: Đọc kĩ bài ra, phân tích hiện tượng cơ học xảy ra trong bài toán

để thấy được mối liên hệ giữa các lực, để vẽ được đúng chiều các lực (ví dụ nếukhông biết được chiều trượt của vật ta không biết được chiều của lực ma sát trượt) Xác định các dữ kiện và ẩn số

Vẽ hình và biểu diễn đầy đủ các lực tác dụng lên từng vật trên hình vẽ

Bước 2: Viết cho mỗi vật một phương trình động lực học dạng vecto (tức

là phương trình định luật II Niuton) Trong mỗi phương trình phải viết đầy đủ các lực tác dụng lên từng vật

Bước 3: Chọn hệ quy chiếu thích hợp rồi chiếu phương trình lên trục tọa

độ ta đưa về phương trình vô hướng Nếu ẩn số nhiều hơn số phương trình vô hướng thì ta phải tìm thêm các phương trình phụ Đó là phương trình liên hệ

Trang 11

các lực hoặc phương trình liên hệ giữa các đặc trưng động học như vận tốc, gia tốc, đường đi giữa các vật hoặc cùng một vật.Việc tìm ra các phương trình phụ

rễ dàng nếu bước phân tích các hiện tượng cơ học xảy ra tiến hành kĩ lưỡng

Bước 4: Khi tổng số phương trình vô hướng và các phương trình phụ

bằng số ẩn của bài toán thì ta tiến hành giải các phương trình đó để tìm ẩn số

Bước 5: Kiểm tra và biện luận

5 Các bài toán động lực học.

Trong động lực học, người ta chia làm hai loại bài toán sau đây:

Bài toán thuận của động lực học là biết chuyển động của chất điểm, xácđịnh lực gây ra chuyển động

Bài toán ngược của động lực học là biết các lực tác dụng lên chất điểm vànhững điều kiện ban đầu của chuyển động, xác định chuyển động của chất điểm

5.1 Bài toán thuận của động lực học.

Để giải loại bài toán này, trước tiên cần phải xác định gia tốc của chấtđiểm, sau đó sẽ áp dụng công thức để tìm lực tác dụng lên chất điểm

5.2 Bài toán ngược của động lực học.

Để giải bài toán ngược cần xác định cụ thể các lực tác động lên từng chấtđiểm, sau đó áp dụng tìm gia tốc mà chất điểm thu được Nếu biết vận tốc và vịtrí ban đầu của chất điểm thì bằng cách lấy tích phân của gia tốc a ta có thể xácđịnh được vận tốc và tọa độ của chất điểm theo thời gian, nghĩa là có thể biếtđược phương trình chuyển động cũng như phương trình quĩ đạo của chất điểm

Trang 12

PHẦN VẬN DỤNG

Dạng 1 : Bài toán áp dụng định luật II Niu-tơn

mặt ngang), dưới tác dụng của lực F

nằm ngang có độ lớn không đổi Xác địnhgia tốc chuyển động của vật trong hai trường hợp:

ngang là 180N Hộp có khối lượng 35 kg Hệ số ma sát trượt giữa hộp và sàn là0,27 Hãy tìm gia tốc của hộp Lấy g = 9,8m/s2

Áp dụng định luật II Niu-tơn theo hai trục toạ độ:

Ox: F – F ms = m.a

Oy : N - P = 0

Ngày đăng: 25/05/2016, 22:09

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình vẽ. Đầu dưới 2 lò xo nối với một vật khối lượng m - skkn giải bài tập vật lý bằng phương pháp động lực học, áp dụng tại trường THPT số 1 bảo yên
Hình v ẽ. Đầu dưới 2 lò xo nối với một vật khối lượng m (Trang 21)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w