Kết quả nghiên cứu khả năng sinh trưởng phát triển, năng suất, chất lượng tình hình sâu bệnh hại của bưởi Phục Hòa.. Tuy nhiên cam quýt mới chỉ thực sự phát triển mạnh trong thời kỳ sau
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
–––––––––––––––––––––
NÔNG TRUNG HIẾU
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT THÂM CANH
GIỐNG BƯỞI PHỤC HÒA CAO BẰNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
THÁI NGUYÊN - 2010
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
–––––––––––––––––––––
NÔNG TRUNG HIẾU
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT THÂM CANH
GIỐNG BƯỞI PHỤC HÒA CAO BẰNG
Chuyên ngành: Trồng Trọt
Mã số: 60 62 01
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học:
1 PGS.TS NGUYỄN HỮU HỒNG
2 PGS.TS ĐÀO THANH VÂN
THÁI NGUYÊN - 2010
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ cho một học vị nào Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn này đã được cảm ơn Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nông Trung Hiếu
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này Tôi nhận được sự chỉ dẫn tận tình của Thầy: PGS.TS Nguyễn Hữu Hồng, Trưởng phòng Đào tạo, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, thầy PGS.TS Đào Thanh Vân, Phó trưởng khoa Nông học Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên về phương pháp nghiên cứu, thu thập số liệu và tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn và tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
Thầy giáo: PGS.TS Nguyễn Hữu Hồng, PGS.TS Đào Thanh Vân đã giúp đỡ, hướng dẫn và động viên để tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp Khoa Sau đại học, Khoa Nông học - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tạo điều kiện trong quá trình học tập và nghiên cứu
UBND huyện Phục Hòa, các đơn vị đã tạo điều kiện, giúp đỡ, các gia đình tại Thôn Hưng Long, Tà Lùng, Phục Hòa, Cao Bằng đã tạo điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn toàn thể gia đình, bạn bè gần xa, đồng nghiệp đơn vị, cơ quan đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ về mọi mặt, khuyến khích động viên hoàn thành luận văn khoa học này
Xin trân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Nông Trung Hiếu
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Yêu Cầu 3
Chương 1: TỔNG QUAN SƠ LƯỢC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
1.2 Tình hình sản xuất cây ăn quả có múi trên thế giới 5
1.3 Tình hình sản xuất cây ăn quả có múi ở Việt Nam 10
1.3.1 Thực trạng phát triển cam quýt ở Việt Nam 10
1.3.2 Những khó khăn trong sản xuất cây ăn quả nói chung và cây cam quýt nói riêng ở Việt Nam 13
1.4 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 14
1.4.1 Nghiên cứu về nguồn gốc và phân loại 14
1.4.2 Nghiên cứu về giống 18
1.4.3 Nghiên cứu về tính trạng và tính thích ứng của cây bưởi 20
1.4.4 Nghiên cứu về sinh lý, kỹ thuật canh tác 23
1.4.5 Ảnh hưởng của quá trình thụ phấn đến năng suất, chất lượng quả của cây có múi 27
1.4.6 Đặc điểm một số giống bưởi triển vọng ở nước ta 27
Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 31
2.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 31
2.2.1 Nội dung nghiên cứu 31
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu 31
2.2.3 Công thức thí nghiệm 32
Trang 62.2.4 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp theo dõi 34
Chương 3: KẾT QUẢ THẢO LUẬN 38
3.1 Điều tra đánh giá hiện trạng, phát hiện các yếu tố hạn chế trong sản xuất bưởi tại huyện Phục Hoà 38
3.2 Kết quả nghiên cứu khả năng sinh trưởng phát triển, năng suất, chất lượng tình hình sâu bệnh hại của bưởi Phục Hòa 41
3.2.1 Đặc điểm của những cây bưởi tốt được chọn tại Phục Hoà 41
3.2.2 Chất lượng quả của các cây bưởi được chọn 57
3.2.3 Tình hình sâu, bệnh hại 62
3.3 Kết quả áp dụng một số biện pháp thâm canh trong sản xuất bưởi Phục Hòa 66
3.3.1 Kết quả nghiên cứu sử dụng phân bón lá 66
3.3.2 Kết quả nghiên cứu sử dụng chất điều tiết sinh trưởng 70
3.3.3 Kết quả ảnh hưởng của thụ phấn bổ sung đến khả năng đậu quả, chất lượng quả của cây 74
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 78
5.1 Kết luận 78
5.2 Đề nghị 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80 PHỤ LỤC
MỘT SỐ HÌNH ẢNH MINH HOẠ
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Diện tích, năng suất, sản lượng bưởi trên thế giới 6
Bảng 1.2 Sản lượng bưởi quả ở một số quốc gia sản xuất bưởi chủ yếu trên thế giới 7
Bảng 1.3 Diện tích cam, chanh, quýt phân theo địa phương 11
Bảng 1.4 Diện tích cho sản phẩm quả cam quýt phân theo địa phương 13
Bảng 1.5 Bảng tiêu chuẩn phân loại quả bưởi Sa Điền 30
Bảng 3.1 Các biện pháp kỹ thuật đối với cây bưởi 39
Bảng 3.2 Tuổi cây và hình thức nhân giống của những cây bưởi được chọn 42
Bảng 3.3 Đặc điểm hình thái cây các cây bưởi được chọn 44
Bảng 3.4 Đặc điểm hình thái lá các cây bưởi được chọn 46
Bảng 3.5 Đặc điểm sinh trưởng và tỷ lệ các loại cành của vụ Xuân các cây bưởi được chọn 48
Bảng 3.6 Đặc điểm sinh trưởng của cành Hè các cây bưởi được chọn 50
Bảng 3.7: Tình hình ra hoa của các cây bưởi được chọn 52
Bảng 3.8 Tỷ lệ đậu quả tự nhiên của các cây bưởi được chọn 54
Bảng 3.9 Sự tăng trưởng đường kính quả của các cây bưởi được chọn 56
Bảng 3.10 Đặc điểm hình thái quả của các cây bưởi được chọn 59
Bảng 3.11 Chỉ tiêu chất lượng quả các cây bưởi được chọn 60
Bảng 3.12 Thành phần sinh hoá quả các cây bưởi được chọn 61
Bảng 3.13 Tình hình sâu hại chính trên các cây bưởi được chọn 62
Bảng 3.14 Tình hình bệnh hại chính trên các cây bưởi tuyển chọn 64
Bảng 3.15 Ảnh hưởng sử dụng phân bón lá đến tình hình ra hoa của cây bưởi Phục Hòa 67
Bảng 3.16 Ảnh hưởng sử dụng phân bón lá đến tỷ lệ đậu quả tự nhiên của bưởi Phục Hòa 67
Trang 8Bảng 3.17 Ảnh hưởng sử dụng phân bón lá đến sự tăng trưởng đường
kính quả của bưởi Phục Hoà 68
Bảng 3.18 Ảnh hưởng của phân bón lá đến các yếu tố cấu thành năng
suất và năng suất bưởi Phục Hòa 69
Bảng 3.19 Ảnh hưởng sử dụng phân bón lá đến tình hình sâu hại bưởi
Phục Hòa 70
Bảng 3.20 Ảnh hưởng của chất điều tiết sinh trưởng đến tình hình ra
hoa của bưởi Phục Hoà 71
Bảng 3.21 Ảnh hưởng của chất điều tiết sinh trưởng đến tỷ lệ đậu quả tự
nhiên của bưởi Phục Hoà 72 Bảng 3.22 Ảnh hưởng của chất điều tiết sinh trưởng đến sự tăng trưởng
đường kính quả của bưởi Phục Hoà 72
Bảng 3.23 Ảnh hưởng của chất điều tiết sinh trưởng đến các yếu tố cấu
thành năng suất và năng suất bưởi Phục Hòa 73
Bảng 3.24 Ảnh hưởng của chất điều tiết sinh trưởng đến tình hình sâu
hại của bưởi Phục Hòa 74
Bảng 3.25 Ảnh hưởng thụ phấn bổ sung đến tỷ lệ đậu quả tự nhiên của
bưởi Phục Hoà 75 Bảng 3.26 Ảnh hưởng thụ phấn bổ sung đến sự tăng trưởng đường kính
quả của bưởi Phục Hoà 76
Bảng 3.27 Ảnh hưởng thụ phấn bổ sung đến đặc điểm hình thái quả của
bưởi Phục Hòa 76
Bảng 3.28 Ảnh hưởng thụ phấn bổ sung đến chỉ tiêu chất lượng quả của
bưởi Phục Hòa 77
Trang 9Đã có nhiều mô hình sản xuất cây ăn quả thành công ở miền núi phía Bắc Đó là vùng vải Lục Ngạn (Bắc Giang), vùng cam quýt ở Bắc Quang (Hà Giang), Hàm Yên (Tuyên Quang), vùng mận Mộc Châu (Sơn La) và Bắc Hà (Lao Cai), vùng đào ở Sa Pa (Lào Cai) … Đặc biệt trong tương lai gần ngành trồng cây ăn quả là một trong những ngành sản xuất hàng hoá lớn và có giá trị xuất khẩu cao
Mặc dù chúng ta có nguồn tài nguyên cây ăn quả khá phong phú và đa dạng nhưng theo các chuyên gia cây ăn quả (Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp miền Nam) nhận định: hiện nay, chúng ta phải lựa chọn một số chủng loại cây ăn trái có ưu thế và khả năng cạnh tranh để đầu tư các khâu kỹ thuật, xây dựng thương hiệu và chiến lược xúc tiến thương mại nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và chiếm lấy thị trường thế giới Theo các chuyên gia này, hiện tại chúng ta cần chú ý đến một số chủng loại cây ăn trái như: thanh long, vú sữa, măng cụt, ổi, sơri và bưởi
Bưởi là loại cây ăn quả có giá trị kinh tế cao và có vai trò quan trọng trong mô hình VAC cũng như sản xuất trang trại Trồng bưởi không chỉ đem lại giá trị kinh tế mà còn có giá trị dinh dưỡng khá tốt Theo GS-TS Trần Thế Tục thành phần hoá học có trong 100g quả bưởi tươi phần ăn đựợc: Đường 6
- 12%, lipit 0,1g, protein 0,9g, vitamin C 90mg, P205 12mg, xenluloza 0,2g, ngoài ra còn có các loại vitamin B1, B2,… caroten 0,2mg, các khoáng chất ở
Trang 10dạng vi lượng rất cần thiết cho cơ thể con người Trong 1kg bưởi phần ăn được cung cấp 530 - 600 calo nguồn năng lượng dễ tiêu Ngoài dùng ăn tươi bưởi còn được chế biến thành rất nhiều sản phẩm có giá trị như: nước quả, mứt,… trong công nghiệp chế biến vỏ, hạt để lấy tinh dầu, bã tép để sản xuất pectin có tác dụng bồi bổ cơ thể, đặc biệt bưởi có tác dụng rất tốt để chữa các bệnh đường ruột, tim mạch
Ở Việt Nam, có một số giống có chất lượng quả tốt được thị trường ưa chuộng, được xem là đặc sản của một số vùng Đáng chú ý là bưởi Năm Roi ở Vĩnh Long, Tiền Giang, bưởi Đoan Hùng ở Phú Thọ, bưởi Thanh Trà (Huế), bưởi Phúc Trạch ở Hương Khê, Hà Tĩnh …
Toàn tỉnh Cao Bằng có khoảng 140.942 ha đất có khả năng phát triển nông nghiệp, chiếm 21% diện tích tự nhiên Phần lớn đất được sử dụng để phát triển cây hàng năm, chủ yếu là cây lương thực, cây ăn quả Khí hậu Cao Bằng mang tính nhiệt đới gió mùa lục địa núi cao và có đặc trưng riêng so với các tỉnh miền núi khác thuộc vùng Đông Bắc, có tiểu vùng có khí hậu Á nhiệt đới Đặc điểm này đã tạo cho Cao Bằng những lợi thế để hình thành các vùng sản xuất cây lương thực, cây ăn quả Trước những tiềm năng về đất đai, khí hậu, nhân dân Cao Bằng đã và đang khai thác và phát huy tiềm năng để phát triển kinh tế trang trại, trồng cây ăn quả
Tại huyện Phục Hoà, có một giống bưởi được bà con trồng từ rất lâu được phát hiện như một giống bưởi quý, có nguồn gốc từ giống bưởi Sa Điền, Trung Quốc Đặc điểm của giống bưởi này rất gần với những tiêu chí đánh giá giống bưởi tốt đó là: Cây sinh trưởng khoẻ, năng suất ổn định, vách múi
dễ bóc, tép bó chặt, ngọt, không he đắng, đặc biệt thời gian bảo quản rất lâu (3- 4 tháng), Tuy nhiên trong những năm qua do thiếu đầu tư và chăm sóc không đúng kỹ thuật nên giống bưởi này mai một dần, dẫn đến năng suất và chất lượng giảm sút đáng kể Vì vậy, để góp phần khôi phục giống bưởi này
Trang 11chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học và một số
biện pháp kỹ thuật thâm canh giống bưởi Phục Hoà, Cao Bằng”
2 Mục đích nghiên cứu
- Tìm hiểu tình hình sản xuất bưởi của huyện Phục Hoà tỉnh Cao Bằng
- Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học và áp dụng một số biện pháp thâm canh giống bưởi Phục Hoà tỉnh Cao Bằng
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN SƠ LƯỢC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Cây họ cam quýt có những nhu cầu nhất định về môi trường và về dinh dưỡng Mỗi một vùng nhất định, do tính phong phú, đa dạng của điều kiện sinh thái, đã sinh ra nhiều chủng loại và có nhiều biến dị để chọn lọc Qua quá trình chọn lọc tự nhiên có những chủng loại cam quýt có đặc tính quý đáp ứng được nhu cầu của sản xuất
Do đặc tính thích ứng của giống cây ăn quả có múi với điều kiện môi truờng (chủ yếu là điều kiện khí hậu) và qua các quá trình di thực (bằng con đường nhân giống vô tính) nhiều giống còn duy trì được một số đặc tính tốt của cây mẹ nơi nguyên sản, ngoài ra nó còn thể hiện một số đặc tính tốt hơn
Công tác chọn giống rất có ý nghĩa trong việc tìm ra các giống quý mang đặc tính riêng của từng vùng, như một thứ đặc sản (nguồn gen quý) của một vùng nhất định có thể duy trì và nhân rộng ra sản xuất bằng các phương pháp nhân giống vô tính Dùng phương pháp chọn lọc vô tính để cố định các đặc tính tốt tiếp tục chọn lọc sau khi đã chọn dòng bởi vì vẫn có biến dị sau khi các cá thể được nhân ra từ phương pháp vô tính
Điều tra tuyển chọn các nguồn giống sẵn có tại địa phương là biện pháp
có tính hiệu quả cao, để giải quyết vấn đề cấp bách đó là nhanh chóng duy trì
và phục tráng các giống quý của địa phương, chọn lựa phương pháp hợp lý để nhân giống ra sản xuất
Với các loài cây ăn quả (trừ những giống cho quả không hạt) nguồn hạt phấn khác nhau ảnh hưởng rất lớn đến tỷ lệ đậu quả, số lượng hạt và cuối cùng là năng suất, chất lượng quả [38], [39], [24] Theo K el al Konishi (1994) [36], ở một số cây ăn quả như: Cây hồng (D.Kabi) có 2 nhóm giống
Trang 13chính, nhóm tự thụ phấn và nhóm giao phấn, với nhóm giao phấn khi cho tự thụ quả rất bé hoặc rụng 100% Ở cây nho, một số giống tự thụ cho qủa rất nhỏ và nguồn hạt phấn khác nhau cho tỷ lệ đậu quả rất khác nhau Theo D.de Nattancount (1997) [40], ở cam quýt, nhiều giống khi tự thụ cho quả không hạt và phát triển có độ lớn bình thường, trong khi đó một số giống cam quýt khác khi tự thụ hoa rụng 100% nghĩa là những giống này muốn kết quả cần phải có quá trình giao phấn Mỗi liên quan giữa quá trình tự thụ và thụ phấn chéo đến việc tạo quả không hạt và tỷ lệ đậu quả là các quá trình có cơ chế khác nhau và rất phức tạp
1.2 Tình hình sản xuất cây ăn quả có múi trên thế giới
Theo Wakana A Kira (1998) [47], trong nhiều thập kỷ qua, năng suất, diện tích và sản lượng cam quýt không ngừng tăng Vành đai trồng trọt cam quýt được trồng trải dài từ 400 vĩ Bắc xuống 400 vĩ Nam, có nghĩa là chỉ trồng được ở vùng Nhiệt đới và Á nhiệt đới Hiện nay vùng cây ăn quả nhiệt đới như Việt Nam, Thái Lan, Cu Ba, Malaixia và miền Nam Trung Quốc giáp Việt Nam đang gặp những khó khăn lớn về phát triển cam quýt do một số bệnh hại trên cây có múi như bệnh greening gây nên Sức tàn phá của các loại dịch bệnh này khiến cho diện tích cam quýt của một số nước nằm trong vùng nhiệt đới bị thu hẹp hoặc không tăng lên được Trái lại, khí hậu vùng Á nhiệt đới không cho phép các loại bệnh hại cam quýt điển hình là bệnh greening phát triển mạnh, chính vì thế vùng cam quýt Á nhiệt đới có xu hướng ngày càng phát triển mạnh về diện tích, năng suất, sản lượng, chất lượng quả cũng như đầu tư các biện pháp kỹ thuật về giống, canh tác
Trên thế giới, tính đến năm 2007, diện tích trồng cây bưởi đạt 289.248
ha, năng suất bình quân đạt 174,971 ta/ha và sản lượng đạt 5.061.023 tấn Trong vòng 5 năm từ 2003-2007, diện tích trồng cây bưởi tăng khoảng 32.947
ha, sản lượng tăng thêm 248.478 tấn Tuy nhiên, năng suất có chiều hướng
Trang 14giảm nhẹ, năng suất quả bưởi đạt thấp nhất (152.82 tạ/ha), năm 2004 điều kiện thời tiết thuận lợi, năng suất quả bưởi trên thế giới đạt cao nhất (18,36 tạ/ha), đến năm 2007, năng suất có phần tăng lên (bảng 1.1).
So với năm 2005 đạt 174,97 tạ/ha, con số này cho thấy năng suất bưởi quả vẫn chưa đạt được đỉnh cao như năm 2004 Sản lượng trong 5 năm từ 2003-2007, năm 2005 đạt thấp nhất do những rủi ro thiên tai, theo thứ tự giảm dần, sản lượng qua 5 năm là: 2007, 2004, 2003, 2006 và 2005
Bảng 1.1 Diện tích, năng suất, sản lượng bưởi trên thế giới
Diện tích
(ha) 256.301 252.024 260.236 258.371 289.248 Năng suất
(tạ/ha) 186,36 196,56 152,82 177,086 174,97 Sản lượng
(tấn) 4.776.545 4.953.902 3.977.055 4.575.412 5.061.023
(Nguồn FAO,2009)
Một số quốc gia sản xuất bưởi chủ yếu trên thế giới gồm các quốc gia Châu Mỹ (Mỹ, Braxin, Mêxico…), Châu Á gồm: Trung Quốc, Ấn Độ, Malayxia, Thái Lan… (bảng 1.2)
Trung Quốc: bưởi được trồng nhiều ở các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Tứ Xuyên, Hồ Nam, Triết Giang, Phúc Kiến,… Sản lượng bưởi quả năm 2007 của Trung Quốc đạt 547.000 tấn Trung Quốc có một số giống bưởi nổi tiếng: bưởi Văn Đán, Sa Điền, bưởi ngọt Quân Khê,… được Bộ Nông nghiệp Trung Quốc công nhận là hàng nông nghiệp chất lượng cao
Thái Lan: bưởi được trồng nhiều ở các tỉnh miền Trung, một phần của miền Bắc và miền Đông Năm 2007, Thái Lan trồng 12.000 ha và đạt sản
Trang 15lượng 22.000 tấn Thái Lan nổi tiếng với các giống bưởi như Cao Phuang, Cao Fan,…
Bảng 1.2 Sản lượng bưởi quả ở một số quốc gia sản xuất bưởi
chủ yếu trên thế giới
Trang 16Độ sẽ tăng gấp đôi diện tích trồng bưởi chùm cho xuất khẩu và sản lượng dự kiến tăng 30%
Philippine: là nước sản xuất nhiều bưởi Trong tập đoàn cây có múi sản phẩm bưởi quả chiếm 33% (quýt: 44% và cam: 11%) Năm 2007, Philippine
có khoảng hơn 5000 ha bưởi với sản lượng 42.560 tấn Các giống bưởi chủ yếu ở Philippine gồm 4 giống là: Caophuang có nguồn gốc Thái Lan, giống Amoy và Sunkiluk có nguồn gốc Trung Quốc, Fortich là giống địa phương
Mỹ: là quốc gia có sản lượng bưởi quả đứng đầu thế giới, trong đó chủ yếu là sản phẩm bưởi chùm Ở Mỹ, việc chọn tạo giống cam quýt nói chung
và giống bưởi nói riêng rất được chú trọng, vì vậy là quốc gia có bộ giống bưởi đưa vào sản xuất tốt nhất thế giới, với nhiều giống cho quả không hạt (thể bất dục đực, cái, thể tam bội,…) Năm 2007, sản lượng bưởi quả (chủ yếu
là bưởi chùm) của Mỹ đạt 1.407.950 tấn, và là quốc gia xuất khẩu bưởi chùm lớn nhất thế giới
Trên thế giới hiện nay có 3 vùng trồng cam quýt chủ yếu là vùng châu
Mỹ, Địa Trung Hải và châu Á Trong đó khu vực Bắc Mỹ là vùng trồng lớn nhất sau đó đến châu Á và Vùng Địa Trung Hải Theo thống kê của FAO, năm 1997 sản lượng bưởi của khu vực Bắc Mỹ là 3,497 triệu tấn chiếm 69,4% sản lượng bưởi của thế giới, các quốc gia có sản phẩm bưởi quả ngoài khu vực Bắc Mỹ có sản lượng khoảng 1.541 triệu tấn chiếm 30,6%
* Vùng cam quýt châu Mỹ
Là vùng rộng lớn và tập trung, gồm chủ yếu các nước Trung Mỹ, kéo lên phía bắc đến 400 vĩ Bắc và xuống phía Nam đến vĩ độ tương đương gồm các nước: Honduras, Jamaica, Mexico, Cuba, Dominica, Nicaragoa, Panama,
Mỹ, Costarica, Brazin, Argentina, Equado … Ngoài ra cam quýt còn được trồng ở nhà kính và những vùng ấm áp ven biển miền nam Canada Nhờ điều
Trang 17kiện thiên nhiên ưu đãi cũng như sự phát triển nhanh mọi mặt của lục địa châu Mỹ, cam quýt được phát triển mạnh cả về diện tích, năng suất, sản lượng Theo FAO (1998) [32], Cam Navel được chọn lọc ở đây; ngoài các giống cam ngọt, bưởi chùm cũng là sản phẩm chính thức của châu Mỹ với đặc điểm vỏ mỏng, cùi thịt thơm mềm, độ chua và ngọt vừa phải Châu Mỹ
là nơi sản xuất và xuất khẩu chủ yếu bưởi chùm, cam Navel và các giống cam ngọt khác
* Vùng trồng cam Địa Trung Hải và châu Âu
FAO (1998) [32], Vùng cam quýt Địa Trung Hải có lịch sử lâu đời hơn cam quýt châu Mỹ, được du nhập từ châu Á theo chân những người lính viễn chinh và các thuỷ thủ Ấn Độ Do ảnh hưởng của khí hậu đại dương khá ôn hoà và mát mẻ, điều kiện đất đai phù hợp nên nghề trồng cam quýt rất phát
triển, nổi tiếng với các giống có vị ngọt thuộc loài Citrus medica Theo tác giả
Reuther el al Walter (1978) [48], nhiều nước xuất khẩu và chế biến cam quýt
số lượng lớn như Tây Ban Nha, Italia, Israel … Vùng này có khí hậu và điều kiện sinh thái khá phù hợp đã giúp cho các loài cam quýt được trồng trọt có tuổi thọ cao mà vẫn cho năng suất khá
* Vùng cam quýt châu Á
Châu Á được mệnh danh là cái nôi của cam quýt, tuy có sản lượng cao ở Trung Quốc, Nhật Bản và Đài Loan nhưng do điều kiện kinh tế của các nước châu Á nên nghề trồng cam quýt chưa được chú trọng nhiều Công tác chọn tạo giống, kỹ thuật canh tác (trừ Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan) còn rất nhiều hạn chế so với các vùng trồng cam quýt khác trên thế giới Theo Dhamo K Butani (1991) [26], tuy nhiên nghề trồng cam quýt ở châu Á là sự pha trộn của kỹ thuật hiện đại (Nhật Bản, Đài Loan) và sự canh tác truyền thống như: Trung Quốc, Ấn Độ, Philippine tình hình sâu hại nhiều nghiêm trọng
Trang 181.3 Tình hình sản xuất cây ăn quả có múi ở Việt Nam
1.3.1 Thực trạng phát triển cam quýt ở Việt Nam
Cây có múi đã có lịch sử trồng trọt lâu đời ở nước ta Lê Quý Đôn (1962) [6] đã mô tả: Việt Nam có rất nhiều thứ cam: Cam Sen (còn gọi là liên cam), cam vú (nhũ cam) da sần vị rất ngon; cam chanh da mỏng và
mỡ, vừa ngọt thanh vừa có vị chua dịu; cam sành (sinh cam) vỏ dày, vị chua nhẹ, cam mật vỏ mỏng vị ngọt; cam giấy tức kim quất da rất mỏng màu hồng trông đẹp mắt vị chua; quất trục (cây quýt) ghi trong số sách cổ Trung Quốc là sản phẩm quý của phương Nam đem sang Trung Quốc trước tiên Các báo cáo của tác giả Tanaka (1945) [45], trong chuyến đi khảo sát châu Á đã nhắc đến loài cam quýt được trồng ở Việt Nam từ đầu thế kỷ
20 Hiện nay ở Nhật Bản có một số giống bưởi khá nổi tiếng, những giống bưởi này được Tanaka thu nhập từ vườn thực vật Sài Gòn mang về trồng thử nghiệm ở Nhật Bản
Tuy nhiên cam quýt mới chỉ thực sự phát triển mạnh trong thời kỳ sau năm 1954, thời kỳ xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đặc biệt là những năm
60 của thế kỷ 20 nhờ chính sách phát triển nông nghiệp của Chính phủ, diện tích và sản lượng cam quýt tăng nhanh; nhiều nông trường trồng cam quýt được hình thành ở miền Bắc như nông trường Sông Lô, Cao Phong, Sông Bôi, Thanh Hà, Vân Du, Đông Hiếu, Sông Con, Phủ Quỳ, Bố Hạ … với diện tích hàng ngàn ha cam quýt ở các nông trường quốc doanh này, cùng với các vùng trồng cam quýt truyền thống như bưởi Đoan Hùng, bưởi Phúc Trạch, cam Bố Hạ, quýt vàng Bắc Sơn, cam sành Hà Giang …nghề trồng cam quýt được coi là một nghề sản xuất mang lại hiệu quả cao và được nhiều người quan tâm
Trang 19Theo số liệu thống kê của Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn tính đến tháng 12 năm 2008, ở nước ta tổng diện diện tích trồng cây ăn quả nói chung đạt > 770.000 ha, trong đó cây ăn có múi khoảng > 87.000 ha, chiếm ~ 11,4 % Kết quả tổng hợp số liệu thống kê diện tích cây ăn quả có múi phân theo vùng qua các năm được trình bày tại bảng 1.3 Cụ thể như sau:
Bảng 1.3 Diện tích cam, chanh, quýt phân theo địa phương
Đơn vị tính: 1000 ha
Diện tích cam, chanh, quýt phân theo địa phương qua các năm
Diện tích CĂQ
cả nước STT
(Nguồn: Số liệu thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn năm 2009)
Qua bảng tổng hợp diện tích thống kê trên qua các năm/vùng, chúng tôi
có một số nhận xét sau:
Trang 20- Tổng diện tích cây ăn quả nói chung của cả nước tính đến năm 2008 đạt > 775.000 ha, so với tiềm năng đất đai có thể phát triển cây ăn quả của cả nước còn ở mức rất khiêm tốn
- Tổng diện tích cây cam quýt của cả nước so với diện tích cây ăn quả
cả nước chiếm tỷ lệ thấp đạt 11,3 % (87.500 ha/775.500ha)
- Nhìn chung diện tích cam quýt qua các năm (từ năm 2003- 2008) của miền Bắc và miền Nam có tăng, song tăng chênh lệch không nhiều so với tiềm năng lợi thế của từng miền
- Tổng diện tích cây ăn quả nói chung, diện tích cam quýt nói riêng của miền Nam lớn hơn nhiều so với miền Bắc, khả năng phát triển cây ăn quả của miền Nam nói chung, Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng, có lợi thế hơn miền Bắc về tiềm năng đất đai và điều kiện khí hậu
Hiện tại trong tổng số diện tích cam quýt > 87.000 ha trên cả nước có ~ 65.000 ha diện tích cho sản phẩm quả, ước đạt sản lượng biến động từ 700.000 tấn đến 800.000 tấn quả/năm, chủ yếu tập trung trồng ở những vùng
có điều kiện sinh thái thuận lợi, phù hợp cho sự sinh trưởng - phát triển của cam quýt như: Vùng đồng bằng Sông Hồng, Đông Bắc, Tây Bắc, Bắc Trung
Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, và đồng bằng Sông Cửu Long Kết quả số liệu diện tích thống kê cho sản phẩm/vùng trình bày tại bảng 1.4 Cụ thể như sau:
Qua số liệu tổng hợp thống kê diện tích cam quýt cho sản phẩm quả hàng năm (2001 - 2007) giữa hai miền (miền Bắc và miền Nam) cho thấy miền Nam có lợi thế so sánh hơn miền Bắc về tiềm năng (đất đai, khí hậu) phát triển cây ăn quả có múi
Trang 21Bảng 1.4 Diện tích cho sản phẩm quả cam quýt phân theo địa phương
(Nguồn: Số liệu thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn năm 2009)
1.3.2 Những khó khăn trong sản xuất cây ăn quả nói chung và cây cam quýt nói riêng ở Việt Nam (Đào Thanh Vân, Ngô Xuân Bình (2003) [22]).
- Nước ta có khí hậu nóng ẩm, do vậy sâu bệnh nhiều, gây hại không nhỏ đến sự sinh trưởng, phát triển và khả năng cho năng suất phẩm chất các loại quả
- Địa hình nước ta phức tạp, độ dốc cao (vùng cao chiếm 38% quỹ đất nông nghiệp toàn quốc, có 58,2% diện tích đồi núi có độ dốc >20%), lượng mưa lớn gây xói mòn, thoái hoá đất dẫn đến tuổi thọ của cây ăn quả thấp, nhiệm kỳ kinh tế ngắn
Trang 22- Chưa có qui hoạch và kế hoạch phát triển ngành cây ăn quả, chưa điều
tra khảo sát toàn diện trong cả nước và từng vùng sinh thái để định hình và
phát triển các loại cây ăn quả
- Giống cây ăn quả nước ta hiện nay hầu hết là giống địa phương, đã
thoái hoá, qui trình canh tác không hợp lý, năng suất thấp, chất lượng kém, sâu
bệnh nhiều Sản xuất phân tán, giá thành cao, chưa tạo được khối lượng sản
phẩm hàng hoá lớn, không phù hợp với chế biến công nghiệp và xuất khẩu
- Đầu tư cho nghiên cứu khoa học (chọn giống, nhân giống …) và ứng
dụng các tiến bộ kỹ thuật, chuyển giao công nghệ trong trồng trọt còn quá ít
Hoạt động khuyến nông còn yếu; hệ thống quản lý và cung cấp giống cây ăn
quả cho nhân dân còn chưa hoàn chỉnh, thiếu đồng bộ và chưa được quan tâm
đầy đủ
- Trình độ công nghệ và thiết bị chế biến lạc hậu, cơ sở hạ tầng còn yếu
và thiếu, vận chuyển và lưu thong trong nước còn chưa kịp thời, gây lãng phí
lớn Sản phẩm, bao bì còn đơn điệu, giá thành cao, chưa đủ sức cạnh tranh
trên thị trường, nhất là thị trường xuất khẩu
- Chưa có hệ thống chính sách hợp lý, đồng bộ, chưa lồng ghép được
các chương trình khuyến khích đầu tư, phát triển và tận dụng nguồn vốn trong
và ngoài nước
- Ý thức chấp hành các quy định về kiểm soát giống cây ăn quả, về bảo
vệ thực vật của nhân dân chưa cao nên sản xuất có nhiều giống xấu, giống bị
sâu bệnh, dẫn đến năng suất, chất lượng quả còn thấp
1.4 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
1.4.1 Nghiên cứu về nguồn gốc và phân loại
1.4.1.1 Nguồn gốc
Cây bưởi có tên khoa học là: Citrus grandis (L).Osbeck
Cây bưởi thuộc họ: Rustaceae
Trang 23Họ phụ: Aurantioideae
Chi: Citrus
Chi phụ: EuCitrus
Loài: Citrus maxima (grandis)
Theo sơ đồ phân loại cây có múi của Swingle, thì bưởi và bưởi chùm là hai loài khác nhau trong cùng một chi Citrus, tuy vậy bưởi đơn và bưởi chùm
có mối quan hệ chặt chẽ Theo Webber (1943) [50], bưởi chùm xuất hiện ở Barbados (Tây Ấn Độ) Năm 1930, Macfadyen đã phân bưởi chùm thành một
loài mới và lấy tên là Citrus paradisi Macf [42]
Như vậy, nguồn gốc của bưởi chùm đã được xác định ở Tây Ấn Độ Còn nguồn gốc của bưởi đơn hiện nay vẫn còn nhiều tranh luận
Theo Chawalit Niyomdham (1992) [28] cho rằng: Bưởi có nguồn gốc ở Malaysia, sau đó lan sang Indonêsia, Trung Quốc, phía Nam Nhật Bản, phía Tây Ấn Độ, Địa Trung Hải và Mỹ De condolle cũng cho rằng bưởi có nguồn gốc ở phía đông Malaysia kể cả các đảo Fiji và Friendly
Janata cho rằng: bưởi được thu thập từ những cây hoang dại ở Garohills, từ vùng nguyên sản này bưởi được chuyển đến phía Đông của vùng trồng cây có múi ở Yongtze và phía Nam đại dương theo đường Salween hoặc đường Songka [42]
Theo quan điểm của Giucopki để có tài liệu chắc chắn về nguồn gốc
của cây bưởi cần nghiên cứu các thực vật thuộc họ Rutaceae và nhất là họ phụ
Aurantioidea ở vùng núi Hymalaya miền Tây Trung Quốc và các vùng núi
thuộc bán đảo Đông Dương Theo Bùi Huy Đáp (1960) [4], một số tác giả Trung Quốc cho rằng: Cây bưởi hiện đang trồng ở Trung Quốc có thể được
du nhập Song sự du nhập phải từ trên 2000 năm
Cam, quýt thuộc họ Rutaceae giống Citrus fruits là cây trồng lâu năm
có diện phân bố rộng Nhiều kết quả nghiên cứu cho rằng cam quýt có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Hoàng Ngọc Thuận (1994) [15], nhiều
Trang 24tác giả cho rằng nguồn gốc quýt Kinh (Citrus nobilis lour) là ở miền Nam
Việt Nam, cam sành Bố Hạ, cam sành Hàm Yên, cam bù Hà Tĩnh, cam sen Đình Cả …
Vậy nguồn gốc của cây bưởi cho đến nay vẫn chưa được thống nhất Cây bưởi có thể có nguồn gốc tại Malaysia, Ấn Độ, Trung Quốc … Hiện nay, bưởi được trồng nhiều ở phía nam Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia, Philipines, Ấn Độ, Việt Nam …
1.4.1.2 Phân loại
Hiện nay tồn tại hai hệ thống phân loại cam quýt được nhiều người áp dụng Theo Tanaka (1945) [45], cam quýt gồm 160- 162 loài (specials), ông
quan sát thực tiễn sản xuất và cho rằng các giống cam quýt qua trồng trọt đã
có nhiều biến dị trở thành giống mới, Tanaka quan sát và ghi chép tỉ mỉ đặc điểm hình thái của các giống đã biến dị và phân chúng thành một loài mới hoặc giống mới với tên khoa học được bắt đầu bằng tên của giống hoặc loài
đã sinh ra chúng và kết thúc bằng chữ Horticulture Tanaka Swingle (1976) [44] đã phân chia cam quýt ra thành 16 loài, bảng phân loại của Swingle đơn giản hơn nên được sử dụng nhiều hơn, tuy vậy các nhà khoa học vẫn phải dùng bảng phân loại của Tanaka để gọi tên các giống cam quýt vì bảng phân loại này chi tiết đến từng giống
Bưởi (Citrus grandis): là loại quả to nhất trong các loài cam quýt, có vị
chua hoặc ngọt, bầu có từ 13- 15 noãn, eo lá khá lớn, hạt nhiều Hiện nay giống bưởi phần lớn thuộc dạng hạt đơn phôi và được trồng chủ yếu ở các nước nhiệt đới như Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam … Việt Nam có rất nhiều giống bưởi ngon nổi tiếng như bưởi Năm Roi, bưởi Da Xanh, bưởi Thanh Trà, bưởi Phúc Trạch, bưởi Phú Diễn, bưởi Đoan Hùng …
Bưởi chùm (Citrus paradisi): được đánh giá là dạng con lai tự nhiên của bưởi (Citirus grandis) vì vậy hình thái bưởi chùm khá giống với bưởi
Trang 25nhưng quả nhỏ hơn, eo lá cũng nhỏ hơn, quả nhỏ, cùi mỏng, vỏ mỏng, vị chua nhẹ Bưởi chùm có những giống ít hạt như Duncan, phần lớn các giống bưởi chùm có hạt đa phôi nên cũng có thể sử dụng làm gốc ghép Quả bưởi chùm
là món ăn tráng miệng được ưa chuộng ở châu Âu, người ta gọt nhẹ lớp vỏ mỏng bên ngoài rồi để cùi cắt thành các lát nhỏ dùng sau bữa ăn Bưởi chùm được trồng nhiều ở Mỹ, Brazil, riêng ở bang Florida (Mỹ) chiếm 70% sản lượng bưởi chùm của cả thế giới
Cam ngọt (Citrus sinensis): quả to hơn các loài cam khác, mùi vị tinh
dầu ở lá các loài cam quýt là một đặc điểm để phân loại Lá quýt có mùi cay đậm hơn các lá khác Đặc điểm cam ngọt có vị rất ngọt, quả có từ 9- 13 múi,
vỏ mỏng và mịn Cam ngọt chiếm tới 2/3 sản lượng cam quýt trên thế giới, là sản phẩm được ưa chuộng nhất trong các loại quả có múi Cam ngọt được chia làm rất nhiều giống như cam Valencia, cam vàng, Navel …
Quýt (Citrus reticulata): tuyến dầu của quýt có mùi đặc trưng giúp
phân biệt với các loài cam khác Quả quýt nhỏ, võ nhẵn, rất dễ bóc vỏ, lá có răng cưa khá điển hình, ở mặt dưới lá có màu xanh nhạt, hoa mọc đơn hoặc chùm nhưng không bao giờ mọc thành chùm có nhánh, màu sắc vỏ quả từ vàng đến vàng đỏ, đỏ
Các loài chanh: gồm chanh núm (Citrus medicia), chanh núm vỏ mỏng
(Citrus aurantifolia) , chanh ta (Citrus limon) Các giống chanh được chia chủ
yếu thành 2 nhóm chanh chua và chanh ngọt Hạt chanh đa số là hạt đa phôi, mùi tinh dầu của lá cũng đặc trưng cho từng loài, chanh chua độ axít có thể lên đến 7- 8 % Hoa của chanh núm và chanh vỏ mỏng có màu tím trước khi
nở rất đặc trưng, gân lá của 3 loại chanh kể trên cũng rất khác nhau, dựa vào
đó có thể phân biệt được từng loại khi không có quả trên cây Ở Việt Nam cho
thấy có 3 loại bao gồm chanh yên, phật thủ (Citrus medecia), chanh giấy, chanh vỏ mỏng (Citrus aurantifolia), chanh ta (Citrus limon) [49], [44]
Trang 261.4.2 Nghiên c ứu về giống
Theo nghiên cứu của J.Saunt (1990) [43], các giống bưởi triển vọng phát triển tốt ở các nước như Thái Lan 3 giống, Trung Quốc 3 giống, indonexia 5 giống
Theo W.C.Zhang (1981) [53], có 7 giống bưởi chùm là những giống có nguồn gốc từ cây lai Ở Trung Quốc dùng phương pháp lai tạo đã tạo ra được các giống bưởi có ưu thế lai nổi trội có triển vọng cho chiến lược phát triển cây ăn quả có múi hàng hoá của nước này với chất lượng cao, giá thành hạ, khả năng cạnh tranh cao trên thị trường thế giới
Tại Thái Lan, theo kết quả điều tra, khảo sát của tác giả N.Chomchalaw
và cộng sự (1987) [29], cây bưởi có 51 giống trên toàn bộ lãnh thổ, trong đó
có nhiều giống mới có triển vọng phát triển sản xuất
Ở Philippin, tại trung tâm nghiên cứu cây trồng quốc tế Davao tác giả N.T.Estellena và cộng sự (1992) [31], đã nghiên cứu khá sâu về tập đoàn giống bưởi, kết quả đã xác định được 4 giống bưởi có năng suất cao, chất lượng tốt và khả năng chống chịu với dịch hại khá tốt như Delacruzp Piuk, Magallanes và Amoymanta, Siamese
Ở Việt Nam, công tác nghiên cứu về cây ăn quả cũng đã được quan tâm Các nhà khoa học thuộc các viện nghiên cứu chuyên ngành cũng đã gặt hái được những kết quả không nhỏ trong công tác nghiên cứu của mình góp phần đáng kể vào việc phát triển nghề trồng cây ăn quả của nước ta, trong đó cây có múi có một vị trí quan trọng và được đông đảo bà con nông dân các vùng miền quan tâm, hưởng ứng
Qua kết quả điều tra, thu thập của một số nhà khoa học Bùi Huy Đáp (1960) [4], Trần Thế Tục (1977) [17], Hoàng Ngọc Thuận (1993) [16] và Đỗ Đình Ca (1992) [1] đã tổng hợp thống kê nguồn gen cây có múi tại một số vùng sinh thái, cụ thể như sau:
Trang 27- Tại 02 trạm cam Tây Lộc (Huế) và trạm cam Vân Du (Thanh Hóa): + Thu thập 34 giống cam, trong đó có 19 giống nhập nội từ Pháp, từ một số nước thuộc Đia Trung Hải và 15 giống trong nước, đó là những giống
đã và đang được trồng phổ biến ở một số vùng sản xuất như cam sành Bố Hạ (Bắc Giang), cam Sông Con (Nghệ An), cam Vân Du (Thanh hóa), cam Xã Đoài (Nghệ An)
+ Thu thập 16 giống quýt, trong đó có 03 giống nhập nội từ Satsuma, Clementina và số giống còn lại là những giống trong nước Ngoài ra có 05 giống chanh, 06 giống bưởi (nguồn giống thu thập từ năm 1945 trở về trước)
- Trần Thế Tục (1977) [17], đã điều tra, đánh giá nguồn tài nguyên cây ăn quả ở Việt Nam, đã giới thiệu 100 loài cây ăn quả, trong đó có 12 loài cam, quýt
Theo Trần Văn Lài (2001) [12] trong nhiều năm, Viện nghiên cứu rau quả đã nghiên cứu, tuyển chọn và thi tuyển những giống cây ăn quả xuất sắc
và ưu tú bao gồm 19 giống vải, 14 giống nhãn, 3 giống xoài, 5 giống dứa, 13 giống bưởi (Bưởi chùm, Đoan Hùng, Thanh Trà, PT3.10; PT3.36, PT3.13 …)
và 11 giống cam sành Những giống này đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận là những giống tiến bộ kỹ thuật
Theo Nguyễn Văn Dũng và cộng sự (1997) [3], tập đoàn cây ăn quả của Viện nghiên cứu rau quả đã thu thập được 22 chủng gồm 170 giống Trong đó cây có múi gồm 9 giống cam, 12 giống quýt, 8 giống chanh và 5 giống bưởi (có 1 giống bưởi nhập nội từ Ai Cập)
Phạm Thị Chữ (1998) [2], đã nghiên cứu tuyển chọn giống bưởi Phúc Trạch, Hương Khê, Hà Tĩnh đã chọn được 3 giống đầu dòng là: M1, M4 và M5 để nhân ra sản xuất đại trà Theo tác giả thì giống bưởi ở Việt Nam rất đa dạng và phong phú, mỗi giống có những đặc điểm riêng biệt và nổi trội, chính những đặc điểm này đã tạo nên đặc sản của mỗi vùng Nguồn gốc của các giống bưởi đặc sản phần lớn là do biến dị tạo nên
Trang 28Trong 3 năm (1993- 1995) Mạc Thị Đua (1997) [5], đã tiến hành chọn lọc bưởi Thanh Trà, tác giả đã chọn được 8 cây đầu dòng cho năng suất cao, phẩm chất tốt
Theo Lê Quang Hạnh (1994) [7], ở vùng khu IV cũ tác giả đã thu thập được 23 giống bưởi, 8 giống cam, 8 giống quýt và 4 giống chanh Trong số này có những giống hội tụ khá nhiều những đặc tính qúy như khả năng cho năng suất cao, chất lượng tốt … Trong thực tế những giống này đã trở thành những giống chủ lực của vùng cam quýt hàng hoá thuộc khu IV cũ
Kết quả nghiên cứu tuyển chọn từ tập đoàn giống bưởi thuộc các tỉnh phía Bắc của Trần Thế Tục (1995) [18], đã xác định được 8 giống bưởi là Đoan Hùng, bưởi ngọt Như Quỳnh, bưởi đường Yên Phong, Phú Thọ 1, Phú Thọ 2
Theo Trịnh Xuân Vũ (1995) [23], cho biết ở vùng miền Đông Nam Bộ nước ta có khoảng 20 giống bưởi khác nhau Giống bưởi được ưa chuộng nhất
là bưởi đường da láng (đường núm), bưởi đường lá cam, bưởi Thanh Trà và bưởi ổi
Đo Đinh Ca (1995) [27], đã điều tra giống cây có múi ở vùng Bắc Quang (Hà Giang) cho biết vùng này có 16 giống, trong đó có 01 giống cam,
10 giống quýt, 03 giống bưởi và 02 giống chanh
Mạc Thị Đua (1997) [5], Kết quả bình tuyển các giống bưởi tại các tỉnh phía Nam cho thấy: tính đến tháng 6 năm 1998 có 67 giống bưởi được điều tra và ghi nhận, đã có 54 giống được lưu giữ tại viện nghiên cứu cây ăn quả miền Nam Trong đó các cá thể bưởi Năm Roi BNR03, BNR25 và cá thể bưởi đường lá cam BD34 được đề xuất nhân diện rộng
1.4.3 Nghiên cứu về tính trạng và tính thích ứng của cây bưởi
Theo Walter Reuther và cộng sự (1978) [49], thì vòng đời của cây ăn quả có múi (cam, quýt) thường trải qua 3 giai đoạn: giai đoạn cây con, giai
Trang 29đoạn ra hoa kết quả và cuối cùng là thời kỳ già cỗi Tuỳ điều kiện sinh thái và hình thức nhân giống mà tuổi cam quýt có thể dài hoặc ngắn Cam quýt cũng mang đặc trưng của thực vật đó là sự phát triển cân đối và xem kẽ nhau giữa
bộ phận trên mặt đất và bộ phận dưới mặt đất Nhìn chung khi còn ở giai đoạn cây con sự sinh trưởng có phần nghiêng về bộ rễ
Cành bưởi sau khi mọc một thời gian khi đã đến độ thuần thục tại các đỉnh sinh trưởng có hiện tượng các auxin giảm đột ngột làm cho các tế bào đỉnh sinh trưởng ngừng phân chia, phần mô ở đỉnh sinh trưởng bị chết Đây chính là nguyên nhân của hiện tượng rụng ngọn, nghĩa là cành sinh trưởng một thời gian thì dừng lại và thuần thục sau đó các mầm từ nách lá lại mọc ra phát triển thành đợt lộc mới Chính vì vậy mà cam quýt nói chung và bưởi nói riêng không có thân chính rõ rệt, cành lá xum xuê, rậm rạp
Cành bưởi gồm các loại cành chính đó là cành mẹ, cành dinh dưỡng, cành quả Sự phân loại này theo chức năng của từng loại cành Mối liên hệ giữa các loại cành và các đợt lộc khá khăng khít Cành dinh dưỡng có thể trở thành cành mẹ, nhìn chung một năm ra lộc của bưởi cho thấy lộc Xuân thường được mọc từ cành năm trước hoặc mầm ngủ trên thân chính, lộc Xuân
có ý nghĩa nhất là lộc mọc từ cành Hè, Thu năm trước Lộc Hè có thể mọc từ cành Xuân, cành Đông, cành Thu năm trước Tuy nhiên mỗi điều kiện sinh thái khác nhau mối liên hệ giữa các lộc trong năm cũng có thay đổi Việc xác định tuổi cành mẹ để cho cành quả tốt nhất ở mỗi vùng sinh thái cụ thể hầu như ít được quan tâm nghiên cứu [53], [14]
Các tác giả Trần Đăng Thổ, Lý Gia Cầu cho biết bưởi là cây ăn quả sống lâu năm lá thường xanh, thân cây cao, tán cây hình tròn tự nhiên, hình tròn dẹt hoặc hình đống rơm Cành to khỏe, hoa, lá, quả, hạt so với cam quýt đều to hơn Cành lá phát triển, lá non, cành non, quả non ngoài mặt đều có lông tơ Trong một năm cam quýt có thể ra nhiều đợt lộc tuỳ vào từng vùng
Trang 30sinh thái, giống, tuổi cây và những tác động kỹ thuật của con người, thông thường ra từ 2- 4 đợt lộc trong năm Loại cành mẹ và số lộc trong năm liên quan khá nhiều đến hiện tượng ra quả cách năm, ở những loài cây càng nhiều đợt lộc trong năm, tuổi thành thục của cành mẹ để có thể sinh ra cành quả càng ngắn thì hiện tượng ra quả cách năm càng ít hoặc không có, đó cũng là
lý do có thể giải thích vì sao quất và một số giống chanh có thể cho quả quanh năm [20], [21]
Theo Hoàng Anh Hiền (1999) [11], cây bưởi thích nghi với khí hậu nóng ẩm nhiệt đới Cây bưởi yêu cầu nhiệt độ thích hợp trung bình năm 14,4-
240C, tổng tích ôn năm 48000 đến 88000C, lượng mưa 1000- 2000 mm Bưởi chịu được khí hậu nóng ẩm Yêu cầu về đất trồng bưởi có tầng dày trên 100cm; PH 6- 6,5; đất xốp, thoát nước Độ ẩm không khí 60 -80 %, đất tầng mỏng nghèo dinh dưỡng, PH < 5 bưởi kém phát triển Thời kỳ tháng 7- 10 là thời kỳ tích luỹ đường, axít, Vitamin C và dịch quả, nếu gặp hạn hán sẽ ảnh hưởng đến độ lớn và phẩm chất quả
Cây bưởi có khả năng thích ứng rất cao, phân bố rộng rãi Theo Vũ Công Hậu (1996) [9], đặc tính sinh lý nổi bật nhất ở bưởi là tính thích nghi với khí hậu nóng ẩm Nhiệt đới Bưởi tuy chịu được khí hậu ẩm nhưng ưa lượng mưa vừa phải, độ ẩm đất không quá cao cũng không quá thấp Không nên trồng bưởi ở đất nhẹ, nhiều cát, độ PH<5, độ dốc cao
Bưởi Sa Điền, có bộ rễ ăn sâu rộng, thân cây cao to, lá xanh bốn mùa, tán cây có hình tròn, cành lá mở rộng, lá kép mọc đơn, lá to trung bình Hoa của nó là loại hoa hoàn toàn, hoa tự chùm là chính, trong đó đa số là hoa không có lá hoa tự, số ít có lá hoa tự hoặc mọc đơn Cành mẹ ra hoa kết quả của bưởi Sa Điền là những cành nhỏ có trên 1 năm tuổi ở trong tán cây và lá cành ra vào mùa Xuân là chủ yếu Bưởi Sa Điền ưa khí hậu ấm áp và ẩm ướt,
sự sinh trưởng và kết quả bình thường của cây yêu cầu nhiệt độ bình quân 18-
210C, tổng tích ôn năm từ 53000 - 72000C, độ PH thích hợp PH 5,5- 6,5 [19]
Trang 311.4.4 Nghiên cứu về sinh lý, kỹ thuật canh tác
Nghiên cứu sinh lý về ra hoa và đậu quả của bưởi và bưởi chùm được nghiên cứu tại trạm nghiên cứu Sukhumi (Liên Sô cũ) R.K.Karaya, (1988) [35], đã nghiên cứu 6 giống bưởi và 4 giống bưởi chùm Theo tác giả mỗi giống có xu thế đậu quả khác nhau, có giống chỉ có thể đậu quả khi
có sự thụ phấn chéo (bưởi Pyriform và bưởi chùm Yubileinyi), có giống có khả năng tự thụ phấn
Từ việc phát hiện vườn cây có múi tại Tiền Giang có trồng xen ổi cây
luôn khỏe mạnh không xuất hiện bệnh vàng lá Greening, các nhà khoa học
Viện nghiên cứu cây ăn quả Miền Nam tiến hành nghiên cứu hiện tượng này Khi trồng xen cây ổi vào vườn cam sành tại Cái Bè (Tiền Giang) để đối chứng (trồng 60 cây ổi/1.000 m2), kết quả cho thấy hạn chế được rầy chổng cánh, tác nhân gây bệnh vàng lá luôn hoành hành vườn cây có múi Rầy mềm gây hại trên trái cũng không xuất hiện trên vườn cây Vườn cam đến nay cho trái và xanh tốt, không có dấu hiệu mang bệnh Mặc khác, ổi trồng xen cũng phát triển và cho thu hoạch bình thường Từ mô hình này, nông dân trong vùng đã
áp dụng trồng xen ổi vào vườn cam, quýt, bưởi, vừa hạn chế bệnh hại, vừa có thêm thu nhập
Từ năm 1989-1990 tác giả Trần Đăng Thổ, Lý Gia Cầu đã tiến hành quan sát sơ bộ quy luật ra hoa, quả của bưởi Sa Điền ghép trên gốc bưởi chua
có tuổi từ 9 đến 10 Theo các tác giả thì số nụ rụng chiếm 21,6% tổng số hoa,
số hoa rụng chiếm 78,6% tổng số hoa Thời gian rụng hoa tương đối ngắn, tập trung trong giai đoạn từ khi hoa nở đến 13 ngày sau Gai đoạn rụng quả sinh
lý kéo tương đối dài Thời kì rụng quả sinh lý lần thứ nhất bắt đầu từ ngày
10-14 sau khi hoa nở rộ Thời kì này, quả rụng mang theo cuống, đường kính cắt ngang của quả nhỏ hơn 1cm Thời gian tuy ngắn song ở thời kì này số quả rụng lại rất lớn, ước tính khoảng 72% tổng số quả non rụng Rụng quả sinh lí
Trang 32lần 2 bắt đầu sau rụng quả lần thứ nhất đến 60 ngày sau khi hoa nở rộ Quả rụng lần này không mang cuống Tỷ lệ rụng ước đạt 16,9% tổng số quả rụng, trong đó 9% quả có đường kính dưới 1cm rụng vào gia đoạn từ ngày thứ 14-
20 sau khi nở rộ, 5,2% số quả có đường kính từ 1-3cm rụng vào giai đoạn từ ngày 21 đến ngay 25 sau hoa nở rộ 2,7% số quả có đường kính từ 3-5cm rụng vào giai đoạn từ ngày 30-60 ngày sau nở rộ Từ nghiên cứu trên cho thấy: 81% quả non rụng lúc đường kính quả chưa đạt 1cm, vì vậy tác giả cho rằng để giữ quả thì vấn đề then chốt là tác động vào giai đoạn rụng quả sinh lý lần thứ nhất Giữ được quả đạt tới đường kính 5cm là có thể yên tâm
Lomas (1971) [37], Theo yêu cầu của bộ Nông nghiệp Isarel để xác định thời kỳ chín sinh lý sinh lý tối thiểu của một số giống cam quýt trên diện tích kinh doanh phục vụ tốt cho thời kỳ thu hoạch quả mang tính tập trung, đồng bộ, cần phải đấnh giá dựa trên đặc tính, đặc điểm thực vật, thành phần sinh hoá quả cụ thể từng giống: Đối với bưởi đạt > 40% nước quả và tỷ lệ chất tan tổng số/axít cần đạt theo tỷ lệ: 5: 1,0 hoặc đạt 47% nước qủa và tỷ lệ chất tan tổng số/axít là: 6,5:1,0, hoặc đạt 47% nước qủa và tỷ lệ chất tan tổng số/axít là: 7,0:1,0
Theo Gonzalez- Sicilia (1968) [34], khảng định rằng: Sự rụng quả sinh
lý của cây có múi thường xảy ra trong thời gian 2 tháng, ngay sau khi hình thành quả non và tiếp tục tăng sự rụng quả sinh lý ở tháng 6 hàng năm Trong các vấn đề nghiên cứu về cây có múi trên thế giới thì nghiên cứu dinh dưỡng cây có múi là vấn đề cơ bản
Theo S.P Ghosh (1985) [33], cây có múi là loại cây ưa thâm canh Có khoảng 15 nguyên tố dinh dưỡng quan trọng đối với sự sinh trưởng, phát triển của cây có múi Những nguyên tố đa lượng là: N, P, K, Mg và S, nguyên tố vi lượng là: Zn, Cu, Fe, B… việc bổ sung đầy đủ các nguyên tố trên là rất cần thiết để cây bưởi sinh trưởng và phát triển tốt
Trang 33Theo Woo-Nang Chang và Jan Bay Petersen (2003) [52], tại Châu Á nhiều vườn cây ăn quả được bố trí trên đất dốc và xấu, chua, có hàm lượng chất hữu cơ thấp, hàm lượng Ca và Mg trên các đất này cũng thấp Trước đây các nhà vườn châu Á coi thường tầm quan trọng của việc bón vôi và các chất hữu cơ, sử dụng quá nhiều phân hoá học để đạt năng suất tối đa Kết quả là các vườn cây bị mất cân bằng dinh dưỡng do bón quá liều N,P,K Khi xẩy ra điều đó năng suất và chất lượng quả bị giảm sút, nhiều cây bị rối loạn dinh dưỡng
Phương pháp bón: Theo các tác giả hiện nay có hai cách bón chính: + Bón trực tiếp vào đất: đây là cách bón phổ biến, đầu tiên người ta đào một rãnh xung quang tán có độ sâu 30-45cm sau đó giải đều phân và lấp hố Bón theo cách này luôn kết hợp với tưới nước
+ Phun phân qua lá: cách bón này dựa trên nguyên lý lá cây có thể hấp thụ được các nguyên tố dinh dưỡng và chuyển hoá nó thành năng lượng nuôi cây Sử dụng phân bón lá khá phổ biến ở nhiều nước trồng cây có múi và áp dụng trong các trường hợp sau: đất nghèo dinh dưỡng, đất khô hạn, bộ rễ kém phát triển Khi sử dụng phân bón lá cần lưu ý hoà tan hoàn toàn phân trong nước, nguồn nước sử dụng phải là nước không có axit hoặc không có kiềm
Tác giả Erickson (1968) [30], tiến hành thí nghiệm phun hoá chất điều hoà sinh trưởng trên giống bưởi chùm Marsh Địa Trung Hải, nhằm tăng tỷ lệ đậu quả của giống bưởi trên Theo dõi trên 4.400 hoa, kết quả phân tích đã nhận định rằng: ở thời kỳ đầu của quả, tỷ lệ đậu quả đạt 52- 21 % khi quả đạt đường kính 6mm và cuối cùng đạt 7% khi quả ở thời kỳ chín Đồng thời theo dõi và đánh giá tỷ lệ đậu quả trên cam, và kết quả cho thấy tỷ lệ đậu quả của giống cam Shmauti đạt 2,23 - 5,53% đến thời kỳ quả chín
Khi canh tác bưởi muốn có hiệu quả cao cần có một quy trình đồng bộ, trong đó các biện pháp kỹ thuật tác động ở thời kì kinh doanh nhằm cải thiện khả năng đậu quả, mã quả và năng suất quả là rất quan trọng
Trang 34Cắt tỉa: Thời kì kinh doanh cây đã có tán ổn định, hàng năm cần loại bỏ các cành sâu, bệnh, cành vượt, cành yếu, cành nằm trong tán
Ngắt bỏ hoa dị hình, hoa nhỏ, quả non ra muộn, ở nhưng vị trí không thuận lợi cho việc hình thành quả
Ở thời kì sau đậu quả 1-2 tuần phun các chất diều tiết sinh trưởng kết hợp với các vi lượng nhằm xúc tiến quá trình lớn của quả, giảm số hạt làm đẹp mã quả [8]
Sự hình thành quả là một quá trình diễn ra có sự liên quan đến sự thụ phấn, thụ tinh Quả chỉ được hình thành sau khi có quá trình thụ tinh xảy ra, còn nếu không được thụ tinh thì hoa sẽ bị rụng Điều đó được giải thích rằng phôi hạt là nguồn tổng hợp nên các chất kích thích sinh trưởng trong đó có Auxin Các chất này sẽ được vận chuyển vào mô của bầu để kích thích bầu lớn lên thành quả Vì vậy kích thước của quả hoàn toàn phụ thuộc vào hàm lượng các chất Auxin nội sinh từ phôi hạt Chính vì lý do đó mà ta có thể sử dụng chất điều tiết sinh trưởng xử lý ngoại sinh để thay thế cho nguồn nội sinh ra
Hiện nay trong sản xuất đã áp dụng việc phun Auxin cho một số cây ăn quả như (Đào Thanh Vân, Ngô Xuân Bình (2003) [22]:
+ Đối với cây vải, ở Hawai tiến hành phun Na- NAA, nồng độ 100ppm
4 lần vào tháng 11- 12 đã làm tăng 20 lần số hoa nở
+ Đối với cây cam, tại Quảng Đông (Trung Quốc) đã dùng α- NAA nồng độ 5- 10 ppm vào thời kỳ hoa nở rộ đã làm tăng tỷ lệ đậu quả 9% và tăng sản lượng 34,2% so với đối chứng
+ Ở Nhật Bản cũng thí nghiệm trên đã làm tăng tỷ lệ đậu quả từ 13,6 lên 17,3 %
+ Xử lý Gibberellin có hiệu quả rõ rệt trên cây cam, quýt Đối với quýt trước khi ra hoa 2 tuần và sau khi cây ra hoa 2 tuần nếu phun Gibberellin ở nồng độ 100mg/lít sẽ làm tăng tỷ lệ quả thương phẩm
Trang 351.4.5 Ảnh hưởng của quá trình thụ phấn đến năng suất, chất lượng quả của cây có múi
Khả năng tạo quả không hạt hoặc tăng tỷ lệ đậu quả, giảm số lượng hạt/quả bằng các nguồn hạt phấn khác nhau cũng được phát hiện ở nhiều loài cây trồng khác nhau như ở cây thuốc lá, một số giống nho, một số giống táo tây, mơ, mận… Ngày nay các nhà khoa học đều khẳng định rằng có tới 50%
số loài trong ngành thực vật hạt kín mang khả năng trên [38], [25]
Theo Trần Đăng Thổ và cộng sự (1993) [21], nghiên cứu về ảnh hưởng của nguồn hạt phấn đến tỷ lệ đậu quả và năng suất quả trên giống bưởi Sa Điền cho thấy thụ phấn bằng bưởi chua nâng cao tỷ lệ đậu quả của bưởi Sa Điền từ 1,99% lên 25% và năng suất quả cũng tăng lên rõ rệt Nghiên cứu đậu quả trên giống bưởi Thái Lan cũng cho thấy tỷ lệ đậu quả của bưởi khi tự thụ phấn rất thấp chỉ từ 0- 2,8% Nhưng khi cho nguồn hạt phấn khác cây thì tỷ lệ đậu quả tăng lên 9- 24%
Theo Lê Tiến Hùng (2007) [10], nguồn hạt phấn khác nhau về cơ bản không ảnh hưởng đến hình dạng, kích thước quả, chất lượng quả Tuy nhiên
có ảnh hưởng đến tỷ lệ đậu quả, số hạt trung bình/quả Trong thí nghiệm, quả hình thành từ tổ hợp thụ phấn Năm Roi x Phúc Trạch (12,5%), Chí Đám x Phú Diễn (10%) cho tỷ lệ đậu quả cao nhất Số lượng hạt đạt thấp nhất ở giống Philipin khi cho thự thụ (62,5 hạt/ quả) và đạt cao nhất ở giống Mỹ Hào khi cho thụ phấn tự do (152,5 hạt/ quả) Kết quả nghiên cứu cho thấy việc xác định được nguồn hạt phấn sử dụng làm cây trồng xen cho vườn bưởi đảm bảo cho tỷ lệ đậu quả cao, số lượng hạt/quả thấp là giải pháp kỹ thuật trong thâm canh bưởi
1.4.6 Đặc điểm một số giống bưởi triển vọng ở nước ta
Tập đoàn giống bưởi nước ta khá đa dạng, phân bố ở nhiều vùng sinh thái khác nhau Qua nhiều năm dưới tác động của chọn lọc tự nhiên và chọn lọc nhân tạo đã tạo nên những giống đặc trưng cho vùng sinh thái
Trang 36* B ưởi Năm Roi (Vĩnh Long, Cần Thơ, Sóc Trăng): cây sinh trưởng
khoẻ phân cành trung bình, góc phân cành nhỏ, tán cây hình trụ lá ovan ra hoa vào khoảng tháng 3, tháng 4 hàng năm, thu hoạch vào khoảng tháng 11, tháng
12 Dạng quả hình quả lê, nặng trung bình 0,9-1,45 kg/quả, vỏ vàng khi chín, con tép tróc khỏi vách múi và bó chặt nhau, nước quả nhiều có vị ngọt chua
Độ Brix: (9% - 11%) múi thơm, hạt ít đến không hạt (0 - 10 hạt/quả) tỷ lệ thịt quả >50% Hiện nay đây là giống bưởi có triển vọng và đã có thương hiệu bưởi Năm Roi do công ty Hoàng Gia và tỉnh Vĩnh Long xuất khẩu
* B ưởi Da Xanh (Bến Tre, Tiền Giang): dạng quả hình cầu nặng trung
bình 1,2kg - 2,5kg/quả, vỏ vẫn giữ màu xanh khi chín, dễ tách vỏ, vỏ mỏng (14 - 18 mm), con tép màu hồng đỏ, bó chặt và dễ tách khỏi múi, nước quả khá, vị ngọt không he đắng, độ Brix: 9,5% - 12%, khá nhiều hạt
* B ưởi Đường lá cam (Đồng Nai, Bình Dương): cây sinh trưởng khoẻ,
phân cành nhiều, tán hình bán nguyệt, lá hình bầu dục xanh đậm Dạng quả hình quả lê nặng trung bình 0,8kg - 1,4kg/quả Vỏ quả nhẵn màu xanh vàng khi chín, mỏng và dễ tách, con tép bó chặt, vị ngọt ngon Nhược điểm là khá nhiều hạt
* B ưởi Phúc Trạch: Cây sinh trưởng trung bình, phân cành nhiều góc
phân cành nhỏ, tán cây hình quạt, lá ovan, xanh nhạt Quả có hình cầu khi chín màu vàng rơm, tép màu hồng nhạt, vị ngọt thanh (độ Brix 12% - 14%) không đắng, trọng lượng quả trung bình đạt sấp sỉ 900g, số hạt trên quả là 85,5, tỷ lệ phần ăn được là 47,87%
* B ưởi Đoan Hùng: Hiện được trồng nhiều ở huyện Đoan Hùng, tỉnh
Phú Thọ Trên đất phù sa ven sông Lô và sông Chảy Có hai giống được coi là tốt nhất, đó là bưởi Tộc Sửu và bưởi Bằng Luân Bưởi Bằng Luân trái hình cầu hơi dẹt, trọng lượng trung bình 0,7 - 0,8 kg/trái Vỏ trái màu vàng hơi xám nâu, tép múi màu trắng xanh, mọng nước Vị hơi nhạt, độ Brix từ 9 - 11 Được thu
Trang 37hoạch vào tháng 10, tháng 11, có thể để được lâu sau khi thu trái Bưởi Tộc Sửu trái lớn hơn, trọng lượng trung bình từ 1 - 1,2kg/ trái, vị ngọt lạ và có màu trắng xanh Thu hoạch sớm hơn bưởi Bằng Luân khoảng nửa tháng
* B ưởi Diễn: Là giống bưởi ngọt có nguồn gốc từ Đoan Hùng - Phú
Thọ Hiện được trồng ở xã Phú Diễm huyện Từ Liêm - Hà Nội Cây sinh trưởng trung bình, phân cành nhiều, góc phân cành nhỏ, tán hình bán cầu,
lá hình ovan, xanh nhạt, ra hoa khoảng tháng 2, tháng 3 hàng năm, thu hoạch vào tháng 11, tháng 12 Quả hình cầu, khi chín có màu vàng tươi, tép màu vàng nhạt, vị ngọt không đắng (độ Brix 12 - 14%), trọng lượng quả trung bình đạt xấp sỉ 900g, số hạt trung bình là 95,2 Tỷ lệ phần ăn được là 47,8%
* B ưởi Phục Hoà: Có nguồn gốc từ giống bưởi Sa Điền (Trung
Quốc), cây sinh trưởng khoẻ, phân cành nhiều, cành lá mở rộng, tán hình bán cầu, lá hình ovan, xanh đậm ra hoa vào khoảng tháng 2 tháng 3 hàng năm, thu hoạch vào tháng 11- tháng 12, quả hình trái lê, vỏ quả sau khi chín có màu xanh vàng hoặc màu da cam, quả dễ bóc, tép bó chặt, ngọt có mùi thơm, không he đắng Sau khi thu hoạch lựa chọn những quả không dập nát, không sâu bệnh để bảo quản, khi bảo quản không được xếp các quả chồng lên nhau thì có thể bảo quản được 3 - 4 tháng Bưởi Phục Hoà tuy là có nguồn gốc từ bưởi Sa Điền nhưng do quá trình chọn lọc tự nhiên bưởi Phục Hoà đã có những đặc điểm tốt hơn như vị ngọt thanh hơn, có nhiều nước hơn,… nên rất được ưa chuộng
Bưởi Phục Hoà nếu được chăm sóc đúng quy trình kỹ thuật thì sau khi trồng 3 - 5 năm cho thu hoạch quả, sau 15 năm cây bước vào thời kỳ sai quả ổn định và có thể kéo dài 40-60 năm Sản lượng 1 cây có thể đạt 150-350 quả, mặt khác bưởi Phục Hoà còn có đặc điểm là dễ bảo quản và thời gian bảo quản kéo dài (3-4 tháng) mà không phải dùng bất kỳ loại hoá
Trang 38chất bảo quản nào (Người dân Trung Quốc gọi quả có đặc điểm như vậy là
“đồ hộp hoa quả tự nhiên” ) [19] Tuy nhiên diện tích trồng bưởi lại nhỏ lẻ manh mún, người dân trồng chủ yếu để ăn, chỉ có một số ít vườn có diện tích lớn (vào năm 1992 diện tích trồng bưởi của toàn huyện khoảng 15 ha) tuy vậy bưởi Phục Hoà lại có năng suất rất cao (khoảng 150 - 180 quả/cây) nên vào mùa thu hoạch tiểu thương Trung Quốc, và thị xã Cao Bằng thường vào tận vườn để thu mua Bưởi Sa Điền được rất nhiều người Trung Quốc ưa chuộng, hơn nữa huyện Phục Hoà có cửa khẩu Quốc gia chính vì vậy bưởi Phục Hoà chủ yếu được tiêu thụ tại thị trường Trung Quốc, lượng tiêu thụ nội địa là rất ít, và quan trọng là bưởi Phục Hoà đáp ứng được tiêu chuẩn yêu cầu phân cấp của bưởi Sa Điền
Bảng 1.5 Bảng tiêu chuẩn phân loại quả bưởi Sa Điền
Khối lượng quả (kg) ≥ 1,1 ≤ 1,3 > 1,3 ≤ 1,6 ≥ 0,9 < 1,1
(Theo tiêu chuẩn của trạm nghiên cứu cam quýt ở Quảng Tây, 1993)
Hầu hết bưởi Phục Hoà đạt tiêu chuẩn loại 1 và loại 2, một số ít loại 3 Tuy nhiên trong những năm qua phần lớn các hộ trồng bưởi hầu như để cây sinh trưởng phát triển tự nhiên, không thâm canh chăm sóc hoặc một số hộ có chăm sóc thì chăm sóc một cách tùy tiện không đúng kĩ thuật và không đồng
bộ, đặc biệt việc phòng trừ sâu bệnh không được quan tâm, nhất là sâu đục thân Do đó hầu hết các vườn đều bị sâu đục thân tàn phá, quả nhỏ dần, không đồng đều, rất nhiều hạt
Trang 39Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: giống bưởi Phục Hoà
- Thời gian nghiên cứu: từ 12/2008 - 12/2009
- Địa điểm nghiên cứu: huyện Phục Hoà, tỉnh Cao Bằng
2.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Nội dung nghiên cứu
- Điều tra, đánh giá hiện trạng sản xuất bưởi tại huyện Phục Hoà tỉnh Cao Bằng
- Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học cây bưởi huyện Phục Hoà, tỉnh Cao Bằng
- Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật thâm canh
giống bưởi Phục Hoà, Cao Bằng
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.2.1 Điều tra, đánh giá hiện trạng và phát hiện các yếu tố hạn chế trong sản xuất bưởi huyện Phục Hoà, tỉnh Cao Bằng
- Thu thập thông tin thứ cấp từ các cơ quan chức năng tại vùng nghiên cứu: UBND huyện, phòng Nông nghiệp, phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Phục Hoà, Cục khí tượng thuỷ văn Cao Bằng
- Điều tra, phỏng vấn trực tiếp các hộ trồng bưởi tại huyện Phục Hoà theo các mẫu phiếu điều tra
- Quan sát và theo dõi trực tiếp trên các vườn bưởi Phục Hoà
2.2.2.2.Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển, năng suất, chất lượng và tình hình sâu bệnh của bưởi Phục Hòa
- Theo dõi và đo đếm trực tiếp trên quần thể vườn bưởi Phục Hòa
Trang 40- Phân tích thành phần các chất trong quả và phát hiện chính xác một số
bệnh nghiêm trọng trong cây: Tristera, Greening … bằng các phương pháp
phân tích hiện đại hiện đang được sử dụng trong nghiên cứu cây ăn quả
2.2.2.3.Nghiên cứu một số biện pháp thâm canh giống bưởi Phục Hoà, Cao Bằng
- Tiến hành đốn tỉa cành các cây thí nghiệm: Đối tượng cắt tỉa là cành
la, cành vượt, cành vô hiệu
- Nghiên cứu sử dụng phân bón lá trong thâm canh tăng năng suất bưởi
- Nghiên cứu ảnh hưởng của chất điều tiết sinh trưởng trong thâm canh tăng năng suất bưởi
- Nghiên cứu thụ phấn bổ sung cho bưởi Phục Hòa
2.2.3 Công thức thí nghiệm
2.2.3.1.Thí nghiệm 1: Nghiên cứu sử dụng phân bón lá trong thâm canh
tăng năng suất giống bưởi Phục Hoà, Cao Bằng
+ Công thức 1: Phân bón lá Thiên Nông
+ Công thức 2: Phân bón lá K- H
+ Công thức 3: Đối chứng (Không xử lý)
Mỗi thí nghiệm 3 công thức, mỗi lần nhắc lại là 1 cây (Tổng số 9 cây) Phun định kỳ 18 ngày/lần, phun 5 lần từ khi nhú nụ hoa, phun ướt toàn
bộ tán cây vào lúc 8- 9 giờ sáng hoặc 4- 5 giờ chiều
2.2.3.2.Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của chất điều tiết sinh
trưởng trong hạn chế hiện tượng rụng hoa, quả bưởi Phục Hoà, Cao Bằng
+ Công thức 1: GA3 super 50T
+ Công thức 2: Đậu hoa- đậu quả AFa- 2
+ Công thức 3: Đối chứng (Không xử lý)
Mỗi thí nghiệm 3 công thức, mỗi lần nhắc lại là 1 cây (Tổng số 9 cây) Phun 3 lần: Khi nhú nụ hoa, sau đậu quả 15 ngày, sau đậu quả 30 ngày phun ướt toàn bộ tán cây vào lúc 8- 9 giờ sáng hoặc 4- 5 giờ chiều