1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên Cứu Đặc Điểm Dịch Tễ Bệnh Do Trypanosoma Evansi Ở Trâu, Bò Tại Thái Nguyên Và Lạng Sơn Và Phác Đồ Điều Trị Hiệu Quả

86 429 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 847,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Loài Trypanosoma N congolense Loài Trypanosoma N siminae Loài Trypanosoma N vanhogi Giống phụ Trypanozoon Liihe, 1906 Loài Trypanosoma T brucei Loài Trypanosoma T gambience Lo

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

DIỆP THỊ HUYỀN TRANG

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH DO

TRYPANOSOMA EVANSI Ở TRÂU, BÒ TẠI THÁI NGUYÊN

VÀ LẠNG SƠN VÀ PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ HIỆU QUẢ

CHUYÊN NGÀNH: THÚ Y

MÃ SỐ: 60.62.50

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: TS LÊ MINH

Thái Nguyên, tháng 9 năm 2012

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng:

Các kết quả nghiên cứu trong Luận văn là do tôi và NCS Đỗ Thị Vân Giang trực tiếp nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Thị Kim Lan và TS Lê Minh, chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Các thông tin trong luận văn này đã được chỉ rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, tháng 10 năm 2012

Tác giả luận văn

Diệp Thị Huyền Trang

Trang 3

Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới cô PGS.TS Nguyễn Thị Kim Lan và

TS Lê Minh giảng viên khoa Chăn nuôi Thú y - trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành Luận văn

Tôi xin cảm ơn tới Lãnh đạo, cán bộ Chi cục Thú y Lạng Sơn và Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Qua đây tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã thường xuyên giúp đỡ, tạo mọi điều kiện và dành cho tôi sự động viên quý báu trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và quá trình hoàn thành luận văn này

Một lần nữa tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn, cảm ơn chân thành tới những tập thể, cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học tập

Thái Nguyên, tháng 10 năm 2012

Tác giả luận văn

Diệp Thị Huyền Trang

Trang 4

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT

VAT : Variable Antigen Type

VSG : Variant Surface Glycoprotein

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Danh mục chữ viết tắt

Mục lục

Danh mục bảng

Danh mục biểu đồ

MỞ ĐẦU 1

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1

2 MỤC TIÊU ĐỀ TÀI 2

3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 2

3.1 Ý nghĩa khoa học 2

3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 3

1.1.1 Đặc điểm hình thái, cấu trúc và phân loại tiên mao trùng 3

1.1.2 Dịch tễ học bệnh T evansi 8

1.1.3 Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng của T evansi 13

1.1.4 Chẩn đoán bệnh tiên mao trùng 18

1.1.5 Phòng trị T evansi cho trâu, bò 24

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ BỆNH TIÊN MAO TRÙNG 27

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 27

1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 28

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32

2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU 32

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 32

2.1.2 Vật liệu nghiên cứu 32

2.2 ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 33

Trang 6

2.3.1 Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh T evansi ở trâu, bò miền núi 33

2.3.2 Khả năng gây bệnh của T evansi trên chuột và thỏ gây nhiễm. 33

2.3.3 Nghiên cứu phác đồ điều trị bệnh T evansi cho trâu, bò miền núi 34

2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34

2.4.1 Phương pháp thu thập mẫu 34

2.4.2 Phương pháp phát hiện tiên mao trùng trong mẫu 35

2.4.3 Phương pháp nghiên cứu dịch tễ học 36

2.4.4 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng bệnh do T evansi 36

2.4.5 Phương pháp nghiên cứu phác đồ điều trị bệnh T evansi có hiệu quả cao 38

2.5 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU 38

Chương 3: DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 39

3.1 NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH T EVANSI Ở TRÂU, BÒ TẠI THÁI NGUYÊN VÀ LẠNG SƠN 39

3.1.1 Tình hình nhiễm T evansi ở trâu 39

3.2.2 Tình hình nhiễm T evansi ở bò 46

3.2 KHẢ NĂNG GÂY BỆNH CỦA T EVANSI TRÊN MỘT SỐ ĐỘNG VẬT GÂY NHIỄM 53

3.2.1 Khả năng gây bệnh của T evansi trên chuột bạch 53

3.2.2 Khả năng gây bệnh của T evansi trên thỏ 58

3.3 NGHIÊN CỨU PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ BỆNH T EVANSI CHO TRÂU, BÒ MIỀN NÚI 63

3.3.1 Nghiên cứu lựa chọn phác đồ điều trị có hiệu quả cao và an toàn 63

3.3.2 Đề xuất biện pháp phòng chống bệnh T evansi cho trâu, bò ở miền núi 68

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 70

1 Kết luận 70

2 Đề nghị 70

TÀI LIỆU THAM KHẢO 72

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Tỷ lệ nhiễm T evansi ở trâu tại Thái Nguyên và Lạng Sơn 47

Bảng 3.2 Tỷ lệ nhiễm T evansi ở trâu theo lứa tuổi 42

Bảng 3.3 Tỷ lệ nhiễm T evansi ở trâu theo mùa vụ 44

Bảng 3.4 Tỷ lệ nhiễm T evansi ở trâu theo tính biệt 45

Bảng 3.5 Tỷ lệ nhiễm T evansi ở bò tại Thái Nguyên và Lạng Sơn 47

Bảng 3.6 Tỷ lệ nhiễm T evansi ở bò theo lứa tuổi 49

Bảng 3.7 Tỷ lệ nhiễm T evansi ở bò theo mùa vụ 51

Bảng 3.8 Tỷ lệ nhiễm T evansi ở bò theo tính biệt 52

Bảng 3.9 Thời gian T evansi xuất hiện trong máu của chuột bạch gây nhiễm 54

Bảng 3.10 Thời gian chết của chuột bạch sau gây nhiễm T evansi 55

Bảng 3.11 Triệu chứng lâm sàng ở chuột bạch sau gây nhiễm 56

Bảng 3.12 Bệnh tích đại thể ở chuột bạch bị bệnh tiên mao trùng do gây nhiễm 57

Bảng 3.13 Thời gian T evansi xuất hiện trong máu của thỏ sau gây nhiễm 58

Bảng 3.14 Sự xuất hiện T evansi trong máu thỏ gây nhiễm và thời gian thỏ chết 59 Bảng 3.15 Triệu chứng lâm sàng ở thỏ sau gây nhiễm 61

Bảng 3.16 Bệnh tích đại thể ở thỏ bị bệnh TMT do gây nhiễm 62

Bảng 3.17 Thử nghiệm phác đồ điều trị bệnh TMT ở trâu trên diện hẹp 63

Bảng 3.18 Thử nghiệm phác đồ điều trị bệnh TMT ở bò trên diện hẹp 64

Bảng 3.19 Thử nghiệm phác đồ điều trị bệnh TMT ở trâu, bò trên diện rộng 66

Bảng 3.20 Ứng dụng phác đồ hiệu quả cao điều trị bệnh TMT cho trâu, bò ở các địa 1hương (Azidin 4mg/kgTT) 67

Trang 8

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ nhiễm T evansi ở trâu tại Thái Nguyên và Lạng Sơn 51

Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ nhiễm T evansi ở trâu theo lứa tuổi 44

Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ nhiễm T evansi ở bò tại Thái Nguyên và Lạng Sơn 48

Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ nhiễm T evansi ở bò theo lứa tuổi 51

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Bệnh tiên mao trùng hay còn gọi là bệnh ngã nước, trâu bò mắc bệnh thể cấp tính thường sốt cao 410C - 41,70C với các triệu chứng thần kinh như ngã quỵ, kêu rống, đi vòng tròn… Trâu bò bệnh sẽ chết sau 7 - 15 ngày Ở thể mãn tính, các triệu chứng lâm sàng nhẹ hơn và bệnh kéo dài 1 - 2 tháng, con vật ngày càng gầy, da khô mốc, niêm mạc mắt tụ máu màu đỏ tía, đôi khi có chấm máu, chảy nước mắt và mắt

có nhiều dử đặc như keo, niêm mạc mắt vàng nhạt hay sẫm Sức khoẻ suy yếu dần, kém ăn, kém nhai lại, đi phân táo có lẫn máu hoặc đi tháo lỏng mùi thối khắm, có khi con vật đi ỉa ra cả màng ruột, nát từng đoạn Thường thấy có thuỷ thũng ở hầu,

ức, nách, chân, háng Trường hợp bệnh nặng, con vật đột ngột sốt cao, bụng chướng

to rồi lăn ra chết

Wuyts N và cs (1994) [66] cho biết, tại Đông Nam Á, bệnh tiên mao trùng

do Trypanosoma evansi là một trong những bệnh gây thiệt hại lớn về kinh tế cho

người chăn nuôi vì nó ảnh hưởng đến sức khỏe của trâu, bò và lợn Các triệu chứng trong giai đoạn cấp tính gồm: sảy thai, rối loạn hệ thống thần kinh trung ương và thậm chí là chết; nhiễm bệnh thể mãn tính ảnh hưởng lớn đến khả năng lao tác và năng suất của vật nuôi

Theo số liệu của Phạm Sỹ Lăng (1982) [13], Phan Địch Lân (2004) [18],

Phan Văn Chinh (2006) [2], tỷ lệ mắc Trypanosoma evansi ở gia súc vùng núi và

trung du cao hơn các vùng đồng bằng và ven biển Trong khi đó, ở nước ta, chăn nuôi gia súc nhai lại để cung cấp sức kéo, thịt, sữa lại tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền núi và trung du - là các vùng có điều kiện tự nhiên thích hợp cho sự phát triển chăn nuôi gia súc nhai lại, nhưng cơ sở hạ tầng phục vụ công tác chẩn đoán và điều trị tại địa phương còn lạc hậu đã dẫn tới hệ quả là bệnh tiên mao trùng trở nên phổ biến hơn, nghiêm trọng hơn và gây thiệt hại lớn hơn

Trong hai năm trở lại đây, ở Việt Nam đã phát hiện Trypanosoma spp gây bệnh cho người Các nghiên cứu ban đầu cho thấy, loài Trypanosoma spp gây bệnh cho người có các đặc tính sinh học giống với Trypanosoma evansi gây bệnh cho gia

Trang 10

súc Một số quốc gia trên thế giới như: Thái Lan, Ấn Độ đã xác định được

Trypanosoma evansi có khả năng gây bệnh cho cả người và gia súc Việc thích nghi

và gây bệnh cho con người của Trypanosoma evansi, hay ngược lại, việc thích nghi

và gây bệnh cho gia súc của Trypanosoma cruzi, Trypanosoma brucei… là hoàn

toàn có thể xảy ra

Từ những phân tích ở trên về mức độ phổ biến và những thiệt hại do bệnh tiên mao trùng gây ra trên vật nuôi ở Việt Nam, những biến đổi về dịch tễ bệnh có

thể tạo ra các chủng Trypanosoma spp gây bệnh chung cho người và gia súc, những

khó khăn trong công tác chủ động phòng ngừa bệnh, chúng tôi tiến hành nghiên cứu

đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh do Trypanosoma evansi ở trâu, bò tại

Thái Nguyên và Lạng Sơn và phác đồ điều trị hiệu quả”

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

Bệnh tiên mao trùng được Blanchard (1888) phát hiện đầu tiên ở Việt Nam Sau đó, bệnh được xác định là phổ biến ở hầu hết các tỉnh thành trong cả nước

Bệnh do loài tiên mao trùng Trypanosoma evansi gây ra Trâu, bò, ngựa mắc bệnh

dễ chết hoặc thiếu máu, suy nhược, giảm hoặc mất khả năng sinh sản và sức sản xuất

1.1.1 Đặc điểm hình thái, cấu trúc và phân loại tiên mao trùng

1.1.1.1 Vị trí của tiên mao trùng Trypanosoma trong hệ thống phân loại động vật học

Theo Levine và cs (1980) (dẫn theo Lương Văn Huấn và cs., 1997 [8]), vị trí

của tiên mao trùng trong hệ thống phân loại nguyên bào (Protozoa) như sau:

Giống Trypanosoma Gruby, 1843

Giống phụ Megatrypanum Hoare, 1964

Loài Trypanosoma (M) theileria

Giống phụ Herpetosoma Donein, 1901

Loài Trypanosoma (H) leisi

Giống phụ Schizotrypanum Chagas, 1909

Loài Trypanosoma (S) cruzi

Giống phụ Duttonella Chalmers, 1918

Loài Trypanosoma (D) vivax

Loài Trvpanosoma (D) uniform

Giống phụ Nalmomonas Hoare, 1964

Trang 12

Loài Trypanosoma (N) congolense

Loài Trypanosoma (N) siminae

Loài Trypanosoma (N) vanhogi

Giống phụ Trypanozoon Liihe, 1906

Loài Trypanosoma (T) brucei

Loài Trypanosoma (T) gambience

Loài Trypanosoma (T) rhodesiense

Loài Trypanosoma (T) equiperdum

Giống phụ Pycnomonas Hoare, 1964

Loài Trypanosoma (P) suis

Giống phụ Trypanosoma Gruby, 1843

Loài Trypanosoma evansi (Steel, 1885)

Trong các loài tiên mao trùng trên, có 7 loài được tổ chức dịch tễ quốc tế

(OIE) thông báo là có khả năng gây bệnh cho người và động vật có vú, đó là: T

brucei, T congolense, T cruzi, T evansi, T gambiense, T siminae, T vivax

1.1.1.2 Đặc điểm hình thái, cấu tạo của tiên mao trùng

Tiên mao trùng T evansi được xếp vào loại đơn hình thái, cơ thể chỉ là một

tế bào, có kích thước nhỏ, chiều dài 18 - 34 µm (trung bình là 25 µm), chiều rộng 1,5 - 2µm Cơ thể có hình suốt chỉ mảnh hoặc hình thoi, cuối thân nhọn Nhìn

chung, cấu trúc cơ bản của T evansi cũng giống như cấu trúc của các loài tiên mao trùng khác thuộc họ Trypanosomatidae Cấu trúc từ ngoài vào trong được chia

thành 3 phần chính:

- Vỏ: ngoài cùng là lớp vỏ dày 10 - 15 nm, vỏ được chia làm 3 lớp (lớp ngoài

và lớp trong cùng tiếp giáp với nguyên sinh chất dầy hơn lớp giữa) Lớp vỏ ngoài cùng được cấu tạo từ các phân tử glycoprotein luôn biến đổi (Vanant Glycoprotein Surface -VGS) Tiếp giáp với lớp trong cùng là 9 cặp vi ống xếp song song dọc theo chiều dài thân tiên mao trùng Chính nhờ sự sắp xếp của các cặp vi ống nên tiên mao trùng có dạng hình suốt chỉ mảnh (Hoare, 1972 [44]; Phạm Sỹ Lăng, 1982 [13]; Nguyễn Quốc Doanh, 1999 [5])

Trang 13

- Nguyên sinh chất: gồm lớp trong và lớp ngoài Trong nguyên sinh chất có chứa các nội quan: ribosome có màu thẫm xen kẽ vùng không bào màu sáng, kinetoplast (thể cơ động), mitochrondrio, reticulum (lưới nội bào) và mạng lưới golgi

- Nhân: nhân tiên mao trùng có chứa ADN, hình bầu dục hoặc hình trứng Nhân thường nằm ở vị trí trung tâm hoặc gần vị trí trung tâm cơ thể Ngoài nhân, về phía cuối thân còn có thể kinetoplast chứa ADN (KADN) Từ kinetoplast có một roi chạy vòng quanh thân lên đầu và ra phía ngoài cơ thể thành một roi tự do Roi của tiên mao trùng có lớp vỏ ngoài cùng giống lớp vỏ của thân Trong roi có 9 cặp vi

ống ở xung quanh và một cặp ở trung tâm, xếp song song dọc chiều dài roi (Hoare,

1972 [44]; Nguyễn Quốc Doanh,1999 [5])

Tiên mao trùng di động được trong máu nhờ một roi tự do xuất phát từ phía sau thân, chạy vòng quanh thân tạo thành một màng rung Khi di động, roi tự do vung ra phía trước và màng rung chuyển động giúp cho tiên mao trùng di chuyển rất nhanh trong máu của vật chủ (Phạm Sỹ Lăng và cs., 2002 [15])

Hình 1.1 Cấu tạo của Trypanosoma

A Roi; B.Tổ hợp cytoskeleton; C Nhân; D Mitochrondrio; E Thể cơ động kinetoplast;

F Thể đặc; G Túi tiên mao; H Phần thân chính; L Golgi; J Lưới nội sinh chất;

K Màng rung; L Chỗ tiếp xúc roi với màng rung; M Chỗ tiếp xúc roi với thân

(Nguồn: Nguyễn Thị Kim Lan, 2012 [11])

1.1.1.3 Cấu trúc kháng nguyên của T evansi

Kháng nguyên của T evansi gồm hai loại: kháng nguyên ổn định (kháng

nguyên không biến đổi) và kháng nguyên biến đổi

Trang 14

* Kháng nguyên ổn định (kháng nguyên không biến đổi)

Phần lớn các thành phần kháng nguyên tiên mao trùng không biến đổi trong quá trình sống ký sinh Bằng phương pháp điện di miễn dịch huyết thanh thỏ tối

miễn dịch với T evansi, Kageruka (1982) đã phát hiện tới 30 thành phần kháng

nguyên khác nhau Người ta xác định có ba loại kháng nguyên không biến đổi ở màng nguyên sinh chất tế bào (ISG: Invanant Surface Glycoprotein): ISG 65, ISG

75 và ISG 100 Do cấu trúc không gian ba chiều và đặc tính ưa nước, các loại này không kết hợp với kháng thể của vật chủ

* Kháng nguyên biến đổi

Cần đề cập đến sự biến đổi lớp vỏ bề mặt VSG (Variant Surface Glycoprotein), những quan điểm mới về sự xuất hiện kháng nguyên biến đổi của tiên mao trùng và

cơ chế di truyền của kháng nguyên biến đổi

Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [11], nhờ kháng thể đặc hiệu được đánh dấu mà Vickerman và Luckins (1969) đã phát hiện ra sự biến đổi của lớp kháng nguyên bề mặt Cross (1975) đã mô tả lớp áo bề mặt của tiên mao trùng có thành phần là glycoprotein bao phủ toàn bộ bề mặt tế bào bằng một lớp phân tử giống nhau (mỗi tiên mao trùng có 107 phân tử) Lớp áo bề mặt này kích thích cơ thể vật chủ tạo ra kháng thể đặc hiệu với từng type kháng nguyên biến đổi VAT (Variable Antigen Type) Chỉ có kháng nguyên biến đổi mới có khả năng kích thích vật chủ tạo miễn dịch chủ động Người ta ước lượng rằng, một tiên mao trùng có ít nhất vài trăm hoặc vài nghìn VSG, nghĩa là 5% - 10% số gen của tiên mao trùng cung cấp cho kháng nguyên bề mặt này

Nhiều tác giả nghiên cứu về miễn dịch học cho rằng, tiên mao trùng biến đổi kháng nguyên bề mặt để né tránh miễn dịch đặc hiệu của vật chủ Tuy nhiên, Van Meirvence (1995) [62] cho biết, sự biến đổi kháng nguyên bề mặt của ký sinh trùng

đã có ngay ở pha đầu tiên của quá trình nhiễm (trước khi xuất hiện đáp ứng miễn

dịch của cơ thể vật chủ) Theo Hajduc và Vickernlan (1981), hiện tượng biến đổi kháng nguyên bề mặt của tiên mao trùng còn thấy ở gia súc đã bị tiêm thuốc làm suy giảm miễn dịch

Trang 15

Weir et al (1986) [65] cho biết, glucoprotein chịu trách nhiệm về sự thay đổi

kháng nguyên của T evansi Cấu trúc kháng nguyên, đặc tính và chức năng của

glucoprotein bề mặt là khó hiểu nhất của một kháng nguyên ký sinh trùng Giai

đoạn nhân lên của T evansi ở trong máu dài hơn, còn giai đoạn Trypamasigote ngắn

ngủi Sự nhân lên của T.evansi tiếp tục tới khi ký chủ có khả năng sản sinh kháng thể làm ngưng kết, tiêu tan T evansi Kháng thể xuất hiện đã làm số lượng T evansi giảm tụt xuống T evansi mới xuất hiện có tính kháng nguyên khác với tính kháng nguyên của T evansi xuất hiện lần đầu, ngay sau đó T evansi đợt mới lại bị kháng thể tiêu diệt, tới khi T evansi phát triển giai đoạn thứ ba Quá trình phát triển nhịp nhàng của T evansi và kháng thể của ký chủ đã làm T evansi suy yếu và gây nên

thể bệnh mãn tính Chu kỳ xuất hiện này thường là 7 ngày Sự thay đổi tính kháng

nguyên là do có sự thay đổi độ dày chất bề mặt của T evansi

Nishikawa H và cs (1990) [49] đã nghiên cứu kháng nguyên T evansi ở Thái Lan, bằng phương pháp miễn dịch huỳnh quang thấy rằng, kháng nguyên T

evansi không phản ứng chéo với Babesia bovis, Babesia bigemina, Anaplasma maginale và Theileria sergenti ở hiệu giá 1:30

Dome T.W (1992) [42] khi so sánh các type kháng nguyên từ 15 chủng của

T evansi phân lập từ các vùng khác nhau của Indonesia thấy, có 2 nhóm chính và 2

nhóm phụ, 4 nhóm có khác nhau về type kháng nguyên, các type kháng nguyên này cũng giống như các type kháng nguyên phân lập từ Châu Phi và Nam Mỹ

Những quan điểm này là hoàn toàn mới để lý luận về sự xuất hiện kháng nguyên biến đổi của tiên mao trùng Như vậy, quan điểm về sự biến đổi kháng nguyên lớp vỏ của tiên mao trùng cho đến nay vẫn chưa thống nhất

* Cơ chế di truyền của kháng nguyên biến đổi

Khi kháng thể đặc hiệu kết hợp với phân tử của kháng nguyên bề mặt (VSG), làm tiêu tan tiên mao trùng thì đó cũng là nguyên nhân chính thúc đẩy sự hoạt hoá của gen Kết quả là các phân tử kháng nguyên VSG được thay đổi hoàn toàn bằng các phân tử VSG mới Lúc này, kháng thể đặc hiệu lúc trước đã không còn tác dụng

đối với kháng nguyên mới này

Trang 16

Theo Barry J D và cs (1991) [37], Vanhamme và cs (1995) [63], các VSG

được mã hoá nhờ các gen chuyên biệt, từ kho chứa hàng nghìn các gen khác nhau,

một gen VSG được hoạt hoá một cách chọn lọc, dẫn đến tổng hợp ra một loại kháng nguyên VSG Mỗi bên VSG mới tạo ra một loại kháng nguyên VSG mới Trong bộ gen của tiên mao trùng tồn tại một số lớn gen VSG, các gen này sử dụng nhiều cơ chế sắp xếp khác nhau, do vậy tiên mao trùng đã tạo ra nhiều VSG khác nhau ở gia súc bị bệnh mãn tính Cơ chế biến đổi kháng nguyên theo 2 cách: cách thứ nhất là

sử dụng lần lượt các điểm biểu hiện gen khác nhau, không có sự sắp xếp của ADN Các điểm biểu hiện khác nhau sẽ mang các gen VSG khác nhau, sự luân phiên này dẫn đến sự thay đổi type kháng nguyên Cơ chế này quan sát được chủ yếu ở giai

đoạn đầu của quá trình cảm nhiễm Có lẽ ở giai đoạn đầu này chưa có đáp ứng miễn

dịch của vật chủ đối với VSG, chính điều này không gây ra một cản trở hoạt hoá tự nhiên của các điểm biểu hiện gen này Cách thứ hai là, tập hợp lại các đoạn ADN khác nhau để tái tổ hợp gen, mà việc tái tổ hợp này cho phép thay thế hoàn toàn hoặc từng phần gen; hoặc việc thay thế diễn ra dựa vào sự chuyển đổi gen chứ không phải dựa vào tái tổ hợp gen Trường hợp này được diễn giải như sau: một gen hoạt hoá được thay thế bằng bản sao chép của một gen khác Do có sự thay thế một phần của gen nên đã tạo ra loại gen phức hợp và đặc trưng

1.1.2 Dịch tễ học bệnh T evansi

1.1.2.1 Phân bố bệnh T evansi

Bệnh tiên mao trùng phân bố rất rộng, từ phía Tây sang phía Đông bán cầu Phía Tây bán cầu thuộc châu Mỹ, phía Đông bán cầu trải dài từ châu Phi cho đến Philippine

Theo Euzeby (1984), bệnh phổ biến ở trâu, bò, ngựa các nước nhiệt đới ở châu Phi, châu Á và Nam Mỹ

Ở châu Phi, bệnh trải dài từ Tây sang Đông, phía Bắc qua vùng sa mạc

Sahara, dọc theo bờ biển Atlantique của Địa trung hải

Bệnh tiên mao trùng xảy ra với tên gọi "bệnh Surra” ở Ả rập Saudi, Yêmen,

Sultanate, Ả Rập thống nhất, Thổ Nhĩ Kỳ, Israel, Syrie, Afganistan, Pakistan

Trang 17

Ở châu Á, bệnh xuất hiện ở Trung Á (thuộc Liên Xô cũ), Ấn Độ, Malaysia,

bán đảo Đông Dương, Trung Quốc, Indonexia, Philippine

Ở châu Âu, bệnh xuất hiện ở Bungaria (nay đã được thanh toán), hiện chỉ

còn ở vùng Volga và Nam Capcase (Liên Xô cũ)

Ở châu Mỹ, bệnh xuất hiện ở Trung Mỹ, Nam Mỹ, đặc biệt phổ biến ở

Brazil, Mexico, Venezuela, Colombia

Châu Úc cũng đã được xác định là có bệnh tiên mao trùng (Reid, 2000 [52]) Losos G J (1972) [45] cho rằng, bệnh tiên mao trùng phổ biến nhất ở châu

Á và châu Phi, từ Ấn Độ đến Srilanca, Trung Quốc, Indonexia, Thái Lan, Lào, Camphuchia, Iran, Philippine

Ở Việt Nam, bệnh tiên mao trùng thấy ở hầu hết các vùng sinh thái khác

nhau: miền núi, trung du, đồng bằng, ven biển Theo Phạm Sỹ Lăng (1982) [13], bệnh tiên mao trùng có ở tất cả các tỉnh miền Bắc (Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Ninh Bình, Hà Tây) Trâu, bò nhiễm bệnh với tỷ lệ cao và thay đổi giữa các vùng khác nhau (trâu, bò ở đồng bằng nhiễm tiên mao trùng cao hơn vùng trung du và miền núi, đặc biệt ở trâu, bò có nguồn gốc từ miền núi chuyển xuống vùng đồng bằng)

Theo Nguyễn Phước Tương (2002) [34], hai “bệnh ngủ” ở người bị lây nhiễm bởi các ký sinh trùng máu của trâu bò là các bệnh tiên mao trùng do

Trypanosoma gambiense và Trypanosoma rhodesiense, thường thấy nhất ở miền

Trung và miền Tây của Châu Phi

Bệnh tiên mao trùng do Trypanosoma gambiense ở người do sự lây bệnh từ trâu bò mắc bệnh này thông qua loài ruồi Glossina palpalis Loài ruồi này hoạt

động vào ban đêm và chủ yếu sống bằng hút máu người, đồng thời chúng cũng hút

máu trâu bò từ 30% - 38% bữa ăn của chúng Do đó truyền bệnh tiên mao trùng từ

bò sang người

Bệnh tiên mao trùng từ trâu lây sang người do Trypanosoma rohodesiene

cũng có cơ chế truyền bệnh tương tự Bệnh thường thấy ở vùng sa mạc Sahara - Châu Phi gây ra những cơn ngủ liên miên, hồng cầu bị phá vỡ dẫn đến mất máu,

Trang 18

suy nhược cơ thể mà chết

Ở người, ngoài quá trình lây truyền qua loài ruồi Glossina palpalis, còn có

cơ chế truyền bệnh từ người sang người qua sữa, truyền máu hay mắc bệnh bẩm

sinh do lây truyền qua bào thai

1.1.2.2 Vật chủ và vật môi giới truyền T evansi

Trong tự nhiên, tiên mao trùng ký sinh ở hầu hết các loài thú nuôi và thú

hoang, thấy nhiều hơn ở trâu, bò, ngựa, trâu bò rừng, hươu, nai, hổ, báo, sư tử, chó,

mèo, lạc đà, voi thỏ, chuột cống, chuột lang, chuột bạch , nhưng không ký sinh ở người

Sự lây truyền của bệnh tiên mao trùng là từ trâu, bò ốm sang trâu, bò khoẻ là

nhờ các loài ruồi hút máu (thuộc họ phụ Stomoxydinae) và các loài mòng hút máu

(thuộc họ Tabanidae) Ruồi và mòng hút máu của gia súc bị bệnh, hút luôn cả tiên

mao trùng vào vòi hút, sau đó lại hút máu gia súc khoẻ, trong khi hút máu sẽ truyền

tiên mao trùng từ vòi hút vào máu con vật khoẻ Sự lây truyền này mang tính chất

cơ học Như vậy, ruồi và mòng hút máu là những vật môi giới truyền bệnh tiên mao

trùng quan trọng

Theo Phan Địch Lân (1974) [16], (2004) [18], phần lớn các loài mòng tập

trung ở khu vực miền núi và trung du Trong 53 loài mòng thì có tới 44 loài phân bố

ở vùng rừng núi có độ cao dưới 1.000 mét so với mặt nước biển, càng lên cao số

loài càng ít dần (độ cao trên 1.000 mét chỉ có 26 loài) Ở vùng trung du (rừng thưa,

độ cao không quá 500 mét so với mặt nước biển) có 27 loài; vùng đồi trọc chỉ có

9 - 11 loài; vùng rừng núi ven biển phát hiện chỉ có 8 loài Những loài mòng phổ

biến ở tất cả các vùng là: Tabanus rubidus, Tabanus striatus, Chrysops dispar,

Chrysozoma assamensis

Những loài mòng chỉ gặp ở vùng núi là: Tabanus flavistriatus, Tabanus

fumifer, Chrysops vander Miền Bắc nước ta có 4 loài ruồi hút máu, 2 loài phổ biến

ở tất cả các vùng là Stomoxys calcitrans và Liperosis exigua; 2 loài chỉ thấy ở

những vùng sinh cảnh đặc biệt là Bdellolarynx sanguinolentus (chỉ xuất hiện ở vùng có

độ cao dưới 1000 mét), Stomoxys indica (chỉ thấy ở vùng núi Cẩm Thuỷ - Thanh Hoá)

Phan Địch Lân (2004) [18] cho biết, kiểm tra ở nhiều địa điểm thấy hai loài

Trang 19

mòng Tabanus rubidus và Tabanus striatus mang tiên mao trùng với tỷ lệ 15,2% và 14,0%; ruồi hút máu Stomoxys calcitrans mang tiên mao trùng với tỷ lệ 12,5% Ở

những vùng đang có bệnh tiên mao trùng, kiểm tra ruồi và mòng hút máu dễ dàng tìm thấy tiên mao trùng Sau khi theo máu vào vòi hút ruồi và mòng, tiên mao trùng vẫn sống đến giờ thứ 53, thời gian hoạt động mạnh nhất là từ giờ thứ nhất đến giờ thứ 34, trung bình là 24 giờ Sự hoạt động của tiên mao trùng yếu dần từ giờ thứ

35 - 42 Từ 46 - 53 giờ thì tiên mao trùng ngừng hoạt động

Hình thái tiên mao trùng khi ở trong vòi ruồi, mòng biến đổi theo thời gian:

từ 1 - 34 giờ có hình thái, kích thước bình thường; 35 - 45 giờ: tiên mao trùng có hình dạng thay đổi, tăng kích thước chiều rộng và thô dần; 46 - 53 giờ: tiên mao trùng trương to, duỗi thẳng, mất khả năng di động và ngừng hẳn hoạt động

Thực nghiệm đã chứng minh, khả năng gây bệnh của tiên mao trùng sau khi

xâm nhập vào mòng Tabanus rubidus như sau: thời gian từ giờ thứ 1 đến thứ 5, tiên

mao trùng có khả năng gây bệnh và làm chết chuột bạch tương tự như khi truyền thẳng máu có tiên mao trùng cho chuột; từ giờ thứ 6 đến thứ 7 chỉ còn 30% số chuột thí nghiệm phát bệnh, thời gian gây bệnh kéo dài và thời gian chết của chuột cũng dài Điều này có thể giải thích là do độc lực của tiên mao trùng giảm dần và số lượng tiên mao trùng còn hoạt lực gây bệnh cũng giảm dần sau khi chúng xâm nhập

vào mòng Tabanus rubidus Kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu của Phạm Sỹ

Lăng (1982) [13] cho rằng, thời gian xâm nhập của tiên mao trùng càng lâu thì tỷ lệ

gây bệnh càng giảm, điều này có thể do giảm số lượng và độc tính của T evansi trong máu của mòng Tabanus rubidus

1.1.2.3 Đặc điểm sinh trưởng của T evansi

Trong cơ thể vật chủ, Trypanosoma evansi ký sinh ở trong máu (ngoài hồng

cầu), đôi khi còn thấy chúng xuất hiện trong các tổ chức như gan, lách

Trypanosoma evansi thực hiện sinh sản trong máu vật chủ bằng cách chia

đôi hay chia làm nhiều phần theo chiều dọc (trực phân theo chiều dọc) và theo cấp

số nhân, nên khi chúng xâm nhập vào vật chủ thì số lượng sẽ tăng lên rất nhanh trong máu

Trang 20

Trong cơ thể vật chủ, tiên mao trùng tự nuôi dưỡng bằng cách thẩm thấu các chất dinh dưỡng (đạm, đường, chất béo, khoáng ) từ trong máu hoặc dịch thể vật chủ để duy trì hoạt động sinh trưởng và sinh sản, đầu tiên kinetoplast và nhân phân chia trước hình thành một cục roi mới, sau đó nguyên sinh chất phân chia

1.1.2.4 Tuổi vật chủ, mùa mắc T evansi

Trâu, bò và các loài gia súc khác ở mọi lứa tuổi đều nhiễm tiên mao trùng và

đều phát bệnh, có thể dẫn đến tử vong hoặc suy nhược, thiếu máu, giảm sức đề

kháng, giảm khả năng sinh đẻ và sức sản xuất

Phan Địch Lân (2004) [18], đã tổng hợp kết quả điều tra 3.172 trâu ở các tỉnh

đồng bằng và cho biết: trâu dưới 3 năm tuổi nhiễm thấp nhất (3,2% - 6,l%), trâu 3 -

5 tuổi nhiễm cao hơn (10,6% - 12,7%), trâu 6 - 8 tuổi nhiễm cao nhất (12,9% - 14,8%), trâu trên 9 năm tuổi tỷ lệ nhiễm giảm thấp hơn trâu 3 - 8 năm tuổi

Theo Phan Văn Chinh (2006) [2], tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng cao nhất ở 4 - 8 năm tuổi (trâu: 12,71%; bò: 5,77%) và thấp nhất là trâu, bò dưới 3 năm tuổi (6,92%

và 2,31%)

Mùa lây lan bệnh thường xảy ra nhiều nhất trong các tháng nóng ẩm, mưa nhiều (từ tháng 4 đến tháng 9) Vì vào khoảng thời gian này, các điều kiện sinh thái rất thuận lợi cho các loài ruồi, mòng phát triển Đây là khoảng thời gian chúng hoạt

động bay đi hút máu, truyền bệnh tiên mao trùng vào cơ thể vật chủ mạnh nhất

Phạm Sỹ Lăng và cs (2002) [15] cho biết, từ cuối mùa thu, mùa đông và đầu mùa xuân trâu, bò bị nhiễm tiên mao trùng Theo tác giả, vào thời gian này, trâu, bò phải làm việc nặng trong điều kiện thời tiết lạnh, thức ăn xanh thiếu nên sức đề kháng của con vật giảm, dẫn đến tình trạng phát triển bệnh tiên mao trùng vào cơ thể vật chủ mạnh nhất Hiện tượng này vẫn xảy ra hàng năm ở các vùng chăn nuôi trâu bò đàn cũng như các nông trường nuôi bò sữa

Theo Luckins A G (1988) [46], sự xuất hiện lượng lớn ruồi, mòng trong mùa mưa nóng ẩm luôn có liên quan đến tình hình dịch tễ bệnh tiên mao trùng ở trâu, bò,

dê, lạc đà Từ cuối mùa thu, mùa đông và đầu mùa xuân, trâu bò nhiễm tiên mao trùng phải sống trong điều kiện thời tiết lạnh, thiếu thức ăn nên sức đề kháng giảm,

Trang 21

bệnh thường phát ra vào thời gian này và trâu bò bị đổ ngã hàng loạt

1.1.2.5 Cơ chế sinh bệnh T evansi

Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2008) [10], khi vào máu vật chủ, tiên mao

trùng sinh sản bằng hình thức phân đôi theo chiều dọc nhiều lần, số lượng tăng lớn, gây tắc mạch máu Độc tố của tiên mao trùng vào, làm con vật trúng độc (độc tố gồm chất độc tiết ra của tiên mao trùng, xác của chúng bị tan ra, những sản phẩm của quá trình trao đổi chất) Độc tố làm rối loạn chức năng điều hòa thân nhiệt gây sốt Tiên mao trùng còn ngăn chức năng tạo hồng huyết cầu của lách, tủy xương, làm lượng hồng cầu giảm nhiều, máu nhạt, huyết sắc tố biến thành chất vàng của mật (đảm sắc tố), ngấm vào cơ thể làm niêm mạc vàng

Tiên mao trùng sinh sản nhiều còn làm tắc các mạch máu nhỏ, do các niêm mạc bị tụ máu Do tiên mao trùng làm tổn thương thành mạch máu, huyết dịch xuất

ra ngoài nhiều sinh thủy thũng, dần dần máu chảy xuống vùng thấp Huyết dịch

đông lại, một phần tổ chức biến thành mỡ, nên thủy thũng chứa chất đặc như keo

Do hệ thần kinh bị trúng độc, con vật ốm, phát ra những triệu chứng thần kinh như: run rẩy, bại liệt, cứng chân, làm trâu, bò điên cuồng trước khi chết Chất độc của tiên mao trùng làm con vật ảnh hưởng đến gan, làm chức năng dự trữ đường của gan giảm, trong khi cơ thể vẫn sử dụng đường, ký sinh trùng cũng tiêu hao đường, nên lượng đường trong máu giảm sút Hồng cầu giảm sút, máu thiếu huyết sắc tố, vì vậy axít tích lại trong máu gây nhiễm độc

1.1.3 Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng của T evansi

1.1.3.1 Đặc điểm bệnh lý

Khi ruồi trâu, mòng đốt, hút máu và truyền tiên mao trùng vào trâu, bò, ngựa, tiên mao trùng xâm nhập vào da, gây ra vết viêm trên mặt da Theo Luckin A G (1988) [46], có thể quan sát được phản ứng viêm ở da của thỏ, cừu, dê và bò gây nhiễm thực nghiệm tiên mao trùng, kích thước chỗ viêm phụ thuộc vào số lượng tiên mao trùng được tiêm truyền (ước chừng khoảng 108 tiên mao trùng có thể gây viêm da - ở vị trí tiêm truyền), một số lượng lớn tiên mao trùng phát triển ở tại chỗ viêm này

Vào máu, tiên mao trùng nhân lên theo cấp số nhân ở trong máu, trong bạch

Trang 22

huyết và ở trong các mô khác của cơ thể vật chủ theo cách phân chia theo chiều dọc

Số lượng tiên mao trùng trong máu không phải lúc nào cũng như nhau Mật độ tiên mao trùng thay đổi theo ngày Biểu đồ sóng tiên mao trùng cho thấy, xen kẽ giữa những sóng tiên mao trùng mạnh là những đợt sóng yếu Mỗi đợt sóng tiên mao trùng bắt đầu bằng sự tăng số lượng tiên mao trùng trong máu, sau đó giảm và khó phát hiện thấy tiên mao trùng Mỗi đợt tiên mao trùng tăng lên trong máu là biểu hiện sự xuất hiện một quần thể tiên mao trùng có tính kháng nguyên bề mặt mới, quần thể này có thể tiếp tục sinh sản và tồn tại một thời gian cho đến khi cơ thể xuất hiện kháng thể đặc hiệu với chúng

Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2008) [10], (2012) [11], tiên mao trùng phát triển nhanh trong máu, tiêu thụ Glucose và các chất đạm, chất béo và khoáng chất trong máu ký chủ bằng phương thức thẩm thấu qua bề mặt cơ thể để duy trì hoạt động và sinh sản Ở súc vật bị bệnh, trong 1 ml máu có thể có 10.000 - 30.000 tiên mao trùng Với số lượng nhiều như vậy, tiên mao trùng chiếm đoạt dinh dưỡng nhiều, làm cho súc vật bệnh gầy còm, thiếu máu và mất dần khả năng sản xuất sữa, thịt, mất dần khả năng sinh sản và giảm sức đề kháng với các bệnh khác

Sống trong máu vật chủ, tiên mao trùng còn tạo ra độc tố Trypanotoxin, độc

tố này gồm: độc tố do tiên mao trùng tiết ra qua màng thân trong quá trình sống và

độc tố do xác chết của tiên mao trùng phân huỷ trong máu sau 15 - 30 ngày Độc tố

của tiên mao trùng tác động lên hệ thần kinh trung ương làm rối loạn trung khu điều hoà thân nhiệt, gây sốt cao và gián đoạn (lúc sốt, lúc hết sốt xen kẽ nhau) Khi sốt thường có rối loạn về thần kinh (kêu rống, run rẩy, ngã vật xuống) Độc tố cũng phá huỷ hồng cầu, ức chế cơ quan tạo máu làm cho vật chủ thiếu máu và suy nhược dần

Độc tố còn tác động tới bộ máy tiêu hoá, gây rối loạn tiêu hoá, làm con vật ỉa chảy Hội

chứng tiêu chảy thường xảy ra khi xuất hiện tiên mao trùng trong máu con vật bệnh

Khi tăng lên với số lượng lớn trong máu, tiên mao trùng còn làm tắc các mao mạch, làm tăng tính thấm thành mạch, dần dần tạo ra các ổ thuỷ thũng chất keo vàng dưới da

Trang 23

1.1.3.2 Triệu chứng lâm sàng của bệnh T evansi ở trâu, bò

Bệnh tiên mao trùng thường biểu hiện ở hai thể là thể cấp tính và thể mãn tính, tuy nhiên trong thực tế thường gặp ở dạng mãn tính là chủ yếu

+ Thể cấp tính: con vật vẫn béo tốt, đang đi làm đột nhiên bị ngã hoặc không thể đi làm được nữa, sốt rất cao ở trâu, bò là 3905 - 4105, ở ngựa là 410C - 420C, con vật thở mạnh Lúc này nếu lấy máu kiểm tra sẽ phát hiện ra tiên mao trùng Trong lúc sốt và sau cơn sốt con vật có hiện tượng bỏ ăn, miệng cắn chặt, nước bọt chảy ra liên tiếp, đầu rủ xuống, nước mắt và nhử mắt chảy rất nhiều, phân nhão có lẫn máu Sau cơn sốt con vật gầy đi rất nhiều, nếu không can thiệp kịp thì con vật co giật, giẫy dụa và chết sau khoảng một vài giờ

+ Thể mãn tính: triệu chứng ở trâu, bò nhiễm T.evansi thường không rõ ràng,

chúng có hiện tượng chung là gầy yếu và chỉ đến khi thời tiết rét, thức ăn thiếu thốn, với lao tác nặng nhọc làm giảm sức đề kháng thì bệnh mới biểu hiện lâm sàng rõ ràng hơn Lúc này con vật có biểu hiện sốt cách nhật, lông xù, mắt có nhử, giác mạc viêm, hay chảy nước mắt, vùng bụng và chân sau bị phù thũng Ở một số trường hợp còn thấy trâu, bò bị sảy thai (Nguyễn Đăng Khải, 1995 [9]) càng về sau con vật càng yếu dần và dễ bị kế phát các bệnh khác

Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2008) [10], trâu, bò bị bệnh thể hiện các triệu chứng lâm sàng chủ yếu như sau:

- Sốt cao và gián đoạn: sau 14 - 30 ngày bị ruồi, mòng hút máu truyền tiên

mao trùng, trâu, bò thường đột ngột lên cơn sốt (400C - 41,70C) kéo dài 2 - 4 ngày rồi giảm, thời gian sau nhiệt độ lại tăng lên Thời gian gián đoạn giữa hai cơn sốt dài hay ngắn tuỳ theo thể trọng con vật Khi sốt, kiểm tra máu thường thấy tiên mao trùng

- Hội chứng thần kinh: ở một số trâu, bò khi lên cơn sốt còn thể hiện hội chứng thần kinh như điên loạn, mắt đỏ ngầu, húc đầu vào tường, chạy vòng quanh kêu rống lên Trường hợp nhẹ thấy run rẩy từng cơn, mắt trợn ngược rồi đổ ngã vật xuống, sùi bọt mép giống như trâu bị cảm nắng Sau 20 - 30 phút con vật lại đứng dậy đi lại được Những trâu bò mắc bệnh có triệu chứng lâm sàng như trên thường

là mắc bệnh ở thể cấp tính

Trang 24

Trâu, bò bị bệnh mãn tính thường kéo dài, cơ thể suy yếu, liệt hai chân sau, nằm tư thế quỳ và không đi lại được Mặc dù nằm liệt nhưng vẫn ăn và nhai lại cho

- Hội chứng tiêu hoá: một số trâu, bò bệnh bị ỉa chảy nặng, phân lỏng, màu vàng, sau chuyển màu xám, có lẫn bọt và chất nhầy Các đợt ỉa chảy tiếp theo những cơn sốt cách quãng Ỉa chảy trong bệnh tiên mao trùng thường dai dẳng và con vật vẫn ăn được

- Gầy yếu, suy nhược: ở thể bệnh cấp tính trâu, bò gầy sút nhanh, chỉ sau 7 -

14 ngày từ khi phát bệnh con vật đã gầy rộc, mắt trũng sâu Nếu bệnh kéo dài thì con vật gầy xơ xác, lông dựng ngược, da khô nhăn nheo, niêm mạc mắt nhợt nhạt, lông dễ rụng, dần dần suy nhược cơ thể nặng, mất khả năng cày kéo và sinh sản Nếu gặp điều kiện bất lợi như thiếu ăn, rét mướt thì trâu, bò dễ chết Trong thực tế,

có khoảng 3% trâu bệnh ở thể ẩn vẫn béo khoẻ, làm việc bình thường khi được chăm sóc nuôi dưỡng tốt

Tình trạng thiếu máu thể hiện rõ trong bệnh do T evansi gây ra Theo Silva

Rams và cs (1995) [54], số lượng hồng cầu và hàm lượng huyết sắc tố giảm, số lượng bạch cầu tăng, thành phần bạch cầu thay đổi: bạch cầu lymphô, bạch cầu ái toan tăng nhưng bạch cầu trung tính giảm, protein tổng số và Albumin giảm rõ rệt Phạm Sỹ Lăng và cs (1984) [14] cho biết, khi protein tổng số và Albumin giảm thì các thành phần α, β và γ globulin đều tăng, chỉ số A/G < 0,5

Theo Damayanti R và cs (1994) [39], trâu bệnh có những biểu hiện gầy yếu,

ủ rũ, kém vận động, bỏ ăn Khối lượng cơ thể giảm rõ rệt

Phạm Sỹ Lăng (1982) [13] cho biết, đã có nhiều nhà nghiên cứu quan tâm theo dõi các triệu chứng lâm sàng của bệnh tiên mao trùng trên trâu, bò Hytura F và cs

Trang 25

(1949) cho biết, bò nhiễm T evansi thể cấp tính có các triệu chứng lâm sàng như

sau: sốt cao gián đoạn, thiếu máu, suy nhược, chảy nước mắt, bại liệt chân sau, thủy

thũng dưới mỏm ức và phần bụng sau Một số trường hợp bò nhiễm T evansi thể

cấp tính chết nhanh, chỉ trong vòng vài ngày, một số trường hợp kéo dài tới 6 tháng

Theo Nguyễn Quốc Doanh và cs (1997) [4], các triệu chứng lâm sàng chủ

yếu ở thỏ nhiễm T evansi gồm:

- Thủy thũng tai (tai cụp xuống) ở ngày 25 - 52

to, nhạt màu; lách sưng, mềm nhũn và nhạt màu; hạch lâm ba sưng và có tụ máu trong hạch; cơ nhão, màu nhợt nhạt, nhát cắt rỉ nước; xoang ngực và xoang bụng tích dịch màu vàng nhạt; có những đám keo nhầy vàng dưới vùng da thuỷ thũng (Nguyễn Thị Kim Lan, 2012 [11])

Nguyễn Quốc Doanh và cs (1997) [4] cho biết, T evansi gây cho thỏ một

thể bệnh toàn thân, khi mổ thỏ bệnh ở ngày 70 thấy bệnh tích đại thể như sau: bao tim có dịch màu vàng; gan cứng; lách nhũn; phổi bám dính màu vàng, có vùng bị khí thũng; một số khớp bị viêm, trong có dịch màu vàng

Damayanti R và cs (1994) [39] đã gây nhiễm 105 T evansi/trâu cho 6 trâu

tại Indonesia Mổ khám trâu gây nhiễm ở tuần 1, 2, 3, 4, 8 và 12 sau gây nhiễm để nghiên cứu bệnh lý Bệnh tích đại thể gồm có: xuất huyết màng tim, viêm phổi, viêm gan, lách sưng phù, hạch bạch huyết sưng to và tủy xương tăng sinh Bệnh tích

vi thể thấy rõ ở tuần 1 - 7 sau gây nhiễm, các tổn thương được mô tả gồm: viêm phổi kẽ, viêm cơ tim kẽ, hoại tử lách, viêm cơ và tăng sản sinh tủy xương

Trang 26

Nguyễn Quốc Doanh và cs (1997) [4] cũng cho biết, bệnh tích vi thể ở thỏ

- Thận: sung huyết, một số ống thận giãn

1.1.4 Chẩn đoán bệnh tiên mao trùng

1.1.4.1 Chẩn đoán lâm sàng

Các biểu hiện lâm sàng đặc trưng của bệnh tiên mao trùng ở trâu, bò, ngựa không phải lúc nào cũng phát hiện được Rất nhiều gia súc mang bệnh nhưng khó phát hiện các triệu chứng đặc trưng, nhất là đối với những gia súc mắc bệnh tiên mao trùng mãn tính Đối với gia súc mắc bệnh ở thể cấp tính, các biểu hiện bệnh

đặc trưng là sốt cao, bỏ ăn, có triệu chứng thần kinh (điên loạn) và chết nhanh Trâu

bị bệnh mãn tính có thể thấy triệu chứng: sốt gián đoạn, gầy còm, thiếu máu kéo dài, viêm giác mạc, phù thũng ở bụng và chân sau, chết do kiệt sức (Phạm Sỹ Lăng,

1982 [13]) Triệu chứng sảy thai có thể thấy ở trâu, bò bị bệnh tiên mao trùng (Nguyễn Đăng Khải, 1995 [9])

1.1.4.2 Chẩn đoán thí nghiệm

Có nhiều phương pháp chẩn đoán tiên mao trùng trong phòng thí nghiệm, mục đích là phát hiện tiên mao trùng trong máu gia súc Tùy từng trường hợp bệnh, tuỳ điều kiện mà có thể làm cùng lúc một số phương pháp hoặc lựa chọn một phương pháp phù hợp và có độ chính xác, có thể áp dụng những phương pháp sau:

* Phương pháp phát hiện T evansi trực tiếp

- Phương pháp xem tươi (Direct smear)

Trang 27

Khi bệnh súc sốt, T evansi thường xuất hiện trong mao quản ngoại vi; vì

vậy, nên lấy máu vùng ngoại vi để xem tươi Cho 1 giọt máu nhỏ lên phiến kính đã

có sẵn 1 giọt Natri citrat 3,8%; dùng góc của la men khuấy đều, đậy la men lên để máu dàn theo la men thành một lớp mỏng Soi dưới kính hiển vi (độ phóng đại 10 x

10 và 10 x 20) để phát hiện tiên mao trùng sống

- Phương pháp nhuộm Giemsa tiêu bản máu khô (Romanovsky)

+ Phương pháp giọt dầy: đặt 1 giọt máu to vào giữa phiến kính, dùng một góc của đầu một phiến kính khác ria tròn giọt máu với đường kính khoảng 1 - 1,25

cm Để khô tự nhiên trong khoảng 1 giờ, rồi cố định bằng cồn Methanol, nhuộm

Giemsa [1 giọt Giemsa + 1 ml dung dịch PBS (Phosphat Buffered Saline) pH = 7,2]

trong 35 - 40 phút Rửa tiêu bản dưới vòi nước chảy mạnh, để khô rồi soi dưới kính hiển vi (độ phóng đại 10 x 100 hoặc 10 x 90)

Phương pháp này có nhược điểm là dễ làm tổn thương tiên mao trùng, do đó khó phân biệt được các loài khác nhau trong trường hợp nhiễm nhiều loài tiên mao trùng cùng một lúc

+ Phương pháp giọt mỏng: đặt 1 giọt máu cách 1 đầu phiến kính 2 cm, dùng

la men ria máu thành một lớp mỏng Để khô, cố định bằng cồn Methanol trong 2

phút Nhuộm Giemsa trong 25 phút (l giọt Giemsa + 1 ml dung dịch PBS pH = 7,2)

Rửa tiêu bản dưới vòi nước chảy mạnh, để khô, soi dưới kính hiển vi (độ phóng đại

10 x 100 hoặc 10 x 90)

Ưu điểm của phương pháp giọt mỏng là có thể phân biệt được hình thái các

loài tiên mao trùng khác nhau

* Phương pháp tập trung T evansi

Người ta đã sử dụng phương pháp ly tâm tập trung tiên mao trùng bằng ống Haematocrit hoặc tách tiên mao trùng bằng gen DEAE - cellulose

- Phương pháp ly tâm tập trung bằng ống Haematocrit: cho máu động vật nghi mắc bệnh vào ống Haematocrit, một đầu ống được bịt kín bằng chất dẻo matit, một đầu ống để hở Ly âm với tốc độ 14.000 vòng/phút trong 5 phút Sau đó kiểm tra sự tập trung của tiên mao trùng tại vị trí tiếp giáp giữa huyết tương và hồng cầu

Trang 28

* Phương pháp tiêm truyền động vật thí nghiệm

Đây là phương pháp phổ biến, hiệu quả, chính xác và thường được ứng dụng

nhiều để chẩn đoán bệnh tiên mao trùng ở Việt Nam Phương pháp này có ưu điểm

là chính xác, do trực tiếp phát hiện thấy tiên mao trùng sau khi nhân chúng lên trong

động vật thí nghiệm mẫn cảm Song, nhược điểm của phương pháp tiêm truyền động vật thí nghiệm là khi cần chẩn đoán nhanh, với số lượng nhiều và thời gian

ngắn thì phương pháp này không thể đáp ứng được (Lê Ngọc Mỹ, 1994 [21]; Đoàn Văn Phúc và cs., 1994 [24])

* Phương pháp huyết thanh học chẩn đoán bệnh tiên mao trùng

Bằng phương pháp huyết thanh học, có thể phát hiện kháng thể hoặc kháng nguyên tiên mao trùng Đây là các phương pháp huyết thanh học đặc hiệu

* Các phương pháp phát hiện kháng thể kháng tiên mao trùng

Khi tiên mao trùng ký sinh, cơ thể vật chủ sinh ra kháng thể đặc hiệu chống lại tiên mao trùng Những phương pháp sau cho phép phát hiện kháng thể kháng tiên mao trùng trong máu vật chủ:

- Phương pháp ngưng kết trên phiến kính (SAT: Slice Agglutination Test)

Theo Đoàn Văn Phúc (1989) [23], Lê Ngọc Vinh (1992) [35], phương pháp

được tiến hành như sau: hoà tan 1 giọt huyết thanh trâu, bò nghi mắc bệnh vào 1

giọt nước muối sinh lý trên phiến kính, sau đó cho 1 giọt máu chuột bạch có nhiều tiên mao trùng vào, trộn đều, đậy la men và soi dưới kính hiển vi (độ phóng đại 200

- 400 lần) Nếu thấy ngưng kết hình hoa cúc là (+) và ngược lại là (-) Phương pháp này đơn giản, dễ làm và có thể áp dụng trên diện rộng

Trang 29

- Phương pháp LATEX (Latex Agglutination Test)

LATEX là phương pháp được dùng để phát hiện kháng thể lưu động có trong máu của gia súc mắc bệnh tiên mao trùng

Nguyên lý của phương pháp LATEX: khi kháng nguyên bề mặt T evansi

gắn lên các hạt latex kết hợp với kháng thể đặc hiệu kháng tiên mao trùng ở trên bản nhựa, thì sẽ xảy ra phản ứng ngưng kết giữa kháng nguyên với kháng thể Hiện tượng ngưng kết có thể quan sát được bằng mắt thường và được giải thích là do kháng nguyên bề mặt tiên mao trùng được gắn lên các hạt latex là loại kháng nguyên hữu hình, có nhiều điểm quyết định tính kháng nguyên bề mặt (epitop surface) Còn kháng thể đặc hiệu kháng tiên mao trùng lại có nhiều điểm thụ thể (receptor) tương ứng, đặc hiệu với các điểm quyết định của kháng nguyên Do đó, khi kháng nguyên tiên mao trùng gặp kháng thể đặc hiệu kháng tiên mao trùng, sẽ

có hiện tượng một phân tử kháng thể đặc hiệu liên kết với nhiều phân tử kháng nguyên và ngược lại Kết quả là các hạt latex cùng với kháng nguyên chụm lại, tạo thành đám ngưng kết có thể quan sát bằng mắt thường Kháng nguyên dùng cho phản

ứng là kháng nguyên bề mặt được tinh chế từ chủng T evansi không nhuộm màu

Phương pháp này có thể ứng dụng trong kiểm tra dịch tễ và có thể ứng dụng ở cơ sở Tuy nhiên, tỷ lệ phát hiện bệnh không cao do phương pháp này cho kết quả dương tính cả khi con vật khỏi bệnh nhưng vẫn còn kháng thể tồn tại trong huyết thanh Mặt khác, đối với những súc vật mới nhiễm bệnh tiên mao trùng trong huyết thanh chưa có kháng thể nên khi kiểm tra bằng phương pháp LATEX sẽ cho kết quả âm tính

- Phương pháp CATT (Card Agglutination Test for Trypanosomiasis)

Đây là phương pháp ngưng kết trực tiếp giữa kháng nguyên và kháng thể

trên bản nhựa, được dùng để phát hiện kháng thể lưu động trong máu động vật nhiễm bệnh

Nguyên lý: kháng nguyên tiên mao trùng đã được nhuộm màu kết hợp với kháng thể tạo thành những đám kết tủa li ti màu xanh

Cách tiến hành: dùng ống hút 2,5 ml dung dịch Buffer cho vào lọ kháng

Trang 30

nguyên chuẩn đã được nhuộm màu (CATT reagent), lắc đều Cho vào lọ kháng nguyên đối chứng (đối chứng dương, đối chứng âm) mỗi lọ 0,5 ml dung dịch buffer, lắc đều Dùng micropipette pha loãng huyết thanh theo tỷ lệ cần chẩn đoán (1/8) Cho các mẫu huyết thanh cần chẩn đoán đã được pha loãng lần lượt vào các vòng tròn của bản CATT, cho kháng nguyên đối chứng vào hai vòng tròn khác của bản, mỗi loại 1 giọt (tương đương 45µl) Sau đó cho vào tất cả các vòng tròn trên bản CATT 1 giọt kháng nguyên chuẩn Dùng que nhựa trộn đều Cuối cùng cho lên máy lắc 5 phút (60 - 70 lần/ phút) và đánh giá kết quả

Ứng dụng phương pháp CATT ở Việt Nam để chẩn đoán bệnh tiên mao

trùng, Lương Tố Thu và cs (1996) [32] cho biết, phương pháp này dễ sử dụng, có

độ nhạy, độ đặc hiệu cao Theo tác giả ứng dụng IFAT chẩn đoán các mẫu thu thập

ở địa phương cho độ nhạy của CATT gần gấp đôi phương pháp tiêm truyền chuột

bạch (CATT 73,75%; tiêm truyền chuột bạch 100%)

- Phương pháp kháng thể huỳnh quang gián tiếp IFAT (Indirect Fluorescent Antibody Test)

Phản ứng này là phản ứng huyết thanh học đặc hiệu có độ nhạy cao, được

ứng dụng rộng rãi trong phòng thí nghiệm và thực địa Ngoài việc được dùng làm

phản ứng chuẩn để so sánh với các phương pháp huyết thanh khác, phương pháp IFAT còn được dùng trong nghiên cứu các dòng kháng nguyên, phát hiện kháng thể (Luckins, 1988 [46]; Davison, 1999 [40])

Trong phương pháp IFAT, huyết thanh dương chuẩn được lấy từ trâu bò mắc bệnh tiên mao trùng, huyết thanh âm chuẩn được lấy từ trâu bò khoẻ mạnh, huyết thanh cần chẩn đoán là huyết thanh lấy từ gia súc nghi mắc bệnh

Ứng dụng phương pháp này ở Việt Nam, Lương Tố Thu và cs (1996) [32]

đã chế tạo conjugate huỳnh quang trên thỏ kháng IgG của bò để chẩn đoán bệnh

tiên mao trùng Độ pha loãng của conjugate tự chế sử dụng cho phản ứng là 1/8 và huyết thanh chuẩn pha loãng ở 1/40 Kết quả cho thấy, độ nhậy của phương pháp IFAT là 71,25

Để tinh chế kháng nguyên T evansi dùng trong phản ứng miễn dịch huỳnh

Trang 31

quang gián tiếp chẩn đoán bệnh tiên mao trùng ở trâu bò, Vương Thị Lan Phương

(2004) [25] đã nghiên cứu kháng nguyên bề mặt T evansi phân lập từ trâu, bò ở 6

tỉnh phía Bắc Việt Nam và cho biết, đã thu được 6 mẫu tiên mao trùng từ 6 tỉnh, tiến hành phân dòng, phân VAT (Variable Antigenic Type) và thu được 26 VAT thuộc 6 kho kháng nguyên khác nhau Bằng phản ứng dung giải miễn dịch và phương pháp

thấm miễn dịch, tác giả đã xác định được sự thay đổi kháng nguyên bề mặt của T

evansi: đa số các VAT của các kho kháng nguyên khác nhau là khác nhau, chỉ có 8

VAT/26 VAT có hiệu giá kháng thể đơn giá đặc hiệu, có phản ứng chéo với các VAT của các kho kháng nguyên khác Các VAT trội xuất hiện sớm trong 4 tuần lễ

đầu nhiễm bệnh, có tính kháng nguyên mạnh có thể nghiên cứu ứng dụng chế kháng

nguyên chẩn đoán Từ đó, tác giả đã tinh chế kháng nguyên theo phương pháp tách tiên mao trùng để dùng trong phản ứng miễn dịch huỳnh quang gián tiếp, chẩn đoán bệnh tiên mao trùng cho độ nhạy và độ đặc hiệu cao

- Phương pháp ELISA (Enzym Linked Immunosorbent Assay)

Phương pháp ELISA là một trong những phương pháp hiện đại nhất được

ứng dụng để chẩn đoán bệnh tiên mao trùng

Nguyên lý: dùng kháng thể hoặc kháng thể kháng Globulin (kháng kháng thể) có mang một enzym (Phosphatase hoặc Peroxydase) được gắn trên mảnh Fc, cho kết hợp trực tiếp hoặc gián tiếp với kháng nguyên Sau đó, cho cơ chất sinh màu vào, cơ chất sẽ kết hợp với enzym và bị enzym phân huỷ tạo nên màu So sánh với màu của quang phổ kế sẽ định lượng được mức độ của phản ứng

Phương pháp ELISA hiện đang được sử dụng rộng rãi ở các nước trên thế giới Ở Việt Nam, Lê Ngọc Mỹ và cs (1994) [21] đã bước đầu chế kháng nguyên tiên mao trùng và ứng dụng để chẩn đoán bệnh tiên mao trùng ở nước ta

Trần Đức Hạnh và cs (2009) [6] đã ứng dụng phương pháp ELISA chẩn

đoán tiên mao trùng trâu bò tại huyện Phổ Yên – tỉnh Thái Nguyên cho thấy, quy

trình ELISA được sử dụng kháng nguyên bề mặt với nồng độ kháng nguyên phủ đĩa 1µg/ml, nồng độ huyết thanh pha loãng 1/400, nồng độ pha loãng conjugate 1/40000 cho kết quả chẩn đoán tốt

Trang 32

+ Phương pháp sinh học phân tử (Polymerase Chain Reation)

Phương pháp sinh học phân tử được coi là phương pháp hiện đại nhất trong chẩn đoán bệnh tiên mao trùng Vào năm 1987, Muliis và cs đã thiết lập các phản

ứng trong chẩn đoán bệnh tiên mao trùng Nguyên lý của phản ứng này là dựa vào

sự có mặt của primer đặc hiệu để xác định sự có mặt của ADN của tiên mao trùng

có trong máu động vật nhiễm bệnh Phương pháp này có đặc điểm là độ nhạy và độ chính xác cao Tuy nhiên để thực hiện được đòi hỏi phải có trình độ cao và trang thiết bị hiện đại, do đó nó vẫn chưa được áp dụng rộng trong chẩn đoán bệnh tiên mao trùng

1.1.5 Phòng trị T evansi cho trâu, bò

1.1.5.1 Phòng bệnh

Để phòng ngừa bệnh tiên mao trùng có hiệu quả cao, các nhà khoa học đã đề

nghị áp dụng 3 biện pháp sau:

* Diệt tiên mao trùng trên cơ thể ký chủ

Diệt tiên mao trùng ký sinh ở vật chủ không những ngăn chặn được tác hại gây bệnh của chúng mà còn làm cho bệnh mất khả năng lây lan Các biện pháp cụ thể là:

- Phát hiện gia súc nhiễm tiên mao trùng ở vùng có bệnh và những vùng lân cận, nhốt riêng trong chuồng có lưới để ngăn côn trùng và điều trị triệt để cho gia súc bệnh

- Ở những vùng không có bệnh thì không nhập gia súc từ vùng có bệnh về Nếu thật cần thiết thì chỉ nhập những gia súc khoẻ (có kết quả kiểm tra âm tính với tiên mao trùng), song vẫn cần nhốt riêng để theo dõi Nếu không bị bệnh mới cho nhập đàn Phát hiện và diệt những loài thú hoang nghi là nguồn tàng trữ mầm bệnh, hoặc không chăn thả gia súc trong những khu vực có những loài đó sinh sống

* Diệt côn trùng môi giới truyền bệnh

Diệt côn trùng bằng thay đổi sinh thái như là thay đổi điều kiện sống, làm cho côn trùng không sinh sản, không thực hiện được chu kỳ phát triển

Phát quang cây cối ở từng khu vực, không để nước tù đọng, ủ phân để diệt trứng và ấu trùng ruồi, mòng, làm chuồng gia súc có lưới ngăn côn trùng là các biện pháp hữu hiệu, tạo ra những điều kiện bất lợi cho đời sống của côn trùng

Trang 33

Tuy nhiên, do côn trùng có khả năng di chuyển khá mạnh nên các biện pháp trên phải thực hiện đồng thời trên phạm vi rộng mới có hiệu quả

Challier A (1974) [38] cho biết, ở Nigieria, việc phát quang cây cối xung quanh hồ và các con sông trong một khu vực rộng 400 - 800 mét, dài 10.000 mét chỉ hạn chế được một phần hoạt động của những côn trùng môi giới truyền bệnh tiên mao trùng ở đó

- Diệt côn trùng bằng hoá dược:

Có thể dùng các hoá dược tiêu diệt côn trùng môi giới của tiên mao trùng Các hoá dược đã được dùng là: Endosulfan, Brophos, Dieldrine, Tetracloreinphos…

- Diệt côn trùng bằng phương pháp sinh học:

Các nhà khoa học đã phát hiện được 25 loài ong và côn trùng ký sinh gây hại cho các loài ruồi, mòng môi giới truyền bệnh tiên mao trùng

Một số loài vi khuẩn có thể xâm nhập vào cơ thể ruồi hút máu làm chúng mắc bệnh và chết

Nhìn chung, các biện pháp tiêu diệt côn trùng môi giới có hiệu quả nhất định nhưng cũng còn nhiều hạn chế

* Phòng bệnh cho gia súc bằng hoá dược

Hiện nay, biện pháp sử dụng hoá dược để tiêm phòng rộng rãi cho gia súc ở những vùng bệnh tiên mao trùng lưu hành cần phải được tiếp tục trong nhiều năm (Touratier L và cs., 1979 [59])

Từ năm 1934, tổ chức dịch tễ thế giới đã đề nghị sử dụng Novarsenobenzol

để tiêm phòng cho toàn đàn ngựa ở những vùng có bệnh tiên mao trùng Hiện nay,

thuốc Trypamidium, liều 1mg/kgTT được khuyên dùng để phòng bệnh tiên mao trùng cho trâu, bò Theo Touratier L và cs (1979) [59], dùng Trypamidium tiêm

bắp, thời gian phòng bệnh có thể tới 4 - 6 tháng; trong khi đó tiêm tĩnh mạch chỉ phòng bệnh được 2 tháng

1.1.5.2 Điều trị T evansi

Hướng nghiên cứu phòng bệnh ký sinh trùng trong tương lai là sản xuất vaccine phòng bệnh ký sinh trùng

Trang 34

Liu J H và cs (1992) [47] đã nghiên cứu thành công chế vắc xin thử trên chuột bạch, chuột lang, thỏ có kết quả tốt, tác giả cũng tiêm vắc xin cho ngựa, hươu

Lô thí nghiệm sau 30 - 60 - 90 ngày dùng vắc xin thì tiêm truyền 3 x 105 T evansi/con,

tỷ lệ bảo hộ 100%; trong khi lô đối chứng bị chết trong thời gian 3 tháng

Một số loại hoá dược đã được dùng để điều trị bệnh tiên mao trùng cho trâu,

bò, ngựa ở nước ta từ những năm 60 đến nay gồm:

- Naganin, liều 10 mg/kg TT Pha thuốc với dung dịch nước muối sinh lý hoặc nước cất thành dung dịch 10%, tiêm tĩnh mạch

Phan Địch Lân (1974) [16], Phạm Sỹ Lăng và cs (2002) [15] đã thử nghiệm

Naganin và cho biết, thuốc có tác dụng tốt trong điều trị bệnh do T evansi trên trâu,

- Trypamidium, liều 1 mg/kg TT, tiêm sâu vào bắp thịt thành 2 - 3 điểm

Đoàn Văn Phúc và cs (1981) [22] đã thử nghiệm Trypamidium điều trị bệnh

tiên mao trùng cho trâu, bò và cho biết, tỷ lệ an toàn và khỏi bệnh đều đạt 100%

- Azidin (Berenyl) liều 3 mg/kgTT Tiêm sâu bắp thịt (không dùng quá 9 gam cho một gia súc)

Phan Văn Chinh (2006) [2], Phạm Sỹ Lăng và cs (2002) [15] dùng Berenyl

điều trị bệnh tiên mao trùng cho trâu, bò ở các tỉnh miền Trung và cho biết, thuốc đạt hiệu lực 100% với những trâu, bò bị bệnh

- Trypamidium samorin, liều 1 mg/kgTT Tiêm sâu bắp thịt

Nguyễn Quốc Doanh và cs (1996) [3] đã dùng Trypamidium samorin điều trị bệnh tiên mao trùng cho trâu, bò và xác định, thuốc có hiệu lực và độ an toàn rất cao (100%)

Theo Phan Văn Chinh (2006) [2], sử dụng thuốc Trypamidium (liều 1 mg/kgTT) cho tỷ lệ diệt hết tiên mao trùng là 100%

- Trypazen liều 3,5 mg/kgTT, tiêm bắp thịt

Trang 35

Điều trị bệnh tiên mao trùng cho trâu, bò bằng Trypazen với liều trên,

Nguyễn Quốc Doanh và cs (1997) [4] cho biết, thuốc rất an toàn, tỷ lệ khỏi bệnh là 100%

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ BỆNH TIÊN MAO TRÙNG

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Trịnh Văn Thịnh (1982) [31] cho biết, trâu bị bệnh cấp tính có triệu chứng sốt

cao, bỏ ăn, điên loạn, chết nhanh Trâu nhiễm bệnh thể mãn tính thường sốt gián

đoạn, gầy còm, thiếu máu kéo dài, viêm giác mạc, phù thũng ở bụng, liệt chân sau,

chết do kiệt sức Đối với bệnh tiên mao trùng bò, những biểu hiện lâm sàng gần

giống như ở trâu, ít thấy các trường hợp cấp tính, con vật có triệu chứng sốt gián

đoạn, chậm chạp, hạch lâm ba trước đùi sưng, một số con thủy thũng ở vùng hàm,

vùng cổ nhưng không đau, gần chết thì bại liệt

Lê Ngọc Mỹ và cs (1994) [21] đã điều tra tình hình nhiễm tiên mao trùng ở

trâu bò Việt Nam Kết quả cho thấy, trâu bò nhiễm tiên mao trùng với tỷ lệ cao

(21,27%), trong đó trâu bò nuôi ở các tỉnh miền núi phía Bắc nhiễm T evansi cao

hơn ở đồng bằng Tác giả cũng cho biết, hiện tượng sảy thai ở trâu bò mắc tiên mao

trùng rất cao, dao động từ 19,23% - 47,82% Các tác giả cho biết, trong thời gian

nghiên cứu, ghi nhận được số trâu bò mắc tiên mao trùng mà không biểu hiện triệu

chứng lâm sàng chiếm tỷ lệ rất cao Với 121 mẫu kiểm tra trâu bò khỏe mạnh,

không biểu hiện triệu chứng lâm sàng, các tác giả phát hiện 36,17% có tiên mao

trùng trong máu

Theo Lê Đức Quyết và cs (1995) [26], Phạm Chiến và cs (1999) [1], trâu ở một

số tỉnh miền Nam và Tây Nguyên nhiễm tiên mao trùng là 22,12%; bò là 6,6 - 10,3%

Phan Lục và cs (1996) [19] cho biết, tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng của bò ở một số địa phương miền Bắc là 5,9% Khi nghiên cứu tình hình nhiễm đơn bào của

trâu bò một số tỉnh trung du và đồng bằng phía Bắc Việt Nam thấy, tỷ lệ nhiễm T

evansi ở trâu là 28,8%, ở bò là 9,9% Trong đó, trâu dưới 2 tuổi nhiễm 2,8%, từ

2 - 8 tuổi nhiễm 30,7% và trên 8 tuổi nhiễm tới 40,3%; bò dưới 2 tuổi nhiễm 1,5%,

từ 2 - 8 tuổi nhiễm 11,5% và bò trên 8 tuổi nhiễm 28%

Theo Hoàng Thạch và cs (1996) [28], nghiên cứu về tình hình nhiễm tiên

Trang 36

mao trùng ở trâu và bò sữa khu vực phía Nam cho biết, với 1830 mẫu nghiên cứu

tại các tỉnh Sông Bé, Đồng Nai, Lâm Đồng, Long An và Thành phố Hồ Chí Minh

phát hiện 146 mẫu nhiễm tiên mao trùng, chiếm tỷ lệ 7,97% Trong đó tỷ lệ nhiễm

của trâu là 9,98% và ở bò là 12,60%

Hồ Thị Thuận, Phan Hoàng Dũng (1996) [33] điều tra tình hình nhiễm

T evansi ở một số đàn bò sữa các tỉnh phía Nam như: An Phước (Đồng Nai), Đức

Trong (Lâm Đồng) và các hộ chăn nuôi ở thành phố Hồ Chí Minh, các hộ chăn nuôi

gia đình ở huyện Đức Hòa (Long An), Bến Cát (Sông Bé) bằng phương pháp và

ELISA thấy tỷ lệ nhiễm trung bình là 7,97% Nhưng chỉ có trâu bò ở Bến Cát nhiễm

9,98%; ở An Phước là 12,60%; Lâm Đồng là 2,09%; còn ở các nơi khác không có

Theo Hà Viết Lượng (1998) [20], tỷ lệ bò nhiễm tiên mao trùng ở các tỉnh

miền Trung là 8,99%

Nguyễn Đức Tân và cs (2004) [27] điều tra tình hình nhiễm ký sinh trùng

đường máu ở một số đàn bò thuộc một số tỉnh Nam Trung bộ và Tây Nguyên cho

biết, nghiên cứu tổng số 557 mẫu phát hiện 49 mẫu có tiên mao trùng, chiếm 8,8%

Trong đó nhiễm nặng nhất là đàn bò nuôi tại tỉnh Đắc Lắc, nhiễm 10,3%; nhiễm thấp

nhất là đàn bò nuôi tại tỉnh Phú Yên (6,6%); đàn bò nuôi tại Khánh Hòa nhiễm 8,5%

Nguyễn Quốc Doanh và cs (1997) [4] gây nhiễm 106 T evansi/thỏ thì sớm

nhất sau 2 ngày và muộn nhất sau 5 ngày đã thấy T evansi xuất hiện trong máu

ngoại vi Mật độ T evansi trong máu cao dần sau gây nhiễm, thường xuyên cao từ

ngày 13 - 32 Cao nhất ở ngày 25 sau đó giảm dần

1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Tamasankas R (1992) [58] cho biết, bò ở Guaico nhiễm T.evansi từ 11% -74

% , bò dưới 12 tháng nhiễm 21,04%, bò trên 25 tháng nhiễm 72,92%, bò Zebu cao

sản nhiễm 74,4%

Năm 1992, Tperone M C và cs [60] kiểm tra bò ở Venezuela thấy, bò dưới

3 tháng nhiễm T evansi là 13% và bò trên 36 tháng nhiễm 50%

Trang 37

Theo Simukoko H và cs (2007) [55], nghiên cứu về dịch tễ bệnh tiên mao trùng ở các vật nuôi như: bò, lợn và dê ở Đông Zambia cho thấy, với 734 bò nghiên cứu phát hiện tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng là 13,5%; trong đó với 324 lợn nghiên cứu, các tác giả phát hiện chỉ có 0,9% trong số đó bị nhiễm; với 33 dê nghiên cứu, các tác giả chưa phát hiện được tiên mao trùng

Sinshaw A và cs (2006) [56] cho biết, nghiên cứu về tỷ lệ nhiễm

Trypanosoma vivax ở 3 khu vực thuộc Ethiopia cho thấy: tỷ lệ bò nhiễm tiên mao

trùng là 6,1%, trong đó mùa mưa nhiễm 9,6%, mùa khô nhiễm 3,6% Tác giả phát hiện 1/122 mẫu máu cừu có tiên mao trùng, chiếm 0,81%; còn đối với dê, tác giả

thông báo có 1/676 mẫu nhiễm, chiếm tỷ lệ là 0,14%

Goossens B và cs (2006) [43] nghiên cứu về tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở

bò thuộc khu vực Mafia Island (Tanzania) cho biết, nghiên cứu 970 mẫu, phát hiện

0,8% có tiên mao trùng trong máu Theo Sinyangwe L và cs (2004) [57], nghiên

cứu tình hình nhiễm tiên mao trùng ở khu vực Đông Zambia thấy, trong tổng số

1526 mẫu huyết thanh nghiên cứu, phát hiện 14,4% mẫu có kháng thể tiên mao

trùng Trong đó, nhiễm Trypanosoma congolense chiếm tới 96%, còn lại nhiễm

Trypanosoma vivax là 2% và Trypanosoma brucei là 2%

Theo Aquino L P và cs (1999) [36], chó nhiễm T evansi có triệu chứng sốt

gián đoạn, niêm mạc nhợt nhạt, phù nề, con vật gầy yếu và có thể sờ thấy các hạch bạch huyết sưng to

Ngeranwa J J và cs (1991) [48] nghiên cứu ảnh hưởng của TMT đến số

lượng và chất lượng tinh dịch ở động vật, các tác giả tiến hành gây nhiễm T evansi

cho 6 dê đực qua đường tĩnh mạch Kết quả cho thấy, TMT phát triển thất thường, nhưng dai dẳng, tạo thành thể bệnh mãn tính Một nửa trong số dê thí nghiệm có triệu chứng viêm tinh hoàn Hai dê bị chết vì bệnh TMT trong thời gian thử nghiệm Tinh dịch ở các dê còn lại được kiểm tra thấy chất lượng và số lượng đều giảm (số lượng của tinh trùng chết tăng đáng kể) Sau đó, tinh hoàn của các dê thí nghiệm bị teo lại Bệnh tích vi thể cho thấy, trong tinh hoàn dê thí nghiệm không có tinh trùng,

Trang 38

các mạch máu trong tinh hoàn bị viêm; hầu hết các túi sinh tinh, ống dẫn tinh và các

ống mào tinh bị vôi hóa (canxi hóa)

Verma B B., Gautam O P (1978) [64] cho biết, trâu, bò gây nhiễm T

evansi thể hiện rất rõ trạng thái bệnh lý, chết trong khoảng 22 - 96 ngày sau khi gây

nhiễm Một số bò khỏi bệnh tự nhiên trở thành vật mang trùng Triệu chứng lâm

sàng của nghé 6 tuổi nhiễm T evansi ở Ấn Độ như sau: sốt 39 - 400C, bỏ ăn, đau đớn

Khi lấy máu nghé bị bệnh tiêm truyền cho chuột bạch đã phát hiện thấy T evansi

Theo Sarah Womack và cs (2006) [53], dấu hiệu lâm sàng của bệnh có thể

khác nhau tùy theo cá thể hoặc tùy theo loài Động vật bị nhiễm T evansi cấp tính

thường có một số triệu chứng lâm sàng và chết trong vòng vài tuần đến vài tháng

nhiễm trùng Ngược lại, nếu nhiễm mãn tính T evansi có thể kéo dài nhiều năm Ở

trâu, bò, ngựa, lừa, la, thời gian ủ bệnh từ 5 đến 60 ngày Các dấu hiệu lâm sàng bao gồm giảm cân, ủ rũ, lười vận động, thiếu máu, suy nhược, các hạch bạch huyết sưng, phù thũng, nổi mề đay, rụng lông và sốt không liên tục Hiện tượng sảy thai

và thai chết lưu cũng là một triệu chứng thường xảy ra Động vật nhiễm T evansi có

thể không thấy các triệu chứng lâm sàng

Payne R C và cs (1992) [50] nghiên cứu về khả năng tăng khối lượng trên

9 bê Holstein Friesian nhiễm T evansi do gây nhiễm Sau gây nhiễm, hàng tuần kiểm tra trọng lượng cơ thể bê, kết quả cho thấy nhiễm T evansi ảnh hưởng nghiêm

trọng đến khả năng tăng trọng của bê

Theo Uche U E., Jones T W (1992) [61], khi xét nghiệm vi thể các bộ phận

cơ thể của thỏ bị nhiễm Trypanosoma evansi thấy những biến đổi bệnh lý rõ ràng ở

gan, lá lách, các hạch bạch huyết, âm hộ và mí mắt Tuy nhiên, những biến đổi bệnh

lý cũng thể hiện ở thận, phổi, tim và đó là nguyên nhân chính gây chết cho thỏ

Đồng thời có thể quan sát thấy rất nhiều T evansi trong các mô kiểm tra

Quinones Mateu M E và cs (1994) [51] làm sinh thiết cơ xương lấy từ 10

ngựa đực nhiễm T evansi tự nhiên và 10 ngựa khỏe làm đối chứng Kết quả cho

Trang 39

thấy, sợi cơ và các mao mạch của ngựa bệnh bị hoại tử nghiêm trọng, có tế bào đơn nhân xâm nhiễm Kích thước các sợi cơ và mao mạch thay đổi rõ rệt so với lô đối chứng

Dia M L (1995) [41] gây nhiễm loài Trypanosoma evansi phân lập từ

Mauritania, Kenya, Niger, Chad và Trung Quốc cho chuột thí nghiệm để so sánh

độc lực Các liều gây nhiễm gồm 5x105

, 2x106 và 5x106 T evansi/chuột Kết quả cho thấy, thời gian sống của chuột gây nhiễm bởi loài T evansi phân lập từ Kenya,

Niger và Trung Quốc là ngắn, trung bình 2,1 - 6,5 ngày (tùy liều gây nhiễm) Thời

gian sống của chuột gây nhiễm bởi T evansi phân lập từ Mauritania và Chad lâu

hơn; từ 12,5 - 22,7 ngày (tùy thuộc vào liều)

Trang 40

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

ư

2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đàn trâu, bò của tỉnh Thái Nguyên và Lạng Sơn

- Bệnh tiên mao trùng do Trypanosoma evansi gây ra

2.1.2 Vật liệu nghiên cứu

- Mẫu máu trâu, bò

- Giống Trypanosoma: được phân lập từ trâu, bò mắc bệnh tiên mao trùng tại

các địa phương nghiên cứu và được nhân lên trên động vật thí nghiệm

- Động vật gây nhiễm T evansi

Tất cả các động vật thí nghiệm (chuột bạch, thỏ) đều khoẻ mạnh Động vật gây nhiễm phải được đảm bảo vệ sinh phòng bệnh theo quy trình chung của thú y

Động vật gây nhiễm phải tương đối đồng đều về thể trọng, lứa tuổi, chế độ chăm

sóc nuôi dưỡng

Động vật thí nghiệm được chọn theo số lượng và khối lượng như sau:

Chuột bạch (18 – 20 g/con) : 80 con (40 cái, 40 đực)

Thỏ (1,5 – 2 kg/con) : 12 con

* Hoá chất nghiên cứu:

- Thuốc nhuộm giemsa

- Dung dịch PBS pH = 7,2

- Cồn Methanol

- Dầu bạch dương

- Formol 5%

- Thuốc điều trị bệnh tiên mao trùng: Trypamidium, Azidin, Naganin

* Dụng cụ dùng trong nghiên cứu:

- Xi lanh 1ml, 3ml, 5ml và kim tiêm các loại

- Chuồng nuôi thỏ và chuột thí nghiệm

Ngày đăng: 25/05/2016, 20:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Chiến, Nguyễn Đức Tân, Lê Đức Quyết (1999), “Kết quả khảo sát ký sinh trùng đường máu trên đàn bò ở huyện Mi Dinh – Đaklak”. Kết quả hoạt động Khoa học kỹ thuật Thú y, tr. 53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả khảo sát ký sinh trùng đường máu trên đàn bò ở huyện Mi Dinh – Đaklak”". Kết quả hoạt động Khoa học kỹ thuật Thú y
Tác giả: Phạm Chiến, Nguyễn Đức Tân, Lê Đức Quyết
Năm: 1999
2. Phan Văn Chinh (2006), Bệnh tiên mao trùng do Trypanosoma evansi ở trâu, bò nuôi tại các tỉnh miền Trung và biện pháp phòng trị, Luận án Tiến sĩ nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh tiên mao trùng do Trypanosoma evansi ở trâu, bò nuôi tại các tỉnh miền Trung và biện pháp phòng trị
Tác giả: Phan Văn Chinh
Năm: 2006
3. Nguyễn Quốc Doanh, Lương Tố Thu, Lê Ngọc Mỹ, Phạm Sỹ Lăng (1996), “Kết quả dùng Trypamidium samorin điều trị bệnh tiên mao trùng trâu bò do T.evansi gây ra”, Tạp chí Khoa hoc công nghệ và Quản lý, (12), tr. 300 – 301 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả dùng Trypamidium samorin điều trị bệnh tiên mao trùng trâu bò do "T. "evansi" gây ra”, "Tạp chí Khoa hoc công nghệ và Quản lý
Tác giả: Nguyễn Quốc Doanh, Lương Tố Thu, Lê Ngọc Mỹ, Phạm Sỹ Lăng
Năm: 1996
4. Nguyễn Quốc Doanh (1997), “Hiệu lực của Trypazen trong điều trị bệnh tiên mao trùng trâu T. evansi gây ra”, Tạp chí Khoa học công nghệ và Quản lý, (4), tr. 87 – 88 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu lực của Trypazen trong điều trị bệnh tiên mao trùng trâu "T. evansi" gây ra”, "Tạp chí Khoa học công nghệ và Quản lý
Tác giả: Nguyễn Quốc Doanh
Năm: 1997
5. Nguyễn Quốc Doanh (1999), Một số đặc tính sinh học của T. evansi (Steel, 1885), bệnh học do chúng gây ra, quy trình bảo quản và sử dụng giống T.evansi để chẩn đoán bệnh tiên mao trùng, Luận án Tiến sỹ nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc tính sinh học của T. evansi (Steel, 1885), bệnh học do chúng gây ra, quy trình bảo quản và sử dụng giống T. "evansi để chẩn đoán bệnh tiên mao trùng
Tác giả: Nguyễn Quốc Doanh
Năm: 1999
6. Trần Đức Hạnh, Nguyễn Quang Tuyên, Nguyễn Thị Giang Thanh (2009), “Kết quả ứng dụng kỹ thuật ELISA trong chẩn đoán bệnh tiên mao trùng cho trâu, bò tại huyện Phổ Yên – tỉnh Thái Nguyên”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y, 16(3), tr. 50 -54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả ứng dụng kỹ thuật ELISA trong chẩn đoán bệnh tiên mao trùng cho trâu, bò tại huyện Phổ Yên – tỉnh Thái Nguyên”, "Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y
Tác giả: Trần Đức Hạnh, Nguyễn Quang Tuyên, Nguyễn Thị Giang Thanh
Năm: 2009
7. Hoàng Hải Hóa, Trần Thanh Vân (2000), Cẩm nang thú y viên , Dự án tăng cường công tác thú y Việt Nam, tr. 33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang thú y viên
Tác giả: Hoàng Hải Hóa, Trần Thanh Vân
Năm: 2000
8. Lương Văn Huấn, Lê Hữu Khương (1997), Giáo trình Ký sinh trùng Thú y, Trường Đại học Nông lâm Thủ Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Ký sinh trùng Thú y
Tác giả: Lương Văn Huấn, Lê Hữu Khương
Năm: 1997
9. Nguyễn Đăng Khải (1995), "Về triệu chứng sảy thai trong bệnh tiên mao trùng trâu bò do T. evansi", Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y, 3(1), tr. 69 - 71 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về triệu chứng sảy thai trong bệnh tiên mao trùng trâu bò do T. evansi
Tác giả: Nguyễn Đăng Khải
Năm: 1995
10. Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Thị Lê, Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Văn Quang (2008), Giáo trình ký sinh trùng thú y (Dùng cho bậc cao học), Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 123 - 144 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình ký sinh trùng thú y (Dùng cho bậc cao học)
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Thị Lê, Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Văn Quang
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2008
11. Nguyễn Thị Kim Lan (2012), Giáo trình ký sinh trùng và bệnh ký sinh trùng thú y, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình ký sinh trùng và bệnh ký sinh trùng thú y
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Lan
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2012
12. Phạm Sỹ Lăng (1978 -1979), Tập huấn kỹ thuật chẩn đoán và khống chế bệnh ký sinh trùng, Hà Nội, tháng 3 năm 2002, Viện Thú y - JICA Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập huấn kỹ thuật chẩn đoán và khống chế bệnh ký sinh trùng
13. Phạm Sỹ Lăng (1982), Một số đặc điểm dịch tễ học bệnh tiên mao trùng trâu, bò do Trypanosoma evansi ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam, Luận án Phó tiến sỹ khoa học Thú y Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm dịch tễ học bệnh tiên mao trùng trâu, bò do Trypanosoma evansi ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng
Năm: 1982
14. Phạm Sỹ Lăng, Lê Ngọc Mỹ (1984), Một số thay đổi về máu trâu bò bị bệnh tiên mao trùng do Trypanosoma evansi (Steel, 1885) tại các tỉnh phía Bắc Việt Nam, Kết quả nghiên cứu Khoa học kỹ thuật Thú y 1979 - 1984 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số thay đổi về máu trâu bò bị bệnh tiên mao trùng do Trypanosoma evansi (Steel, 1885) tại các tỉnh phía Bắc Việt Nam
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Lê Ngọc Mỹ
Năm: 1984
15. Phạm Sỹ Lăng, Lê Văn Tạo (2002), Hướng dẫn phòng trị bệnh ký sinh trùng, bệnh nội khoa và nhiễm độc ở bò sữa, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 33 - 41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn phòng trị bệnh ký sinh trùng, bệnh nội khoa và nhiễm độc ở bò sữa
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Lê Văn Tạo
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
16. Phan Địch Lân (1974), “Thành phần họ mòng Tabanidae và vai trò truyền bệnh của nó ở miền Bắc Việt Nam”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp, (3), tr. 23 - 26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Thành phần họ mòng "Tabanidae" và vai trò truyền bệnh của nó ở miền Bắc Việt Nam"”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp
Tác giả: Phan Địch Lân
Năm: 1974
17. Phan Địch Lân (1983), “Họ mòng Tabanide côn trùng môi giới truyền bệnh tiên mao trùng”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật nông nghiệp, tr. 22 - 24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Họ mòng "Tabanide" côn trùng môi giới truyền bệnh tiên mao trùng"”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật nông nghiệp
Tác giả: Phan Địch Lân
Năm: 1983
18. Phan Địch Lân (2004), Bệnh ngã nước trâu bò, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 56 - 73 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh ngã nước trâu bò
Tác giả: Phan Địch Lân
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2004
19. Phan Lục, Trần Văn Quyên, Nguyễn Văn Thọ (1996), “Tình hình nhiễm đơn bào ký sinh của trâu bò ở một số vùng trung du và đồng bằng phía Bắc Việt Nam”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y, 3(4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình nhiễm đơn bào ký sinh của trâu bò ở một số vùng trung du và đồng bằng phía Bắc Việt Nam”, "Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y
Tác giả: Phan Lục, Trần Văn Quyên, Nguyễn Văn Thọ
Năm: 1996
20. Hà Viết Lượng (1998), Đơn bào ký sinh, đặc điểm dịch tễ và biện pháp phòng trị bệnh Trypanosomiasis ở bò thuộc Nam Trung Bộ, Luận văn Thạc sỹ khoa học Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đơn bào ký sinh, đặc điểm dịch tễ và biện pháp phòng trị bệnh Trypanosomiasis ở bò thuộc Nam Trung Bộ
Tác giả: Hà Viết Lượng
Năm: 1998

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Cấu tạo của Trypanosoma - Nghiên Cứu Đặc Điểm Dịch Tễ Bệnh Do Trypanosoma Evansi Ở Trâu, Bò Tại Thái Nguyên Và Lạng Sơn Và Phác Đồ Điều Trị Hiệu Quả
Hình 1.1. Cấu tạo của Trypanosoma (Trang 13)
Bảng 3.1. Tỷ lệ nhiễm T. evansi ở trâu tại Thái Nguyên và Lạng Sơn - Nghiên Cứu Đặc Điểm Dịch Tễ Bệnh Do Trypanosoma Evansi Ở Trâu, Bò Tại Thái Nguyên Và Lạng Sơn Và Phác Đồ Điều Trị Hiệu Quả
Bảng 3.1. Tỷ lệ nhiễm T. evansi ở trâu tại Thái Nguyên và Lạng Sơn (Trang 47)
Bảng 3.2. Tỷ lệ nhiễm T. evansi ở trâu theo lứa tuổi - Nghiên Cứu Đặc Điểm Dịch Tễ Bệnh Do Trypanosoma Evansi Ở Trâu, Bò Tại Thái Nguyên Và Lạng Sơn Và Phác Đồ Điều Trị Hiệu Quả
Bảng 3.2. Tỷ lệ nhiễm T. evansi ở trâu theo lứa tuổi (Trang 50)
Bảng 3.3. Tỷ lệ nhiễm T. evansi ở trâu theo mùa vụ - Nghiên Cứu Đặc Điểm Dịch Tễ Bệnh Do Trypanosoma Evansi Ở Trâu, Bò Tại Thái Nguyên Và Lạng Sơn Và Phác Đồ Điều Trị Hiệu Quả
Bảng 3.3. Tỷ lệ nhiễm T. evansi ở trâu theo mùa vụ (Trang 52)
Bảng 3.5. Tỷ lệ nhiễm T. evansi ở bò tại một số tỉnh miền núi phía Bắc - Nghiên Cứu Đặc Điểm Dịch Tễ Bệnh Do Trypanosoma Evansi Ở Trâu, Bò Tại Thái Nguyên Và Lạng Sơn Và Phác Đồ Điều Trị Hiệu Quả
Bảng 3.5. Tỷ lệ nhiễm T. evansi ở bò tại một số tỉnh miền núi phía Bắc (Trang 55)
Bảng 3.7. Tỷ lệ nhiễm T. evansi ở bò theo mùa vụ - Nghiên Cứu Đặc Điểm Dịch Tễ Bệnh Do Trypanosoma Evansi Ở Trâu, Bò Tại Thái Nguyên Và Lạng Sơn Và Phác Đồ Điều Trị Hiệu Quả
Bảng 3.7. Tỷ lệ nhiễm T. evansi ở bò theo mùa vụ (Trang 59)
Bảng 3.9. Thời gian T. evansi xuất hiện trong máu của chuột bạch gây nhiễm - Nghiên Cứu Đặc Điểm Dịch Tễ Bệnh Do Trypanosoma Evansi Ở Trâu, Bò Tại Thái Nguyên Và Lạng Sơn Và Phác Đồ Điều Trị Hiệu Quả
Bảng 3.9. Thời gian T. evansi xuất hiện trong máu của chuột bạch gây nhiễm (Trang 62)
Bảng 3.10. Thời gian chết của chuột bạch sau gây nhiễm T. evansi - Nghiên Cứu Đặc Điểm Dịch Tễ Bệnh Do Trypanosoma Evansi Ở Trâu, Bò Tại Thái Nguyên Và Lạng Sơn Và Phác Đồ Điều Trị Hiệu Quả
Bảng 3.10. Thời gian chết của chuột bạch sau gây nhiễm T. evansi (Trang 63)
Bảng 3.11. Triệu chứng lâm sàng ở chuột bạch sau gây nhiễm - Nghiên Cứu Đặc Điểm Dịch Tễ Bệnh Do Trypanosoma Evansi Ở Trâu, Bò Tại Thái Nguyên Và Lạng Sơn Và Phác Đồ Điều Trị Hiệu Quả
Bảng 3.11. Triệu chứng lâm sàng ở chuột bạch sau gây nhiễm (Trang 64)
Bảng 3.12. Bệnh tích đại thể ở chuột bạch bị bệnh tiên mao trùng do gây nhiễm - Nghiên Cứu Đặc Điểm Dịch Tễ Bệnh Do Trypanosoma Evansi Ở Trâu, Bò Tại Thái Nguyên Và Lạng Sơn Và Phác Đồ Điều Trị Hiệu Quả
Bảng 3.12. Bệnh tích đại thể ở chuột bạch bị bệnh tiên mao trùng do gây nhiễm (Trang 65)
Bảng 3.14. Sự xuất hiện T. evansi trong máu thỏ gây nhiễm và thời gian thỏ chết - Nghiên Cứu Đặc Điểm Dịch Tễ Bệnh Do Trypanosoma Evansi Ở Trâu, Bò Tại Thái Nguyên Và Lạng Sơn Và Phác Đồ Điều Trị Hiệu Quả
Bảng 3.14. Sự xuất hiện T. evansi trong máu thỏ gây nhiễm và thời gian thỏ chết (Trang 67)
Bảng 3.15. Triệu chứng lâm sàng ở thỏ sau gây nhiễm - Nghiên Cứu Đặc Điểm Dịch Tễ Bệnh Do Trypanosoma Evansi Ở Trâu, Bò Tại Thái Nguyên Và Lạng Sơn Và Phác Đồ Điều Trị Hiệu Quả
Bảng 3.15. Triệu chứng lâm sàng ở thỏ sau gây nhiễm (Trang 69)
Bảng 3.16. Bệnh tích đại thể ở thỏ bị bệnh TMT do gây nhiễm - Nghiên Cứu Đặc Điểm Dịch Tễ Bệnh Do Trypanosoma Evansi Ở Trâu, Bò Tại Thái Nguyên Và Lạng Sơn Và Phác Đồ Điều Trị Hiệu Quả
Bảng 3.16. Bệnh tích đại thể ở thỏ bị bệnh TMT do gây nhiễm (Trang 70)
Bảng 3.17. Thử nghiệm phác đồ điều trị bệnh TMT ở trâu trên diện hẹp - Nghiên Cứu Đặc Điểm Dịch Tễ Bệnh Do Trypanosoma Evansi Ở Trâu, Bò Tại Thái Nguyên Và Lạng Sơn Và Phác Đồ Điều Trị Hiệu Quả
Bảng 3.17. Thử nghiệm phác đồ điều trị bệnh TMT ở trâu trên diện hẹp (Trang 71)
Bảng 3.18. Thử nghiệm phác đồ điều trị bệnh TMT ở bò trên diện hẹp - Nghiên Cứu Đặc Điểm Dịch Tễ Bệnh Do Trypanosoma Evansi Ở Trâu, Bò Tại Thái Nguyên Và Lạng Sơn Và Phác Đồ Điều Trị Hiệu Quả
Bảng 3.18. Thử nghiệm phác đồ điều trị bệnh TMT ở bò trên diện hẹp (Trang 72)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w