MỞ ĐẦUĐược coi là “Vitamin của ngành công nghiệp hiện đại”, đất hiếm ĐH được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như: quốc phòng, hàng không vũ trụ, điện tử,công nghệ thông tin, công n
Trang 1MỞ ĐẦU
Được coi là “Vitamin của ngành công nghiệp hiện đại”, đất hiếm (ĐH) được
sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như: quốc phòng, hàng không vũ trụ, điện tử,công nghệ thông tin, công nghiệp hạt nhân, năng lượng mới… Nó là tài nguyênchiến lược quý và không thể tái sinh.Nếu không có các nguyên tố ĐH, rất nhiềucông nghệ hiện đại và các ứng dụng sẽ không thể thực hiện được
Kim loại đất hiếm ở Việt Nam rất phong phú và nguồn gốc đều liên quanchặt chẽ có các phức hệ granit và đá kiềm Tại Việt Nam từ những năm 1960, cácnhà địa chất đã đánh giá trữ lượng đất hiếm là khoảng 10 triệu tấn, nằm rải rác ởcác mỏ quặng vùng Tây Bắc, đặc biệt xuất hiện nhiều ở Yên Bái, Lai Châu Cụ thể
là mỏ đất hiếm Đông Pao, nằm trên địa phận xã Bản Hon, huyện Phong Thổ, tỉnhLai Châu Các nguyên tố đất hiếm đến nay chưa nghiên cứu được nhiều nhưng rõràng là chúng có triển vọng và cần được nghiên cứu công nghệ đầy đủ để tận thukhi khai thác nguyên liệu chính Cần phải có chính sách kinh tế thích hợp về nghiêncứu, tìm kiếm thăm dò và khai thác các nguyên tố phụ như monazite, xenotim…trong sa khoáng Những nguyên tố này về quy mô (hàm lượng, trữ lượng) có thể bénhưng giá trị kinh tế lại rất lớn, có khi không nhỏ hơn giá trị của khoáng sản chính
PHẦN I TỔNG QUAN VỀ NGUYÊN TỐ ĐẤT HIẾM
1.1.Giới thiệu chung về các NTĐH
Theo định nghĩa của Bách khoa toàn thư [1], thì các nguyên tố đất hiếm (rareearth elements) và các kim loại đất hiếm (rare earth metals) là tập hợp của
17 nguyên tố hóa học thuộc bảng tuần hoàn hóa học, có tên gọi là Scandi,Yttri và 14 trong 15 nguyên tố của của nhóm Lantan (ngoại trừ Promethi), có hàmlượng rất nhỏ chứa trong vỏ trái đất Người ta có thể tìm thấy các nguyên tố đấthiếm ở trong các lớp trầm tích, các mỏ quặng và cát đen Đất hiếm được sắp xếpvào dạng hợp kim và các hợp chất khác, chính xác là nam châm đất hiếm từ cácdạng khác nhau của nam châm
Các NTĐH còn gọi là các Lantanoit hay họ Lantan gồm 15 nguyên tố giốngnhau về mặt hoá học từ La (Z =57) đến Lu (Z = 71) nằm ở chu kỳ VI phân nhóm
Trang 2phụ nhóm III trong bảng hệ thống tuần hoàn của Mendeleep, ngoài ra người ta cònxếp Y (Z=39), Sc (Z =21) vào cùng các NTĐH.
Các NTĐH phân bố rải rác trong tự nhiên, người ra tìm được hơn 170 loạiquặng có chứa đất hiếm, ngoài ra chúng còn được tìm thấy trong quyển sinh vật,động vật, thực vật, trong các loại tảo, trong than đá Các NTĐH ở dạng nguyênchất là những kim loại có ánh kim, có thể quan sát màu sắc của NTĐH khi chúngmới bị cắt hoặc đập vỡ Tuy nhiên màu sắc của chúng phụ thuộc vào hàm lượng tạpchất
Các NTĐH có nhiệt độ nóng chảy và nhiệt độ sôi cao, chúng có độ cứng nhỏnên khá dẻo, có thể sử dụng ở dạng bột, dạng thỏi hay dạng lá mỏng do ở dạng bộtcác NTĐH rất hoạt động hoá học và nguy hiểm nên người ta phải bảo quản chúngrất cẩn thận
Cấu hình electron chung của các NTĐH họ Lantanoit được biểu diễn nhưsau: 4fn 5s25p65dm 6s2
Trong đó: n - có giá trị từ 0 14
m - có giá trị từ 0 1
Lớp 4f có sự bổ sung điện tử theo thứ tự tăng dần bắt đầu từ Xeri được
lấp đầy 1 điện tử vào mức 4f cho đến 14 điện tử ở Lu Trong khi các mức nănglượng ngoài cùng vẫn giữ nguyên và không bị ảnh hưởng bởi lực hút của hạt nhân
do có sự che chắn của lớp 4f thì mức năng lượng 5d gần mức năng lượng 4f bị ảnhhưởng rất nhiều nên ở 1 vài nguyên tố có thể ion hoá thấp, điện tử dễ dàng chuyển
từ mức 4f lên mức 5d điều này giải thích tại sao mức oxi hoá phổ biến của cácNTĐH là +3 Nhưng ngoài ra người ta còn gặp mức oxi hoá +4 ở Ce, Pr, Tb vàmức oxi hoá +2 ở Sm, Eu, Yb Sự thay đổi số điện tử ở mức 5d và 4f dẫn đến một
số khác biệt có tính chất tuần hoàn trong dãy các NTĐH như tính bazơ, màu sắc, độtan, dãy các NTĐH có bán kính ion giảm dần từ La đến Lu với sự tăng dần sốnguyên tử Z Sự cố Lantanoit là do sự tăng lực hút các lớp electron ngoài cùng khiđiện tích hạt nhân tăng Do các điện tử điền vào phân lớp 4f ảnh hưởng rất lớn đến
sự biến đổi tính chất của các NTĐH từ La đến Lu Tuy sự khác nhau không lớnnhưng có ý nghĩa rất quan trọng đặc biệt là để tách các Lantanoit ra khỏi nhau
Trang 3Trong lĩnh vực hoá học các NTĐH thường được chia thành hai nhóm nhưtrong bảng.
1.2.2 Các hydrôxit đất hiếm [Ln(OH) 3 ]
Các hydroxit đất hiếm là những kết tủa ít tan trong nước, tích số tan
giảm từ Ce(OH)3 khoảng 10-20 đến Ln(OH)3 khoảng 10-24 Độ bền nhiệt giảmxuống từ Ce đến Lu
Các Ln(OH)3 được điều chế bằng tác dụng của các dung dịch muối Ln(III)với dung dịch kiềm hay amoniăc
1.2.3 Các muối đất hiếm
Là những chất ở dạng tinh thể có cấu tạo ion nhiệt độ nóng chảy và nhiệt độsôi của chúng đều cao và giảm xuống từ Bromua đến Iốtdua Các triflorua khankhông tan trong nước còn các trihalogenua khan khác hút ẩm và chảy rữa khi đểngoài không khí ẩm
Các muối này dễ tan trong nước, độ tan giảm từ La(NO3)3 đến Ln(NO3)3
Các đất hiếm nitrat đều không bền nhiệt, ở nhiệt độ cao bị phân huỷ thành đất hiếmoxit Ln(NO3)3 có thể tạo nên muối kép với muối nitrat amoni kim loại kiềm haykim loại kiềm thổ theo kiểu Ln(NO3)3.2MNO3 (M là ion amoni hay kim loại)
Trang 4c Các muối đất hiếm sunfat (Ln 2 (SO 4 ) 3 )
Các muối đất hiếm sunfat kém tan hơn nhiều so với clorua và nitrat, chúngtan nhiều trong nước lạnh, độ tan giảm xuống khi nhiệt độ tăng Muối Ln2(SO4)3 dễdàng tạo muối kép với muối sunfat của kim loại kiềm và amoni
Ví dụ: muối kép Ln2(SO4)3.3Na2SO4.12H2O
Là chất ở dạng kết tủa, không tan trong nước, khi đun nóng trong nước nóchuyển thành cacbonat bazơ Sản phẩm sau cùng là oxit Ln2O3 Muối Ln(CO3)3
cùng tạo muối kép với cacbonat kim loại kiềm và amoni dưới dạng
M2CO3 Ln2(CO3)3 n H2O (M là cation kim loại kiềm hay amoni )
Các muối đất hiếm oxalat có độ tan trong nước rất nhỏ từ 10-25 đến 10-30 vàgiảm từ La đến Lu, không tan trong nước và ngay cả trong axit loãng Trong môitrường axit mạnh khi có dư chất kết tủa ( ion C2O42- ) thì độ tan của đất hiếm oxalattăng lên do tạo thành phức tan : Ln2(C2O4)+, Ln2(C2O4)2-, Ln2(C2O4)32- Chính vì vậyngười ta thường dùng biện pháp kết tủa oxalat để tách các NTĐH
1.3 Nhu cầu và thị trường quặng đất hiếm
Năm 1794: Sản xuất thương mại đất hiếm đầu tiên tại Áo
Năm 1953: Nhu cầu đất hiếm khoảng 1.000 tấn
Năm 1965: Mỏ khai thác mỏ đất hiếm độc lập đầu tiên là Mountain PassNăm 2003: Nhu cầu đất hiếm khoảng 85.00 0 tấn
Năm 2008: Nhu cầu đất hiếm khoảng 124.000 tấn
Năm 2015: Dự kiến nhu cầu đất hiếm trên toàn thế giới khoảng 200.000 tấn(tương đương 2,0 ÷ 3,0 tỷ USD)[25]
Dự báo nhu cầu thị trường đất hiếm đến năm 2015 (± 15%) thể hiện ở hình sau :
Trang 5Hình 1 : Dự báo nhu cầu thị trường đất hiếm của thế giới đến năm 2015
Hiện nay, Trung Quốc sản xuất hơn 95% các nguyên tố đất hiếm trênthế giới, một số nước đang phát triển như Canada, Mỹ và Australia Dự báotrong thời gian tới nhu cầu cung và cầu sẽ được cân đối Tuy nhiên, cácnguyên tố đất hiếm nhóm nhóm nhẹ (LREE) được dự báo là cung vượt quácầu, trong khi các nguyên tố đất hiếm nhóm nặng (HREE) nhu cầu sẽ ngàycàng tăng, lượng cung sẽ không đủ lượng cầu Lượng sản xuất đất hiếm trênthế giới từ năm 1985 đến năm 2009 được thể hiện ở hình 3 Các nước tiêuthụ đất hiếm lớn nhất là Mỹ (26,95%), Nhật Bản (22,69%), Trung Quốc(21,27%) Các nước xuất khẩu các sản phẩm đất hiếm lớn nhất là TrungQuốc, Mỹ, Nhật, Thái Lan Các nước nhập khẩu các sản phẩm đất hiếm lớnnhất là Nhật Bản, Pháp, Đức, Anh, Australia [16]
Dự báo giá của một số kim loại đất hiếm đến năm 2015 như hình dưới đây :
Trang 6Nguồn : [17] Hình 2 : Sản lượng đất hiếm sản xuất từ năm 1985 – 2009
Bảng 2 :Dự báo giá của một số oxyt kim loại đất hiếm đến năm 2015
Theo thống kê giá của USGS giá đất hiếm trên thế giới từ năm 1970đến năm 2010 có sự biến động theo từng năm, từng giai đoạn và nhu cầu
sử dụng Từ năm 1970 đến năm 1988 do nhu cầu sử dụng đất hiếm chưacao và chỉ áp dụng trong một số lĩnh vực nhất định, do vậy giá đất hiếmchưa cao Từ năm 1988 đến năm 1993 giá đất hiếm tăng mạnh từ 2.050
Trang 7USD/tấn tăng đỉnh điểm trên 10.000 USD/tấn, sau đó từ năm 1993 đến năm
2006 giá đất hiếm nhìn chung giảm dần và thấp nhất là năm 2006, giá đất hiếmsấp xỉ 4.000 USD/tấn Tuy nhiên, vào năm 2010 giá đất hiếm tăng mạnh
mẽ, vượt ngưỡng 12.000 USD/tấn
Bảng 3: Dự kiến tăng trưởng của các ứng dụng liên quan với đất hiếm
đến năm 2014
PHẦN II TIỀM NĂNG KHOÁNG SẢN ĐẤT HIỂM Ở VIỆT NAM
II.1 Đặc điểm phân bố
Những kết quả điều tra, đánh giá, thăm dò từ những năm 1950 đếnnay đã khẳng định Việt Nam là quốc gia có tiềm năng lớn về đất hiếm.Các mỏ đất hiếm ở Việt Nam có quy mô từ trung bình đến lớn, chủ yếu làđất hiếm nhóm nhẹ , có nguồn gốc nhiệt dịch và tập trung ở vùng Tây BắcViệt Nam, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển thành một cụm công nghiệpkhai thác, chế biến đất hiếm trong tương lai Với nhu cầu sử dụng đất hiếmtrên thế giới ngày càng tăng, đặc biệt hiện nay Trung Quốc (nước cung cấp95% đất hiếm cho thị trường thế giới) bắt đầu thực hiện chính sách dự trữtài nguyên khoáng sản thì thị trường đất hiếm thế giới trở nên sôi động Vìvậy, công tác điều tra, đánh giá và thăm dò đất hiếm cũng như nghiên cứu
Trang 8chính sách đầu tư khai thác, chế biến, xuấtkhẩu đất hiếm hiện nay cầnđược đặc biệt quan tâm.
Các kết quả nghiên cứu, tìm kiếm, thăm dò đã phát hiện và ghi nhận nhiều
mỏ, điểm quặng đất hiếm trên lãnh thổ Việt Nam
- Các mỏ đất hiếm gốc và vỏ phong hoá phân bố ở Tây Bắc gồm Nậm Xe,Nam Nậm Xe, Đông Pao (Lai Châu), Mường Hum (Lào Cai), Yên Phú (Yên Bái)
- Đất hiếm trong sa khoáng chủ yếu ở dạng monazit, xenotim là loạiphosphat đất hiếm, ít hơn là silicat đất hiếm (orthit) Trong sa khoáng ven biển,monazit, xenotim được tập trung cùng với ilmenit với các mức hàm lượng khácnhau, phân bố ven bờ biển từ Quảng Ninh đến Vũng Tàu Sa khoáng monazit tronglục địa thường phân bố ở các thềm sông, suối điển hình là các mỏ monazit ở vùngBắc Bù Khạng (Nghệ An) như ở các điểm monazit Pom Lâu - Bản Tằm, ChâuBình… Monazit trong sa khoáng ven biển được coi là sản phẩm đi kèm và được thuhồi trong quá trình khai thác ilmenit
Ngoài các kiểu mỏ đất hiếm nêu trên, ở vùng Tây Bắc Việt Nam còn gặpnhiều điểm quặng, biểu hiện khoáng hoá đất hiếm trong các đới mạch đồng -molipden nhiệt dịch, mạch thạch anh xạ hiếm nằm trong các đá biến chất cổ, trong
đá vôi; các thể migmatit chứa khoáng hoá urani, thori và đất hiếm ở Sin Chải, ThènSin (Lai Châu); Làng Phát, Làng Nhẻo (Yên Bái);… nhưng chưa được đánh giá
2.2 Trữ lượng và tài nguyên
Việt Nam có tài nguyên đất hiếm lớn, các mỏ đất hiếm chủ yếu thuộc nhómnhẹ phân bố tập trung ở vùng Tây Bắc, hàm lượng oxyt đất hiếm trong các mỏ hầuhết thuộc loại trung bình và cao (Nậm Xe, Đông Pao), cơ sở giao thông, điều kiệnkhai thác tương đối thuận lợi Vì vậy, nhà nước cần có chính sách đầu tư thăm dò,khai thác nguồn tài nguyên khoáng sản này phục vụ phát triển kinh tế khu vực vàđất nước
Cùng với công tác thăm dò và khai thác các mỏ đất hiếm đã biết như ĐôngPao, Nậm Xe, Yên Phú… cần tiếp tục đầu tư để phát hiện, đánh giá loại hình đấthiếm mới (kiểu hấp thụ ion) nhằm gia tăng nguồn tài nguyên, phục vụ phát triểnkinh tế lâu dài
Trang 9Công tác đánh giá, thăm dò sa khoáng ven biển cần chú trọng đánh giá tàinguyên monazit một cách đầy đủ Monazit trong sa khoáng ven biển có hàm lượngkhông cao nhưng điều kiện khai thác, thu hồi dễ nên cần chú ý thu hồi kết hợptrong quá trình khai thác quặng sa khoáng ven biển nhằm sử dụng triệt để tàinguyên và bảo vệ môi trường.
Trữ lượng và tài nguyên đất hiếm ở các mỏ đã được tìm kiếm, đánh giá và thăm
dò được thống kê ở bảng sau:
Bảng 2.1 Tổng hợp trữ lượng và tài nguyên đất hiếm ở Việt Nam
TT Tên mỏ, điểm
quặng
Đá chứa quặng
Thành phần khoáng vật
Hàm lượng
Bastnezit, panazit, lantannit, octit
Bastnezit, parizit, cordilit, fluocerit, sinkizit, lantanit, mariniakit, octit, monazit, xenotim,
Quặng phong hóa: 2,0- 16,8%
TR2O3
Quặng gốc: 0,6- 31,35%
Prizit, flogopit, basnezit, lantanit
Trang 10Ferguxoxit, xenotim, monazit, samackit, octit, treralit, rapdofanit, tôcbecnit
0,15-4,8 kg/m 3
0,15-4,8 kg/m 3
0,15-4,8 kg/m 3
Trang 11- Tổng trữ lượng và tài nguyên monazit khoảng 7.000 tấn Khối lượng tàinguyên không lớn nhưng phân bố tập trung, điều kiện khai thác, tuyển đơn giản nêncần được quan tâm thăm dò và khai thác khi có nhu cầu.
PHẦN III THỰC TRẠNG KHAI THÁC ĐẤT HIẾM Ở VIỆT NAM
3.1.Tình hình nghiên cứu công nghệ sử lý chế biến quặng đất hiếm
Theo TS Nguyễn Khắc Vinh, Việt Nam đã bắt đầu khai thác đất hiếm từ vàichục năm nay, nhưng sản lượng rất ít Lúc đó, Tiệp Khắc và Ba Lan đã tham giakhai thác đất hiếm ở Việt Nam nhưng không nhiều Hằng năm, Việt Nam mới chỉkhai thác nhỏ, cỡ vài chục tấn quặng bastnaesit ở Đông Pao và vài ngàn tấn quặngmonazit hàm lượng 35%-45% R203 ở sa khoáng ven biển miền Trung để bán theođường tiểu ngạch Việc khai thác và sử dụng ĐH tại Việt Nam chưa nhiều, khôngphải vì lý do công nghệ vì công nghệ các nước đã làm, mà theo nhiều chuyên giathì chủ yếu là do nhu cầu chưa cao
Việt Nam đã nghiên cứu sử dụng ĐH trong các lĩnh vực nông nghiệp, chế tạo namchâm vĩnh cửu, biến tính thép, chế tạo hợp kim gang, thủy tinh, bột màu, chất xúctác trong xử lý khí thải ôtô… nhưng cho tới nay vẫn dừng lại ở quy mô phòng thínghiệm và bán công nghiệp Hiện nay các nhà khoa học Việt Nam đã tách được cácnguyên tố ĐH đạt đến độ sạch đến 98-99% và ứng dụng cho nhiều ngành khácnhau trong công nghiệp
Cụm công trình “Công nghệ ĐH phục vụ sản xuất, đời sống và bảo vệ môitrường” đã được tặng Giải thưởng Nhà nước về KH&CN 2005.Nhóm nghiên cứu
đề tài thuộc Viện Khoa họa vật liệu (Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam),PGS TS Lưu Minh Đại làm Chủ nhiệm, đã tìm ra những công nghệ biến ĐH thànhnhững sản phẩm hữu ích, làm lợi cho Nhà nước hàng trăm tỷ đồng
Tại nước ta, các nhà nghiên cứu đã đi vào ba hướng ứng dụng ĐH:
1 Sử dụng làm chế phẩm vi lượng ĐH 93 nhằm nâng cao năng suất cây trồng
2 Sử dụng trong xúc tác lọc khí độc từ lò đốt rác y tế và ôtô xe máy
3 Sử dụng để chế tạo nam châm trong các máy phát thủy điện cực nhỏ
Cả ba hướng nghiên cứu trên đều được tiến hành từ 1990.GS.TS Đặng Vũ Minh
và PGS.TS Lưu Minh Đại đã có nhiều công trình nghiên cứu về ứng dụng vi lượng
Trang 12ĐH trong nông nghiệp Theo Báo cáo “Một số kết quả ứng dụng vi lượng đất hiếmtrong nông nghiệp” năm 1999 của GS.TS.Đặng Vũ Minh và PGS.TS Lưu MinhĐại, ở nước ta trữ lượng ĐH khá lớn là nguồn cung cấp lâu dài cho loại phân vilượng ĐH Những nghiên cứu thử nghiệm đầu tiên về ảnh hưởng của ĐH đến sựphát triển của một số cây trồng đã được tiến hành năm 1990 tại Trung tâm Khoahọc Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia, Viện thổ nhưỡng và Nông hoá và lần đầutiên được áp dụng trên đồng ruộng vào năm 1993 Chế phẩm phun lá ĐH 93 dùngtrong nông nghiệp như một thứ phân bón vi lượng, giảm lượng phân bón thôngthường Với kết quả thử nghiệm trên lúa, cho thấy lúa được phun ĐH 93 tăng 7%đến 12% sản lượng, giảm lượng hạt lép, lá lúa dày hơn, cứng cáp hơn; đỗ tươngđược phun ĐH 93 cũng tăng năng suất từ 7-19%; ngoài ra hiệu quả cũng thu đượcđối với cây lạc và cây điều khi dùng DH93 Đặc biệt, lúa trổ đều, chín sớm hơn mộttuần giảm nhiều công chăm sóc Tỉnh Đồng Tháp, một vựa lúa của Nam Bộ đãnhận bàn giao công nghệ ứng dụng ĐH để sản xuất phân vi lượng ĐH 93
ĐH còn có tác dụng giảm thải khí độc từ lò đốt rác y tế và khói xe Tại ViệtNam đã có đề tài KC.02.05: “Công nghệ chế tạo vật liệu xúc tác xử lý khí thải từ lòchất thải y tế”, do Viện Khoa học Vật liệu,Viện KH&CN Việt Nam chủ trì Sau khichiết tách được các kim loại ĐH sạch, các nhà khoa học sử dụng chúng trong mộtloại vật liệu xúc tác, được đùn đúc dưới dạng than tổ ong Đặt những "viên than”này trong hệ thống xả khói của lò đốt hoặc ống xả của xe, khi khí thải đi qua sẽ xảy
ra phản ứng hóa học Lò đốt rác thải y tế CAMAT do Viện Khoa học và Công nghệViệt Nam chế tạo, có bộ lọc khí độc đã được lắp đặt ở Hà Nội, Hải Dương, Nghệ
An, Tây Ninh
ĐH là thành phần cơ bản để chế tạo nam châm vĩnh cửu NdFeB.Đây là loại namchâm tối ưu hiện nay dùng trong máy phát thủy điện cỡ nhỏ.Theo TS Đại, hiện 6máy phát điện công suất từ 200 đến 1.000W đã được lắp đặt ở các vùng đồng bàothiểu số Hoàng Su Phì (Hà Giang), Kỳ Sơn (Nghệ An) Nhóm nghiên cứu đã có thểkhảo sát, lắp đặt thiết bị chiếu sáng, nghe nhìn cho nhiều cụm dân cư chưa có lướiđiện quốc gia, chi phí này chỉ bằng 1/10 so với phương án trạm thủy điện nhỏ
Trang 13Thiết bị này có chất lượng tương đương mà giá thành chỉ bằng 20% sản phẩm nhậpngoại.
Chỉ ba năm sau năm 1985 (năm nghiên cứu đầu tiên) các nhà khoa học đã chiếttách được những ôxít ĐH sạch đến 99% và nay, ứng dụng của nó đã thu lợi hàngtrăm tỷ đồng Viện Vật liệu đã làm chủ được các công nghệ cơ bản như chiết tách,dùng ĐH làm phân vi lượng, làm nam châm vĩnh cửu
Các sản phẩm của đất hiếm được sử dụng rộng rãi trong các ngành côngnghiệp, nông nghiệp, y học, chế tạo hợp kim gang, vật liệu siêu dẫn,… Những lĩnhvực sử dụng chính của các nguyên tố đất hiếm và hỗn hợp được tóm tắt ở bảng 1.4
Bảng 1.4 Lĩnh vực sử dụng chính của các nguyên tố đất hiếm và hỗn hợp
2 Dysprosi Dy Gốm, sứ; chất huỳnh quang và ứng dụng hạt nhân; nam
Trang 14TT Tên Ký
5 Gadolini Gd Gốm, sứ; kính; sự dò tìm và trực quan hoá ảnh y học
quang học và từ tính
6 Holmi Ho Gốm, sứ; ứng dụng hạt nhân và laze
7 Lantan La Chất xúc tác tự động; gốm, sứ; kính; chất huỳnh quang và
chất nhuộm
8 Luteti Lu Tinh thể đơn chất phát sáng, chất xúc tác, sản xuất huỳnh
quang tia X đặc biệt
9 Neodym Nd Chất xúc tác; máy lọc IR, laze; chất nhuộm và nam châm
vĩnh cửu
10 Praseodym Pr Gốm, sứ; kính và chất nhuộm; nam châm vĩnh cửa
11 Promethi Pm Chất huỳnh quang, pin hạt nhân và dụng cụ đo lường thu
nhỏ
12 Samari Sm Bộ lọc vi ba; ứng dụng hạt nhân và nam châm vĩnh cửu
13 Scandi Sc Không gian vũ trụ; gậy bóng chày; ứng dụng hạt nhân;
chất bán dẫn và chiếu sáng
14 Terbi Tb Chất huỳnh quang; nam chân vĩnh cửu; pin nhiên liệu
15 Thuli Tm Trực quan hoá ảnh y học và ống chùm điện tử
16 Ytterbi Yb Công nghiệp hoá học và nghề luyện kim
Tụ điện; chất huỳnh quang (ống dẫn tia catiot-CRT và đèn), công nghệ rada và chất siêu dẫn Đông y sử dụng làm thuốc giảm đau