Việc nghiên cứu thủ tục tái thẩm phù hợp với nhiệm vụ đề ra trong Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, đó là: “Từng bước ho
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN HẢI NINH
TÁI THẨM TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM –
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI – 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN HẢI NINH
TÁI THẨM TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM –
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận án là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS TS Nguyễn Ngọc Chí và TS Lê Hữu Thể Các kết quả nêu trong luận án chưa được công bố trong bất kì công trình nào Các số liệu và trích dẫn trong luận án bảo đảm tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và các chuyên
đề theo quy định trong khung chương trình đào tạo tiến sĩ ngành Luật hình sự của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của cơ sở đào tạo
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Nguyễn Hải Ninh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy giáo hướng dẫn - PGS TS Nguyễn Ngọc Chí và TS Lê Hữu Thể đã tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành luận án Đồng thời tôi chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo và cán bộ Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu Cuối cùng, tôi chân thành cảm ơn các cơ quan, tổ chức, cá nhân, gia đình, đồng nghiệp
và bạn bè đã luôn động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình làm luận án
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Nguyễn Hải Ninh
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.3 Đánh giá tình hình nghiên cứu và những vấn đề tập trung nghiên
cứu trong luận án
2.3 Mô hình tái thẩm trong các thiết chế tư pháp hình sự quốc tế và tố
Chương 4
YÊU CẦU VÀ CÁC GIẢI PHÁP
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ
ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
141
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Theo quy định của pháp luật TTHS Việt Nam hiện hành, tái thẩm được áp dụng đối với bản án hoặc quyết định có HLPL nhưng bị kháng nghị vì có những tình tiết mới được phát hiện làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc quyết định đã có HLPL Đây là thủ tục cần thiết, một mắt xích quan trọng để bảo đảm khắc phục những sai lầm của bản án, quyết định có HLPL, bảo đảm sự thật của vụ
án được khôi phục, bảo đảm công lý, sự công bằng trong các phán quyết của Toà án
về tội phạm và người thực hiện tội phạm Việc lựa chọn đề tài “Tái thẩm trong tố
tụng hình sự Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn” để nghiên cứu ở cấp độ
tiến sĩ là cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn vì những lý do sau:
Thứ nhất, yêu cầu thể chế hoá đường lối của Đảng về chiến lược cải cách tư
pháp, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam
Việc nghiên cứu thủ tục tái thẩm phù hợp với nhiệm vụ đề ra trong Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư
pháp đến năm 2020, đó là: “Từng bước hoàn thiện thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm
theo hướng quy định chặt chẽ những căn cứ kháng nghị và quy định rõ trách nhiệm của người ra kháng nghị đối với bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật; khắc phục tình trạng kháng nghị tràn lan, thiếu căn cứ”
Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược
cải cách tư pháp đến năm 2020 khẳng định: “Pháp luật về tố tụng tư pháp còn
nhiều bất cập, chậm sửa đổi, bổ sung… vẫn còn tình trạng oan sai trong điều tra, bắt, giam, giữ, truy tố, xét xử…” Vì vậy, Nghị quyết đề ra các nhiệm vụ cải cách
tư pháp trong đó có nhiệm vụ về hoàn thiện thủ tục tố tụng tư pháp Việc hoàn thiện thủ tục tố tụng nhằm chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội Các trường hợp oan sai nếu
có, cần được phát hiện và giải quyết nhanh nhất nhằm khôi phục lại danh dự, bồi
Trang 8thường vật chất thỏa đáng Các nghiên cứu hoàn thiện về tổ chức và hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, nghiên cứu về mô hình tố tụng, trình tự, thủ tục giải quyết vụ án hình sự, thủ tục giải quyết sai lầm trong bản án có HLPL đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế là những vấn đề chủ yếu đặt ra trong giai đoạn hiện nay
Thứ hai, yêu cầu cụ thể hoá quy định của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam và sự phù hợp với Luật Tổ chức TAND năm 2014 và Luật tổ chức VKSND năm 2014
Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội khoá XIII, kì họp thứ 6 thông qua ngày 28/11/2013, có hiệu lực từ ngày 01/01/2014 theo Nghị quyết số 64/2013/QH13 Hiến pháp quy định Toà án là cơ quan xét xử, thực hiện quyền tư pháp; bản án, quyết định của Toà án phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng, cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành (Điều 106) Toà án có nhiệm vụ bảo vệ công lí, quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân Một trong những thủ tục được Toà án tiến hành
để thực hiện các nhiệm vụ trên là tái thẩm đối với các bản án, quyết định có
HLPL Điều 6, Luật tổ chức TAND năm 2014 quy định: “Bản án, quyết định của
Toà án đã có HLPL mà phát hiện có vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới theo quy định của luật TTHS thì được xem xét lại theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm” Vì vậy, việc cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp trong BLTTHS trở nên
cần thiết hơn bao giờ hết Ngoài ra, những thay đổi trong Luật tổ chức TAND và Luật tổ chức VKSND về tổ chức, thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm cũng đặt ra yêu cầu sửa đổi BLTTHS năm 2003 để thống nhất áp dụng BLTTHS với nhiệm
vụ xây dựng trình tự, thủ tục giải quyết vụ án hình sự cần những nghiên cứu khoa học làm cơ sở, nền tảng lý luận cũng như có đánh giá thực tiễn để xây dựng các quy phạm phù hợp Việc nghiên cứu thủ tục tái thẩm góp phần xây dựng và hoàn thiện pháp luật TTHS nói chung trong đó có thủ tục tái thẩm là cần thiết, phù hợp với giai đoạn hiện nay
Trang 9Thứ ba, ý nghĩa về pháp lí, chính trị và xã hội của tái thẩm trong TTHS
Thủ tục tái thẩm bảo đảm loại bỏ oan sai trong bản án, quyết định có HLPL của Toà án Thông qua thủ tục tái thẩm, bản án, quyết định có HLPL của Toà án nhưng có sai lầm trong nhận định sự kiện thực tế dẫn đến phán quyết không khách quan, chính xác về tội phạm mới có thể bị hủy bỏ Các nguyên tắc
cơ bản của TTHS như nguyên tắc tôn trọng và bảo đảm các quyền cơ bản của công dân, nguyên tắc xác định sự thật của vụ án được bảo đảm Tái thẩm góp phần bảo đảm quyền con người trong TTHS, khắc phục oan sai, bảo đảm các chủ thể bị xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp do phán quyết sai được bồi thường thiệt hại, củng cố mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân, bảo đảm xử lý đúng người thực hiện hành vi phạm tội Khắc phục sai lầm trong bản án, quyết định có HLPL của Toà án thông qua thủ tục tái thẩm bảo đảm yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền, tạo lập và củng cố lòng tin của xã hội đối với Toà án nói riêng và cơ quan tư pháp nói chung
Nghiên cứu thủ tục tái thẩm trong TTHS góp phần làm rõ đồng thời tăng cường ý nghĩa pháp lý, chính trị, xã hội của thủ tục tái thẩm trong TTHS
Thứ tư, sự cần thiết phải làm rõ lý luận khoa học luật TTHS về tái thẩm
Là một thủ tục có tính chất đặc biệt trong TTHS, tái thẩm được các nhà khoa học pháp lý trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu dưới nhiều góc độ, phạm vi khác nhau Tuy nhiên trong khoa học pháp lý, chưa có một công trình nào dưới cấp
độ tiến sĩ nghiên cứu toàn diện lý luận về thủ tục tái thẩm trong TTHS Việt Nam Quan điểm của các nhà nghiên cứu khoa học về tái thẩm chưa hoàn toàn thống nhất
về các nội dung: 1) Về tính chất, tái thẩm là một thủ tục hay là một giai đoạn trong TTHS; 2) Sự cần thiết phải quy định hai thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm để xem xét lại bản án, quyết định có HLPL; 3) Chưa làm rõ về mặt lý luận sự khác nhau cơ bản về tính chất, căn cứ, thẩm quyền, hậu quả của thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm để xây dựng và hoàn thiện pháp luật TTHS về thủ tục tái thẩm
Nghiên cứu về thủ tục tái thẩm trong TTHS Việt Nam sẽ góp phần bổ sung, phát triển các tri thức khoa học pháp lý về thủ tục này
Trang 10Thứ năm, sự cần thiết nâng cao chất lượng tái thẩm trong thực tiễn thi hành
pháp luật TTHS tại Việt Nam
Thực tế giải quyết án hình sự cho thấy, số lượng các đơn đề nghị xem xét lại các bản án, quyết định đã có HLPL theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm hàng năm với lý do oan sai không hề nhỏ Việc giải quyết triệt để các đơn đề nghị này từ đó nhanh chóng phát hiện sai lầm trong các bản án quyết định của Toà án đã có HLPL
để đưa ra phương án khắc phục, sửa chữa tiến hành chậm trễ Có bản án chỉ được làm rõ sai lầm khi người bị oan đã chấp hành hình phạt tuyên trong bản án với thời gian tính bằng năm thậm chí chục năm Quyền con người trong những trường hợp này không được bảo đảm, sai lầm không được phát hiện kịp thời gây mất lòng tin của nhân dân đối với Nhà nước và pháp luật Chất lượng kháng nghị tái thẩm chưa cao, nhiều kháng nghị không được Toà án chấp nhận, có kháng nghị còn gây tranh cãi trong các nhà nghiên cứu khoa học cũng như những người làm thực tiễn về việc lựa chọn thủ tục giám đốc thẩm hay tái thẩm Về chất lượng tái thẩm tại Toà án: thực tế vẫn còn quyết định của Hội đồng tái thẩm tiếp tục bị kháng nghị tái thẩm; nhiều quyết định khó thi hành; không khắc phục triệt để sai lầm; chưa bảo đảm khôi phục quyền lợi, danh dự của người bị oan sai
Nghiên cứu thủ tục tái thẩm góp phần nâng cao chất lượng tái thẩm trong thực tiễn thi hành pháp luật TTHS Việt Nam
Thứ sáu, sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về tái thẩm
Quy định của BLTTHS năm 2003 về tái thẩm là sự kế thừa có hoàn thiện quy định của BLTTHS năm 1988 Tuy nhiên, quy định hiện nay vẫn chưa thể hiện rõ bản chất của tái thẩm dẫn đến việc áp dụng thủ tục này còn gây tranh cãi Căn cứ kháng nghị tái thẩm quy định trong BLTTHS còn gây nhầm lẫn với căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm; quy định về phạm vi tái thẩm, thẩm quyền của Hội đồng tái thẩm chưa rõ ràng, cụ thể, không có hướng dẫn giải thích nên áp dụng không có tính thống nhất trên phạm vi toàn quốc Nhiều quy định không làm rõ trách nhiệm của cơ quan cũng như người có thẩm quyền trong việc kiểm tra, xác minh các tình tiết do cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp dẫn đến việc quyết định kháng nghị tái
Trang 11thẩm chậm trễ, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của người bị oan sai Trình
tự, thủ tục kiểm tra, xác minh mới dừng lại ở các quy định chung, mang tính nguyên tắc, chưa xây dựng thành một thủ tục hoàn chỉnh với sự tham gia của các bộ phận
có chuyên môn nghiệp vụ
Nghiên cứu thủ tục tái thẩm trong TTHS ở cấp độ luận án tiến sĩ góp phần hoàn thiện quy định của pháp luật Việt Nam về thủ tục tái thẩm
2 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án: xây dựng hệ thống lý luận, nghiên cứu pháp luật và thực tiễn thi hành, đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng tái thẩm trong TTHS
Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên, luận án sẽ giải quyết những nhiệm vụ
2.2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là lý luận, pháp luật và thực tiễn thi hành các quy định của pháp luật TTHS về tái thẩm ở Việt Nam
2.3 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận án là thủ tục tái thẩm trong TTHS phát sinh khi
có kháng nghị của VKS có thẩm quyền với căn cứ kháng nghị là tình tiết mới phát hiện làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định có HLPL
Về phương diện lý luận, phạm vi nghiên cứu của luận án là những vấn đề lý luận trong khoa học luật TTHS Việt Nam và khoa học luật TTHS trên thế giới về thủ tục xét lại bản án, quyết định của Toà án đã có HLPL khi phát hiện các tình tiết làm thay đổi cơ bản nội dung bản án hoặc quyết định đó
Trang 12Về phương diện pháp luật, phạm vi nghiên cứu của luận án là quy định của pháp luật TTHS hiện hành về tái thẩm (có so sánh với quy định của pháp luật TTHS trước khi ban hành BLTTHS năm 2003 để đánh giá sự phát triển của pháp luật về tái thẩm)
Về phương diện thực tiễn, phạm vi nghiên cứu của luận án là thực tiễn thi hành pháp luật TTHS Việt Nam về tái thẩm từ khi BLTTHS năm 2003 có HLPL đến nay
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
3.1 Ý nghĩa khoa học của luận án
Luận án là công trình nghiên cứu đầu tiên, trực tiếp, toàn diện và có hệ thống
về tái thẩm trong TTHS Việt Nam
Kết quả nghiên cứu của luận án, đặc biệt là các luận điểm khoa học về khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của tái thẩm góp phần bổ sung, hoàn thiện lý luận khoa học luật TTHS Việt Nam nói riêng, khoa học luật TTHS trên thế giới nói chung về tái thẩm trong TTHS
3.2 Ý nghĩa thực tiễn của luận án
Kết quả nghiên cứu của luận án, đặc biệt là các luận điểm khoa học trong việc phân tích pháp luật, yêu cầu và giải pháp hoàn thiện pháp luật về tái thẩm đóng góp về mặt thực tiễn, giải quyết những vấn đề đang đặt ra trong việc xây dựng, thi hành pháp luật TTHS Việt Nam, trong chiến lược cải cách tư pháp, cụ thể hoá quy định của Hiến pháp, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, trong đó có pháp luật TTHS Việt Nam nói chung, pháp luật TTHS về tái thẩm nói riêng
Những kết quả nghiên cứu lý luận, những vấn đề thực tiễn được phân tích, đánh giá trong luận án sẽ là những đóng góp cho khoa học luật TTHS và kết quả nghiên cứu này là tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên nghiên cứu tại các cơ
sở đào tạo luật
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Thủ tục tái thẩm trong TTHS là đối tượng nghiên cứu trong nhiều công trình
ở các cấp độ khác nhau như sách tham khảo, đề tài luận án, giáo trình, các bài viết nghiên cứu đăng trên các tạp chí chuyên ngành Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, đầy đủ cả về phương diện lý luận, pháp luật và thực tiễn thi hành về tái thẩm trong TTHS Các công trình nghiên cứu trong nước chỉ làm sáng
tỏ một phần những vấn đề lý luận và đánh giá phần nào thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng thủ tục tái thẩm trong TTHS Việt Nam
Một số công trình có tính chất định hướng cho việc nghiên cứu lý luận của
đề tài cũng như chỉ ra những nguyên tắc chung liên quan đến việc bảo đảm Nhà nước pháp quyền, bảo vệ quyền con người, tạo nền tảng cho việc xây dựng và hoàn
thiện thủ tục tái thẩm như: “Nhà nước và pháp luật của chúng ta trong sự nghiệp
đổi mới” của tác giả Đào Trí Úc, Nxb Khoa học xã hội, năm 1997; “Hệ thống tư pháp và cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay” do tác giả Đào Trí Úc chủ biên,
Nxb Khoa học xã hội năm 2003; đề tài KX.04.06 “Cải cách cơ quan tư pháp, hoàn
thiện hệ thống các thủ tục tư pháp, nâng cao hiệu quả và hiệu lực xét xử của Toà án trong Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân” do tác giả
Uông Chu Lưu chủ nhiệm đề tài năm 2006; “Xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã
hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” do các tác giả Đào Trí Úc, Phạm Hữu Nghị đồng chủ biên, Nxb Từ điển Bách
khoa, Hà Nội, năm 2009; “Cải cách tư pháp ở Việt Nam trong giai đoạn xây dựng
Nhà nước pháp quyền” do các tác giả Lê Cảm, Nguyễn Ngọc Chí chủ biên, Nxb
Đại học Quốc Gia Hà Nội, năm 2004
Giáo trình của các cơ sở đào tạo về luật TTHS Việt Nam trong đó đề cập đến
thủ tục tái thẩm như: Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Đại học Quốc
Trang 14Gia Hà Nội năm 2014 do tác giả Nguyễn Ngọc Chí chủ biên; Giáo trình Luật tố
tụng hình sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân
năm 2011 do tác giả Hoàng Thị Minh Sơn chủ biên; Giáo trình Luật tố tụng hình sự
Việt Nam (dành cho hệ đào tạo sau đại học) của Học viện Cảnh sát nhân dân năm
2003 do tác giả Đỗ Ngọc Quang chủ biên; Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt
Nam, Nxb Giáo dục Việt Nam, năm 2011 do tác giả Trần Văn Độ chủ biên
Các nghiên cứu có tính chất bình luận, phân tích các quy định của BLTTHS
năm 2003 trong đó có đề cập đến thủ tục tái thẩm như: Bình luận khoa học Bộ luật
tố tụng hình sự năm 2003 do tác giả Nguyễn Ngọc Anh chủ biên, Nxb Chính trị
quốc gia năm 2012; Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự của Học viện khoa
học xã hội do tác giả Võ Khánh Vinh chủ biên, Nxb Tư pháp năm 2012 Đây là những nghiên cứu có tính chất cơ bản, đại cương hoặc đơn thuần là giải thích quy phạm pháp luật, không phải là các nghiên cứu chuyên sâu về thủ tục tái thẩm trong TTHS đồng thời cũng không đề cập đến lý luận khoa học về thủ tục này
Tái thẩm cũng được ghi nhận trong thủ tục giải quyết các vụ án tại Toà án hình sự quốc tế, các nội dung có liên quan đến tái thẩm hình sự đối với các vụ án
giải quyết tại các Toà án quốc tế được đề cập trong các nghiên cứu sau: Giáo trình
Toà án hình sự quốc tế của Khoa Luật Đại học Quốc gia, Nxb Chính trị Quốc gia,
Hà Nội năm 2010 do tác giả Nguyễn Ngọc Chí chủ biên; Quy chế Rome về Toà án
hình sự quốc tế, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2011 do tác giả Dương
Tuyết Miên chủ biên; Giáo trình Luật hình sự quốc tế, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, năm 2012 do tác giả Nguyễn Ngọc Chí chủ biên
Ngoài các nghiên cứu nói trên, các công trình nghiên cứu trực tiếp về tái thẩm trong TTHS Việt Nam có thể kể đến bao gồm:
“Giám đốc thẩm, tái thẩm về hình sự - Những vấn đề lý luận và thực tiễn”
của tác giả Đinh Văn Quế xuất bản năm 1997 Tác giả chủ yếu tập trung phân tích
luật thực định về thủ tục xét lại bản án, quyết định có HLPL của Toà án bao gồm cả giám đốc thẩm và tái thẩm; sử dụng các vụ án đã giải quyết trên thực tế để làm rõ các quy định của pháp luật TTHS về thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm Tuy nhiên, công trình nghiên cứu không đánh giá pháp luật, không đưa giải pháp hoàn thiện pháp luật
Trang 15“Kỹ năng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử vụ án hình sự theo thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm”, do tác giả Dương Thanh Biểu chủ biên, Nxb Tư
pháp, năm 2010 [3] Nghiên cứu giải quyết được các nội dung chủ yếu sau: 1) Đưa ra khái niệm về thủ tục tái thẩm và làm rõ các điều kiện để xác định tình tiết mới là căn
cứ để kháng nghị tái thẩm; 2) Khái quát quy định về thủ tục tái thẩm trong pháp luật một số nước trên thế giới như Liên bang Nga, Cộng hoà Liên bang Đức, Cộng hoà Pháp, Nhật Bản; 3) Phân tích quy định về thủ tục tái thẩm trong BLTTHS năm 2003, một số kỹ năng về nghiên cứu hồ sơ và xác minh tình tiết mới theo thủ tục tái thẩm
“Luật tố tụng hình sự trong thực tế giám đốc thẩm, tái thẩm của Toà án nhân dân tối cao”, do các tác giả Mai Thanh Hiếu, Nguyễn Chí Công đồng chủ biên,
Nxb Công an nhân dân năm 2008 [18] Nội dung cơ bản của luật TTHS được phân tích dựa vào các văn bản giải thích pháp luật đồng thời được minh chứng cụ thể bởi các tình huống thực tế trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự thể hiện trong các quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của TANDTC Về thủ tục tái thẩm, nghiên cứu chỉ ra một số trường hợp sai lầm trong bản án, quyết định có HLPL giống nhau nhưng lại áp dụng thủ tục khác nhau để giải quyết (có trường hợp áp dụng giám đốc thẩm, có trường hợp áp dụng tái thẩm) Các tác giả sử dụng các quyết định tái thẩm
để minh chứng cho các quy định về căn cứ kháng nghị tái thẩm, thẩm quyền của Hội đồng tái thẩm là các quy định không cụ thể trong BLTTHS năm 2003
“Những mô hình tố tụng hình sự điển hình trên thế giới”, do tác giả Tô Văn Hoà
chủ biên, Nxb Hồng Đức, Hà Nội 2012 Cuốn sách ra đời với sự trợ giúp của Chương
trình đối tác Tư pháp (Justice Partnership Programe - JPP) do Liên minh Châu Âu, Đan Mạch và Thụy Điển đồng tài trợ Các nhà nghiên cứu khoa học và thực tiễn có kinh nghiệm và uy tín quốc tế bao gồm: GS Byung-Sun Cho; GS Liling Yue; GS William Burnham; TS Marco Fabri; GS Richard S.Shine; Jean-Philippe Rivaud đã thực hiện các báo cáo nghiên cứu về mô hình TTHS của bảy quốc gia đại diện cho các mô hình tố tụng điển hình trên thế giới là Hàn Quốc, Hoa Kỳ, Italia, Liên bang Nga, Nhật Bản, Cộng hoà Pháp và Trung Quốc Trong các mô hình tố tụng trên, một
số mô hình xây dựng thủ tục tương tự như tái thẩm quy định trong BLTTHS Việt Nam với tên gọi khác nhau và các tác giả dành một dung lượng nhất định để giới thiệu
Trang 16“Thực trạng giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm tại Toà án nhân dân tối cao - Những vướng mắc và kiến nghị”, Đề tài khoa học cấp bộ của TANDTC,
do tác giả Nguyễn Huy Du chủ nhiệm đề tài, năm 2012 [43] Công trình đã phân tích cơ sở pháp lý của công tác tiếp nhận và giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm tại TANDTC và VKSNDTC; nghiên cứu thực trạng công tác tiếp nhận và giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm tại TANDTC và VKSNDTC từ năm
2005 đến năm 2010; đánh giá những ưu điểm và hạn chế của công tác thụ lý và giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm; chỉ ra những nguyên nhân khách quan
và chủ quan của thực trạng Đề tài đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm Đề tài có đề cập đến giám đốc thẩm, tái thẩm trong hệ thống pháp luật của một số quốc gia như Singapore, Trung Quốc, Cộng hoà liên bang Đức, Nhật Bản, Liên bang Nga
“Những vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách của việc đổi mới thủ tục tố tụng hình sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp” do các tác giả Lê Hữu Thể, Đỗ Văn
Đương, Nguyễn Thị Thủy đồng chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia năm 2013 [53] Nội dung sách chủ yếu tổng kết thực trạng thủ tục TTHS ở Việt Nam, đề xuất đổi mới thủ tục TTHS đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp; hệ thống hoá những vấn đề cốt lõi, cơ bản từ lý thuyết đến thực tiễn liên quan đến thủ tục TTHS; phân tích, đánh giá tính hiệu quả, khả năng áp dụng của luật TTHS hiện hành; đề xuất các giải pháp
và hướng sửa đổi, bổ sung luật nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp Trong đó các tác giả có đề cập đến cơ sở lý luận, yêu cầu và đề xuất đổi mới, hoàn thiện thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm trong TTHS
Các bài viết nghiên cứu trực tiếp về tái thẩm công bố trên các tạp chí chuyên ngành luật học chủ yếu đề cập đến một nội dung nhất định có liên quan đến thủ tục
tái thẩm Bàn về căn cứ kháng nghị tái thẩm có các bài viết như: “Một số vấn đề về
tái thẩm” của tác giả Trần Văn Độ, Tạp chí Luật học, số 3 năm 1995; “Bàn về các căn cứ kháng nghị tái thẩm” của tác giả Vũ Gia Lâm đăng trên Tạp chí Luật học số
6/1998 Về quá trình hình thành, phát triển của thủ tục tái thẩm trong lịch sử lập pháp
Việt Nam có các bài viết như: “Sự hình thành, phát triển và hoàn thiện pháp luật của
Trang 17Việt Nam quy định thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật từ 1945 đến nay” của tác giả Nguyễn Văn Hiện, tạp chí TAND, số 6/1997 Việc thực thi quy
định của pháp luật về Hội đồng tái thẩm được chỉ ra trong bài“Cần thực hiện đúng
quy định của pháp luật về Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm ở Toà án cấp tỉnh” của
tác giả Đỗ Văn Chỉnh, tạp chí TAND, số 2/1999 Đề cập đến yêu cầu về hình thức cũng như nội dung của quyết định tái thẩm có bài viết“Một số ý kiến về bản án sơ
thẩm, phúc thẩm và quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm” của tác giả Nguyễn Đức
Mai, tạp chí TAND số 1/2003 Các nghiên cứu về tái thẩm trong quy định của
BLTTHS năm 1988 hiện nay vẫn có giá trị khoa học trong việc nghiên cứu về thủ tục này trong luận án vì hàm chứa các vấn đề lý luận đã được thừa nhận Mặt khác, do rất nhiều quy định về thủ tục tái thẩm quy định trong BLTTHS năm 1988 vẫn được giữ nguyên trong BLTTHS năm 2003 nên việc xem xét các nhận xét, đánh giá về cùng một nội dung quy định của các nhà nghiên cứu là vô cùng quan trọng
Các nghiên cứu khoa học về thủ tục tái thẩm theo quy định của BLTTHS năm 2003 cũng thường đề cập đến một vấn đề cụ thể nhất định Có tính chất giới thiệu những điểm mới trong quy định của BLTTHS năm 2003 về các thủ tục tố tụng
trong đó có thủ tục tái thẩm như các bài: “Những điểm mới trong Bộ luật Tố tụng
hình sự sửa đổi về phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm” của tác giả Nguyễn Đức
Mai, tạp chí Nhà nước và pháp luật, Viện Nhà nước và Pháp luật số 5/2004;
“Những quy định mới của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm” của tác giả Đinh Văn Quế, tạp chí Toà án, TANDTC số 13/2004
Các nghiên cứu đề xuất hoàn thiện pháp luật trên cơ sở phân tích pháp luật như “Về
căn cứ kháng nghị theo thủ tục tái thẩm trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003”
của tác giả Vũ Gia Lâm, tạp chí Luật học, số 10/2006 Nghiên cứu giới thiệu về thủ
tục giám đốc thẩm, tái thẩm trong quy định của BLTTHS các nước Cộng hoà Pháp,
Liên bang Nga, Trung Quốc có bài viết “Thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo pháp
luật tố tụng hình sự một số nước”, của tác giả Nguyễn Đức Mai, tạp chí TAND số
10/2010 Một số vấn đề lý luận về thủ tục tái thẩm cũng được đề cập trong bài
viết“Khái niệm giám đốc thẩm, tái thẩm trong Tố tụng hình sự”, của các tác giả
Trang 18Trần Văn Độ, Nguyễn Mai Bộ, tạp chí TAND số 15/2010 Thực trạng thi hành các
quy định của BLTTHS về tái thẩm có trong các bài viết: “Thực trạng thi hành các
quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về những người tham gia phiên toà giám đốc thẩm, tái thẩm và hướng hoàn thiện” của tác giả Nguyễn Văn Trượng, tạp chí
TAND số 20/2010; “Những khó khăn, vướng mắc trong việc thụ lý, giải quyết các
trường hợp đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm vụ án hình sự ở Viện kiểm sát nhân dân tối cao” của tác giả Phạm Văn An, tạp chí Kiểm sát, số 5 năm 2012
Những thay đổi về quan điểm chỉ đạo của Đảng trong quá trình tiến hành cải
cách tư pháp cũng được đề cập như bài: “Thay đổi trong quan điểm chỉ đạo của
Đảng về tổ chức xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm vụ án hình sự” của tác giả Phạm
Văn An, tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 16 năm 2011
Những nghiên cứu ở các cấp độ khác nhau có nội dung liên quan đến tái thẩm hoặc đề cập đến một vấn đề nào đó của tái thẩm trong TTHS như luận án tiến
sĩ luật học “Giám đốc thẩm trong Tố tụng hình sự Việt Nam” năm 2007 của tác giả Phan Thị Thanh Mai, Đại học Luật Hà Nội; luận án tiến sĩ luật học “Nguyên tắc hai
cấp xét xử trong Tố tụng hình sự” năm 2009 của tác giả Vũ Gia Lâm, Đại học Luật
Hà Nội; đề tài “Những giải pháp nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và
kiểm sát các hoạt động tư pháp” năm 2003 của VKSNDTC do tác giả Lê Hữu Thể
chủ nhiệm đề tài; đề tài “Nâng cao hiệu quả công tác giám đốc việc xét xử các vụ
án hình sự” của TANDTC năm 2005 do tác giả Đinh Văn Quế chủ nhiệm đề tài
1.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Nghiên cứu của các nhà khoa học pháp lý tại một số các quốc gia điển hình cho thấy cơ sở lý luận của việc xây dựng thủ tục tái thẩm và thực trạng pháp luật của các quốc gia về thủ tục tái thẩm Các nghiên cứu về thủ tục tái thẩm được đề cập trên những khía cạnh sau: 1) Cơ sở lý luận của việc xem xét lại tính đúng đắn của các bản án, quyết định của Toà án đã có HLPL khi TTHS thừa nhận nguyên tắc bản án, quyết định của Toà án đã có HLPL phải được tôn trọng và bảo đảm thực hiện; 2) Sai lầm về áp dụng pháp luật và sai lầm về sự việc trong bản án, quyết định
có HLPL của Toà án giải quyết chung một thủ tục hay bởi các thủ tục tố tụng khác
Trang 19nhau và cơ sở lý luận để đưa ra phương án giải quyết; 3) Việc xem xét lại bản án, quyết định của Toà án về sự việc chỉ được đặt ra khi có lợi cho người bị kết án hay theo cả hướng không có lợi; 4) Căn cứ khẳng định có sai lầm về sự việc trong bản
án, quyết định đã có HLPL của Toà án là tình tiết mới được phát hiện thể hiện cụ thể như thế nào, sự khác nhau về bản chất với căn cứ vi phạm về áp dụng pháp luật; 5) Thẩm quyền của Toà án khi xét lại bản án, quyết định trong trường hợp này cần quy định thế nào để bảo đảm quyền của người bị kết án oan sai và công bằng xã hội
Các công trình nghiên cứu ngoài nước liên quan đến nội dung luận án được tác giả tìm hiểu bao gồm:
1.2.1 Les voies de recours en matière pénale - Essai d’une théorie générale,
Thèse, Maud Orillard Léna, Université Paris II, 2007 [117] (Kháng cáo, kháng nghị
trong lĩnh vực hình sự - Nghiên cứu lí luận chung, luận án tiến sĩ luật học, tác giả
Maud Orillard Léna tại trường Đại học Paris II, năm 2007)
Nghiên cứu xác định bản án, quyết định đã có HLPL có thể sai lầm về áp dụng pháp luật hoặc sai lầm về sự việc Tùy theo truyền thống pháp lí, các quốc gia
có các giải pháp khác nhau để khắc phục những sai lầm về sự việc trong các bản án, quyết định có HLPL của Toà án So sánh pháp luật một số các quốc gia, tác giả chỉ
ra có ba hệ thống khác nhau giải quyết sai lầm về sự việc trong bản án có HLPL Hệ thống thứ nhất không động chạm đến HLPL của bản án, quyết định của Toà án, mà
ưu tiên sử dụng chế định ân xá để khắc phục sai lầm, trong đó Hoa Kỳ là quốc gia điển hình Giải pháp của hệ thống này được tác giả của công trình nghiên cứu đánh giá không hợp lí ở điểm vẫn để tồn tại trên thực tế bản án sai lầm Hệ thống thứ hai thừa nhận thủ tục tái thẩm để khắc phục sai lầm về sự việc và áp dụng trong cả hai trường hợp sai lầm gây thiệt hại cho người bị kết án và sai lầm có lợi cho người bị kết án (Cộng hoà Liên bang Đức, Áo, Na Uy) Hệ thống thứ ba chỉ cho phép tái
thẩm có lợi cho người bị kết án (in favorem) như các nước Canada, Tây Ban Nha,
Italia, Cộng hoà Pháp Theo khảo sát trong nghiên cứu, số lượng các quốc gia theo
hệ thống này chiếm đa số
Nghiên cứu khẳng định quyền kháng cáo, kháng nghị tái thẩm không được
Trang 20quy định phổ biến Tuy nhiên, các Toà án quốc tế ad hoc như Toà án La Haye, Toà
án Arusha cũng như Toà án hình sự quốc tế đều ghi nhận khả năng tái thẩm, đặc
biệt trong trường hợp có tình tiết mới Các Toà án hình sự quốc tế ad hoc thừa nhận
tái thẩm có lợi cũng như không có lợi cho người bị xét xử, nhưng thời hạn kháng cáo, kháng nghị tái thẩm khác nhau theo chủ thể kháng cáo, kháng nghị
Nghiên cứu chỉ ra rằng Luật châu Âu về quyền con người quan tâm đến việc bồi thường cho người bị kết án oan sai hơn là quan tâm đến việc huỷ bản án thể
hiện tại Điều 3 Nghị định thư số 7 của Công ước châu Âu về quyền con người Tại
Pháp, tái thẩm có lợi cho người bị kết án là truyền thống pháp lí nhân đạo, bắt nguồn từ luật La Mã Khác với ân xá, tái thẩm thừa nhận công khai sai lầm tư pháp
và trao cho Hội đồng tái thẩm thẩm quyền đưa ra phương thức giải quyết theo luật
(Tố tụng hình sự, tác giả Etienne Vergès, Nxb Litec, Pari, 2007)
TTHS Cộng hoà Pháp thừa nhận bản án của Toà án đã có HLPL có thể bị xem xét lại bằng hai thủ tục khác nhau: giám đốc thẩm và tái thẩm Nghiên cứu chỉ
rõ sự khác nhau giữa hai thủ tục này trong TTHS Cộng hoà Pháp
Đối với giám đốc thẩm, căn cứ duy nhất là sự vi phạm pháp luật và nhấn mạnh Toà án giám đốc thẩm không phải Toà án xem xét lại về sự việc mà chỉ là Toà án xem xét lại về mặt pháp luật Toà án giám đốc thẩm là Toà án bảo đảm việc áp dụng đúng pháp luật của các Toà án xét xử nội dung vụ án Chức năng này của Toà án giám đốc thẩm chỉ có thể thực hiện được nếu đương sự kháng cáo bản án vi phạm pháp luật hoặc Viện công tố kháng nghị vì lợi ích pháp luật Bản án của Toà án giám đốc thẩm không thể gây thiệt hại cho các đương sự Mục đích của kháng nghị giám đốc thẩm không phải là sự kết án đối với người được tuyên vô tội hoặc trái lại Mục đích của kháng nghị giám đốc thẩm là cho phép Toà án giám đốc thẩm công khai khắc phục sự áp dụng không đúng pháp luật, tránh lặp lại sai lầm và vì vậy giám đốc thẩm có thể xem xét một kháng nghị ngay cả khi tội phạm sẽ được một đạo luật ân xá
Kháng cáo, kháng nghị tái thẩm là thủ tục đặc biệt thể hiện ở việc đặt lại vấn
đề đối với bản án kết tội đã có HLPL về trọng tội hoặc khinh tội trong trường hợp
Trang 21có tình tiết cho thấy sự kết tội dựa trên những căn cứ sai lầm Tái thẩm là phương thức kháng cáo, kháng nghị có thể gọi là bổ sung, chỉ được yêu cầu nếu các phương thức kháng cáo, kháng nghị khác đã hết Tái thẩm chỉ được yêu cầu theo hướng có
lợi (in favorem) đối với bản án kết tội Bản án tuyên vô tội không phải là đối tượng
tái thẩm Khi tái thẩm, việc huỷ bỏ bản án kết tội có thể kèm theo một vụ án mới
Đó là trường hợp tiến hành một cuộc tranh tụng mới (Điều 625 BLTTHS Cộng hoà Pháp) Tái thẩm là điểm khởi đầu cho một thủ tục tố tụng khác liên quan đến sự việc đã được xét xử Vụ án được chuyển cho một Toà án xét xử về nội dung Bản án của Toà án tái thẩm không thể bị kháng cáo, kháng nghị hoặc khiếu nại Nếu Toà án tái thẩm quyết định huỷ bản án và chuyển hồ sơ vụ án để xét xử lại thì Toà án thụ lí
hồ sơ vụ án có toàn quyền kết án hoặc tuyên vô tội đối với người đã được tái thẩm Nếu Toà án tái thẩm quyết định huỷ bản án để xét xử lại vì lí do làm chứng không đúng sự thật thì người làm chứng đã bị kết án về tội này không được làm chứng nữa trước Toà án thụ lí vụ án sau tái thẩm (Điều 622 BLTTHS Cộng hoà Pháp)
1.2.3.“Révision”, Répertoire de droit pénal et de procédure pénale, Étienne
Daures, Editions Dalloz 2012 [115] (Étienne Daures, “Tái thẩm”, Tuyển tập luật
hình sự và luật tố tụng hình sự, tái bản lần thứ hai, Nxb Dalloz, năm 2012)
Đây là công trình nghiên cứu chi tiết và đầy đủ nhất, riêng về thủ tục tái thẩm của Cộng hoà Pháp Nghiên cứu khẳng định, mặc dù pháp luật ghi nhận nguyên tắc hiệu lực của bản án, quyết định nhưng một bản án hình sự có HLPL áp dụng đối với các cá nhân phạm tội đặc biệt nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng vẫn có thể bị xét lại Việc xét lại theo thủ tục tái thẩm một mặt sửa chữa những sai lầm trong việc xử lý
vụ án, mặt khác tiến hành việc xử lý đối với người thực sự thực hiện hành vi phạm tội, khác với giám đốc thẩm nhằm sửa chữa những sai lầm về thẩm quyền hay về giải thích, áp dụng pháp luật Để đảm bảo sự tôn trọng đối với bản án, quyết định việc xét lại theo thủ tục tái thẩm phải tuân thủ những điều kiện nghiêm ngặt về nội dung, trình tự tố tụng Tác giả giải thích về thủ tục tái thẩm bằng việc dẫn chứng các vụ việc điển hình áp dụng trong xét xử tại Cộng hoà Pháp Các vụ án thực tế được lấy từ Tập san hình sự của Toà hình sự tối cao, có vụ việc xảy ra từ năm 1896
Trang 221.2.4 L'effet dévolutif en matière répressive des voies de recours exercées par l'inculpé seul, Paul Laguerre [116] (Hiệu lực của các loại kháng cáo trong lĩnh vực hình sự do bị cáo thực hiện, Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Paul Laguerre
bảo vệ tại Khoa Luật Toulouse năm 1931)
Công trình nghiên cứu trực tiếp, chuyên sâu về hiệu lực của các loại kháng cáo trong lĩnh vực hình sự bao gồm: kháng cáo phúc thẩm đối với bản án, quyết định sơ thẩm chưa có HLPL của Toà án; kháng cáo giám đốc thẩm hoặc tái thẩm đối với bản án, quyết định của Toà án đã có HLPL của Toà án Nghiên cứu không
đề cập đến hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm do các chủ thể khác (Viện công tố và các đương sự khác) thực hiện Kháng cáo tái thẩm khuyết tịch được chấp nhận trong các trường hợp luật định Không phải trong mọi trường hợp kháng cáo tái thẩm đều dẫn đến việc mở phiên toà Việc tiến hành tái thẩm tại Toà
án được thực hiện sau khi Ủy ban tái thẩm chấp nhận Trong một số trường hợp kháng cáo tái thẩm có thể dẫn đến việc đình chỉ thi hành bản án
1.2.5 Procédure pénale, Etienne Vergès, Paris, LexisNexis, 2014 [119] (Tố
tụng hình sự, tác giả Etienne Vergès, Nxb LexisNexis, Paris, 2014)
Etienne Vergès giới thiệu đến người đọc nội dung cơ bản của BLTTHS Cộng hoà Pháp, bao gồm các nguyên tắc cơ bản và các quy định cụ thể Trên thực tế, BLTTHS chịu sự tác động từ Luật hiến pháp và pháp luật cộng đồng châu Âu Vì vậy, tác giả lựa chọn cách tiếp cận toàn diện, có hệ thống trên cơ sở kết hợp giới thiệu nội dung BLTTHS với các phán quyết của cơ quan tài phán, từ đó đưa ra những nhận xét, đánh giá
Khác với công trình tác giả từng công bố năm 2007, tác phẩm cập nhật những thay đổi trong các Luật mới được Nghị viện Công hoà Pháp thông qua như Luật số 2014-535 ngày 27/5/2014 về quyền tiếp cận thông tin trong tố tụng hình sự; Luật số 2014-640 ngày 20/6/2014 về đổi mới các thủ tục xem xét lại bản án, quyết định đã
có HLPL Tái thẩm được đề cập với tính chất là một phần trong tổng thể các thủ tục kháng cáo, kháng nghị và xem xét lại bản án, quyết định Tác giả giới thiệu những nội dung cơ bản về thủ tục tái thẩm và cập nhật những sửa đổi gần đây
Trang 231.2.6 Criminal Procedure for the Criminal Justice Professional, John N Fedico,
dành cho các chuyên gia về tư pháp hình sự, nhóm tác giả John N Fedico, Henry F
Fradella, Christopher D Totten, tái bản lần thứ 10, xuất bản năm 2008)
Nghiên cứu chỉ rõ thủ tục tố tụng ở các Toà án của Hoa Kỳ chia ra làm 3 giai đoạn với mốc trung tâm là phiên toà xét xử, bao gồm: thủ tục tố tụng trước phiên toà (The Procedure before Trial), thủ tục tố tụng trong phiên toà (The Procedure during Trial) và thủ tục tục tố tụng sau phiên toà (The Procedure after Trial) Trong đó thủ tục yêu cầu phiên toà mới có thể được tiến hành dựa trên căn cứ về việc phát hiện chứng
cứ mới (mang bản chất của cả thủ tục tái thẩm và giám đốc thẩm ở Việt Nam) Yêu cầu phiên toà mới (Motions for new Trial) nằm trong quy định tại phần thủ tục sau phiên toà cùng với chế định phúc thẩm Thủ tục này cùng hai thủ tục khác được nhóm tác giả nhìn nhận như ba phương thức để giải thoát cho bị cáo sau bản án tuyên có tội
Toà án chấp nhận yêu cầu phiên toà mới khi có những phát hiện mới về chứng
cứ Bị cáo có trách nhiệm chứng minh việc có thêm chứng cứ mới được phát hiện Để chứng minh cho yêu cầu về phiên toà mới, chứng cứ mà bị cáo đưa ra phải đáp ứng những điều kiện sau: chứng cứ mới được phát hiện sau phiên toà và có thể thay đổi kết quả của phiên toà; chứng cứ mới này không thể được phát hiện trước phiên toà khi mà các nghĩa vụ của Toà án đã được thực hiện một cách đúng đắn và mẫn cán
1.2.7 Criminal Law and Procedure for the Paralegal - A systems approach,
James H McCord, Sandra I McCord, 3rd Edition [105] (Luật hình sự và tố tụng
hình sự dành cho trợ lý luật sư - Tiếp cận từ góc nhìn hệ thống, tái bản lần thứ 3 của
hai tác giả James H McCord và Sandra I McCord)
Nghiên cứu chỉ ra mục đích của yêu cầu sau phiên toà trong TTHS Hoa Kỳ Các tác giả nhấn mạnh, với những người không am hiểu về luật pháp, vụ án hình sự
có vẻ như đã kết thúc sau phiên toà với một bản án được tuyên Tuy nhiên, đó mới chỉ là sự bắt đầu cho những yêu cầu quan trọng sau đó, bao gồm yêu cầu sau phiên toà và thủ tục phúc thẩm Yêu cầu sau phiên toà có tính chất quan trọng bởi chúng giúp cho Toà án đã xét xử có cơ hội cuối cùng được sửa các sai sót sau khi vấn đề
đã được kháng cáo phúc thẩm lên Toà án cấp cao hơn, khi bản án đã có HLPL
Trang 24Cơ sở lý luận của yêu cầu phiên toà mới dựa trên sự áp dụng sai pháp luật (mang bản chất tương tự như giám đốc thẩm trong TTHS Việt Nam) và sự phát hiện chứng cứ mới cho phép kết luận kết quả trong bản án của Toà án là không đúng (mang bản chất tương tự tái thẩm trong TTHS Việt Nam) Phiên toà mới được tiến hành khi có yêu cầu do phát hiện chứng cứ mới khẳng định một cách chắc chắn bản
án tuyên là không đúng Thủ tục này quy định tại Điều 33 Quy định Liên Bang về TTHS (Federal Rules of Criminal Procedure) Thời hạn yêu cầu phiên toà mới do
áp dụng sai pháp luật là 14 ngày, thời hạn yêu cầu phiên toà mới dựa trên sự xuất hiện của chứng cứ mới là 3 năm Nếu như yêu cầu được chấp nhận, thẩm phán có thể hủy bỏ bản án kết tội trước đó và đưa các chứng cứ mới vào xem xét
Edition, 2007 [97] (Tố tụng hình sự - Luật và thực tiễn áp dụng, tái bản lần thứ 7
của tác giả Rolando V Del Carmen)
Trong nghiên cứu của mình, tác giả chỉ ra tại Hoa Kỳ, nguyên tắc không ai bị xét xử hai lần về một hành vi được thừa nhận nhưng khi có yêu cầu phiên toà mới của người bị kết tội, hành vi của họ vẫn có thể được xem xét lại Việc yêu cầu phiên toà mới đồng nghĩa chấp nhận việc xét xử hai lần và không vi phạm nguyên tắc đã đặt ra Yêu cầu sau phiên toà được giới thiệu trong chương về thủ tục TTHS chung tại Hoa Kỳ Yêu cầu phiên toà mới do có chứng cứ mới không chỉ được thực hiện ở cấp độ bang mà có thể được thực hiện theo pháp luật TTHS ở cả cấp độ Liên bang Yêu cầu phiên toà mới dựa trên sự xuất hiện của chứng cứ mới sẽ được chấp nhận
vì “lợi ích tư pháp” (in the interest of justice)
1.2.9 Interpreting the phrase “Newly discovered evidence”: May previous unavailable exculpatory testimony serve as the basis for a motion for a new trial under rule 33? Mary Ellen Brennan, Fordlaw review, Volume 77, Issue 3, Article 4,
2008 [96] (Giải thích thuật ngữ “chứng cứ mới phát hiện: Liệu lời khai gỡ tội không được sử dụng tại phiên toà có thể là căn cứ đề nghị phiên toà mới theo quy định tại điều 33?”)
Bài viết tập trung giải thích thuật ngữ “chứng cứ mới phát hiện” là căn cứ để yêu cầu phiên toà mới sau khi bản án đã qua cả cấp phúc thẩm ghi nhận tại Điều 33
Trang 25Quy định Liên bang về TTHS (Federal Rules of Criminal Procedure) của Hoa Kỳ Theo tác giả, các Toà án Hoa Kỳ quy định một cơ chế mà theo đó thẩm phán có thể
áp dụng thủ tục phiên toà mới khi họ nhận thấy bồi thẩm đoàn đã ra bản án không đúng đắn Các Toà án Liên bang và Toà án bang ở Hoa Kỳ ban hành điều kiện gần như thống nhất để xem xét đề nghị phiên toà mới dựa trên căn cứ có chứng cứ mới Toà án thường nhắc đến các điều kiện này với tên gọi “Berry rule” hay “Berry test” Các tên gọi này xuất phát từ bản án của vụ án giữa Berry và Nhà nước bang Georgia năm 1851 Khi đó, Toà án tối cao bang Georgia đã xây dựng các điều kiện
và sử dụng chúng để không chấp nhận đề nghị phiên toà mới của bị cáo Berry Toà
án xét xử vụ án Berry đã liệt kê các điều kiện để áp dụng thủ tục phiên toà mới dựa trên căn cứ chứng cứ mới phát hiện: i) Chứng cứ mới được biết đến bởi Toà án từ phiên toà; ii) Chứng cứ không được biết đến không phải do sự thiếu mẫn cán của toà án; iii) Chứng cứ mới quan trọng và có thể đưa đến một bản án khác, nếu phiên toà mới được áp dụng; iv) Chứng cứ mới không chỉ đơn thuần là sự tích lũy các sự kiện, thông tin; v) Lời khai của người làm chứng nên được ghi nhận hoặc sự thiếu vắng lời khai đó phải được ghi nhận; vi) Phiên toà mới được áp dụng không vì bản ghi lời khai mới chỉ hướng đến nghi ngờ nhân cách hay uy tín của người làm chứng
Theo Brennan, các Toà án hiện tại vẫn áp dụng các điều kiện này để xem xét
đề nghị cho phiên toà mới Tuy nhiên, các Toà án đã lược bỏ điều kiện thứ 5 và thay vào đó là điều kiện về việc chứng cứ có thể làm thay đổi kết quả vụ án
Ngoài ra, nghiên cứu cho thấy sự hình thành và phát triển chế định “đề nghị cho phiên toà mới” khi mong muốn về công bằng trong vụ án đã được giải quyết đặt trong sự khiên cưỡng phải thay đổi phán quyết của bồi thẩm đoàn Cho rằng chế định này xuất phát từ Anh, du nhập vào Hoa Kỳ và lần đầu tiên được quy định trong Đạo luật về Tư pháp năm 1789, nghiên cứu có sự so sánh nhất định về thủ tục này trong pháp luật của Anh và Hoa Kỳ
1.2.10 Уголовнопроцессуальное право, Лебедев В.М, Мoсква Юрайт
-2013 [120] (Luật tố tụng hình sự, tác giả Лебедев В.М, Luật sư, Giáo sư, Chánh án
Toà án tối cao Liên bang Nga)
Nghiên cứu chỉ rõ, trong TTHS Liên bang Nga, tái thẩm và giám đốc thẩm
Trang 26xem xét lại bản án, quyết định của Toà án có HLPL, là một giai đoạn độc lập có mục đích hướng tới việc kiểm tra tính hợp pháp, tính có căn cứ của bản án, quyết định của Toà án và khắc phục những sai lầm Tái thẩm tiến hành nếu sai lầm của Toà án do không biết những tình tiết thực tế hoặc tình tiết pháp lý mà những tình tiết này khi được phát hiện ra làm nghi ngờ về tính có căn cứ của bản án, quyết định Tình tiết thực tế được xác định liên quan đến việc ra bản án trái hoặc quyết định pháp luật, không có căn cứ hoặc không công bằng là căn cứ để tiến hành tái thẩm như: xác định việc khai gian dối của người bị hại, người làm chứng; kết luận giám định gian dối; biên bản hoạt động điều tra, xét xử, tài liệu khác bị làm giả mạo; nhân viên điều tra ban đầu, dự thẩm viên, kiểm sát viên hoặc thẩm phán có hành vi phạm tội Tình tiết pháp lý
là căn cứ để kháng nghị tái thẩm đối với bản án, quyết định của Toà án có HLPL như: Toà án Hiến pháp liên bang Nga xác định luật áp dụng trong vụ án đó không phù hợp với Hiến pháp Liên bang Nga; Toà án Châu Âu về quyền con người xác định có vi phạm quy định về Công ước bảo vệ quyền con người và các quyền tự do cơ bản
Các nghiên cứu trực tiếp, toàn diện về tái thẩm hầu như không có trong các nghiên cứu ngoài nước Tuy nhiên trong tất cả các nghiên cứu chung về TTHS, thủ tục này luôn được đề cập như một nội dung không thể thiếu, đặc biệt tại Pháp, quốc gia quy định thủ tục tái thẩm lâu đời Có thể kể đến các công trình nghiên cứu: 1)
Bernard Bouloc, Procédure pénale, Paris, Dalloz, 2013, 1136 p [113] (Tố tụng hình
sự, của Bernard Bouloc, Nxb Dalloz, Paris, 2013) cho rằng tồn tại từ thế kỷ 16,
mục đích của tái thẩm được áp dụng đối với quyết định có HLPL là để khắc phục những sai lầm liên quan trực tiếp đến người vô tội; 2) Jacques Buisson & Serge
Guinchard, Procédure pénale, Paris, LexisNexis, 2014, 1510p [114] (Tố tụng hình
sự, của Jacques Buisson & Serge Guinchard, Nxb LexisNexis, Paris, 2014), nghiên
cứu cho rằng luật TTHS Pháp có những thay đổi nhất định do ảnh hưởng của các văn kiện pháp lý quốc tế về quyền con người với số lượng ngày càng tăng như các quyết định của Hội đồng bảo hiến, Toà án châu Âu về quyền con người và Toà án công lý châu Âu Cuốn sách đề cập những nội dung cơ bản của TTHS, hướng đến việc bảo vệ các quyền con người cơ bản Tái thẩm là một trong các thủ tục bảo đảm cho việc bảo vệ các quyền cơ bản đó (đề cập với nội dung hạn chế)
Trang 27Các nghiên cứu ngoài nước chủ yếu đề cập đến phương thức giải quyết của từng quốc gia trên cơ sở quy định của pháp luật TTHS tương ứng Mặc dù cũng có nghiên cứu tương đối hệ thống về các cách thức giải quyết sai lầm trong xác định sự thật khách quan của nhiều quốc gia nhưng các nghiên cứu này vẫn còn bỏ ngỏ nhiều nội dung chưa làm rõ Các công trình nước ngoài nghiên cứu chủ yếu quy định của các quốc gia cụ thể có đối chiếu và so sánh với một số các quốc gia khác nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu về thủ tục tái thẩm trong TTHS ở Việt Nam.
1.3 Đánh giá tình hình nghiên cứu và những vấn đề tập trung nghiên cứu trong luận án
1.3.1 Đánh giá tình hình nghiên cứu
Về phương diện lý luận, các nghiên cứu trong và ngoài nước đều thống nhất: a) Cần thiết có thủ tục xem xét lại bản án, quyết định của Toà án đã có HLPL do không tránh khỏi có vi phạm pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án hoặc nhận thức sai lầm trong quá trình xác định sự thật của vụ án hình sự Việc xem xét lại nhằm bảo đảm lợi ích của nhà nước và của người bị kết án; b) Việc xét lại bản án, quyết định có HLPL chỉ được tiến hành khi có các căn cứ được quy định chặt chẽ
và trong một thời gian xác định nếu không có lợi cho người bị kết án Trường hợp
có lợi cho người bị kết án thì thời hạn này có thể kéo dài hơn; c) Bản án, quyết định của Toà án bị xem xét lại khi có sai lầm về phương diện pháp luật hoặc nhận thức sai lầm về sự việc; d) Sự việc đã được kết luận trong bản án hoặc quyết định có HLPL được xác định là sai lầm khi mới phát hiện ra tình tiết Đây là tình tiết đã xuất hiện ngay khi ra bản án hoặc quyết định nhưng Toà án không biết dẫn đến ra bản án không đúng; e) Pháp luật tố tụng quy định về tái thẩm còn nhiều hạn chế,
việc nghiên cứu, hoàn thiện pháp luật là cần thiết
Bên cạnh những vấn đề có tính thống nhất trên vẫn còn những vấn đề chưa
được nghiên cứu hoặc khi nghiên cứu có nhiều quan điểm không thống nhất
Thứ nhất, nhiều nội dung chưa được nghiên cứu do sự phát triển của thực tiễn
giải quyết vụ án và yêu cầu của khoa học pháp lý TTHS
Các nghiên cứu thường chỉ tập trung giải quyết một mảng nội dung nhất định như đánh giá một số quy định của pháp luật, kỹ năng tiến hành tố tụng, đánh
Trang 28giá về thực tiễn tái thẩm… Các nghiên cứu này không nghiên cứu trên phạm vi tổng thể bao gồm cả lý luận và thực tiễn tái thẩm Chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn tái thẩm tại Việt Nam
Các công trình ngoài nước tập trung nghiên cứu quy định của pháp luật TTHS hiện hành về tái thẩm của từng quốc gia Mặc dù có nghiên cứu đề cập đến lịch sử hình thành, quá trình phát triển thủ tục tái thẩm, so sánh đối chiếu quy định pháp luật về thủ tục này của một số quốc gia với nhau nhưng chưa có công trình ngoài nước nào đề cập đến tái thẩm trong TTHS Việt Nam
Thứ hai, cơ sở khoa học của các quan điểm về thủ tục tái thẩm chưa thuyết
phục Những nội dung còn gây nhiều tranh cãi về thủ tục tái thẩm bao gồm:
- Pháp luật TTHS nên quy định một hay hai thủ tục để xem xét lại tính đúng đắn trong bản án, quyết định của Toà án đã có HLPL Quan điểm thứ nhất cho rằng việc xây dựng hai thủ tục (giám đốc thẩm và tái thẩm) như hiện nay là không cần thiết, không phù hợp trên phương diện lý luận cũng như thực tiễn và về cơ bản hai thủ tục này không có gì khác nhau [53, tr 459; 12, tr 15] Quan điểm thứ hai khẳng định cần phải quy định hai thủ tục khác nhau để xét lại bản án, quyết định có HLPL
do tính chất, hậu quả pháp lý và cách giải quyết khắc phục hai loại sai lầm phát sinh trong quá trình ra bản án (sai lầm do áp dụng pháp luật và sai lầm về nhận thức) là không thể đồng nhất [29, tr 29; 16, tr 2]
- Về tính chất của tái thẩm: Quan điểm thứ nhất xác định tái thẩm là một giai đoạn trong TTHS [60, tr 453] Quan điểm thứ hai, xác định là một thủ tục trong TTHS (quan điểm của đa số các nhà nghiên cứu) [12, tr 15; 33, tr 120; 67, tr 16;
dù Toà án không biết được khi ra bản án, quyết định (không có lỗi), nhưng thực
Trang 29chất vẫn là sai lầm trong việc giải quyết vụ án, giống như căn cứ giám đốc thẩm [12, tr 15] Quan điểm thứ hai cho rằng căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm và tái thẩm khác nhau và đây là đặc điểm cơ bản tạo nên sự khác nhau giữa giám đốc thẩm và tái thẩm [29, tr 27]
1.3.2 Những vấn đề tập trung nghiên cứu trong luận án
Trên cơ sở đánh giá tình hình hình nghiên cứu, tác giả luận án xác định những nội dung cần tiếp tục nghiên cứu bao gồm:
Thứ nhất, xây dựng cơ sở lý luận khoa học để khẳng định việc quy định về
tái thẩm như một thủ tục cần thiết nhằm bảo đảm vụ án được giải quyết khách quan, công bằng, bảo đảm quyền con người, bảo đảm Nhà nước pháp quyền tại Việt Nam, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp
Thứ hai, trên cơ sở xác định ý nghĩa của tái thẩm trong TTHS, làm rõ các đặc
trưng của thủ tục tái thẩm cũng như những yêu cầu của phương pháp tiếp cận quyền đối với thủ tục tái thẩm trong TTHS ở nhà nước pháp quyền Phân biệt sự khác nhau giữa thủ tục tái thẩm với xét xử phúc thẩm và giám đốc thẩm làm căn cứ đưa
ra các kiến nghị về thủ tục tố tụng phù hợp trước yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay
Thứ ba, làm rõ căn cứ kháng nghị tái thẩm là tình tiết làm thay đổi cơ bản nội
dung bản án, quyết định có HLPL mà Toà án không biết khi ra bản án hoặc quyết định đó, phân biệt với căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm là vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án cũng như đưa ra quan điểm của tác giả luận án về việc tách hay nhập thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm
Thứ tư, đối chiếu, so sánh trên cơ sở tiêu chí của luật học so sánh về thủ tục
tái thẩm trong luật TTHS một số nước đại diện cho các hệ thống pháp luật chủ yếu trên thế giới và ở những mô hình tố tụng khác nhau Thông qua đó làm rõ những điểm tương đồng và khác biệt, lý giải sự khác nhau đó trong điều kiện kinh tế, xã hội, trình độ văn hoá pháp lý, trong mối quan hệ với hệ thống pháp luật của từng quốc gia để định hướng cho việc hoàn thiện thủ tục tái thẩm trong TTHS Việt Nam
Thứ năm, nêu, phân tích, đánh giá thực trạng tái thẩm ở Việt Nam bao gồm:
thực trạng pháp luật TTHS về tái thẩm; thực trạng thi hành pháp luật TTHS về tái
Trang 30thẩm tại Việt Nam; chỉ ra nguyên nhân của những hạn chế trong quá trình áp dụng cũng như các yêu cầu của cải cách tư pháp đối với việc hoàn thiện thủ tục tố tụng nói chung và tái thẩm nói riêng theo hướng chặt chẽ, khách quan, công bằng góp phần bảo đảm quyền con người, nâng cao hiệu quả đấu tranh xử lý tội phạm
Thứ sáu, trên cơ sở thực trạng tái thẩm ở nước ta, kinh nghiệm của một số
nước và đặc biệt trên các luận điểm khoa học được xây dựng trong luận án, cũng như những yêu cầu của cải cách tư pháp và xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, tác giả xây dựng các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và các giải pháp nâng cao chất lượng tái thẩm tại Việt Nam
1.4 Giả thuyết khoa học, cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
1.4.1 Giả thuyết khoa học
Với cách hiểu giả thuyết “là luận điểm cần chứng minh” [8], tác giả luận án xác định giả thuyết nghiên cứu khoa học của luận án như sau: Tái thẩm là thủ tục có tính chất đặc biệt không phải một giai đoạn trong TTHS phát sinh khi có kháng nghị của chủ thể có thẩm quyền vì mới phát hiện tình tiết làm thay đổi cơ bản nội dung bản án, quyết định mà Toà án không biết khi ra bản án, quyết định nhằm bảo đảm xác định lại sự thật của vụ án, bảo đảm người thực hiện hành vi phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự
1.4.2 Cơ sở lý thuyết
Cơ sở lý thuyết của luận án là lý luận về nhận thức, theo đó, tái thẩm được tiến hành để khắc phục sai lầm về nhận thức sự việc trong bản án, quyết định có HLPL của Toà án Nhận thức về sự việc của Toà án tại thời điểm ra bản án, quyết định có thể bị hạn chế bởi điều kiện lịch sử khách quan, năng lực chủ quan của người tiến hành tố tụng Những hạn chế này về nhận thức dẫn đến hậu quả Toà án
ra các bản án, quyết định không đúng người, đúng tội, làm oan người vô tội Bản
án, quyết định sai do nhận thức không đúng về sự việc cần được khắc phục khi có kháng nghị của người có thẩm quyền Kháng nghị tiến hành khi mới phát hiện các tình tiết làm thay đổi nội dung bản án, quyết định Tái thẩm khắc phục các sai lầm, nhất là trong trường hợp có lợi cho người bị kết án sẽ không hạn chế về thời gian
Trang 311.4.3 Phương pháp nghiên cứu
Tác giả nghiên cứu trên cơ sở chủ nghĩa duy vật biện chứng, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm chủ trương cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước Việt Nam Luận án dựa trên nền tảng lý luận từ các tri thức khoa học vốn có chung của loài người, thể hiện cụ thể thông qua các thành tựu của Luật học, Triết học, Lịch sử và
Xã hội học nói chung và các chuyên ngành khác trong khoa học pháp lý: Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, Lịch sử các học thuyết chính trị - pháp lý, Luật Hiến pháp, Luật hình sự, Luật TTHS
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng trong luận án bao gồm:
Phương pháp phân tích: được sử dụng để làm sáng tỏ thủ tục tái thẩm trong
TTHS trên các phương diện lí luận, thực trạng quy định và thi hành pháp luật, lập luận các giải pháp bảo đảm nâng cao chất lượng tái thẩm
Phương pháp tổng hợp: sử dụng để hệ thống hoá các quan điểm khoa học
khác nhau về các nội dung của tái thẩm trong TTHS
Phương pháp thống kê và vụ việc điển hình: sử dụng để làm rõ thực tiễn thi
hành pháp luật TTHS về tái thẩm
Phương pháp so sánh luật học: được sử dụng để đối chiếu lịch sử pháp luật,
các truyền thống pháp luật nhằm đánh giá sự phát triển của pháp luật TTHS Việt Nam hiện hành về tái thẩm
KẾT LUẬN CHƯƠNG I
1 Trong khoa học luật TTHS chưa có công trình nghiên cứu toàn diện và đầy
đủ về tái thẩm trong TTHS Việt Nam Các công trình nghiên cứu về tái thẩm chủ yếu chỉ đề cập đến một hoặc một vài vấn đề về tái thẩm mà không có nghiên cứu tổng thể Các nghiên cứu về luật thực định chưa chỉ rõ được đầy đủ các hạn chế trong quy định của pháp luật do thiếu khảo sát thực tiễn Việc đánh giá thực trạng tái thẩm tại Việt Nam trong các công trình nghiên cứu không toàn diện
2 Các công trình nghiên cứu ngoài nước về tái thẩm chủ yếu đề cập trong phạm vi pháp luật TTHS của mỗi quốc gia Đóng góp quan trọng nhất của các công
Trang 32trình nghiên cứu là khẳng định sự cần thiết phải xét lại bản án, quyết định đã có HLPL của Toà án Việc xét lại bản án, quyết định có HLPL không chỉ tồn tại trong pháp luật của các nước theo hệ thống pháp luật thành văn mà cả các nước theo hệ thống án lệ Thủ tục tái thẩm, xem xét lại sai lầm về mặt sự việc trong bản án, quyết định không phải chỉ quy định trong pháp luật quốc gia mà còn được ghi nhận trong quy định của các thiết chế tư pháp hình sự quốc tế Ghi nhận pháp lý này phần nào khẳng định sự cần thiết phải quy định thủ tục tái thẩm bên cạnh thủ tục giám đốc thẩm (là thủ tục xét lại sai lầm về phương diện pháp luật)
3 Những vấn đề tập trung nghiên cứu trong luận án bao gồm: cơ sở lý luận của việc xây dựng thủ tục tái thẩm, làm rõ đặc điểm tái thẩm để phân biệt với giám đốc thẩm, tìm những điểm tương đồng và khác biệt giữa pháp luật TTHS Việt Nam với các quốc gia có quy định thủ tục có tính chất tương tự để tham khảo trong quá trình hoàn thiện pháp luật Nghiên cứu thực trạng pháp luật và thực tiễn tái thẩm Việt Nam, tìm ra nguyên nhân hạn chế, đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng tái thẩm tại Việt Nam
4 Cơ sở khoa học của luận án: Tái thẩm là thủ tục trong TTHS nhằm xét lại sai lầm về mặt sự việc trong bản án, quyết định có HLPL của Toà án, không xem xét lại vi phạm pháp luật trong quá trình xử lý vụ án như giám đốc thẩm, là hai thủ tục khác nhau về bản chất vì vậy cần quy định khác nhau về thẩm quyền kháng nghị, đặc biệt là căn cứ kháng nghị, trình tự thủ tục, thẩm quyền giải quyết
5 Cơ sở lý thuyết của luận án là lý luận về nhận thức, theo đó, tái thẩm được tiến hành để khắc phục sai lầm về nhận thức sự việc trong bản án, quyết định có HLPL của Toà án Sai lầm trong bản án, quyết định có HLPL về tội phạm, người thực hiện hành vi phạm tội cũng như những vấn đề khác phải được khắc phục bằng thủ tục tái thẩm khác với khắc phục sai lầm về áp dụng pháp luật bằng thủ tục giám đốc thẩm
6 Tác giả luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể phù hợp với nghiên cứu khoa học xã hội và đề tài bao gồm: phân tích, tổng hợp, so sánh luật học, thống kê để giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra
Trang 33Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÁI THẨM
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Một trong những câu hỏi được đặt ra là tại sao bản án, quyết định của Toà án
đã có HLPL, thậm chí đã được thi hành và thi hành xong vẫn cần được xem xét lại Việc xem xét lại được tiến hành trong trường hợp có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc phát hiện tình tiết mới làm thay đổi nội dung bản án, quyết định mà Toà
án không biết khi ra bản án, quyết định đó Với những trường hợp khác nhau như vậy, câu hỏi thứ hai là cần một thủ tục chung hay cần đến các thủ tục khác nhau để xem xét, đưa ra phương án giải quyết Giám đốc thẩm và tái thẩm là những thủ tục xem xét lại bản án, quyết định của Toà án đã có HLPL được quy định khác nhau trong pháp luật TTHS các nước Việc làm rõ khái niệm tái thẩm, đặc điểm của tái thẩm, phân biệt với giám đốc thẩm cũng như khẳng định ý nghĩa của thủ tục này bên cạnh thủ tục giám đốc thẩm phần nào trả lời được các câu hỏi trên Việc nghiên cứu khái quát tái thẩm trong các thiết chế tư pháp hình sự quốc tế và TTHS một số nước giúp câu trả lời đầy đủ, có sức thuyết phục
2.1 Khái niệm tái thẩm trong tố tụng hình sự
Bản chất của xét xử vụ án hình sự là đánh giá, sử dụng chứng cứ để xác định chân lý khách quan về sự việc, người thực hiện hành vi phạm tội, lựa chọn quy phạm pháp luật, ra bản án hoặc quyết định để giải quyết Xác định chân lý khách quan trong TTHS đồng nghĩa với việc kết án đúng người phạm tội và minh oan cho người vô tội Khi Toà án kết án người vô tội và minh oan cho người phạm tội có nghĩa chân lý trong trường hợp này chưa được xác định, dẫn đến sai lầm nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án [55, tr 8] Những sai lầm như vậy vi phạm quyền con người, làm giảm uy tín của Nhà nước, gây mất ổn định xã hội Vì vậy, mặc dù tồn tại nguyên tắc bảo đảm hiệu lực thi hành của bản án, quyết định của Toà án khi
đã có HLPL trong TTHS, nhưng việc xem xét lại vẫn được đặt ra trong những trường hợp cụ thể, đặc biệt khi bản án đó xác định sai người thực hiện hành vi phạm tội
Trang 34Với các đặc điểm khác nhau về kinh tế, văn hoá, truyền thống pháp luật, mỗi quốc gia đều đưa ra giải pháp khác nhau để khắc phục sai lầm về áp dụng pháp luật
và sai lầm về sự việc trong bản án, quyết định của Toà án đã có HLPL Có quốc gia quy định một thủ tục chung để khắc phục cả hai sai lầm trên, có quốc gia quy định hai thủ tục riêng biệt là giám đốc thẩm sửa chữa sai lầm về áp dụng pháp luật và tái thẩm để sửa chữa sai lầm về sự việc (Chúng tôi sẽ đề cập cụ thể trong phần 2.3)
Theo Từ điển tiếng Việt, “tái thẩm” là “xét lại một bản án hoặc quyết định đã
có HLPL (khi phát hiện những tình tiết mới có thể làm thay đổi bản chất của vụ án)” [91, tr 885-886] Tái thẩm được xác định là động từ, chỉ hoạt động xét lại với
đối tượng xem xét là bản án, quyết định đã có HLPL và trong trường hợp phát hiện tình tiết mới làm thay đổi bản chất của vụ án Dưới góc độ ngôn ngữ chung, khái niệm này không chỉ rõ về thẩm quyền tiến hành, cơ sở phát sinh, mục đích và quyền hạn khi tái thẩm
Tái thẩm được ghi nhận trong pháp luật TTHS Việt Nam cũng như pháp luật của các quốc gia trên thế giới với những dấu hiệu đặc trưng riêng Trong TTHS Pháp, tái thẩm được quy định như một thủ tục đặc biệt, nhà làm luật sử dụng thuật
ngữ “révission” Theo Từ điển Pháp – Việt, “révission” là danh từ có nghĩa là “sự
xét lại, sự duyệt lại” [59, tr 1453] Theo Từ điển thuật ngữ pháp lý Pháp – Việt,
“révission” có nghĩa chung là “sửa đổi” và dưới góc độ chuyên ngành của khoa học luật tố tụng được luận giải “là việc xét xử lại vụ án đã có bản án, quyết định có
HLPL nhưng bị kháng nghị vì có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi căn bản bản án, quyết định mà Toà án không biết được khi ra bản án hoặc quyết định đó” [32, tr 804] Các nghiên cứu về tái thẩm trong TTHS Cộng hoà
Pháp hầu như thống nhất đưa ra khái niệm: “Tái thẩm là một thủ tục đặc biệt trong
TTHS được áp dụng đối với bản án hoặc quyết định đã có HLPL nhưng bị kháng cáo, kháng nghị vì có những bằng chứng mới cho phép chứng minh người phạm tội
vô tội hoặc có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc quyết định mà Toà án không biết được khi ra bản án hoặc quyết định đó” [115; 118, tr 289] Tái thẩm được xem xét là một thủ tục đặc biệt
Trang 35trong TTHS với những dấu hiệu riêng về đối tượng, cơ sở phát sinh, thẩm quyền, thủ tục Đặc biệt, căn cứ kháng cáo, kháng nghị tái thẩm (nằm trong cơ sở phát sinh tái thẩm) cho thấy rõ sự khác nhau với giám đốc thẩm
Trong tiếng Anh, có nhiều thuật ngữ đồng nghĩa chỉ việc xét lại bản án, quyết
định đã có HLPL của Toà án như: “Retrail” là danh từ chỉ “sự xét lại một vụ án” [63, tr 1289]; “review” có hai nghĩa: danh từ chỉ “sự xem xét lại, sự duyệt lại, sự
kiểm tra” và động từ chỉ “xem xét lại, duyệt lại”; “revision” là danh từ chỉ “sự xem lại, sự sửa lại” [63, tr 1291] Trong hệ thống pháp luật quốc tế, thuật ngữ “review
proceedings” được dùng khi quy định thủ tục xét lại bản án của Toà án sau khi đã phúc thẩm Như vậy dưới góc độ ngôn ngữ Anh, có sự tương đối thống nhất trong cách giải thích thuật ngữ “tái thẩm” Đó là danh từ chỉ việc việc xem xét lại và động
từ chỉ hoạt động xét lại
Khi đề cập đến tái thẩm trong TTHS các nhà nghiên cứu khoa học pháp lý Việt Nam, đưa ra nhiều khái niệm khác nhau, cụ thể:
Thứ nhất: Tái thẩm có nghĩa đặc biệt là một tố cầu nhằm sửa lại một bản án
nhất định đã xử sai lạc vì đã bị một sự kiện trái sự thật làm lạc hướng sự xét đoán [58, tr 451]
Thứ hai: Tái thẩm là giai đoạn của TTHS, trong đó Toà án có thẩm quyền xét
lại những bản án hoặc quyết định đã có HLPL nhưng bị kháng nghị vì có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc quyết định mà Toà án không biết được khi ra bản án hoặc quyết định đó [61, tr 453]
Thứ ba: Tái thẩm là thủ tục tố tụng do Toà án cấp trên thực hiện theo trình tự
pháp luật quy định để xét lại bản án, quyết định hình sự đã có HLPL bị người có thẩm quyền kháng nghị khi có tình tiết mới làm thay đổi cơ bản nội dung vụ án mà Toà án không biết được khi ra bản án, quyết định đó nhằm khắc phục sai lầm nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án [12, tr 15]
Thứ tư: Tái thẩm là xét lại bản án hoặc quyết định của Toà án đã có HLPL,
nhưng bị kháng nghị vì có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi
cơ bản nội dung của bản hoặc quyết định mà Toà án không biết được khi ra bản án hoặc quyết định đó [33, tr 120]
Trang 36Thứ năm: Thủ tục tái thẩm là hình thức luật định mà Toà án có thẩm quyền
áp dụng để xét lại bản án hoặc quyết định hình sự đã có HLPL bị người có thẩm quyền kháng nghị vì có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi nội dung của bản án hoặc quyết định mà Toà án không biết được khi ra bản án hoặc quyết định đó, nhằm đảm bảo sự thật vụ án được xác định khách quan, toàn diện và đầy đủ [67, tr 16]
Thứ sáu: Tái thẩm là việc xét lại bản án hoặc quyết định đã có HLPL nhưng
bị kháng nghị vì phát hiện có tình tiết mới làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà Toà án không biết được khi ra bản án hoặc quyết định đó [6, tr 520]
Mặc dù được nhìn nhận dưới góc độ khác nhau nhưng các khái niệm trên đều khẳng định tái thẩm được tiến hành để xét lại bản án, quyết định của Toà án đã có HLPL bị kháng nghị vì có căn cứ cho rằng bản án, quyết định đó sai lầm Sự thống nhất này thể hiện quan điểm nhất quán của các nhà khoa học, xác định đối tượng của tái thẩm là bản án, quyết định của Toà án đã có HLPL Tất cả các quan điểm đều khẳng định tái thẩm không phải là một cấp xét xử trong tố tụng
Ngoài những điểm thống nhất trên, mỗi khái niệm đưa ra được một hoặc một vài đặc điểm của tái thẩm và được đề cập dưới hai góc độ khác nhau: góc độ thứ nhất cho rằng tái thẩm là một giai đoạn của quá trình tố tụng; góc độ thứ hai cho rằng tái thẩm là một thủ tục trong tố tụng
Quan điểm xác định tái thẩm là giai đoạn của TTHS (khái niệm thứ ba) là thiếu thuyết phục Cũng giống như giám đốc thẩm, mặc dù tái thẩm có nhiệm vụ riêng, trình tự, thủ tục riêng và kết thúc bởi văn bản tố tụng nhất định nhưng chưa thỏa mãn đầy đủ các đặc điểm của giai đoạn trong TTHS Tái thẩm không phải là giai đoạn tố tụng bởi vì thời điểm bắt đầu của tái thẩm không phải là thời điểm kết thúc của giai đoạn trước đó [12, tr 10] Tái thẩm có thể được tiến hành vào bất cứ thời điểm nào của quá trình giải quyết vụ án hình sự sau khi vụ án đã được giải quyết bằng bản án, quyết định của Toà án có HLPL Có thể ở thời điểm: sau giai đoạn xét xử sơ thẩm khi bản án, quyết định sơ thẩm có HLPL do không bị kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm; sau giai đoạn xét xử phúc thẩm; sau khi đã có quyết
Trang 37định giám đốc thẩm, tái thẩm; khi bản án đã được đưa ra thi hành, thậm chí có trường hợp bản án đã thi hành xong Đồng thời nếu cho rằng tái thẩm là giai đoạn tố tụng thì cần phải đưa vào khái niệm các dấu hiệu của một giai đoạn tố tụng độc lập bao gồm nhiệm vụ riêng, phạm vi đặc thù về chủ thể, hành vi tố tụng đặc trưng, quyết định tố tụng kết thúc giai đoạn đó Nghiên cứu tái thẩm dưới góc độ này khó phân biệt được tái thẩm với giám đốc thẩm trong TTHS Việc không phân biệt được tái thẩm với giám đốc thẩm là một trong những lý do cơ bản hình thành quan điểm nhập giám đốc thẩm và tái thẩm thành một thủ tục chung
Các khái niệm còn lại đều cho rằng tái thẩm là thủ tục trong TTHS Mặc dù đều coi tái thẩm là thủ tục trong TTHS nhưng mỗi khái niệm đưa ra một số đặc điểm riêng chưa mang tính toàn diện và khó phân biệt với thủ tục giám đốc thẩm Khái niệm thứ nhất có nhắc đến cụm từ “đặc biệt” để khẳng định tính chất của tái thẩm Mặc dù khái niệm chỉ ra được mục đích của tái thẩm là sửa lại một bản án nhất định bị sai lạc nhưng dễ nhầm lẫn với phúc thẩm do không chỉ rõ đối tượng là bản án đã có HLPL hay chưa có HLPL Theo khái niệm này, tái thẩm chỉ sửa lại bản án mà không sửa lại các quyết định của Toà án Căn cứ tái thẩm là có sự kiện trái sự thật được sử dụng trong quá trình xác định sự thật khách quan làm lạc hướng
sự xét đoán Căn cứ tái thẩm trong khái niệm này phân biệt được tương đối rõ với căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm là vi phạm pháp luật Sai lầm trong tái thẩm là sai lầm về nhận thức, không phải sai lầm về phương diện pháp luật
Khái niệm thứ nhất, thứ tư và thứ sáu không chỉ rõ thẩm quyền tái thẩm thuộc
về cơ quan nào Vì tái thẩm được xem xét là một thủ tục trong tố tụng nên thẩm quyền giải quyết là một dấu hiệu không thể thiếu, cần phải làm rõ và đưa vào trong khái niệm Dấu hiệu mục đích không được đề cập đến trong tất cả các khái niệm mặc
dù đây là dấu hiệu quan trọng giúp phân biệt tái thẩm với giám đốc thẩm Chúng tôi cho rằng tái thẩm là một thủ tục trong TTHS như đa phần các nhà khoa học thừa nhận
Theo Từ điển tiếng Việt, thủ tục là “những việc cụ thể phải làm theo một trật
tự quy định để tiến hành một công việc có tính chính thức” [91, tr 961] Pháp luật
TTHS ghi nhận các thủ tục tố tụng như xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm, giám đốc
Trang 38thẩm, tái thẩm Tái thẩm là thủ tục trong TTHS với các dấu hiệu đặc trưng khác với
sơ thẩm, phúc thẩm và thủ tục giám đốc thẩm về: cơ sở phát sinh, đối tượng, mục đích, thẩm quyền và thủ tục giải quyết
* Về cơ sở phát sinh: là kháng nghị/kháng cáo của người có quyền với căn cứ
chặt chẽ, cụ thể, trong thời hạn luật định
Xét xử sơ thẩm tại Toà án phát sinh trên cơ sở buộc tội của cơ quan công tố,
là cơ sở có tính thống nhất trong quy định của hầu hết các quốc gia Nếu không có buộc tội của cơ quan công tố, việc xét xử sơ thẩm không thể thực hiện Cơ sở phát sinh thủ tục phúc thẩm là kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm và cũng được quy định trong pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới Trong pháp luật quốc tế kháng cáo phúc thẩm được ghi nhận là quyền của các chủ thể có quyền và lợi ích pháp lý liên quan đến vụ án Việc xét xử phúc thẩm tiến hành khi kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm đúng chủ thể, thủ tục, thời hạn mà không quy định căn cứ Việc xem xét kháng cáo, kháng nghị có căn cứ hay không được giải quyết tại toà phúc thẩm, thể hiện ở kết luận cuối cùng khi bản án, quyết định phúc thẩm tuyên chấp nhận hay không chấp nhận, chấp nhận một phần hay toàn bộ kháng cáo, kháng nghị
Giống như giám đốc thẩm, cơ sở để Toà án tiến hành tái thẩm là kháng nghị
có căn cứ luật định Điểm khác nhau chủ yếu giữa tái thẩm và giám đốc thẩm là căn
cứ kháng nghị Có ý kiến cho rằng, căn cứ kháng nghị tái thẩm là tình tiết mới được phát hiện, làm thay đổi bản chất vụ án Trong trường hợp này, dù Toà án không biết được khi ra bản án, quyết định (không có lỗi), nhưng thực chất vẫn là sai lầm trong việc giải quyết vụ án, giống như căn cứ giám đốc thẩm [12, tr 15] Các nhà khoa học theo quan điểm này khẳng định bản chất căn cứ giám đốc thẩm và tái thẩm đều
là vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc xử lý vụ án, căn cứ cuối cùng của hai thủ tục vẫn là tương đồng nhau [53, tr 459]
Trái ngược với ý kiến trên, một số nhà khoa học cho rằng giám đốc thẩm và tái thẩm là các thủ tục khác nhau về bản chất và đặc điểm cơ bản tạo nên sự khác nhau giữa giám đốc thẩm và tái thẩm là căn cứ kháng nghị [29, tr 27] Nếu đối với tái thẩm tình tiết được dùng làm căn cứ kháng nghị và xem xét tại toà là tình tiết
Trang 39mới được phát hiện, trước đó Toà án chưa biết và chưa được xác minh, điều tra, tức chưa có trong hồ sơ vụ án và vì thế không được cân nhắc, đánh giá khi ra bản án hoặc quyết định, thì đối với giám đốc thẩm tình tiết được đưa ra làm căn cứ kháng nghị và xem xét đã được Toà án biết đến hoặc đã được xác minh, điều tra theo trình
tự luật định, tức đã có trong hồ sơ vụ án nhưng do Toà án đánh giá sai ý nghĩa pháp lý của nó hoặc do qua loa, đại khái mà không nhận ra mặc dù đã có trong hồ sơ [10, tr 4] Nếu sai lầm do yếu tố chủ quan trong việc xử lý vụ án thì bản án có HLPL có thể bị kháng nghị để giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm Nếu sai lầm do yếu tố khách quan khi phát hiện những tình tiết mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản
án hoặc quyết định mà Toà án không biết được khi ra bản án hoặc quyết định đó thì
vụ án có thể được xem xét theo thủ tục tái thẩm [16, tr 2]
Thực tế cho thấy xác định sai lầm trong bản án hay quyết định của Toà án đã
có HLPL do yếu tố chủ quan hay khách quan không đơn giản Tái thẩm và giám đốc thẩm khác nhau cơ bản về căn cứ kháng nghị, vì vậy đòi hỏi phải quy định hai thủ tục hoàn toàn khác
Căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm là vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Việc vi phạm là lỗi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, đó có thể là vi phạm pháp luật hình thức hoặc áp dụng pháp luật nội dung Căn cứ kháng nghị tái thẩm liên quan đến vấn đề xác định
sự thật vụ án hình sự Sự thật vụ án hình sự được xác định trong bản án, quyết định
có HLPL được đánh giá là không đúng bởi phát hiện tình tiết (là một phần sự thật
vụ án) mà khi ra bản án, quyết định Toà án không biết
Sự việc phạm tội cũng giống như các sự việc, hiện tượng khác trong thế giới,
nó tồn tại khách quan và không bao giờ mất đi tính khách quan Nếu người tiến hành tố tụng nhận thức đúng thực tế sự việc thì nhận thức đó mang tính khách quan, toàn diện và đầy đủ Khi đánh giá về mặt pháp lý của sự việc, hành vi, Toà án tiến hành hoạt động theo quy định của pháp luật TTHS, áp dụng pháp luật hình sự hiện hành tại thời điểm đó để xác định sự việc đã nhận thức có phải là sự việc phạm tội không, hành vi có cấu thành tội phạm không, người bị buộc tội có phải là người
Trang 40thực hiện hành vi phạm tội, sự việc thực tế đó quyết định như thế nào với các vấn đề khác của vụ án Trong trường hợp có sự thay đổi trong quy định của pháp luật hình
sự (có thể xoá bỏ, tăng nặng hay giảm nhẹ đối với hành vi phạm tội) thì sự thật của
vụ án hình sự đó vẫn không mất đi tính khách quan, mà chỉ là việc đánh giá những tình tiết đó theo tiêu chí mới về chính trị - xã hội và pháp luật hình sự [55, tr 7] Vì vậy, cùng một sự việc, hiện tượng của thực tế khách quan nhưng trong những thời điểm khác nhau, tùy thuộc và điều kiện cụ thể mà nhà làm luật xác định hành vi có phạm tội hay không Có hai vấn đề Toà án phải giải quyết trước khi ra phán quyết chính thức bằng bản án hoặc quyết định: một là, làm sáng tỏ những tình tiết, sự việc
có thật của vụ án hình sự (chúng tôi vẫn dùng thuật ngữ vụ án hình sự vì vụ án bị đưa ra Toà án xét xử do bên buộc tội vẫn khẳng định đây là vi phạm pháp luật hình sự); hai là, đánh giá đúng những tình tiết đó dưới góc độ pháp lý – xã hội để cuối cùng quyết định đúng về trách nhiệm hình sự Việc đánh giá tình tiết, sự việc dưới góc độ pháp lý như trên đã phân tích có thể thay đổi phụ thuộc vào thay đổi của Hiến pháp, pháp luật của các nước Nếu tại thời điểm đánh giá và ra phán quyết, Toà án đánh giá tình tiết, sự việc dưới góc độ pháp lý sai thì có nghĩa đã vi phạm pháp luật Đây là căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, khắc phục vi phạm pháp luật, xoá bỏ án lệ sai (đối với các nước theo hệ thống án lệ), tránh tiền lệ sai (đối với các nước theo hệ thống pháp luật thành văn)
Trong trường hợp sau khi bản án, quyết định đã có HLPL mới phát hiện tình tiết khẳng định nhận thức về sự việc của vụ án thể hiện trong bản án, quyết định là sai lầm, nhận thức của Toà án không khách quan, toàn diện và đầy đủ thì đó là căn
cứ để kháng nghị tái thẩm Tình tiết là căn cứ kháng nghị tái thẩm phải thỏa mãn đầy đủ các điều kiện sau đây:
Thứ nhất, là tình tiết tồn tại khách quan trước khi Toà án ra bản án, quyết định
Tình tiết là căn cứ kháng nghị tái thẩm không phải mới xuất hiện mà tồn tại như một phần của hiện thực khách quan ngay trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, có ngay tại thời điểm Toà án ra bản án hoặc quyết định Tình tiết này có mối quan hệ với vụ
án hình sự đang giải quyết, là một phần sự thật khách quan của vụ án Chỉ những tình