1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa và yếu tố dẫn đến tranh chấp Lao động tại Việt Nam

16 171 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 809,42 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kế hoạch 5 này có hai mục tiêu cơ bản:  Từng bước xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, và  Hình thành cơ cấu kinh tế mới trong cả nước mà bộ phận chủ yếu là cơ cấu c

Trang 1

Kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa

và yếu tố dẫn đến tranh chấp Lao động tại Việt Nam

THHo

Dẫn Nhập

Đình công tự phát là mối lo ngại hàng đầu của chính phủ Việt Nam hiện nay Từ năm 1995 cho đến cuối năm 2012, theo thống kê của Thương Binh và Xã Hội của nước CHXHCN Việt Nam, đã có hơn 5000 vụ đình công tự phát đã xảy ra trên toàn quốc, nhiều nhất là các khu công nghiệp có vốn đầu tư từ nước ngoài (FDI) tại các tỉnh ở phía Nam như Bình Dương, Đồng Nai, Trà Vinh Tuy là những cuộc đình công tự phát, không có tổ chức quy củ nhưng mỗi cuộc đình công đã lôi kéo được hàng ngàn người tham dự có nghĩa rằng sự quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động rất tồi tệ và sự bất mãn không chỉ một vài cá nhân mà toàn thể những người lao động

Bài viết này bàn về những nguyên nhân về tranh chấp lao động đang xảy ra thường xuyên dưới chính sách kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa tại Viêt Nam cũng như những yếu tố trực tiếp dẫn đến các cuộc đình công Đồng thời, bài viết này cũng nêu ra sự cần thiết của một công đoàn độc lập – trong việc tích cực hòa giải tranh chấp lao động cũng như tranh đấu bảo vệ quyền lợi cho người lao động trong tương lai

1 Sự thay đổi chính sách kinh tế của các nước xã hội chủ nghĩa

1.1 Sự cải cách kinh tế ở Trung Quốc

Sau khi Mao Trạch Động qua đời vào tháng 9 năm 1976, Đặng Tiểu Bình cho thi hành những kế hoạch cải tổ kinh tế để cứu vãn nền kinh tế kiệt quệ của Trung Quốc dưới thời Mao Từ năm từ năm 1978 đến năm 1984, bắt đầu với những sự cải tổ về nông nghiệp, bãi

bỏ các hợp tác xã nông nghiệp và cho tư hữu hóa đất canh tác cho nông dân Sự cải tổ nông nghiệp đã làm tăng năng suất cho các sản phẩm nông nghiệp và từ đó nâng cao đời sống hàng trăm triệu nông dân Trung Quốc tại các vùng thí điểm Công Nghiệp cũng được cải tổ song song với sự cải tổ nông nghiệp để nâng cao năng suất công nghiệp, các thương nghiệp

tư nhân được cho phép hoạt động trở lại sau 30 năm vắng bóng Nông phẩm và hàng hóa công nghiệp sản xuất ra được cho phép bán theo giá thị trường để giải quyết và thỏa mãn cung, cầu Ngoài ra, họ Đặng còn mở cửa cho các nhà đầu tư ngoại quốc vào Trung Quốc, xây dựng nhiều đặc khu kinh tế với những chính sách cởi mở để hấp dẫn các nguồn đầu tư nước ngoài

Lợi dụng nguồn công nhân rẻ và một thị trường lớn cho sự tiêu thụ hàng hóa, Trung Quốc đã thu hút rất nhiều nhà tư bản từ Mỹ, Nhật, Anh, Đức, Phần Lan, Đài Loan đổ vốn đầu tư vào vào nước này, các nhà máy sản xuất công nghiệp như nhà những nhà máy lắp ráp xe hơi, computer, sản phẩm điện tử, y phục, giày thể thao…được xây đựng Đây là những yếu tố chính cho sự tăng trưởng kinh tế liên tục với sự tăng trưởng trung bình hàng năm khoảng

Trang 2

11.5% của Trung Quốc trong giai đoạn này [1]

1.2 Sự cải cách kinh tế của Liên Xô

Sau năm 1970, kinh tế Xô Viết bắt đầu bước sang giai đoạn trì trệ, từ mức độ tăng tưởng (GNP) khoảng 5.2% một năm trong thập niên 60, xuống còn 3.7% một năm trong những năm (1970-1975), 2.6% một năm trong những năm (1975-1980) và 2.0% một năm trong những năm (1980-1985) [2] Sư giảm sút trầm trọng trong các khâu sản xuất kỹ nghệ lẫn nông nghiệp là một mối lo cho giới lãnh đạo Liên Xô Để vực lại nền kinh tế, sau khi được bầu vào chức Tổng Bí Thư của Đảng Cộng Sản Liên Xô, Mikhail Gorbachev bắt đầu mở

những cuộc cải cách lớn về kinh tế qua chính sách perestroika (economic restructuring) cũng như qua chính sách glasnost, để minh bạch hóa guồng máy chính trị, nhân sự, chống tham

nhũng và lạm dụng quyền hành Những luật liên quan đến sự cải cách các vấn đề trách nhiệm quản lý tài chánh, điều hành sản xuất và phân phối sản phẩm của các xí nghiệp quốc doanh được Tối Cao Xô Viết thông qua vào tháng 7 năm 1987 Tháng 5 năm 1988, những cải cách mới cho phép tư nhân được sở hữu những thương nghiệp liên quan đến dịch vụ, sản xuất, xuất-nhập cảnh Đây là những cải cách kinh tế lớn nhất kể từ Cách Mạng tháng 10 năm

1917 [3]

1.3 Sự thay đổi chính sách kinh tế tại Việt Nam

1.3.1 Nền kinh tế xã hội chủ nghĩa của Việt Nam trong giai đoạn 1975-1986 [4]

Sau khi thống nhất đất nước, trong kỳ Đại Hội Đảng Lần Thứ IV năm 1976, đảng Cộng Sản Việt Nam đã thảo ra Kế Hoạch Năm Năm 1976-1980 để đưa “cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội” Kế hoạch 5 này có hai mục tiêu cơ bản:

Từng bước xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, và

Hình thành cơ cấu kinh tế mới trong cả nước mà bộ phận chủ yếu là cơ cấu công - nông nghiệp và từng bước cải thiện đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân lao động

Để hình thành cơ cấu kinh tế xã hội chủ nghĩa, sau đại hội đảng, chính quyền cộng sản đã nhanh chóng biến nền kinh tế thị trường Miền Nam thành nền kinh tế quốc doanh qua những đợt đổi tiền, kiểm kê và tịch thu tài sản, đánh đổ tư bản, quốc hữu hóa các cơ sở làm ăn và xí nghiệp của tư nhân Kinh tế tư nhân và cá thể bị ngăn cấm triệt để Cuộc đổi tiền lần thứ hai nhằm đánh đổ tư bản vào ngày 2 tháng 5 năm 1978 với giới hạn tối đa $500 đồng tiền mới cho mỗi gia đình ở thành thị và $300 cho mỗi gia đình ở thôn quê đã thật sự hủy hoại nền kinh tế tự do ở Miền Nam và bần cùng hóa nhân dân cả nước

Dưới sự lèo lái kinh tế của Đảng Cộng Sản Việt Nam sau 1975, qua hai kỳ Đại Hội Đảng lần

IV và V, Việt Nam trở thành một trong những nước nghèo nhất thế giới Năm 1980, kim ngạch xuất khẩu chỉ bằng 15% của kim ngạch nhập khẩu đã làm cho nền kinh tế của Việt Nam càng kiệt quệ hơn

Trong suốt gần 20 năm chiến tranh với Việt Nam Cộng Hòa, tất cả những chi phí quân sự lên đến hàng tỷ Mỹ kim một năm là nhờ vào nguồn viện trợ khổng lồ của hai nước cộng sản là Liên Xô và Trung Quốc, Miền Bắc xã hội chủ nghĩa không có một cơ sở kinh tế đáng kể nào

để có thể phục vụ cho chiến tranh cũng như để phát triển nền kinh tế thời hậu chiến Do đó,

Trang 3

xây dựng cơ sở vật chất xã hội chủ nghĩa như chỉ tiêu của Đại Hội Đảng IV và V, ngay từ lúc ban đầu đã gặp phải những trở ngại lớn Thêm vào đó, khi vào tiếp quản Miền Nam, những thành phần trí thức, có khả năng điều hành kinh tế của chế độ cũ nếu không bị đưa đi cải tạo, cũng bị sa thải, và thay vào đó những đảng viên với trình độ yếu kém văn hóa lẫn chuyên môn cũng như không có khả năng quản trị một cơ sở sản xuất Xí nghiệp quốc doanh, hợp tác xã nông nghiệp hoặc thủ công nghiệp không có người điều hành giỏi, kỹ thuật lạc hậu năng xuất thấp đã dẫn là kinh tế quốc doanh và tập thể bị thua lỗ nặng, tổng sản lượng quốc gia xuống thấp trầm trọng, đời sống công nhân lẫn nông dân lâm vào cảnh vô cùng khó khăn

và bi đát

Với chính sách kinh tế tập thể xã hội chủ nghĩa áp đặt vào Miền Nam sau năm 1975 đã ảnh hưởng rất lớn trong việc sản xuất nông nghiệp như tổng sản lượng thóc lúa thu hoạch của cả nước Trong năm 1980 chỉ thu được 12 triệu tấn so với chỉ tiêu 21 triệu tấn do nhà nước đề

ra Sự thất thu nông nghiệp dẫn đến sự thiếu hụt lượng thực trầm trọng buộc nhà nước phải nhập cảng từ 10 đến 15% tổng số lương thực dùng cho cả nước Kinh tế đã tồi tệ lại phải trang trải cho các khoản nợ từ vay từ khối Cộng sản Không một biện pháp nào để trả nợ, nhà nước Việt Nam phải đưa nhân công sang Liên Xô và các nước Động Âu làm nô lệ lao động

để trừ nợ Đối với người lao động ở Việt Nam, nhất là những người sống ở miền Bắc, thì đây

là cơ hội thoát khỏi cảnh nghèo đói kéo dài từ năm 1954, dù là đi làm thuê và bị bóc lột với đồng lương chết đói, song cuộc sống vẫn khá hơn so với cuộc sống tại Việt Nam Theo thống

kê thì trong thời điểm 1980-1986, có khoảng trên 100,000 người lao động làm việc để trừ nợ tại Liên Xô

Thu nhập bình quân cho mỗi người dân dựa theo tổng sản lượng quốc gia (GDP – Gross Domestic Product) khoảng 91 Mỹ kim vào năm 1980 và 99 Mỹ kim vào năm 1982 Tốc độ tăng trưởng kinh tế giai đoạn từ 1976 đến năm 1986 thì lúc lên, khi xuống, thay đổi từ 1.9% đến 0.6% Trong khi đó, mức độ lạm phát luôn luôn nằm ở mức độ báo động, theo nghiên cứu của Centre for Asian Studies (Hung, 1999) về vấn đề lạm phát tại Việt Nam trong thời gian chuyển tiếp, thì mức độ lạm phát theo thống kê của chính phủ, lên, xuống từ 100% - 200% trong các năm 1980 – 1985 và lên đến mức 487.3% trong năm 1986 [5] Từ năm 1980 trở đi, số người vượt biên tị nạn cộng sản và định cư ở các quốc gia giàu có như Mỹ, Úc, Đức, Anh, Pháp… đã gởi ngoại tệ, quà cáp hàng hóa về để giúp đỡ thân nhân, đã gián tiếp hà hơi tiếp sức cho nền kinh tế phá sản xã hội chủ nghĩa của Việt Nam Mặc dầu không có con

số thống kê chính xác, số kiều hối những người Việt định cư ở nước ngoài đã gởi về giúp đỡ thân nhân lên đến nhiều tỷ Mỹ kim mỗi năm, đã trực tiếp cứu vãn nền kinh tế èo uột của Việt Nam trong giai đoạn này

1.3.2 Chính sách “Đổi Mới” về kinh tế của Việt Nam

Sự phát triển kinh tế vượt bực của Trung Quốc, sau gần 10 năm đi theo chính sách cải cách của Đặng Tiểu Bình, đã làm cho Việt Nam phải tái xét những thành quả của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa 10 năm sau ngày thống nhất đất nước Để ngăn chận sự thụt lùi kinh tế càng ngày càng trầm trọng và theo trào lưu cải tổ kinh tế của Liên Xô và Trung Quốc, năm 1986, Việt Nam, theo quyết định của Đại Hội Đảng Lần Thứ VI, cho bắt đầu cuộc cải cách kinh tế

với chính sách Đổi Mới [6] Tuy nhiên, chính sách Đổi Mới của Việt Nam rập khuôn những

cải cách kinh tế do Đặng đưa ra ở Trung Quốc vào những năm 1978 – 1984 hơn là chính

Trang 4

sách cởi mở kinh tế (perestroika) lẫn minh bạch và trong sáng (glasnost) của Gorbachev ở

Liên Xô Chính sách Đổi Mới biến đổi Việt Nam từ nền kinh tế xã hội chủ nghĩa sang nền

kinh tế thị trường tương tự như chủ trương kinh tế thị trường theo cơ chế Trung Quốc của Đặng đã đề ra ở Trung Quốc Nền kinh tế thị trường ở Việt Nam sau này được gọi là kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Chính sách Đổi Mới về kinh tế của đảng Cộng Sản Việt Nam cho phép người dân tự do buôn bán và tạo nhiều điều kiện dễ dàng các công ty ngoại quốc đầu tư vào Việt Nam trong chương trình FDI (Foreign Direct Investment) nhưng cơ chế chính trị thì hoàn toàn không có những cải thiện cụ thể nào

Do không có sự cải tổ về guồng máy chính trị, không có tự do báo chí, hệ thống tư pháp không độc lập cũng như không áp dụng những đổi mới chính trị cần thiết để phát triển nền kinh tế thị trường nhất là minh bạch hóa các vấn đề về cứu xét và phê chuẩn các công trình đầu tư, nhà nước Việt Nam đã tạo cơ hội cho các quan chức, đảng viên cao cấp dùng quyền hành để thủ lợi Các công ty nước ngoài muốn đầu tư vào Việt Nam phải đút lót, “bôi trơn” hàng triệu Mỹ kim cho những quan chức nhà nước để được cấp giấy phép làm ăn Nạn tham nhũng lan tràn tại Việt Nam nghiêm trọng đến nỗi mà những chính phủ viện trợ cho Việt Nam phải ghi nhận vấn đề này trên website chính thức của họ trong đó có UKAid của Anh hay website “Business Anti Corruption Portal” [7] để hướng dẫn các công ty đầu tư về tệ nạn tham nhũng ở Việt Nam

2 Nguồn vốn đầu tư kinh tế FDI đối với sự tăng trưởng kinh tế của Việt Nam

Học theo bài học của Trung Quốc, nhà nước CHXHCN Việt Nam đưa ra chính sách ưu đãi

về thuế khóa cũng như ấn định mức lương tối thiểu để thu hút các nguồn đầu tư từ ngước ngoài (FDI) Theo Schaumburg-Müller (2002) thì vị trí thuận lợi của Việt Nam ở khu vực Châu Á, chưa kể đến là một thành viên của khối ASEAN cũng như nằm trong vùng mậu dịch tự do AFTA, đã đóng một vai trò quan trọng cho việc đổ vốn đầu tư vào Việt Nam Thêm vào đó, một trị trường tương đối lớn với hơn 80 triệu dân, là một cơ hội cho các nhà đầu tư khai thác những lợi thế về kinh tế đồng thời tạo điều kiện cho Việt Nam hội nhập và

hệ thống sản xuất trong khu vực Á Châu Thái Bình Dương [8]

Năm Số vốn đầu tư chính thức %GDP Năm Số vốn đầu tư chính thức %GDP

Bảng 1: Số vốn đầu từ nước ngoài vào Việt Nam 1991-2011

Trang 5

Nguồn lao động trẻ, rẻ đã hấp dẫn nhiều nhà đầu tư công nghiệp nhẹ đầu tư vào Việt Nam

Số vốn đầu từ của ngoại quốc đổ vào Việt Nam, theo thống kê (Bảng 1) [9] đã tăng từ 328 triệu Mỹ kim vào năm 1991 đến 3.115 tỷ Mỹ kim trong năm 1997 và tiếp tục tăng trên 10 tỷ

Mỹ kim một năm kể từ 2008, đã chứng tỏ rằng chính sách ưu đãi của nhà nước CHXHCN Việt Nam đã tương đối thành công trong việc thu hút các nhà tư bản ngoại quốc đầu tư vào Việt Nam Từ 1993 cho đến năm 1997, số vốn đầu tư của ngoại quốc đưa vào Việt Nam với

tỷ lệ trung bình khoảng 9% [10] của tổng sản lượng quốc gia (GDP), đã đóng vai trò rất lớn trong việc chuyển hóa nền kinh tế phá sản xã hội chủ nghĩa sang một nền kinh tế thị trường

với chỉ số tăng trưởng GDP trung bình từ 5% đến 9.5% một năm (Nguồn: World Bank) trong thời kỳ Đổi Mới

Biểu đồ 1: Số vốn đầu tư FDI và tỷ lệ FDI so với tổng sản lượng quốc gia (GDP)

Biểu đồ 2: Tỷ lệ tăng trưởng của tổng sản lượng quốc gia (GDP) ở Việt Nam năm 1991-2013

(Nguồn: World Bank)

0

2

4

6

8

10

12

14

0

2000

4000

6000

8000

10000

12000

14000

1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011

Năm

Số vốn đầu tư từ nước ngoài vào Việt Nam

(1991 - 2011)

Số vốn đầu tư chính thức 328 %GDP

6

8.6 8.1 8.8 9.5 9.3 8.2

5.8 4.8

6.8 6.2 6.3 6.9 7.5 7.5

7 7.1

5.7 5.4 6.4 6.2 5.2 5.4

0

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

Year

Tỷ lệ tăng trưởng GDP (%)

Trang 6

Biểu đồ 3: Chỉ số lạm phát tại Việt Nam năm 1994-2013 (Nguồn: World Bank)

Với chính sách ưu đãi và những điều kiện kinh tế thuận tiện, nhà nước CHXHCN Việt Nam

đã hy vọng rằng các nguồn vốn đầu tư FDI đổ vào Việt Nam sẽ giúp Việt Nam tạo công ăn việc làm cho người dân, giải quyết được nạn thất nghiệp, bảo đảm an ninh xã hội, giúp xây dựng cơ ở hạ tầng và từ đó từng bước phát triển nền kinh tế quốc gia

Tuy nhiên, thay đổi chính sách kinh tế để hấp dẫn ngoại quốc đầu tư không đủ để phát triển kinh tế toàn diện Sự chuyển hướng từ một nền kinh tế lạc hậu xã hội chủ nghĩa sang nền kinh tế thị trường là một thử thách lớn Nó đòi hỏi sự cải tổ toàn bộ về chính trị, luật lao động, liên hệ lao động, tự do báo chí và nhất là sự độc lập của tòa án Do đó, nếu cải cách kinh tế mà không thay đổi cơ cấu chính trị thì không những không phát huy được sức mạnh của nền kinh tế thị trường mà còn tạo ra nhiều vấn đề ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế vi

mô và vĩ mô lâu dài của Việt Nam trong đó một vấn đề hệ trọng là sự bóc lột lao động và sự tranh chấp lao động

Trong khi rầm rộ khởi xướng chính sách kinh tế thị trường, thì nhà nước Việt Nam lại không tích cực thực hành sự minh bạch trong guồng máy nhà nước và thiếu tự do báo chí Những điều này đã tạo môi trường cho các viên chức cao cấp cộng sản tha hồ lạm quyền, thủ lợi cho bản thân và gia đình bất chấp những hậu quả tai hại cho kinh tế, môi trường và an ninh quốc gia Sự thiếu minh bạch trong vấn đề điều hành kinh tế, bổ dụng nhân sự, cứu xét và phê chuẩn các công trình trên căn bản khoa học kỹ thuật, môi trường, chất lượng, nguồn lao động

và giá cả sẽ đưa đến những hệ lụy lâu dài cho nền kinh tế và an ninh của Việt Nam cũng như

an sinh của người Việt Nam hôm nay và ngày mai [11]

3 Tham nhũng, dân oan và tình trạng bóc lột lao động ở Việt Nam

Sau Đại Hội Đảng lần thứ VI vào năm 1986, như đã nêu trên, nhà nước CHXHCN Việt Nam cho tiến hành chính sách kinh tế đổi mới theo cơ chế thị trường, cho phép người dân tự do kinh doanh đồng thời khuyến khích các công ty nước ngoài bỏ vốn đầu tư tại Việt Nam Để tạo cơ sở cho đầu tư và kinh doanh, nhiều công trình xây đường, mở xí nghiệp đã được lên

Trang 7

kế hoạch để xây dựng Trong những năm bắt đầu đổi mới, những viên chức làm việc trong

bộ Kế Hoạch và Đầu Tư, dùng những tin tức thu thập được từ bên trong, bỏ tiền mua đất canh tác của dân với giá rẻ mạt, rồi chia lô và bán lại cho những nhà đầu tư với tiền lời lên đến trăm lần Nếu những khu đất được lên kế hoạch để xây dựng mà người dân đang sống trên đó từ chối không bán, thì chính sách cưỡng chế được thực hiện buộc người dân phải bỏ mảnh đất, căn nhà mình đang sống với số tiền bồi thường chỉ đáng mua vài mét vuông Khi một công trình được đưa lên kế hoạch để xây dựng thì các nhóm lợi ích và cán bộ các cấp từ phường, xã, đến huyện, thành phố và tỉnh rất tích cực trong việc hoàn thành kế hoạch

vì đây là cơ hội để các viên chức, đảng viên móc ngoặc, tham nhũng và hối lộ Do đó, khi có những cuộc quy hoạch đất đai, “giải phóng mặt bằng”, để xây dựng công trình, chính quyền địa phương các cấp rất tích cực trong việc huy động hàng trăm công an, cảnh sát cơ động, xe

ủi đất, chó nghiệp vụ, và ngay cả những thành phần bất hảo để sẵn sàng đàn áp dân để chiếm hữu đất đai

Các cuộc cưỡng bức chiếm đoạt đất đai và nhà cửa của dân diễn ra rất thường xuyên kể từ khi chính sách đổi mới ra đời Hàng trăm ngàn người bị cướp nhà, cướp đất không nơi cư trú phải đến các khu đô thị và các khu công nghiệp để kiếm việc làm [12] Khi được nhận vào làm việc thì những người lao động phải chiến đấu gần như đơn độc để chống lại sự áp bức, bóc lột, bạo hành và xâm phạm nhân phẩm của giới chủ Cũng tại nơi làm việc, những người lao động còn bị công đoàn cơ sở giám sát theo dõi và bắt bớ mỗi khi tổ chức những cuộc đình công phản đối

Vể vấn đề lương bổng, các người sử dụng lao động dựa vào quyết định mức lương tối thiểu của Bộ Luật Lao Động Bộ Lao Động – Thương Binh và Xã Hội của nhà nước CHXHCN Việt Nam để trả lương cho người lao động Năm 1996, mức lương tối thiểu được quy định cho người lao động Việt Nam làm việc cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư từ nước ngoài khoảng từ 30 Mỹ kim một tháng cho đến 45 Mỹ kim một tháng tùy theo nơi làm việc Vào năm 2009, mức lương tối thiểu khoảng từ 800,000 đồng đến 1 triệu đồng tương đương với

50 Mỹ kim đến 62 Mỹ kim một tháng [13] Những công nhân làm việc cho các doanh nghiệp

tư nhân, thì số lương tối thiểu lại thấp hơn nhiều

Mức lương tối thiểu do nhà nước ấn định là mức lương không đủ để trang trải những chi phí hàng ngày, nhưng hàng trăm ngàn người lao động không có sự lựa chọn nào khác phải làm

để sống vì nhà và đất canh tác đã bị các viên chức tham nhũng của nhà nước cướp trắng tay Mức lương đã thấp lại phải chịu cảnh vật giá leo thang vì chỉ số lạm phát quá cao nên đời sống của người lao động trong các xí nghiệp FDI càng lúc càng khó khăn hơn Lợi dụng sự

lỏng lẻo của Bộ Luật Lao Động trong những năm đầu của cuộc đổi mới kinh tế 1995-2006,

giới chủ đã thẳng tay bóc lột người lao động với đồng lương chết đói Ngoài ra, những vi phạm về luật lao động, xâm phạm tình dục, chà đạp nhân phẩm đối với người lao động của người đại diện cho giới chủ không hề bị truy tố

Do bị bóc lột cộng với tiền lương không đủ sống lại phải làm việc trong điều kiện không an toàn và luôn luôn bị sách nhiễu, chà đạp nhân phẩm, người lao động tại các xí nghiệp nhất là tại các xí nghiêp FDI đã không có sự lựa chọn nào khác là đình công để đòi quyền lợi chính đáng của mình

Trang 8

4 Vấn đề đình công tự phát tại Việt Nam và vai trò của Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam

Vấn đề đình công tự phát mỗi năm mỗi tăng và số lượng công nhân tham gia trong các cuộc đình công càng ngày càng đông và quy mô hơn Khoảng 70% tổng số các vụ đình công toàn quốc đã xảy ra tại các khu công nghiệp ở Bình Dương, Đồng Nai và TPHCM với hàng chục ngàn người tham dự Mặc dầu, những cuộc đình công này được chính quyền cho là tự phát, nhưng mỗi cuộc đình công có đến 90% nhân sự của doanh nghiệp tham dự cùng một lúc, thì đây là những cuộc đình công đã được tổ chức rất chu đáo và đồng nhất

Theo thống kê của Bộ Lao Động, Thương Binh và Xã Hội (Bảng 2), thì tổng cộng 2697 vụ đình công đã xảy ra từ năm 1995 đến tháng 4 năm 2009 là 2697 trong đó 89 vụ (3.3%) thuộc doanh vụ nhà nước, 1983 vụ (73.52%) thuộc các doanh nghiệp FDI và 625 vụ (23.17%) xảy

ra tại các công ty tư nhân

Năm Số vụ đình

công

Doanh Nghiệp Nhà Nước

Doanh Nghiệp FDI

Doanh Nghiệp

Tư Nhân

Số vụ Tỷ lệ Số vụ Tỷ lệ Số vụ Tỷ lệ

Bảng 2: Đình công trong các doanh nghiệp từ năm 1995 đến hết ngày 15/4/2009 (Nguồn: Báo cáo

của Bộ Lao Động, Thương Binh và Xã Hội)

Cũng theo báo cáo vào năm 2013 của Bộ Lao Động, Thương Binh và Xã Hội Việt Nam thì

kể từ khi Bộ Luật Lao Động có hiệu lực từ năm 1995 cho đến hết năm 2012 thì đã xảy ra 4,922 cuộc đình công trên toàn quốc Trong số này có 100 vụ đã xảy ra tại các công ty quốc doanh, 1,300 vụ đã xảy ra ở các công ty tư nhân và hơn 3500 vụ - chiếm 70% tổng số các cuộc đình công - đã xảy ra tại các công ty có vốn đầu tư nước ngoài Riêng năm chỉ một năm

2011 đã có 857 vụ đình công xảy ra, so với khoảng 424 vụ vào năm 2010

Những con số thống kê trên đây đã phản ánh thực trạng đáng lo ngại về vấn đề liên hệ lao động tại Việt Nam nhất là những vụ đình công tại các doanh nghiệp FDI xảy ra thường xuyên và lôi kéo hàng ngàn người cùng một lúc Không ai muốn những cuộc tranh chấp về lao động đưa đến những cuộc đình công nhiều ngày ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn thu nhập hàng tháng của người lao động, ảnh hưởng đến sự sinh tồn và uy tín của doanh nghiệp và cuối cùng ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế của quốc gia Vậy nguyên nhân nào đã đưa đến hàng trăm cuộc đình công với tầm vóc lớn xảy ra mỗi năm và hàng ngàn lao động tham

dự cho mỗi cuộc đình công như vậy?

Nói về nguyên nhân của cuộc đình công và những giải pháp thì đã có nhiều nhà học giả tại Việt Nam bàn về vấn đề này Hầu hết, những bài viết phân tích về các cuộc đình công trên giòng ngôn luận chính thống của nhà nước CHXHCN Việt Nam đều có chung một quan điểm tổng quát là đình công là do sự tự phát của người lao động nhưng rất ít người đề cập sự quản lý kinh tế yếu kém, chỉ số lạm phát hằng năm quá cao, sự thiếu minh bạch của nhà nước CHXHCN Việt Nam cũng như tính thiếu độc lập của tòa án là những nguyên nhân

Trang 9

chính dẫn đến sự đình công

Tác giả của bài luận văn “Thực trạng đình công ở các doanh nghiệp và phương hướng giải quyết, phòng ngừa hiệu quả” đưa ra những nguyên nhân đưa đến đình công gồm: [14]

 Vấn đề lượng bổng: các doanh nghiệp trả lượng cho công nhân theo mức lượng tối thiểu như nhà nước qui định Tuy nhiên, số lương tối thiểu quá thấp so với vật giá thị trường làm cho đời sống của người lao động vô cùng khó khăn, ăn uống thiếu thốn không đủ sức để làm việc

 Không được trả lương nhiều tháng: các doanh nghiệp nợ lương của người lao động nhiều tháng đã tạo nhiều khó khăn trong cuộc sống hàng ngày của người lao động

 Làm thêm giờ nhưng không được trả lương những giờ phụ trội: Các doanh nghiệp FDI sử dụng chính sách thuê khoán sản phẩm với chỉ tiêu trên hơn mức qui định Để đạt chỉ tiêu sản xuất, người lao động phải làm thêm nhiều giờ nhưng không được trả lương

 Không được nghỉ hoặc không được trả lương trong những ngày nghỉ theo luật pháp qui định

 Điều kiện làm việc không an toàn, không vệ sinh, nhất các doanh nghiệp lãnh vực độc hại nguy hiểm đến sức khỏe của người lao động

Tác giả của bài luận văn nêu trên cũng nêu lên rằng các cuộc đình công lôi kéo hàng ngàn người một lúc không có sự tổ chức và lãnh đạo của cán bộ công đoàn cơ sở vì những cán bộ công đoàn cơ sở này vừa làm nhiệm vụ công đoàn lại vừa là công nhân do người sử dụng lao động thuê và chịu sự quản lý của người sử dụng lao động Do đó, các cán bộ của công đoàn

cơ sở sẽ không dám đứng về phía người lao động để bảo vệ cho quyền lợi của người lao động bất cứ trường hợp nào Hơn nữa, họ sợ bị người sử dụng lao động trả thù như bị sa thải, luân chuyển, trừ lượng cắt tiền thưởng và bị gây nhiều khó khăn trong công việc hàng ngày

Vì những cuộc đình công xảy ra từ 1995 đến nay đều được cho là có tính cách tự phát hơn là dưới sự lãnh đạo của các thành viên của công đoàn cơ sở, Tiến sĩ Phạm Chí Dũng, tiến sĩ về kinh tế và là nhà báo độc lập tại Việt Nam, đã đặt một câu hỏi lớn về vai trò tích cực của công đoàn cơ sở cũng như của Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam trong việc hòa giải tranh chấp lao động Nhiều cuộc đình công tại những doanh nghiệp ở Bình Dương căng thẳng và phức tạp đến nỗi cảnh sát được điều động đến hiện trường để giải tán nhưng không thấy bóng dáng của đại diện của Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam hay công đoàn cơ sở các cấp ở đâu [15]

Chính phủ CHXHCN Việt Nam công nhận quyền đình công của người lao động theo Khoản 2đ Điều 5 của Bộ Luật Lao Động 2012 (BLLĐ 2012) Tuy nhiên, để quản lý chặt chẽ và ngăn ngừa các cuộc đình công mà chính quyền cho là tự phát và cũng để bảo vệ quyền lợi của người sử dụng lao động (giới chủ), một số quy định trong Bộ Luật Lao Động 1994 được sửa đổi vào năm 2006 và sau đó vào năm 2012 Chương XIV của Bộ Luật Lao Động 2012 gồm 5 Mục, 41 Điều với những quy định về việc giải quyết tranh chấp lao động trong đó nêu lên những quy trình cần thiết mà người lao động phải thực hiện trước khi được chấp thuận hoặc cho phép được đình công

Trước khi bắt đầu cho cuộc đình công, công đoàn cơ sở, người đại diện tập thể lao động,

Trang 10

phải theo những thủ tục cần thiết để hòa giải các cuộc tranh chấp Nếu cuộc tranh chấp về quyền thì cần có sự giải quyết của chính quyền địa phương cấp huyện trong thời hạn 05 ngày (Điều 205), nếu cuộc tranh chấp về lợi ích thì Hội Đồng Trọng Tài Lao Động phải chịu trách nhiệm hòa giải trong vòng 07 ngày (Điều 206) Cuộc đình công sẽ bị cho là bất hợp pháp nếu cuộc tranh chấp chưa được hoặc đang được đang được cơ quan, tổ chức, cá nhân giải quyết theo quy định của Điều 215 của BLLĐ

Theo quy định, cuộc đình công chỉ hợp pháp nếu tập thể lao động phải theo đúng quy trình ghi trong các khoản của điều 211, 212 và 213 Đồng thời, dựa theo Khoản 2b và 3c của Điều

214 BLLĐ 2012, phải có sự đồng ý của Tòa án là cuộc đình công hợp pháp, thì mới được đình công Do đó, nếu một tập thể lao động muốn có một cuộc đình công hợp pháp thì thời gian cần thiết để được cứu xét và quyết định được đình công hay không phải mất từ 10 ngày cho đến 1 tháng

Tuy nhiên, trên thực tế, rất khó thỏa mãn những quy định trong BLLĐ để có thể có cuộc đình công hợp pháp Có hai mâu thuẫn chính, đó là:

Một, thành viên của công đoàn cơ sở là đảng viên cộng sản, trực tiếp dưới sự điều động của Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam, một tổ chức công đoàn duy nhất dưới sự lãnh đạo của đảng Cộng sản Việt Nam, được điều động đến để kiểm soát thái độ chính trị của người lao động Do đó, tổ chức công đoàn cơ sở sẽ không đứng về phía người lao động mà đứng về phía chủ và phục vụ mục tiêu chính trị của đảng Cộng sản như Tiến sĩ Nguyễn Quang A trả

lời trong cuộc phỏng vấn với đài phát thanh RFA Việt Ngữ ngày 22 tháng 4 năm 2014: “Tổ chức Công đoàn, mà thực sự là một bộ phận nối dài của Đảng Cộng sản như hiện nay, là hoàn toàn không bảo vệ lợi ích của người lao động.”

Hai, ngành tư pháp tại Việt Nam thiếu tính độc lập và hoàn toàn nằm dưới sự kiểm soát của đảng Cộng sản Việt Nam Do đó, nếu Tòa án cho cuộc đình công là hợp pháp thì Tòa án sẽ

đi ngược lại chủ trương của nhà nước CHXHCN Việt Nam

Những mâu thuẫn trên dẫn đến sự bế tắc trong việc giải quyết vấn đề tranh lao động Do đó,

từ khi BLLĐ 2012 bắt đầu có hiệu lực vào ngày 1 tháng 5 năm 2013, tình trạng đình công có tính chất tự phát không hề suy giảm do những bế tắc nêu trên Theo báo Lao Động (2014), thì trong năm 2013, trên toàn quốc có 351 cuộc đình công và 7 tháng đầu của năm 2014, cả nước đã có thêm 198 vụ đình công Điều này chứng tỏ rằng, thiếu tính độc lập của tổ chức công đoàn cơ sở lẫn tòa án là những nhân tố chính cho những cuộc đình công tự phát vì những người lao động không tin những đảng viên cộng sản sẽ đứng về phía họ và đấu tranh cho quyền lợi cơ bản của họ

5 Sự thành lập các công đoàn độc lập và chính sách đàn áp công đoàn độc lập của nhà nước Việt Nam

Để tranh đấu chống lại sự bóc lột và xâm phạm nhân phẩm của người sử dụng lao động đối với người lao động, trong bức thư gởi cho chủ tịch nước và Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam vào ngày 20 tháng 10 năm 2006, Lê Trí Tuệ và 13 nhà hoạt động cho nhân quyền tại

Việt Nam, tuyên bố chính thức thành lập Công Đoàn Độc Lập Việt Nam

Song song với việc thành lập Tổng Đoàn Lao Động Việt Nam để đòi hỏi quyền lợi chính

đáng cho người lao động ở quốc nội Ủy Ban Bảo Vệ Người Lao Động Việt Nam, được

Ngày đăng: 24/05/2016, 23:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Số vốn đầu từ nước ngoài vào Việt Nam 1991-2011 - Kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa và yếu tố dẫn đến tranh chấp Lao động tại Việt Nam
Bảng 1 Số vốn đầu từ nước ngoài vào Việt Nam 1991-2011 (Trang 4)
Bảng 2: Đình công trong các doanh nghiệp từ năm 1995 đến hết ngày 15/4/2009  (Nguồn: Báo cáo - Kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa và yếu tố dẫn đến tranh chấp Lao động tại Việt Nam
Bảng 2 Đình công trong các doanh nghiệp từ năm 1995 đến hết ngày 15/4/2009 (Nguồn: Báo cáo (Trang 8)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w