BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TÀI CHÍNH HỌC VIỆN TÀI CHÍNH ------ NGUYỄN XUÂN HIỆP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC NGÀNH CÔNG AN Chuyên ngành : Tài chính
Trang 1- -
NGUYỄN XUÂN HIỆP
HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH
ĐỐI VỚI CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC NGÀNH CÔNG AN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TÀI CHÍNH
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
- -
NGUYỄN XUÂN HIỆP
HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH
ĐỐI VỚI CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC NGÀNH CÔNG AN
Chuyên ngành : Tài chính - Ngân hàng
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
2 PGS, TS DƯƠNG ĐĂNG CHINH
HÀ NỘI - 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, bản Luận án “Hoàn thiện chính
sách tài chính đối với cơ sở giáo dục đại học ngành Công an” là
công trình nghiên cứu độc lập, do chính tôi hoàn thành Những kết quả trình bày trong Luận án chưa công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, tài liệu tham khảo và trích dẫn được sử dụng trong Luận án này đều nêu rõ xuất xứ, tác giả và được ghi trong danh mục tài liệu tham khảo
Tôi xin chịu trách nhiệm trước pháp luật về lời cam đoan trên
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Nghiên cứu sinh
Nguyễn Xuân Hiệp
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Chương 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHÍNH SÁCH TÀI
1.2.1 Khái niệm chính sách và chính sách tài chính đối với cơ sở giáo
1.2.2 Các bộ phận cấu thành của chính sách tài chính đối với cơ sở
1.2.3 Vai trò và yêu cầu của chính sách tài chính đối với cơ sở giáo
1.3 CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI MỘT SỐ CƠ SỞ GIÁO DỤC
ĐẠI HỌC NGÀNH AN NINH, CẢNH SÁT TRÊN THẾ GIỚI VÀ
1.3.1 Chính sách tài chính đối với một số cơ sở giáo dục đại học
1.3.2 Bài học kinh nghiệp về chính sách tài chính đối với cơ sở giáo
Trang 5Chương 2: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI CƠ
2.1 MỘT SỐ NÉT KHÁI QUÁT VỀ CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
2.1.2 Quy mô và ngành nghề đào tạo của các cơ sở giáo dục đại học
2.2 THỰC TRẠNG VỀ CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI CÁC CƠ
2.3 ĐÁNH GIÁ VỀ CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI CƠ SỞ GIÁO
Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH
3.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC NGÀNH
3.2 MỘT SỐ QUAN ĐIỂM VÀ ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN CHÍNH
SÁCH TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
3.2.1 Một số quan điểm hoàn thiện chính sách tài chính đối với cơ sở
3.2.2 Một số định hướng nhằm hoàn thiện chính sách tài chính đối với
Trang 63.3 CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH ĐỐI
3.3.1 Giải pháp tổng thể về chính sách tài chính đối với cơ sở giáo dục
3.3.2 Nhóm giải pháp về khai thác, huy động nguồn tài chính cho các
3.3.3 Nhóm giải pháp về chính sách phân phối, sử dụng nguồn tài
3.4 CÁC ĐIỀU KIỆN CẦN THIẾT ĐỂ THỰC HIỆN THÀNH CÔNG
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ CÓ
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN ÁN
Bảng 1.2: Chi NSNN cho GDĐH bình quân một SV so với GDP-đn của
Bảng 1.5: Tình hình thu học phí, lệ phí GDĐT Việt Nam (1996 - 2009) 43
Bảng 1.6: Tình hình thu học phí GDĐH Việt Nam (2001 - 2008) 44
Bảng 1.8: Tỷ lệ chi phí GD cho một học sinh (SV) một số nước 53
Bảng 2.1: Số lượng SV ĐH trong các CSGDĐH ngành Công an năm 2012 73
Bảng 2.2: Tình hình SV ĐH hệ chính quy trong các CSGDĐH ngành Công an 74
Bảng 2.3: Trình độ đội ngũ cán bộ, GV trong các CSGDĐH ngành Công an 74
Bảng 2.4: Tổng hợp kết quả huy động các nguồn tài chính của các CSGDĐH
Bảng 2.5: Kinh phí thường xuyên của các CSGDĐH ngành Công an 82
Bảng 2.8: Kinh phí đầu tư XDCB của các CSGDĐH ngành Công an 85
Bảng 2.10: Cơ cấu các nội dung chi kinh phí thường xuyên của các CSGDĐH
Bảng 3.1: Định hướng quy mô học viên và phát triển mở rộng của các
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH TRONG LUẬN ÁN
Hình 2.1: Cơ cấu các loại SV trong các CSGDĐH ngành Công an năm 2012 73
Hình 2.2: Cơ cấu nguồn tài chính huy động của các CSGDĐH ngành Công an 80
Hình 2.3: Cơ cấu các nguồn kinh phí thuộc NSNN của các CSGDĐH ngành
Hình 2.4: Tương quan giữa tốc độ tăng NSNN cấp cho các CSGDĐH với
tốc độ tăng ngân sách chi an ninh, SV ĐH hệ chính quy ngành
Hình 2.5: Cơ cấu nguồn ngoài NSNN của các CSGDĐH ngành Công an 89
Hình 2.7: Các hình thức cấp phát kinh phí thường xuyên cho các CSGDĐH
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Giáo dục có vai trò đặc biệt quan trọng, mang tính quyết định đến sự phát triển KTXH Trong thời đại toàn cầu hóa, kinh tế tri thức và sự phát triển nhanh chóng của KHCN, nhất là công nghệ thông tin như hiện nay, thì GD nói chung và GDĐH nói riêng được coi là tiêu chuẩn đánh giá trình độ phát triển của mỗi quốc gia Vì vậy, việc hoạch định và thực thi chính sách phát triển GD một cách đúng đắn, thích hợp với đặc điểm văn hóa, trình độ KTXH và nhu cầu của thị trường sức lao động, hội nhập thành công vào quá trình toàn cầu hóa được coi là ưu tiên hàng đầu trong hệ thống chính sách công của tất cả các nước Khẳng định vai trò to lớn của GD đối với
sự phát triển KTXH của đất nước, Nghị quyết TW 4 khóa VII và Nghị quyết TW2 khóa VIII, Nghị quyết TW6 khóa XI của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản
Việt Nam đã khẳng định: cùng với KHCN, GD là quốc sách hàng đầu Đầu tư cho
GD là đầu tư chiều sâu, đầu tư cho sự phát triển bền vững của cá nhân và đất nước
Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương 8 khóa XI
về đổi mới căn bản, toàn diện GDĐT một lần nữa khẳng định quan điểm chỉ đạo:
“GDĐT là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Đầu tư cho GD là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển KTXH”
Để thực hiện mục tiêu phát triển GD thì yếu tố đầu tiên không thể thiếu là cần
có nguồn lực tài chính đảm bảo Tuy nhiên, không phải cứ chi nhiều tiền thì sẽ có nền
GD chất lượng tốt, mà vấn đề quan trọng đặt ra cho tất cả các quốc gia là trong phạm
vi giới hạn khả năng các nguồn lực tài chính hiện có, làm thế nào để nâng cao hiệu quả khai thác, huy động, phân bổ và sử dụng các nguồn lực tài chính trong XH cho
GD, qua đó thúc đẩy GD phát triển
Để thực hiện thành công công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 như Nghị quyết Đại hội XI của Đảng đã xác định, thì toàn XH cần phải quan tâm tới việc đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao ở trình độ cao đẳng, ĐH và sau ĐH nhằm đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực cho phát triển của đất nước Nước ta hiện vẫn
là nước nghèo, các nguồn lực dành cho phát triển KTXH nói chung, GDĐH nói riêng còn rất hạn chế, trong khi nhu cầu đầu tư phát triển nguồn nhân lực cho công nghiệp
Trang 11hóa, hiện đại hóa là rất lớn Trong những năm qua, mặc dù NSNN còn khó khăn, song Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến việc đầu tư cho GDĐT và tỷ trọng chi NSNN cho GD đạt đến 20% tổng chi NSNN Tuy nhiên, dù quy mô đào tạo tăng nhanh, đặc biệt là GDĐH, nhưng chất lượng đào tạo còn chưa đáp ứng được yêu cầu của XH, còn nhiều yếu kém, chưa tương xứng với tiềm năng và nguồn tài chính Nhà nước đầu tư cho lĩnh vực này Vì vậy, vấn đề nâng cao chất lượng đào tạo tại các CSGDĐH ở Việt Nam hiện nay đang là vấn đề được quan tâm hàng đầu
Để nâng cao chất lượng đào tạo ĐH và phát triển toàn diện GDĐH đòi hỏi phải thực hiện có kết quả chương trình cải cách GDĐH Đến lượt nó, cải cách GDĐH đòi hỏi phải có nguồn lực tài chính lớn và có chính sách tài chính đúng đắn đối với lĩnh vực GDĐH Điều đó đặt ra vấn đề cấp thiết là làm thế nào để có chính sách tài chính thích hợp nhằm huy động và sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn tài chính hạn hẹp cho phát triển GDĐH nước ta GDĐH ngành Công an với mục tiêu đào tạo nguồn lực cán bộ có trình độ cao đẳng, ĐH và sau ĐH cho công tác đảm bảo an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự XH của đất nước cũng không nằm ngoài thực trạng đó của nền GDĐH nước nhà Chính vì vậy, việc nghiên cứu hoàn thiện chính sách tài chính đối với các CSGDĐH nói chung và các CSGDĐH ngành Công an nói riêng đang là vấn đề được quan tâm hơn bao giờ hết đối với các nhà nghiên cứu, đồng thời mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn rất to lớn Xuất phát từ lý do đó, tác giả đã lựa chọn đề tài nghiên cứu
“Hoàn thiện chính sách tài chính đối với cơ sở giáo dục đại học ngành Công an”
2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Chính sách tài chính đối với CSGDĐH nói chung đã được giới nghiên cứu và các nhà quản lý rất quan tâm nghiên cứu trong những năm gần đây Dưới các góc độ khác nhau, những công trình nghiên cứu đã đề cập đến những vấn đề có liên quan trực tiếp đến đề tài nghiên cứu luận án tiến sĩ của tác giả Nhìn chung có thể phân chia các kết quả nghiên cứu liên quan đến chính sách tài chính đối với các CSGDĐH theo các nội dung chính như sau:
2.1 Những vấn đề mang tính tổng thể về chính sách tài chính đối với cơ sở giáo dục đại học
- Về phân cấp, giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các CSGDĐH:
+ Dưới góc nhìn tổng quát chung về HH công cộng nói chung, Joseph E Stiglitz
(1995) (trong cuốn Kinh tế học công cộng, phần II với tiêu đề lý thuyết về chi tiêu
Trang 12công cộng) đã bàn về các vấn đề lý thuyết chung về HH công cộng và HH công cộng
do tư nhân sản xuất, cung cấp; sản xuất công cộng và bộ máy hành chính; phương thức hợp đồng sản xuất, cung cấp HH, DV công cộng giữa Nhà nước và tư nhân Đây
là những vấn đề lý luận cơ bản, làm nền tảng cho việc nghiên cứu, phát triển lý luận
về chính sách tài chính cho CSGDĐH nói chung và quyền tự chủ của các CSGDĐH nói riêng
+ Dưới góc nhìn đi sâu vào bản chất thực sự của quyền tự chủ, World Bank (2012) cho rằng bản chất của tự chủ là việc Chính phủ ngày càng rút bớt vai trò trong quản lý thường nhật, cho phép các trường ĐH được tự quyết định con đường đi của mình, tự do quyết định về cơ chế quản lý, quản trị nội bộ, với những cơ chế khuyến khích định hướng thị trường tối ưu hiện có Đồng ý với quan điểm này và đi sâu phân tích thêm dưới góc độ về quản lý tài chính, PGS.TS Phùng Xuân Nhạ và cộng sự
(2013) trong bài tham luận Đổi mới cơ chế tài chính, hướng tới nền giáo dục đại học
tiên tiến, tự chủ (Kỷ yếu Hội thảo Đổi mới cơ chế tài chính đối với giáo dục đại học,
Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội, UNDP, Bộ Tài chính tổ chức, tháng 11 năm 2012) cho rằng việc Nhà nước giảm cấp kinh phí thường xuyên để các trường
ĐH tự cân đối như hiện nay tại Việt Nam là giao quyền tự chủ tài chính là chưa hoàn toàn đúng với bản chất của vấn đề Đồng thời, các tác giả cho rằng ở trạng thái tự chủ hoàn toàn về lý thuyết, các trường sẽ được tự chủ tất cả các yếu tố tác động tới nguồn thu và việc chi tiêu nguồn tài chính
+ Dưới góc nhìn có tính đột phá mạnh mẽ trong tư duy, GS.TS Nguyễn Đình
Phan (2012) trong bài báo Nâng cao chất lượng giáo dục đại học đáp ứng yêu cầu
công nghiệp hóa - hiện đại hóa (Tạp chí Kinh tế & Phát triển số 128, tháng 8 năm
2012) cho rằng trong cơ chế thị trường, GDĐH là một DV đặc biệt và CSGDĐH cần được coi như một công ty - “một thực thể được thành lập theo luật pháp và hoạt động
vì mục đích lợi nhuận hay phi lợi nhuận, do Chính phủ hay tư nhân sở hữu hoặc kiểm soát” Cùng chung góc nhìn này và có những phân tích cụ thể hơn, Phạm Chí Thanh
(2011) (“Đổi mới chính sách tài chính đối với khu vực sự nghiệp công ở Việt Nam”,
Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế quốc dân), TS Nguyễn Trường Giang
(2013) trong bài tham luận Đổi mới cơ chế tài chính gắn với nâng cao chất lượng đào
tạo ĐH, thực hiện mục tiêu công bằng hiệu quả (Kỷ yếu Hội thảo Đổi mới cơ chế tài chính đối với giáo dục đại học, Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội, UNDP,
Trang 13Bộ Tài chính, tháng 11 năm 2012) cho rằng các trường ĐH cần được Nhà nước giao vốn và bảo toàn phát triển vốn, được quyết định việc sử dụng tài sản, huy động vốn, góp vốn liên doanh, liên kết; TS Nguyễn Ngọc Anh và các đồng sự (2013) trong bài
tham luận Cơ chế phân bổ ngân sách cho đại học công lập: hiện trạng và khuyến nghị (Kỷ yếu Hội thảo Đổi mới cơ chế tài chính đối với giáo dục đại học, Ủy ban Tài chính
- Ngân sách của Quốc hội, UNDP, Bộ Tài chính, tháng 11 năm 2012) cho rằng các trường cần được cho phép sở hữu và tự quyết về việc sử dụng tài sản và đi vay; Lê
Phước Minh (2005) (Hoàn thiện chính sách tài chính cho giáo dục đại học Việt Nam,
Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Học viện Ngân hàng) đã hệ thống hóa được các vấn đề lý luận
về các chiến lược tăng thu nhập, giảm chi phí và tính toán CPĐV, tỷ lệ thu hồi trong
đầu tư trong GDĐH tương tự như một doanh nghiệp; Bùi Tiến Hanh (2007) (Hoàn
thiện cơ chế quản lý tài chính nhằm thúc đẩy xã hội hóa giáo dục ở Việt Nam, Luận án
Tiến sĩ Kinh tế, Học viện Tài chính) đề nghị thí điểm cơ chế cổ phẩn hóa nhằm chuyển các CSGD công lập sang hoạt động theo mô hình doanh nghiệp
+ Dưới góc nhìn có tính thực tế hơn đối với GDĐH nước ta hiện nay, TS Lê
Xuân Trường (2012) (Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với đơn vị sự nghiệp
giáo dục đại học và cao đẳng công lập, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ Tài chính,
Học viện Tài chính) cho rằng quyền tự chủ ở mức độ cần phải vừa đảm bảo sự quản
lý của Nhà nước vừa phát huy tính chủ động, tích cực và sáng tạo, cụ thể: thủ trưởng các CSGDĐH được quyết định về số lượng, cơ cấu và nhân sự các đơn vị trực thuộc; biên chế và tuyển dụng cán bộ, GV; được phân cấp bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo các đơn
vị thuộc và trực thuộc; quyết định cử người tham gia các hoạt động hợp tác quốc tế; quyết định mức học phí trên cơ sở nguyên tắc bù đắp chi phí và tuân thủ mức trần học phí quy định Đồng thời, tác giả cũng cho rằng để xử lý vấn đề mức độ phân cấp, tự chủ hợp lý và hạn chế khả năng lạm quyền, cần phải thực hiện 04 biện pháp Biện
pháp thứ nhất là phân loại lợp lý các đơn vị này, ngoài việc phân loại theo 3 nhóm
(NSNN tài trợ 100%; NSNN tài trợ kinh phí xây dựng ban đầu, kinh phí đầu tư phát triển và một phần kinh phí thường xuyên; NSNN tài trợ kinh phí xây dựng ban đầu, kinh phí đầu tư phát triển và không tài trợ kinh phí thường xuyên), còn phải phân theo theo lĩnh vực khoa học và ngành nghề đào tạo; theo đối tượng sử dụng nguồn nhân lực (lĩnh vực khoa học cơ bản, sư phạm; các trường thuộc Bộ Quốc phòng và
Bộ Công an, nên xếp vào nhóm không tự chủ tài chính, tức là 100% kinh phí NSNN
Trang 14cấp) Biện pháp thứ hai là xây dựng và thực hiện cơ chế kiểm soát quyền lực phù hợp Biện pháp thứ ba là tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra, kiểm toán và kiểm soát của các cơ quan chức năng nhà nước Biện pháp thứ tư là tăng cường thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở Tuy nhiên, việc quan niệm không tự chủ đồng nghĩa với việc 100% kinh phí NSNN cấp của TS Lê Xuân Trường (2012) chưa phản ánh đúng với bản chất của tự chủ
+ Bằng việc tổ chức một cuộc điều tra thăm dò ý kiến, Lương Văn Hải (2011)
(Vai trò Nhà nước trong mở rộng quyền tự chủ của các trường đại học công lập Việt
Nam, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế quốc dân) đưa ra kết luận:
quyền tự chủ về quyết định mức lương là thấp nhất với 34% ý kiến cho rằng các trường không có quyền này; quyền tự chủ về quyết định mức thu học phí là rất thấp với 18% ý kiến cho rằng các trường không có quyền và quyền tự chủ về mức thu từ hoạt động DV
là khá cao với 46% ý kiến cho rằng các trường đã có đầy đủ quyền hạn
- Về phương thức quản lý nguồn tài chính từ NSNN cấp cho các CSGDĐH:
+ Về phương thức quản lý NSNN theo đầu ra, TS Nguyễn Trường Giang (2013) cho rằng cần thực hiện quản lý NSNN theo đầu ra gắn với hệ thống định mức kinh tế
kỹ thuật, các kết quả đánh giá, kiểm định độc lập về chất lượng đào tạo Đồng thời, thực hiện chính sách Nhà nước đặt hàng đối với những ngành đào tạo cho nhu cầu sử dụng của Nhà nước và người học phải cam kết chấp nhận sự phân công của Nhà nước Đồng ý với quan điểm này, TS Vũ Nhữ Thăng và Ths Hoàng Thị Minh Hảo
(2013) trong bài tham luận Đổi mới chính sách tài chính đối với các cơ sở đại học
công lập gắn với tăng trưởng bền vững (Kỷ yếu Hội thảo Đổi mới cơ chế tài chính đối với giáo dục đại học, Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội, UNDP, Bộ Tài
chính, tháng 11 năm 2012) đi vào phân tích cụ thể hơn các tiêu chí làm căn cứ phân
bổ NSNN cho các CSGDĐH theo đầu ra, gắn với các mục tiêu công bằng, hiệu quả, nhu cầu đào tạo, cơ cấu ngành nghề đào tạo Đồng thời, kiến nghị Nhà nước cần sớm hoàn thiện hệ thống tiêu chí, tiêu chuẩn, định mức kinh tế kỹ thuật, chỉ tiêu chất lượng đầu ra, tiêu chí kiểm định chất lượng đào tạo,
+ Về lộ trình thực hiện phương thức quản lý NSNN theo đầu ra, Bùi Tiến Hanh
(2007) (Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính nhằm thúc đẩy xã hội hóa giáo dục ở
Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Học viện Tài chính) đề xuất áp dụng khuôn khổ
chi tiêu trung hạn, theo đó cần dự toán đầy đủ mọi nguồn tài chính sẵn có (NSNN và