Đồng thời, thực tiễn hoạt động của ngành Bảohiểm xã hội cũng như thực tiễn quá trình thực thi chính sách bảohiểm xã hội và những tác động của nó đến đời sống xã hội ở nướcta đặt ra nhiều
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Bảo hiểm xã hội là một chính sách quan trọng được Đảng vàNhà Nước ta sớm quan tâm chỉ đạo, triển khai thực hiện ngay từnhững ngày đầu thành lập Nhà Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà,tháng 8/1945
Chính sách bảo hiểm xã hội của nước ta, từ Hiến pháp 1946đến ngày nay, đều nêu rõ quyền lợi, nghĩa vụ của người lao động,đều nhằm mục tiêu cao nhất là vì nhân dân lao động, vì công bằng
và ổn định xã hội Hơn 55 năm qua, chính sách bảo hiểm xã hộicủa nước ta không ngừng được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với
sự phát triển của đất nước qua mỗi thời kỳ và từng bước hội nhậpvới sự phát triển của ngành bảo hiểm xã hội của các nước trên thếgiới
Ngành Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã góp phần quan trọngvào những thành công trong việc thực hiện chính sách xã hội ởnước ta nói chung, chính sách bảo hiểm xã hội nói riêng
Kỳ họp thứ V, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩaViệt Nam khoá IX thông qua Bộ Luật Lao động (trong đó, chương
12 đã quy định những nguyên tắc cơ bản nhất về bảo hiểm xã hội)
và có hiệu lực thi hành ngày 01/01/1995, đã đánh dấu một mốcquan trọng trong sự phát triển của ngành Bảo hiểm xã hội ViệtNam, cả trên phương diện nội dung và thể chế hoạt động
Trang 2Qua 8 năm hoạt động, BHXH Hoà Bình đã có nhiều bướcphát triển nhưng cũng còn rất nhiều vấn đề đặt ra về các công tácnghiệp vụ BHXH Đồng thời, thực tiễn hoạt động của ngành Bảohiểm xã hội cũng như thực tiễn quá trình thực thi chính sách bảohiểm xã hội và những tác động của nó đến đời sống xã hội ở nước
ta đặt ra nhiều vấn đề đòi hỏi các ngành khoa học liên quan thamgia lý giải.Là sinh viên thực tập tại cơ quan BHXH tỉnh Hoà Bình
em chọn đề tài: “Thực trạng công tác BHXH tại tỉnh Hoà Bình giai đoạn 1998- 2002 làm chuyên đề thực tập, tuy nhiên trong
khuân khổ giới hạn của một chuyên đề thực tập và khả năng lýluận của sinh viên thực hiện chuyên đề thực tập Chuyên đề nàychỉ xin được bàn tới công tác thu BHXH, công tác quản lý chế độ
chính sách và công tác kiểm tra để có thể bám sát và sâu hơn
2 Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề:
Trong những năm gần đây, việc nghiên cứu về các vấn đềliên quan đến bảo hiểm xã hội được nhiều giới, nhiều ngành khoahọc quan tâm.Trước hết, phải kể đến những kết quả nghiên cứukhoa học của các cán bộ của Bảo hiểm xã hội Việt Nam được đăngtrên tạp chí của ngành và nhiều tờ báo của Trung ương và địa
phương Gần đây nhất là hội thảo khoa học : Chiến lược phát triển Bảo hiểm xã hội Việt Nam đến năm 2010 do Bảo hiểm xã hội Việt
Nam tổ chức
Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu chủ yếu nhằm làm rõ cơchế hoạt động, cơ chế quản lý, vai trò của tổ chức Công đoàn đối
Trang 3với việc thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, một số mô hìnhhoặc kết quả hoạt động sự nghiệp bảo hiểm xã hội (mà chủ yếu ởcác cơ quan thuộc khu vực Nhà Nước) v.v và định hướng pháttriển của Bảo hiểm xã hội Việt Nam Những kết quả nghiên cứutrên còn ít đề cập đến các vấn đề thuộc phạm vi tiếp cận của ngànhnhư: Tác động của bảo hiểm xã hội đối với đời sống xã hội, thựcthi chính sách bảo hiểm xã hội và quan hệ của nó với việc thực thicác chính sách xã hội khác với tính cách là công cụ quan trọng củachủ thể quản lý xã hội trong quá trình xây dựng và phát triển đấtnước.
Trên bình diện nghiên cứu lý luận, vấn đề bảo hiểm xã hộiđược đặt trong tổng thể của việc nghiên cứu về chính sách xã hội
mà chủ yếu là hướng đến giải quyết những vấn đề cơ bản củachính sách xã hội như vai trò, khái niệm, cấu trúc của chính sách
xã hội; mối quan hệ giữa chính sách xã hội với các chính sáchkhác; nội dung của chính sách xã hội ở nước ta hiện nay; vai tròcủa Nhà Nước đối với việc thực hiện chính sách xã hội; chính sách
xã hội đối với một số nhóm xã hội cụ thể; quá trình đổi mới chínhsách xã hội; tác động của biến đổi cơ cấu giai cấp xã hội đến chínhsách xã hội v.v
Những kết quả nghiên cứu đó đề cập đến bảo hiểm xã hộinhư một phần nội dung của chính sách bảo đảm xã hội và chủ yếu
là từ góc độ của khoa học chính sách công Tuy nhiên, những kếtquả nghiên cứu đó lại là nguồn tư liệu rất quan trọng đối với tác
Trang 4giả chuyên đề này trong quá trình thực hiện đề tài bởi lẽ, nghiêncứu về bảo hiểm xã hội nói chung và tổ chức thực thi chính sáchbảo hiểm xã hội nói riêng thì chưa có nhiều công trình chuyên biệt.
3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Mục đích nghiên cứu của đề tài hướng vào việc làm rõ quátrình thực thi chính sách bảo hiểm xã hội ở tỉnh Hòa Bình và phântích một số vấn đề đặt ra trong việc thực thi chính sách bảo hiểm
- Khái quát về thực trạng hoạt động của Bảo hiểm xã hội tỉnhHoà Bình giai đoạn 1998 - 2002, từ đó phân tích một số vấn đề đặt
ra trong quá trình thực thi chính sách bảo hiểm xã hội trên địa bànTỉnh
- Đề xuất một số kiến nghị nhằm tăng cường hiệu quả hoạtđộng sự nghiệp bảo hiểm xã hội của tỉnh Hòa Bình và góp phần đềxuất luận cứ cho việc tiếp tục hoàn thiện chính sách bảo hiểm củanước ta hiện nay
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là quá trình thực thi chính sáchbảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh Hoà Bình giai đoạn 1998 - 2002
Trang 5thông qua phân tích một số nội dung cơ bản của hoạt động sựnghiệp bảo hiểm xã hội.
4 Ý nghĩa của đề tài:
Chuyên đề hy vọng góp thêm vào những hiểu biết chung mộtvài ý kiến về chính sách bảo hiểm xã hội cũng như tổ chức thực thichính sách bảo hiểm xã hội Đồng thời, những kết quả của chuyên
đề có thể sử dụng để phục vụ cho sự nghiệp bảo hiểm xã hội ở tỉnhHoà Bình và làm tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm đếnlĩnh vực này
Trang 6CHƯƠNG 1 :LÝ LUẬN CHUNG VỀ BHXH
I Sự cần thiết và vai trò của bảo hiểm xã hội trong đời sống xã
hội.
1 Sự cần thiết của bảo hiểm xã hội trong đời sống xã hội.
Con người muốn tồn tại và phát triển trước hết phải ăn, mặc,
ở và đi lại Đó chính là nhu cầu tối thiểu của con người Để thoảmãn những nhu cầu tối thiểu này, người ta phải lao động để làm ranhững sản phẩm cần thiết phục vụ nhu cầu cho mình Khi sảnphẩm vật chất được tạo ra càng nhiều thì đời sống con người ngàycàng đầy đủ và hoàn thiện, xã hội càng văn minh hơn
Tuy nhiên trong cuộc sống cũng như trong lao động khôngphải lúc nào con người cũng có những thuận lợi để đảm bảo nhucầu vật chất của mình, mà ngược lại có rất nhiều khó khăn bất lợitrong cuộc sống con người có thể gặp phải làm giảm, mất thu nhậphoặc các điều kiện sinh sống khác : ốm đau, tai nạn lao động, mấtkhả năng lao động khi hết tuổi lao động Lúc này những nhu cầubảo đảm cuộc sống không vì thế mà mất đi trái lại các nhu cầu nàycòn tăng lên thậm chí còn xuất hiện thêm một số nhu cầu mới :Khám chữa bệnh khi bị ốm đau, tai nạn thương tật cần có ngườichăm sóc, nuôi dưỡng
Trang 7Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, việc thuê mướn nhâncông và lao động trở nên phổ biến Ban đầu giới chủ chỉ cam kếttrả cho công lao động so với sức lao động mà người công nhân bỏ
ra, nhưng càng lao động giới thợ cảm thấy cần một cơ chế bảo đảmcho thu nhập của mình khi không may gặp rủi ro, lúc này giới thợđấu tranh để được bảo đảm khi không còn khả năng lao động Đặcbiệt khi người lao động không may gặp ốm đau, tai nạn, bệnh, laođộng nữ sinh đẻ phải nghỉ việc, trong thời gian nghỉ việc giới chủkhông trả lương làm người lao động gặp khó khăn và không yêntâm lao động sản xuất Khi mâu thuẫn kéo dài Nhà Nước phảiđứng ra can thiệp bằng cách: buộc giới chủ phải có trách nhiệmhơn đối với người lao động mà mình sử dụng, trách nhiệm thểhiện: trích một phần thu nhập để hình thành quỹ đồng thời NhàNước khuyến cáo người lao động trích một phần tiền lương đónggóp vào quỹ sau đó dùng quỹ này trợ cấp cho người lao động vàgia đình họ khi người lao động gặp rủi ro sự cố đồng thời NhàNước đứng ra bảo trợ cho quỹ, bằng cách đó cả giới chủ và thợ đềuthấy mình có lợi và tự giác thực hiện
2 Vai trò cuă bảo hiểm xã hội trong đời sống xã hội
2.1 Bảo hiểm xã hội với kinh tế.
Với tư cách là một ngành kinh tế - xã hội, Bảo hiểm xã hội cóvai trò to lớn tạo ra thu nhập cho người lao động Một mặt nó là bộphận trong hệ thống chính sách kinh tế - xã hội của một quốc gia
Trang 8góp phần vào sự bình ổn xã hội tạo ra một xã hội có tính nhân bảncao.
Bảo hiểm xã hội góp phần duy trì, ổn định và phát triển sảnxuất đảm bảo an toàn xã hội, làm cho người lao động yên tâmtrong qúa trình công tác, lao động sản xuất Đảm bảo đời sống vậtchất trước mắt và lâu dài cho người lao động khi họ đang lao động
và khi mất khả năng lao động Mặt khác, huy động lượng tiền nhàndỗi của quỹ Bảo hiểm xã hội được đầu tư vào việc kinh doanh,dịch vụ trên các lĩnh vực khác nhau trong khuôn khổ pháp luật quyđịnh để tạo nên nguồn thu và tích luỹ quỹ Bảo hiểm xã hội và gópphần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội
2.2 Bảo hiểm xã hội với chính trị
Bất cứ giai cấp và Nhà Nước nào cũng cần có những chiếnlược, sách lược để củng cố quyền lực, địa vị vai trò của mình trước
xã hội, mỗi một vấn đề nảy sinh trong đời sống xã hội, thì giai cấp
và Nhà Nước thực hiện những thủ pháp tác động vào xã hội để giữvững được quyền lực, ổn định xã hội, hoặc trong cuộc tranh giànhquyền lực của các Đảng phái chính trị thì các tổ chức chính trị đólấy các vấn đề đời sống xã hội làm các nội dung, hình thức trongcuộc đấu tranh giành và giữ quyền lực, vai trò chính trị của mình.Bảo hiểm xã hội cũng là một trong các vấn đề xã hội, nó liên quanđến kinh tế, chính trị tác động đến tinh thần và quan hệ xã hội Từ
đó các giai cấp, các Nhà Nước có ý thức đối với Bảo hiểm xã hội,coi đó là một công cụ điều tiết quan trọng đời sống xã hội Nhà
Trang 9Nước nào cũng vậy phải thực hiện chức năng xã hội của mình làchức năng công quyền về vấn đề xã hội, là thực thi các chính sách
xã hội đối với người dân, đó là chương trình chính trị của một giaicấp của một Nhà Nước đối với từng lĩnh vực đời sống xã hội, Bảohiểm xã hội cũng là một trong những chương trình chính trị củamột giai cấp, một Nhà Nước trước hết để yên ổn chính trị - xã hội
Về bình diện thế giới, các quốc gia các tổ chức quốc tế thựchiện những dự án Bảo hiểm xã hội để bành chướng thế lực chínhtrị, kinh tế và diễn biến chính trị - xã hội theo ý đồ của họ
2.3 Bảo hiểm xã hội với văn hoá, tinh thần xã hội.
Bảo hiểm xã hội là biểu hiện ý thức của xã hội đối với nhữngngười và vấn đề trong quan hệ Bảo hiểm, là đạo lý và trách nhiệm,nghĩa vụ của Nhà Nước, giai cấp cầm quyền và cộng đồng với cácthành viên khi họ đã hoàn thành nghĩa vụ lao động xã hội hay vì lý
do bất khả kháng phải ngừng tạm thời hay vĩnh viễn lao động.Việc làm tốt Bảo hiểm xã hội thể hiện khía cạnh tạo dựng mộtphong cách văn hoá xử sự của một dân tộc, văn minh của một quốcgia ( văn hoá là một mô hình xã hội, ở đó người ta thống nhất vàchia sẻ với nhau thế nào là chuẩn mực, giá trị, mục tiêu và chân
lý ) Bảo hiểm xã hội được thực hiện tạo sự yên tâm, hăng hái laođộng sản xuất, sáng tạo của người lao động; chiến đấu dũng cảmcủa lực lượng vũ trang; để họ cùng gia đình họ tạo dựng sự đoànkết thống nhất với cộng đồng dân cư
Trang 10Một khi làm không tốt về Bảo hiểm xã hội sẽ dẫn đên sự bất
an của người lao động, sự thiếu dũng cảm chiến đấu, hy sinh trongbảo vệ tổ quốc, các quan hệ xã hội chính trị - tinh thần - văn hoá -
an ninh - quốc phòng và lao động sản xuất, xây dựng cuộc sốngcủa nhân dân trở nên phức tạp
2.4 Bảo hiểm xã hội với chính sách xã hội và an toàn ổn định
xã hội góp phần vào ổn định và phát triển xã hội cộng đồng
( Will Kler - Xã hội học và chinhs sách xã hội)
Bảo hiểm xã hội là một bộ phận quan trọng và khăng khít củachính sách xã hội của Đảng và Nhà Nước ta, là một chính sách đốivới con người, nhằm đáp ứng một trong các quyền đương nhiêncủa con người Một trong những nhu cầu bức thiết và là nguyệnvọng tha thiết của con người “Theo Maslow, con người có nămthang nhu cầu: nhu cầu về sinh lý, nhu cầu về an toàn ( việc làm,yên ổn xã hội ), nhu cầu hoà hợp và liên kết, nhu cầu được tôntrọng, nhu cầu được phát triển tài năng ” Như vậy nhu cầu an toàn
xã hội - yên ổn xã hội là nhu cầu đứng thứ hai Trong tuyên ngônnhân quyền của Liên hợp quốc ngày 10 tháng 12 năm 1948, điều
22 ghi rõ: “ Mọi người đều có quyền đảm bảo của xã hội trong
Trang 11các trường hợp thất nghiệp, ốm đau, tàn tật, goá bụa, tuổi già hoặcnhững trường hợp mất nguồn sinh sống vì những sự kiện xảy rangoài ý muốn “.
(Một số vấn đề về Bảo hiểm xã hội ViệtNam)
Trong cương lĩnh xây dựng Đất nước tại Đại hội VII củaĐảng có nêu rõ: “ Chính sách xã hội đúng đắn vì hạnh phúc củacon người là động lực to lớn phát huy tiềm năng sáng tạo của nhândân trong xây dựng chủ nghĩa xã hội thiết lập một hệ thống đồng
bộ và đa dạng về Bảo hiểm xã hội và trợ cấp xã hội Có chính sáchthích đúng với gia đình liệt sỹ, thương binh, bệnh binh và cán bộlão thành, người về hưu trí, chăm lo đời sống người già cả neo đơn,tàn tật, mất sức lao động ”
(Một số vấn đề về Bảo hiểm xã hội ViệtNam)
Bảo hiểm xã hội là một bộ phận của chính sách xã hội, chịu
sự tác động qua lại của các bộ phận khác của chính sách xã hội trên
cơ sở tác động của tổng thể các mối quan hệ kinh tế - chính trị - xãhội và lịch sử Quan hệ Bảo hiểm xã hội thể hiện mối tương quangiữa:
Người đã lao động được hưởng Bảo hiểm xã hội với ngườiđang làm việc đó là trợ cấp không được bằng và vượt qua trênlương lúc làm việc, mức tối thiểu không thấp hơn tiền lương tốithiểu
Trang 12Người về hưu trí có trợ cấp theo thang đo ( tỷ lệ ) lớn hơnthang đo mất sức lao động, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp.Ngoài ra còn tương quan Bảo hiểm xã hội có thang đo tỷ lệ lớnhơn cứu trợ xã hội ( Cứu trợ xã hội là trợ giúp của Nhà Nước và xãhội đối với người dân khi gặp rủi ro bất hạnh già cả neo đơn khôngngười nuôi dưỡng, trẻ mồ côi, người lang thang cơ nhỡ, nguời tàntật vì rủi ro, người bị thiên tai, địch hoạ )
Giữa Bảo hiểm xã hội và Ưu đãi xã hội cũng có tương quanhợp lý Trợ cấp ưu đãi xã hội hoàn toàn dựa vào đãi ngộ mang tínhchính trị, đó là trách nhiệm của Nhà Nước, Đảng và giai cấp cầmquyền với người có công và hy sinh, bị thương hay đóng góp đặcbiệt ( Bà mẹ Việt Nam anh hùng, Lão thành cách mạng ) cho sựnghiệp cách mạng và bảo vệ chế độ xã hội Trợ cấp này mang tính
ưu đãi và cao hơn Bảo hiểm xã hội
Chính sách xã hội và Bảo hiểm xã hội bao giờ cũng phảidựa trên tương quan các quan hệ xã hội - chính trị - kinh tế - tinhthần nêu trên, một khi lầm lẫn hay cào bằng tương quan sẽ đưa đếnrối loạn quan hệ xã hội và quan hệ Bảo hiểm xã hội
Đối với người lao động và người đã hoàn thành nghĩa vụ laođộng, hoặc vì một lý do nào đó mà mất khả năng lao động tạm thờihoặc vĩnh viễn, thì chính sách bảo hiểm xã hội thể hiện tráchnhiệm xã hội đối với người đã đóng góp sức lực, tài năng cho xãhội, cho nên Bảo hiểm xã hội là điều tiết quan hệ xã hội giữangười đang lao động, với người đã hoàn thành, hoặc một vì một lý
Trang 13do nào đó mà ngừng lao động, định hướng cho người sẽ đến tuổilao động, từ đó góp phần ổn định quan hệ xã hội
Với nguyên tắc tất cả mọi người lao động đều có quyền thamgia và được hưởng bảo hiểm xã hội Mục đích của Bảo hiểm xã hội
là đảm bảo những điều kiện vật chất tinh thần cho người lao động
và gia đình họ, nhằm giảm bớt những khó khăn, ổn định đời sốngkhi gặp phải những tai nạn rủi do, hiểm hoạ khác Bảo hiểm xã hộivừa thể hiện tính nhân đạo xã hội, vừa thể hiện trách nhiệm xã hộivới người lao động Người lao động là những người tham gia vàoqúa trình sản xuất, quá trình tạo ra sản phẩm vật chất và sản phẩmdịch vụ , phục vụ lợi ích xã hội Bởi vậy xã hội phải có trách nhiệmchăm lo đến đời sống vật chất, tinh thần cho họ, không chỉ khikhoẻ mạnh tham gia lao động sản xuất mà ngay cả khi gặp tai nạn,rủi do làm giảm sút hoặc mất nguồn thu nhập Thông qua bảo hiểm
xã hội thể hiện sự quan tâm của Nhà Nước, của cộng đồng xã hộiđối với người lao động góp phần tăng cường trật tự an toàn xã hội.Bởi vì trợ cấp không đủ đảm bảo nhu cầu cơ bản, đời sống vật chất
và tinh thần Nếu không có sự chăm lo đời sống sẽ đẩy nhữngngười tham gia và người được hưởng Bảo hiểm xã hội và gia đình
họ vào cảnh cùng quẫn, sẽ gây bất an trong xã hội Nhiều vấn đề
xã hội của Bảo hiểm xã hội ở các nước phương tây không giảiquyết được tốt đưa đến những đấu tranh của người lao động làmrung chuyển xã hội Nếu thiếu đói với người và gia đình ngườiđược Bảo hiểm xã hội sẽ dẫn đến các lệch lạc xã hội, tha hoá xã
Trang 14hội, tội phạm xã hội Hoặc điều tiết tương quan giữa người đượcBảo hiểm xã hội với người lao động, hoặc tương quan trong nhómBảo hiểm xã hội không hợp lý cũng đưa đến mất đoàn kết xung đột
xã hội, làm xã hội thiếu trật tự an toàn
Bảo hiểm xã hội là một cách xử sự, là sự điều tiết những giátrị sống về vật chất và tinh thần, nó phản ánh sự cố gắng làm tốthay xấu và thái độ trách nhiệm hay vô trách nhiệm như thế nàocủa Nhà Nước, của cộng đồng đối với người lao động đã cống hiếncho xã hội của mình Khi làm tốt các vấn đề về Bảo hiểm xã hội để
xã hội ổn định cũng là một tiêu thức đánh giá xã hội văn minh, tiếnbộ
II Quá trình hình thành và phát triển bảo hiểm xã hội.
1 Quá trình hình thành và phát triển bảo hiểm xã hội (BHXH) trên thế giới.
Từ xa xưa, con người đã có ý thức dành dụm, dự trữ lươngthực, thực phẩm, tiền bạc để chi dùng cho bản thân và cưu mangđùm bọc cho các thành viên trong gia đình trong những lúc khókhăn, hoạn nạn hoặc khi gặp những trở ngại, bất trắc trong cuộcsống Sự tương trợ giúp đỡ đó mang tính đoàn kết, hướng thiện và
từ chỗ trong phạm vi gia đình, họ hàng dần mở rộng tới các thànhviên trong cộng đồng với nhiều hình thức khác nhau, ở nhiều quốcgia khác nhau
Tuy vậy, chỉ đến khi chủ nghĩa tư bản ra đời, với sự pháttriển của nền đại công nghiệp đã hình thành lực lượng lao động
Trang 15làm thuê trong xã hội: Giai cấp công nhân Nhưng trong chủ nghĩa
tư bản, do đời sống của giai cấp công nhân có quá nhiều bấp bênh
vì sự bóc lột của giai cấp tư sản, vì khủng hoảng kinh tế – xã hội rồi trong lúc ốm đau, tai nạn hoặc khi già yếu không còn khả nănglao động thì nguồn thu nhập của người làm công ăn lương khôngcòn nữa
Sự đối mặt với những hiểm hoạ đó buộc người công nhânphải có ý thức tích góp, dành dụm cho những ngày sau, đồng thờiphải phát huy truyền thống tương thân, tương ái, đoàn kết giúp đỡlẫn nhau Nhưng với đồng lương ít ỏi thì điều đó thật nan giải,buộc người lao động phải đấu tranh đòi hỏi giới chủ phải có nhữngđảm bảo về cuộc sống thiết yếu cho họ kể cả khi gặp rủi ro, trắc trởlúc ốm đau khi già yếu không còn khả năng lao động
BHXH có nguốn gốc hình thành từ lâu nhưng để trở thànhquy định của pháp luật thì phải đến năm 1850, ở nước Đức mớiban hành luật bảo hiểm về ốm đau và năm 1884, ban hành luật bảohiểm về rủi ro nghề nghiệp (tức tai nạn lao động và bệnh nghềnghiệp)
Bảo hiểm ốm đau giao cho các hội tương tế quản lý còn bảo hiểm rủi ro nghề nghiệp do hiệp hội giới chủ quản lý
Đến năm 1889, chính phủ Đức ban hành thêm bảo hiểm tuổi
già và bảo hiểm tàn tật do chính quyền các bang quản lý Và như
vậy, đến thời điểm này những hệ thống quản lý BHXH gồm bathành viên xã hội đã hình thành là: nhhững người lao động, những
Trang 16người sử dụng lao động và Nhà Nước Ba thành viên này tham giađóng góp BHXH và cử đại diện của mình quản lý hệ thống BHXH.Trong hệ thống BHXH này mọi người làm công ăn lương đều bắtbuộc phải đóng góp xây dựng quỹ BHXH.
Mô hình BHXH của Đức lan rộng ra Châu Âu và đến nhữngnăm 1930 của thế kỷ XX thì nhiều nước đã ban hành các chế độBHXH trong hệ thống BHXH Tuy nhiên, chưa có nước nào ở trênthế giới ngay một lúc ban hành được tất cả chế độ BHXH mà hầuhết các chế độ BHXH đều được ban hành dần
Do tính đa dạng và phức tạp của BHXH, tổ chức lao độngQuốc tế (ILO) đã có những khuyến cáo, những quy định về các nộidung để thống nhất hoạt động BHXH ở các nước
Năm 1944, hội nghị ILO thông qua khuyến nghị số 67 vềviệc bảo đảm các điều kiện sinh sống Khuyến nghị này nêu ra một
số nguyên tắc của BHXH mà chủ yếu hướng vào việc mở rộng cácchế độ BHXH bắt buộc để đảm bảo các điều kiện sinh sống tốithiểu trong trường hợp rủi ro của người lao động tham gia BHXH.Cũng trong năm 1944, ILO thông qua khuyến nghị số 69 về chămsóc y tế không chỉ là người lao động mà chăm sóc rộng rãi mọithành viên trong cộng đồng, và chế định thành một quyền trong xãhội văn minh
Đặc biệt, ngày 28/06/1952, ILO đã thông qua công ước số
102 về bảo đảm xã hội Có thể nói đây là công ước quốc tế có nộidung đầy đủ nhất, cụ thể hoá những tiêu chuẩn quốc tế đã nêu, mở
Trang 17ra một cơ cấu thống nhất và có sự phối hợp trong lĩnh vực này củacác thành viên ILO.
2 Sự hình thành và phát triển BHXH ở Việt Nam
Ở nước ta BHXH bắt đầu xuất hiện từ những năm 1930 thờithuộc Pháp Đây là chế độ trợ cấp cho chính quyền thuộc địa thựchiện đối với quân nhân và viên chức Việt Nam làm việc trong bộmáy hành chính và lực lượng vũ trang của Pháp ở Đông Dương khi
bị ốm đau, già yếu hoặc chết
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Đảng và Nhà Nước ta
đã sớm quan tâm đến vấn đề này, điều đó được thể hiện ở các Sắclệnh số 29/SL ngày 12/03/1947; số 76/ SL ngày 20/05/1950; số 77/
Tuy nhiên, do hoàn cảnh chiến tranh kéo dài, kinh tế nghèonàn nên những chính sách BHXH ở thời gian này được thực hiệnrất hạn chế Phải đến năm 1961, Chính phủ nước Việt Nam dânchủ cộng hoà mới ban hành Nghị định số 218/CP ngày 27/12/1961
Điều lệ tạm thời về BHXH đối với công nhân viên chức Nhà Nước.
Chính sách BHXH ban hành kèm theo Nghị định 218/CP đãđóng một vai trò quan trọng trong việc đảm bảo ổn định đời sốngngười lao động, thu hút và động viên hàng triệu lao động tham giaxây dựng và bảo vệ Tổ quốc Động viên đội ngũ cán bộ công nhânviên, lực lượng vũ trang chiến đấu và làm việc trong một thời kỳcách mạng gian khổ và khó khăn nhất để đấu tranh thống nhất Tổquốc, xây dựng Nhà Nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á
Trang 18Khi Tổ quốc hoàn toàn độc lập, Đảng và Nhà Nước ta đã cónhiều chủ trương, chính sách để thu hút và động viên người laođộng trên khắp mọi miền đất nước hàn gắn vết thương chiến tranh
và xây dựng Tổ quốc Việt Nam XHCN Cùng với việc ban hànhnhững chính sách về phát triển kinh tế, xã hội và cải cách chế độtiền lương, ngày18/9/1985, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ)
đã ban hành nghị định số 236/HĐBT sửa đổi, bổ sung các chế độBHXH
Sau đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam, để phù hợp với
cơ chế quản lý mới, phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thànhphần có sự quản lý của Nhà Nước theo định hướng xã hội chủnghĩa, thì chính sách BHXH được Đảng và Nhà Nước ta tiếp tụcsửa đổi và bổ sung Những nội dung cơ bản trong Chương 12 của
Bộ luật Lao động được thông qua tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khoá
IX ngày 23/6/1994 đã thể hiện điều đó
Trên cơ sở những quy định của Bộ luật Lao động, ngày
26/1/1995, Chính phủ đã ban hành Điều lệ BHXH kèm theo Nghị
định số 12/CP; đồng thời, ngày 16/2/1995, ban hành Nghị định số19/CP về việc thành lập hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam
BHXH Việt Nam và hệ thống BHXH Việt Nam như hiện nay
bao gồm: Chế độ hưu trí, trợ cấp một lần và chế độ tử tuất (chuyển sang từ ngành Lao động – Thương binh và Xã hội); chế độ trợ cấp
ốm đau, thai sản và chế độ trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề
Trang 19nghiệp (chuyển sang từ Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam) được
hình thành từ năm 1995
Để tiếp tục thống nhất quản lý Nhà Nước về hoạt động bảohiểm, tháng 02/2002, Chính phủ vừa mới ban hành nghị định sápnhập Bảo hiểm y tế vào hệ thống BHXH Việt Nam và quyết địnhnày có hiệu lực kể từ ngày ký Như vậy, đến nay BHXH Việt Nambao gồm các chế độ bảo hiểm là:
III Nội dung bảo hiểm xã hội.
1 Các khái niệm về bảo hiểm xã hội
Hiện nay có khá nhiều khái niệm về Bảo hiểm xã hội, sauđây là một vài định nghĩa về Bảo hiểm xã hội:
" Bảo hiểm xã hội là quá trình tổ chức và sử dụng quỹ tiền tệtập trung, được tồn tích dần do sự đóng góp của người lao động vàngười sử dụng lao động dưới sự điều tiết của Nhà Nước, nhằmđảm bảo phần thu nhập, để thoả mãn nhu cầu sinh sống thiết yếu
Trang 20của người lao động và gia đình họ, hay khi gặp phải những biến cốlàm giảm hoặc mất khả năng thu nhập theo lao động".
( Một số vấn đề về bảo hiểm xã hội VN- NXB Địa chất
HN 1993)
" Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm đời sống cho người laođộng và gia đình họ khi bị giảm, bị mất khả năng lao động, hoặcmất việc làm trên cơ sở san sẻ trách nhiệm đống góp vào quỹ bảohiểm xã hội."
( Một số vấn đề về bảo hiểm xã hội VN- NXB Địa chất
HN 1993)
" Bảo hiểm xã hội xét về chính trị, kinh tế là sự thay thế hoặc
bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị mất, hoặcgiảm thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động hoặc bệnhnghề nghiệp, tàn tật, thất nghiệp, tuổi già, tử tuất Dựa trên cơ sởmột quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia bảo hiểm
xã hội, có sự bảo hoọ của Nhà Nước theo pháp luật, nhằm bảo đảm
an toàn đời sống cho người lao động và gia đình họ, đồng thời gópphần bảo đảm an toàn xã hội"
(Từ điển bách khoa ViệtNam tập 1)
" Bảo hiểm xã hội nhằm đảm bảo vật chất, góp phần ổn địnhđời sống cho người tham gia bảo hiểm và gia đình họ trong cáctrường hợp người tham gia bảo hiểm bị ốm đau, thai sản suy giảmkhả năng lao động hoặc chết"
Trang 21( Giáo trình bảo hiểm xã hội- Bộ lao động thương binh và xãhội - HN).
" Bảo hiểm xã hội thực chất là tổng thể mối quan hệ kinh tế
xã hội giữa Nhà Nước, người lao động và người sử dụng lao độngnhằm mục đích ổn định cuộc sống cho người lao động và gia đình
họ khi không may gặp rủi ro sự cố làm giảm, mất khả năng laođộng, việc làm dẫn tới giảm mất thu nhập"
(Giáo trình Kinh tế Bảo Hiểm ĐHKTQDHN)
-Tóm lại, Bảo hiểm xã hội thực chát là một hình thức phânphối lại thu nhập bằng các kỹ thuật nghiệp vụ, nhằm góp phần cânbằng thu nhập bị mất hoặc bị giảm từ hoạt động nghề nghiệp bằngkhoản trợ cấp từ bảo hiểm xã hội
2 Đặc điểm và nguyên tắc thực thi chính sách BHXH.
2.1 Đặc điểm của bảo hiểm xã hội.
- Là loại bảo hiểm cho người lao động trong và sau quá trìnhlao động
- Các rủi ro cuả người lao động liên quan đến thu nhập của
họ như ốm đau thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, mấtviệc làm, già yếu (mất sức lao động), chết mà do những rủi ronày, người lao động bị giảm hoặc bị mất nguồn thu nhập và họ cầnphải có một khoản thu nhập khác bù vào để ổn định cuộc sống.Đây là đặc điểm cơ bản của BHXH
Trang 22- Người lao động muốn được quyền hưởng trợ cấp BHXH thìphải có nghĩa vụ đóng BHXH; bên cạnh đó người sử dụng laođộng cũng phải có nghĩa vụ đóng BHXH cho người lao động làmvệc cho mình Sự đóng góp của các bên tham gia BHXH hìnhthành nên một quỹ BHXH Quỹ BHXH dùng để chi trả các loại trợcấp khi phát sinh nhu cầu BHXH.
- Các hoạt động BHXH được thực hiện trong khuôn khổ phápluật, các chế độ BHXH cũng do luật định Nhà Nước là người bảo
hộ các hoạt động BHXH
Như vậy, BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp mộtphần thu nhập cho người lao động khi họ bị mất hoặc giảm khảnăng lao động hoặc mất việc làm, thông qua việc hình thành và sửdụng một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham giaBHXH, nhằm góp phần đảm bảo an toàn đời sống của người laođộng và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo an toàn xã hội
Tuy nhiên, cũng cần phải hiểu đặc trưng cơ bản của BHXH,
đó là: Chế độ BHXH được thực hiện theo quy định của pháp luật;nguồn tài chính để thực hiện chế độ BHXH là từ sự đóng góp bắtbuộc của người được bảo hiểm (kể cả đối với loại hình BHXH bắtbuộc và BHXH tự nguyện), của người sử dụng lao động nếu có (vìthường chỉ có trong 2 loại hình bắt buộc) với sự đóng góp của NhàNước, được Nhà Nước bảo hộ giá trị tiền trợ cấp khi có biến động
về kinh tế, tài chính; mục đích chính của BHXH là trợ cấp vật chất
Trang 23trong các trường hợp người được bảo hiểm gặp rủi ro ngẫu nhiên,
cụ thể đã được lượng định trước
2.2 Nguyên tắc thực thi chính sách BHXH.
- Nguyên tắc bình đẳng giữa các đối tượng áp dụng: Là việc
xây dựng chính sách BHXH bình đẳng đối với mọi người lao động.Quỹ BHXH có nguồn tài chính từ các khoản đóng góp và có một
hệ thống hoạt động nhằm đảm bảo lợi ích cho người tham gia đónggóp vào quỹ này Quyền được hưởng trợ cấp BHXH được bảo đảmbằng chính việc đóng góp vào quỹ BHXH
- Nguyên tắc tương trợ cộng đồng : được thể hiện qua hình
thức tham gia BHXH là một hình thức chia sẻ rủi ro và bắt buộcmọi người phải tham gia đóng góp vào quỹ theo nguyên tắc "Lấy
số đông bù số ít" và nguyên tắc "Tiết kiệm chi tiêu" lúc có thunhập để được hưởng trợ cấp lúc tạm thời hoặc vĩnh viễn mất khảnăng lao động, lúc về già
- Nguyên tắc phân phối trên cơ sở mức độ đóng góp, mà cơ
sở để tính mức đóng góp là tiền lương hoặc tiền công Tiền thu từcác khoản đóng góp được tập trung vào quỹ BHXH mà từ quỹBHXH chỉ được lấy ra để chi cho các chế độ BHXH cũng như cáckhoản chi quản lý hành chính của hoạt động BHXH Tỷ lệ đónggóp và mức lương hưởng trợ cấp có mối quan hệ chặt chẽ với thunhập của người được tham gia bảo hiểm
- Nguyên tắc thực hiện cân đối thu, chi BHXH: Để thực hiện
nguyên tắc này thì khi xây dựng các chế độ trợ cấp phải dự báo
Trang 24được số tiền phải chi tiêu để từ đó huy động các khoản đóng gópbảo đảm đủ chi Đồng thời, số tiền tạm thời nhàn rỗi phải tiến hànhđầu tư để bảo toàn giá trị và tăng trưởng quỹ Như vậy, số dư củaquỹ hàng năm tạm thời chưa sử dụng hết được đem đi đầu tư đểtăng thu cho quỹ BHXH
- Nguyên tắc phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội: BHXH
bao gồm nhiều chế độ trợ cấp khác nhau, tổng hợp chung của cácnước trên thế giới có 9 chế độ BHXH, nhưng trong quá trình thựchiện cần nghiên cứu tình hình thực tế của mỗi nước để có nhữngchế độ BHXH phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của mỗinước Đồng thời, các mức trợ cấp BHXH cũng phải có tương quanthích hợp với mức thu nhập trong cộng động xã hội
3 Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội.
Đối tượng của BHXH là thu nhập của người lao động bị biếnđộng giảm hoặc mất đi do bị giảm hoặc mất khả năng lao động,mất việc làm của những người lao động tham gia BHXH
Đối tượng tham gia BHXH là người lao động và người sửdụng lao động Tuy nhiên tuỳ theo điều kiện phát triển kinh tế xãhội của mỗi nước mà đối tượng này có thể là tất cả hoặc một bộphận những người lao động nào đó Cụ thể đối tương áp dụngBHXH ở Việt Nam bắt buộc bao gồm :
a) Người lao động làm việc theo hợp đồng có thời hạn từ đủ
3 tháng trở lên và hợp đồng lao động không xác định thời hạntrong các doanh ngiệp, cơ quan tổ chức sau :
Trang 25+ Doanh nghiệp thành lập, hoạt động theo luật doanh nghiệpNhà Nước, bao gồm : Doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinhdoanh, doanh nghiệp hoạt động công ích; doanh nghiệp thuộclực lương vũ trang;
+ Doanh nghiệp thành lập hoạt động theo luật doanh nghiệpbao gồm: Công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần,công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân
+ Doanh nghiệp thành lập theo luật đầu tư nước ngoài tạiViệt Nam, bao gồm : Doanh nghiệp liên doanh và doanhnghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài
+ Doanh nghiệp của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị
xã hội;
+ Hộ sản xuất, kinh doanh cá thể, tổ hợp tác;
+ Các cơ quan hành chính sự nghiệp, tổ chức chính trị, tổchức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp,
tổ chức xã hội khác, lực lượng vũ trang; kể cả các tổ chức,được phép hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ thuộc cơquan hành chính sự nghiệp, Đảng, đoàn thể, các hội tổ chứcquần chúng tự trang trải về tài chính;
+ Cơ sở bán công, dân lập, tư nhân thuộc các nghành vănhoá, y tế, giáo dục, đào tạo, khoa học, thể dục thể thao và cácnghành sự nghiệp khác;
+ Trạm y tế xã phường thị trấn
Trang 26+ Cơ quan tổ chức nước ngoài hoặc tổ chức quốc tế tại ViệtNam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà cộng hoà xã hộichủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác;+ Các tổ chức khác có sử dụng lao động là những tổ chứcchưa quy định ở trên.
b) Cán bộ, công chức viên chức theo pháp lệnh cán bộ, côngchức
c) Người lao động, xã viên làm việc hưởng tiền công theohợp đồng lao động từ đủ 3 tháng trở lên trong các hợp tác
xã thành lập, hoạt động theo luật hợp tác xã
d) Người lao động làm việc tại các doanh nghiệp, cơ quan tổchức quy định tại các điểm a và điểm b ở trên, làm việctheo hợp đồng lao động có thời hạn dưới 3 tháng, khi hếthạn hợp đồng lao động mà nguời lao động tiếp tục làmviệc hoặc giao kết hợp đồng lao động mới đối với doanhnghiệp tổ chức, cá nhân đó thì phải tham gia BHXH bắtbuộc
e) Người lao động quy định tại điểm a, điểm b, điểm c, điểm
d mục này, đi học tập, thực tập, công tác điều dưỡng trong
và ngoài nước mà vẫn hưởng tiền công, tiền lương dodoanh nghiệp, cơ quan, tổ chức sử dụng lao động trả thìcũng thuộc đối tượng thực hiện BHXH bắt buộc
Mức thu BHXH đối với quân nhân, công an nhân dân thuộcdiện mức sinh hoạt phí đóng bằng 2 % mức lương tối thiểu theo
Trang 27tổng số quân nhân, công an nhân dân do Bộ Quốc phòng, Bộ công
an đóng
4 Nguồn quỹ BHXH và mục đích sử dụng quỹ.
Qũy Bảo hiểm xã hội
- Qũy Bảo hiểm xã hội là qũy tài chính độc lập, tậptrung nằm ngoài ngân sách Nhà Nước
- Mức đóng của mỗi người vào qũy bảo hiểm xã hộigọi là phí Bảo hiểm xã hội Theo quá trình lao động phí Bảo hiểm
xã hội được chia làm hai loại:
+ Phí Bảo hiểm xã hội trong qúa trình lao động (Phí bảohiểm xã hội ngắn hạn ) tạo thành nguồn qũy chi trả cho nguồn trợcấp cho các chế độ : ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnhnghề nghiệp nhẹ
+ Phí Bảo hiểm xã hội sau quá trình lao động (phí Bảo hiểm
xã hội dài hạn ) tạo thành nguồn chi trả cho các chế độ Bảo hiểm
xã hội sau khi người lao động đã ra khỏi quá trình lao động nhưhưu trí, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, tử tuất
+ Phí Bảo hiểm xã hội được xác định theo công thức :
F = Ft t + Fql+ Fdp
Trong đó :
F : là qũy Bảo hiểm xã hội
Ft t: chi phí thuần tuý
Fql : Chi bộ máy quản lý
Fdp : Qũy dự phòng
Trang 28 Nguồn hình thành qũy Bảo hiểm xã hội (thu bảohiểm xã hội ) theo quy định hiện hành ở nước ta hiện nay.
- Người sử dụng lao động đóng 15 % so với tổng qũy tiềnlương của những người tham gia bảo hiểm xã hội trong đơn vị
- Người lao động đóng 5% tiền lương tháng để chi trả cácchế độ hưu trí và tử tuất
- Nhà Nước đóng và hỗ trợ thêm để đảm bảo thực hiện cácchế độ Bảo hiểm xã hội đối với người lao động
- Các nguồn thu khác : Thu đầu tư sinh lời, từ tài trợcủa quốc tế của các tổ chức xã hội cho Bảo hiểm xã hội
Chi Bảo hiểm xã hội :
- Chi trả các chế độ trợ cấp Bảo hiểm xã hội cho đối tượngtham gia Bảo hiểm xã hội
Theo công ước 102 tháng 6 năm 1952 tại Giơnevơ thì quỹBHXH thực chất dùng chi trả cho 9 chế độ :
Trang 29Hiện tại ở Việt Nam chúng ta mới thực hiện chế độ trong 9chế độ này, đó là :
Trang 30GIAI ĐOẠN 1998 - 2002
I Tổ chức bộ máy của BHXH tỉnh Hoà Bình.
1 Vài nét về tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Hoà Bình:
Hoà Bình là một tỉnh miền núi phía Bắc, với tổng diện tíchđất tự nhiên là 4.500 km2, khoảng 3/4 diện tích là đồi núi Toàntỉnh có 9 huyện và một thị xã, với 215 xã, phường
Dân số tỉnh Hòa Bình có gần 80 vạn người, với 6 dân tộcchính là Mường, Kinh, Thái, Dao, Tày và H'Mông Trong đó, có40.567 người thuộc diện phải tham gia BHXH bắt buộc đang làmviệc trong 668 đơn vị, cơ quan, xí nghiệp, trường học, các nôngtrường, lâm trường và các đơn vị liên doanh với nước ngoài
Nhìn chung, 8 năm qua, tỉnh Hòa Bình đã ổn định và duy trìđược mức tăng trưởng kinh tế, đời sống nhân dân được cải thiệngiá trị tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) tăng hàng năm trung bình 5năm là 6,7%, thu nhập bình quân đầu người năm 2002 đạt 2,35triệu đồng (tăng 59,4% so với năm 1995) Cơ cấu kinh tế có sựchuyển dịch theo hướng tiến bộ, tỷ trọng giữa các ngành kinh tế là:Nông lâm nghiệp 50%, công nghiệp và xây dựng 18%, dịch vụ32%
Nông - lâm - ngư nghiệp có sự chuyển biến tích cực đã thuđược những kết quả quan trọng, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt5,18%/năm Tổng sản lượng lương thực năm sau cao hơn năm
Trang 31trước, từ 19,5 vạn tấn năm 1995 lên 23,6 vạn tấn năm 2002, tăng3,6 vạn tấn so với Nghị quyết tỉnh Đảng bộ lần thứ 12 đề ra.
Trên lĩnh vực văn hoá - xã hội đã thu được thành tựu quantrọng, đời sống nhân dân được ổn định, cuộc vận động xây dựngđời sống văn hoá ở khu vực dân cư đã thu được kết quả đầy phấnkhởi Giáo dục - đào tạo trong những năm qua đã có sự tập trungchỉ đạo thực hiện nghị quyết của Trung Ương và của Tỉnh về giáodục - đào tạo Sự nghiệp giáo dục - đào tạo của Tỉnh đã đạt đượcnhững kết quả quan trọng góp phần thực hiện mục tiêu về nâng caodân trí, đào tạo nguồn nhân lực và bồi dưỡng nhân tài Công tácchăm sóc sức khoẻ nhân dân có nhiều tiến bộ đã và đang tiến hành
xã hội hoá công tác giáo dục, y tế trong toàn Tỉnh nhằm đảm bảophục vụ tốt hơn về sự nghiệp y tế
Công tác phục vụ các chương trình mục tiêu quốc gia đượcthực hiện tốt góp phần đem lại sự ổn định về kinh tế - xã hội, pháttriển cơ sở hạ tầng các xã vùng sâu, vùng xa
Công tác quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội đượccủng cố, tình hình chính trị ổn định, tăng cường khối đoàn kết toàndân chống âm mưu “diễn biến Hoà Bình” của các thế lực thù địch
Công tác xây dựng Đảng, chính quyền, mặt trận và các đoànthể nhân dân được tăng cường Thực hiện cuộc vận động xây dựng
và chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết TW 6 (lần 2) khóaVIII bước đầu tạo sự chuyển biến về nhận thức và hành động trongcán bộ, Đảng viên và các tầng lớp nhân dân các dân tộc trong Tỉnh
Trang 32Giai đoạn 2001 – 2005, tỉnh Hoà Bình xác định phươnghướng phát triển cơ bản là: Nền kinh tế của tỉnh Hoà Bình vẫn là
bộ phận cấu thành của cả nước vừa gắn với sự phát triển chung củavùng Tây bắc và đồng bằng Bắc bộ, đặc biệt là thị trường Hà Nội
Đại hội Đảng bộ tỉnh Hòa Bình lần thứ XIII (nhiệm kỳ 2001 2005) đã xác định một số chỉ tiêu phát triển chủ yếu sau :
Tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm: 8%
- Cơ cấu kinh tế đến 2005:
- Thu nhập bình quân đầu người một năm là 4 triệu đồng trở lên
- Giữ vững an ninh, quốc phòng, ổn định về chính trị, pháttriển kinh tế một cách bền vững
2 Cơ cấu tổ chức bộ máy của BHXH tỉnh Hoà Bình:
Sơ đồ tổ chức BHXH tỉnh
BAN GI M ÁM ĐỐC BHXH TỈNH
Phòng Kế hoạch -
T i ài chính
Phòng Kiểm tra
Phòng Tổ chức
H nh ài chính
Phòng Bảo hiểm tự nguyện
Phòng Công nghệ thông tin
Phòng Giám định chi
Trang 33- Ban Giám đốc: BHXH tỉnh Hoà Bình do Giám đốc quản lý
và điều hành theo chế độ thủ trưởng Giúp việc cho Giám đốc cómột Phó Giám đốc phụ trách công tác công tác thu BHXH và côngtác kiểm tra, một phó giám đốc phụ trách phần BHYT mới chuyểnlên Công tác tổ chức cán bộ, kế hoạch - tài chính và công tác chế
độ chính sách do Giám đốc trực tiếp phụ trách Giám đốc và PhóGiám đốc do Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam bổ nhiệm và miễmnhiệm
- Văn phòng BHXH tỉnh Hoà Bình ( trước khi sáp nhập ), gồm cácphòng chức năng: Phòng Quản lý chế độ chính sách (10 người),Phòng Quản lý thu BHXH (12 người), Phòng Kế hoạch - Tài chính(09 người), Phòng Kiểm tra (07 người), Phòng Tổ chức - Hànhchính (06 người) Sau này khi sáp nhập cơ quan BHXH thành lậpthêm 3 phòng chức năng mới là các phòng : Bảo hiểm tự nguyện,Công nghệ thông tin, Giám định chi và đổi tên phòng Quản lý thuBHXH thành phòng thu BHXH
Biên chế của cơ quan văn phòng BHXH tỉnh Hoà Bình gồm
76 người Trưởng Phòng và các Phó trưởng phòng do Tổng Giám
10 huyện v 1 th à 1 th ị xã trực thuộc
Trang 34đốc BHXH Việt Nam bổ nhiệm, miễn nhiệm theo đề nghị củaGiám đốc BHXH tỉnh và Trưởng ban Tổ chức cán bộ BHXH ViệtNam
- 10 BHXH huyện, thị xã gồm 46 người Đây là những đơn vịtrực thuộc BHXH tỉnh Hoà Bình đặt tại huyện, thị xã và nằm trong
hệ thống BHXH Việt Nam, có chức năng giúp Giám đốc quản lýquỹ BHXH và thực hiện các chế độ chính sách trên địa bàn huyện.BHXH các huyện, thị xã có con dấu và trụ sở riêng
II Thực trạng việc thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội
ở tỉnh Hoà Bình giai đoạn 1998 - 2002.
Quá trình thực thi chính sách BHXH có 5 nội dung công tácchính là: Công tác thu, công tác chi, công tác quản lý chế độ -chính sách, công tác kiểm tra - thi đua và tuyên truyền Tuy nhiên,
từ góc độ đánh giá thực trạng việc thực thi chính sách BHXH ởHoà Bình giai đoạn 1998 - 2002, chuyên đề thực tập tập trung
phân tích ở các nội dung còn có những tồn tại là công tác thu, công tác quản lý chế độ - chính sách, công tác kiểm tra - thi đua và tuyên truyền.
1 Về công tác thu bảo hiểm xã hội:
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm mang tính quyết địnhđối với sự tồn tại và phát triển của sự nghiệp BHXH là công tácthu BHXH
Trang 35Ngoài tầm quan trọng trong việc tạo ra một quỹ tài chính độclập để từng bước giảm dần gánh nặng cho ngân sách Nhà Nướctrong chi trả các chế độ BHXH, công tác thu BHXH còn nhằmđảm bảo công bằng xã hội trong đóng góp và hưởng thụ, vừa bảo
vệ quyền lợi cho người lao động, vừa tăng cường trách nhiệm củachủ sử dụng lao động trong việc thực hiện nghĩa vụ thu nộp BHXHtheo quy định của pháp luật
Từ nhận thức trên, chỉ trong một thời gian ngắn công tác thuBHXH đã nhanh chóng được thực hiện Mặc dù gặp không ít khókhăn trong những năm đầu tái lập Tỉnh, BHXH tỉnh Hoà Bình đãtập trung chỉ đạo việc lập, đối chiếu, xác nhận và hoàn thiện về cơbản toàn bộ danh sách các đơn vị sử dụng lao động và người laođộng đăng ký tham gia BHXH theo loại hình bắt buộc, nắm đượcđầy đủ chính xác tổng quỹ tiền lương của từng khu vực (HCSN-SXKD) và từng khối ngành (trung ương và địa phương) Đồngthời, với việc phân cấp thu BHXH đối với các đơn vị sử dụng laođộng trên từng địa bàn, khu vực BHXH, BHXH các huyện và thị
xã của tỉnh Hoà Bình đã quản lý số tiền thu BHXH theo nguyêntắc:
- Cán bộ thu của cơ quan không được trực tiếp đến thu tiềntại các đơn vị mà phải hướng dẫn cho các đơn vị tự chuyển nộpqua Kho bạc hoặc ngân hàng; số tiền thu vào tài khoản của cơ quanBHXH phải được chuyển nộp hết lên cơ quan BHXH cấp trên 10
Trang 36ngày/ lần và không được sử dụng vào bất kỳ một mục đích nàokhác
- Căn cứ vào các quy định liên ngành của BHXH Việt Namvới Kho bạc Nhà Nước, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triểnnông thôn, BHXH Tỉnh đã phối hợp chặt chẽ với hai cơ quan nàytrong việc quản lý tiền thu BHXH, không để sẩy ra hiện tượng tiêucực hoặc hành vi tham nhũng, lợi dụng trong quá trình thu nộpBHXH Tuy trong thời gian đầu, công tác thu BHXH còn gặpnhững khó khăn nhất định như nhận thức chưa đầy đủ của chủ sửdụng lao động về nghĩa vụ trích nộp BHXH, một số đơn vị khókhăn trong sản xuất kinh doanh, người lao động không có thu nhậphoặc thu nhập thấp, những đơn vị đặc thù sản xuất theo mùa vụ,giao khoán sản phẩm không nộp được BHXH thường xuyên vàđúng kỳ theo quy định nhưng bằng những hình thức vận động,tuyên truyền, kiểm tra, đôn đốc, đối chiếu xác nhận thanh toán, giảiquyết kịp thời các chế độ BHXH cho các đơn vị, để đơn vị tích cựctham gia đóng BHXH và số thu BHXH ngày càng tăng, năm saucao hơn năm trước và luôn hoàn thành vượt mức chỉ tiêu đượcgiao
Hiện tại BHXH tỉnh Hoà Bình quản lý thu BHXH của 668đơn vị, với tổng số người tham gia BHXH là 40.567 người, số tiềnthu nộp trong năm 2002 là hơn 53 tỷ đồng, hầu hết các đơn vị nàythuộc loại hình BHXH bắt buộc, bao gồm các doanh ngiệp NhàNước của địa phương và của Trung Ương đóng trên địa bàn, các
Trang 37cơ quan hành chính sự nghiệp, cơ quan Đảng, đoàn thể, hội quầnchúng, dân cư của địa phương Khối cán bộ thuộc UBND, hộiđồng nhân dân, Đảng uỷ xã, phường, thị trấn và một số các doanhnghiệp thuộc các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh Để đảmbảo công tác thu của ngành được tốt và đều đặn, ngoài việc kết hợpvới các cơ quan liên quan ngành cũng đã phân chia các doanhnghiệp tham gia BHXH ra làm 3 loại:
- Loại làm ăn có hiệu quả, thực hiên tốt các chế độBHXH
- Làm ăn có hiệu quả nhưng vi phạm nghĩa vụ đóngBHXH, trốn tránh, khai giảm số lao động và tiền lương, nợ đọngdây dưa kéo dài và không thực hiện các mức lương theo quy địnhcủa Nhà Nước
- Loại làm ăn thua lỗ, phá sản không có khả năng đóngBHXH
Việc phân chia như trên đã giúp cho cơ quan BHXH theo sátđược kế hoạch và đôn đốc được tốt
Hình thức thu BHXH của BHXH tỉnh Hoà Bình là thu theoquý Một quý một lần các đơn vị tham gia BHXH phải đóng 1 lầnbằng 20% tổng quỹ tiền lương của đơn vị vào tài khoản của đơn vịtại kho bạc và ngân hành nông nghiệp tỉnh Hoà Bình
Về căn cứ thu BHXH là hàng năm các đơn vị tham giaBHXH phải lập danh sách thu BHXH theo Mẫu C45- BH do Bộ tài
Trang 38chính quy định được ban hành kèm theo QĐ 1124 Thể hiện đượccác chỉ tiêu sau:
+ Họ tên của từng người lao động tham gia BHXH
+ Số sổ BHXH của người lao động
+ Ngày tháng năm sinh ( gồm 2 cột nam, nữ)
+ Chức danh nghề nghiệp của người lao động tham giaBHXH
+ Lương cơ bản của người tham gia BHXH ( Nếu lương theonghị định 25, 26 thì ghi hệ số tiền lương, nếu lương theo hợp đồngthì ghi theo hợp đồng đã ký)
+ Các khoản phụ cấp bao gồm khu vực theo thông tư số 15của bộ lao động thương binh xã hội, phụ cấp trách nhiệm theothông tư số 17 của Bộ Lao động thương binh và xã hội, phụ cấpđắt đỏ từ 10% trở lên, phụ cấp chức vụ Bốn khoản phụ cấp này sovới lương tối thiểu trong từng thời kỳ do Chính phủ quy định
Phụ cấp thâm niên tái cử lần 2 của cơ quan Đảng, đoàn thể vàphụ cấp chênh lệch bảo lưu của Đảng, đoàn thể theo quy định số
69 của ban bí thư Trung Ương Đảng và thông tư số 03 của ban tổchức Trung Ương hướng dẫn thực hiện QĐ số 69, hai khoản phụcấp này so với lương cấp bậc, chức vụ
Mẫu C45 này hàng năm đơn vị sử dụng lao động phải nộp 1lần vào đầu năm, làm 3 bản ký đóng dấu và gửi về BHXH tỉnh HoàBình hoặc BHXH các huyện do tỉnh quản lý Sau khi nhận đượcMẫu C45 thì cơ quan BHXH kiểm tra từng tiêu thức cụ thể
Trang 39Sau khi kiểm tra chính xác các tiêu thức cơ quan sẽ chốt tổng
số lao động và tổng quỹ lương để xác định số tiền phải nộp của cácđơn vị tham gia BHXH phải nộp trong năm Giám đốc BHXH kýxác nhận vào danh sách theo Mẫu C45 và gửi trả đơn vị 1 bản, cơquan BHXH giữ 2 bản để theo dõi
Hàng quý tiếp theo các đơn vị tham gia BHXH phải lập bảngđiều chỉnh tăng giảm mức đóng BHXH theo Mẫu 01 TBH Mẫunày mục đích để theo dõi sự biến động về lao động, tiền lương và
sự thay đổi về mức đóng BHXH của từng người trong đơn vị dựavào các quyết định tăng lương, đề bạt, thay đổi công việc, tuyểndụng mới, cho thôi việc, thuyên chuyển công tác và những quyếtđịnh ngừng, nghỉ không nộp BHXH hay bị ốm đau, nghỉ thai sản,tai nạn lao động không có khả năng đóng BHXH
Vào cuối mỗi quý cơ quan BHXH và các đơn vị tham giaBHXH do BHXH tỉnh hoặc huyện quản lý tiến hành đối chiếu thunộp theo Mẫu C46 mục đích việc đối chiếu là nhằm xác định sốtiền đã nộp và số tiền còn phải nộp của chủ sử dụng lao động với
cơ quan BHXH trong kỳ báo cáo; cơ quan BHXH chủ động xácđịnh các căn cứ để đối chiếu nộp BHXH Đó là những số liệu vềtổng số lao động, tổng số tiền lương của tháng cuối quý trước đóliền kề quý đối chiếu hoặc số liệu trên biểu Mẫu C45 đã lập từ đầunăm và mẫu tăng giảm số 01THB trong quý
Trang 40Sau khi các huyện đối chiếu với các đơn vị xong thì cơ quanBHXH huyện sẽ đối chiếu với cơ quan BHXH tỉnh để BHXH tỉnhquản lý.
Sau khi lập bảng đối chiếu chính xác các số liệu, cơ quanBHXH tỉnh và các đơn vị tham gia cũng như các huyện xác nhậnlàm 2 bản mỗi bên giữ một bản để theo dõi số tiền BHXH còn phảinộp trong quý và số dư chuyển sang năm sau
Dưới đây là số liệu về tình hình thực hiện nhiệm vụ thuBHXH trên địa bàn tỉnh Hoà Bình qua các năm