1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao năng lực tài chính của công ty cổ phần thương mại đầu tư xây dựng thăng long

73 202 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 678,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NĂNG LỰC TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1.1 Khái quát về phân tích tài chính 1.1.1 Khái niệm phân tích tài chính Phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp là việc vậ

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài:

Những năm gần đây, tình hình kinh tế trong nước cũng như khu vực và trên thế giới có nhiều bất ổn, biến động phức tạp Đứng trước thực trạng đầy khó khăn của tình hình tài chính trong nước và thế giới, cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam cũng phải đối mặt với nhiều thử thách Đã có 60.438 doanh nghiệp Biện thể, phá sản, ngừng hoạt động cao gần bằng với khoảng 64.438 doanh nghiệp đăng kí thành lập mới Một trong những nguyên nhân khiến con số doanh nghiệp phá sản ngày càng tăng là năng lực tài chính còn yếu kém từ đó dẫn đến năng lực cạnh tranh còn thấp Thực tế cho thấy việc nâng cao năng lực tài chính cho doanh nghiệp có ý nghĩa vô cùng quan trọng, ,mang tính sống còn đối với cá doanh nghiệp

Phân tích tài chính giúp cho việc nắm bắt nguyên nhân và nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động doanh nghiệp nói chung và tài chính nói riêng, từ đó có những điều chỉnh thích hợp để tránh những rủi ro và tiếp tục duy trì quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả Muốn thực hiện các hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp cần phải có điều kiện về vốn, cũng như tư liệu lao động Doanh nghiệp cần phải thực hiện các quan hệ tài chính với các chủ thể có liên quan của nền kinh tế để hình thành những giá trị của mình và đem lại lợi ích cho chủ doanh nghiệp, các chủ thể ngược lại quan tâm tới tình hình hình tài chính trên những góc độ khác nhau để thực hiện các quyết định của riêng họ như đầu tư, hợp tác, cho vay v.v

Trước thực tế trên, nhận thức được tầm quan trọng của việc nâng cao năng lực tài chính đối với các doanh nghiệp và kết hợp với kiến thức được tiếp thu ở nhà trường cùng với sự giúp đỡ hướng dẫn tận tình của các thầy cô trong khoa Tài chính – Kế toán đặc biệt là Ths Nguyễn Thị Tuyết Mai, cùng toàn thể các cô chú, anh chị trong công ty trong thời gian thực tập, tôi đã chọn đề tài:” Nâng cao năng lực tài chính của công ty Cổ Phần Thương mại Đầu tư xây dựng Thăng Long” làm khóa luận tốt nghiệp

2 Mục đích nghiên cứu.

- Phân tích thực trạng tài chính của doanh nghiệp năm 2011-2013

- Nhận dạng điểm mạnh, điểm yếu, thuận lợi, khó khăn, có thể đánh giá

về tình hình tài chính, cũng như tình hình nâng cao năng lực tài chính và đưa ra những nhận định về thực trạng tài chính và sức mạnh tài chính của doanh nghiệp

- Tìm hiểu, giải thích các nguyên

Trang 2

- Đưa ra các biện pháp thiết thực nhằm nâng cao năng lực tài chính giúp doanh nghiệp vượt qua khó khăn, khủng hoảng trước mắt, nâng cao chất lượng công tác quản lý kinh doanh, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu là tình hình tài năng lực tài chính của doanh nghiệp

- Phạm vi nghiên cứu: Thông qua việc sử dụng chủ yếu là các báo cáo tài chính

để đưa ra các đánh giá phân tích về tài chính Công ty Cổ phần Thương mại Đầu tư xây dựng Thăng Long giai đoạn 2011- 2013

4 Phương pháp nghiên cứu:

* Phương pháp luận: phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện

chứng và duy vật lịch sử

* Phương pháp nghiên cứu: phương pháp hệ thống, phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê

5 Kết cấu của chuyên đề:

Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, các chữ viết tắt,

sơ đồ, bảng biểu và các phụ lục, chuyên đề được bố cục làm 3 chương:

- Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về nâng cao năng lực tài chính của

doanh nghiệp

- Chương 2: Thực trạng tình hình tài chính và năng lực tài chính của công ty

Cổ phần Thương mại Đầu tư xây dựng Thăng Long giai đoạn 2011-2013

- Chương 3: Một số kiến nghị và biện pháp nhằm nâng cao năng lực tài chính tại công ty Cổ phần Thương mại Đầu tư xây dựng Thăng Long

Trong khoảng thời gian làm chuyên đề, do trình độ có hạn nên chuyên đề sẽ không tránh được những hạn chế và thiếu sót Em rất mong sẽ nhận được sự đóng góp

ý kiến của các thầy cô và các bạn để chuyên đề được hoàn thiện

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NĂNG LỰC

TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1.1 Khái quát về phân tích tài chính

1.1.1 Khái niệm phân tích tài chính

Phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp là việc vận dụng tổng thể các phương pháp phân tích khoa học để đánh giá chính xác tình hình tài chính của doanh nghiệp, giúp cho các đối tượng quan tâm nắm được thực trạng tài chính và an ninh tài chính của doanh nghiệp, dự đoán được chính xác các chỉ tiêu tài chính trong tương lai cũng như rủi ro tài chính mà doanh nghiệp có thể gặp phải; qua đó, đề ra các quyết định phù hợp với lợi ích của họ

1.1.2 Mục đích, ý nghĩa của phân tích tài chính

1.1.2.1 Mục đích

Mục đích cơ bản của việc phân tích tài chính là nhằm cung cấp những thông tin cần thiết cho các đối tượng sử dụng thông tin Phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp là công cụ hữu ích được dùng để đánh giá sức mạnh tài chính của doanh nghiệp, khả năng sinh lời và triển vọng phát triển, xác định giá trị kinh tế, đánh giá khách quan mặt mạnh, mặt yếu của doanh nghiệp, tìm ra nguyên nhân khách quan và chủ quan, giúp cho từng đối tượng lựa chọn và đưa ra được những quyết định phù hợp với mục đích mà họ quan tâm

1.1.2.2 Ý nghĩa

a Đối với nhà quản lý:

- Tạo ra những chu kỳ đều đặn để đánh giá hoạt động quản lý trong giai đoạn đã qua, việc thực hiện cân bằng tài chính, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán và rủi ro tài chính trong hoạt động của doanh nghiệp ;

- Đảm bảo cho các quyết định của Ban giám đốc phù hợp với tình hình thực tế của doanh nghiệp, như quyết định về đầu tư, tài trợ, phân phối lợi nhuận ;

- Cung cấp thông tin cơ sở cho những dự đoán tài chính;

- Căn cứ để kiểm tra, kiểm soát hoạt động, quản lý trong doanh nghiệp

b Đối với các nhà đầu tư:

Phân tích hoạt động tài chính đối với nhà đầu tư là để đánh giá doanh nghiệp và ước đoán giá trị cổ phiếu, dựa vào việc nghiên cứu các báo cáo tài chính, khả năng sinh lời, phân tích rủi ro trong kinh doanh

c Đối với các nhà đầu tư tín dụng:

Trang 4

Phân tích hoạt động tài chính đối với người cho vay là xác định khả năng hoàn trả nợ của khách hàng Đối với những khoản cho vay ngắn hạn, nhà cung cấp tín dụng ngắn hạn đặc biệt quan tâm đến khả năng thanh toán ngay của doanh nghiệp.Đối với các khoản cho vay dài hạn, nhà cung cấp tín dụng dài hạn phải tin chắc khả năng hoàn trả và khả năng sinh lời của doanh nghiệp mà việc hoàn trả vốn và lãi lại tuỳ thuộc vào khả năng sinh lời này.

d Đối với những người hưởng lương trong doanh nghiệp:

Phân tích tình hình tài chính giúp họ định hướng việc làm ổn định và yên tâm dốc sức vào hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp

Từ những vấn đề nêu trên, cho thấy: Phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp là công cụ hữu ích được dùng để xác định giá trị kinh tế, để đánh giá mặt mạnh, mặt yếu của doanh nghiệp, tìm ra nguyên nhân khách quan và chủ quan, giúp cho từng đối tượng lựa chọn và đưa ra được những quyết định phù hợp với mục đích

- Đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ kế hoạch bằng cách so sánh các tỷ số

kế hoạch và thực tế

- Đánh giá tốc độ, xu hướng phát triển của hiện tượng và kết quả giữa các kì kinh tế So sánh giữa số thực hiện kỳ này với số thực hiện kỳ trước để thấy được xu hướng thay đổi của tình hình tài chính doanh nghiệp, thấy được tình hình tài chính của doanh nghiệp được cải thiện hay xấu đi như thế nào để có biện pháp khắc phục trong

kỳ tới

1.1.3.2 Phương pháp tỷ lệ

Phương pháp này dựa trên ý nghĩa chuẩn mực các tỉ lệ của đại lượng tài chính trong các quan hệ tài chính Về nguyên tắc, phương pháp này yêu cầu phải xác định được các ngưỡng, các định mức để từ đó nhận xét và đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp, trên cơ sở so sánh các chỉ tiêu tỷ lệ tài chính của doanh nghiệp với các

tỷ lệ tham chiếu Phương pháp này giúp cho các nhà phân tích có thể khai thác và phân tích các số liệu một cách có hệ thống theo từng giai đoạn

Trang 5

1.1.3.3 Phương pháp chỉ số tài chính

Phân tích tỷ số tài chính là việc sử dụng những kỹ thuật khác nhau để phân tích các báo cáo tài chính của doanh nghiệp để nắm bắt được tình hình tài chính thực tế của doanh nghiệp, qua đó đề ra kế hoạch sản xuất kinh doanh có hiệu quả nhất Các tỷ số tài chính thường được chia làm 4 loại:

- Các tỷ số về khả năng thanh toán

- Các tỷ số về cơ cấu tài chính

- Các tỷ số về hoạt động

- Các tỷ số về khả năng sinh lời

- Các tỷ số về khả năng tăng trưởng

- Các tỷ số về thị trường

1.1.3.4 Phương pháp Dupont

Phương pháp này sẽ giúp các nhà phân tích nhận biết được nguyên nhân dẫn đến các hiện tượng tốt hay xấu trong doanh nghiệp Theo phương pháp này trước hết chúng ta xem xét các mối quan hệ tương tác giữa hệ số sinh lợi doanh thu với hiệu suất

sử dụng tổng tài sản (ROA)

Khi phân tích ROA cho phép xác định và đánh giá chính xác nguồn gốc làm thay đổi lợi nhuận trước lãi vay và thuế của doanh nghiệp Tiếp theo, chúng ta xem xét

tỷ lệ sinh lời trên vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp được tạo thành bởi các mối quan

hệ giữa tỷ số tổng tài sản trên vốn chủ sở hữu Trên cơ sở đó nhà quản trị đưa ra các giải pháp phù hợp để đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp

Phương trình Dupont 1:

ROA = = *

Phương trình Dupont 2:

ROE = ROA *

1.1.4 Nội dung phân tích tài chính

1.1.4.1 Phân tích cơ cấu tài sản và nguồn vốn

a Cơ cấu tài sản

Bất kì một doanh nghiệp nào cũng cần phải có tài sản Tài sản của doanh nghiệp bao gồm tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn Việc đảm bảo và phân bổ tài sản cho đầy đủ và hợp lý là điều cốt yếu tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp phát triển một cách có hiệu quả Do vậy, doanh nghiệp phải tiến hành xem xét phát triển quy mô

và cơ cấu tài sản bằng cách so sánh tổng số tài sản cuối kỳ so với đầu kỳ và tính ra tỷ

Trang 6

trọng từng loại tài sản chiếm trong tổng số và xu hướng biến động của chúng đề thấy được mức độ hợp lý của việc phân bổ.

Bảng 1.1: Cơ cấu tài sản của doanh nghiệp

1-Tiền và các khoản tương đương

2-Đầu tư tài chính ngắn hạn

3-Các khoản phải thu ngắn hạn

3-Chi phí xây dựng cơ bản dở dang

4-Ký cược, ký quỹ dài hạn

5-Tài sản dài hạn khác

Khi phân tích cơ cấu tài sản, trước tiên phân tích khái quát tài sản của doanh nghiệp ( xem xét sự biến động tăng hay giảm, nguyên nhân thay đổi và chỉ ra nguyên nhân có ảnh hưởng quyết định nhất, so sánh tỷ trọng của TSNH và TSDH xem DN đầu tư tài sản trong ngắn hay dài hạn) Sau đó phân tích chi tiết từng khoản mục của TSNH và TSDH Có thể áp dụng thứ tự phân tích các khoản mục từ tỷ trọng lớn đến tỷ trọng nhỏ hoặc theo thứ tự xuất hiện các khoản mục trong bảng Mỗi một khoản mục cần chỉ ra sự biến động, lý giải nguyên nhân và kết luận về sự biến động đó có những

ý nghĩa gì đối với doanh nghiệp hoặc đề xuất các giải pháp hợp lý cho doanh nghiệp

Trong TSNH, phân tích các khoản tiền và tương đương tiền để thấy được lượng

dự trữ tiền của doanh nghiệp đã đảm bảo được sự hợp lý hay không Khoản đầu tư tài chính ngắn hạn cho thấy được lĩnh vực đầu tư tài chính của doanh nghiệp Khoản mục các khoản phải thu ngắn hạn để đánh giá tình hình vốn bị chiếm dụng của doanh nghiệp

Trong TSDH chủ yếu phân tích khoản mục tài sản cố định để đánh giá về năng lực của doanh nghiệp tùy từng loại hình kinh doanh mà doanh nghiệp đó đang hoạt động Khoản chi phí xây dựng cơ bản dở dang là khoản đầu tư cho tài sản dài hạn, được dùng để mở rộng quy mô doanh nghiệp và sẽ chuyển vào giá trị tài sản cố định khi hoàn thành

b Cơ cấu nguồn vốn

Trang 7

Vốn là điều kiện vật chất không thể thiếu được trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp để mở rộng quy mô Cơ cấu nguồn vốn là một trong những tiêu chí đầu tiên phản ánh năng lực tài chính của doanh nghiệp

Bảng 1.2: Cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp

trọng A-Nợ phải trả

Trong nguồn vốn, nợ phải trả là nhân tố quan trọng Nó phản ảnh vốn đi chiếm dụng của doanh nghiệp và từ đó có thể xem xét khả năng độc lập hay phụ thuộc của doanh nghiệp đó

Nợ phải trả bao gồm nợ ngắn hạn và nợ dài hạn Nợ ngắn hạn đề cập đến các khoản phải trả, phải nộp của doanh nghiệp đế đánh giá về tình hình chiếm dụng, sau

đó là các khoản vay và nợ để đánh giá về chi phí tài chính Nợ dài hạn cũng tương tự

Trong vốn chủ sở hữu, cần lưu ý đến khoản mục vốn chủ sở hữu Cơ cấu vốn có vốn chủ sở hữu cao thì có tính độc lập về mặt tài chính, ngược lại doanh nghiệp sẽ bị phụ thuộc về mặt tài chính nhưng lúc đó lại có thể tận dụng linh hoạt lợi ích của đòn bẩy tài chính mang lại Tuy nhiên cũng cần xem xét về điều kiện và hoàn cảnh của doanh nghiệp đó để xem xét cơ cấu vốn đó là hợp lý hay chưa

Trong khoản mục vốn chủ sở hữu bao gồm những khoản mục cần chú ý như vốn đầu tư của chủ sở hữu, lợi nhuận sau thuế chưa phân phối để giữ lại và mở rộng quy mô hoạt động và các loại nguồn quỹ của doanh nghiệp

Sau khi phân tích cơ cấu tài sản và nguồn vốn, ta đưa ra một số nhận xét về chúng Ta phân tích cân đối tài sản- nguồn vốn thông quan các đẳng thức giữa vốn chủ

sở hữu với các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, hàng tồn kho, tạm ứng, chi phí trả

Trang 8

trước , chi phí sản xuất dở dang Mối quan hệ này trong thực tế thường xảy ra hai trường hợp:

- Nếu vế trái lớn hơn vế phải thì nguồn vốn chủ sở hữu không sử dụng hết, bị các đơn vị khác chiếm dụng

- Nếu vế trái nhỏ hơn vế phải thì doanh nghiệp không đủ nguồn vốn chử sở hữu để trang trải cho những hoạt động tất yếu, doanh nghiệp phải đi vay vốn

1.1.4.2Phân tích kết quả kinh doanh

Bảng 1.4: Phân tích kết quả kinh doanh theo chiều ngang

N+1

Chênh lệch

1 Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ

2 Các khoản giảm trừ doanh thu

3.Doanh thu thuần từ bán hàng và dịch vụ

4.Giá vốn hàng bán

5.Lợi nhuận gộp từ bán hàng và cung cấp dịch vụ

6.Doanh thu từ hoạt động tài chính

7.Chi phí tài chính

8.Chi phí bán hàng

9.Chi phí quản lý doanh nghiệp

10.Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh

11.Thu nhập khác

12.Chi phí khác

13.Lợi nhuận khác

14.Lợi nhuận trước thuế

15.Thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành

16.Thuế thu nhập doanh nghiệp hoãn lại

17.Lợi nhuân sau thuế thu nhập doanh nghiệp

Suy cho cùng mọi hoạt động của doanh nghiệp đều có mục đích là lợi nhuận Phân tích kết quả kinh doanh có 2 cách: theo chiều ngang và theo chiều dọc

Có 3 cách phân tích kết quả kinh doanh theo chiều ngang Một là phân tích riêng lẻ từng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, mỗi hoạt động có một bảng phân tích riêng Hai là tiến hành phân tích lần lượt từng chỉ tiêu có trong bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Và sau đây là cách phân tích thứ ba

Trước tiên xem xét về lợi nhuận trước thuế Có 2 nhóm nguyên nhân làm nên

sự biến động của lợi nhuận trước thuế:

- Nhóm 1: nhóm nhân tố ảnh hưởng cùng chiều với lợi nhuận bao gồm: Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, doanh thu hoạt động tài chính và thu nhập khác

Trang 9

- Nhóm 2: nhóm nhân tố ảnh hưởng ngược chiều đến lợi nhuận bao gồm: các khoản giảm trừ doanh thu, giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí tài chính và chi phí khác Sau đó tổng hợp ảnh hưởng của 2 nhóm nhân

tố và rút ra nhân tố ảnh hưởng quyết định nhất Cuối cùng, so sánh tốc độ tăng của DTT với chi phí bán hàng, chi phí QLDN và giá vốn hàng bán để đánh giá mức độ tiết kiệm hay lãng phí trong việc sự dụng chi phí của hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Phân tích kết quả kinh doanh theo chiều dọc chú trọng hơn về sự thay đổi tỷ trọng của các khoản mục tức đi vào bản chất của từng mục

1.2 Năng lực tài chính doanh nghiệp

1.2.1 Quan niệm

Tài chính là một phạm trù kinh tế, phản ánh các quan hệ phân phối của cải xã hội dưới hình thực giá trị Phát sinh trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ của các chủ thế trong nền kinh tế nhằm đặt được mục tiêu của các chủ thể ở mỗi điều kiện nhất định

Năng lực tài chính của một doanh nghiệp là nguồn lực tài chính của bản thân doanh nghiệp, là khả năng tạo tiền, tổ chức lưu chuyển tiền hợp lý, đảm bảo khả năng thanh toán thể hiện ở quy mô vốn, chất lượng tài sản và khả năng sinh lời…đủ để đảm bảo và duy trì hoạt động kinh doanh được tiến hành bình thường Năng lực tài chính của doanh nghiệp được đánh giá dựa trên yếu tố định lượng và yếu tố định tính:

- Các yếu tố định lượng thể hiện nguồn lực tài chính hiện có, bao gồm: quy mô vốn, chất lượng tài sản, khả năng thanh toán và khả năng sinh lời…

- Các yếu tố định tính thể hiện khả năng khai thác, quản lý, sử dụng các nguồn lực tài chính, thể hiện qua trình độ tổ chức, công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực…

1.2.2 Các chỉ tiêu phản ánh năng lực tài chính doanh nghiệp

1.2.2.1 Các chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán

Trang 10

GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Mai

nợ phải trả hay khôngNgưỡng so sánh của chỉ tiêu này là 1

Chỉ tiêu này cho biết tổng giá trị TSNH hiện có của

DN có đảm bảo thanh toán các khoản nợ NH

Chỉ tiêu này càng cao, thể hiện DN tự chủ trong hoạt động tài chính và ngược lại

Ngưỡng so sánh của chỉ tiêu là 1 Trên thực tế khi trị

số của chỉ tiêu này lớn hơn hoặc bằng 2 thì doanh nghiệp mới hoàn toàn đảm bảo khả năng thanh toán

Ngưỡng so sánh của chỉ tiêu là 1 Trên thực tế, khi trị

số của chỉ tiêu này lớn hơn hoặc bằng 2 doanh nghiệp mới đảm bảo hoàn toàn khả năng thanh toán nhanh nợ ngắn hạn

Chỉ tiêu này chỉ cho biết mức độ thanh toán nhanh hơn mức bình thường mà chưa đủ để khẳng định doanh nghiệp có khả năng thanh toán các khoản nợ đáo hạn hay không

Chỉ tiêu này thấp quá, kéo dài chứng tỏ DN không

có đủ khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn, dấu hiệu rủi ro tài chính xuất hiện, nguy cơ phá sản

có thể xảy ra

Ngưỡng so sánh của chỉ tiêu là 1

Tương ứng với 1 đồng nợ DH có bao nhiêu đồng 10

Trang 11

1.2.2.2 Các chỉ tiêu phản ánh mức độ độc lập về mặt tài chính

Trang 12

STT Chỉ tiêu Công thức Ý nghĩa

Để tài trợ cho 1 đồng TS, DN sử dụng bao nhiêu đồng nợ Nếu hệ số nợ càng thấp thì mức độ an toàn của vốn vay cao Hệ số nợ càng cao khả năng thanh toán càng khó khăn, DN cần xem xét khả năng vay vốn của mình

3

Tỷ suất đầu tư vào

tài sản dài hạn Cho biết cơ cấu đầu tư vào TSDH trong tổng TS của DN DN chú trọng đầu tư vào

TSNH hơn hay TSDH hơn

4

Tỷ suất tự tài trợ

tài sản cố định

Để tài trợ cho 1 đồng TSCĐ, DN sử dụng bao nhiêu đồng VCSH Nếu chỉ tiêu này <

1, mọi quyết định đầu tư, mua bán liên quan đến DN đó phải hủy bỏ Nếu chỉ tiêu này

> 1, số VCSH của DN đủ và thừa để trang trải TSCĐ

Trang 13

1.2.2.3 Các chỉ tiêu phản ánh năng lực hoạt động

1 Vòng quay tài sản

Trong 1 năm hoặc 1 chu kỳ kinh doanh, TS quay được bao nhiêu vòng Chỉ tiêu này cao, chứng tỏ TS và điều kiện nâng cao lợi nhuận cho doanh nghiệp Nếu chỉ tiêu này thấp có thể là do hang tồn kho, sản phẩm dở dang nhiều làm doanh thu của doanh nghiệp giảm

2 Vòng quay tài sản ngắn hạn

Trong 1 năm hoặc 1 chu kỳ kinh doanh TSNH quay được bao nhiêu vòng Hoặc cho biết 1 đồng giá trị TSNH trong kỳ thu được bao nhiêu đồng DTT Chỉ tiêu này càng cao, thể hiện TSNH vận động nhanh, đó

là nhân tố góp phần nâng cao lợi nhuận

3 Vòng quay hàng tồn kho

Phản ánh số lần HTK luân chuyển trong kỳ Hệ số này lớn phản ánh tốc độ luân chuyển của HTK nhanh và ngược lại Doanh nghiệp thực hiện tốt công tác bán hàng

4 Vòng quay các khoản phải thu

Phản ánh tốc độ thu hồi công nợ của doanh nghiệp Là thước đo để đánh giá tình hình chiếm dụng và đi chiếm dụng vốn của doanh nghiệp

Trang 14

5 Kỳ thu tiền

bình quân

Trong 1 năm, 1 chu kỳ kinh doanh doanh nghiệp mất bao nhiêu ngày để thu hồi nợ Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ công tác thu hồi công nợ của doanh nghiệp Tích cực thu hồi lượng tiền bị chiếm dụng gia tăng vốn lưu động cho sản xuất Nếu chỉ tiêu này thấp, doanh nghiệp bị hao hụt 1 lượng vốn nhất định dùng cho sản xuất Doanh nghiệp sẽ phải huy động vôn

hoặc đi chiếm dụng vốn của các đối tượng khác

6 Vòng quay các

khoản phải trả

Chỉ tiêu này cho biết trong 1 năm các khoản phải trả người bán quay được bao nhiêu vòng Chỉ tiêu này cao chứng tỏ doanh nghiệp thanh toán tiền hàng kịp thời, ít đi chiếm dụng vốn Chỉ tiêu này cao quá, có thể do doanh nghiệp thừa tiền nên thanh toán sớm Ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn

1.2.2.4 Các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lợi

Trang 15

Nhóm tỷ

số khảnăng sinh lợi hoạt

d Khả năng sinh lợi sau thuế

Tương ứng với 1 đồng thu nhập từ các hoạt động, doanh nghiệp có bao nhiêu đồng LNST

a Khả năng sinh lợi của TS (ROA)

ROA được dùng để đánh giá khả năng sinh lời của 1 đồng vốn đầu tư Chỉ số này cho biết cứ 1 đồng TS thì doanh nghiệp sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận Đồng thời chỉ số này cũng đánh giá hiệu suất sử dụng TS của doanh nghiệp Hệ số này càng cao thì cổ phiếu càng có sức hấp dẫn hơn vì hệ số này cho biết khả năng sinh lời từ chính nguồn TS hoạt động của doanh nghiệp

Trang 16

b Khả năng sinh lợi của doanh thu (ROS)

Tương ứng với 1 đồng DTT, thu được bao nhiêu đồng LNST ROS càng cao thì hiệu quả kinh doanh càng cao và ngược lại

c Khả năng sinh lợi của vốn chủ sở hữu (ROE)

Đây là chỉ tiêu mà nhà đầu tư rất quan tâm vì nó cho biết khả năng tạo lãi của

1 đồng vốn họ bỏ ra để đầu tư vào công ty Tỷ lệ ROE càng cao càng chứng tỏ công ty sử dụng hiệu quả đồng vốn của cổ đông

d Khả năng sinh lợi của vốn kinh doanh (ROC)

Vốn huy độngbq= VCSH+ Vay,nợ ngắn hạn+ Vay, nợ dài hạn

Tương ứng với 1 đồng vốn huy động, tạo ra bao nhiêu đồng LNST Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn huy động của doanh nghiệp

Trang 17

1.2.2.5 Các chỉ tiêu phản ánh khả năng tăng trưởng

4 Tỷ lệ tăng trưởng

Tỷ số này cho biết tốc độ tăng trưởng lợi nhuận cao nhất mà doanh nghiệp có thể đạt được nếu không tăng vốn chủ sở hữu

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực tài chính của doanh nghiệp

1.3.1 Nhân tố chủ quan

- Trình độ năng lực quản lý của doanh nghiệp: Quyết định của nhà quản trị doanh nghiệp là vô cùng quan trọng, mang lại nhiều lợi thế cho doanh nghiệp trong việc sử dụng hợp lý các nguồn lực đạt được mục đích đã đề ra

- Đặc điểm của ngành kinh doanh: Mỗi ngành nghề kinh doanh có đặc điểm kinh

tế - kỹ thuật riêng ảnh hưởng tới tình hình tài chính của doanh nghiệp Nó chi phối tỷ trọng các loại tài sản, nhu cầu vốn lưu động và chu kì kinh doanh

- Hình thức pháp lý: Mỗi loại hình doanh nghiệp có những đặc điểm riêng và từ

đó tạo nên những hạn chế hay lợi thế Loại hình doanh nghiệp không chỉ ảnh hưởng tới

Trang 18

sự hình thành, tồn tại và phát triển của doanh nghiệp mà còn ảnh hưởng tới năng lực tài chính của doanh nghiệp trong suốt quá trình hoạt động

1.3.2 Nhân tố khách quan

- Lạm phát: Khi nền kinh tế có lạm phát cao thì việc tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp gặp khó khăn khiến cho năng lực tài chính của doanh nghiệp giảm

- Lãi suất thị trường ảnh hưởng trực tiếp đến cơ hội đầu tư, chi phí sử dụng vốn và

cơ hội huy động vốn của doanh nghiệp Không những vậy nó còn ảnh hưởng gián tiếp đến tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Vì khi lãi suất tăng người dân có xu hướng tiết kiệm nhiều hơn là tiêu dùng, từ đó hạn chế việc tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp

- Chính sách kinh tế và tài chính của nhà nước đối với doanh nghiệp: các chính sách khuyến khích đầu tư, thuế; chính sách xuất- nhập khẩu, chế độ khấu hao TS cố định

- Môi trường kinh tế: Nếu nền kinh tế tăng trưởng thì doanh nghiệp có nhiều cơ hội đầu tư phát triển Từ đó đòi hỏi doanh nghiệp phải tích cực áp dụng các biện pháp huy động vốn đáp ứng yêu cầu đầu tư Nếu nền kinh tế suy thoái doanh nghiệp khó tìm được cơ hội để đầu tư

- Mức độ cạnh tranh: Môi trường cạnh trang càng cao thì doanh nghiệp càng nỗ lực để có thể tồn tại, đứng vững trên thị trường

- Tự nhiên - Cở sơ hạ tầng: Nếu yếu tố tự nhiên thuận lợi, cơ sở hạ tầng vững chắc góp phần thành công cao hơn cho kinh doanh

1.4 Một số biện pháp nâng cao năng lực tài chính của doanh nghiệp

1.4.1 Biện pháp về mặt tổ chức

Nâng cao trình độ cho cán bộ công nhân viên, tay nghề cho người lao động, hoàn thành công tác tổ chức và quản lý thông qua các khóa học ngắn hạn, nâng cao công tác tổ chức bộ máy doanh nghiệp năng động phù hợp với môi trường kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả Thực hiện các chính sách đào tạo, lương thưởng, trợ cấp và các chính sách khác đối với người lao động

1.4.2 Biện pháp về mặt tài chính

Để nâng cao hiệu quả về mặt tài chính cần tập trung khai thác các nguồn lực tài chính, tạo nguồn vốn cho sản xuất kinh doanh thông qua các loại hình như huy động vốn nhàn rỗi của cán bộ trong doanh nghiệp, vay ngân hàng, vay từ tổ chức tín dụng…Xây

Trang 19

dựng cơ cấu vốn hợp lý, đồng thời đưa ra phương hướng đầu tư sử dụng hợp lý các TS sao cho mang lại hiệu quả cao trên chi phí thấp.

- Chủ động huy động vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh

- Có biện pháp quản lý thu hồi vốn nhanh các khoản nợ phải thu

- Tăng cường quản lý các khoản vốn bằng tiên nhằm mục tiêu nâng cao khả năng thanh toán

- Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động trên cơ sở quản lý và sử dụng hiệu quả

TS lưu động

- Nâng cao hiệu quả sử dụng TS cố định

1.4.3 Biện pháp về mặt quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh

Tăng doanh thu: Tăng sức sản xuất của các yếu tố đầu vòa bằng nhiều biện pháp

khác nhau như:

- Có chiến lược nghiên cứu và xâm nhập thị trường trong nước, thế giới thích hợp nhằm mở rộng thị trường Tăng thị phần của doanh nghiệp Xây dựng phương án kinh doanh hợp lý để cung ứng tốt cho nhu cầu của thị trường

- Tăng sức cạnh tranh cho sản phẩm băng cách nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm, đảm bảo yêu cầu kỹ thuật của sản phẩm

- Tăng doanh thu bằng cách sử dụng nhiều hình thức kinh doanh như: Bán buôn, bán lẻ, bán qua kho, cửa hàng, qua mạng, qua đại lý.Vận dụng tốt các chiến lược

marketing để hỗ trợ cho công tác tiêu thụ

- Không ngừng nâng cao sức mạnh, uy tín của doanh nghiệp trên thị trường để tăng sức cạnh tranh, có thể đứng vững và phát triển trên thị trường trong mọi điều kiện

Giảm chi phí sản xuất là một khâu quan trọng trong quá trình tạo ra hiệu quả sản

xuất kinh doanh cho doanh nghiệp Các chi phí này bao gồm: Chi phí sản xuất, chi phí bán hàng, chi phí tiền lương…Các khoản chi này phải được sử dụng một cách hợp lý nhằm mục tiêu hạ giá thành, tăng năng suất tiêu thụ

Tăng lợi nhuận và hiệu quả kinh doanh nhờ có nghệ thuật trong kinh doanh:

- Tăng cường bán mặt hàng có tỷ suất chi phí thấp nhưng tỷ suất lợi nhuận cao

- Tận dụng tối đa đồng vốn bên ngoài để mở rộng kinh doanh nhằm tăng hiệu quả kinh doanh

- Quản lý, sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực để tăng năng suất lao động

Trang 20

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH VÀ NĂNG LỰC TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI ĐẦU

TƯ XÂY DỰNG THĂNG LONG GIAI ĐOẠN 2011-2013

2.1 Giới thiệu khái quát về công ty Cổ phần thương mại Đầu tư Xây dựng Thăng Long

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển

- Tên công ty: Công ty Cổ phần thương mại Đầu tư xây dựng Thăng Long

- Trụ sở giao dịch: Số 5 Minh Khai, Hồng Bàng, Lê Chân, Hải Phòng

- Mã số thuế: 0200 944686

- Vốn điều lệ: 12.000.000.000 VND

Lĩnh vực kinh doanh: Sản xuất nguyên vật liệu xây dựng, xây lắp, thương mại…

- Ngày 02/6/1992, công ty TNHH Đầu tư Xây dựng Thăng Long được thành lập

do Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hải Phòng cấp

- Ngày 5/02/20012, Công ty cổ phần hóa và được đổi tên thành công ty Cổ phần Thương mại Đầu tư xây dựng Thăng Long

Nhiệm vụ, mục tiêu của Công ty là:

- Đổi mới, hiệu quả và phát triển bền vững; mọi cán bộ quản lý và người lao động của công ty phải nỗ lực cao nhất để hoàn thành nhiệm vụ đề ra, góp phần xây dựng môi trường làm việc dân chủ, tin tưởng, gắn bó với doanh nghiệp, tạo khối đoàn kết, thống nhất, không ngừng nâng cao năng suất lao động và hiệu quả hoạt động kinh doanh, xây dựng công ty phát triển bền vững

- Xây dựng các công trình và thực hiện kế hoạch đã đề ra nhằm đảm bảo về tiến độ, chất lượng và hiệu quả kinh doanh

- Xây dựng các công trình, ký kết các hợp đồng và vay vốn xây dựng công trình theo phương thức tự hạch toán

- Hoàn thanh các mục tiêu về tiến độ thi công các dự án đã trúng thầu và các dự án đầu tư

- Đảm bảo đời sống vật chất ổn định đời sống văn hóa tinh thần phong phú

- Đầu tư một cách hiệu quả vào các lĩnh vực tài chính, khu thương mại, chung cư, đầu tư vốn vào các công ty liên kết, công ty cổ phần khác

2.1.2 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty Cổ phần Thương mại Đầu tư xây dựng Thăng Long

Trang 21

- Xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp, giao thông, thủy lợi, công trình

kỹ thuật cơ sở hạ tầng;

- Lắp đặt điện nước, điện lạnh, trang trí ngoại nội thất công trình;

- Xây lắp đường dây và trạm biến áp đến 35KV;

- Sản xuất và buôn bán: Vật liệu xây dựng, máy móc, thiết bị xây dựng, tấm trần, vật liệu chống thấm, đồ gỗ gia dụng, hàng trang trí nội thất, hàng thủ công mỹ nghệ;

- Kinh doanh dịch vụ bất động sản: dịch vụ tư vấn bất động sản; dịch vụ quảng cáo bất động sản; dịch vụ quản lýbất động sản; dịch vụ môi giới bất động sản; dịch vụ đấu giá bất động sản; dịch vụ định giá bất động sản; dịch vụsàn giao dịch bất động sản;

- Khai thác đá, cát, sỏi, đất sét;

- Sản xuất xi măng, vôi, vật liệu xây dựng từ đất sét;

- Sản xuất các cấu kiện kim loại, thùng, bể chứa và nồi hơi;

- Sản xuất sản phẩm khắc bằng kim loại; các dịch vụ xử lý, gia công, kim loại;

- Sản xuất các thiết bị nâng, hạ và bốc xếp;

- Sản xuất máy khai thác mỏ và xây dựng;

- Lắp đặt máy móc và thiết bị công nghiệp;

- Bán buôn máy móc, thiết bị và phụ tùng máy khác;

- Vận chuyển hành khách bằng ô tô theo hợp đồng và tuyến cố định;

- Vận tải hàng hoá bằng đường bộ;

- Phá dỡ và chuẩn bị mặt bằng;

- Kho bãi và lưu giữ hàng hoá;

2.1.3 Cơ cấu tổ chức của công ty Cổ phần Thương mại Đầu tư xây dựng Thăng Long

Hội đồng quản trị:

- Quyết định chiến lược phát triển của Công ty

- Quyết định phương án đầu tư

- Quyết định giải pháp phát triển thị trường, tiếp thị và công nghệ

- Quyết định cơ cấu tổ chức, quy chế quản lý nội bộ Công ty, Quyết định thành lập

Công ty con, lập chi nhánh văn phòng đại diện và việc góp vốn, mua cổ phần của các doanh nghiệp khác

- Kiến nghị việc tổ chức lại hoặc giải thể Công ty

- Chịu trách nhiệm trước Đại hội đồng về những sai phạm trong quản lý, vi phạm

điều lệ, vi phạm pháp luật, gây thiệt hại cho Công ty

Trang 22

Tổng giám đốc

- Tổ chức thực hiện các quyết định của Hội đồng quản trị

- Tổ chức thực hiện kế hoạch, kinh doanh và phương án đầu tư của Công ty, bảo

toàn và phát triển vốn

- Đại diện Công ty trong việc khởi kiện các vụ án có liên quan đến quyền lợi của

Công ty khi được Hội đồng quản trị uỷ quyền bằng văn bản

Ban kiếm soát

- Kiểm soát toàn bộ hệ thống tài chính và việc thực hiện các quy chế của công ty:

Kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp, tính trung thực và mức độ cẩn trọng trong quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh, trong tổ chức công tác kế toán, thống kê và lập báo cáo tài chính Thẩm định báo cáo tình hình kinh doanh, báo cáo tài chính theo các định kỳ cũ

- Xem xét sổ kế toán và các tài liệu khác của Công ty, các công việc quản lý, điều

hành hoạt động của Công ty

- Kiểm tra bất thường: Khi có yêu cầu, Ban Kiểm soát thực hiện kiểm tra trong thời

hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày kết thúc kiểm tra, Ban kiểm soát phải báo cáo giải trình về những vấn đề được yêu cầu kiểm tra đến Hội quản trị và cổ đông và nhóm cổ đông có yêu cầu

Phòng kinh doanh

- Công tác kế hoạch: xây dựng và lập kế hoạch sản xuất kinh doanh hàng năm, theo

dõi việc thực hiện kế hoạch, lập kế hoạch báo cáo định kỳ theo yêu cầu của lãnh đạo

- Công tác kinh doanh, marketing, chăm sóc khách hàng, thực hiện việc nghiên cứu thị

trường, lấy ý kiến người tiêu dùng, tổng kết thành bản báo cáo chung về thị trường hàng quý, hàng năm

- Thiết lập hệ thống đại lý phân phối để thực hiện việc kinh doanh của công ty, hoạt động của phòng kinh doanh ở hệ thống đại lý phân phối

Phòng hành chính kế toán

- Theo dõi và báo cáo giám đốc công ty tình hình sử dụng vốn công ty

- Cung cấp kịp thời, chính xác mọi thông tin về tình hình hoạt động SXKD, tham

mưu với BGĐ sử lý kịp thời trong quá trình điều hành sản xuất

- Tổ chức việc hoạt động hành ngày của bộ máy công ty

Phòng KH-KT

- Xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh tổng hợp hàng tháng, quý, năm

Trang 23

- Tổng hợp kế hoạch các lĩnh vực do các phòng chuyên môn và các đơn vị lập để xây

dựng kế hoạch chung trong toàn Công ty (kế hoạch sản xuất kinh doanh, kế hoạch đầu tư,

kế hoạch sửa chữa máy móc thiết bị, kế hoạch cân đối và sử dụng nhân lực )

- Cùng với các phòng nghiệp vụ Công ty :Kế hoạch sử dụng vốn và tài vụ, kế hoạch

vật tư – kho hàng – vận tải, kế hoạch sản xuất – nghiên cứu kỹ thuật, kế hoạch xây dựng

cơ bản, kế hoạch lao động tiền lương, kế hoạch tiếp thị và liên kết kinh tế

- Theo dõi tình hình thực hiện kế hoạch tháng, quý, năm của các đơn vị trực thuộc

KH-Phòng hành chính- kế toán

BAN KIỂM SOÁT

BAN KIỂM SOÁT

Xưởng sản xuất Phòng kinh

doanh

Trang 24

Qua các số liệu thực tế trên, ta thấy kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty qua các năm 2011 – 2013 không được ổn định.

- Tổng vốn chủ sở hữu: Nhìn chung cả 3 năm tổng vốn của công ty có không

có sự biến động nhiều Cụ thể là năm 2012, vốn chủ sở hữu giảm nhẹ 3,22% do trong năm 2012, công ty chuyển một khoản tiền vào các quỹ dự phòng tài chính, khen thưởng phúc lợi để nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cũng như nâng cao công tác

dư phòng rủi ro cho tài chính của mình Năm 2013 tổng vốn chủ sở hữu là hơn 15 triệu, có sự gia tăng này do sự gia tăng lên của lợi nhuân sau thuế, công ty làm ăn có lãi hơn so với năm 2012 Tuy nhiên vốn chủ sở hữu không phải là nguồn vốn chủ yếu

mà doanh nghiệp chiếm dụng

- Năm 2011, tổng doanh thu của công ty đạt gần 103 tỷ đồng, sau đó giảm

xuống chỉ còn 64 tỷ đồng vào năm 2012 (giảm 37,53% so với năm 2011) do trong năm

2012, hoạt động bán hàng của công ty gặp vấn đề mà cụ thể là gặp khó khăn với công tác tiêu thụ hàng tồn kho Đến năm 2013, tổng doanh thu của công ty tăng trở lại và đạt gần 139 tỷ đồng (tăng 118,07%) do hoạt động về bán hàng tăng lên Doanh nghiệp

đã mạnh bạo cho giá xi măng bán lẻ trên thị trường tăng trung bình 2000 đồng/bao và

đã bán được phần lớn là xi măng (clinker), đồng thời đến thời điểm cuối năm là gạch

ốp lát do nhu cầu sửa chữa nhà cửa, hoàn thiện công trình tăng lên Bên cạnh đó sự tăng mạnh của doanh thu tài chính và khoản thu nhập khác của công ty cũng góp phần làm cho tổng doanh thu tăng đáng kể tại năm 2013 này

Dù có sự khởi sắc vào năm 2013 nhưng xét chung cả 3 năm thì tổng doanh thu của doanh nghiệp không có sự ổn định Nguyên nhân của sự không ổn định này có thể nói phần lớn do bối cảnh kinh tế trong nước cũng như trên thế giới Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới diễn ra gây ảnh hưởng rất lớn đến các nền kinh tế nói chung và các doanh nghiệp nói riêng: lạm phát, thất nghiệp tăng cao, thị trường không ổn định, nhiều doanh nghiệp làm ăn thua lỗ Do vậy để duy trì được chỗ đứng trên thị trường trong bối cảnh này đòi hỏi các doanh nghiệp phải có sự nỗ lực và cẩn trọng trong việc huy động và sử dụng vốn Dẫn chứng cụ thể chính là những con số thể hiện tổng chi phí của công ty trong giai đoạn này

- Năm 2011, tổng chi phí của công ty là hơn 100 tỷ đồng tại năm 2011 sau đó

giảm xuống còn hơn 63 tỷ trong năm 2012 (giảm 37,53%) do sự giảm mạnh của giá vốn hàng bán (từ hơn 91 tỷ xuống hơn 54 tỷ) Có thể nói việc giảm thiểu chi phí phần nào giúp giảm thiểu rủi ro của công ty trong thời kỳ khủng hoảng Đến năm 2013, công ty đẩy mạnh đầu tư trở lại, tuy nhiên do một phần vẫn còn bị ảnh hưởng của tỷ lệ lạm phát cao, công ty mở thêm một số hợp đồng vay nợ với ngân hàng (cụ thể là 3 hợp

Trang 25

đồng với ngân hàng BIDV-CN Hải Phòng với thời hạn 60 tháng) đồng thời chi phí quản lý doanh nghiệp cũng theo đà tăng lên nên chi phí bỏ ra của công ty tăng lên đến hơn 136 tỷ đồng Tốc độ tăng của tổng chi phí (118,15%) nhỉnh hơn so với tốc độ tăng của tổng doanh thu của doanh nghiệp năm 2013 kéo theo tổng lợi nhuận sau thuế có sự gia tăng đáng kể so với năm 2012 nhưng không bằng năm 2011.

- Tổng lợi nhuận sau thuế: Theo đó lợi nhuận của công ty có xu hướng giảm rõ

rệt vào năm 2012 với số tiền hơn 1 tỷ, giảm 57,98% so với năm 2012 vì năm này hàng tồn kho của doanh nghiệp bị ứ đọng đặc biệt là gạch xây dựng, thép và công tác tiêu thụ chưa tốt nên doanh thu thu về không cao Đến năm 2013, vấn đề của năm 2012 đã được chú trọng giải quyết nên lợi nhuận sau thuế đạt hơn 2 tỷ, đã có dấu hiệu phục hồi nhưng chưa đạt bằng năm 2011 do tổng doanh thu tăng nhưng đồng thời tổng chi phí cũng tăng xấp xỉ

Nhìn chung, trong giai đoạn này tuy công ty đã có sự điều tiết trong việc sử dụng vốn nhưng hiệu quả đạt được không thực sự hiệu quả do nguồn lợi nhuận thu được không có sự ổn định Đây là một vấn đề mà doanh nghiệp cần giải quyết để có thể phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh của mình

- Thuế: Tại năm 2011, khoản thuế cần nộp là hơn 400 triệu đồng nhưng đến năm

2012, khoản thuế phải nộp cho Nhà nước đã giảm 58,06% tức là doanh nghiệp chỉ còn nộp hơn 160 triệu đồng Lí do tại thời điểm này doanh nghiệp tăng mạnh khoản nợ bên ngoài để giảm thiểu chi phí nhờ tác dụng của đòn bẩy tài chính nhưng nó cũng phản ánh thực trạng làm ăn không tốt của doanh nghiệp vào năm 2012 Đến năm 2013, con

số thuế phải nộp tăng lại tăng lên tới gần 400 triệu, gần bằng so với năm 2011 Như vậy trong năm 2013, công ty đã tận dụng được hiệu quả các khoản nợ từ bên ngoài và làm ăn có lãi hơn năm 2012 nên mức thuế tăng thêm Công ty luôn đảm bảo hoàn thành nghĩa vụ và trách nhiệm nộp thuế đối với Nhà nước

- Số lao động bình quân: ta thấy năm 2012, doanh nghiệp cần thêm lao động,

từ 187 người lên đến 214 người ( tăng thêm 27 người) vì trong năm này, doanh nghiệp thực hiện thanh lí một số máy

cũ nên cần tăng sức lao động để đảm bảo tiến độ dây chuyền sản xuất, đồng thời góp phần nhỏ giải quyết được công ăn việc làm cho một lượng lao động trong và ngoài tỉnh Đến năm 2013, doanh nghiệp đầu tư thêm máy móc vì thế số lao động giảm xuống còn 201 người Hơn nữa, do đặc điểm chủ yếu của doanh nghiệp là sản xuất và lắp đặt nên cần một lượng công nhân nhất định vì thế số lao động bình quân của doanh nghiệp là hợp lý và thể hiện rằng quy mô của doanh nghiệp là tương đối lớn

Trang 26

- Thu nhập bình quân: Dù số lao động của doanh nghiệp biến động lúc tăng

lúc giảm nhưng ta thấy lương của công nhân viên vẫn tăng qua các năm, cụ thể là lần lượt như sau: 4,1 triệu/người vào năm 2011; tăng thêm 30,49% vào năm 2012 và tiếp tục tăng thêm 2,8% vào năm 2013 Như vậy doanh nghiệp quan tâm tới chất lượng cũng như đời sống vật chất, tinh thần cho công nhân viên- nguồn lực quan trọng cho

sự tồn tại và phát triển của công ty

Như vậy, qua phân tích trên ta thấy trong giai đoạn 2011-2013, ảnh hưởng bởi nền kinh tế đang thời kỳ khủng hoảng nên tình hình của công ty không ổn định Lợi nhuận không tăng nhiều nhưng Công ty Cổ phần Thương mại Đầu tư xây dựng Thăng Long vẫn mở rộng sản xuất và duy trì tình hình kinh doanh của mình và đạt được một

số hiệu quả nhất định Với những vấn đề mà công ty còn gặp phải trong giai đoạn này, công ty nên lập ra những biện pháp hợp lý và hiệu quả để doanh nghiệp có thể đứng vững trên thương trường kinh doanh trong thời gian tới

2.2 Thực trạng năng lực tài chính của công ty Cổ phần Thương mại Đầu tư xây dựng Thăng Long giai đoạn 2011-2013

2.2.1 Phân tích tình hình tài chính tại công ty Cổ phần Thương mại Đầu tư xây dựng Thăng Long giai đoạn 2011-2013

2.2.1.1 Phân tích cơ cấu tài sản và nguồn vốn.

a Phân tích cơ cấu tài sản

* Phân tích khái quát tài sản của doanh nghiệp

Tại năm 2011 tổng tài sản của doanh nghiệp là hơn 90 tỷ Đến năm 2012 tổng tài sản của doanh nghiệp là hơn 122 tỷ Năm 2013 hơn 162 tỷ, tăng hơn 40 tỷ so với

2011 Như vậy tổng tài sản của doanh nghiệp năm 2012 có xu hướng tăng hơn 31 tỷ ứng với tốc độ tăng là 34, 62% do tài sản ngắn hạn tăng mạnh, cụ thể là: tài sản ngắn hạn tăng gần 118 tỷ ( tương ứng với 73,28%) từ hơn 65 tỷ lên hơn 99 tỷ Trong khi đó tài sản dài hạn giảm nhưng không đáng kể là hơn 2 tỷ tương ứng với tốc độ giảm là 13,44% Năm 2011, tài sản ngắn hạn chiếm tỷ trọng 72,33% trong tổng tài sản Đến năm 2012 tỷ trọng của tài sản ngắn hạn tăng lên đến 81,31% Năm 2013 tài sản ngắn hạn chiếm 73,28% Như vậy doanh nghiệp có xu hướng chú trọng vào đầu tư tài sản trong ngắn hạn và giảm đầu tư trong dài hạn và mở rộng quy mô kinh doanh

* Sau đây ta đi vào cụ thể các khoản mục trong ngắn hạn và dài hạn của doanh nghiệp theo từng giai đoạn để thấy rõ được nguyên nhân xu hướng đầu tư của doanh nghiệp

+ Tài sản ngắn hạn: Năm 2012, tài sản ngắn hạn tăng lên hơn 33 tỷ tương

ứng với tốc độ tăng 51,34% Tại thời điểm năm 2013, tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp vẫn theo đà tăng của giai đoạn trước Với tốc độ tăng là 19,86%, tài sản ngắn

Trang 27

hạn đạt tới mức gần 119 tỷ đồng Xu hướng tăng của tài sản ngắn hạn chủ yếu vẫn do

sự tăng lên của hàng tồn kho Cụ thể là:

Hàng tồn kho: Năm 2012, hàng tồn kho chiếm tỷ trọng 64,28% trong tổng tài

sản ngắn hạn, đã tăng lên 4,89% so với năm 2011 chủ yếu do mặt hàng thép chưa bán được, bên cạnh đó là một lượng vôi, vữa, cát và một số vật liệu công trường, vật liệu kết cấu xây dựng, vật liệu hoàn thiện khác và một số mặt hàng vật tư ( khóa néo, khóa

đỡ, u treo sứ ) đang đi đường từ công ty Cổ phần xây dựng và thương mại Việt Hoàng Nói về mặt hàng thép, tuy không chuyên về sản xuất thép nhưng chi phí lại cao, cụ thể năm 2012 doanh nghiệp đã giảm giá thêm lần thứ 3 trong năm do thép đang trong thời kì “ đỏ mắt chờ người mua” Nhưng dù giá đã giảm mạnh nhưng thị trường vẫn rất yên ắng, người tiêu dùng vẫn quay lưng vì cho rằng giá thép phải giảm nữa do giá phôi thép thế giới đang giảm mạnh Đây cũng là xu hướng chung của nền kinh tế: tính tới thời điểm 30/6/2012, hàng tồn kho của ngành xây dựng xếp thứ hai

với 37,82% chỉ ngay sau ngành bất động sản ( Nguồn: báo tapchitaichinh.vn) Quay

trở lại những nguyên nhân khiến cho hàng tồn kho lớn, đó là chi phí sản xuất kinh doanh dở dang (năm 2012 là hơn 63 tỷ chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu hàng tồn kho)

Cũng tại năm 2012, hàng tồn kho của doanh nghiệp có sự gia tăng từ gần 39 tỷ lên đến hơn 63 tỷ (tăng 63,79% so với năm 2011) Năm 2013 tiếp tục tăng cả về tỷ trọng lẫn số tiền( lượng tiền tăng 29,05% so với năm 2012) Việc tiêu thụ hàng hóa chậm, hiệu quả kinh doanh chưa cao Vốn của doanh nghiệp đang bị ứ đọng nhiều và vòng quay vốn chậm Mặc dù tính chất của hoạt động của ngành xây dựng nên đòi hỏi công ty cần có một lượng hàng nguyên liệu tồn kho tương đối lớn để đáp ứng nhu cầu thị trường cũng như bình ổn giá nhưng cũng không thể dự trữ quá nhiều đến mức mất cân đối trong cơ cấu tài sản ngắn hạn Vì vậy doanh nghiệp cần có những biện pháp cần thiết để thực hiện chính sách tiêu thụ hàng hóa để cân bằng lại lượng dự trữ, tiêu thụ của mình

Các khoản phải thu ngắn hạn: Nếu như các khoản phải thu năm 2011 là

21.238.927 nghìn đồng, chiếm 32,4% tổng tài sản ngắn hạn thì đến năm 2012, các khoản phải thu lên đến 29.670.297 nghìn đồng với tỷ trọng 29,91%, do mở hợp đồng với công ty Cổ phần xây dựng S.V.A tại Trại Lẻ mới được thành lập Điều này cho thấy các khoản phải thu tăng hơn 8 tỷ so với năm 2011, tương ứng với tốc độ tăng 39,7% Tốc độ tăng của các khoản phải thu (39,7%) lớn hơn tốc độ tăng của tổng tài sản (34,62%) cho ta thấy công tác thu hồi công nợ của doanh nghiệp còn kém hay nói cách khác doanh nghiệp đang áp dụng chính sách tín dụng thương mại quá mức so với quy mô của mình Năm 2013, doanh nghiệp đã bước đầu cải thiện công tác thu hồi nợ

Trang 28

từ phía khách nên chỉ tiêu này đã giảm hơn 651 triệu tương ứng với tốc độ giảm 2,38%, tỷ trọng cũng đã giảm xuống 7,27% Tuy nhiên xu hướng giảm này vẫn còn chậm, doanh nghiệp cần tiếp tục đẩy các biện pháp thu hồi công nợ thêm nhanh chóng, hiệu quả hơn.

Đối tượng chủ yếu chiếm dụng vốn của doanh nghiệp là khách hàng, các doanh nghiệp đối tác như Công ty cổ phần tư vấn xây dựng Sơn Hà tại chợ Hàng cũ, Công ty TNHH Thương mại dịch vụ Ngọc Hiển Các khoản phải thu của khách hàng năm

2011 là hơn 18 đồng chiếm tỷ trọng 86,3% trong tổng các khoản phải thu Con số này tiếp tục tăng lên đến hơn 27 đồng, tỷ trọng cũng tăng lên đến 92,48% Như vậy, vốn của doanh nghiệp bị khách hàng chiếm dụng là khá lớn Đây là dấu hiệu của rủi ro trong tài chính nếu như công tác thu hồi nợ từ khách hàng của doanh nghiệp không tốt

Trả trước cho người bán là biện pháp để hướng tới công tác tiêu thụ và dự trữ

hợp lí Thời điểm năm 2012, công ty trả trước cho Tổng Công ty Xây dựng Bạch Đằng một khoản tiền hàng xi măng và một số mặt hàng khác, dẫn đến chỉ tiêu tăng 22,34% tương ứng với lượng tiền tăng là 307.231 nghìn đồng Doanh nghiệp tăng cường khoản mục này để đảm bảo kỷ luật thanh toán với bên bán, tăng uy tín cho doanh nghiệp Năm 2013, trả trước cho người bán là hơn 4 tỷ với tốc độ tăng nhanh chóng là 151,26%, nâng tỷ trọng trong cơ cấu tài sản ngắn hạn lên tới 13,45% so với năm 2012

Các khoản phải thu khác chiếm tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu các khoản phải thu

Tuy nhiên xét trên tổng thể chung thì tài sản ngắn hạn năm 2013 vẫn có xu hướng tăng 5,93% tương ứng với 1.758.031 tỷ tức là vốn bị chiếm dụng của doanh nghiệp vẫn tăng Điều này không tốt cho doanh nghiệp trong khi hàng tồn kho vẫn chưa được giải phóng mà vốn kinh doanh lại bị chiếm dụng càng nhiều

Tiền và các khoản tiền tương đương tiền có xu hướng tăng nhẹ từ hơn 3 tỷ

năm 2011 lên đến hơn 4 tỷ năm 2012 Năm 2013, tiền tăng 409.569 triệu đồng, đưa con số tiền dự trữ trong doanh nghiệp lên 4.997.051 tỷ.Và tỷ trọng của khoản mục này rất nhỏ, năm 2011 là 5,4% và năm 2012 là 4,62% Doanh nghiệp đang dự trữ quá ít tiền Bởi một phần do chưa giải phóng được hàng tồn kho và lượng vốn bị chiếm dụng nhiều đáng kể Doanh nghiệp cần nhanh chóng đưa ra những biện pháp và hiệu quả để giải quyết tình trạng này một cách nhanh chóng Bên cạnh xu hướng tăng của 3 khoản

mục trên, tài sản ngắn hạn khác có xu hướng giảm nhẹ là 0,16% không đáng kể.

+ Tài sản dài hạn: Tải sản dài hạn giai đoạn 2011-2012 có xu hướng giảm

9,1% tương ứng với số tiền 2.281.434 nghìn đồng Tài sản dài hạn của năm 2013 có xu hướng tăng mạnh là 90,19% tương ứng với số tiền tăng hơn 20 tỷ do ảnh hưởng chủ yếu của tài sản cố định:

Trang 29

Tài sản cố định chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu tài sản dài hạn nhưng

lại nhỏ so với tổng tài sản của công ty Nếu năm 2011 tài sản cố định là hơn 87,72% (tương ứng với hơn 22 tỷ) thì năm 2012 chiếm 83,53% (tương ứng với hơn 19 tỷ) Ở đây loại hình chủ yếu của doanh nghiệp là sửa chữa, lắp đặt, xây dựng nên đầu tư vào tài sản cố định như máy bơm, máy đầm, máy khoan, đồ lắp ráp phụ tùng, máy nén khi, thiết bị nâng, cần cẩu, thiết bị làm nhựa đường là điều hiển nhiên Tuy vậy, lượng tài sản cố định được đầu tư năm 2012 có xu hướng giảm nhẹ (giảm 13,44%) do doanh nghiệp chưa có khả năng về vốn để mở rộng quy mô vì gặp vấn đề về hàng tồn kho và khoản vốn bị chiếm dụng Và doanh nghiệp đã thanh lí bán bớt máy móc thiết bị cũ (máy khoan cọc nhồi SR250, máy bơm Ebara…) để tiết kiệm phần nào chi phí tái sản xuất do hao mòn, thu hồi lại ít vốn Đến năm 2013, tài sản cố định của doanh nghiệp tăng gấp đôi, cụ thể là tăng từ hơn 22 tỷ lên đến hơn 43 tỷ, đạt mức tốc độ tăng là 90,19%, đưa tỷ trọng tài sản dài hạn trong cơ cấu tổng tài sản năm 2013 tăng thêm 8,03% Nguyên nhân là do doanh nghiệp đầu tư mua sắm máy mọc thiết bị hiện đại dùng trong công tác giải phóng mặt bằng, thiết bị an ninh và bảo hộ và hệ thống kiểm soát ô nhiễm, máy móc và thiết bị sản xuất bê tông…với số tiền từ 31.818 triệu ở thời điểm đầu năm lên tới 623.227 triệu tại thời điểm cuối năm Vì đó mà tốc độ tăng của hàng tồn kho năm 2013 (29,05%) đã giảm đi rất nhiều so với tốc độ tăng trong giai đoạn năm 2011-2012 (63,79%) Đồng thời đầu

tư vào mua sắm thiết bị mới để có thể ứng dụng những công nghệ khoa học, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng uy tín cho doanh nghiệp, làm đòn bẩy để tiêu thụ hàng hóa nhanh chóng

Tài sản dài hạn khác chiếm tỷ trọng nhỏ không đáng kể.Doanh nghiệp

không có khoản mục đầu tư tài chính ngắn hạn là do vốn của doanh nghiệp đã bị

chiếm dụng vốn khá nhiều, không đủ để đi đầu tư tài chính thu thêm một phần nhỏ lợi nhuận cho doanh nghiệp từ lĩnh vực tài chính

Chi phí xây dựng cơ bản dở dang: Trong giai đoanh 2012-2013, doanh

nghiệp phát sinh khoản chi phí xây dựng cơ bản dở dang hơn 623 triệu để đầu tư cho tài sản dài hạn

Tóm lại, trong giai đoạn 2011-2013, có thể thấy doanh nghiệp đang bị mất cân đối trong cơ cấu tài sản Doanh nghiệp cần có những biện pháp nhanh chóng để khắc phục tình trạng mất cân đối này Sau đây là biểu đồ cơ cấu tài sản qua 3 năm: Qua biểu

đồ cơ cấu tài sản trên ta thấy được tài sản ngắn hạn chiếm tỷ trọng chủ yếu trong cơ cấu tài sản của doanh nghiệp, đồng thời có xu hướng biến động chưa ổn định và ta cũng thấy được tài sản ngắn hạn luôn chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu của tài sản của doanh nghiệp

b Phân tích cơ cấu nguồn vốn

* Phân tích khái quát nguồn vốn của doanh nghiệp:

Trang 30

Năm 2012, nguồn vốn của doanh nghiệp có xu hướng tăng từ hơn 90 tỷ lên tới hơn 122 tỷ với tốc độ tăng là 34,62% so với năm 2011 do khoản nợ phải trả tăng gần

32 tỷ tương ứng với tốc độ tăng 42,02% Năm 2013 chỉ tiêu này tăng lên hơn 40 tỷ do

cả nợ phải trả và vốn chủ sở hữu đều có xu hướng tăng cả về tỷ trọng lẫn số tiền trong

đó mạnh nhất là nợ phải trả tăng hơn 39 tỷ so với năm 2012 chiếm 90,04% tỷ trọng trong tổng cơ cấu nguồn vốn Tổng nguồn vốn của doanh nghiệp tăng chủ yếu do nợ phải trả cho thấy doanh nghiệp mở rộng quy mô nguồn vốn chủ yếu thông qua việc vay nợ và chiếm dụng vốn Điều này cho thấy khả năng huy động vốn cuả doanh nghiệp tăng dần theo thời gian nhưng doanh nghiệp lại bị phụ thuộc quá nhiều về mặt tài chính và mức độ phụ thuộc ngày càng nhiều

* Phân tích chi tiết các khoản mục:

 Nợ phải trả: là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tổng nguồn vốn của doanh

nghiệp tăng Doanh nghiệp hầu hết huy động vốn bằng cách vay nợ trong ngắn hạn dẫn đến tỷ trọng nợ ngắn hạn trong cơ cấu nguồn vốn rất cao, cụ thể là 95,35% năm

2011 và tăng lên đến 99,19% năm 2012 Cùng lúc đó thì tỷ trọng của nợ dài hạn trong

cơ cấu nợ cũng giảm đi từ 4,65% xuống còn 0,81% Ở doanh nghiệp đang có sự chuyển dịch cơ cấu nợ từ dài hạn sang ngắn hạn Nếu công ty kéo dài tình trạng như vậy thì sẽ ảnh hưởng đến nguồn cung cấp nguyên liệu đầu vào cho sản xuất sản phẩm Bởi nếu bị chiếm dụng vốn lâu như vậy thì các nhà cung cấp sẽ khó khăn trong việc thu hồi vốn và họ không muốn bán hàng cho công ty nữa Tuy nhiên, dù đầu tư trong ngắn hạn hay dài hạn thì qua tỷ trọng nợ phải trả đã cho thấy khả năng độc lập tài chính của doanh nghiệp còn kém

 Nợ ngắn hạn: là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến nợ phải trả tăng mạnh

trong giai đoạn này Trong các khoản nợ mà doanh nghiệp phải trả, nợ ngắn hạn mà doanh nghiệp vay từ ngân hàng vẫn chiếm tỷ trọng chủ yếu là 75,94% nhưng chỉ tiêu này đã giảm so với năm 2012 với tốc độ giảm 23,25%, tuy tỷ trọng giảm nhưng số tiền vẫn tăng 4,37% Thay vào đó doanh nghiệp nâng tỷ trọng của nợ dài hạn lên từ 0,81% ( ứng với số tiền 871.520 nghìn đồng) năm 2012 đến 24,06% (ứng với số tiền hơn 35 tỷ) năm 2013 Nợ ngắn hạn năm 2012 có xu hướng tăng cả về mặt số lượng lẫn tỷ trọng do khoản người mua trả tiền trước và do khoản phải trả phải nộp khác tăng mạnh trong giai đoạn này, đồng thời cũng là do sự tằng lên của khoản phải trả người bán và

phải trả công nhân viên ( năm 2013) Cụ thể là vay và nợ ngắn hạn: Năm 2011, chiếm

tỷ trọng chủ yếu trong nợ ngắn hạn là vốn doanh nghiệp đi chiếm dụng (36,5%) Vay

và nợ ngắn hạn của doanh nghiệp chủ yếu là vay ngân hàng, đặc biệt là ngân hàng Đầu

tư và Phát triển Hải Phòng Vì ngân hàng có chính sách thẩm tra tài chính của đối

Trang 31

tượng đi vay nên khoản vay và nợ ngân hàng của doanh nghiệp năm 2012 đã giảm đi hơn 3 tỷ tương ứng với tốc độ giảm 1,53% do khả năng tài chính của doanh nghiệp chưa đủ mạnh Năm 2013, khoản vay nợ ngắn hạn là gần 22 tỷ, đã giảm so với năm

2012 là 5,85% Với thực tế này trong ngắn hạn, doanh nghiệp sẽ có lợi thế vì chi phí

sử dụng vốn không đáng kể Tuy nhiên xét trong dài hạn sẽ ảnh hưởng đến uy tín của công ty khi tiếp cận với các chính sách tín dụng thương mại và chính sách tín dụng ngân hàng Thay vào huy động vốn từ vay ngân hàng doanh nghiệp đi tìm nguồn vốn

từ khoản tiền người mua ứng tiền trước Khoản tiền người mua trả trước tăng mạnh,

thêm hơn 31 tỷ tương ứng với tốc độ tăng 174,76% Điều này phản ánh uy tín của doanh nghiệp trên thị trường kinh doanh đối với khách hàng Trong giai đoạn này doanh nghiệp có thêm những khách hàng mới như công ty ADP Do chưa từng có mối quan hệ kinh doanh cũng như chưa hiểu rõ về khả năng tài chính của bọn họ nên doanh nghiệp yêu cầu họ trả tiền trước nhiều hơn so với khách hàng cũ, đồng thời cũng là cách để huy động vốn cho công ty đầu tư mở rộng quy mô sản xuất Đồng thời

có hợp đồng sửa chữa hệ thống cống thoát nước cho công ty Xúc tiến thương mại ở cùng quận Hồng Bàng Đến năm 2013, doanh nghiệp đã giảm cả cơ cấu lẫn tỷ trọng của khoản tiền người mua trả trước (chiếm hơn 42 tỷ, giảm gần 7 tỷ tương ứng với tốc

độ giảm 8,01 so với năm 2012) do chiến lược yêu cầu người mua trả trước không còn

phù hợp Các khoản phải trả phải nộp khác ở đây bao gồm kinh phí công đoàn và

bảo hiểm xã hội Biểu hiện là năm 2011, chỉ tiêu này là hơn 6 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 9,31% trong cơ cấu nợ ngắn hạn thì đến năm 2012, chỉ tiêu này tăng 157,68%, đưa số vốn đi chiếm dụng từ phí công đoàn, bảo hiểm lên đến 17.346.601 nghìn đồng (tỷ trọng 16,42% xếp thứ 3 trong cơ cấu nợ ngắn hạn) Năm 2013 vẫn ở mức cao là hơn

14 tỷ đồng Phải trả người bán: đây là khoản mục chiếm tỷ trọng nhiều thứ 2 sau

khoản vay và nợ ngắn hạn trong cơ cấu nợ phải trả Năm 2011 chỉ tiêu này đạt giá trị

là 15.510.151 nghìn đồng chiếm 21,46% trong tổng tỷ trọng nợ phải trả Đến năm

2012 chỉ tiêu này giảm xuống còn 11.292.080 nghìn đồng tương ứng tốc độ giảm là 27,2% do công ty đã thanh toán bớt tiền cho một số mặt hàng giá cao nhưng cần thiết như vật liệu chống thấm và cách nhiệt đã nợ từ những tháng trước Tại giai đoạn này doanh nghiệp đang có xu hướng giảm khoản vốn mà doanh nghiệp đi chiếm dụng vốn của người bán, Như vậy ta cũng có thể thấy doanh nghiệp khá chú trọng để đảm bảo

uy tín của mình đối với người bán Năm 2013, trên đà uy tín đã được củng cố, doanh nghiệp mở thêm một đợt vay nữa từ phía người bán để có thể mua nguyên vật liệu cần thiết chuẩn bị cho mở rộng quy mô sản xuất cũng như tăng chất lượng sản phẩm Số tiền mà doanh nghiệp vay từ phía người bán lên tới hơn 25 tỷ với tốc độ tăng 125,32%

Trang 32

Từ đó doanh nghiệp có thể giảm chi phí sử dụng vốn nhờ hiệu quả của đòn bẩy tài chính, tuy nhiên vẫn còn phụ thuộc vào hiệu quả sử dụng đồng nợ của doanh nghiệp

Thuế và các khoản nộp Nhà nước: Năm 2012, khoản tiền mà doanh nghiệp có nghĩa

vụ trả cho nhà nước tăng không đáng kể là 6,6% so với năm 2011 Năm 2013 khoản nộp Nhà nước tăng lên 23,08% so với năm 2012 Năm này doanh nghiệp đã thu về doanh thu cao hơn so với năm 2012 nên khoản thuế cần nộp cũng tăng lên Doanh

nghiệp luôn chấp hành đúng nghĩa vụ đối với Nhà nước Phải trả công nhân viên:

Năm 2011, chỉ tiêu này là 726.853 nghìn đồng thì đến năm 2012 chỉ tiêu giảm là 186.05 nghìn đồng Doanh nghiệp chú trọng uy tín của mình đối với công nhân viên, chú trọng vào khích lệ tinh thần lao động cho họ Nhưng năm 2013 lại tăng 71,59% so với năm 2012 Để phục vụ cho chiến lược phát triển lâu dài, có thể đây là khoản chiếm dụng vốn tạm thời nhưng không thể kéo dài bởi nó ảnh hưởng trực tiếp tới sự tín

nhiệm của công nhân viên đối với doanh nghiệp Các khoản chi phí phải trả năm

2011 là 142,540 nghìn đồng đã được giải quyết hết vào năm 2012

 Nợ dài hạn: Ngược lại với nợ ngắn hạn, nợ dài hạn có xu hướng giảm

nhanh chóng cả về số lượng lẫn tỷ trọng Năm 2011, dù chiếm tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu nợ phải trả nhưng nợ dài hạn của doanh nghiệp còn đang ở trên mức 3 tỷ nhưng đến năm 2012 thì con số này đã giảm xuống còn hơn 871 triệu đồng dẫn theo tỷ trọng cũng giảm xuống còn 0,81% Nguyên nhân của sự sút giảm với tốc độ giảm 1386,59% trong giai đoạn này là do khoản vay và nợ dài hạn tại ngân hàng Đầu tư và phát triển Hải Phòng đã đáo hạn nên doanh nghiệp phải có nghĩa vụ chi trả Doanh nghiệp đang

có sự chuyển dịch cơ cấu trong dài hạn và ngắn hạn Cụ thể là tỷ trọng nợ dài hạn năm

2013 là 26,06% Năm 2013, doanh nghiệp đã mở thêm hợp đồng vay vốn từ phía ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hải Phòng với hợp đồng kì hạn 60 tháng Số tiền này chủ yếu là doanh nghiệp huy động về để mua sắm máy móc thiết bị để xử lý hàng tồn kho

cũng như tiêu thụ và phân phối sản phẩm Các khoản phải trả, phải nộp khác có xu

hướ ng giảm cả về tỷ trọng lẫn số tiền vào năm 2013 Bởi doanh nghiệp trong thời gian này chỉ tập trung đi chiếm dụng vốn từ phía người bán và công nhân viên Năm 2012, khoản phải trả, phải nộp khác hơn 17 tỷ chiếm 16,24% trong tổng tỷ trọng nợ phải trả Đến năm 2013, chỉ tiêu này giảm xuống còn gần 15 tỷ

 Vốn chủ sở hữu: Vốn đầu tư của chủ sở hữu không thay đổi qua các năm là 12.000.000 nghìn đồng, chủ yếu là vốn của các cổ đông, chiếm tỷ trọng nhỏ trong cơ

cấu nguồn vốn của doanh nghiệp Năm 2013, vốn chủ sở hữu vẫn là 9,56% Thậm chí

tỷ trọng này còn giảm 2,2% so với năm 2012 Quỹ đầu tư phát triển và quỹ dự

phòng tài chính năm 2012 tiếp tục tăng tương đối nhanh do công ty trích lập từ lợi

Trang 33

nhuận sau thuế Doanh nghiệp vẫn bị phụ thuộc về mặt tài chính tại thời điểm này Lợi

nhuận sau thuế chưa phân phối năm 2012 giảm tương đối nhanh so với năm 2011

cho thấy hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp kém hiệu quả hơn so với năm 2011 Trong giai đoạn 2011-2012, doanh nghiệp trích 30,5% từ lợi nhuận chưa phân phối cho các quỹ nhằm tái đầu tư, mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh Phần còn lại công ty dùng để chi trả cổ tức cho các cổ đông Mặc dù kết quả kinh doanh thấp hơn so với năm 2012 nhưng doanh nghiệp lại chi trả cổ tức và trích lập quỹ nhằm tạo niềm tin cho các cổ đông Điểm sáng đáng chú ý tới nhất trong năm 2013 chính là khoản lợi nhuận chưa phân phối là 2.221.207 nghìn đồng, con số này đã tăng 113,64%

so với năm 2012, cao hơn cả năm 2011 và tỷ trọng cũng đã bắt đầu tăng 7,1% so với năm trước Đây là dấu hiệu đáng mừng vì năm này doanh nghiệp đi chiếm dụng vốn nhiều, tuy nhiên lại biết cách sử dụng nguồn vốn hiệu quả hơn Còn lại là các quỹ như quỹ đầu tư phát triển cũng tăng nhẹ, quỹ dự phòng tài chính và quỹ khác cũng góp phần dự phòng rủi ro tiền mặt trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp

Tóm lại, trong giai đoạn 2011-2013 nguồn vốn của doanh nghiệp có nhiều biến

động thăng trầm nhưng tính đến thời điểm hiện tại thì đã có dấu hiệu khả quan

Nhận xét chung: Qua phân tích cơ cấu tài sản và cơ cấu nguồn vốn, ta mới chỉ dừng

lại ở mức độ khái quát qua một số nhận xét giữa cơ cấu tài sản và nguồn vốn như sau:

- Các khoản phải thu của khách hàng phản ánh nguồn vốn của công ty đang bị khách hàng chiếm dụng khá nhiều, công ty đang cố gắng thúc đẩy công tác thu hồi nợ

- Hàng tồn kho liên tục tăng sẽ gây ứ đọng vốn và làm giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Tuy nhiên do đặc trưng của doanh nghiệp là sản xuất, kinh doanh nguyên vật liệu xây dựng nên lượng hàng tồn kho lớn là không bất bình thường, nhưng doanh nghiệp vẫn cần điều chỉnh lại lượng hàng tồn kho không vượt quá mức cho phép

- Tài sản cố định chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản dài hạn nhưng lại không lớn so với tổng tài sản vì thế doanh nghiệp cần chú trọng đầu tư tài sản cố định hơn nữa Ở đây năm 2013 đã có dấu hiệu từ sự đầu tư về máy móc thiết bị

- Vốn chủ sở hữu tăng châm trong khi nợ phải trả liên tục tăng trong 3 năm vừa qua, điều này rất dễ dẫn đến ruiro cho doanh nghiệp mặc dù hiện tại doanh nghiệp đang tận dụng lợi thế đòn bẩy kinh doanh để sinh lời cho vốn chủ sở hữu nhưng đây không phải là biện pháp lâu dài và bền vững cho doanh nghiệp

2.2.1.2 Phân tích kết quả kinh doanh

 Lợi nhuận trước thuế: Năm 2012 là 1,2 tỷ giảm mạnh 57,99% so với năm

2011 Đến năm 2013, chỉ tiêu này được phục hồi với tốc độ tăng mạnh là 116,55%

Trang 34

Như vậy lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp không được ổn định Có 2 nhóm nguyên nhân chính dẫn tới điều này:

Nhóm 1: nhóm nhân tố ảnh hưởng cùng chiều với lợi nhuận sau thuế.

- Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ (Doanh thu thuần): Công ty

không có các khoản giảm trừ về doanh thu vì thế doanh thu bán hàng và cung cấp dịch

vụ cũng là khoản doanh thu thuần của công ty Qua 3 năm 2011, 2012 và 2013, doanh thu thuần của doanh nghiệp tương đối cao tuy nhiên có năm 2012, doanh thu thuần giảm xuống thấp nhất trong 3 năm Cụ thể: Năm 2012, doanh thu thuần của doanh nghiệp là 101.939.812 đồng Năm 2012, doanh thu thuần giảm mạnh 37,74% xuống còn hơn 63 tỷ Năm 2013, doanh thu thuần lại tăng lên 112,6% lên tới hơn 134 tỷ, cao hơn cả năm 2011 trước đó

Doanh thu thuần của doanh nghiệp chỉ bao gồm khoản doanh thu từ bán hàng Như vậy ta có thể thấy năm 2013, hàng tồn kho ứ đọng, doanh nghiệp không thu được giá về nhưng đến năm 2013, doanh nghiệp thúc đẩy công tác tiêu thụ, đã nỗ lực làm tốt công tác bán hàng góp phần làm tăng doanh thu

- Doanh thu từ hoạt động tài chính: Vẫn giữ theo xu hướng biến động của các

chỉ tiêu trước, năm 2012 doanh thu tài chính là 52.553 đồng, giảm 40,64% so với năm

2011 Và đến năm 2013, doanh thu tài chính (ở đây chủ yếu là lãi tiền vay từ ngân hàng) của doanh nghiệp đã tăng lên đáng kể với tốc độ tăng 103,9% so với năm 2012

- Thu nhập khác: Năm 2012, thu nhập khác của công ty thấp nhất (210.026

nghìn đồng), giảm 73,43% so với năm 2011 Năm 2013, chỉ tiêu này tăng mạnh lên tới gần 4 tỷ với tốc độ tăng 1776,04% do năm 2013 phát sinh một số trường hợp cá nhân bồi thường trách nhiệm, nộp phát, nhận tiền bồi thường thiệt hại, đồng thời công ty cho nhượng bán thép cho cho thuê thiết bị…

Nhóm 2: nhóm nhân tố ảnh hưởng ngược chiều tới lợi nhuận sau thuế

- Giá vốn hàng bán: Năm 2012, giá vốn hàng bán của công ty là 54.545.894

nghìn đồng giảm 40,46% so với năm 2011 Mặt hàng khả quan nhất để bán ra tại thời điểm khó khăn này là gạch và xi măng Trên thị trường, gạch Trung Quốc tốt hơn nhưng giá cao vì thế người tiêu dùng chọn mặt hàng trong nước Đồng thời miền Bắc

có mật độ những công ty cùng ngành xây dựng khá cao nên doanh nghiệp chịu sức ép cạnh tranh lớn, do đó mà giá vốn hàng bán năm này giảm đáng kể Năm 2013, giá vốn hàng bán đã tăng trở lại là hơn 125 tỷ với tốc độ tăng 130,74% so với năm 2011, còn cao hơn cả năm 2011 Điều này góp phần làm tăng tổng chi phí của doanh nghiệp

- Chi phí bán hàng: Doanh nghiệp không có chi phí bán hàng do trong xây lắp, sản

xuất nguyên vật liệu xây dựng, kế toán thường cho vào chi phí quản lý doanh nghiệp

Trang 35

hoặc chi phí sản xuất chung theo từng công trình Hơn nữa, hầu hết các công ty này đều có “mạng lưới giao dịch”, làm ăn theo hợp đồng, môi giới…

- Chi phí quản lý doanh nghiệp: Qua 3 năm chi phí quản lý doanh nghiệp

ngày càng tăng Năm 2012, chi phí quản lý doanh nghiệp là hơn 3 tỷ, tăng 7,02% so với năm 2011 Năm 2013, chi phí quản lý doanh nghiệp là hơn 4 tỷ, tăng 20,89% so với năm 2012 Công ty chưa kiểm soát tốt nguồn chi phí này

- Chi phí tài chính: Năm 2012 giảm 386.881 nghìn đồng tương ứng với tốc độ

giảm 8,61% Năm 2013, chi phí tài chính giảm đáng kể là 43,86% so với năm 2012 Doanh nghiệp đã giảm bớt các khoản đầu tư tài chính để tiết kiệm chi phí, góp phần làm tăng doanh thu cho công ty vào năm 2013

- Chi phí khác: Đồng điệu với xu hướng biến động của thu nhập khác, năm

2012 chi phí khác giảm mạnh và đến năm 2013 tăng đột biến mạnh do năm 2013, doanh nghiệp phát sinh một số chi phí như chi phí kéo xe bị tai nạn, chi trả tiền bồi thường, thu hồi tiền quyết toán vật tư do tính thừa, thanh lý thảm nhựa bê tông…

Như vậy ta có thể thấy xu hướng biến động chung của các chỉ tiêu là giảm mạnh vào năm 2012 và có xu hướng tăng trở lại vào năm 2013

 Lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp: Năm 2012, lợi nhuận sau

thuế giảm mạnh từ hơn 2 tỷ đồng (năm 2011) xuống còn hơn 1 tỷ tương ứng với tốc

độ giảm 57,99% là do khoản lợi nhuận khác của công ty bị âm một khoản khá lớn so với năm 2011 mà nguyên nhân của khoản lợi nhuận khác bị âm là do chi phí khác lớn hơn nhiều so với doanh thu khác mà một số khoản mục của doanh thu khác và chi phí khác đã được nêu ở trên

Lợi nhuận gộp từ bán hàng và cung cấp dịch vụ: Năm 2011, lợi nhuận gộp

cao nhất trong các năm là 10.319.996 nghìn đồng Đến năm 2012, lợi nhuận gộp giảm

đi 13,59% xuống còn gần 9 tỷ và đến năm 2013 tăng nhẹ lên hơn 9 tỷ Có thể thấy năm 2012 có sự biến động mạnh mẽ trong doanh nghiệp Lợi nhuận gộp tăng giảm tương ứng với doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ Hơn nữa tốc độ tăng trưởng của lợi nhuận gộp còn chậm cũng phần nào thấy được sự ảnh hưởng của tình hình kinh

tế khó khắn tới doanh nghiệp

Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh: Năm 2012, chỉ tiêu này thấp nhất

trong 3 năm là 1.475.047 nghìn đồngl Năm 2011 và năm 2013, chỉ tiêu này tương đương nhau là hơn 2 tỷ Xu hướng biến động của chỉ tiêu này cũng tương ứng với doanh thu thuần của doanh nghiệp

Trang 36

Thuế thu nhập hiện hành: Nhìn chung, qua các yếu tố biến động ở trên thì

cuối cùng thuế thu nhập của doanh nghiệp có đã có sự tăng trở lại vào năm 2013 sau

sự giảm sút vào năm 2012

Tóm lại, hiệu quả kinh doanh của công ty tại thời điểm năm 2013 đã có dấu hiệu khả quan Doanh nghiệp cần tiếp tục nỗ lực để duy trì xu hướng này Dưới đây là biểu đồ thể hiện sự tương quan giữa doanh thu thuần và lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp trong giai đoạn 2011-2013

Qua biểu đồ 2.3 trên, có thể thấy rõ rằng năm 2012 là một năm “ sóng gió” của

doanh nghiệp bởi lợi nhuận sau thuế lẫn doanh thu thuần của doanh nghiệp bị giảm sút Tuy nhiên rất may là đến năm 2013, doanh nghiệp đã có những biểu hiện tốt khi kiểm soát được doanh thu thuần tăng cao hơn, chủ yếu là từ hoạt động bán hàng

2.2.2 Thực trạng năng lực tài chính tại công ty Cổ phần Thương mại Đầu tư xây dựng Thăng Long giai đoạn 2011-2013

2.2.2.1 Thực trạng về khả năng thanh toán

Hệ số khả năng thanh toán tổng quát.

Năm 2011, khả năng thanh toán tổng quát của doanh nghiệp tốt Cụ thể tương ứng với 1 đồng nợ, doanh nghiệp có 1,196 đồng tài sản để trả nợ Đến năm 2012, cũng với 1 đồng nợ doanh nghiệp chỉ còn 1,133 đồng tài sản dùng cho thanh toán Như vậy khả năng thanh toán tổng quát năm 2012 có xu hướng giảm so với năm 2011 với tốc

Ngày đăng: 24/05/2016, 15:56

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Cơ cấu tài sản của doanh nghiệp - Nâng cao năng lực tài chính của công ty cổ phần thương mại đầu tư xây dựng thăng long
Bảng 1.1 Cơ cấu tài sản của doanh nghiệp (Trang 6)
Bảng 1.2: Cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp - Nâng cao năng lực tài chính của công ty cổ phần thương mại đầu tư xây dựng thăng long
Bảng 1.2 Cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp (Trang 7)
Bảng 1.4: Phân tích kết quả kinh doanh theo chiều ngang - Nâng cao năng lực tài chính của công ty cổ phần thương mại đầu tư xây dựng thăng long
Bảng 1.4 Phân tích kết quả kinh doanh theo chiều ngang (Trang 8)
Bảng 2.10: Dự báo chỉ tiêu báo cáo kết quả kinh doanh năm 2014 - Nâng cao năng lực tài chính của công ty cổ phần thương mại đầu tư xây dựng thăng long
Bảng 2.10 Dự báo chỉ tiêu báo cáo kết quả kinh doanh năm 2014 (Trang 62)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w