Theo đó,Toà án có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp phápcủa tổ chức, cá n
Trang 1ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
KHOA LUẬT
Đề tài:
TÒA ÁN NHÂN DÂN
VÀ VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
NHÓM THỰC HIỆN TIỂU LUẬN
NHÓM 5
TIỂU LUẬN
Môn:
PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA BỘ MÁY
NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
Trang 2DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 3MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 4
CHƯƠNG 1: TÒA ÁN NHÂN DÂN 5
1.1 Vị trí pháp lý của Tòa án nhân dân 5
1.2 Chức năng cơ bản của Tòa án nhân dân 6
1.2.1 Đặc điểm của hoạt động xét xử của TAND 8
1.2.1.1 Hoạt động xét xử là trung tâm nhất, bản chất nhất của hoạt động tư pháp 8
1.2.1.2 Phạm vi hoạt động xét xử rộng 8
1.2.1.3 Chỉ Tòa án mới có quyền nhân danh quyền lực Nhà nước để thực hiện chức năng xét xử 8
1.2.2 Các thủ tục xét xử của Tòa án nhân dân 9
1.3 Cách thức thành lập Tòa án nhân dân 10
1.4 Cơ cấu tổ chức các hoạt động của TAND 11
1.4.1 Đối với Tòa án nhân dân tối cao 11
1.4.2 Đối với Tòa án nhân dân cấp cao 13
1.4.3 Đối với Tòa án nhân dân cấp tỉnh (thành phố trực thuộc Trung ương) 14
1.4.4 Đối với Tòa án nhân dân cấp huyện, quận, thị xã, thành phố, thuộc tỉnh và tương đương 15
1.4.5 Đối với Tòa án Quân sự 16
1.4.6 So sánh với Tòa án ở Mỹ 17
1.4.7 Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân 17
1.4.7.1 Việc xét xử của Tòa án do Thẩm phán và Hội thẩm thực hiện 17
Trang 41.4.7.2 Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo
pháp luật 18
1.4.7.3 Toà án xét xử công khai trừ trường hợp nhất định 18
1.4.7.4 Tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số 19
1.4.7.5 Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm 20
1.4.7.6 Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm 20
1.4.7.7 Quyền bào chữa của bị can, bị cáo, quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp của đương sự được bảo đảm 20
CHƯƠNG 2: VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN 22
2.1 Vị trí pháp lý của Viện Kiểm Sát nhân dân 22
2.2 Chức năng, nhiệm vụ của VKSND 23
2.3 Cách thức thành lập Viện Kiểm Sát nhân dân 30
2.4 Cơ cấu tổ chức và hoạt động của Viện Kiểm Sát nhân dân qua Hiến pháp năm 1946, 1992, 2013 32
2.4.1 Viện Kiểm Sát nhân dân tối cao 33
2.4.2 Viện Kiểm Sát nhân dân cấp cao 33
2.4.3 Viện Kiểm Sát nhân dân cấp tỉnh 34
2.4.4 Viện Kiểm Sát nhân dân cấp huyện 34
2.4.5 Các viện kiểm sát quân sự 34
2.4.6 Nguyên tắc hoạt động của Viện Kiểm Sát nhân dân 34
KẾT LUẬN 38
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 39
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
Ngày 28/11/2013, với tuyệt đại đa số đại biểu Quốc hội tán thành, Quốc hộikhóa XIII, kỳ họp thứ 6 đã thông qua Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam Đây được coi là một sự kiện chính trị - pháp lý đặc biệt quan trọng, đánhdấu một bước tiến mới trong lịch sử lập hiến của nước ta
Trong Hiến pháp 2013, quy định mới về Tòa án nhân dân và Viện Kiểm Sátnhân dân lần đầu tiên làm nên những thay đổi đáng kể về nhiệm vụ quyền hạn cũngnhư cơ cấu tổ chức của hai cơ quan này Từ đó dẫn tới sự biến chuyển về hệ thống
cơ quan tư pháp của nước ta, tiếp cần dần đến mục tiêu xây dựng nhà nước phápquyền xã hội chủ nghĩa cùng với phân chia và kiểm soát quyền lực giữa các cơ quannhà nước, vì lợi ích của nhân dân
Để tìm hiểu kĩ lưỡng về những vấn đề cơ bản cùng với sự thay đổi trong cơquan Tòa án nhân dân và Viện Kiểm Sát nhân dân, nhóm 5 xin tiến hành phân tích
và nghiên cứu, ghi nhận những kiến thức nền tảng về hai cơ quan này thông qua
tiểu luận “Tòa án nhân dân và Viện Kiểm Sát nhân dân” gồm hai phần:
CHƯƠNG 1: TÒA ÁN NHÂN DÂN
CHƯƠNG 2: VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
Trong quá trình thực hiện tiểu luận, nhóm không thể tránh khỏi sẽ vướngphải những sai sót, thiếu hụt Hy vọng Cô và các bạn xem xét, góp ý để nhóm cóthể chỉnh sửa cũng như cùng giúp nhau hiểu rõ, đúng và đủ về đề tài này
Nhóm 5 xin chân thành cảm ơn!
Trang 6CHƯƠNG 1: TÒA ÁN NHÂN DÂN
Là đạo luật cơ bản của đất nước đang chuyển sang giai đoạn phát triển mới,Hiến pháp năm 2013 đã phản ánh một cách biện chứng những bước tiến trong nhậnthức lý luận và kết quả thực tiễn của quá trình cải cách bộ máy nhà nước nói chung
và cải cách tư pháp nói riêng Trong đó, Hiến pháp năm 2013 đã dành 05 điều đểquy định về Tòa án nhân dân (sau đây viết tắt là TAND), được thể hiện từ điều 102đến điều 106
1.1 Vị trí pháp lý của Tòa án nhân dân
Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhândân; tất cả quyền lực thuộc về nhân dân tiếp tục được kế thừa trong Hiến pháp mớicủa nước ta Tư tưởng chủ quyền nhân dân và nguyên tắc tổ chức thực hiện quyềnlực nhà nước tiếp tục được phát triển trong bản Hiến pháp mới Nguyên tắc phâncông, phối hợp thực hiện quyền lực nhà nước được thể hiện rõ ràng, rành mạch hơn
Sơ đồ hệ thống cơ quan Nhà nước Việt Nam hiện tại:
Qua sơ đồ cho thấy được hệ thống cơ quan Nhà nước ta đã có sự thay đổiđáng kể, tuy vậy vẫn có thể nhìn ra vị trí pháp lý quan trọng của TAND là một
HỆTHỐNGCƠQUANNHÀNƯỚC
Cơ quan quyền lực Nhà nước
Cơ quan hành chính Nhà nước
Cơ quan xét xử
Cơ quan kiểm sátNgoài ra, Chủ Tịch NướcHội đồng bầu cử quốc gia
Trang 7trong các cơ quan cấu thành bộ máy Nhà nước, là trung tâm của hệ thống các cơquan tư pháp của nước ta.
Trên cơ sở kế thừa quy định của Hiến pháp năm 1992 và chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn và các nguyên tắc hoạt động của Toà án nhân dân, Hiến pháp 2013
bổ sung quy định Toà án nhân dân thực hiện quyền tư pháp (Điều 102) Theo đó,Toà án có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo
vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp phápcủa tổ chức, cá nhân (khoản 3 Điều 102); sửa đổi quy định về hệ thống tổ chức Toà
án (khoản 2 Điều 102) cho phù hợp với chủ trương cải cách tư pháp theo hướngkhông xác định cấp Toà án cụ thể trong Hiến pháp mà để luật định, làm cơ sở hiếnđịnh cho việc tiếp tục đổi mới hoạt động tư pháp, phù hợp với yêu cầu của Nhànước pháp quyền
Bằng việc quy định “TAND là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp” (khoản 1 Điều 102), Hiến pháp xác định
rõ ràng, cụ thể vị trí, vai trò của TAND trong bộ máy cơ quan nhà nước TAND là
cơ quan duy nhất thực hiện quyền tư pháp, thực hiện chức năng xét xử; là cơ quanduy nhất có quyền ra phán quyết về các vi phạm pháp luật, các tranh chấp theo quyđịnh của pháp luật và về các vấn đề pháp lý liên quan đến quyền, lợi ích hợp phápcủa tổ chức, cá nhân Xử lý các vi phạm pháp luật bằng chế tài nhà nước, giải quyếtcác tranh chấp bằng quyền lực nhà nước đều thuộc thẩm quyền của Tòa án Vì vậy,quy định của Hiến pháp là cơ sở hiến định cho việc mở rộng thẩm quyền của Tòa
án trong xét xử các loại án, thể hiện xu thế tất yếu của Nhà nước pháp quyền
Hiến pháp khẳng định vị trí trung tâm của Tòa án trong hệ thống tư pháp, vịtrí trọng tâm của hoạt động xét xử trong các hoạt động tư pháp
1.2 Chức năng cơ bản của Tòa án nhân dân
Để thể hiện nguyên tắc tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước với đủ ba yếu
tố phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp.Hiến pháp năm 2013, lần đầu tiên kể từ sau Hiến pháp năm 1946 đã xác định rành
Trang 8mạch: Quốc hội là cơ quan thực hiện quyền lập pháp, Chính phủ là cơ quan thựchiện quyền hành pháp, TAND là cơ quan thực hiện quyền tư pháp.
Trong đó, Khoản 1 Điều 102 quy định: “TAND là cơ quan xét xử của nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp”.
Chức năng xét xử của Tòa án là một chức năng đã được thể hiện xuyên suốttrong các bản Hiến pháp trước đây Tuy nhiên đây là lần đầu tiên Tòa án được trao
một sứ mệnh cao quý, riêng có của Tòa án đó là “thực hiện quyền tư pháp” Đây là
quy định rất mới của Hiến pháp năm 2013 Thực hiện quyền tư pháp ở đây là “bảo
vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủnghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cánhân”
Đây là định hướng nhằm hoàn thiện bộ máy nhà nước ta theo kiểu nhà nướcpháp quyền xã hội chủ nghĩa, thể chế hóa quan điểm về phân công, phối hợp quyềnlực Nhà nước Nội dung mới nêu trên về TAND còn mang ý nghĩa thực tiễn, là cơ
sở pháp lý để giao cho TAND có thẩm quyền giải quyết những loại vụ việc liênquan đến việc hạn chế quyền nhân thân của công dân, mà những loại việc đó hiệnnay do các cơ quan hành chính đang thực hiện, ví dụ như việc ra các quyết định ápdụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh hoặc quyết định đưa người vào các trung tâmgiáo dưỡng, cai nghiện… Hiện nay, ngành TAND đã và đang chuẩn bị hoàn thiện
cơ sở pháp lý để thực hiện chức năng đó
Thực hiện nguyên tắc hiến định trên, ngày 24 tháng 11 vừa qua Luật Tổchức TAND năm 2014 đã được Quốc hội thông qua và nội dung này được thể hiệntại Khoản 1 Điều 2 của Luật tổ chức TAND 2014 ghi nhận tương tự Hiến pháp
2013: “TAND là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
thực hiện quyền tư pháp”.
Như vậy, để hiểu đúng bản chất của chức năng cơ bản mà TAND thực hiện
ta cần biết “Xét xử hiểu như thế nào?” Xét xử là việc Tòa án nhân danh Nhà nước
ra một phán quyết về một hành vi nào đó theo quy định của pháp luật là có tội haykhông và áp dụng hình phạt gì cho tội phạm đó (trong lĩnh vực hình sự) Xét xử còn
Trang 9được hiểu là nhân danh Nhà nước giải quyết một vụ việc: dân sự, hôn nhân và giađình, lao động, hành chính, phá sản, khiếu nại danh sách cử tri…
Trong thực tiễn đời sống thì những vấn đề này luôn xảy ra mỗi lúc mỗi nơi,chức năng cơ bản là xét xử của TAND có tầm quan trọng không thể phủ định
1.2.1 Đặc điểm của hoạt động xét xử của TAND
1.2.1.1. Hoạt động xét xử là trung tâm nhất, bản chất nhất của hoạt động tư pháp
Quyền tư pháp là một dạng quyền lực nhà nước, được minh định khi quyềnlực nhà nước phân chia thành ba quyền độc lập với nhau, bổ trợ cho nhau và kiểmsoát lẫn nhau Đó là các quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp Là sảnphẩm của các cuộc biển đổi thể chế mang tính cách mạng, học thuyết và thực tiễnphân chia quyền lực, cân bằng quyền lực, kiểm soát quyền lực cùng với việc xâydựng nhà nước pháp quyền, ba quyền này đã chứng tỏ sức sống của mình trong thếgiới đương đại
Quá trình chuyển quyền tư pháp được ghi nhận trong các văn bản pháp luậtvào thực tiễn đời sống xã hội được gọi là hoạt động thực hiện quyền tư pháp hay làhoạt động tư pháp Hoạt động tư pháp nếu hiểu theo nghĩa rộng thì bao gồm hoạtđộng điều tra, xét xử, thi hành án… nhưng về nghĩa hẹp thì có thể xem là hoạt độngxét xử Mà chủ thể thực hiện hoạt động xét xử chính là TAND Vì thế, TAND đượcxem là cơ quan trọng tâm thực hiện quyền tư pháp
1.2.1.2. Phạm vi hoạt động xét xử rộng
Tòa án xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân – gia đình, lao động, kinh
tế, hành chính và giải quyết những việc khác theo quy định của pháp luật Như đãgiải thích về chức năng cơ bản là xét xử của TAND, mọi vấn đề sự việc xảy ratrong xã hội, dù nằm trong phạm vi điều chỉnh của pháp luật nước ta hay không,nếu được cho là cần thiết thì sẽ được TAND tiếp nhận và xét xử
1.2.1.3. Chỉ Tòa án mới có quyền nhân danh quyền lực Nhà nước để thực hiện chức năng xét xử
Trang 10Bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực thi hành cuối cùng, có khả năngthay thế quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo.
TAND thực hiện quyền xét xử, cơ quan xét xử được quyền phán quyết, rabản án về một sự kiện có tính xung đột, tranh chấp và vấn đề chính yếu là phánquyết của cơ quan xét xử lại có hiệu lực pháp lý như một quy phạm pháp luật, bắtbuộc mọi cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan nghiêm chỉnh thi hành
1.2.2 Các thủ tục xét xử của Tòa án nhân dân
Trang 11Trong đó lưu ý rằng, sơ thẩm, phúc thẩm được gọi là cấp xét xử Tức là, hệ
thống xét xử của nước ta bao gồm hai cấp xét xử là sơ thẩm và phúc thẩm Giám
Sơ thẩm là việc Tòa án xét xử lần đầu theo vụ án được thụ lý giải
quyết
là việc Tòa án xét xử lần đầu theo vụ án được thụ lý giải quyết
Phúc thẩm
là việc Tòa án cấp trên xét xử lại những bản án hoặc
quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa
án cấp dưới bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của
pháp luật.
là việc Tòa án cấp trên xét xử lại những bản án hoặc
quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa
án cấp dưới bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của
pháp luật.
Tái thẩm
áp dụng đối với bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực
pháp luật nhưng bị kháng nghị vì có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung
của bản án hoặc quyết định mà tòa án, các đương sự không thể biết được khi ra bản án hoặc quyết định đó.
áp dụng đối với bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung
của bản án hoặc quyết định mà tòa án, các đương sự không thể biết được khi ra bản án hoặc quyết định đó.
Giám đốc thẩm là xét lại bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật
trong việc xử lý vụ án.
là xét lại bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật trong việc xử lý vụ án.
Trang 12đốc thẩm, tái thẩm không phải là một cấp xét xử mà chỉ là một thủ tục đặc biệt đểxem xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật.
1.3 Cách thức thành lập Tòa án nhân dân
Về cơ bản Hệ thống TAND theo Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chứcTAND năm 2014 có một vài thay đổi so với Hiến pháp 1992 và Luật cũ Theo đó,
hệ thống tổ chức của TAND được tổ chức thành 4 cấp:
- TAND tối cao;
- Toà án nhân dân cấp cao;
- Tòa án tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
- Tòa án huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh
Nếu nói rằng hệ thống TAND Việt Nam được phân cấp rõ ràng và thốngnhất thì hệ thống Tòa án ở Mỹ thực ra gồm nhiều tòa án độc lập khác nhau Có một
hệ thống tòa án Liên bang, và đây là một hệ thống hợp nhất được chia thành nhiềuđơn vị địa lý và các cấp độ tòa án khác nhau; hơn nữa, mỗi tiểu bang đều có hệthống tòa án của riêng mình với một hệ thống tòa án địa phương hoạt động trongphạm vi tiểu bang đó Theo cấu trúc tòa án tiểu bang/Liên bang tồn tại song songnày, Tòa án Tối cao Mỹ là cơ quan phân xử cuối cùng theo luật Liên bang, trongkhi tòa án cấp cao nhất ở mỗi tiểu bang (thường được gọi là các tòa án tối cao) cóquyền lực cao nhất quyết định về các vấn đề theo luật của tiểu bang đó Khi có cácvấn đề liên quan đến hiến pháp Liên bang hay luật Liên bang thì các tòa án Liênbang có quyền phán quyết tiểu bang đó có vi phạm luật Liên bang hay không
Tức là, hệ thống tư pháp ở Mỹ phức tạp hơn Việt Nam rất nhiều, bao gồmcác cơ quan xét xử phân biệt:
- Tòa án Liên bang;
- Tòa án đặc biệt;
- Tòa án hành chính;
- Tòa án tiểu bang;
Trang 13- Tòa án địa phương.
Mỗi hệ thống tư pháp được đánh dấu bởi sự khác biệt về chức năng và hoạtđộng Hơn nữa, việc quyền hạn xét xử chồng chéo nhau và bất kỳ tòa án nào cũng
có thể xử về các vấn đề luật Liên bang và tiểu bang đã làm rối rắm hơn nữa hoạtđộng của các hệ thống này
Về cơ bản, tất cả hệ thống tòa án ở Mỹ đều giống nhau về hầu hết cácphương diện cơ bản Phần lớn các tòa án Mỹ là những tòa án có quyền hạn xét xửchung Hơn nữa, mỗi hệ thống đều theo mô hình thứ bậc của cấu trúc kim tự tháp,tạo điều kiện cho việc xem xét lại và nếu cần sửa đổi lại phán quyết tại tòa án cấpcao hơn.1
1.4 Cơ cấu tổ chức các hoạt động của TAND
Hiến pháp 2013 không tiếp tục liệt kê tên các Tòa án cụ thể mà quy định
“TAND gồm TAND tối cao và các Tòa án khác do luật định” (khoản 2 Điều 102
HP 2013) Quy định như thế phù hợp với tinh thần cải cách tư pháp (tổ chức tòa ánhạn chế phụ thuộc vào đơn vị hành chính)
1.4.1 Đối với Tòa án nhân dân tối cao
TAND tối cao là cơ quan xét xử cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam Nhiệm vụ, quyền hạn của TAND tối cao (Điều 20 LTCTAND2014):
Trang 14- Quản lý các TAND và Tòa án quân sự về tổ chức, bảo đảm độc lập giữacác Tòa án.
- Trình QH dự án luật, nghị quyết; trình UBTVQH dự án pháp lệnh, nghịquyết
Cơ cấu tổ chức của TAND tối cao bao gồm:
- Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao;
- Bộ máy giúp việc;
- Các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng2
Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao có số lượng thành viên không dưới mười
ba người và không quá mười bảy người, gồm có Chánh án, các Phó Chánh án Tòanhân dân tối cao là Thẩm phán TAND tối cao và các Thẩm phán TAND tối cao
Bên cạnh đó, với sự thay đổi về cơ thế Thẩm phán thì điều kiện để được bổnhiệm Thẩm phán TAND tối cao cũng có sự thay đổi Tại Khoản 1 Điều 69LTCTAND 2014 có quy định như sau:
«1 Người có đủ tiêu chuẩn tại Điều 67 của Luật này và có đủ các điều kiện
sau đây thì có thể được tuyển chọn, bổ nhiệm làm Thẩm phán TAND tối cao:
a) Đã là Thẩm phán cao cấp từ đủ 05 năm trở lên;
b) Có năng lực xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của TAND tối cao theo quy định của luật tố tụng.»
Tức là, Thẩm phán được bổ nhiệm làm Thẩm phán TAND tối cao phải làThẩm phán cao cấp, ngoại trừ trường hợp quy định ở Khoản 2 cùng Điều này:
«Người không công tác tại các Tòa án nhưng giữ chức vụ quan trọng trong các cơ quan, tổ chức trung ương, am hiểu sâu sắc về chính trị, pháp luật, kinh tế, văn hóa,
xã hội, an ninh, quốc phòng, ngoại giao hoặc là những chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành về pháp luật, giữ chức vụ quan trọng trong các cơ quan, tổ chức và có
uy tín cao trong xã hội, có năng lực xét xử những vụ án và giải quyết những việc
2 Điều 21 Luật Tổ chức TAND 2014.
Trang 15khác thuộc thẩm quyền của TAND tối cao theo quy định của luật tố tụng thì có thể được tuyển chọn, bổ nhiệm làm Thẩm phán TAND tối cao.» 3
Nhiệm kỳ của TAND tối cao theo nhiệm kỳ của Quốc hội Chánh án TANDtối cao do Quốc hội bầu theo sự giới thiệu của Chủ tịch nước
Các Phó Chánh án TAND tối cao được Chủ tịch nước bổ nhiệm trong số cácThẩm phán TAND tối cao Nhiệm kỳ của Phó Chánh án TAND tối cao là 05 năm,
kể từ ngày được bổ nhiệm Đặc biệt, theo quy định của Hiến pháp năm 2013 vàLuật Tổ chức TAND năm 2014, việc bổ nhiệm Thẩm phán TAND tối cao có nhiềuthay đổi: Từ số lượng 120 Thẩm phán TAND tối cao theo Luật cũ, nay theo quyđịnh của Luật tổ chức TAND năm 2014 rút xuống chỉ còn 13 đến 17 người
Quy trình bổ nhiệm cũng có thay đổi cơ bản: sau khi Hội đồng tuyển chọn vàgiám sát Thẩm phán quốc gia tuyển chọn và lên danh sách, trải qua quy trình lấyphiếu tín nhiệm ở nhiều cấp, sau đó trình Quốc hội phê chuẩn Căn cứ vào Nghịquyết phê chuẩn của Quốc hội, Hội đồng Tuyển chọn Thẩm phán mới trình Chủtịch nước ký quyết định bổ nhiệm Đây cũng là lần đầu tiên trong lịch sử nền tưpháp đất nước, một chức danh tố tụng cao cấp là Thẩm phán TAND tối cao đượctoàn thể Quốc hội xem xét, cân nhắc và phê chuẩn
Ngoài ra, còn có bộ máy giúp việc của Toà án nhân dân tối cao gồm các vụ
và các đơn vị tương đương Chánh án TAND tối cao trình Ủy ban thường vụ Quốchội phê chuẩn tổ chức bộ máy; nhiệm vụ, quyền hạn của các đơn vị trong bộ máygiúp việc Và cơ sở đào tạo, bồi dưỡng của TAND tối cao được thành lập theo quyđịnh của luật
1.4.2 Đối với Tòa án nhân dân cấp cao
Khác với Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013 có quy định mới về hệthống tổ chức và nhiệm vụ của TAND Trong đó, có thêm một cấp TAND mới làTAND cấp cao
TAND cấp cao bao gồm: Ủy ban Thẩm phán TAND cấp cao; Tòa hình sự,Tòa dân sự, Tòa hành chính, Tòa kinh tế, Tòa lao động, Tòa gia đình và người chưa
3 Điều 69 Luật TCTAND 2014
Trang 16thành niên (trường hợp cần thiết, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định thành lậpTòa chuyên trách khác theo đề nghị của Chánh án TAND tối cao); Bộ máy giúpviệc.
Ủy ban Thẩm phán TAND cấp cao (gồm Chánh án, các Phó Chánh án làThẩm phán cao cấp và một số Thẩm phán cao cấp do Chánh án TAND tối caoquyết định theo đề nghị của Chánh án TAND cấp cao), số lượng thành viên Ủy banThẩm phán TAND cấp cao không dưới 11 người và không quá 13 người Chánh án
và Phó Chánh án TAND cấp cao do Chánh án TAND tối cao bổ nhiệm, miễnnhiệm, cách chức Nhiệm kỳ của Chánh án và Phó Chánh án TAND cấp cao là 05năm, kể từ ngày được bổ nhiệm
Và các tòa chuyên trách như Tòa hình sự, Tòa dân sự, Tòa hành chính, Tòakinh tế, Tòa lao động, Tòa gia đình và người chưa thành niên Trường hợp cần thiết,
Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định thành lập Tòa chuyên trách khác theo đềnghị của Chánh án TAND tối cao Bộ máy giúp việc của TAND cấp cao gồm cóVăn phòng và các đơn vị khác Chánh án TAND tối cao quyết định thành lập vàquy định nhiệm vụ, quyền hạn của Văn phòng, các đơn vị khác thuộc bộ máy giúpviệc của TAND cấp cao
1.4.3 Đối với Tòa án nhân dân cấp tỉnh (thành phố trực thuộc Trung ương)
Thành phần của TAND tỉnh (thành phố trực thuộc Trung ương) gồm: Ủyban Thẩm phán; Tòa hình sự, Tòa dân sự, Tòa hành chính, Tòa kinh tế, Tòa laođộng, Tòa gia đình và người chưa thành niên; Bộ máy giúp việc
Chánh án, các Phó Chánh án và một số Thẩm phán cấu tạo thành Ủy banThẩm phán, số lượng thành viên của Ủy ban Thẩm phán do Chánh án TAND tốicao quyết định theo đề nghị của Chánh án TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trungương Ngoài ra, TAND cấp tỉnh cũng có các tòa chuyên trách như Tòa hình sự, Tòadân sự, Tòa hành chính, Tòa kinh tế, Tòa lao động, Tòa gia đình và người chưa
thành niên Trường hợp cần thiết, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định thành lập
Tòa chuyên trách khác theo đề nghị của Chánh án TAND tối cao Bộ máy giúp việc
Trang 17của TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương gồm có Văn phòng, phòng và cácđơn vị tương đương Chánh án TAND tối cao quyết định thành lập và quy địnhnhiệm vụ, quyền hạn của Văn phòng, phòng và các đơn vị tương đương thuộc bộmáy giúp việc của TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
Chánh án và phó Chánh án TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
do Chánh án TAND tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức.Nhiệm kỳ của Chánh
án và phó Chánh án TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là 05 năm, kể từngày được bổ nhiệm Khác với Luật Tố chức TAND năm 2002 trước đây quy địnhChánh án, các Phó Chánh án, các Thẩm phán do Chủ tịch nước bổ nhiệm theo sự đềnghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, các hội thẩm nhân dân do Hội đồng nhân dân tỉnh(thành phố trực thuộc Trung ương) bầu
1.4.4 Đối với Tòa án nhân dân cấp huyện, quận, thị xã, thành phố, thuộc tỉnh và tương đương
TAND huyện (quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh) gồm có Chánh án, PhóChánh án, Thẩm phán Chánh án và Phó Chánh án TAND huyện, quận, thị xã,thành phố thuộc tỉnh và tương đương do Chánh án TAND tối cao bổ nhiệm, miễnnhiệm, cách chức Nhiệm kỳ của Chánh án và phó Chánh TAND huyện, quận, thị
xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương là 05 năm, kể từ ngày được bổ nhiệm.Khác với trước đây, Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán do Chủ tịch nước bổnhiệm theo sự đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Hội thẩm nhân dân do Hội đồngnhân dân ở địa phương cùng cấp bầu ra TAND huyện và tương đương không cóHội đồng Thẩm phán và Ủy ban Thẩm phán như các Tòa án cấp Tỉnh, TAND cấpcao và TAND tối cao
Trước đây, TAND huyện và tương đương không có các tòa chuyên trách,nhưng theo Luật Tổ chức TAND năm 2014 thì TAND huyện, quận, thị xã, thànhphố thuộc tỉnh và tương đương có thể có Tòa hình sự, Tòa dân sự, Tòa gia đình vàngười chưa thành niên, Tòa xử lý hành chính Trường hợp cần thiết, Ủy ban thường
vụ Quốc hội quyết định thành lập Tòa chuyên trách khác theo đề nghị của Chánh ánTAND tối cao
Trang 18Ngoài ra, Chánh án TAND tối cao quyết định thành lập và quy định nhiệm
vụ, quyền hạn của bộ máy giúp việc TAND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộctỉnh và tương đương
1.4.5 Đối với Tòa án Quân sự
Do đặc điểm đặc biệt của lĩnh vực quân sự, hoạt động xét xử trong quân độiđược thành lập một hệ thống gần như riêng rẽ, bao gồm: Tòa án quân sự Trungương, các Tòa án quân sự quân khu và các Tòa án quân sự khu vực
Ủy ban Thẩm phán Tòa án quân sự trung ương bao gồm Chánh án, PhóChánh án là Thẩm phán cao cấp và một số Thẩm phán cao cấp do Chánh án TANDtối cao quyết định theo đề nghị của Chánh án Tòa án quân sự trung ương Tổng sốthành viên Ủy ban Thẩm phán Tòa án quân sự trung ương không quá 07 người.Chánh án Tòa án quân sự trung ương là Phó Chánh án TAND tối cao do Chủ tịchnước bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Còn Phó Chánh án Tòa án quân sự trungương do Chánh án TAND tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức sau khi thốngnhất với Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.Nhiệm kỳ của Chánh án và Phó Chánh án Tòa
án quân sự trung ương là 05 năm, kể từ ngày được bổ nhiệm
Ủy ban Thẩm phán Tòa án quân sự quân khu và tương đương gồm Chánh
án, Phó Chánh án và một số Thẩm phán Số lượng thành viên của Ủy ban Thẩmphán do Chánh án TAND tối cao quyết định theo đề nghị của Chánh án Tòa ánquân sự quân khu và tương đương.Chánh án và Phó Chánh án Tòa án quân sự quânkhu và tương đương do Chánh án TAND tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chứcsau khi thống nhất với Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Nhiệm kỳ của Chánh án và PhóChánh án Tòa án quân sự quân khu và tương đương là 05 năm, kể từ ngày được bổnhiệm
Tòa án quân sự khu vực có Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán Chánh án
và Phó chánh án Toà án quân sự khu vực do Chánh án TAND tối cao bổ nhiệm,miễn nhiệm, cách chức sau khi thống nhất với Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Nhiệm
kỳ của Chánh án Phó Chánh án Toà án quân sự khu vực là 05 năm, kể từ ngày được
bổ nhiệm
Trang 191.4.6 So sánh với Tòa án ở Mỹ
Tòa án của Hoa Kỳ tồn tại trong một khuôn khổ hiến pháp toàn diện nhằmđảm bảo tính độc lập của tòa án Chẳng hạn như Tổng thống có quyền bổ nhiệm cácThẩm phán của Liên bang, nhưng lại không có quyền bãi nhiệm họ Việc bãi nhiệmnày ít khi xảy ra và thuộc thẩm quyền của Quốc hội Về phần mình, các Thẩm phánlại có quyền bác bỏ các hành động của Tổng thống và Quốc hội bằng cách tuyên bốrằng những hành động đó không hợp hiến - các nhà quan sát nước ngoài rất có ấntượng về đặc điểm này của hệ thống Hoa Kỳ Nhưng quyền bác bỏ này của hệthống tư pháp không phải là quyền tuyệt đối, bởi vì người ta có thể soạn lại luật vànếu cần thiết thì sửa đổi cả Hiến pháp
Hơn nữa, quá trình lựa chọn để trở thành một Thẩm phán ở Mỹ là khácnhau tùy theo các bang, nhưng nói chung đều thông qua một trong hai kênh chính –thông qua bầu cử công khai hoặc do thống đốc hoặc thị trưởng bổ nhiệm Ở bangquê nhà New York của Espinoza, ứng cử viên phải là luật sư đang hành nghề ít nhất
là 10 năm và được xem xét bởi một ban tuyển chọn theo năng lực gồm các đại diệncủa các trường luật, các hội luật gia và các tổ chức cộng đồng Sau đó các ban nàychuyển cho các quan chức bầu cử tên tuổi để xem xét đưa vào danh sách bỏ phiếu,hoặc chuyển cho quan chức phụ trách tuyển chọn nếu áp dụng cách bổ nhiệm.Nhiệm kỳ của Thẩm phán ở New York là 10 năm đối với tòa án cấp thấp và 14 nămđối với tòa án cấp cao hơn Tùy theo năng lực hoạt động mà các Thẩm phán có thểđược hoặc không được bầu lại hay tái bổ nhiệm.4
1.4.7 Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân
1.4.7.1. Việc xét xử của Tòa án do Thẩm phán và Hội thẩm thực hiện
Bản chất nhà nước CHXHCN Việt Nam là của nhân dân, do nhân dân, vìnhân dân, do vậy nhân dân là người chủ của đất nước, có quyền tham gia quản lýnhà nước, trong đó có quyền tham gia vào hoạt động xét xử của tòa án Mục đích:nhằm thu hút đông đảo nhân dân tham gia hoạt động xét xử của Tòa án, giúp choviệc xét xử được công minh, chính xác, khách quan
4 Theo Laura Safer Espinoza, Thẩm phán bang New York.
Trang 20Hội thẩm nhân dân là người lao động sống và làm việc gần gũi với cuộcsống nhân dân, thay mặt nhân dân tham gia hoạt động xét xử của tòa án, bảo đảmcho việc xét xử của tòa án đúng đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhànước, phù hợp nguyện vọng của nhân dân, sát với thực tế cuộc sống Sau khi xét xửcác Hội thẩm nhân dân biết kết quả của phiên tòa để giáo dục nhân dân ý thức tuântheo pháp luật.
Nguyên tắc này được quy định từ Hiến pháp năm 1946 đến Hiến pháp 1992(sửa đổi, bổ sung năm 2001) và các Luật tổ chức TAND năm 1960, 1981, 1992,
2002 Khoản 1 Điều 103 Hiến pháp 2013 “Việc xét xử sơ thẩm của TAND có Hội
thẩm tham gia, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn”.
1.4.7.2. Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
Nguyên tắc bảo đảm cho TAND xét xử khách quan, đúng pháp luật để bảo
vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa Khoản 2 Điều 103 Hiến pháp 2013: Thẩm
phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan,
tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm Hiến pháp
sửa đổi 2013 đã bổ sung thêm quy định “nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân
can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm” đã thể chế đầy đủ hơn nguyên
tắc độc lập khi xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm.
1.4.7.3. Toà án xét xử công khai trừ trường hợp nhất định
Quy định nguyên tắc này nhằm thu hút đông đảo nhân dân tham gia kiểm tra,giám sát đối với hoạt động xét xử của TAND đồng thời
- Nâng cao công tác giáo dục ý thức pháp luật trong nhân dân tham gia tíchcực vào cuộc đấu tranh chống tội phạm và các vi phạm pháp luật khác
- Hình phạt của các bản án, quyết định hình sự không chỉ nhằm trừng phạt
mà còn có mục đích răn đe, phòng ngừa, giáo dục