Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã triển khai rất nhiều chương trình, dự án nhằm thay đổi bộ mặt của người dân nông thôn như: Chương trình 135, chương trình chuyển dịch cơ cấu cây
Trang 1-
CHANG A SÀNG
MỘT SỐ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI HUYỆN
MÙ CANG CHẢI – TỈNH YÊN BÁI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính Quy Chuyên ngành : Quản lý đất đai
Khóa học : 2011 – 2015
Thái Nguyên – năm 2015
Trang 2-
CHANG A SÀNG
MỘT SỐ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI HUYỆN
MÙ CANG CHẢI – TỈNH YÊN BÁI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính Quy Chuyên ngành : Quản lý đất đai
Khóa học : 2011 – 2015 Giảng viên hướng dẫn : Th.S Ngô Thị Hồng Gấm
Thái Nguyên – năm 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Thực hiện phương trâm “ học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tế”
Thực tập tốt nghiệp là thời gian để mỗi sinh viên sau khi học tập, nghiên cứu tại trường có điều kiện củng cố và vận dụng kiến thức đã học vào thực tế Đây là giai đoạn không thể thiếu được đối với mỗi sinh viên các trường đại nói chung và sinh viên Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên nói riêng
Với lòng kính trọng và biết ơn, em xin cảm ơn cô giáo Th.S Ngô Thị Hồng Gấm giảng viên Khoa Quản lý tài nguyên, người đã tận tình hướng dẫn
và giúp đỡ em trong suốt thời gian thực hiện nghiên cứu đề tài
Em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiêm Khoa Quản lý tài nguyên, các thầy giáo, cô giáo, cán bộ trong khoa đã truyền đạt cho em những kiến thức, kinh nghiệm quý báu trong quá trình học tập và rèn luyện tại trường
Em xin gửi lời cảm ơn tới lãnh đạo UBND Huyện Mù Cang Chải, các lãnh đạo, cán bộ, nhân viên đang công tác tại Phòng Tài Nguyên & Môi trường, Phòng NN&PTNT, Chi cục thống kê, nhân dân hai xã Đã tạo điều kiện, giúp đỡ em trong suốt thời gian thực tập, viết khóa luận tốt nghiệp tại địa phương
Trong quá trình học tập và hoàn thành khóa khóa luận, em đã cố gắng hết mình nhưng do kinh nghiệm còn thiếu và kiếm thức còn hạn chế nên khóa luận tốt nghiệp này chắc chắn sẽ không tránh khỏi thiếu sót Em rất mong nhận được
sự đóng góp ý kiến của các thầy cô và bạn bè để khóa luận được hoàn thiện hơn
Em xin chân trọng cảm ơn./
Thái Nguyên, ngày 23 tháng 05 năm 2014
Sinh viên thực hiện
Chang A Sàng
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1 Các chỉ tiêu cơ bản của huyện Mù Cang Chải 23
Bảng 4.2: Kết quả phát triển kinh tế nông thôn của huyện 27
giai đoạn 2012 – 2014 27
Bảng 4.3: Kết quả hoạt động sản xuất nông nghiệp của huyện 28
giai đoạn 2012 - 2014 28
Bảng 4.4: Tình hình phát triển xã hội nông thôn của huyện 29
giai đoạn 2012 – 2014 29
Bảng 4.5: Tiêu chí quy hoạch và phát triển quy hoạch 30
Bảng 4.6: Thực trạng tiêu chí hạ tầng - kinh tế - xã hội 31
Bảng 4.7: Các nhân tố kinh tế và tổ chức sản xuất 34
Bảng 4.8: Nhóm nhân tố văn hóa – xã hội 36
Bảng 4.9: Nhân tố hệ thống chính trị - an ninh xã hội 38
Bảng 4.10 Diện tích đất đai xã La Pán Tẩn Error! Bookmark not defined Bảng 4.11 Thực trạng quy hoạch và thực hiện quy hoạch của xã 40
La Pán Tẩn so với bộ tiêu chí 40
Bảng 4.12: Thực trạng hạ tầng kinh tế - xã hội so với bộ tiêu chí 41
Bảng 4.13: Thực trạng kinh tế và sản xuất của xã so với bộ tiêu chí 43
Bảng 4.14: Thực trạng Văn hóa – Xã hội- Môi trường của xã so với bộ tiêu chí 44
Bảng 4.15: Thực trạng hệ thống chính trị của xã so với bộ tiêu chí 45
Bảng 4.16 Diện tích đất đai xã Dế Xu Phình Error! Bookmark not defined Bảng 4.17 Thực trạng quy hoạch và thực hiện quy hoạch của xã Dế Xu Phình so với bộ tiêu chí 47
Bảng 4.18: Thực trạng hạ tầng kinh tế - xã hội so với bộ tiêu chí 48
Bảng 4.19: Thực trạng kinh tế và sản xuất của xã so với bộ tiêu chí 50
Trang 5Bảng 4.20: Thực trạng Văn hóa – Xã hội- Môi trường của xã 51
so với bộ tiêu chí 51 Bảng 4.21: Thực trạng hệ thống chính trị của xã so với bộ tiêu chí 52 Bảng 4.22: Tổng hợp kết quả thực hiện theo chỉ tiêu nông thôn mới của huyện
Mù Cang Chải 53
Trang 6DANH MỤC VIẾT TẮT
CNH - HĐH Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
30A Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và
bền vững đối với 62 huyện nghèo
Trang 7MỤC LỤC
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích của đề tài 2
1.3 Yêu cầu của đề tài 2
1.4 Ý nghĩa của đề tài 3
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 4
2.1 Cơ sở khoa học lý luận 4
2.1.1 Đặc điểm nông nghiệp, nông thôn hiện nay 4
2.1.2 Khái niệm về nông thôn mới và xây dựng nông thôn mới 5
2.1.3 Mô hình nông thôn mới 8
2.1.4 Quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước 11
2.2 Cơ sở thực tiễn 12
2.2.1 Tình hình nghiên cứu của một số nước trên thế giới 12
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 14
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 17
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 17
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 17
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 18
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu 18
3.2.2 Thời gian nghiên cứu 18
3.3 Nội dung nghiên cứu 18
3.4 Phương pháp nghiên cứu 18
3.4.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 18
Trang 83.4.2 Phương pháp thu thập thông tin 19
3.4.2.1 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp 19
3.4.3 Phương pháp tổng hợp, xử lý thông tin 19
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 20
4.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Mù Cang Chải – tỉnh Yên Bái 20
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 20
4.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội huyện Mù Cang Chải giai đoạn 2012 – 2014 22
4.2 Thực trạng xây dựng nông thôn mới của huyện Mù Cang Chải 27
4.2.1 Kết quả phát triển kinh tế - xã hội nông thôn mới của huyện giai đoạn 2012 – 2014 27
4.2.2 Thực trạng nông thôn huyện Mù Cang Chải so với bộ tiêu chí Quốc gia xây dựng nông thôn mới 30
4.2.3 Thực trạng xây dựng nông thôn mới ở một số xã tiêu biểu 39
4.3 Một số thận lợi và khó khăn về xây dựng và phát triển nông thôn mới của huyện Mù Cang Chải 53
4.3.1 Tổng kết về thực hiện chỉ tiêu xây dựng nông thôn mới của huyện Mù Cang Chải 53
4.3.2 Một số thuận lợi, khó khăn của địa phương trong xây dựng nông thôn mới 54
4.4 Giải pháp chủ yếu thúc đẩy quá trình xây dựng nông thôn mới ở huyện Mù Cang Chải 56
4.4.1 Hoàn thiện chính sách, công tác điều hành quản lý 56
4.4.2 Tăng cường công tác đào tạo, tập huấn, tuyên truyền xây dựng nông thôn mới, nâng cao nhận thức của người dân nông thôn 59
4.4.3 Hoàn thiện quy hoạch và thực hiện quản lý theo quy hoạch 60
4.4.4 Phát triển kinh tế, ổn định xã hội 61
Trang 94.4.5 Tổ chức tiếp dân và huy động các nguồn lực xây dựng nông thôn mới62
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 64
5.1 Kết luận 64
5.2 Kiến nghị 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
Trang 10PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nông nghiệp, nông dân, nông thôn nước ta
đã đạt nhiều thành tựu to lớn Tuy nhiên, nhiều thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế Nông nghiệp phát triển còn kém bền vững, sức cạnh tranh thấp, chuyển giao khoa học – công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực còn hạn chế Nông nghiệp, nông thôn phát triển thiếu quy hoạch, kết cấu hạ tầng như giao thông, thủy lợi, trường học, trạm y tế, cấp nước…còn yếu kém, môi trường ngày càng ô nhiễm Đời sống vật chất, tinh thần của người nông dân còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo cao, chênh lệch giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị còn lớn phát sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc Nhằm khắc phục tình trạng đó, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra nhiều chủ trương chính sách nhằm phát triển kinh tế nông thôn Vấn đề quan trọng đặt ra là phải tìm ra mô hình phát triển nông thôn phù hợp với bối cảnh nông thôn Việt Nam hiện tại và trong tương lai, trên cơ sở phát huy nội lực của cộng đồng nông thôn Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã triển khai rất nhiều chương trình, dự
án nhằm thay đổi bộ mặt của người dân nông thôn như: Chương trình 135, chương trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng, chương trình nước sạch và nhiều
dự án phát triển sản xuất khác… Tuy nhiên, những chương trình, dự án này chỉ mới giải quyết một số vấn đề riêng rẽ chưa được triển khai đồng bộ trên tất cả các địa phương trong cả nước
Huyện Mù Cang Chải là một huyện miền núi nằm ở phía Tây tỉnh Yên Bái, là khu vực núi cao bắt nguồn từ dãy Hoàng Liên Sơn, việc triển khai thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới ở hầu hết các xã còn gặp nhiều khó khăn, chậm so với kế hoạch đề ra Ban chỉ đạo xây dựng
Trang 11nông thôn mới tại các xã hoạt động chưa hiệu quả, chưa chủ động xây dựng được kế hoạch cụ thể để thực hiện, khâu tuyên truyền còn nhiều hạn chế, chưa thực sự đến được với người dân, nhân dân chưa hiểu được mình vừa là chủ thể thực hiện, vừa là đối tượng hưởng thụ thành quả đạt được việc thực hiện của các xã còn gặp nhiều lúng túng do chưa xây dựng mô hình thí điểm để làm căn
cứ thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới hiện nay là việc làm cấp thiết đối với mỗi địa phương trên cả nước nói chung và huyện Mù Cang Chải nói riêng, nhằm nâng cao hơn năng lực cũng như mức sống cho người dân trên địa bàn huyện
Xuất phát từ thực trạng trên, được sự nhất trí của Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Quản lý Tài nguyên, dưới sự hướng dẫn của cô giáo Th.S Ngô Thị Hồng Gấm, em tiến hành nghiên
cứu đề tài: “Một số giải pháp xây dựng nông thôn mới tại huyện Mù Cang Chải - tỉnh Yên Bái”
1.2 Mục đích của đề tài
Mục đích tổng quát:
Nghiên cứu đánh giá thực trạng xây dựng nông thôn mới ở huyện
Mù Cang Chải – tỉnh Yên Bái
Đánh giá được những thuận lợi, khó khăn trong xây dựng nông thôn mới của huyện Mù Cang Chải
Mục đích cụ thể:
- Đề xuất giải pháp thực hiện và nâng cao hiệu quả thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới ở huyện Mù Cang Chải
1.3 Yêu cầu của đề tài
- Số liệu thu thập được phải đầy đủ, chính xác, phản ánh khách quan, trung thực
- Những phân tích, đánh giá phải dựa trên cơ sở pháp lý và tình hình chung
Trang 12- Những giải pháp đưa ra phải phù hợp với địa phương và có tính khả thi
1.4 Ý nghĩa của đề tài
Ý nghĩa trong học tập, nghiên cứu
- Giúp sinh viên vận dụng và phát huy được những kiến thức đã học vào thực tế, nghiên cứu
- Nâng cao kiến thức, kỹ năng và rút ra kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác sau này
- Góp phần toàn diện những lý luận và phương pháp nhằm đẩy mạnh phát triển và xây dựng điều kiện kinh tế – xã hội ở nông thôn trong giai đoạn CNH – HĐH nông thôn hiện nay
- Đề tài là tài liệu tham khảo cho nhà trường, khoa, các cơ quan trong ngành và sinh viên các khóa tiếp theo
Trang 13Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở khoa học lý luận
2.1.1 Đặc điểm nông nghiệp, nông thôn hiện nay
Nông nghiệp là một ngành quan trọng trong quá trình phát trển kinh tế Kinh tế nông nghiệp và kinh tế nông thôn, được nói đến như một nền kinh tế truyền thống Trong đó, nông nghiệp là khu vực duy nhất sản xuất ra lương thực, thực phẩm để nuôi sống con người Dù trình độ phát triển của khoa học
kỹ thuật đến đâu thì ngày nay, sản phẩm nông nghiệp chưa có một ngành sản xuất nào thay thế được Sự phát triển trong nông nghiệp thực sự là cơ sở quan trọng tạo tiền đề để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đại bộ phận nông dân, góp phần xóa đói giảm nghèo và làm thay đổi bộ mặt nông thôn theo hướng ngày càng văn minh, hiện đại hơn Theo báo cáo của ngân hàng thế giới các nước Đông Á và Đông Nam Á, đặc biệt là các nước có nền kinh
tế đang chuyển đổi từ nông nghiệp sang đô thị hóa như Việt Nam, thì nông nghiệp vẫn được coi là yếu tố quan trọng trong việc xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập cho nông dân Hay nói cách khác, nông dân muốn thoát nghèo thì vân phải gắn với nông nghiệp.[3]
Nước ta có khoảng 70% dân số là nông dân, vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở Việt Nam luôn được Đảng và Nhà nước hết sức coi trọng trong các giai đoạn phát triển của cách mạng Việt Nam Nhờ sự quan tâm của Nhà nước thể hiện bằng các chủ chương, chính sách đúng đắn, trong những năm đổi mới, nông nghiệp nước ta đã có bước phát triển vượt bậc, đạt được nhiều thành tựu Liên tục trong nhiều năm nông nghiệp đạt mức tăng trưởng khá cả về chất lượng và sản lượng [1] Vì vậy, từ chỗ là một nước thường
Trang 14xuyên thiếu lương thực, hơn thập niên qua Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ 2 trên thế giới, (tính riêng năm 2012 toàn quốc đã xuất khẩu tới 7,7 triệu tấn), đồng thời bảo đảm an ninh lương thực quốc gia Ngoài gạo, Việt Nam còn chiếm vị thế cao trong số các nước xuất khẩu về cà phê, cao su, hạt điều Giá trị xuất khẩu những mặt hàng nông sản khác như thủy sản, chế biến
gỗ ngày càng cao và trở thành các sản phẩm chủ lực trong cơ cấu xuất khẩu của đất nước [5] Cơ cấu nông nghiệp cũng chuyển dịch theo hướng tích cực, gia tăng sản phẩm có giá trị kinh tế, có lợi thế cạnh tranh Trong nông nghiệp đã hình thành một số vùng sản xuất tập trung quy mô lớn Bên cạnh đó, kết cấu hạ tầng trong nông nghiệp và nông thôn được tăng cường Chẳng hạn, công tác thủy lợi hóa đã được thực hiện hết sức mạnh mẽ, đến nay 94% diện tích lúa, 41% diện tích hoa màu trong cả nước được tưới tiêu Việc áp dụng cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp triển khai rộng rãi (70% diện tích lúa được sử dụng máy móc) Công nghệ tiên tiến, nhất là công nghệ sinh học được ứng dụng góp phần tăng chất lượng, hiệu quả sản xuất nông nghiệp Nông nghiệp nước ta hiện nay tuy có
tỷ trọng giảm đi trong cơ cấu kinh tế của đất nước, xong giá trị tuyệt đối ngày càng tăng, đóng góp một phần không nhỏ trong GDP của đất nước
2.1.2 Khái niệm về nông thôn mới và xây dựng nông thôn mới
2.1.2.1 Khái niệm nông thôn mới
Ngày 16 tháng 4 năm 2009 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 491/QĐ- TTg về Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới gồm 19 tiêu chí, phân thành 5 nhóm: Quy hoạch; Hạ tầng - Kinh tế - Xã hội; Kinh tế và tổ chức sản xuất; Văn hóa - Xã hội - Môi trường; Hệ thống chính trị
Ngày 04 tháng 6 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 800/QĐ- TTg về phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020 Tại Quyết định này, mục tiêu
chung của Chương trình được xác định là: “ Xây dựng nông thôn mới có kết
Trang 15cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa…”
Như vậy, nông thôn mới là nông thôn có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, xã hội dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc, đời sống vật chất, tinh thần được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ, an ninh trật tự được giữ vững
2.1.2.2 Đơn vị nông thôn mới
Thông tư 54/2009/TT- BNN&PTNT, ngày 21 tháng 8 năm 2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới quy định: Ban chỉ đạo nông thôn mới Trung ương kiểm tra việc công nhận xã nông thôn mới ở các tỉnh để xét công nhận huyện, tỉnh đạt chuẩn nông thôn mới cho các huyện có 75% số xã trong huyện đạt nông thôn mới và tỉnh có 75% số huyện trong tỉnh đạt nông thôn mới
Như vậy đơn vị nông thôn mới có 3 cấp:
- Xã nông thôn mới khi đạt 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí Quốc gia nông thôn mới;
- Huyện nông thôn mới khi có 75% số xã trong huyện đạt nông thôn mới;
- Tỉnh nông thôn mới khi có 75% số huyện trong huyện đạt nông thôn mới;
2.1.2.3 Chức năng nông thôn mới
- Chức năng sản xuất nông nghiệp hiện đại: Nông thôn là nơi diễn ra phần lớn các hoạt động sản xuất nông nghiệp của quốc gia Chức năng cơ bản của nông thôn là sản xuất các sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao Khác với nông nghiệp truyền thống, sản xuất nông nghiệp của nông thôn mới bao gồm
Trang 16cơ cấu các ngành nghề mới, các điều kiện sản xuất nông nghiệp hiện đại hóa, ứng dụng phổ biến khoa học kỹ thuật tiên tiến và xây dựng các tổ chức nông nghiệp hiện đại
- Chức năng giữ gìn văn hóa truyền thống: Trải qua hàng nghìn năm phát triển, làng xóm của nông thôn được hình thành dựa trên những cộng đồng có cùng phong tục, tập quán, huyết thống Quy tắc hành vi xã hội gồm những người quen này là những phong tục tập quán đã được hình thành từ lâu đời, ở
đó con người đối xử tin cậy lẫn nhau trên quy phạm phong tục tập quán đó Ở
đó quan hệ huyết thống là mối quan hệ quan trọng nhất
- Chức năng sinh thái: Nền văn minh nông nghiệp được hình thành từ những tích lũy trong suốt một quá trình lâu dài, từ khi con người thích ứng với thiên nhiên, lợi dụng, cải tạo thiên nhiên, cho đến khi phá vỡ tự nhiên dẫn đến phải hứng chịu các ảnh hưởng xấu và cuối cùng là tôn trọng tự nhiên Trong nông thôn truyền thống, con người và tự nhiên sinh sống hài hòa với nhau, chức năng người tôn trọng tự nhiên, bảo vệ tự nhiên và hình thành nên thói quen làm việc theo quy luật tự nhiên
2.1.2.4 Chủ thể xây dựng nông thôn mới
Một số người cho rằng chủ thể xây dựng nông thôn phải là quyền Tuy nhiên, trên thực tế người nông dân mới thật sự là chủ thể xây dựng nông thôn mới Đó không phải là do Nhà nước không có đủ tiềm lực kinh tế để đóng vai trò chủ thể này, mà cho dù tiềm lực kinh tế của Nhà nước có mạnh đi chăng nữa thì cũng không thể thiếu sự đóng góp tích cực của chính tầng lớp nông dân Ở đây, không chỉ đơn thuần là cá thể nông dân, mà phải được hiểu là các
tổ chức nông dân
Trong xây dựng nông thôn mới, người nông dân phải tham gia từ khâu quy hoạch, đồng thời đóng góp công, góp của và phần lớn trực tiếp lao động sản xuất trong quá trình làm ra của cải vật chất, giữ gìn bản sắc văn hóa dân
Trang 17tộc Đồng thời, cũng là người hưởng lợi từ thành quả của nông thôn mới Chính vì vậy, nông dân là chủ thể xây dựng nông thôn mới, là yếu tố vừa đảm bảo cho sự nghiệp xây dựng nông thôn mới thành công, vừa đảm bảo phát huy được vai trò tích cực của nông dân
2.1.3 Mô hình nông thôn mới
Xây dựng mô hình nông thôn mới là một chính sách về một mô hình phát triển cả về nông nghiệp và nông thôn, nên vừa mang tính tổng hợp, bao quát nhiều lĩnh vực, vừa đi sâu giải quyết nhiều vấn đề cụ thể, đồng thời giải quyết các mối quan hệ với các chính sách khác, các lĩnh vực khác trong sự tính toán, cân đối mang tính tổng thể, khắc phục tình trạng rời rạc hoặc duy ý chí
Sự hình dung chung của các nhà nghiên cứu về mô hình nông thôn mới
là những kiểu mẫu cộng đồng theo tiêu chí mới, tiếp thu những thành tựu KHKT hiện đại mà vẫn giữ được những nét đặc trưng, tinh hoa văn hóa của người Việt Nam Nhìn chung, mô hình nông thôn mới theo hướng CNH – HĐH, hợp tác hóa, dân chủ hóa và văn minh hóa
Có thể quan niệm: “Mô hình nông thôn mới là tổng hợp các đặc điểm, cấu trúc tạo thành một kiểu tổ chức nông thôn theo tiêu chí mới, đáp ứng những yêu cầu mới đặc ra cho nông thôn hiện nay, là kiểu nông thôn được xây dựng so với mô hình nông thôn cũ (truyền thống, đã có) ở tính tiên tiến về mọi mặt”.[7]
* Những đặc điểm đặc trưng của mô hình nông thôn mới từ đề án của Bộ NN&PTNT
- Được xây dựng trên đơn vị cơ bản là cấp làng – xã
- Vai trò của người dân được nâng cao, nêu cao tính tự chủ của nông dân
- Người dân chủ động trong việc xây dựng kế hoạch phát triển, thu hút
sự tham gia đầy đủ các thành viên trong nông thôn nhằm đạt được mục tiêu đề
ra có tính hiệu quả cao
Trang 18- Việc thực hiện kế hoạch dựa trên nền tảng huy động nguồn lực của bản thân người dân, thay cho việc dựa vào sự hỗ trợ từ bên ngoài là chính
- Các tổ chức nông dân hoạt động mạnh, có tính hiệu quả cao
- Nguồn vốn từ bên ngoài được phân bổ và quản lý sử dụng có hiệu quả Trên đây là những đặc điểm tạo nên nét riêng biệt của mô hình nông thôn mới chưa từng có trước kia
2.1.3.1 Điều kiện cần có để xây dựng mô hình nông thôn mới theo đề án của
Bộ NN&PTNT
- Về kinh tế, nông thôn có nền sản xuất hàng hóa mở, hướng đến thị trường
và giao lưu, hội nhập Để đạt được điều đó, kết cấu hạ tầng nông thôn phải hiện đại, tạo điều kiện cho mở rộng sản xuất và giao lưu buôn bán
- Về chính trị, phát huy dân chủ với tinh thần thượng tôn pháp luật, gắn
lệ làng, hương ước với pháp luật để điều chỉnh hành vi con người, đảm bảo tính pháp lý, tôn trọng kỷ cương phép nước phát huy tính tự chủ của làng xã
- Về văn hóa xã hội, xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư giúp nhau
xóa đói giảm nghèo, vươn lên làm giàu chính đáng
- Về con người, chú trọng nâng cao trình độ dân trí, nhằm phát huy nội
lực của người dân, tiếp thu những tiến độ khoa học kỹ thuật vận dụng vào sản xuất Mặt khác, vẫn khuyến khích người dân tích cực tham gia các hoạt động lập kế hoạch, giám sát, điều chỉnh và đánh giá các công trình phát triển nông thôn, xóm Xây dựng hình mẫu người nông dân sản xuất giỏi
- Về môi trường, xây dựng củng cố bảo vệ môi trường, du lịch sinh thái,
bảo vệ rừng đầu nguồn, chống ô nhiễm nguồn nước, môi trường không khí và chất thải từ các khu công nghiệp để nông thôn phát triển bền vững
2.1.3.2 Căn cứ xác định tiêu chí, chỉ tiêu xây dựng nông thôn mới theo đề án của Bộ NN&PTNT
* Cấp tỉnh
Trang 19- Nông nghiệp: GDP nông nghiệp chiếm > 30 %
- Nông – công nghiệp: GDP nông nghiệp chiếm 10 – 30 %
- Công nghiệp: GDP nông nghiệp chiếm < 10 %
Ngoài các chỉ tiêu trên, để đạt chuẩn nông thôn tỉnh phải có 80 % số huyện trong tỉnh đạt tiêu chí huyện nông thôn mới
* Cấp huyện
UBND huyện chịu trách nhiệm chính trong lĩnh vực xây dựng nông thôn mới ở huyện Huyện cử cán bộ có trình độ, am hiểu nông dân, nông dân phối hợp với tư vấn kế hoạch phát triển của bộ tham gia xây dựng phát triển xã Bên cạnh đó, còn thẩm định kỹ thuật các công trình xây dựng cơ bản trong kế hoạch của xã cố vấn lớn theo quy định hiện hành
Tiêu chí nông thôn mới phụ thuộc vào đặc điểm, điều kiện tự nhiên của từng vùng: Trung du, miền núi hay các huyện đồng bằng, hải đảo Ngoài ra huyện phải có 75% số xã trong huyện đạt tiêu chí xã nông thôn mới
* Cấp xã
Chịu trách nhiệm chỉ đạo trực tiếp xây dựng nông thôn mới ở các thôn,
xã kết hợp với tư vấn cán bộ tham gia xây dựng kế hoạch tổng thể của thôn và giúp cho cộng đồng thôn lựa chọn kế hoạch phù hợp quy hoạch lớn của xã Thẩm định các kế hoạch phát triển và kỹ thuật các công trình xây dựng
cơ bản của thôn, bản, tiêu chí xã nông thôn mới phụ thuộc vào đặc điểm tự nhiên của mỗi xã: Xã ven đô, đồng bằng, mền núi hải đảo
Ngoài ra, xã phải có 90 % số thôn, bản trong xã đạt tiêu chí nông thôn mới
Trang 202.1.4 Quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước
Quán triệt Nghị quyết Đại hội X, Hội nghị Trung Ương lần thứ bảy (khóa X) ra Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 5 tháng 8 năm 2008 đã nêu một cách toàn diện quan điểm của Đảng ta về xây dựng nông thôn mới Nghị quyết khẳng định nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vai trò to lớn, có vị trí quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Chính vì vậy, các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn phải được giải quyết đồng
bộ, gắn với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá Nông nghiệp, nông thôn nước ta còn là khu vực giàu tiềm năng cần khai thác một cách có hiệu quả Phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân phải dựa trên cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phù hợp với điều kiện của từng vùng, từng lĩnh vực, để giải phóng và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực Giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn không phải chỉ là nhiệm vụ của nông dân, ở khu vực nông thôn mà là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội Xây dựng nông thôn mới là xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại ở nông thôn; xây dựng cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; Xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh công nhân - nông dân - trí thức vững mạnh; Không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân
cư nông thôn, hài hoà giữa các vùng, tạo sự chuyển biến nhanh hơn ở các vùng còn nhiều khó khăn; nông dân được đào tạo có trình độ sản xuất ngang bằng với các nước tiên tiến trong khu vực và đủ bản lĩnh chính trị, đóng vai
trò làm chủ nông thôn mới
Thực hiện đường lối của Đảng, ngày 28/10/2008, Chính phủ đã ra Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP ban hành một chương trình hành động của Chính phủ về xây dựng nông nghiệp, nông dân và nông thôn, thống nhất nhận thức,
Trang 21hành động về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới
Nội dung chính của Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới là: xây dựng, tổ chức cuộc sống của dân cư nông thôn theo hướng văn minh, hiện đại, giữ gìn bản sắc văn hóa và môi trường sinh thái gắn với phát triển đô thị, thị trấn, thị tứ Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới là chương trình mang tính tổng hợp, sâu, rộng, có nội dung toàn diện; bao gồm tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị, an ninh - quốc phòng Mục tiêu chung của chương trình được Đảng ta xác định là: xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao
Bên cạnh phải đẩy mạnh công tác nghiên cứu lí luận, tổng kết thực tiễn quá trình xây dựng nông thôn mới, chúng ta cần học tập kinh nghiệm của các nước trên thế giới và trong khu vực về phát triển nông thôn tiên tiến hiện đại,
để xây dựng hoàn thiện hệ thống các quan điểm lí luận về phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn làm cơ sở khoa học cho thực tiễn Xây dựng nông thôn nước ta trở nên văn minh, tiên tiến hiện đại nhưng vẫn mang đậm bản sắc văn hóa và nét đẹp truyền thống của nông thôn Việt Nam
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Tình hình nghiên cứu của một số nước trên thế giới
* Xây dựng nông thôn mới ở Trung Quốc
Năm 1997, Trung Quốc chính thức có văn kiện quy định cụ thể về hệ thống chính sách với vấn đề tam nông đã tồn tại và phát triển ở Trung Quốc
Trang 22từ năm 1949, khi nhà nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa ra đời Giai đoạn trước đấy, do thực hiện “cơ chế khoán” nên người dân phải đóng góp quá nhiều Do vậy, chính phủ Trung Quốc đã có những chính sách mới từ năm
1977 để giảm nhẹ đóng góp của nhân dân và ổn định tình hình, hạn chế hiện tượng lao động thất nghiệp bỏ đồng ruộng đi ra thành thị
Xây dựng “ Nông thôn mới xã hội chủ nghĩa” được Trung ương Đảng cộng sản và Quốc vụ viện Trung Quốc nêu ra năm 2006, với phương châm “ cho nhiều, lấy ít, nuôi sống” Cũng giống như Việt Nam, nông nghiệp Trung Quốc chưa đảm bảo mức sống của người dân, khoảng cách thành thị và nông thôn ngày càng xa, nông dân thiếu đất sản xuất Do vậy, mục tiêu của xây dựng nông thôn mới ở Trung Quốc là: Tăng năng xuất sản xuất ở nông thôn, xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, phát triển xã hội và mức sống Trong kế hoạch 5 năm ( 2006 – 2010), Trung Quốc đề ra 7 nhiệm vụ chính để tăng lợi nhuận cho nông dân và 32 biện pháp có lợi cho nông dân để phát triển nông nghiệp hiện đại.[6]
b Xây dựng nông thôn mới ở Thái Lan
Thái Lan vốn là một nước nông nghiệp truyền thống với dân số nông thôn chiếm khoảng 80% dân số cả nước Để thúc đẩy sự phát triển bền vững nền nông nghiệp, Thái Lan đã áp dụng một số chiến lược như: Tăng cường vai trò của cá nhân và các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp; đẩy mạnh phong trào học tập, nâng cao trình độ của từng cá nhân và tập thể bằng cách mở các lớp học và các hoạt động chuyên môn trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn; tăng cường công tác bảo hiểm xã hội cho nông dân, giải quyết tốt vấn đề nợ trong nông nghiệp; giảm nguy cơ rủi ro và thiết lập hệ thống bảo hiểm rủi ro cho nông dân
Đối với các sản phẩm nông nghiệp, Nhà nước đã hỗ trợ để tăng sức cạnh tranh với các hình thức, như tổ chức hỗ trợ triển lãm hàng nông nghiệp,
Trang 23đẩy mạnh công tác tiếp thị; phân bổ khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách khoa học và hợp lý, từ đó góp phần ngăn chặn tình trạng khai thác tài nguyên bừa bãi và kịp thời phục hồi những khu vực đã bị suy thoái; giải quyết những mâu thuẫn có liên quan đến việc sử dụng tài nguyên lâm, thủy hải sản, đất đai,
đa dạng sinh học, phân bổ đất canh tác Trong xây dựng kết cấu hạ tầng, Nhà nước đẫ có chiến lược trong xây dựng và phân bổ hợp lý các công trình thủy lợi lớn phục vụ cho nông nghiệp Hệ thống thủy lợi bảo đảm tưới tiêu cho hầu hết đất canh tác trên toàn quốc, góp phần nâng cao năng suất lúa và các loại cây trồng khác trong sản xuất nông nghiệp Chương trình điện khí hóa nông thôn với việc xây dựng các trạm thủy điện vừa và nhỏ được triển khai rộng khắp cả nước
Về lĩnh vực công nghiệp phục vụ nông nghiệp, chính phủ Thái Lan đã tập trung vào các nội dung sau; Cơ cấu lại ngành nghề phục vụ phát triển công nghiệp nông thôn, đồng thời cũng xem xét đến các nguồn tài nguyên, những kỹ năng truyền thống, nội lực, hải sản phục vụ xuất khẩu, thúc đẩy mạnh mẽ công nghiệp chế biến nông sản cho tiêu dùng trong nước và xuất
khẩu, nhất là các nước công nghiệp phát triển.[6]
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Trong quá trình triển khai, thực hiện, chương trình thí điểm mô hình nông thôn mới đã thành công bước đầu và đạt được một số kết quả quan trọng, khẳng định việc lấy xã là địa bàn tổ chức thực hiện và tổ chức xây dựng
mô hình theo Bộ tiêu chí nông thôn mới là phù hợp
Chương trình xây dựng thí điểm mô hình nông thôn mới được thực hiện trên 11 xã, gồm Thanh Chăn (Điện Biên), Tân Thịnh (Bắc Giang), Hải Đường (Nam Định), Thụy Hương (Hà Nội), Tam Phước (Quảng Nam), Tân Lập (Bình Phước), Gia Phố (Hà Tĩnh), Tân Hội (Lâm Đồng), Tân Thông Hội (TP Hồ Chí Minh), Mỹ Long Nam (Trà Vinh) và Đình Hòa ( Kiên Giang)
Trang 24[4] Mục tiêu của chương trình nhằm thử nghiệm và tạo mối quan hệ chỉ đạo giữa các cấp trong việc xây dựng nông thôn mới, hình thành các mô hình trên thực tiễn về nông thôn mới để rút ra kinh nghiệm triển khai chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới trên diện rộng
Theo kết quả đánh giá các địa phương, hầu hết các xã thí điểm đã thực hiện được 50% số lượng tiêu chí đề ra (trong đó, một số tiêu chí đã lượng hóa được thông qua chỉ tiêu cụ thể như: Xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn, huy động và sử dụng các nguồn lực, phát triển sản xuất, chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn, phát triển sự nghiệp y tế, văn hóa giáo dục,…) mô hình nông thôn mới xây dựng phù hợp với điều kiện địa phương Trong 19 tiêu chí lấy tiêu chí quy hoạch đặt lên hàng đầu là phù hợp vì đó là điều kiện tiên quyết
Hạ tầng là khâu đột phá nên đặt ở vị trí thứ 2 là cần thiết, bởi có tác động trực tiếp đến phát triển kinh tế - xã hội nông thôn Các tiêu chí khác như văn hóa,
y tế, giáo dục, môi trường, thu nhập đời sống của dân cư nông thôn, xóa đói giảm nghèo, an ninh thôn xóm,… Bố trí các tiêu chí sau cũng hợp lý vì đó vừa là mục tiêu vừa là kết quả của phát triển kinh tế và xây dựng nông thôn mới Như quy hoạch và thực hiện quy hoạch tốt ở Hải Dương, phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập ở Mỹ Long Nam, huy động nguồn lực ở Thanh Chăn
và Định Hòa, phát triển sản xuất gắn với quy hoạch đồng ruộng và cơ sở hạ tầng ở Tan Thước, phong trào cải tạo điều kiện sống ở các hộ dân cư ở Tân Thịnh, liên kết sản xuất ở nông dân với doanh nghiệp ở Thụy Hương, Tân Hội, thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông thôn ở Tân Thông Hội, Tân Lập… hiện các mô hình này là những điểm thực tiễn được địa phương khác đến tham quan và học tập Đến nay, mỗi xã có ít nhất 4 đến 7 dự án, điểm trình diễn về sản xuất nông nghiệp được thực hiện Ngoài sản xuất tập trung theo các dự án, hầu hết các xóm đã tăng nguồn vốn hỗ trợ nông dân thông qua chương trình khuyến nông, khuyến công đặc biệt là vốn tín dụng để hình
Trang 25thành mô hình, dự án sản xuất có hiệu quả kinh tế Việc thực hiện kinh tế dân chủ ở cơ sở trong xây dựng nông thôn mới đã có hình thức đa dạng hơn, thu hút người dân tham gia nhiều hơn Xây dựng nông thôn mới được nhiều cán
bộ, nhân dân ở cơ sở phấn khởi đón nhận, các xã điểm đã tổ chức để người dân đóng góp ý kiến vào đề án quy hoạch và bản kế hoạch xây dựng nông thôn mới của xã, tham gia bàn bạc, lựa chon công trình xây dựng hoặc công việc nào cần làm trước, làm sau.[4]
+ Xây dựng nông thôn mới ở Thái Bình: Thái Bình có 267 xã nằm
trong chương trình xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020 Để triển khai xây dựng nông thôn mới, tỉnh đã chọn 08 xã làm mô hình thí điểm chỉ đạo Sau hơn 2 năm phong trào xây dựng nông thôn mới ở Thái Bình đã có kết quả bước đầu tốt đẹp Tư duy và thực tế sản xuất nông nghiệp có bước tiến bộ vượt bậc, đời sông hộ nông dân đã nâng lên rõ rệt, bộ mặt nông thôn, diện mạo ruộng đồng thay đổi rõ rệt Theo Ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới tỉnh Thái Bình, đến nay tất cả các xã trong tỉnh đã hoàn thành quy hoạch chi tiết giao thông, thủy lợi nội đồng, 218 xã hoàn thành quy hoạch chi tiết khu trung tâm xã, 201 xã hoàn thành lập đề án xây dựng nông thôn mới và
148 xã đã hoàn thành dồn điền, đổi thửa đất nông nghiệp Cùng với 4 xã đã hoàn thành các chỉ tiêu về xây dựng nông thôn mới, đến nay tỉnh có 6 xã đạt
15 đến 18 tiêu chí, 116 xã đạt 11 đến 14 tiêu chí, 100 xã đạt 8 đến 10 tiêu chí
và 40 xã đạt từ 6 đến 8 tiêu chí.[7]
+ Xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Hòa Bình: Trong những năm gần đây,
tỉnh Hòa Bình đã đầu tư cho các lĩnh vực: Điện, thủy lợi, giao thông, giáo dục
và đào tạo, y tế, văn hóa, thể thao, lao đông, việc làm, giảm nghèo, nâng cao, bồi dưỡng kiến thức cho nông dân, sinh hoạt và vệ sinh môi trường… Đến nay, diện mạo nông thôn tỉnh đã có nhiều thay đổi, đời sống văn hóa tinh thần của người dân được nâng lên Tuy nhiên, thực trạng nông thôn của tỉnh có
Trang 26điểm xuất phát thấp so với Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới theo Quyết định 491/QĐ – TTg ngày 16- 4- 2009 của Thủ tướng Chính phủ Để nông thôn của tỉnh phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đòi hỏi sự
cố gắng, nỗ lực của tất cả các cấp, các ngành của hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân Và để có tính pháp lý cũng như tính khả thi cao, ngày 6/8/2010 Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Quyết định 1285/2010/QĐ- UBND về xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2010-2020, trong đó chọn 11 xã làm điểm, trong 3 năm (2011-2013) để rút kinh nghiệm
về phương pháp tổ chức triển khai, cách thức quản lý, hình thức huy động các nguồn lực, đặc biệt là sự đóng góp của người dân trước khi tiến hành trên diện rộng.[7]
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu phân tích thực trạng xây dựng nông thôn mới; đưa ra những thuận lợi, khó khăn và giải pháp thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới của huyện Mù Cang Chải - tỉnh Yên Bái
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không gian: Nghiên cứu được tiến hành trên địa bàn huyện
Mù Cang Chải – tỉnh Yên Bái
- Giới hạn nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu phân tích thực trạng
xây dựng nông thôn mới, đưa ra những thuận lợi, khó khăn và giải pháp thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới của huyện Mù Cang Chải - tỉnh Yên Bái giai đoạn 2012 - 2014
Trang 273.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu
- Tại Phòng Tài nguyên và Môi trường – huyện Mù Cang Chải – tỉnh Yên Bái
3.2.2 Thời gian nghiên cứu
- Thực hiện nghiên cứu từ ngày 05/01/ 2015 đến ngày 05/04/2015
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Tìm hiểu điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội của huyện Mù Cang Chải – tỉnh Yên Bái
- Thực trạng xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Mù Cang Chải – tỉnh Yên Bái giai đoạn 2012 – 2014
+ Thực trạng xây dựng nông thôn mới chung của huyện Mù Cang Chải + Thực trạng xây dựng nông thôn mới của hai xã điểm La Pán Tẩn và
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
Mù Cang Chải là một huyện miền núi bao gồm 13 xã và 01 thị trấn, trong đó 13 xã nằm trong quy hoạch xây dựng nông thôn mới của huyện Chọn hai xã điểm (La Pán Tẩn, Dế Xu Phình), mỗi xã chọn ngẫu nhiên
30 hộ để điều tra thu thập thông tin Tổng số hộ điều tra là 60 hộ Sau đó đánh giá và đưa ra giải pháp
Trang 283.4.2 Phương pháp thu thập thông tin
3.4.2.1 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp
Số liệu được thu thập thông qua 02 phương pháp:
- Kế thừa số liệu đã có của địa phương trong công tác tổ chức, triển khai thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới
- Phương pháp Đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA) thông qua phỏng vấn trực tiếp 60 hộ dân bằng bộ câu hỏi đã chuẩn bị sẵn (phụ lục), từ đó thống nhất các số liệu thu thập Chọn hai xã điểm (La Pán Tẩn, Dế Xu Phình), mỗi xã chọn ngẫu nhiên 30 hộ để điều tra thu thập thông tin
3.4.2.2 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp
Số liệu thu thập thông qua việc thống kê, khảo sát, các văn bản pháp quy của Nhà nước, các ấn phẩm, các tài liệu, báo cáo, các công trình nghiên cứu khoa học, website viết về xây dựng nông thôn mới và các vấn đề liên quan đến lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn Các số liệu cũng được thu thập tại Ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới cấp tỉnh, cấp huyện, Ban quản lý xây dựng nông thôn mới các xã điểm, tại cơ quan lưu trữ các cấp
3.4.2.3 Điều tra, khảo sát thực địa
Sử dụng phương pháp này để nắm được tình hình, địa thế, hiện trạng cơ
sở hạ tầng, dân cư nông thôn trong toàn huyện
3.4.3 Phương pháp tổng hợp, xử lý thông tin
Phương pháp xử lý số liệu chủ yếu là các phương pháp của thống kê
mô tả để phân tích thực trạng quá trình xây dựng nông thôn mới Số liệu được tổng hợp xử lý và tính toán bằng phần mềm Exel
Trang 29PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Mù Cang Chải – tỉnh Yên Bái
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1 Vị trí địa lý
Huyện Mù Cang Chải là một huyện vùng cao nằm ở phía Tây của tỉnh
Yên Bái, cách thành phố Yên Bái 180 km theo đường quốc lộ 32, với ranh
giới hành chính: Phía Bắc giáp huyện Văn Bàn tỉnh Lào Cai, Phía Nam giáp huyện Mường La tỉnh Sơn La, Phía Đông giáp huyện Văn Yên và huyện Văn Chấn, Phía Tây giáp huyện Than Uyên tỉnh Lai Châu
Huyện có 13 xã và 01 thị trấn với nhiều làng bản và điểm dân cư nằm rải rác theo các trục giao thông quan trọng như dọc đường quốc lộ 32 và các
đường đi đến trung tâm các xã
4.1.1.2 Đặc điểm địa hình
Mù Cang Chải nằm trong hệ thống núi thuộc dãy Hoàng Liên Sơn, địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, độ cao trung bình 900 mét, nhiều đỉnh núi cao trong đó có đỉnh làng Cung thuộc xã Nậm Có độ cao 2.913 mét
so với mặt nước biển Hoàng Liên Sơn là hệ thống núi trẻ nên địa hình bị phân cắt mạnh mẽ, độ dốc trung bình dao động từ 400
Trang 30hanh từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau, mùa mưa từ tháng 4 đến
tháng 10
4.1.1.4 Thủy văn
Huyện Mù Cang Chải chịu ảnh hưởng của chế độ thủy văn của hệ thống
các suối nhỏ trong đó có suối Nậm Kim là lớn nhất (đoạn chảy qua huyện dài
78 km), các suối nhỏ hơn như suối Nậm Mơ, Mồ Dề, Nậm Có, Nậm Khoi
Đặc điểm của các suối ở đây là lòng hẹp và khá dốc, do đó trong điều kiện mưa lớn và tập trung đã tạo nên dòng chảy mạnh, gây lũ lớn, ảnh hưởng đến
đời sống và sản xuất của người dân
4.1.1.5 Các nguồn tài nguyên
a Tài nguyên đất
Tổng diện tích đất tự nhiên huyện Mù Cang Chải 119.909,75 ha, gồm 4 nhóm đất chủ yếu sau:
- Nhóm đất phù sa rất ít, chiếm 0,4% diện tích đất tự nhiên;
- Nhóm đất Glây chiếm 0,06% diện tích tự nhiên;
- Nhóm đất xám chiếm tới 68,12% diện tích tự nhiên, là loại đất chiếm tỷ
lệ lớn nhất trong tổng diện tích tự nhiên của huyện, nó được thành tạo trên các đồi núi có độ cao dưới 1.800 mét và có độ dốc lớn nên thích hợp cho trồng các cây công nghiệp như chè và các cây lâm nghiệp
- Nhóm đất mùn alít núi cao đứng thứ hai, chiếm 31,4% diện tích tự nhiên, chúng phân bố ở độ cao trên 1.800 mét, chủ yếu là trồng cây lâm nghiệp tạo thành các rừng phòng hộ
b Tài nguyên nước
Do đặc điểm địa hình của Mù Cang Chải khá phức tạp và bị chia cắt mạnh khe suối ở Mù Cang Chải có độ dốc cao, lòng dốc, nhiều đá lộ đầu, thác
đã tạo nên hệ thống khe suối, hệ thống ghềnh quanh co thường có lũ quét xảy
Trang 31ra nên không có khả năng phát triển giao thông đường thuỷ mà chỉ có khả năng phát triển thuỷ điện
c Tài nguyên rừng
Tài nguyên rừng là thế mạnh của Mù Cang Chải, theo kết quả số liệu thống kê năm 2011 diện tích đất lâm nghiệp của huyện là 79.009,35 ha, chiếm 65,97% tổng diện tích tự nhiên toàn huyện Rừng ở Mù Cang Chải chủ yếu là rừng phòng hộ và rừng đặc dụng, với trữ lượng lớn và tạo cảnh quan môi trường huyện Vì vậy mà hệ sinh thái động thực vật trong rừng rất phong phú
d Tài nguyên khoáng sản
Theo tài liệu điều tra tại Mù Cang Chải có một số điểm quặng vàng sa khoáng ở Ngã Ba Kim, thạch anh quang học ở Púng Luông, chì kẽm ở La Pán Tẩn, Khau Phạ, Nậm Có, và các vật liệu xây dựng khác
e Tài nguyên nhân văn
Mù Cang Chải là vùng đất giàu truyền thống yêu nước Nhân dân trong huyện có tinh thần đoàn kết, yêu quê hương, có đức tính cần cù, chăm chỉ, vượt qua khó khăn gian khổ, sự khắc nghiệt của thiên nhiên để từng bước đi lên Đó là những nhân tố cơ bản và sức mạnh tinh thần để hướng tới sự phát triển kinh tế xã hội, trong xu hướng hội nhập cả nước, khu vực và quốc tế; là điều kiện thuận lợi để Đảng bộ và chính quyền các cấp lãnh đạo nhân dân vững bước tiến lên trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá xây dựng
Mù Cang Chải giàu, đẹp, văn minh
4.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội huyện Mù Cang Chải giai đoạn 2012 – 2014
4.1.2.1 Đặc điểm về kinh tế
Những năm qua nền kinh tế huyện Mù Cang Chải đã có sự chuyển biến tích cực, tốc độ tăng trưởng sản phẩm trên địa bàn đạt khá, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, kết cấu hạ tầng được đầu tư xây dựng tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội, đời sống nhân dân được cải thiện rõ
Trang 32rệt, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững Tuy nhiên, điểm xuất phát của nền kinh tế thấp, quy mô sản xuất của các ngành còn nhỏ bé, chịu sự tác động mạnh mẽ của ngành sản xuất nông nghiệp, công nghiệp mới phát triển ở mức nhỏ lẻ
Bảng 4.1 Các chỉ tiêu cơ bản của huyện Mù Cang Chải
Tốc đô ̣ tăng trưởng sản phẩm (%) 14.6 15.0 15.0
(Nguồn:Chi cục thống kê huyện Mù Cang Chải)
4.1.2.2 Đặc điểm về Văn hóa - Xã hội
* Tình hình dân số và lao động
Tổng số nhân khẩu toàn huyện là 55.520 người, với 10.059 hộ, trong đó 8.616 hộ làm nông nghiệp, 741 hộ phi nông nghiệp, 702 hộ khác Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên bình quân của toàn huyện là 1,76%, tổng số lao động trong các ngành kinh tế của huyện là 30.257 người, trong đó:
- Lao động nông nghiệp là 26.222 người, chiếm 86,7%
- Lao động phi nông nghiệp là 1.348 người, chiếm 4,4%
Nhìn chung lao động nông nghiệp vẫn chiếm tỷ lệ cao trong tổng số lao động, và lao động phi nông nghiệp vẫn có xu hướng tăng, với tốc độ tăng trưởng bình quân là 128,5% Do vậy, trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh
tế của huyện cần có giải pháp phù hợp hơn đề thúc đẩy sự phát triển kinh tế một cách mạnh mẽ hơn
* Tình hình cơ sở hạ tầng
- Về giao thông
Trang 33Các tuyến đường bộ của huyện có tông diện tích chiều dài khoảng 782 km, trong đó đường huyện 117 km, đường nội thị trấn 2 km, đường xã 324,5 km và giao thông thôn bản 338,5 km Hầu hết các tuyến đường giao thông trục chính dều đấu nối với đường quốc lộ 32 đi qua trung tâm huyện Nhìn chung, hệ thống giao thông của huyện có xu hướng phát triển mạnh mẽ, do huyện có lợi thế về vị trí địa lý cũng như mạng lưới giao thông hiện có
- Về thủy lợi
Hệ thống các công trình thủy lợi có trên địa bàn huyện: 549 công trình lớn nhỏ, hiện có 67 công trình được đầu tư xây dựng củng cố và hoàn thiện số còn lại là công trình tạm Tổng năng lực tưới tiêu các công trình theo thiết
kế đã xây dựng là 1.000 ha và 230KW điện Nhìn chung, hệ thống thủy lợi
Mù Cang Chải đã được hình thành, sử dụng từ nhiều năm nên nhiều công trình đã bị xuống cấp, bên cạnh việc thực hiện kiên cố hóa kênh mương, hàng năm căn cứ vào chiều dài và thực trạng đều xây dựng kế hoạch cải tạo và nâng cấp theo mục tiêu xây dựng nông thôn mới
- Về hệ thống điện
Hệ thống lưới điện địa bàn huyện phát triển mạnh, hiện nay đã có 12/13
xã có điện lưới quốc gia, tổng số hộ dùng điện chiếm 95% được sử dụng điện thường xuyên và an toàn Đặc biệt hệ thống lưới điện trung, cao thế đã được cải tạo, đầu tư tốt theo mục tiêu nông thôn mới
- Về hệ thống cấp, thoát nước
Hiện nay phần lớn dân cư trong huyện đang sử dụng nước sạch theo các chương trình 135,134 đảm bảo vệ sinh Việc xây dựng một số hệ thống cung cấp nước sạch (nước máy) cho huyện là một yêu cầu cấp bách để huyện có thể phát triển được các ngành dịch vụ, du lich, nhà hàng và hình thành một điểm công nghiệp tập trung như trong kế hoạch đã phê duyệt
Trang 344.1.2.3 Một số đánh giá chung về đặc điểm địa bàn huyện Mù Cang Chải có ảnh hưởng đến phát triển kinh tế - xã hội
Trên cơ sở phân tích tiềm năng, lợi thế, những khó khăn, thách thức và kết quả phát triển kinh tế - xã hội của huyện trong thời kỳ 2011 – 2014
a) Những thuận lợi
- Luôn được sự quan tâm của các cấp, các ngành từ Trung ương đến tỉnh, tăng cường đầu tư nhằm mục đích xóa đói giảm nghèo bằng những dự án trong nước và nước ngoài như chương trình 134, 135, WB, dự án chia sẻ, 30A…
- Đất đai chưa sử dụng còn nhiều và rất thuận tiện cho việc phát triển lâm nghiệp, chăn nuôi đại gia súc, phát triển trang trại nhỏ và vừa, phát triển
du lịch sinh cảnh và thủy điện…
- Các điều kiện về kết cấu hạ tầng, đất và nước, các nguồn tài nguyên khoáng sản, các nguồn nguyên liệu nông lâm sản phong phú đang là điều kiện hấp dẫn thu hút các nhà đầu tư trong ngoài nước vào xây dựng phát triển công nghiệp và xây dựng ở huyện Mù Cang Chải
- Nguồn lao động tại địa phương dồi dào
- Các cấp lãnh đạo huyện đã từng bước đổi mới phương thức lãnh đạo
và người dân cũng có nhìn nhận mới về cách làm ăn trong điều kiện nền kinh
tế thị trường, cộng với sự hỗ trợ của Nhà nước nên nền kinh tế - xã hội của huyện phát triển khá về mọi mặt, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện
Trang 35- Địa hình chia cắt bởi nhiều đồi núi có độ dốc lớn và khí hậu phức tạp không thuận lợi cho việc phát triển giao thông đi lại khó khăn nên việc thu hút đầu tư từ bên ngoài vào bị hạn chế Việc quy hoạch tập trung, ổn định dân cư, định canh định cư, chuyển giao những tiến bộ khoa học kỹ thuật rất khó khăn
- Trình độ quản lý của cán bộ còn hạn chế, trình độ dân trí còn thấp, phong tục tập quán lạc hậu, nhận thức chưa triệt để về cách làm ăn theo cơ chế thị trường, còn trông chờ vào nhà nước, ý thức làm chủ chưa cao
- Lực lượng lao động của huyện dồi dào nhưng tỷ lệ qua đào tạo còn thấp, chất lượng lao động còn yếu, trình độ thấp chưa đáp ứng được nhu cầu của nền kinh tế
- Sản xuất còn mang nhiều tính chất tự cung tự cấp, chưa phải là sản xuất hàng hóa Quy mô sản xuất hàng hóa nhỏ lẻ, công nghệ lạc hậu… do đó sản phẩm hàng hóa cạnh tranh kém
- Hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội như giao thông, thủy lợi, thông tin liên lạc còn yếu kém và chưa phủ khắp trên toàn huyện, nên ảnh hưởng lớn đến triển khai các dự án xóa đói giảm nghèo
- Tỷ lệ sinh, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên còn ở mức cao
- Đầu tư còn dàn trải, thiếu đồng bộ nên hiệu quả không cao
Tóm lại, huyện Mù Cang Chải là huyện miền núi nghèo còn nhiều khó khăn đây là những thách thức, đòi hỏi các ngành, các cấp lãnh đạo huyện cần đẩy mạnh cải cách hành chính và có giải pháp hữu hiệu cộng với sự nỗ lực và đồng thuận cao của đoàn thể nhân dân huyện Mù Cang Chải mới thúc đẩy nhanh tiến độ đưa huyện ra khỏi danh sách các huyện nghèo vào cuối giai đoạn 2011 – 2015 đầu giai đoạn 2016 – 2020
Trang 364.2 Thực trạng xây dựng nông thôn mới của huyện Mù Cang Chải
4.2.1 Kết quả phát triển kinh tế - xã hội nông thôn mới của huyện giai đoạn 2012 – 2014
Bảng 4.2: Kết quả phát triển kinh tế nông thôn của huyện
(Nguồn:Chi cục thống kê huyện Mù Cang Chải)
Qua bảng 4.2 ta thấy rằng ở khu vực nông thôn có kết quả phát triển kinh tế trong nông thôn của huyện năm 2014 với tổng thu nhập 654.360 triệu đồng, trong đó ngành nông nghiệp là 310.821 triệu đồng chiếm 47,5%, ngành công nghiệp và xây dựng là 175.046 triệu đồng chiếm 24,0%, thu dịch vụ là 186.493 triệu đồng chiếm 28,5%
Trang 37Bảng 4.3: Kết quả hoạt động sản xuất nông nghiệp của huyện
giai đoạn 2012 - 2014
STT Chỉ tiêu
Đơn vị tính
(Nguồn:Chi cục thống kê huyện Mù Cang Chải)
Bảng 4.3 trên cho thấy kết quả hoạt động sản xuất nông nghiệp của địa phương có sự chuyển biến rõ rệt Chúng ta thấy rằng, thu về trồng trọt và chăn nuôi tốc độ phát triển mạnh mẽ hơn so với các ngành khác; ngành trồng trọt năm 2012 tổng thu là 124.467 triệu đồng năm 2014 là 179.343 triệu đồng,
Trang 38ngành chăn nuôi năm 2012 là 44.319 triệu đồng năm 2014 là 82.367 triệu đồng còn các ngành khác như thủy sản, lâm nghiệp có mức thu nhập còn thấp
Bảng 4.4: Tình hình phát triển xã hội nông thôn của huyện
(Nguồn:Chi cục thống kê huyện Mù Cang Chải )
Tình hình phát triển xã hội của địa phương thể hiện qua bảng 4.4 thu nhập bình quân đầu người tại nông thôn còn khá thấp tốc độ phát triển không cao trong các năm 2012 – 2014 tốc độ phát triển bình quân là 9.566 triệu đồng, số hộ khu vực nông thôn của huyện năm 2014 tăng so với năm 2013 từ 9.733 tăng lên 10.059 hộ Tỷ lệ hộ nghèo còn ở mức cao có xu hướng giảm không đáng kể theo từng năm