* Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm chi phí tiền công, phụ cấp lương, các khoản trích theo lương của công nhân sản xuất theo qui định: Bảo hiểm xT hội, bảo hiểm * Chi phí sản xuất chun
Trang 1Trường đại học kinh doanh và công nghệ hà nội
Trang 2Mục lục
Trang Chương 1:
Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản
1.1.2 Phân loại chi phí sản xuất từ quan điểm của kế toán tính giá thành
Đặc điểm kế toán chi phí, doanh thu và xác định
2.1 Đặc điểm sản xuất kinh doanh nông nghiệp ảnh hưởng đến kế toán
2.2 Đặc điểm kế toán chi phí, doanh thu và xác định kết quả trong các doanh
nghiệp nông nghiệp tổ chức sản xuất khoán gọn (khoán hộ sản xuất) 61 2.3 Đặc điểm kế toán chi phí, doanh thu và xác định kết quả trong các
Trang 32.4 Đặc điểm kế toán tập hợp chi phí, tính giá thành, doanh thu và xác
định kết quả tại đơn vị chế biến thuộc ngành nông nghiệp 65
Chương 3:
Kế toán tập hợp chi phí sản xuất
3.1 Đặc điểm hoạt động xây lắp ảnh hưởng đến tổ chức kế toán tập hợp
chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp 67 3.2 Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp 68
3.2.3 Kế toán bàn giao công trình hoàn thành bàn giao 86
Chương 4:
4.1.1 Nhiệm vụ, yêu cầu, nội dung của kế toán đơn vị chủ đầu tư 91 4.1.2 Chứng từ kế toán, hệ thống tài khoản kế toán 92
4.4 Hệ thống biểu mẫu BCTC và phương pháp lập BCTC 128 4.4.1 Danh mục báo cáo tài chính áp dụng trong các đơn vị chủ đầu tư 128
4.4.3 Nội dung và phương pháp lập báo cáo tài chính 141
Trang 4Chương 1:
Kế toán tập hợp chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp
1.1 Tổng quan về kế toán tập hợp chi phí sản xuất
1.1.1 Khái niệm về chi phí sản xuất
Để tiến hành sản xuất, các doanh nghiệp phải có 3 yếu tố cơ bản:
- Tư liệu lao động;
- Lao động;
- Đối tượng lao động Quá trình sản xuất chế tạo ra sản phẩm là quá trình chuyển dịch giá trị của các
yếu tố nói trên vào giá trị của sản phẩm Mặt khác, để tiến hành sản xuất các doanh
nghiệp còn phải chi cho các dịch vụ và chi phí khác bằng tiền
Như vậy, chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các chi phí mà
doanh nghiệp chi ra để sản xuất sản phẩm, bao gồm chi phí về lao động sống và lao
động vật hoá, chi phí về các loại dịch vụ và chi phí khác bằng tiền
1.1.2 Phân loại chi phí sản xuất từ quan điểm của kế toán tính giá thành sản phẩm
Chi phí sản xuất bao gồm nhiều loại, có nội dung, tính chất, công dụng và mục
đích khác nhau
Phân loại chi phí sản xuất là việc sắp xếp các loại chi phí vào từng loại, từng
khoản dựa vào các tiêu thức phân loại khác nhau Có nhiều quan điểm khác nhau về
phân loại chi phí sản xuất Từ quan điểm của kế toán tính giá thành (phân loại chi phí
sản xuất phục vụ cho kế toán tính giá thành), việc phân loại chi phí sản xuất chủ yếu dựa
vào hai tiêu thức: theo công dụng, mục đích của chi phí và theo phương pháp tập hợp chi
phí (khả năng qui nạp chi phí) vào các đối tượng chịu chi phí
Trang 51.1.2.1 Phân loại chi phí sản xuất dựa vào mục đích, công dụng của chi phí Phân loại chi phí sản xuất dựa vào mục đích, công dụng có nghĩa là các chi phí sản xuất nào có mục đích, công dụng giống nhau thì được sắp xếp vào cùng khoản giống nhau Theo cách phân loại này, chi phí sản xuất được phân thành 3 khoản mục:
- Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp;
- Chi phí nhân công trực tiếp
- Chi phí sản xuất chung
* Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp bao gồm: chi phí về vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu liên quan trực tiếp đến việc sản xuất, chế tạo ra sản phẩm Những chi phí về nguyên liệu, vật liệu liên quan đến hoạt động của phân xưởng, tổ, đội sản xuất phục vụ gián tiếp cho việc sản xuất, chế tạo sản phẩm không được sắp xếp vào khoản mục chi phí này (Nó được hạch toán vào chi phí sản xuất chung)
* Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm chi phí tiền công, phụ cấp lương, các khoản trích theo lương của công nhân sản xuất theo qui định: Bảo hiểm xT hội, bảo hiểm
* Chi phí sản xuất chung biến đổi là chi phí gián tiếp thường thay đổi (biến
động) theo số lượng (khối lượng) sản phẩm sản xuất, như chi phí về vật liệu gián tiếp, chi phí nhân viên gián tiếp và được phân bổ hết vào chi phí chế biến cho mỗi đơn vị sản phẩn theo thực tế phát sinh
* Chi phí sản xuất chung cố định là những chi phí gián tiếp thường không biến
động theo số lượng (khối lượng) sản phẩm sản xuất, như chi phí khấu hao máy móc thiết
bị sản xuất, nhà xưởng, chi phí quản lý hành chính của phân xưởng, tổ, đội sản xuất Chi
Trang 6phí sản xuất chung cố định được phân bổ cho chi phí chế biến mỗi đơn vị sản phẩm dựa vào công suất bình thường của máy móc thiết bị Công suất bình thường là công suất tạo
ra số lượng sản phẩm đạt ở mức trung bình trong điều kiện sản xuất bình thường Trường hợp mức sản xuất thực tế thấp hơn công suất bình thường thì chi phí sản xuất chung cố
định chỉ được phân bổ vào chi phí chế biến cho mỗi đơn vị sản phẩm theo mức công suất bình thường, khoản chi phí sản xuất chung cố định không được phân bổ được hạch toán vào giá vốn của thành phẩm xuất kho (được ghi nhận là chi phí sản xuất kinh doanh trong kì)
1.1.2.2 Phân loại chi phí sản xuất dựa vào phương pháp tập hợp chi phí (khả năng qui nạp) vào các đối tượng chịu chi phí
Chi phí sản xuất có thể được tập hợp bằng phương pháp trực tiếp hoặc phương pháp gián tiếp Do vậy theo tiêu thức nói trên, chi phí sản xuất được phân thành 2 loại:
- Chi phí trực tiếp
- Chi phí gián tiếp
* Chi phí trực tiếp là những chi phí liên quan trực tiếp đến từng đối tượng chịu chi phí (từng loại sản phẩm, công việc, giai đoạn công nghệ, phân xưởng sản xuất ) và
được hạch toán trực tiếp vào đối tượng chịu chi phí
* Chi phí gián tiếp là những chi phí liên quan đến nhiều đối tượng chịu chi phí,
do vậy để xác định chi phí cho từng đối tượng chịu chi phí cần phải dùng phương pháp phân bổ gián tiếp thông qua tiêu thức phân bổ thích hợp
Việc phân loại chi phí sản xuất theo tiêu thức nói trên có tác dụng trong việc xác
định phương pháp tập hợp chi phí và phân bổ chi phí cho từng đối tượng chịu chi phí để tính được giá thành của sản phẩm
1.1.3 Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất
Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất là phạm vi giới hạn mà chi phí phát sinh cần được tập hợp để đáp ứng yêu cầu xác định giá thành và kiểm tra, phân tích chi phí sản xuất
Trang 7Phạm vi giới hạn là nơi phát sinh chi phí (địa điểm phát sinh), như phân xưởng,
tổ, đội sản xuất, từng giai đoạn công nghệ, toàn bộ qui trình công nghệ hay nơi gánh chịu chi phí, như sản phẩm, chi tiết sản phẩm, nhóm sản phẩm, đơn đặt hàng v.v Việc xác định đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất phải dựa vào các căn cứ sau dây:
- Dựa vào đặc điểm qui trình công nghệ sản xuất
- Dựa vào đặc điểm về tổ chức sản xuất và quản lý kinh doanh
- Dựa vào loại hình sản xuất sản phẩm
- Dựa vào yêu cầu quản lý và trình độ quản lý
* Dựa vào đặc điểm qui trình công nghệ sản xuất:
Quy trình công nghiệp sản xuất sản phẩm có thể là qui trình công nghệ sản xuất giản đơn, có thể là qui trình công nghệ sản xuất phức tạp
- Quy trình công nghệ sản xuất giản đơn là quy trình công nghệ mà từ khi đưa nguyên vật liệu chính vào chế biến cho đến khi sản phẩm hoàn thành là 1 qui trình khép kín không thể chia nhỏ thành các giai đoạn công nghệ khác nhau, do đó chi phí sản xuất chỉ có thể tập hợp chung cho toàn bộ qui trình công nghệ sản xuất và việc tính giá thành
được thực hiện ở cuối qui trình công nghệ khi sản phẩm hoàn thành
- Qui trình công nghệ sản xuất phức tạp là qui trình công nghệ mà từ khi đưa nguyên vật liệu chính vào sản xuất chế biến cho đến khi sản phẩm hoàn thành phải trải qua nhiều giai đoạn công nghệ, mỗi giai đoạn công nghệ tạo ra một bộ phận, chi tiết sản phẩm hoặc tạo ra nửa thành phẩm
* Trường hợp các giai đoạn công nghệ chế biến liên tục theo 1 qui trình nhất
định thì được gọi là qui trình công nghệ sản xuất phức tạp kiểu chế biến liên tục, kết thúc mỗi giai đoạn công nghệ sẽ tạo ra nửa thành phẩm rồi tiếp tục được chuyển sang chế biến ở giai đoạn công nghệ sau và cứ thế cho đến giai đoạn công nghệ cuối cùng mới tạo ra sản phẩm (thành phẩm) Như vậy, kế toán phải tập hợp chi phí sản xuất theo
Trang 8từng giai đoạn công nghệ để phục vụ cho việc tính giá thành của nửa thành phẩm và giá thành của thành phẩm
* Trường hợp các giai đoạn cộng nghệ sản xuất được bố trí song song đồng bộ (qui trình công nghệ sản xuất phức tạp kiểu chế biến song song), mỗi giai đoạn công nghệ chế biến tạo ra một bộ phận, chi tiết của sản phẩm, giai đoạn cuối mới lắp ráp để tạo ra thành phẩm Trong trường hợp này, kế toán phải thu thập, xử lí và cung cấp thông tin về chi phí sản xuất theo từng giai đoạn công nghệ Như vậy, đối tượng kế toán tập hợp chi phí sẽ là từng giai đoạn công nghệ sản xuất
* Dựa vào đặc điểm về tổ chức sản xuất và quản lý kinh doanh:
Mỗi doanh nghiệp sản xuất (Tổng công ty, Công ty) có thể có nhiều đơn vị trực thuộc (đơn vị thành viên), đơn vị thành viên lại bao gồm nhiều đơn vị sản xuất nhỏ, như phân xưởng, tổ, đội xản xuất Trong trường hợp này, kế toán cần thu thập, xử lí số liệu
và cung cấp thông tin theo từng địa điểm hình thành, do vậy đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất sẽ là phân xưởng, tổ, đội sản xuất (nơi chịu chi phí) Việc xác định đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất dựa vào đặc điểm trên sẽ giúp cho các nhà quản
lý kiểm soát được chi phí ở từng bộ phận (trung tâm chi phí), thông qua đó mà đánh giá
được trách nhiệm quản lý của từng bộ phận trong doanh nghiệp
* Dựa vào loại hình sản xuất: Sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp có thể là sản xuất đơn chiếc (hoặc với khối lượng nhỏ) và sản xuất hàng loạt khối lượng lớn
- Trường hợp sản xuất đơn chiếc hoặc theo đơn đặt hàng: Trong trường hợp này, sản phẩm thường được đặt hàng theo yêu cầu cụ thể về kích cỡ, qui cách, phẩm chất, số lượng, do vậy đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất là từng sản phẩm hay từng đơn
đặt hàng
- Trường hợp sản xuất hàng loạt với khối lượng lớn, đối tượng của kế toán tập hợp chi phí sản xuất được xác định là từng bộ phận sản xuất, từng công đoạn, toàn bộ qui trình công nghệ
* Dựa vào yêu cầu quản lý và trình độ quản lý: Việc xác định đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất còn phải căn cứ vào yêu cầu của công tác quản lý chi phí, yêu
Trang 9cầu tính giá thành sản phẩm và trình độ của cán bộ quản lý Yêu cầu quản lý càng cụ thể, chi tiết thì việc xác định đối tượng kế toán tập hợp chi phí cũng phải phù hợp mới có thể cung cấp được các thông tin cần thiết cho quản lý, nhưng nó lại tuỳ thuộc không ít vào trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ kế toán
1.1.4 Phương pháp kế toán tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất
Chi phí sản xuất đT phát sinh trong quá trình sản xuất cần được tập hợp, phân loại và hệ thống hoá lại vào các tài khoản kế toán theo các khoản mục chi phí và theo
đúng đối tượng kế toán tập hợp chi phí Tuỳ thuộc vào khả năng qui nạp chi phí sản xuất vào đối tượng chịu chi phí mà kế toán có thể áp dụng phương pháp thích hợp:
- Nếu chi phí sản xuất phát sinh liên quan trực tiếp đến đối tượng chịu thuế chi phí thì dựa vào chứng từ hạch toán ban đầu, kế toán áp dụng phương pháp tập hợp trực tiếp;
- Nếu chi phí sản xuất phát sinh liên quan đến nhiều đối tượng chịu chi phí thì kế toán phải áp dụng phương pháp phân bổ gián tiếp Việc phân bổ chi phí phải dựa vào tiêu chuẩn phân bổ Tuỳ thuộc vào đặc điểm phát sinh của từng loại chi phí mà kế toạn lựa chọn tiêu chuẩn phân bổ thích hợp
1.1.4.1 Phương pháp kế toán tập hợp và phân bổ chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp
* Về phương pháp tập hợp:
Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp là toàn bộ chi phí về nguyên liệu, vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, nửa thành phẩm mua ngoài được sử dụng trực tiếp để sản xuất chế tạo ra sản phẩm hoặc thực hiện việc cung cấp dịch vụ, lao vụ
- Trường hợp chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp phát sinh liên quan đến một
đối tượng chịu chi phí thì kế toán phải áp dụng phương pháp tập hợp trực tiếp, tức là chi phí phát sinh bao nhiêu thì tính vào đối tượng chịu chi phí bấy nhiêu
- Trường hợp chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp phát sinh liên quan đến nhiều
đối tượng chịu chi phí thì kế toán phải áp dụng phương pháp phân bổ gián tiếp Trước hết, kế toán căn cứ vào phiếu xuất kho, các chứng từ có liên quan như phế liệu thu hồi,
Trang 10vật liệu không sử dụng hết nhập lại kho để xác định tổng chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp phải phân bổ trong kì theo công thức:
đT xuất trong kì
- Trị giá phế liệu thu hồi -
Trị giá nguyên liệu, vật liệu không dùng hết nhập lại kho cuối
- Hoặc là theo chi phí kế hoạch;
- Hoặc theo khối lượng hoạt động
Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp phân bổ cho đối tượng chịu chi phí được xác định như sau:
Đối với chi phí về vật liệu phụ, nhiên liệu, tuỳ thuộc vào tác dụng của từng loại,
kế toán có thể phân bổ dựa vào chi phí nguyên liệu, vật liệu chính, chi phí định mức, chi phí kế hoạch, theo khối lượng sản phẩm, theo giờ máy chạy.v.v
* Về tài khoản kế toán:
Để tập hợp và phân bổ chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp, kế toán sử dụng tài khoản "chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp" - Tài khoản 621 Tuỳ thuộc vào yêu cầu của quản lí, kế toán có thể mở chi tiết liên quan cho TK 621
Khi hạch toán chi phí NL,VL trực tiếp vào Tài khoản 621, cần lưu ý như sau:
- Chi phí nguyên liệu, vật liệu phải tính theo giá thực tế Trị giá này có thể là trị giá không bao gồm thuế GTGT nếu doanh nghiệp nộp thuế tính theo phương pháp khấu
Trang 11trừ đối với nguyên liệu, vật liệu dùng cho sản xuất kinh doanh hàng hoá chịu thuế GTGT, hoặc có thể là trị giá bao gồm cả thuế GTGT nếu doanh nghiệp nộp thuế tính theo phương pháp trực tiếp hoặc nguyên vật liệu được dùng để sản xuất kinh doanh hàng hoá không chịu thuế GTGT
- Đối với chi phí NL,VL trực tiếp dùng vượt trên mức bình thường thì không
được hạch toán vào TK 621 mà phải hạch toán vào TK 632 "Giá vốn hàng bán" Tài khoản 621 có kết cấu cơ bản như sau:
- Bên Nợ: Phản ánh trị giá thực tế của nguyên liệu, vật liệu xuất dùng trực tiếp cho sản xuất sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trong kì hạch toán
- Bên Có: + Kết chuyển trị giá nguyên liệu, vật liệu thực tế sử dụng cho sản xuất trong kì vào đối tượng chịu chi phí để tính giá thành sản phẩm (TK 154 hoặc TK 631) + Kết chuyển chi phí NL, VL trực tiếp vượt trên mức bình thường vào TK 632
"giá vốn hàng bán"
+ Trị giá nguyên liệu vật liệu trực tiếp dùng không hết nhập lại kho, trị giá phế liệu thu hồi
* Vì thuộc nhóm tài khoản tập hợp phân phối nên TK 621 không có số dư cuối kì
* Phương pháp kế toán một số nghiệp vụ kinh tế chủ yếu:
(1) Khi xuất NL, VL cho sản xuất sản phẩm, kế toán ghi:
Nợ TK 621: CP nguyên liệu, vật liệu trực tiếp
Có TK 152: Nguyên liệu, vật liệu (2) Trường hợp NL, VL mua về không nhập kho mà giao ngay cho sản xuất sản phẩm:
* Nếu thuộc diện chịu thuế GTGT tính theo phương pháp khấu trừ, kế toán ghi:
Nợ TK 621: CP nguyên liệu, vật liệu trực tiếp (giá mua chưa có thuế)
Nợ TK 133(1331): Thuế GTGT được khấu trừ
Có TK 111, 112, 331
Trang 12* Nếu thuộc diện không chịu thuế hoặc thuế tính theo phương pháp trực tiếp, kế toán ghi:
Nợ TK 621: CP nguyên liệu, vật liệu trực tiếp (giá có cả thuế)
Có TK 111, 112, 331
(3) Khi nhập lại kho NL, VL không dùng hết, kế toán ghi:
Nợ TK 152: Nguyên liệu, vật liệu
Có TK 621: CP nguyên liệu, vật liệu trực tiếp (4) Cuối kì kết chuyển chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp để tính giá thành sản phẩm, kế toán ghi:
Nợ TK 154: CP sản xuất kinh doanh dở dang
Nợ TK 631: Giá thành sản xuất (kế toán hàng tồn kho theo phương pháp (KKĐK)
Nợ TK 632: Giá vốn hàng bán (phần chi phí NVL vượt trên mức bình thường)
TK 111, 112,331
Trị giá NVL mua ngoài
dùng ngay cho SX SP
TK 152 (611) Trị giá NL, VL không dùng
hết, trị giá phế liệu thu hồi
TK 632 Chi phí, NL, VL trực tiếp
vượt trên mức bình thường
TK 133 Thuế GTGT
được khấu trừ
Trang 131.1.4.2 Phương pháp kế toán tập hợp và phân bổ chi phí nhân công trực tiếp:
* Phương pháp tập hợp
Chi phí nhân công trực tiếp là toàn bộ chi phí về tiền công (tiền lương) và các khoản trích theo lương của nhân công trực tiếp sản xuất sản phẩm, bao gồm: lương chính, lương phụ, phụ cấp, bảo hiểm xT hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn Như vậy, tiền lương, các khoản phụ cấp lương và trích theo lương của nhân viên phân xưởng,
tổ, đội sản xuất không được hạch toán vào chi phí nhân công trực tiếp mà hạch toán vào chi phí sản xuất chung
Việc tập hợp và phân bổ chi phí nhân công trực tiếp cũng áp dụng các phương pháp giống như phương pháp tập hợp và phân bổ chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp
Để phân bổ chi phí nhân công trực tiếp cho các đối tượng chịu chi phí, kế toán có thể sử dụng các tiêu chuẩn phân bổ sau đây:
- Dựa vào chi phí tiền lương theo định mức;
- Dựa vào chi phí kế hoạch;
- Dựa vào giờ công định mức, giờ công thực tế;
- Dựa vào khối lượng hoạt động
Công thức để phân bổ chi phí nhân công trực tiếp cho từng đối tượng chịu chi phí cũng áp dụng giống với công thức tính và phân bổ chi phí NL, VL trực tiếp
* Tài khoản sử dụng:
Để tập hợp và phân bổ chi phí nhân công trực tiếp, kế toán sử dụng tài khoản
"chi phí nhân công trực tiếp" TK 622 Tuỳ theo yêu cầu của quản lý, kế toán có thể mở chi tiết liên quan đến TK 622 Khi hạch toán vào tài khoản này, cần lưu ý như sau:
- Không hạch toán vào TK 622 đối với tiền lương, phụ cấp lương, các khoản trích theo lương của nhân viên quản lý ở phân xưởng tổ, đội sản xuất, nhân viên bán hàng và cán bộ quản lý doanh nghiệp
Trang 14- Đối với chi phí nhân công trực tiếp vượt trên mức bình thường thì không được hạch toán vào TK 622 mà hạch toán vào TK 632 "giá vốn bán hàng" Tài khoản 622 có kết cấu và nội dung phản ánh chủ yếu như sau:
* Bên Nợ: Phản ánh tiền lương, tiền công, phụ cấp lương và các khoản trích theo lương của công nhân sản xuất sản phẩm
* Bên Có: Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp để tính giá thành sản phẩm (kết chuyển vào TK 154 hoặc TK 631)
- Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp vượt trên mức bình thường vào TK 632
"giá vốn hàng bán"
* Cuối kì TK 622 không có số dư vì nó thuộc nhóm TK tập hợp phân phối
* Phương pháp kế toán một số nghiệp vụ kinh tế chủ yếu:
(1) Khi xác định tiền lương, phụ cấp lương và các khoản trích theo lương phải trả cho công nhân trực tiếp sản xuất, kế toán ghi:
Có TK 334: Phải trả người lao động
(4) Cuối kì, khi kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp vào các đối tượng chịu chi phí để tính giá thành sản phẩm và phần vượt của chi phí nhân công trực tiếp vào giá vốn hàng bán, kế toán ghi:
Trang 15Nợ TK 154, Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang
Nợ TK 631 Giá thành sản xuất (kế toán hàng tồn kho phương pháp KK định kì)
Nợ TK 632 Giá vốn hàng bán (phần vượt trên mức bình thường)
Có TK 622 Chi phí nhân công trực tiếp
* Sơ đồ kế toán tập hợp và phân bổ chi phí nhân công trực tiếp
1.1.4.3 Kế toán tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất chung
* Phương pháp phân bổ:
Chi phí sản xuất chung là các chi phí liên quan đến việc phục vụ, quản lý cho các hoạt động ở phân xưởng, tổ, đội sản xuất, như chi phí tiền lương và các khoản tích theo lương của nhân viên quản lý phân xưởng, tổ, đội, sản xuất; chi phí về nguyên vật liệu, công cụ, dụng cụ xuất dùng cho công tác quản lý của đội, phân xưởng, tổ sản xuất chi phí khấu hao máy móc thiết bị, nhà xưởng chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí khác bằng tiền
Các chi phí sản xuất chung được tập hợp theo từng địa điểm phát sinh, sau đó kế toán phân bổ cho các đối tượng chịu chi phí dựa vào tiêu chuẩn phân bổ thích hợp
Các tiêu chuẩn được sử dụng để phân bổ có thể là:
- Phân bổ theo chi phí nhân công trực tiếp;
- Theo chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp;
- Theo chi phí sản xuất chung định mức (hoặc theo kế hoạch);
Trang 16- Theo số giờ máy chạy v.v
Phương pháp phân bổ cụ thể cũng được áp dụng giống như phương pháp phân bổ gián tiếp chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp hoặc chi phí nhân công trực tiếp
* Tài khoản sử dụng: Để tâp hợp và phân bổ chi phí sản xuất chung, kế toán sử dụng tài khoản "chi phí sản xuất chung" - tài khoản 627 Tài khoản 627 có 6 TK Cấp 2:
- TK 6271: Chi phí nhân viên phân xưởng
- TK 6272: Chi phí vật liệu
- TK 6273: Chi phí dụng cụ, công cụ
- TK 6274: Chi phí khấu hao TSCĐ
- TK 6277: Chi phí dịch vụ mua ngoài:
- TK 6278: Chi phí bằng tiền khác
Theo chuẩn mực kế toán số 02 "hàng tồn kho", để phục vụ yêu cầu quản lý, kế toán có thể mở chi tiết TK 627 để theo dõi chi phí sản xuất chung biến đổi và chi phí sản xuất chung cố định
- Khi hạch toán vào TK 627 cần lưu ý như sau:
* TK 327 chỉ được sử dụng cho các doanh nghiệp sản xuất, không dùng cho doanh nghiệp thương mại và được hạch toán chi tiết cho từng phân xưởng, tổ, đội sản xuất
* Chi phí sản xuất chung phản ánh trên TK 627 phải được chi tiết thành 2 loại: chi phí sản xuất chung cố định và chi phí sản xuất chung biến đổi
* Chi phí sản xuất chung cố định được phân bổ vào chi phí chế biến cho mỗi đơn
vị sản phẩm dựa trên công suất bình thường của máy móc thiết bị; nếu sản phẩm sản xuất vượt trên mức bình thường của công suất máy móc thiết bị thì phân bổ theo chi phí thực tế phát sinh, trường hợp dưới mức bình thường thì chi phí sản xuất chung cố định chỉ được phân bổ vào chi phí chế biến cho mỗi đơn vị sản phẩm theo mức công suất bình thường, còn chi phí sản xuất chung cố định không phẩn bổ được hạch toán vào giá vốn của hàng bán (hạch toán vào tài khoản 632)
Trang 17- Tài khoản 627 có kết cấu và nội dung phản ánh chủ yếu như sau:
* Bên Nợ: Phản ánh chi phí sản xuất chung phát sinh trong kì
* Bên Có: - Phản ánh các khoản giảm chi phí sản xuất chung:
- Phản ánh chi phí sản xuất chung cố định không phân bổ do mức sản xuất sản phẩm thực tế dưới công suất bình thường và được hạch toán vào TK 632
- Cuối kì kết chuyển chi phí sản xuất chung vào các đối tượng chịu chi phí để tính giá thành sản phẩm
* TK 627 thuộc nhóm TK Tập hợp phân phối nên cuối kì không có số dư
* Phương pháp kế toán một số nghiệm vụ kinh tế chủ yếu
(1) Khi tính lương, phụ cấp lương, các khoản trích theo lương của nhân viên phân xưởng, tổ, đội sản xuất, kế toán ghi:
Nợ TK 627 Chi phí sản xuất chung (6271)
Có TK 334 Phải trả người lao động
Có TK 338 (3382; 3383; 3384); phải trả, phải nộp khác
(2) Khi xuất vật liệu cho phân xưởng, tổ, đội sản xuất, như xuất vật liệu dùng cho sửa chữa, bảo dưỡng TSCĐ, cho quản lý điều hành của phân xưởng, tổ, đội sản xuất (kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên) kế toán ghi:
Nợ TK 627 (6272) Chi phí sản xuất chung
Có TK 152: nguyên liệu, vật liệu (3) Khi xuất công cụ, dụng cụ dùng cho phân xưởng, tổ, đội sản xuất
* Nếu xuất dùng và phân bổ một lần do giá trị của nó nhỏ, kế toán ghi:
Nợ TK 627 (6273): Chi phí sản xuất chung;
Có TK 153: Công cụ; dụng cụ
* Nếu công cụ, dụng cụ có giá trị lớn phải phân bổ nhiều lần, khi xuất dùng, kế toán ghi:
Nợ TK 142, 242: Chi phí trả trước ngắn hạn và dài hạn
Có TK 153 Công cụ, dụng cụ
Trang 18- Khi phân bổ vào chi phí sản xuất chung, kế toán ghi:
Nợ TK 627 (6273): Chi phí sản xuất chung
Có TK 142, 242: Chi phí trả trước ngắn hạn, dài hạn (4) Khi trích khấu hao TSCĐ thuộc phân xưởng, tổ, đội sản xuất, kế toán ghi:
Nợ TK 627 (6274): Chi phí sản xuất chung
Có TK 214 : Hao mòn tài sản cố định (5) chi phí dịch vụ mua ngoài, như chi phí điện, nước, điện thoại thuộc phân xưởng, tổ, đội sản xuất, khi phát sinh, kế toán ghi:
Nợ TK 627 (6277)
Nợ TK 133 (nếu được khấu trừ thuế GTGT)
Có TK: 111, 112, 331 (6) Đối với chi phí bằng tiền khác phục vụ cho hoạt động của phân xưởng, tổ, đội sản xuất (ngoài các chi phí nói trên), khi phát sinh, kế toán ghi:
Nợ TK 627 (6278)- chi phí sản xuất chung
Nợ TK 133 (1331) - Nếu được khấu trừ thuế GTGT
Có TK 111, 112 (7) Cuối kì, kết chuyển chi phí sản xuất chung vào các đối tượng chịu chi phí để tính giá thành và chi phí sản xuất chung cố định không phân bổ vào giá vốn hàng bán,
Trang 19* Sơ đồ kế toán tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất chung:
Trang 201.1.4.4 Kế toán tập hợp chi phí toàn doanh nghiệp
Mục đích của kế toán tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất là phục vụ cho việc tính giá thành sản phẩm, do vậy sau khi đT tập hợp được chi phí sản xuất theo từng khoản mục: Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung như đT trình bày ở trên, kế toán phải tập hợp chi phí sản xuất toàn doanh nghiệp và chi tiết theo từng đối tượng chịu chi phí Việc tập hợp chi phí sản xuất toàn doanh nghiệp để tính giá thành sản phẩm là tuỳ thuộc vào phương pháp kế toán hàng tồn kho Nếu doanh nghiệp áp dụng phương pháp kế toán hàng tồn kho theo kê khai thường xuyên thì kế toán sử dụng tài khoản "Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang" - TK 154; trường hợp doanh nghiệp áp dụng phương pháp kế toán hàng tồn kho theo kiểm kê định kì thì kế toán sử dụng tài khoản "giá thành sản xuất" - Tài khoản 631
1.1.4.4.1 Kế toán tập hợp chi phí toàn doanh nghiệp theo phương pháp kê khai thường xuyên
Khi doanh nghiệp áp dụng kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên, để tập hợp chi phí sản xuất toàn doanh nghiệp, kế toán sử dụng tài khoản
154 "chi phí sản xuất kinh doanh dở dang"
Tài khoản 154 phải được chi tiết theo địa điểm phát sinh: phân xưởng, tổ, đội sản xuất và theo loại, nhóm sản phẩm, từng loại sản phẩm, chi tiết, bộ phận sản phẩm Kết cấu và nội dung phản ánh của TK 154 - Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang như sau:
Bên Nợ: - Phản ánh chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp; Chi phí nhân công trực tiếp; chi phí sản xuất chung phát sinh trong kì để sản xuất chế tạo sản phẩm
Bên Có: Phản ánh giá thành thực tế của sản phẩm được nhập kho hoặc mang đi bán;
- Trị giá phế liệu thu hồi, trị giá sản phẩm hỏng không sửa chữa được;
- Trị giá nguyên liệu, vật liệu, hàng hoá gia công xong nhập kại kho;
Dư Nợ: Phản ánh chi phí sản xuất kinh doanh dở dang cuối kì
Trang 21Trình tự kế toán tập hợp chi phí sản xuất toàn doanh nghiệp có thể khái quát theo sơ đồ sau:
1.1.4.4.2 Kế toán tập hợp chi phí sản xuất toàn doanh nghiệp theo phương pháp kiểm kê định kì
Đối với doanh nghiệp kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kì,
để tập hợp chi phí sản xuất toàn doanh nghiệp phục vụ cho yêu cầu tính giá thành, kế toán sử dụng tài khoản 631 - "Giá thành sản xuất"
Cũng giống như TK 154, TK 631 phải được chi tiết theo địa điểm chi phí phát sinh (phân xưởng, tổ, đội sản xuất) và theo từng loại, nhóm sản phẩm, từng sản phẩm, chi tiết, bộ phận sản phẩm
Tài khoản 631 có kết cấu và nội dung phản ánh chủ yếu như sau:
- Bên Nợ: - Phản ánh trị giá sản phẩm dở dang đầu kì được kết chuyển để tính giá thành;
Trang 22- Phản ánh phần chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung được kết chuyển để tính giá thành sản phẩm
- Bên Có: - Phản ánh và kết chuyển trị giá sản phẩm dở dang cuối kì vào TK 154
- Phản ánh trị giá phế liệu thu hồi, các khoản bồi thường do sản phẩm hỏng không sửa chữa được
- Phản ánh giá thành thực tế của sản phẩm sản xuất trong kì vào TK 632
- Cuối kì TK 632 không có số dư (vì đT kết chuyển sang TK 154)
Trình tự kế toán tập hợp chi phí sản xuất toàn doanh nghiệp theo phương pháp kiểm kê định kì có thể được khái quát theo sơ đồ sau:
1.1.5 Phương pháp đánh giá sản phẩm làm dở
Sản phẩm làm dở là sản phẩm mà đến kì tính giá thành vẫn đang nằm trên dây truyền sản xuất để tiếp tục được chế biến Như vậy, trong tổng số chi phí sản xuất phát sinh trong kì, có một phần chi phí được phản ánh trong sản phẩm làm dở Để xác định
TK 138 Các khoản bồi thường do SP
hỏng không sửa chữa được
đudddđược TK 632 Giá thành thực tế của
SP sản xuất trong kì
Trang 23chi phí sản xuất tính cho sản phẩm hoàn thành nhập kho, cần phải xác định được chi phí sản xuất tính cho sản phẩm làm dở Để xác định chi phí của sản phẩm làm dở, kế toán
có thể dựa trên chi phí sản xuất định mức hoặc dựa trên chi phí sản xuất thực tế
1.1.5.1 Phương pháp đánh giá sản phẩm làm dở dựa trên chi phí sản xuất thực tế
Để xác định được chi phí sản xuất tính cho sản phẩm dở dang cuối kì, kế toán phải dựa vào đặc điểm về tổ chức sản xuất, về vai trò và tỉ trọng của từng khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm, tuỳ thuộc vào yêu cầu và trình độ quản lý mà lựa chọn, áp dụng phương pháp đánh giá cho thích hợp: hoặc là đánh giá theo chi phí nguyên liệu, vật liệu chính (hoặc chi phí, nguyên liệu, vật liệu trực tiếp), hoặc theo sản lượng sản phẩm hoàn thành tương đương
1.1.5.1.1 Phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang cuối kì theo chi phí nguyên liệu, vật liệu chính (hoặc theo nguyên liệu, vật liệu trực tiếp)
* Trường hợp doanh nghiệp sản xuất sản phẩm mà chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp (nguyên liệu, vật liệu chính) chiếm tỉ trọng lớn trong tổng chi phí sản xuất phát sinh để sản xuất sản phẩm, kế toán có thể xác định chi phí sản xuất tính cho sản phẩm làm dở cuối kì theo chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp (nguyên liệu, vật liệu chính) Theo cách đánh giá này thì chi phí sản xuất của sản phẩm dở dang chỉ tính phần chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp (nguyên liệu, vật liệu trực chính), còn chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung thì tính cả cho sản phẩm hoàn thành Công thức tính toán cụ thể như sau:
Chi phí của SPDD đầu kì (NL, VL) +
Chi phí NL, VL trực tiếp (NL, VL chính) phát sinh
Ví dụ: Giả định tại Công ty X có số liệu, tài liệu về sản xuất sản phẩm A như sau:
- Chi phí sản xuất của SPDD đầu kì: Tính theo nguyên liệu, vật liệu trực tiếp là 100.000 (đơn vị: 1000đ); Tính theo nguyên liệu, vật liệu chính là 80.000;
Trang 24- Chi phí sản xuất phát sinh trong kì là: 2.152.000
Trong đó: + Chi phí, nguyên liệu, vật liệu trực tiếp là: 1.900.000 (chi phí nguyên liệu, vật liệu chính: 1.720.000)
+ Chi phí nhân công trực tiếp: 144.000
+ Chi phí sản xuất chung: 108.000
- Đơn vị sản xuất 200.000 sản phẩm A, cuối kì nhập kho 150.000 sản phẩm Dựa vào tài liệu, số liệu đT cho, kế toán tính toán và xác định như sau:
+ Số lượng sản phẩm dở dang cuối kì là 200.000SP - 150.000SP = 50.000SP + Chi phí sản xuất tính cho 50.000SP làm dở như sau:
* Tính theo chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp:
- Chi phí sản xuất của sản phẩm làm dở cuối kì giai đoạn 1 (phân xưởng 1) được tính như trường hợp trên (theo chi phi nguyên liệu, vật liệu trực tiếp hoặc nguyên liệu, vật liệu chính)
- Chi phí sản xuất của sản phẩm làm dở giai đoạn 2 (phân xưởng 2) tính theo trị giá nửa thành phẩm của giai đoạn 1;
- Chi phí sản xuất của sản phẩm làm dở cuối giai đoạn 3 được tính theo trị giá nửa thành phẩm của giai đoạn 2 v.v
Trang 25(Khái quát lại thì chi phí sản xuất của sản phẩm dở dang cuối giai đoạn sau được tính theo trị giá nửa thành phẩm của giai đoạn trước)
1.1.5.1.2 Phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang cuối kì theo sản lượng tương
Số lượng sản phẩm qui đổi = số lượng sản phẩm dở dang x % hoàn thành
Khi áp dụng phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang theo sản lượng tương
đương hoàn thành, kế toán thực hiện theo trình tự như sau:
- Đối với chi phí bỏ vào một lần ngay từ đầu qui trình sản xuất: Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp (nguyên liệu, vật liệu chính) thì tính cho sản phẩm làm dở và sản phẩm hoàn thành như nhau và công thức tính cụ thể giống với công thức tính đT trình bầy ở mục trước (mục 1.1.5.1);
- Đối với chi phí bỏ dần vào quá trình sản xuất: Chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung thì tính theo mức độ hoàn thành và công thức tính cụ thể như sau:
Chi phí SX (NCTT, SX chung) của SPDD +
Chi phí SX (NCTT, SX chung) phát sinh trong kì
Ví dụ: Tại Công ty X có số liệu, tài liệu sau đây:
Đơn vị sản xuất 150 sản phẩm A, cuối kì nhập kho 120 sản phẩm;
* Có 20 sản phẩm có mức độ hoàn thành là 60%; 10 sản phẩm có mức độ hoàn thành 30%
* Trị giá sản phẩm dở dang đầu kì được xác định là 210.500 (đơn vị 1000đ)
Trang 26Trong đó: + Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp: 150.000 (nguyên liệu, vật liệu chính: 130.000)
+ Chi phí nhân công trực tiếp: 40.500;
+ Chi phí sản xuất chung: 20.000
* Chi phí sản xuất phát sinh trong kì: 1.667.500
Trong đó: + Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp: 1.350.000 (nguyên liệu, vật liệu chính: 1.220.000)
+ Chi phí nhân công trực tiếp: 202.500
+ Chi phí sản xuất chung: 115.000
Từ số liệu đT cho, chi phí sản xuất của sản phẩm dở dang cuối kì được xác định như sau:
Số lượng sản phẩm qui đổi = 20 x 60% + 10 x 30% = 15 sản phẩm
Trị giá sản phẩm dở dang cuối kì được tính cụ thể như sau:
150.000 + 1.350.000 + Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp:
120 + 30 x 30 = 300.000
40.500 + 202.500 + Chi phí nhân công trực tiếp:
120 + 15 x 15 = 27.000
20.000 + 115.000 + Chi phí sản xuất chung:
120 + 15 x 15 = 15.000
Tổng cộng 342.000 1.1.5.2 Phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí định mức
Đối với các doanh nghiệp đT xây dựng được hệ thống định mức hợp lí và đT áp dụng việc tính giá thành theo phương pháp định mức, kế toán có thể đánh giá sản phẩm
dở dang theo chi phí định mức Theo phương pháp này, kế toán căn cứ vào khối lượng (số lượng) sản phẩm dở dang cuối kì, mức độ hoàn thành ở từng giai đoạn và chi phí
Trang 27định mức cho đơn vị sản phẩm ở từng giai đoạn (phân xưởng) sản xuất để xác định trị giá của sản phẩm dở dang, hoặc tất cả các khoản mục chi phí, hoặc chỉ tính theo định mức của chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp
Ví dụ: Giả định tại Công ty X có số liệu, tài liệu như sau:
Đơn vị sản xuất SPA phải qua hai giai đoạn chế biến liên tục (mỗi giai đoạn là 1 phân xưởng), số lượng là 70 sản phẩm
- Hết giai đoạn 1, đơn vị đT hoàn thành được 60 nửa thành phẩm, số sản phẩm dở dang là 10, mức độ hoàn thành 50%
- Giai đoạn 2 nhận 60 nửa thành phẩm của giai đoạn 1 và tiếp tục chế biến; Hết giai đoạn 2, đơn vị hoàn thành và nhập kho được 50 sản phẩm, còn 10 sản phẩm (nửa thành phẩm giai đoạn 1 chuyển sang) là dở dang, mức độ hoàn thành 50%
- Chi phí định mức cho mỗi sản phẩm ở từng giai đoạn như sau:
Dựa vào số liệu, tài liệu đT biết, kế toán xác định như sau:
* Nếu tính theo chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp và nửa thành phẩm của bước trước (giai đoạn trước):
- Trị giá sản phẩm dở dang của giai đoạn 1 là: 10 x 12.000 = 120.000
- Trị giá sản phẩm dở dang của giai đoạn 2 là: 10 x 15.000 = 150.000
Trang 28* Nếu tính cả 3 khoản mục chi phí và nửa thành phẩm giai đoạn trước:
- Trị giá SPDD của giai đoạn 1 là:
ra sản phẩm, dịch vụ Như vậy giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm vừa giống nhau, lại vừa khác nhau Chúng giống nhau ở chất vì cũng phản ảnh hao phí lao động xT hội cần thiết để sản xuất, chế biến sản phẩm, nhưng lại khác nhau về lượng:
- Chi phí sản xuất liên quan đến sản phẩm, công việc, dịch vụ đT hoàn thành, chưa hoàn thành (SPDD cuối kì), liến quan đến sản phẩm nhập kho (thành phẩm) và liên quan đến cả sản phẩm hỏng, đến chi phí thực tế chưa phát sinh nhưng đT trích trước; Trong khi đó giá thành sản phẩm chỉ liên quan đến sản phẩm hoàn thành nhập kho và
đến sản phẩm dở dang đầu kì
- Chi phí sản xuất gắn với kì hoạt động sản xuất (thời kì phát sinh chi phí), còn giá thành lại liên quan đến khối lượng sản phẩm, dịch vụ hoàn thành theo tiêu chuẩn qui
định
Trang 29- Xét theo nghĩa rộng, trong điều kiện bình thường, tổng chi phí sản xuất trong kì thường lớn hơn tổng giá thành sản phẩm Trường hợp qui trình sản xuất không tạo ra sản phẩm dở dang, không có sản phẩm hỏng thì toàn bộ chi phí bỏ ra sẽ được tính hết vào giá thành, do vậy chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm giống nhau cả về lượng và chất Chi phí sản xuất là căn cứ (cơ sở) để tính giá thành, do vậy việc tiết kiệm chi phí sản xuất là điều kiện cơ bản để hạ giá thành sản phẩm
1.2.2 Phân loại giá thành sản phẩm (các loại giá thành sản phẩm)
Cũng như chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm có thể được phân thành nhiều loại tuỳ theo tiêu thức phân loại khác nhau và phục vụ yêu cầu quản lý khác nhau
* Theo thời điểm và cơ sở số liệu để tính giá thành:
Theo tiêu thức phân loại nói trên, giá thành sản phẩm được phân thành 3 loại: Giá thành định mức, giá thành kế hoạch và giá thành thực tế
- Giá thành định mức là giá thành được tính căn cứ vào các định mức kinh tế kĩ thuật hiện hành, ví dụ định mức về tiêu hao vật tư, định mức về tiền lương (đơn giá lương), định mức chi phí sản xuất chung và chỉ tính cho từng đơn vị sản phẩm Giá thành định mức là thước đo để đánh giá quá trình và kết quả của việc quản lý, sử dụng lao động, vật tư, tiền vốn để tạo ra sản phẩm của doanh nghiệp và nó được xác định trước khi tiến hành sản xuất
- Giá thành kế hoạch: Giá thành kế hoạch là giá thành được tính dựa vào chi phí sản xuất kế hoạch và sản lượng kế hoạch Nó là mục tiêu để doanh nghiệp phấn đấu, là căn cứ để phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch hạ giá thành của doanh nghiệp và cũng được tình trước khi doanh nghiệp tiến hành sản xuất Giá thành kế hoạch
có thể tính cho toàn bộ sản phẩm và cho từng đơn vị sản phẩm
- Giá thành thực tế là giá thành được tính căn cứ vào tổng số chi phí sản xuất thực tế đT phát sinh và đT được kế toán tập hợp và phân bổ bằng các phương pháp thích hợp Giá thành thực tế chỉ được tính sau khi công việc sản phẩm đT hoàn thành, được nghiệm thu, nhập kho Nó có thể tính cho toàn bộ sản phẩm nhập kho và cho từng đơn vị sản phẩm
Trang 30Giá thành thực tế là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh kết quả của việc quản lý và sử dụng lao động, vật t−, tiền vốn để tạo ra sản phẩm, đồng thời nó là cơ sở
để xác định kết quả kinh doanh của doanh nghiệp
* Phân loại giá thành dựa vào nội dung của chi phí cấu thành và theo phạm vi tính toán của giá thành: Theo tiêu thức này, giá thành sản phẩm bao gồm 2 loại: Giá thành sản xuất và giá thành toàn bộ
- Giá thành sản xuất của sản phẩm là giá thành đ−ợc xác định dựa vào chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung để sản xuất và chế biến sản phẩm Giá thành sản xuất chỉ liên quan đến sản phẩm sản xuất
và nhập kho Trong kế toán quản trị, tuỳ thuộc vào yêu cầu ra quyết định quản lý, giá thành sản xuất đ−ợc phân thành giá thành sản xuất theo chi phí biến đổi (biến phí) và giá thành sản xuất có phân bổ chi phí cố định (còn đ−ợc gọi là giá thành sản xuất bộ phận)
- Giá thành toàn bộ là giá thành đ−ợc xác định dựa vào giá thành sản xuất, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp và nó chỉ đ−ợc xác định khi sản phẩm
đ−ợc bán ra, do vậy nó còn đ−ợc gọi là giá thành toàn bộ của sản phẩm tiêu thụ Giá thành toàn bộ là cơ sở để xác định kết quả bán hàng của doanh nghiệp
1.2.3 Đối t−ợng tính giá thành
Đối t−ợng tính giá thành là các loại sản phẩm, công việc, dịch vụ đT hoàn thành,
đT đ−ợc kiểm nghiệm bàn giao hoặc nhập kho Việc xác định đúng đối t−ợng tính giá thành là điều kiện rất quan trọng để đảm bảo cho việc tính giá thành đ−ợc chính xác Để xác định đúng đối t−ợng tính giá thành, cần phải dựa vào các căn cứ sau đây:
- Phải dựa vào đặc điểm tổ chức sản xuất (tập trung, phân tán )
- Dựa vào loại hình sản xuất (đơn chiếc, hàng loạt nhỏ, hàng loạt lớn)
- Dựa vào đặc điểm qui trình công nghệ sản xuất: giản đơn, phức tạp
- Dựa vào đặc điểm sử dụng sản phẩm (bán ngay chi tiết sản phẩm, nửa thành phẩm)
- Dựa vào yêu cầu của quản lý, trình độ của cán bộ kế toán và tình hình trang bị
kĩ thuật tính toán của doanh nghiệp
Trang 31Đối tượng tính giá thành và đối tượng tập hợp chi phí sản xuất có mối quan hệ rất mật thiết với nhau Đối tượng kế toán tập hợp chi phí có thể là nơi phát sinh chi phí, có thể là nơi gánh chịu chi phí, còn đối tượng tính giá thành chỉ là nơi gánh chịu chi phí, do vậy đối tượng kế toán tập hợp chi phí rộng hơn đối tượng tính giá thành Việc xác định
đúng đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất là tiền đề rất quan trọng để kế toán tính
được giá thành theo từng đối tượng giá thành; ngược lại, việc xác định đúng đối tượng tính giá thành cũng là căn cứ để xác định đúng đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất Một đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất có thể trùng với một đối tượng tính giá thành, có thể bao gồm nhiều đối tượng tính giá thành và ngược lại Chính mối quan
hệ tác động qua lại nói trên sẽ chi phối và quyết định đến phương pháp và kĩ thuật tính giá thành
đó mà tính được giá thành của sản phẩm của doanh nghiệp, cần thiết phải tổ chức kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, dịch vụ, lao vụ sản xuất phụ phục vụ cho các đối tượng (Vì giá trị của sản phẩm, dịch vụ, lao vụ do các phân xưởng,
bộ phận phụ trợ sản xuất cung cấp cho phân xưởng sản xuất chính cũng là yếu tố cấu thành của giá thành sản phẩm chính của doanh nghiệp
* Về kế toán tập hợp chi phí sản xuất ở các phân xưởng, bộ phận sản xuất phụ trợ:
Về nguyên tắc, toàn bộ chi phí phát sinh của các bộ phận sản xuất phụ trợ, như chi phí về nguyên liệu, vật liệu, chi phí nhân công, chi phí sản xuất chung cũng được tập hợp và phân bổ giống như phương pháp tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất đT được
Trang 32trình bày ở mục 1.1.4 và cũng được phản ánh vào Bên Nợ của các tài khoản có liên quan: Tài khoản 621, Tài khoản 622, tài khoản 627 và cuối kì đều được kết chuyển sang tài khoản 154 hoặc tài khoản 631 để tính giá thành sản phẩm, lao vụ, dịch vụ hoàn thành
* Về phương pháp tính giá thành
Để tính được giá thành của sản phẩm, lao vụ, dịch vụ ở từng phân xưởng, bộ phận phụ trợ có cung cấp lẫn cho nhau, ví dụ phân xưởng điện cung cấp điện cho phần xưởng sửa chữa, phân xưởng sửa chữa cung cấp dịch vụ sửa chữa cho phân xưởng điện v.v kế toán phải xác định được giá trị lao vụ cung cấp lẫn nhau giữa các phân xưởng,
bộ phận sản xuất phụ trợ Trong trường hợp này, giá thành của sản phẩm, lao vụ, dịch vụ
đầu kì
+ Chi phí phát sinh ban đầu +
Giá trị SP, lao vụ nhận của PX, bộ phận khác
-
Giá trị của sản phẩm, lao
vụ phục vụ cho PX, bộ phận khác
-
Trị giá SPDD cuối kì
Giá thành thực tế của sản phẩm, lao vụ của từng bộ
phận Giá thành thực tế của
đơn vị, sản phẩm, lao vụ
của từng bộ phận
= Khối lượng hoàn
khối lượng phục vụ bộ phận khác
Giá trị sản phẩm, lao vụ
phục vụ cho đối tượng khác =
Để tính được giá thành thực tế của sản phẩm, lao vụ ở từng bộ phận sản xuất, kế toán có thể áp dụng phương pháp đại số, theo đơn giá chi phí ban đầu, theo giá kế hoạch