Ngoài lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục bản khóa luận gồm có 3 chương: Chương I: Tình hình ngoại thương Trung Quốc từ năm 1979 đến nay Chương II: Một số bài học
Trang 1trờng đại học ngoại thơng
khoa kinh tế ngoại thơng
Trang 2Mục lục
Lời nói đầu 1
.Chơng I : Tình hình hoạt động ngoại thơng Trung Quốc từ 1979 đến nay 3
I Vài nét về đất nớc Trung Quốc 3
1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên 3
2 Dân c 4
3 Đặc điểm chính trị- xã hội 4
4 Kinh tế Trung Quốc sau hơn 20 năm cải cách mở cửa 5
II Cải cách hoạt động ngoại thơng Trung Quốc qua các giai đoạn 9
1 Giai đoạn 1979 - 1987 (giai đoạn tìm tòi thử nghiệm) 11
2 Giai đoạn 1988 - 1990 12
3 Giai đoạn 1991 - 2001 13
4 Năm 2001, Trung Quốc trở thành thành viên của WTO - một dấu mốc quan trọng trong phát triển ngoại thơng nói riêng và kinh tế nói chung 14
5 Giai đoạn từ 2002 đến nay (giai đoạn quá độ sau khi gia nhập WTO) 23
III Thực tiễn hoạt động ngoại thơng Trung Quốc trong những năm gần đây 24
1 Về kim ngạch xuất nhập khẩu 24
2 Về cơ cấu mặt hàng xuất nhập khẩu 26
3 Về cơ cấu thị trờng xuất nhập khẩu 29
IV Tác động của ngoại thơng Trung Quốc đối với nền kinh tế quốc dân 32
1 Ngoại thơng thúc đẩy tăng trởng kinh tế 32
2 Ngoại thơng giúp nâng cao trình độ kỹ thuật, đổi mới công nghệ trong nớc 34
3 Ngoại thơng góp phần cải tạo cơ cấu kinh tế theo hớng công nghiệp hóa 34
4 Ngoại thơng góp phần giải quyết vấn đề việc làm 35
Trang 3V Triển vọng hoạt động ngoại thơng Trung Quốc trong thời
gian tới 36
1 Các nhân tố thuận lợi 36
2 Các nhân tố bất lợi 38
Chơng II: Một số bài học kinh nghiệm trong phát triển ngoại thơng của Trung Quốc 40
I Một số bài học thành công 40
1 Thực hiện chiến lợc mở cửa theo nhiều phơng vị, nhiều tầng nấc 40
2 Chủ động thu hút FDI vào phát triển ngoại thơng 44
3 Kiên trì cải cách thể chế quản lý ngoại thơng 59
4 Chính sách hợp lý trong đa dạng hóa sản phẩm và thị trờng 67
5 Chủ động tạo môi trờng cho các doanh nghiệp tiếp cận thị trờng quốc tế thông qua việc hội nhập các liên kết kinh tế khu vực và thế giới 72
6 Coi trọng công tác xúc tiến thơng mại 76
7 Một số kinh nghiệm trong việc xử lý các vấn đề sau khi gia nhập WTO 77
II Một số bài học không thành công 79
1 Quan điểm lấy lợng thay cho chất đã làm giảm hiệu quả kinh doanh ngoại thơng 81
2 Chính sách bảo hộ quá mức trong một số ngành đã ngăn cản việc cải thiện khả năng cạnh tranh 81
3 Công tác nâng cao kiến thức kinh doanh, hiểu biết về tình hình thị trờng quốc tế cho doanh nghiệp cha đợc quan tâm đúng mức 81
4 Trong quá trình thúc đẩy ngoại thơng phát triển không tránh khỏi dẫn tới sự chênh lệch vùng miền 82
Chơng III: Một số gợi ý đối với hoạt động ngoại thơng Việt Nam từ bài học kinh nghiệm của Trung Quốc 83
I Những nét tơng đồng và khác biệt giữa Việt Nam và Trung Quốc 83
Trang 4III Một số gợi ý đối với hoạt động ngoại thơng Việt Nam 99
1 Hoàn thiện môi trờng pháp lý, đổi mới cơ chế quản lý xuất nhập khẩu 99
2 Hoàn thiện các biện pháp khuyến khích xuất khẩu 100
3 Đẩy mạnh thu hút FDI vào phát triển ngoại thơng 102
4 Tiếp tục thực hiện đa dạng hóa mặt hàng, đa phơng hóa thị ờng xuất nhập khẩu 106
tr-5 Nâng cao hiệu quả công tác xúc tiến thơng mại 109
6 Đẩy nhanh hội nhập vào các liên kết kinh tế khu vực và thế giới 110
Kết luận 111 Tài liệu tham khảo 113 Phụ lục
Trang 5LỜI NÓI ĐẦU
Trong những năm cuối của thế kỷ XX, nền kinh tế Trung Quốc trỗi dậy mạnh
mẽ, là hiện tượng nổi bật nhất, thu hút nhiều sự chú ý nhất ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương và trên toàn thế giới Sau hơn 20 năm (1979-2003) thực hiện cảicách mở cửa, bộ mặt kinh tế xã hội Trung Quốc đã biến đổi sâu sắc.Về nhiều mặt,Trung Quốc đang chiếm những vị trí đáng kể trong nền kinh tế thế giới, đứng hàngđầu về tốc độ tăng trưởng với một thực lực kinh tế không nhỏ Đặc biệt là tronglĩnh vực ngoại thương, trải qua gần một phần tư thế kỷ, ngoại thương Trung Quốc
-đã thu được nhiều thành tựu rực rỡ: từ chỗ xếp hàng thứ 32 trên thế giới về xuấtnhập khẩu (năm 1978) đến nay Trung Quốc đã là cường quốc ngoại thương lớn thứ
5 trên thế giới với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu lên tới 620,8 tỷ USD năm 2002(tăng gấp 30 lần so với năm 1978) Hơn thế nữa, vị thế và ảnh hưởng của TrungQuốc trong thương mại quốc tế ngày càng được nâng cao, ngoại thương TrungQuốc đang đứng trước những cơ hội mới để phát triển tốt đẹp hơn, đặc biệt là sau
sự kiện Trung Quốc đã trở thành thành viên thứ 143 của Tổ chức thương mại thếgiới ngay vào năm đầu tiên của thế kỷ XXI
Việt Nam là nước láng giềng có nhiều điểm tương đồng về điều kiện tự nhiên,dân cư, chế độ chính trị xã hội và cả về kinh tế với Trung Quốc Cũng giống nhưTrung Quốc, Việt Nam đang tiến hành đổi mới đất nước, hướng tới việc xây dựngnền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, Việt Nam tiếnhành mở cửa, đổi mới đất nước sau Trung Quốc 8 năm và cho đến nay thì nhữngthành tựu kinh tế, thành tựu phát triển ngoại thương vẫn còn là khiêm tốn so vớinhững thành quả to lớn của nước bạn và còn chưa xứng với tiềm năng của chínhViệt Nam Vì vậy, để thành công hơn nữa trong công cuộc phát triển ngoại thươngViệt Nam thì việc tham khảo bài học kinh nghiệm của Trung Quốc là rất cần thiết
Trang 6Với lý do trên, em xin được mạnh dạn nghiên cứu vấn đề “Một số bài học kinh nghiệm trong phát triển ngoại thương của Trung Quốc và gợi ý đối với Việt Nam” Bản khóa luận này chủ yếu đi sâu vào phân tích các bài học kinh nghiệm
thành công cũng như chưa thành công trong phát triển ngoại thương của TrungQuốc trong tiến trình mở cửa và cải cách kinh tế từ năm 1979 đến nay, để trên cơ
sở đó tham khảo một cách có phê phán và chọn lọc những kinh nghiệm có tính khảthi, phù hợp với thực tiễn ngoại thương Việt Nam, đưa ra những gợi ý nhằm thúcđẩy sự phát triển của ngoại thương đất nước trong những năm đầu của thế kỷ XXI.Khóa luận được xây dựng dựa trên các phương pháp nghiên cứu khoa học:phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phương pháp tổng hợp và phântích, phương pháp thống kê và so sánh
Ngoài lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục bản khóa
luận gồm có 3 chương:
Chương I: Tình hình ngoại thương Trung Quốc từ năm 1979 đến nay Chương II: Một số bài học kinh nghiệm trong phát triển ngoại thương của Trung Quốc
Chương III: Một số gợi ý đối với hoạt động ngoại thương Việt Nam từ bài học kinh nghiệm của Trung Quốc
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo – Tiến sỹ Vũ Thị Kim Oanh, người đã
tận tình hướng dẫn em trong việc hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này Em cũngxin được gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo, bạn bè, Thư viện trường Đại họcNgoại thương, Viện kinh tế thế giới, Trung tâm nghiên cứu Trung Quốc đã giúp
đỡ, tạo điều kiện để khóa luận được hoàn thành
Hà Nội, tháng 12/2003 Sinh viên thực hiện
Lê Thùy Dương
Trang 8CHƯƠNG I TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG NGOẠI THƯƠNG TRUNG QUỐC TỪ 1979
ĐẾN NAY
I VÀI NÉT VỀ ĐẤT NƯỚC TRUNG QUỐC
1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên
Trung Quốc là một đất nước có diện tích rộng lớn nằm ở nửa phía Bắc của Đôngbán cầu, phía Đông Nam của đại lục Á-Âu, phía Đông của Châu Á và phía Tây TháiBình Dương, có đường biên giới đất liền dài khoảng 22.000 km tiếp giáp với 15 quốcgia, có vùng biển rộng lớn với tuyến bờ biển dài và rất nhiều đảo, đường biên giới trênbiển dài khoảng 18.000 km Diện tích Trung Quốc là 960 vạn km2 , là nước lớn nhấtChâu Á, thứ 3 trên thế giới về diện tích lãnh thổ [22]
Với vị trí địa lý rất thuận lợi cùng với diện tích đất đai rộng lớn đã tạo ra choTrung Quốc những điều kiện dễ dàng phát triển mối quan hệ kinh tế, đặc biệt là quan
hệ mậu dịch với các nước và khu vực lớn ở Châu Âu, Châu Mỹ cũng như Đông Nam
Á, Australia và Trung Á
Địa hình Trung Quốc rất đa dạng bao gồm đồng bằng, gò đồi, cao nguyên, bồnđịa, sơn địa, hoang mạc, sa mạc xen kẽ nhau, chủ yếu là địa hình đồi núi, chiếm 70%diện tích đất đai trong đó gần 1/3 ở độ cao trên 300m, diện tích đất trồng trọt chỉkhoảng 100 triệu ha, độ phì nhiêu khá cao
Điều kiện khí hậu rất ưu việt nhưng tương đối khác nhau giữa các vùng, trải rộng
từ Nam tới Bắc là các vùng khí hậu khác nhau: vượt nhiệt đới, nhiệt đới, á nhiệt đới,noãn ôn đới, hàn nhiệt đới Lượng mưa dồi dào, bình quân hàng năm ở Trung Quốc là629mm Điều kiện nhiệt độ và lượng nước phân phối hợp lý tạo ra điều kiện cho việcphát triển nông nghiệp, như nghề trồng lúa, trồng bông, các loại hoa quả và nghề cá.Trung Quốc là nước có nguồn tài nguyên thiên nhiên tương đối phong phú, trong
đó lượng tài nguyên nước đứng thứ nhất thế giới Nguồn tài nguyên năng lượng cũngrất lớn, trữ lượng than thăm dò được là 700 tỷ tấn, đứng thứ nhất thế giới Sản lượngdầu thô đứng thứ năm thế giới Tài nguyên khoáng sản của Trung Quốc tương đối toàndiện và đồng bộ, 150 loại khoáng sản được sử dụng trên thế giới đều được phát hiện ởTrung Quốc, trong đó trữ lượng thăm dò được của hơn 20 loại như: than, vonfram,sitilium, đồng, chì, kẽm, vanađium, titan đứng hàng đầu thế giới Rừng của TrungQuốc cũng đứng đầu thế giới về chủng loại gỗ với hơn 2500 loại trong đó có 500 loạicây quý hiếm và 50 loại cây đặc chủng cùng nhiều loại động vật quý hiếm [22]
Trang 92 Dân cư
Trung Quốc là nước có dân số lớn nhất thế giới, dân số Trung Quốc tính đến cuốinăm 2002 có 1.284.530.000 người [22] Trung Quốc là một trong những quốc gia cómật độ dân cư cao nhất và phân bố không đồng đều; mật độ trung bình là 125người/km2; dao động từ 1,5 người ở vùng tự trị Tây Tạng đến 400-500 người/km2 ởcác vùng đồng bằng phía Đông, nhiều nơi lên đến 1000-1500 người/km2 như ở vùngBắc và Đông Bắc [7]
Tiềm năng về nguồn nhân lực của Trung Quốc là rất lớn và lâu dài Số ngườitrong độ tuổi lao động chiếm khoảng 61% tổng dân số, trong số này có 60% là laođộng nông nghiệp Năm 1990, Trung Quốc có lực lượng lao động là 756, 6 triệu người(từ 15-64 tuổi) Theo tính toán, trung bình mỗi năm Trung Quốc có thêm 21 triệungười bước vào độ tuổi lao động [7].Nguồn nhân lực dồi dào này cùng với truyềnthống lao động cần cù, sáng tạo và công tác giáo dục ở đây rất được coi trọng nên chấtlượng lao động ngày càng tăng lên Đó là tài sản vô giá và là nhân tố quan trọng trong
sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước này
3 Đặc điểm chính trị - xã hội
Nhà nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa được thành lập vào ngày 01/10/1949.Sau khi nước CHND Trung Hoa thành lập, Đảng cộng sản Trung Quốc đã lãnh đạoCách mạng Trung Quốc đi vào thời kỳ khôi phục và phát triển kinh tế đất nước Tronggiai đoạn đầu của công cuộc xây dựng kinh tế đất nước, do nhiều nguyên nhân chủquan và khách quan, Trung Quốc đã có nhiều va vấp, thất bại
Hội nghị Trung ương 3 khóa 11 Đảng cộng sản Trung Quốc (1978) đã đề rađường lối cải cách mở cửa “Một trung tâm, hai điểm cơ bản” (xây dựng kinh tế làtrung tâm, 2 điểm cơ bản là kiên trì cải cách mở cửa và kiên trì 4 nguyên tắc: Conđường xã hội chủ nghĩa, chuyên chính dân chủ nhân dân, sự lãnh đạo của Đảng, tư
tưởng Mao Trạch Đông) Đặng Tiểu Bình đã đưa ra lý luận “Xây dựng xã hội chủ nghĩa mang màu sắc Trung Quốc” với nội dung cơ bản là “Giải phóng tư tưởng, thực
sự cầu thị” tức là đi theo chủ nghĩa Mác nhưng phải xuất phát từ thực tế Trung Quốc
Từ đó đến nay, Trung Quốc luôn luôn kiên trì công cuộc cải cách mở cửa, xây dựngchủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc, đưa đất nước chuyển sang một thời đạimới
Nhìn chung, tình hình chính trị-xã hội Trung Quốc trong những năm gần đây ổnđịnh, tuy trong nước và quốc tế có nhiều biến động nhưng Đảng cộng sản Trung Quốcvẫn giữ vững được quyền lãnh đạo Nội bộ ban lãnh đạo đã quán triệt quan điểm xuất
Trang 10trị-xã hội, Trung Quốc cũng còn nổi cộm 2 vấn đề lớn, đó là: 1- Tệ tham nhũng, buônlậu, vấn đề việc làm, chênh lệch giàu nghèo; 2- Trung Quốc đang bước vào giai đoạnquyết định của cải cách, thời kỳ then chốt của phát triển , có những biến đổi sâu sắc,đan xen về thành phần kinh tế, lợi ích kinh tế, lối sống, hình thức tổ chức xã hội đặcbiệt là sự thay đổi về kết cấu giai tầng, tỷ lệ nòng cốt (giai cấp công nhân và nông dân)trong Đảng cộng sản Trung Quốc cũng đã thay đổi, đòi hỏi phải đổi mới công tácchính trị tư tưởng và công tác xây dựng Đảng.
4 Kinh tế Trung Quốc sau hơn 20 năm cải cách mở cửa
* Về tăng trưởng kinh tế
Từ năm 1978, khi bắt đầu cải cách, Trung Quốc đi vào con đường hội nhập vớithế giới và khu vực và đã thu được thành công đáng kể
Trước cải cách, từ 1952 đến 1978, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm củakinh tế Trung Quốc là 4,4%, thấp hơn bình quân hàng năm của thế giới (4,52%) [15]
Từ năm 1978 đến nay, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của Trung Quốc là7,6%, cao hơn nhiều so với mức bình quân của thế giới Giai đoạn 1992-1997, kinh tếTrung Quốc tăng trưởng ngoạn mục hơn nữa với tốc độ tăng trưởng GDP bình quânđạt 11%/ năm Trong đó, GDP Trung Quốc năm 1996 lớn hơn GDP của ASEANkhoảng 15%, bằng 3% GDP của thế giới, 23% kinh tế Nhật, 12% kinh tế Mỹ [22].Nhiều nhà quan sát xem sự tăng trưởng này là thần kỳ, đặc biệt là khi so sánh với cácnước xã hội chủ nghĩa cũ trong lúc các này trải qua sự suy thoái kinh tế trầm trọngtrong suốt giai đoạn từ đầu đến giữa thập niên 90 Trong những năm 1997-1999, dotác động của cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực, nền kinh tế Trung Quốc cũng chữnglại, và có dấu hiệu suy giảm Tuy nhiên, ngay sau đó Trung Quốc đã lấy lại được xuthế tăng trưởng
Năm 2000 là năm cuối của kế hoạch năm năm phát triển kinh tế xã hội lần thứchín ( 1996-2000), cũng là năm đánh dấu một bước chuyển biến quan trọng trong nềnkinh tế Trung Quốc Với những cố gắng gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO),tái cơ cấu nền kinh tế, tập trung cải cách xí nghiệp quốc doanh, thúc đẩy phát triểnkhoa học công nghệ, cải cách cơ bản về nông nghiệp và mở rộng nhu cầu nội địa,
Trung Quốc đã đảo ngược xu hướng suy giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế kéo dài liên
tục trong 3 năm qua Năm 2000, với GDP đạt 8.928 tỷ NDT - tương đương 1.072 tỷUSD, với mức tăng GDP là 8,3% (theo Cục thống kê quốc gia) [33], theo số liệu củaIMF con số này là 7,5%, GDP bình quân đầu người đạt 850 USD, Trung Quốc đãhoàn thành vượt mức kế hoạch tăng gấp 4 lần GDP bình quân đầu người của năm
Trang 111980 (200 USD) Với kết quả này, Trung Quốc đã lần đầu tiên đặt chân vào hàng ngũcác quốc gia có GDP trên 1000 tỷ USD [34].
Bước sang thế kỷ 21, năm 2001 được đánh dấu bằng sự kiện lớn, việc TrungQuốc chính thức trở thành thành viên thứ 143 của WTO (vào ngày 11 tháng 11) sau
15 năm nỗ lực và cố gắng là một bước tiến lớn của nền kinh tế Trung Quốc theohướng nhất thể hoá kinh tế toàn cầu Sự kiện này cũng đã mở ra những cơ hội và tháchthức mới đối với nền kinh tế Trung Quốc Trong bức tranh ảm đạm của nền kinh tế thếgiới 2001, mặc dù tăng trưởng xuất khẩu chững lại do bị ảnh hưởng của sự suy giảmkinh tế Mỹ, Nhật Bản và thế giới song Trung Quốc vẫn duy trì được mục tiêu tăngtrưởng Theo đánh giá của IMF, năm 2001, GDP của Trung Quốc đạt 9593,3 NDTtương đương khoảng 1100 tỷ USD, tăng 7,3%, thấp hơn so với mức kế hoạch đề ra(7,5%)
Năm 2002, GDP của Trung Quốc lần đầu tiên phá mốc 10 nghìn tỷ NDT, đạt10.239,8 tỷ NDT tương đương 1278 tỷ USD, tốc độ tăng trưởng là 8% [36]
Nhìn chung, trong nhiều năm gần đây Trung Quốc là nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất thế giới và trong vòng 10 năm tới Trung Quốc có thể vẫn giữ
được tốc độ tăng trưởng này
Bảng 1: So sánh tốc độ tăng trưởng GDP của Trung Quốc và thế giới
số tương ứng là 13,4% và 4,8%.Thu nhập của nông dân tăng đã làm số dân nghèo theothống kê chính thức giảm mạnh từ mức 33% vào năm 1978 xuống còn 4% vào năm
1997 và 3% vào năm 2001 [22]
* Về công nghiệp
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 15, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã đưa
Trang 12công nghiệp hiện đại và dịch vụ hiện đại” Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 16vào tháng 11/2002, nội dung: “Thúc đẩy nâng cấp ưu hoá cơ cấu ngành nghề, hìnhthành lên cơ cấu ngành nghề: lấy ngành nghề khoa học kỹ thuật cao, mới đi đầu,ngành nghề cơ sở và chế tạo làm hỗ trợ…” cũng không nằm ngoài mục tiêu xây dựngmột nền kinh tế, trong đó có ngành công nghiệp hiện đại Trong mấy thập kỷ tiến hànhCông nghiệp hoá - hiện đại hoá, cho tới nay, có thể thấy mục tiêu của các kỳ đại hộiđang từng bước được thực hiện Trong vòng 20 năm từ 1978-1997, tốc độ tăng trưởngbình quân của công nghiệp Trung Quốc là 12%, giá trị sản lượng của các xí nghiệpcông nghiệp từ cấp xã trở lên tăng gấp 14 lần [7] Năm 2000, Trung Quốc đạt sảnlượng 163 triệu tấn dầu thô, 131 triệu tấn quặng sắt, 1000 triệu tấn than, 128,5 triệutấn thép thô, 1355,6 tỷ kwh điện [22] Đến năm 2001, sản lượng các ngành côngnghiệp này đều tăng lên mức 165 triệu tấn dầu thô, 145,4 triệu tấn quặng sắt, 1110triệu tấn than, 152,66 triệu tấn thép thô và 1478 tỷ kwh điện [37] Năm 2002, giá trịgia tăng của công nghiệp cả năm đạt 4593,5 tỷ NDT, tăng 10,2% so với 2001; giá trịsản phẩm mới cả năm tăng 24% so với 2001; tổng lượng phát điện cả năm đạt 1654 tỷKwh, tăng 11,7% so với năm 2001; sản lượng than đạt 1380 triệu tấn,tăng 18,9%; sảnlượng dầu thô đạt 167 triệu tấn, tăng 1,8% [21].
Cơ cấu công nghiệp của Trung Quốc cũng có nhiều thay đổi theo hướng tăngcường phát triển các mặt hàng có hàm lượng kỹ thuật cao như điện tử, vi tính, ô tô,công nghệ viễn thông…
Vào giai đoạn chuyển giao thế kỷ, Trung Quốc đã trở thành trung tâm sản xuấthàng công nghiệp của thế giới, từ các ngành có hàm lượng lao động cao như dệt may,
giày dép đến các ngành dùng nhiều tư bản và công nghệ cao Thực tế, Trung Quốc đã trở thành nước có sản lượng công nghiệp lớn thứ 4 trên thế giới, chỉ sau có Mỹ, Nhật Bản và Đức.
Hiện nay, Trung Quốc đã chiếm trên 20% sản lượng thế giới trong các ngành đồđiện gia dụng cao cấp như đầu máy video, DVD, máy điều hoà không khí, tivi màu…Trong ngành điện thoại di động và máy tính cá nhân, Trung Quốc cũng sản xuất trên10% sản lượng thế giới [25]
Trang 13trong nước không đủ để đáp ứng nhu cầu trong nước, phải thường xuyên nhập khẩulương thực thực phẩm với khối lượng lớn, sau hơn 20 năm, bộ mặt nông nghiệpTrung Quốc đã có nhiều thay đổi đáng kể Tổng giá trị sản lượng nông lâm ngư nghiệp
và chăn nuôi của Trung Quốc năm 1997, sau khi trừ đi nhân tố giá cả, tăng 3,4 lần sovới 1978, bình quân mỗi năm tăng 6,6% Năm 1997, Trung Quốc đã vươn lên đứngđầu thế giới về sản lượng nhiều loại sản phẩm như ngũ cốc (444 triệu tấn), bông (4,6triệu tấn), hạt có dầu (9,6 triệu tấn), thịt (41,2 triệu tấn) [7] Trong năm 2000, sảnlượng lương thực Trung Quốc đạt 500 triệu tấn [22] Năm 2002, GDP nông nghiệp là1488,3 tỷ NDT, tổng sản lượng lương thực cả năm đạt 457,11 triệu tấn, sản lượng thịtđạt 65,90 triệu tấn Nền nông nghiệp không chỉ đảm bảo nhu cầu trong nước mà cònđáp ứng cho xuất khẩu với khối lượng khá lớn [21]
* Về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
Liên tục trong các năm gần đây, các nhà đầu tư coi Trung Quốc là một địa chỉđầu tư hấp dẫn nhất Châu Á và thực tế là từ năm 1993-2001, Trung Quốc luôn đứngthứ 2 trên thế giới về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, là nước nhận vốn đầu tư lớnnhất trong số các nước đang phát triển Những cải cách môi trường đầu tư đã đưa lạinhững kết quả tốt đẹp cho hoạt động đầu tư của Trung Quốc, biểu hiện cụ thể trong sốliệu đầu tư ngày càng tăng lên Từ 1979-1997, Trung Quốc đã thu hút đầu tư nướcngoài đạt 348,35 tỷ USD, trong đó 63% là đầu tư trực tiếp, đạt trên 220 tỷ USD từ hơn
100 nước và đầu tư vào trên 20 ngành nghề Trong giai đoạn 1997-2002, đầu tư trựctiếp nước ngoài tăng nhanh, trong 5 năm đạt 226 tỷ USD, hơn cả giai đoạn 1979-1997[29] Đặc biệt, năm 2002, một năm sau khi gia nhập WTO với ảnh hưởng tích cực của
sự kiện này, Trung Quốc lần đầu tiên vượt Mỹ trở thành quốc gia thu hút được FDI lớn nhất thế giới, với tổng vốn FDI thực tế là 52,7 tỷ USD [21] Nguồn vốn FDI đang
ngày càng đóng vai trò quan trọng trong công cuộc phát triển kinh tế ở đất nước này
* Về du lịch
Nói đến kinh tế Trung Quốc, không thể bỏ qua du lịch - “ngành công nghiệpkhông khói” của đất nước này Mỗi năm, Trung Quốc thu hàng tỷ USD với hàng chụctriệu lượt người đến tham quan Năm 1995, số khách du lịch là 46,39 triệu lượt người,doanh thu đạt 8,7 tỷ USD Năm 2000, con số này là 698 triệu lượt người, tăng 50 triệulượt người so với năm 1999 Riêng năm 2001, tổng doanh thu ngành du lịch đạtkhoảng 59 tỷ USD (496 tỷ NDT), tăng 9,76% so với năm 2000 [22] Năm 2002, sốngười du lịch trong nước cả năm đạt 877,82 triệu lượt người, thu nhập du lịch trongnước đạt 387,8 tỷ NDT, tăng 10,1%; thu nhập ngoại tệ du lịch quốc tế đạt 20,4 tỷ
Trang 14Qua hơn 20 năm cải cách, đất nước Trung Quốc đã trải qua nhiều thăng trầm,chuyển biến, nền kinh tế Trung Quốc vừa phải đối mặt với những khó khăn, tháchthức nhưng cũng gặt hái được rất nhiều thành tựu Sự phát triển kỳ diệu của TrungQuốc là nhờ đâu nếu không phải từ sự nỗ lực hết mình của người dân Trung Quốctrong công cuộc xây dựng đất nước với mục tiêu đưa Trung Quốc từng bước hội nhậpvới kinh tế thế giới, từng bước trở thành một cường quốc kinh tế lớn mạnh Chắc chắnrằng trong những năm tới đây, Trung Quốc sẽ vẫn còn tiếp tục phát triển, nền kinh tế
sẽ ngày càng hội nhập, trở thành bộ phận quan trọng của nền kinh tế thế giới
Nền kinh tế Trung Quốc trong hơn 20 năm qua phát triển rất sôi động, nhưng đặc biệt là trong lĩnh vực ngoại thương thì những chuyển biến lại càng diễn ra nhanh hơn, mạnh hơn Có thể nói ngoại thương là “đầu tàu” trong phát triển kinh tế Trung Quốc trong giai đoạn cải cách mở cửa hiện nay Trong lĩnh vực này, Trung Quốc đã
có những bước tiến thành công, gặt hái nhiều thành tựu Tuy nhiên để làm được điều
đó thì ngoại thương Trung Quốc đã phải trải qua nhiều giai đoạn phát triển, vừa làm vừa rút kinh nghiệm mới dần dần đi vào đúng quỹ đạo phát triển.
II CẢI CÁCH HOẠT ĐỘNG NGOẠI THƯƠNG TRUNG QUỐC QUA CÁC GIAI ĐOẠN
* Sự cần thiết phải cải cách mở cửa ngoại thương Trung Quốc
Trước khi thực hiện cải cách mở cửa nền kinh tế vào cuối năm 1978, Trung Quốc
đã có những quan hệ kinh tế với nhiều nước trên thế giới nhưng quy mô nhỏ, phạm vihẹp Các quan hệ đã chỉ dừng lại ở một nền ngoại thương kém phát triển và một ít việntrợ nhằm mục tiêu chính trị Những hoạt động thông thường như vay nợ, nhận đầu tư
từ nước ngoài, tổ chức du lịch đều không đáng kể Chính sách bế quan tỏa cảng vốn
có trong lịch sử vẫn là xu thế cơ bản trong các quan hệ kinh tế đối ngoại của TrungQuốc Điều này khiến cho Trung Quốc không tận dụng được những thành quả khoahọc kỹ thuật tiên tiến trên thế giới Nó cũng khiến cho mọi nhân tố tiềm tàng nội tạicủa đất nước không được đánh thức dậy Nền kinh tế bị kìm hãm làm cho khoảng cáchkinh tế của Trung Quốc với các nước phát triển trên thế giới ngày càng xa Tình hìnhkinh tế trong nước những năm 70 đòi hỏi các nhà lãnh đạo Trung Quốc phải tiến hànhthay đổi chính sách này Đặng Tiểu Bình khi tổng kết bài học kinh nghiệm trong lịch
sử Trung Quốc đã cho rằng: “Một nhân tố quan trọng khiến Trung Quốc chìm đắmtrong tình trạng lạc hậu và trì trệ là đóng cửa tự bao vây Kinh nghiệm cho thấy, đóngcửa tự bao vây, đóng cửa để tự xây dựng thì không thể thành công được, sự phát triểncủa Trung Quốc không thể tách rời với thế giới được” [13]
Người Trung Quốc cũng đã thấm thía cái giá quá đắt của chính sách “tự lực cánhsinh, độc lập tự chủ” cực đoan và phiến diện, thấy rõ tính tất yếu của xu thế hội nhập
Trang 15và phân công lao động mới trong nền kinh tế thế giới và khu vực mà Trung Quốckhông thể dứng ngoài.
Không chỉ thực trạng kinh tế yếu kém của đất nước đòi hỏi phải cải cách mở cửa
mà tình hình thế giới vào cuối thập kỷ 70 cũng tạo điều kiện cho sự thay đổi sâu sắc vàtoàn diện diễn ra ở Trung Quốc Đặc biệt vào cuối thập kỷ 70, xu thế đa phương hóa
và chuyên môn hóa, quốc gia hóa trong nền kinh tế thế giới trở nên vô cùng sôi động,làm cho mối quan hệ giao lưu trao đổi và mậu dịch quốc tế ngày càng được mở rộng
và phát triển mạnh mẽ Đứng trước tình hình này, hoạt động ngoại thương chủ yếu dựavào quyền lực của thể chế kinh tế truyền thống tập trung, tự cấp tự túc, bế quan tự thủcủa Trung Quốc đã trở nên lạc hậu và kém hiệu quả, không thể phù hợp với xu thế mởrộng quan hệ đối ngoại, hòa nhập kinh tế, tăng cường mậu dịch và hợp tác trên đà pháttriển sôi động trong các nước trên thế giới
Bên cạnh đó, những thách thức của những tiến bộ khoa học kỹ thuật như vũ bão
và cuộc cách mạng ngành nghề mới trên phạm vi toàn cầu, của phát triển giao lưu vàquốc tế hóa kinh tế cao độ cũng buộc Trung Quốc phải tự xét lại mình, tự đổi mới, tiếpthu thành quả khoa học kỹ thuật hiện đại, tạo ra sự phát triển mạnh mẽ Đặc điểm củacuộc cách mạng khoa học kỹ thuật là khoa học kỹ thuật trở thành sức sản xuất trựctiếp, trí tuệ đóng vai trò trọng tâm tạo ra những hiệu quả kinh tế gấp nhiều lần trướckia Con người không những tác động đến đối tượng sản xuất mà còn có khả năng tạo
ra cả đối tượng sản xuất, những năng lượng mới, những vật liệu mới Công nghệ mới,lao động chất xám đã làm cho năng suất lao động phát triển lên đến mức vô cùng tolớn, thúc đẩy nhanh quá trình quốc tế hóa sản xuất Nền kinh tế quốc gia đã vượt rangoài phạm vi một nước để tham gia vào sự phân công lao động quốc tế Đó là xu thếphát triển của thế giới
Sự phát triển với tốc độ cao của một số nước Châu Á-Thái Bình Dương cũng làmột sức ép góp phần thúc đẩy Trung Quốc mở cửa Tất cả các nước NICs và các nướcASEAN do nhận thấy xu thế toàn cầu hóa của nền sản xuất, cho nên đã điều hướngsản xuất của mình chuyển từ chỗ thay thế nhập khẩu sang chỗ hướng về xuất khẩu,tham gia mạnh mẽ vào nền thương mại thế giới Rõ ràng là họ đã trước sau thoát khỏitình trạng đóng cửa, vươn mạnh ra bên ngoài, khắc phục tư tưởng sợ phụ thuộc vàonước ngoài, Chính điều này đã làm cho các nước này có tốc độ tăng trưởng đáng ngạcnhiên, đặc biệt là Nam Triều Tiên có tốc độ tăng trưởng về xuất khẩu trong nhữngnăm 60 và 70 là 35% và 27%, trong khi đó thì thương mại thế giới chỉ tăng tương ứng
có 9% và 7% Vào những năm 70 tỷ lệ xuất nhập khẩu đối với GDP của Nam Triều
Trang 16Tình hình này buộc Trung Quốc phải xem lại mình và buộc Trung Quốc phải cảicách ngoại thương nếu không muốn tụt hậu hơn nữa so với các nước trong khu vực.
Do đó vấn đề cấp thiết và tiên quyết của Trung Quốc trong chiến lược phát triển ngoạithương là phải tăng cường khôi phục và thúc đẩy toàn bộ hệ thống mậu dịch đối ngoạiphát triển sống động, tạo điều kiện cho sản xuất, xuất khẩu hàng hóa và nhập khẩuthiết bị và kỹ thuật tiên tiến của thế giới, góp phần đưa nền kinh tế quốc dân phát triểnnhanh chóng
Trung Quốc đã tiến hành cải cách ngoại thương nhằm tiến tới thiết lập một hệthống thương mại tự do phù hợp với nền kinh tế mở cửa và hòa nhập vào xu thế chungcủa nền kinh tế thế giới Quá trình cải cách này có thể chia làm các giai đoạn chínhnhư sau:
1 Giai đoạn 1979-1987 (giai đoạn tìm tòi thử nghiệm)
Là chặng đường đầu tiên của mở cửa cải cách nên cách thức thực hiện còn nhiều
bỡ ngỡ, tuy nhiên có thể tập trung vào các chính sách chính sau:
- Mở rộng quyền giao dịch của các chính quyền địa phương, các bộ và các doanhnghiệp Cải cách trong giai đoạn này bao gồm việc thực hiện chế độ khoán ngoạithương theo khu vực và phân bổ thẩm quyền phê chuẩn đăng ký kinh doanh của cácdoanh nghiệp cho các tỉnh, thành phố và các khu tự trị
- Cải cách chế độ kế hoạch hóa trong xuất nhập khẩu, bao gồm từng bước giảmđáng kể số lượng hàng hóa theo kế hoạch mệnh lệnh, và giảm đáng kể số lượng hànghoá xuất nhập khẩu do Chính phủ trực tiếp quản lý Năm 1985, các Bộ trực thuộcChính phủ trung ương đã bắt đầu ngừng ra các mệnh lệnh đối với mua và phân phốihàng hóa xuất khẩu
- Điều chỉnh chế độ tài chính trong ngoại thương Các khoản tài chính của cácdoanh nghiệp xuất nhập khẩu và các doanh nghiệp sản xuất kiêm xuất nhập khẩu trựcthuộc các Bộ được tổng hợp lại trong tài chính của Chính phủ trung ương Các doanhnghiệp lớn có quyền kinh doanh xuất nhập khẩu được kiểm toán một cách độc lập.Các chính quyền địa phương về mặt nguyên tắc có trách nhiệm với mọi khoản lỗ lãitrong các hoạt động xuất nhập khẩu mà họ tham gia
- Cải cách chế độ hoạt động ngoại thương, bao gồm chuyển từ chế độ kinh doanhmột kênh sang chế độ kinh doanh nhiều kênh, chuyển từ chế độ kinh doanh một chứcnăng sang chế độ sản xuất kiêm kinh doanh xuất nhập khẩu, cho phép các doanhnghiệp tham gia vào ngoại thương kinh doanh xuất nhập khẩu một cách độc lập và ápdụng chế độ đại lý đối với một số loại hàng hóa
Trang 17- Thực hiện chế độ giữ lại ngoại hối Để khuyến khích các chính quyền địaphương, các bộ và các doanh nghiệp tham gia vào xuất nhập khẩu một cách tích cực,chế độ giữ lại ngoại hối được áp dụng năm 1979 Nói cách khác, trên cơ sở Nhà nướcthống nhất quản lý ngoại hối và đảm bảo cho những nhu cầu quan trọng của các dự ánquan trọng, các doanh nghiệp có quyền giữ lại một phần ngoại tệ mà họ kiếm được và
có quyền tự quyết đối với việc sử dụng số ngoại tệ này Họ có thể tham gia vào thịtrường ngoại hối và có thể bán số ngoại hối không sử dụng cho các doanh nghiệp cầnmua
Với những cải cách bước đầu trong hoạt động ngoại thương, từ sau năm 1978, hoạtđộng ngoại thương của Trung Quốc diễn ra khá sôi động Kim ngạch ngoại thương năm
1979 mới chỉ đạt 29,33 tỷ USD thì đến năm 1987 đã đạt 82,652 tỷ USD nghĩa là tăng 2,8lần so với năm 1979 Trong thời gian này, ngoại thương Trung Quốc phát triển với tốc độtrung bình là 14,2% một năm, đưa Trung Quốc từ chỗ xếp thứ 28 trên thế giới về tổngkhối lượng buôn bán lên vị trí thứ 12, về xuất khẩu từ thứ 32 lên thứ 14, về nhập khẩu từthứ 27 lên thứ 11 Số mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu trên 100 triệu USD từ 20 chủngloại tăng lên tới 48 chủng loại Thị trường ngoại thương quốc tế cũng được mở mang mọimặt từ chỗ có quan hệ ngoại thương với trên 140 nước trong năm 1979 lên 180 nước vàkhu vực vào năm 1987 [23]
2 Giai đoạn 1988-1990 (giai đoạn quá độ chuyển sang cải cách chiều sâu)
- Trọng tâm của giai đoạn này là tăng cường chế độ khoán ngoại thương Chínhphủ đã bắt đầu áp dụng chế độ này vào năm 1988 Trong phạm vi chế độ này, cácchính quyền địa phương ký kết hợp đồng với Chính phủ về số lượng ngoại hối mà họcam kết sẽ thu được, số lượng ngoại hối họ sẽ giao nộp cho Chính phủ và những lợiích kinh tế mà họ cố gắng đảm bảo Những hợp đồng này vẫn không thay đổi từ năm1988- 1990 Sau đó, các chính quyền địa phương lại ký hợp đồng với các doanhnghiệp kinh doanh địa phương và thực hiện các mục tiêu ngoại thương của mình theoquy định của pháp luật
Trong phạm vi chế độ này, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu tự chịu trách nhiệm
về các khoản lỗ lãi của chính mình Trách nhiệm này trước hết được áp dụng tại cácdoanh nghiệp xuất nhập khẩu trong ngành công nghiệp nhẹ, mỹ nghệ và may mặc.Các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, các doanh nghiệp sản xuất và các chính quyền địaphương giữ lại một phần lớn các khoản thu ngoại tệ, còn một phần nhỏ được giao nộpcho Chính phủ Tuy nhiên, để đổi lấy tỷ lệ giữ lại lớn, họ phải hoàn toàn chịu trách
Trang 18hóa ngoại thương cũng được cải thiện thêm một bước Trừ 21 loại hàng hóa xuất khẩuvẫn nằm dưới chế độ quản lý thống nhất và vẫn theo chế độ xuất khẩu hai kênh, tất cảcác loại hàng hóa đã được chuyển từ chế độ hai kênh sang chế độ một kênh duy nhất.Điều này có nghĩa là các chính quyền địa phương sẽ ký hợp đồng trực tiếp với Chínhphủ Một khi chế độ này được thực hiện thì chế độ tài chính trong ngoại thương cũngđược cải cách theo Các doanh nghiệp xuất nhập khẩu ký hợp đồng trực tiếp với Nhànước về các chỉ tiêu lợi ích kinh tế nhất định, và theo thông lệ quốc tế, Nhà nước đãthực hiện đầy đủ các ưu đãi về thuế xuất khẩu Ngân sách của các chi nhánh địaphương của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu được gắn với các ngân sách của cácchính quyền địa phương và tách ra khỏi ngân sách của Chính phủ trung ương.
- Chế độ quản lý ngoại thương đã được tiếp tục cải cách dưới hệ thống mới nàynhằm xác định lại quyền quản lý các hoạt động thương mại Từ tháng 10/1988, chứcnăng của Bộ ngoại thương cũng đã được đổi mới: ngoài việc nghiên cứu xác địnhchiến lược phát triển ngoại thương, quản lý giấy phép, hạn ngạch xuất nhập khẩu, cònchịu trách nhiệm kế toán ngoại hối, tăng cường giám sát quản lý công tác thống kê, chỉđạo công tác kinh doanh và kế toán tài vụ của các xí nghiệp ngoại thương, tham giađiều tiết mức thuế và cân đối công tác ngoại thương giữa các khu vực
- Việc thi hành hệ thống hợp đồng trách nhiệm theo hướng cân đối trách nhiệm,quyền hạn và lợi nhuận của các công ty ngoại thương có tác dụng giải quyết các vấn
đề khác nhau của địa phương, các ngành, các công ty ngoại thương và các xí nghiệpsản xuất, đồng thời còn đóng vai trò quan trọng thúc đẩy phương thức hoạt động bêntrong của các xí nghiệp, đó là nguyên nhân tạo ra được lợi nhuận và mở rộng ngoạithương
Giai đoạn này chỉ kéo dài có 3 năm nhưng ngoại thương Trung Quốc đã cónhững bước tiến lớn Vào năm 1990 kim ngạch ngoại thương của Trung Quốc đạt115,4 tỷ USD so với 102,784 tỷ USD năm 1988 tăng lên 12% Điểm đặc biệt là saumột thời gian dài nhập siêu đến năm 1990 Trung Quốc đã xuất siêu với thặng dư là8,746 tỷ USD Số mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu hàng năm hơn 100 triệu USD từ
48 loại vào năm 1987 đã lên đến 83 loại vào năm 1990 Tỷ trọng hàng công nghiệpxuất khẩu trong kim ngạch xuất khẩu chiếm 74,5% Đối với hoạt động nhập khẩu, vàonăm 1989, những thiết bị đồng bộ và kỹ thuật tiên tiến được nhập vào khoảng 4,39 tỷUSD, đổi mới 400 xí nghiệp trọng điểm và đã sản xuất ra hơn 6000 loại sản phẩmmới, trong đó một số lượng khá lớn đạt được tiêu chuẩn tiên tiến trên thế giới có sứccạnh tranh mạnh mẽ Đến năm 1990, Trung Quốc đã thiết lập được quan hệ thươngmại với 200 nước và khu vực [23]
Trang 193 Giai đoạn 1991-2001
Mục tiêu của giai đoạn này là thiết lập một chế độ quản lý và một cơ chế hoạt
động với đặc điểm "chính sách thống nhất, cạnh tranh lành mạnh, quản lý tự chủ, trách nhiệm của mỗi doanh nghiệp đối với các khoản lỗ lãi, kết hợp sản xuất với thương mại, áp dụng chế độ đại lý và thẩm quyền duy nhất trong việc giải quyết các vấn đề thương mại" Mục tiêu của chế độ mới là nhằm chấm dứt một lịch sử lâu đời
của nền ngoại thương trợ cấp và buộc các doanh nghiệp xuất nhập khẩu phải cạnhtranh trên thị trường quốc tế Các biện pháp cải cách bao gồm:
- Xoá bỏ hoàn toàn các loại trợ cấp đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu,đồng thời tăng tỷ lệ giữ lại ngoại hối để thực hiện chế độ khoán ngoại thương đối vớicác khoản lỗ và lãi Cụ thể: Tổng công ty ngoại thương trung ương giao khoán xuấtkhẩu trực tiếp cho các địa phương, các địa phương chịu trách nhiệm tổ chức xuấtkhẩu, thu ngoại tệ về và giao nộp 70%, được giữ lại 30% ở địa phương, chỉ tiêu khoánđược giao cho các xí nghiệp và cơ sở ngoại thương Nếu thu nhập vượt quá mức chỉtiêu khoán thì phần vượt này địa phương được giữ lại 80% Việc cải cách hệ thốngquản lý ngoại tệ đã giúp các công ty có được nhiều ngoại tệ hơn cho các nhu cầu mởrộng tái đầu tư của họ Nhiều xí nghiệp và các viện nghiên cứu khoa học đã được phéptham gia các hoạt động ngoại thương Đồng thời với việc thu hẹp, giới hạn các mặthàng xuất nhập khẩu cần xin giấy phép, Trung Quốc đã giảm thuế nhập khẩu nhằm
mở rộng tự do thương mại
- Tự do hơn nữa thị trường ngoại hối Trước hết hủy bỏ chế độ hai tỷ giá, thốngnhất tỷ giá của đồng Nhân dân tệ với các ngoại tệ khác, chủ yếu dựa vào thị trườngcung và cầu ngoại tệ Chính sách này được đưa ra nhằm mang lại đầy đủ vai trò quantrọng của tỷ giá hối đoái, như là một biện pháp điều chỉnh ngoại thương Thị trườnggiao dịch ngoại tệ giữa các ngân hàng đã được thành lập, nhằm trợ giúp cho cơ chếxây dựng tỷ giá hối đoái và nhận ra những tác động có thể làm thay đổi đồng Nhândân tệ đối với tài khoản hiện hành Cuộc cải cách về tỷ giá hối đoái đã thúc đẩy cảicách trong hệ thống quản lý nhập khẩu Một số quy định hạn chế phi thuế quan bị hủy
bỏ hoặc là bị giảm bớt, đã mở rộng thêm "tự do" cho hoạt động nhập khẩu
- Chính phủ ký hợp đồng với các tỉnh, khu tự trị, thành phố hạch toán tài chínhđộc lập, công ty chuyên doanh xuất nhập khẩu, doanh nghiệp sản xuất kiêm xuất nhậpkhẩu các loại hàng hóa chuyên ngành nhất định cũng như với các doanh nghiệp xuấtnhập khẩu khác Các hợp đồng đó quy định hạn ngạch xuất khẩu, hạn ngạch thu ngoạihối và hạn ngạch ngoại hối phải nộp cho Chính phủ Các hạn ngạch trong mỗi hợpđồng được đánh giá và điều chỉnh theo từng năm
Nhìn chung, những cải cách trong giai đoạn này đẩy mạnh hơn nữa việc mở rộng
Trang 20động sáng tạo cho các xí nghiệp sản xuất và các công ty xuất nhập khẩu; đẩy mạnhviệc mở rộng kênh lưu thông, tiêu thụ hàng hóa ra thị trường thế giới; tăng cường sứccạnh tranh của hàng xuất khẩu trên thị trường quốc tế.
4 Năm 2001 Trung Quốc trở thành thành viên của WTO - một dấu mốc quan trọng trong phát triển ngoại thương nói riêng và kinh tế nói chung
4.1 Sự cần thiết gia nhập WTO của Trung Quốc
Xét từ góc độ tiềm lực phát triển của kinh tế Trung Quốc cũng như từ cơ chế hoạtđộng toàn cầu của WTO, việc Trung Quốc gia nhập WTO là phù hợp với nhu cầu của
cả hai bên
* Về phía Trung Quốc:
Trong hơn hai thập kỷ qua, công cuộc cải cách và mở của của Trung Quốc đượctiến hành trong bối cảnh quốc tế hoá, toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới Toàn cầu hoá
đã mang lại cho Trung Quốc cả những cơ hội lẫn những thách thức Cho đến nay, sựphát triển và thịnh vượng của Trung Quốc phụ thuộc khá nhiều vào các mối liên kếtcủa Trung Quốc với thế giới bên ngoài Chính vì vậy, gia nhập WTO là nhu cầu thiếtthực để Trung Quốc:
- Tiếp tục đi sâu cải cách và mở cửa, xây dựng nền kinh tế thị trường xã hội chủnghĩa
- Hoà nhập vào xu hướng toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới
- Tận dụng triệt để hơn nữa kinh nghiệm quản lý, kỹ thuật, công nghệ, thị trường
- Tham gia WTO, Trung Quốc sẽ được hoà nhập vào một "Liên hợp quốc vềkinh tế và thương mại" với hơn 140 thành viên, kim ngạch buôn bán hàng năm chiếmtrên 90% kim ngạch buôn bán toàn cầu [14] Lợi ích mà Trung Quốc nhận được là vôcùng to lớn khi Trung Quốc được hưởng Quy chế Tối huệ quốc (MFN) vô điều kiện,điều đó chắc chắn sẽ thúc đẩy quá trình giao lưu buôn bán, xuất nhập khẩu hàng hóa
và dịch vụ của Trung Quốc với các nước và khu vực trên thế giới không ngừng tănglên
Trang 21- Thông qua cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO, Trung Quốc sẽ tránh đượcnhững rào cản không đáng có của “chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch”, bảo vệ tối đa quyềnlợi hợp pháp của Trung Quốc trong thương mại quốc tế.
* Về phía WTO
Xét từ góc độ tiềm lực phát triển và quy mô to lớn của nền kinh tế–thương mạiTrung Quốc, từ mối quan hệ tương hỗ đôi bên cùng có lợi giữa nền kinh tế TrungQuốc với các quốc gia có nền kinh tế phát triển trên thế giới, từ thị trường to lớn chotới tư thế và phương thức ứng xử của Trung Quốc trong vai trò một nước lớn có tiếngnói trên trường quốc tế, tất cả đều chứng minh rằng WTO sẽ không thể được coi làhoàn chỉnh khi chưa có sự tham gia của Trung Quốc-nước đang phát triển lớn nhấttrên thế giới:
- Không có sự tham gia của Trung Quốc trong việc xây dựng những nguyên tắccủa WTO, phạm vi ứng dụng của những nguyên tắc ấy chắc chắn sẽ hạn chế
- Không có sự tham gia của một thị trường rộng lớn như Trung Quốc, thị trườngquốc tế khó có thể là thống nhất
Có thể thấy, Trung Quốc cần WTO và WTO cần Trung Quốc, việc Trung Quốcgia nhập WTO là phù hợp với lợi ích của cả Trung Quốc và các nước trên thế giới.Điều đó đã được chứng minh một cách thuyết phục thông qua sự hợp tác thành công
và những thành tựu to lớn mà các bên đạt được trong nhiều năm qua
4.2 Tóm tắt quá trình đàm phán và gia nhập WTO của Trung Quốc
4.2.1 Tiến trình gia nhập
1948 - Trung Hoa Dân Quốc là một trong số 23 thành viên sáng lập của Hiệp
định chung về thuế quan và thương mại GATT (tiền thân của WTO)
1950 - Một năm sau ngày thành lập nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa, nước
này tuyên bố rút khỏi GATT với lý do GATT chỉ là hội của những nước tư bản
1986 - Trung Quốc đệ đơn gia nhập GATT
1987 - GATT đã thành lập “Nhóm công tác về địa vị nước tham gia ký kết hiệp
định chung của Trung Quốc”
1989 - Các cuộc đàm phán bị hoãn lại sau sự kiện Thiên An Môn Nhiều chương
trình tự do hoá kinh tế đã trở nên sai lệch với mục tiêu của các cuộc đàm phàn
1994 - Trung Quốc thực hiện nhiều cố gắng, nhanh chóng tự do hoá thương mại
để cố gia nhập WTO vào cuối năm nhưng nội bộ vẫn chưa thông suốt và chế độ bảo
Trang 2201/1995 - WTO thay thế cho GATT
07/1995 - Trung Quốc được công nhận là quan sát viên của WTO
11/1995 - Trung Quốc tuyên bố kế hoạch tự do hoá thương mại lớn nhất từ trước
tới nay, kế hoạch này sẽ được thực hiện trong vòng 16 năm nhằm lôi kéo sự ủng hộcủa Mỹ Trung Quốc dự kiến cắt giảm 30% thuế quan và cho phép thành lập cácdoanh nghiệp có vốn đầu tư nưóc ngoài
1997 - Khủng hoảng tài chính ở Châu Á
Trung Quốc vẫn giữ ổn định được đồng Nhân dân tệ, tuy nhiên việc tự do hoá đãchậm lại, Trung Quốc lo sợ việc mở cửa quá nhanh sẽ làm xấu hơn tình trạng kinh tếcũng như những cải cách vừa đạt được Mặc dù, Trung Quốc đã cắt giảm thuế nhậpkhẩu từ 23% xuống còn 17% nhưng thuế đối với một sồ mặt hàng khác như ôtô…vẫncòn khá cao
1999
04/03/1999 - Đại diện thương mại Mỹ Charlene Barshefski đã tới Bắc Kinh đàm
phán nhưng không có kết quả do có những bất đồng lớn trong lĩnh vực nông sản vàdịch vụ
08/04/1999 - Thủ tướng Chu Dung Cơ thăm Mỹ với nhiều thoả hiệp và nhượng
bộ nhằm hoàn tất đàm phán và ký hiệp định nhưng Mỹ tiếp tục yêu cầu cao hơn
07/05/1999 - NATO ném bom sứ quán Trung Quốc ở Belgrade, đàm phán
Trung-Mỹ bị ngừng lại
11/09/1999 - Trong Hội nghị APEC tại NewZealand, Tổng thống Bill Clinton và
Chủ tịch nước Giang Trạch Dân đã nối lại đàm phán nhưng hai bên vẫn chưa đạt đượcthoả thuận
08/11/1999 - Tổng thống Bill Clinton cử bà Barshefski sang Trung Quốc để cố
đưa ra một thoả thuận chung nhưng không có kết quả
13/11/1999 - Thủ tướng Chu Dung Cơ hội đàm với Đại diện thương mại Mỹ
Charlene Barshefski
15/11/1999 - Mỹ và Trung Quốc tuyên bố Hiệp định thương mại đã được ký kết.
Trung Quốc cam kết mở cửa nhiều lĩnh vực từ nông sản đến dịch vụ viễn thông Tổngthống Bill Clinton thuyết phục Quốc hội Mỹ ban Quy chế thương mại bình thườngvĩnh viễn cho Trung Quốc
2000
19/05/2000 - EU và Trung Quốc ký kết Hiệp định thương mại
Trang 2309/2000 - Trung Quốc ký Hiệp định song phương với Thuỵ Sỹ.
10/10/2000 - Tổng thống Bill Clinton ký Quy chế thương mại bình thường vĩnh
viễn sau khi được sự thông qua của Thượng viện và Hạ viện Hoa Kỳ
2001
01/2001 - Trung Quốc đã tiến hành một chuỗi các vòng đàm phán đa phương hết
sức gay go với nhiều nước thành viên trong WTO Sở dĩ thời gian đàm phán kéo dài là
do nhiều nước đã không nhất trí với Trung Quốc về vấn đề trợ cấp nông sản
09/06/2001 - Trung Quốc và Mỹ nhất trí việc Trung Quốc gia nhập WTO kể cả
vấn đề trợ cấp nông sản
20/06/2001 - EU tuyên bố tiếp tục đàm phán song phương với Trung Quốc về
việc nước này gia nhập WTO
03/07/2001 - Trưởng đoàn đàm phán Bộ thương mại Trung Quốc-ông Long Vĩnh
Đồ- nói rằng “tất cả những vấn đề mấu chốt” đã được giải quyết bằng thương lượngvới các thành viên WTO
13/09/2001 - Trung Quốc và Mêhicô kết thúc đàm phán song phương, hoàn
thành xong cuộc đàm phán thứ 37 cũng là cuộc đàm phán cuối cùng trước khi TrungQuốc gia nhập WTO
14/09/2001 - Các thành viên WTO nhất trí điều khoản Trung Quốc gia nhập
WTO tại một cuộc họp bất thường
17/09/2001 - Trung Quốc cùng các đối tác thương mại chủ yếu ký hiệp định
chính thức về việc Trung Quốc gia nhập WTO
11/11/2001 - Tại Hội nghị các bộ trưởng của Tổ chức thương mại thế giới
(WTO) diễn ra ở Doha-Quata, Trung Quốc đã hoàn tất thủ tục gia nhập WTO sau 15năm thương lượng và chính thức trở thành thành viên thứ 143 của Tổ chức này
4.2.2 Quá trình đàm phán
Đàm phán gia nhập WTO được Trung Quốc tiến hành theo hai phương thứcsong song và bổ sung cho nhau Trong suốt 15 năm, cùng với nhiều cố gắng khác,Trung Quốc luôn giữ được thái độ tích cực, đã tiến hành gần 30 lần hội nghị Nhómcông tác đa phương và hàng trăm lần đàm phán song phương
4.2.2.1 Đàm phán đa phương
Ngày 11/07/1986, Đại sứ Trung Quốc tại Liên hiệp quốc Tiền Giai Đông gửicông hàm cho GATT, chính thức đề xuất việc chính phủ Trung Quốc xin khôi phụcđịa vị nước tham gia ký kết Hiệp định chung về thuế quan và thương mại GATT Đến
Trang 24Hiệp định chung của Trung Quốc” Để đạt được thoả thuận trong các đàm phán đaphương, từ năm 1986 đến nay Trung Quốc đã thực hiện hàng loạt các biện pháp mởcửa và cải cách thể chế mậu dịch, tăng cường đàm phán với các bên ký kết hiệp địnhchủ yếu Các cố gắng của Trung Quốc được thể hiện ở các điểm chính sau:
- Đẩy nhanh nhịp độ cải cách mậu dịch:
Đại hội 14 Đảng Cộng sản Trung Quốc(1992) tuyên bố xây dựng nền kinh tế thịtrường xã hội chủ nghĩa mang màu sắc Trung Quốc, làm cho thể chế kinh tế TrungQuốc thích ứng với yêu cầu của GATT Trong những năm 1986-1992, Trung Quốc đãcải cách mạnh mẽ thể chế quản lý ngoại thương, xoá bỏ dần sự độc quyền nhà nước,huỷ bỏ dần trợ cấp xuất khẩu, thực hiện hạch toán kinh doanh Từ 1994, Trung Quốchuỷ bỏ kế hoạch pháp lệnh đối với tổng mức nhập khẩu, thu ngoại hối xuất khẩu vàdùng ngoại hối nhập khẩu thay bằng kế hoạch mang tính chỉ dẫn Năm 1994, TrungQuốc cũng cải cách chế độ tỷ giá theo hướng xoá bỏ tỷ giá cố định và tiến tới thả nổi
tỷ giá Năm 1996, thực hiện chính sách thả nổi đồng NDT trong các hạng mục thôngthường
- Mở cửa thị trường có thứ tự :
Không đi ngược lại xu hướng toàn cầu hoá, tự do hóa thương mại, Trung Quốc
đã từng bước mở cửa nền kinh tế theo nhiều tầng nấc:
- Một là, giảm thuế trên quy mô lớn Từ năm 1992 đến năm 1999, Trung Quốc
liên tục 6 lần cắt giảm thuế quan, hạ mức bình quân từ 43,1% xuống còn 17%
- Hai là, từng bước mở cửa thị trường trong nước và cam kết trao đổi tự do đồng
Nhân dân tệ ở các hạng mục thông thường
- Ba là, mở cửa một phần thị trường tiền tệ và bảo hiểm trong nước, cho phép
vốn nước ngoài có điều kiện tự do hơn khi xâm nhập thị trường vốn trong nước Cuốinăm 1998 đã có 150 ngân hàng nước ngoài kinh doanh ở Trung Quốc
- Bốn là, trong cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á vừa qua, Trung Quốc đã thực
hiện cam kết không phá giá đồng Nhân dân tệ, đồng thời còn tham gia viện trợ chovay đối với các nước Thái Lan và Inđônesia để làm dịu và góp phần phục hồi cuộckhủng hoảng này
Như vậy, bằng những nỗ lực cải cách và mở cửa cho phù hợp với những cam kếtvới các đối tác đàm phán, Trung Quốc đã tiến hành thành công gần 30 lần hội nghịNhóm công tác đa phương, chính thức hoá những cam kết đã đạt trong những đàmphán đa phương
4.2.2.2 Đàm phán song phương
Trang 25* Hiệp định thương mại Trung-Mỹ
- Quá trình đi đến ký kết:
Để đi đến ký kết hiệp định thương mại Trung–Mỹ, hai bên đã có một quá trìnhđàm phán lâu dài đầy khó khăn Trong những năm 1986-1989, hai bên đã thực hiện 10lần đàm phán có tiến triển và đạt được nhiều thoả thuận Nhưng năm 1989, do sự kiệnThiên An Môn đàm phán bị hoãn lại Năm 1992 sau khi Đặng Tiểu Bình đi thị sát cáctỉnh Miền Nam Trung Quốc, kêu gọi Trung Quốc cần học tập kinh nghiệm của Chủnghĩa tư bản, thổi luồng gió mới cho những cải cách táo bạo thì hai bên nối lại hộiđàm Trong thời kỳ 1992-1995, Trung Quốc thực hiện nhiều cố gắng để gia nhậpWTO vào cuối năm 1994 nhưng Mỹ đưa ra yêu cầu cao nên Trung Quốc không chấpnhận Trong những năm 1995-1998, Trung Quốc không tỏ ra hăng hái như trước, thậmchí có lúc lạnh nhạt Tháng 4/1999, Thủ tướng Chu Dung Cơ thăm Mỹ với nhiều thoảhiệp và nhượng bộ với Mỹ nhằm hoàn tất đàm phán và ký kết hiệp định nhưng phía
Mỹ tiếp tục đòi yêu cầu cao hơn Ngày 8/5/1999, Mỹ ném bom sứ quán Trung Quốc ởNam Tư làm quan hệ hai bên như “rơi xuống vực” Đàm phán Trung-Mỹ bị ngưng lại.Với cuộc gặp gỡ Giang Trạch Dân-Clinton ngày 11/09/1999 trong hội nghị APEC tạiNewZealand, hai bên nối lại đàm phán và ngày 15/11/1999 hai bên Trung Quốc và Mỹmới ký được hiệp định thương mại
- Những nội dung cơ bản của hiệp định Trung-Mỹ:
Về thuế quan và phi thuế quan: Trung Quốc đã đồng ý giảm mức thuếquan trung bình từ 22,1% xuống còn 17%, trong vòng 5 năm, xoá bỏ toàn bộ hạnngạch và các hạn chế về số lượng, nhưng trong một vài lĩnh vực đặc biệt, các hạnngạch sẽ được xoá bỏ trong vòng 2-3 năm
Về bù xuất khẩu: Trung Quốc sẽ đồng ý xoá bỏ tất cả các khoản trợ cấpxuất khẩu
Về công nghiệp: Trung Quốc cam kết giảm mức thuế chung đối với cácsản phẩm công nghiệp xuống còn 9,4% và 7,1% đối với những sản phẩm Mỹ ưu tiên.2/3 số cắt giảm này sẽ được hoàn tất trong vòng 3 năm và số còn lại sẽ được hoàn tấttrong vòng 5 năm
- Về dệt may: Tới năm 2005, Mỹ phải xoá bỏ việc cấp hạn ngạch nhập khẩu đốivới hàng dệt của Trung Quốc
- Về ô tô: Thuế nhập khẩu ôtô sẽ giảm xuống còn 25%, đối với phụ tùng ô tôxuống còn 10% vào năm 2006 Các công ty Mỹ sẽ cung cấp tín dụng cho người Trung
Trang 26 Về nông nghiệp : Trung Quốc cam kết giảm mức thuế chung đối với cácsản phẩm nông nghiệp từ 45% xuống còn 17% và xuống 14,5%-15% đối với nhữngsản phẩm Mỹ ưu tiên, các mức cắt giảm này sẽ được hoàn tất sau 4 năm.
Ngoài ra Hiệp định còn bao gồm những cam kết trong lĩnh vực dịch vụ trongphạm vi tương đối lớn bao gồm: bảo hiểm, viễn thông, điện ảnh, ngân hàng, chứngkhoán, kiểm toán, dịch vụ y tế, giáo dục
* Hiệp định thương mại Trung Quốc -EU
Trước đây, Trung Quốc và EU đã nhiều lần thương thuyết để ký hiệp định nàynhưng kết quả đạt được rất hạn chế và hai bên chưa đủ đi đến kết quả cuối cùng.Nguyên nhân chính khiến hai bên chưa đạt được sự nhất trí trong các vòng đàm phántrước đây là do phía Trung Quốc từ chối chấp nhận những điều kiện mà EU đưa raliên quan đến việc nâng tỷ lệ cổ phần của công ty nước ngoài trong các liên doanh,trong đó có các liên doanh viễn thông và bảo hiểm tại Trung Quốc lên 49% Tại nhiềuphiên thảo luận trong 4 vòng đàm phán diễn ra từ đầu năm 2000 đến khi ký kết hiệpđịnh, các đại diện của Trung Quốc và EU tranh cãi rất gay gắt xung quanh vấn đề mởcửa khu vực dịch vụ viễn thông, lập liên doanh sản xuất ôtô, bảo hiểm nhân thọ, phânphối và chính sách buôn bán của Trung Quốc với EU Tuy vậy qua 3 vòng đàm phánđầu, hai bên cũng đã thoả thuận được 80% các vấn đề then chốt
Sau 5 ngày thương lượng căng thẳng, đến ngày 20/05/2000, Trung Quốc và EU
đã chính thức ký kết hiệp định về việc Trung Quốc gia nhập WTO
Các nội dung chính của hiệp định xoay quanh các vấn đề như sau:
- Trung Quốc đồng ý cắt giảm thuế quan xuống còn 8-10% đối với 150 mặt hàngnhập khẩu chủ yếu từ EU
- Các thương gia nước ngoài được phép đưa vào 20% lượng nhập khẩu dầu mỏcủa Trung Quốc
- Sau khi Trung Quốc gia nhập WTO được 3 năm, các công ty nước ngoài đượcnắm 49% cổ phần trong các công ty liên doanh viễn thông và bảo hiểm tại TrungQuốc
- Trung Quốc xoá bỏ các hạn chế về sở hữu của người nước ngoài đối với cáccửa hàng bán lẻ trên quy mô lớn
- Sau khi Trung Quốc gia nhập WTO , Trung Quốc cấp ngay 7 giấy phép bảohiểm cho các hàng của EU, mọi công ty của EU đều có điều kiện pháp lý để được cấpgiấy phép
Ngoài Mỹ và EU, Trung Quốc còn đạt được nhiều thoả thuận thương mại songphương với nhiều nước khác nữa Đến 17/9/2001, Trung Quốc đã ký Hiệp định
Trang 27thương mại với tổng số 37 thành viên của WTO mà Trung Quốc cần phải ký kết, hoàntất quá trình đàm phán gia nhập WTO.
Đối với Trung Quốc, mục đích căn bản của việc gia nhập WTO là để tăng cườngsức mạnh quốc gia, do đó Trung Quốc quyết không trả giá bằng việc hy sinh ổn định
xã hội và tương lai phát triển Trung Quốc gia nhập WTO trên cơ sở 3 nguyên tắc là:
- Trung Quốc gia nhập WTO với tư cách một nước đang phát triển
- Nếu không có Trung Quốc thì tổ chức WTO không hoàn chỉnh
- Trung Quốc gia nhập WTO trên cơ sở cân bằng giữa quyền lợi và nghĩa vụ
Một khi WTO cần Trung Quốc, Trung Quốc thà gia nhập chậm một chút chứkhông chịu vào ngay để đổi lấy tổn thất lớn
4.3 Một số cam kết của Trung Quốc khi gia nhập WTO
* Các cam kết chung:
- Trung Quốc sẽ phải tuân thủ các nguyên tắc không phân biệt đối xử của WTOgiữa các đối tác thương mại, giữa các công ty có vốn đầu tư nước ngoài và các công tytrong nước, giữa hàng hoá xuất khẩu và hàng hoá tiêu thụ nội địa
- Hệ thống “bảo vệ” nhập khẩu cho phép các thành viên WTO áp dụng các hạnchế số lượng đối với hàng hoá xuất khẩu từ Trung Quốc nếu việc gia tăng các hànghoá này đe doạ sản xuất trong nước của các nước thành viên đó trong vòng 12 nămsau khi Trung Quốc gia nhập WTO
-Đổi lại, các thành viên WTO đồng ý gỡ bỏ dần dần những hạn chế đối với hàngxuất khẩu từ Trung Quốc trong vòng 4 năm, riêng đối với Mêhicô thời hạn này sẽ là 6năm
* Các cam kết về thuế quan và phi thuế quan
Thuế quan: Trung Quốc đồng ý giảm dần dần mức thuế trung bình từ 22,1%
xuống còn 17% đối với hầu hết các hàng hoá nhập khẩu vào năm 2001 và số còn lại sẽđược thực hiện tiếp cho đến năm 2010 Vào năm 2010, mức thuế trung bình đối vớihàng hoá công nghiệp là 8,9% và đối với hàng hoá nông nghiệp là 15% Các mức thuếnày sẽ được áp dụng đối với 65% số nông sản nhập khẩu (ngũ cốc) và 47% số hàngcông nghiệp nhập khẩu (xe con, thiết bị phim ảnh)
Phi thuế quan:
- Nhiều biện pháp phi thuế quan như hạn ngạch, hạn chế số lượng… sẽ được xoá
bỏ Trong vòng 3 năm tất cả các công ty sẽ có quyền nhập khẩu, xuất khẩu, phân phốihàng hoá trên khắp đất nước (trừ một số hạn chế nhất định)
Trang 28-Nhà nước sẽ vẫn duy trì quản lý đối với một số mặt hàng như: ngũ cốc, thuốc lá,nguyên liệu, khoáng sản, và một số sản phẩm thép Các mặt hàng khác như: tân dược
và phân bón vẫn phải chịu quản lý về giá
Về công nghiệp
* Dệt may: Hạn ngạch nhập khẩu sản phẩm dệt may của Trung Quốc sẽ chínhthức chấm dứt vào 12/2004 theo hiệp định dệt may của WTO mặc dù Hệ thống “bảovệ” nhập khẩu cho phép các nước thành viên khác áp dụng hạn chế số lượng đối vớihàng hoá xuất khẩu từ Trung Quốc tới cuối năm 2008
- Trung Quốc sẽ mở cửa thị trường bán buôn sau 5 năm gia nhập WTO
* Ngành ô tô: Trung Quốc sẽ cắt giảm thuế nhập khẩu ôtô xuống còn 25% vàogiữa năm 2006 Hiệp định với EU buộc Trung Quốc phải xoá bỏ mọi hạn chế đối vớicác loại xe hơi được sản xuất từ các liên doanh của Trung Quốc-EU trong vòng 2 năm.-Thuế đối với các sản phẩm công nghệ cao như các thiết bị viễn thông sẽ đượcxoá bỏ và giảm dần vào năm 2005
5 Giai đoạn từ 2002 đến nay (giai đoạn quá độ sau khi gia nhập WTO)
Sau khi gia nhập WTO, Trung Quốc tập trung vào vấn đề cải cách cơ chế ngoạithương theo hướng tự do hơn, phù hợp với các nguyên tắc của WTO hơn Cụ thểTrung Quốc tập trung vào 5 vấn đề:
- Xây dựng một cơ chế quản lý ngoại thương tiện lợi, công bằng Hình thành môitrường vận hành tiện lợi, công bằng, giảm các giá thành giao dịch, huy động tính tíchcực của các doanh nghiệp trong việc phát triển hướng ra thị trường quốc tế
Trang 29- Từng bước xây dựng cơ chế thúc đẩy ngoại thương mới, tích cực và ổn định,lấy Chính phủ làm chủ đạo, đảm bảo bằng tài chính tiền tệ, trên cơ sở vận hành của thịtrường
- Xây dựng cơ chế giám sát và phản hồi nhanh chóng và hiệu quả
- Tăng cường công tác lập pháp trong quản lý ngoại thương, cải tiến biện phápquản lý, giảm bớt thủ tục hành chính, tăng cường độ minh bạch trong quản lý
- Cải cách hơn nữa chế độ hiệp hội xuất nhập khẩu, khuyến khích phát triển các
cơ quan dịch vụ pháp luật và tư vấn ngoại thương, phát huy vai trò của các tổ chứctrung gian trong việc phối hợp để thúc đẩy ngoại thương phát triển
Từ đầu năm 2002 tới nay, Trung Quốc có một số bước đi cụ thể :
+ Cải cách chế độ phê chuẩn quyền kinh doanh xuất nhập khẩu, hủy bỏ phân biệtvới các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau, thực hiện theo tiêuchuẩn và trình tự như đối với doanh nghiệp nhà nước
+ Hoàn thiện các biện pháp quản lý xuất nhập khẩu, giảm thuế quan và các biệnpháp phi thuế quan theo đúng cam kết Đặc biệt, Trung Quốc đã bắt đầu quan tâm tớivấn đề xây dựng hàng rào kỹ thuật để hạn chế nhập khẩu qua việc công bố thực thi
“Điều lệ quản lý an toàn sinh vật chuyển đổi gien nông nghiệp”
+ Xây dựng cơ chế mới về giảm thuế xuất khẩu, thực hiện chính sách hoàn thuếxuất khẩu mới
III THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG NGOẠI THƯƠNG TRUNG QUỐC TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY
1 Về kim ngạch xuất nhập khẩu
Từ khi tiến hành cải cách mở cửa đến nay, hoạt động ngoại thương Trung Quốc
không ngừng gia tăng quy mô, mà biểu hiện trước hết là kim ngạch xuất nhập khẩu liên tục gia tăng với tốc dộ vào hàng nhanh nhất thế giới, chỉ sau hơn 20 năm, vị thế
của Trung Quốc trong thương mại quốc tế đã được cải thiện rõ rệt, nếu như năm 1978 ngoại thương Trung Quốc vẫn còn đứng thứ 32 trên thế giới thì tới năm 2002, với
những thành công rực rỡ của cải cách mở cửa Trung Quốc đã trở thành cường quốc đứng thứ 5 trên thế giới về ngoại thương.
Từ sau năm 1978 hoạt động ngoại thương của Trung Quốc diễn ra khá sôi độngnếu so sánh trong tương quan với sản xuất công nghiệp và nông nghiệp Kim ngạchngoại thương năm 1978 mới đạt 20,6 tỷ USD, đến năm 1984 đã vọt lên 50 tỷ, tăng gấp2,5 lần năm 1978 Bốn năm sau, năm 1988 tổng kim ngạch ngoại thương đã tăng gấpđôi năm 1984, đạt 100 tỷ USD Năm 1994 ngoại thương Trung Quốc lại nêu kỉ lụcmới gấp đôi năm 1988, đạt hơn 200 tỷ USD, năm 1997 con số đã vượt qua 300 tỷ
Trang 30USD, lên tới 325,1 tỷ USD [19] Năm 1978, kim ngạch ngoại thương của Trung Quốcchỉ bằng 25% của Hàn Quốc và Đài Loan nhưng đến năm 1994 kim ngạch ngoạithương của Trung Quốc đã bằng 75% của Hàn Quốc và 82% của Đài Loan Tính đếnnăm đó, mức tăng bình quân của kim ngạch ngoại thương Trung Quốc đạt 15,4%trong thời kì mở cửa [15].
Điều đáng chú ý là, với rất nhiều nỗ lực và sự cầm lái đúng đắn của Chính phủ,hoạt động ngoại thương Trung Quốc chỉ phải chịu những tác động nhẹ nhất (nếu sovới các nước trong khu vực) khi cuộc khủng hoảng tiền tệ Châu Á xảy ra, kim ngạchxuất nhập khẩu giảm nhẹ 0,3% trong năm 1998 Ngay sau đó Trung Quốc lại lấy được
đà tăng trưởng xuất nhập khẩu Những năm đầu của thế kỷ XXI, mặc dù nền kinh tếthế giới gặp nhiều khó khăn, các nền kinh tế lớn như Mỹ, Nhật Bản cũng đồng thời lànhững bạn hàng lớn của Trung Quốc bị suy thoái nhưng ngoại thương Trung Quốcvẫn có sự gia tăng đều đặn Đặc biệt là sau khi gia nhập WTO đã tận dụng được những
cơ hội mới cho phát triển ngoại thương Năm 2002, một năm sau khi gia nhập WTO,ngoại thương Trung Quốc đã phát triển vượt bậc đạt mức 620,8 tỷ USD, tăng 21,8%
so với năm 2001 [20]
Như vậy, chỉ trong vòng hơn 20 năm kim ngạch xuất nhập khẩu của Trung Quốc
đã tăng hơn 30 lần, nâng dần vị thế của Trung Quốc trong thương mại quốc tế Tỷtrọng xuất khẩu của Trung Quốc năm 1978 là 4,5% GDP và chiếm 0,8% giá trị xuấtkhẩu của toàn thế giới thì đến năm 2002 con số này đã tăng lên tương ứng là 25,5%GDP và 5,04% giá trị xuất khẩu toàn thế giới Tỷ lệ tăng trưởng trong hoạt động ngoạithương khoảng 20,9%/năm [20]
Bảng 2 : Kim ngạch ngoại thương Trung Quốc từ năm 1978 đến năm 2003
Đơn vị: triệu USD
Trang 313 WTO, Leading exporters and importers in world merchandise trade 2002 [49]
Các số liệu trên có thể biểu diễn thành sơ đồ như sau :
Từ năm 1991 đến nay, Trung Quốc thường xuyên duy trì được tốc độ tăng trưởngmậu dịch vào hàng nhanh nhất thế giới Năm 2002, mức tăng trưởng xuất khẩu củaTrung Quốc đạt 22,3% là cao nhất, còn mức tăng trưởng nhập khẩu là 21,2% đứngthứ 2 ( sau Iran) trong số các nước xuất nhập khẩu hàng đầu thế giới [49]
Bảng 3: So sánh tốc độ tăng trưởng mậu dịch đối ngoại của Trung Quốc với mậu dịch thế giới (tăng so với năm trước %)
Trang 322002 8,0 21,8 n/a 21,2 n/a 22,3
Nguồn: Số liệu về Trung Quốc:1.Cục thống kê quốc gia Trung Quốc, Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Trung Quốc 1952-2001 [19]; 2 Bộ Thương mại Trung Quốc, Báo cáo tình hình mậu dịch đối ngoại Trung Quốc 2002 [20] Số liệu về thế giới: World Bank, World Economic Outlook 2002 [44]
Hơn thế nữa, thành công của ngoại thương Trung Quốc trong những năm quakhông chỉ thể hiện qua tổng kim ngạch xuất nhập khẩu không ngừng gia tăng mạnh
mà trong những năm gần đây Trung Quốc thường xuyên ở thế xuất siêu Trung Quốc
xuất siêu liên tục trong những năm qua do giá trị tuyệt đối kim ngạch xuất khẩuthường xuyên vượt trội giá trị tuyệt đối kim ngạch nhập khẩu, còn về tốc độ tăngtrưởng xuất khẩu thì không ổn định, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu không thường xuyênvượt trội tốc độ tăng trưởng nhập khẩu Mức xuất siêu đạt đỉnh cao 43,6 tỷ USD vàonăm 1998, sau đó đang có chiều hướng đi xuống
2 Về cơ cấu mặt hàng xuất nhập khẩu
2.1 Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu
Đi đôi với việc không ngừng mở rộng quy mô xuất nhập khẩu, ngoại thương
Trung Quốc còn đạt được sự cải thiện rõ rệt về cơ cấu hàng hóa xuất khẩu Cơ cấu hàng xuất khẩu Trung Quốc đã có sự chuyển dịch theo hướng tích cực: giảm mạnh sản phẩm thô, sơ chế; tăng mạnh xuất khẩu sản phẩm chế biến, chế tạo sử dụng nhiều sức lao động; nâng tỷ trọng sản phẩm kỹ thuật cao tập trung nhiều vốn và hàm lượng chất xám.
Cùng với việc gia tăng các hoạt động nâng cấp, cải tạo và đổi mới kỹ thuật côngnghiệp, đặc biệt trong những ngành công nghiệp định hướng xuất khẩu, cơ cấu hàngxuất khẩu của Trung Quốc cũng thay đổi rất nhanh theo hướng ngày càng hạn chế việcxuất khẩu nguyên liệu thô, tăng dần tỷ trọng hàng tinh chế với mục đích tạo đượcnhiều công ăn việc làm trong nước và tăng giá trị hàng xuất khẩu Cơ cấu hàng xuấtkhẩu được cải thiện theo con đường nâng cấp dần từ sản phẩm có tính chất tài nguyên
là chủ yếu (từ năm 1985 trở về trước) đến hàng công nghiệp nhẹ như dệt may, giầy
dép là chủ yếu (từ năm 1985 đến năm 1993) và sau đó vị trí này được thay thế bởisản phẩm điện máy (1993 trở về sau) cho đến nay thì các sản phẩm công nghệ thôngtin đang dần trở thành hướng phát triển chủ yếu của Trung Quốc Cụ thể là tỷ lệ xuấtkhẩu hàng sơ cấp giảm từ 50,2% năm 80 xuống còn 8,7% năm 2002 Trong khi đóxuất khẩu hàng công nghiệp chế biến tăng từ 49,8% năm 1980 lên 91,3% năm 2002.Như vậy là cho tới năm 2002 thì sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo đã chiếm
gần như toàn bộ các mặt hàng xuất khẩu của Trung Quốc, sau hơn 20 năm sản phẩm
công nghiệp đã tăng gần gấp đôi tỷ trọng hàng xuất khẩu
Trang 33Bảng 4: Những biến đổi trong cơ cấu hàng xuất khẩu 1980-2002 (Đơn vị: %)
I/ Sản phẩm sơ cấp 50,2 50,6 28,7 25,5 22,5 8,7
1 Hàng thực phẩm 16,5 13,9 12,4 10,6 10,0 4,5
2 Nguyên liệu phi thực phẩm 9,5 9,7 9,0 5,7 4,8 1,4
3 Nhiên liệu khoáng sản 23,5 26,1 8,3 8,4 6,7 2,6
4 Loại khác 0,8 0,9 0,7 0,8 0,9 0,2
II/ Sảnphẩm công nghiệp 49,8 49,4 69,7 74,5 77,5 91,3
1 Hóa chất và sản phẩm hóa chất 6,2 5,0 6,1 6,0 5,3 4,7
2 Sản phẩm phân loại theo nguyên liệu 22,1 16,4 22,1 20,3 20,0 16,3
3 Máy móc và thiết bị vận tải 4,7 2,8 5,8 9,0 9,9 39,0
Cho tới nay, Trung Quốc đã hình thành nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ yếu, cácmặt hàng lại mang tính đa dạng về chủng loại, từ các sản phẩm công nghiệp có hàmlượng lao động cao như: dệt may (thường chiếm khoảng 20% cơ cấu trị giá hàng xuấtkhẩu), giầy dép, đồ chơi, sản phẩm điện tử gia dụng lắp ráp, hàng nông thủy sản chếbiến cho tới các sản phẩm công nghệ thông tin tập trung nhiều vốn và hàm lượng kỹthuật cao (Xem phụ lục 1: Kim ngạch các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của TrungQuốc 2001-2002) Sản phẩm cơ điện xuất khẩu năm 2002 đã lên tới 157,1 tỷ USDchiếm 48,2% tỷ trọng hàng xuất khẩu, còn sản phẩm kỹ thuật cao thì xuất khẩu đạt
67,9 tỷ USD chiếm 20,8% cơ cấu hàng xuất khẩu [20] Chính nhờ sự chuyển dịch trong cơ cấu hàng xuất khẩu từ sản phẩm cấp thấp sang cấp cao đã giúp Trung Quốc tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu, tăng lượng ngoại tệ thu về và hiệu quả kinh doanh xuất khẩu cũng được cải thiện rõ rệt.
2.2 Cơ cấu hàng nhập khẩu
Cơ cấu hàng hoá nhập khẩu của Trung Quốc có thể được chia thành 3 nhóm lớn:
- Nguyên vật liệu và hàng sơ chế (lương thực, thực phẩm; nhiên liệu, khoáng sản;chất béo, dầu thực vật)
- Hàng chế tạo (hoá chất và các sản phẩm hoá chất; hàng chế tạo bán thànhphẩm; máy móc và thiết bị vận tải; hàng chế tạo thành phẩm lớn)
- Hàng tiêu dùng
Trang 34Công cuộc công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước ở Trung Quốc đang đi dần vàochiều sâu.Vì vậy, Trung Quốc càng cần nhiều máy móc công nghệ hiện đại phục vụcho phát triển công nghiệp Chính sách nhập khẩu của nước này là ưu tiên nhập khẩucông nghệ máy móc phục vụ cho công nghiệp hoá Trung Quốc tăng cường nhập khẩucác thiết bị đồng bộ tiên tiến của nước ngoài góp phần đối mới các cơ sở sản xuất lạchậu trong nước Những năm về sau, do thực hiện ý đồ phát triển theo hướng coi "khoahọc kỹ thuật là lực lượng sản xuất thứ nhất", hoạt động nhập khẩu máy móc kỹ thuậtcàng sôi động.
Trong cơ cấu hàng hoá nhập khẩu, ngoài các loại máy móc kỹ thuật tiên tiến,Trung Quốc cũng coi trọng việc nhập khẩu hàng chế tạo, chủ yếu là tư liệu sản xuất
để phục vụ cho sản xuất trong nước và xuất khẩu Nhập khẩu loại hàng này tiếp tụcgia tăng từ gần 1/3 tổng nhập khẩu trong những năm giữa thập kỷ 80 tới hơn 1/2 tổngnhập khẩu trong năm 90 Cụ thể là ngành dệt may trong nước hàng năm có nhu cầunhập khẩu khối lượng nguyên liệu đáng kể như sợi tổng hợp, đay, gai Một ví dụ điểnhình là nhu cầu nhập sợi polyeste, hàng năm trên thế giới có đến 2/3 sản lượngpolyeste xuất khẩu sang Châu Á trong đó 43% số này được xuất khẩu sang TrungQuốc (khoảng 1,43 triệu tấn) [8] Ngành công nghiệp hoá dầu trong nước phát triểnlàm cho Trung Quốc hàng năm phải nhập một lượng dầu thô khá lớn từ bên ngoài.Bên cạnh dầu thô Trung Quốc còn nhập khẩu các khoáng sản khác trong nước cònthiếu từ thị trường nước ngoài như đồng, nhôm, thép tinh chế, quặng sắt để phục vụcho công nghiệp sản xuất trong nước
Để thấy rõ cơ cấu nhập khẩu của Trung Quốc trong những năm gần đây hãy xemxét cơ cấu này vào năm 1996 và 2002
Bảng 5 : Cơ cấu nhập khẩu của Trung Quốc năm 1996 và năm 2002
Đơn vị: Giá trị: tỷ USD; Tỷ trọng : %
3 Nguyên liệu phi thực phẩm 10,7 7,7 27,4 9,3
4 Nhiên liệu, khoáng sản, dầu nhờn 6,8 4,9 12,3 4,2
Trang 354 Hàng chế tạo thành phẩm lớn 8,5 6,1 19,8 6,7
Nguồn: Số liệu 1996:Lê Văn Sang, Kinh tế Trung Quốc đầu thế kỷ XXI, Tạp chí Những vấn
đề kinh tế thế giới số 1 (57)/1998- Số liệu 2002: Bộ Thương mại Trung Quốc, Báo cáo tình hình mậu dịch đối ngoại Trung Quốc 2002 [20]
Bước sang những năm đầu của thế kỷ 21, Trung Quốc vẫn tập trung vào nhậpkhẩu máy móc thiết bị kỹ thuật và các loại nguyên liệu trong nước còn thiếu để phục
vụ cho sản xuất mà đặc biệt là sản xuất hàng xuất khẩu (Xem phụ lục 2: Kim ngạchcác mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của Trung Quốc 2001-2002)
Điểm đáng lưu ý là trong cơ cấu mặt hàng nhập khẩu của Trung Quốc thì lượnghàng hóa nhập khẩu theo các hợp đồng để tiến hành gia công xuất khẩu là tương đốilớn, năm 2002 các hàng hóa nhập khẩu để gia công đạt kim ngạch 122,22 tỷ USD,tăng 30% so với năm 2001, chiếm tới 41,4% tổng kim ngạch nhập khẩu cả năm [20]
3 Cơ cấu thị trường xuất nhập khẩu
Thị trường xuất nhập khẩu của Trung Quốc trong thời gian qua đã có sự mở rộngmạnh mẽ, số lượng các thị trường tăng lên nhanh chóng, đồng thời trên nhiều thịtrường mức giao dịch cũng tăng lên đáng kể mà đặc biệt vẫn là những khu vực thịtrường trọng điểm của Trung Quốc như Nhật Bản, Hồng Kông, Mỹ, EU, các nướcSNG và các nước ASEAN
Năm 1979, Trung Quốc có quan hệ kinh tế với 140 nước và khu vực trên thếgiới, trong đó có 70 nước và khu vực đã ký kết các hiệp định thương mại với TrungQuốc Đến năm 1987, Trung Quốc đã mở cửa giao lưu buôn bán với 180 nước và khuvực trong đó 90% là buôn bán với các nước tư bản và các nước khu vực Châu Á TháiBình Dương (khu vực này chiếm 67% xuất khẩu và 73% nhập khẩu của Trung Quốcvới thế giới) [23] Hiện nay Trung Quốc có quan hệ thương mại với 234 quốc gia vàkhu vực trên thế giới [22]
Ngay từ khi mới mở cửa, Trung Quốc đã chủ trương tăng cường quan hệ buônbán với các nước và vùng lãnh thổ phát triển cao về công nghiệp Tuy nhiên do thựchiện chiến lược "bổ khuyết"- tức chiếm lĩnh những khoảng trống chưa được khai thác
trên thị trường hiện có, vai trò của thị trường các nước đang phát triển đối với ngoại thương của Trung Quốc ngày càng tăng Năm 1980 khu vực các nước công nghiệp
phát triển chiếm khoảng 55% kim ngạch ngoại thương của Trung Quốc Tỷ lệ nàyđang giảm dần, năm 1987 còn 50%, năm 90 còn 45,6%, năm 2000 còn 40%, bù vào
đó là thị trường các nước đang phát triển [8]
Trang 36Về mặt địa lý thị trường, hàng xuất khẩu của Trung Quốc chủ yếu được đưa sang
6 khu vực là: Hồng Kông, Ma Cao; Nhật Bản; Bắc Mỹ; EU; SNG và Đông Âu; ĐôngNam Á Hiện nay, sáu khu vực này chiếm gần 90% tổng kim ngạch xuất khẩu củaTrung Quốc [20]
Bảng 6: Các thị trường xuất khẩu hàng đầu của Trung Quốc 2002
STT Thị trường Kim ngạch(tỷ USD) Tỷ trọng(%) Tăng so với 2001(%)
Nguồn: Bộ thương mại Trung Quốc, Báo cáo tình hình mậu dịch đối ngoại Trung Quốc 2002 [20]
Về thực chất, nhiều năm qua Mỹ chính là thị trường xuất khẩu lớn nhất củaTrung Quốc Trước đây, trong những năm 90 thì Hồng Kông thường được tính như thịtrường xuất khẩu lớn nhất của Trung Quốc, chiếm trên 30% lượng xuất khẩu củaTrung Quốc, sau khi trở về với Trung Quốc năm 1997 do thực hiện “một quốc gia haichế độ” nên Hồng Kông vẫn tiếp tục được coi là 1 đối tác thương mại độc lập, nhưngkhoảng 60% hàng Trung Quốc xuất khẩu sang Hồng Kông sẽ lại được tái xuất sangnước thứ ba, mà chủ yếu là Mỹ [8] Vài năm gần đây do những bước tiến về quan hệchính thức giữa hai nước mà Mỹ tiếp tục giữ vị trí thị trường xuất khẩu lớn nhất củaTrung Quốc, nếu chỉ xét quan hệ trực tiếp thì Mỹ chiếm khoảng 21% thị trường xuấtkhẩu của Trung Quốc, nhưng nếu xét cả số lượng tái xuất từ Hồng Kông thì con sốnày lên tới khoảng 40% [22] Đứng thứ hai là Nhật Bản, những năm qua Nhật Bảnthường chiếm 16-17% thị trường xuất khẩu của Trung Quốc Đứng thứ ba là EU, nếunăm 1999 kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này mới là 30,2 tỷ USD thì năm 2002
đã lên tới là 48,2 tỷ USD, gấp 1,6 lần [22] Nhìn chung các thị trường xuất khẩu chủyếu của Trung Quốc vẫn theo thứ tự ổn định (5 năm gần đây nhất, trật tự các thịtrường lớn nhất hầu như không thay đổi) Bên cạnh việc gia tăng kim ngạch trên thịtrường các nước đang phát triển ở Đông Á, Trung Quốc đang có nhiều bạn hàng mới ởChâu Mỹ la tinh, Châu Phi, Trung Đông
Trang 37Về thị trường nhập khẩu, thì Nhật Bản liên tục là thị trường nhập khẩu lớn nhấtcủa Trung Quốc trong những năm gần đây (đồng thời cũng là đối tác mậu dịch lớnnhất liên tục trong 10 năm qua của Trung Quốc), năm 2002 kim ngạch nhập khẩu từthị trường này lên tới 53,5 tỷ USD, chiếm 18,1% tổng kim ngạch nhập khẩu [20] Tiếptheo là các thị trường nhập khẩu EU, Mỹ, Hồng Kông Những thị trường nhập khẩunày thường cung cấp cho Trung Quốc các loại máy móc, thiết bị kỹ thuật đồng bộ.Điểm đáng chú ý là ASEAN đang nổi lên như một thị trường nhập khẩu quan trọngcủa Trung Quốc bởi vì hiện nay Trung Quốc đang rất cần nhập khẩu một khối lượnglớn sản phẩm thô, sơ chế ( đặc biệt là các nguyên nhiên liệu, khoáng sản: dầu thô,than, đồng, sắt ) từ các nước này để phục vụ công nghiệp trong nước Năm 2002,Trung Quốc nhập khẩu hàng trị giá tới 31,2 tỷ USD từ ASEAN, rơi vào thế nhập siêuvới thị trường này [20].
Bảng 7: Khu vực thị trường xuất khẩu của Trung Quốc 2002
Tên khu vực Kim ngạch xuất khẩu 2002 (tỷ USD) Tăng so với năm 2001 (%)
Nguồn : Bộ Thương mại Trung Quốc – Báo cáo tình hình mậu dịch đối ngoại Trung Quốc 2002 [20]
Trang 38Nguồn: Bộ Thương mại Trung Quốc, Báo cáo tình hình mậu dịch đối ngoại Trung Quốc 2002 [20]
IV TÁC ĐỘNG CỦA NGOẠI THƯƠNG TRUNG QUỐC ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN
Trung Quốc tiến hành cải cách mở cửa cho đến nay đã được gần 25 năm Trong
25 năm qua, công cuộc công nghiệp hóa ở đất nước rộng lớn này đã thu được nhữngkết quả đáng kể Đóng góp vào những kết quả này, ngoại thương Trung Quốc đóngmột vai trò hết sức quan trọng Ngoại thương được coi là chiếc cầu nối chủ yếu củanền kinh tế Trung Quốc với kinh tế thế giới Ngành ngoại thương Trung Quốc trởthành một ngành kinh tế mũi nhọn đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc phát triểnđất nước Thông qua hoạt động xuất nhập khẩu, bằng việc xuất đi những sản phẩmtiêu dùng công nghiệp nhẹ, sản phẩm nông nghiệp và một phần nguyên vật liệu sẵn có
để nhập về chủ yếu là máy móc thiết bị, nguyên vật liệu cho sản xuất, cơ cấu sản phẩm
đã thay đổi theo hướng thuận lợi cho quá trình phát triển tiếp theo Đồng thời thôngqua xuất khẩu, hàng hóa của Trung Quốc buộc phải tham gia cạnh tranh trên thịtrường thế giới về chất lượng và giá cả Điều này buộc Trung Quốc phải nâng caonăng lực sản xuất của mình bằng cách thông qua con đường nhập khẩu, Trung Quốcnhập khẩu máy móc thiết bị tiên tiến hiện đại trang bị cho sản xuất trong nước, tự họchỏi để nâng cao trình độ quản lý và tay nghề Từ đó sản xuất có điều kiện phát triểngiúp nền kinh tế trong nước tăng trưởng nhanh, bền vững, đặc biệt thực hiện thànhcông các mục tiêu kinh tế xã hội và trước mắt là thúc đẩy công cuộc hiện đại hóa đấtnước
Thực tế chứng minh rằng ngoại thương là ngành đầu tàu trong quá trình pháttriển kinh tế của Trung Quốc
1 Ngoại thương thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Trang 39Thông qua hoạt động ngoại thương, nền kinh tế Trung Quốc phát triển rất sống động và khiến cho tốc độ tăng trưởng GDP của Trung Quốc liên tục tăng ở mức cao, sức mạnh tổng hợp của đất nước không ngừng được tăng cường.
Như đã phân tích ở mục 4 phần I, những năm gần đây Trung Quốc đạt được tốc
độ tăng trưởng kinh tế đáng khâm phục và trên thực tế Trung Quốc đang là quốc gia
có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất thế giới Đạt được tốc độ tăng trưởng cao nhưvậy có sự đóng góp không nhỏ của ngoại thương Trong những năm qua ngoại thươngTrung Quốc tăng trưởng nhanh và chiếm tỷ trọng ngày một lớn trong tổng sản phẩmquốc dân (GNP)
Bảng 8: Sự phụ thuộc vào ngoại thương của Trung Quốc
Ngoài ra, ngoại thương Trung Quốc còn thực sự trở thành ngành tích lũy vốn
từ bên ngoài cho sự nghiệp hiện đại hóa của Trung Quốc Nhờ có ngoại thương mà dự
trữ ngoại tệ của Trung Quốc được tăng cường Năm 1978 dự trữ ngoại tệ mới chỉ là
167 triệu USD nhưng đến năm 1999 đã lên tới 144,9 tỷ USD, đứng hàng thứ 2 thế
Trang 40giới chỉ sau Nhật Bản [22] Từ đó đến nay, Trung Quốc giữ vững vị trí này và mức
dự trữ được nâng lên lần lượt là 212,2 tỷ USD và 286,4 tỷ USD vào các năm 2001,
2002 [29] Điều này là do đi đôi với việc không ngừng mở rộng quy mô xuất nhậpkhẩu, nền ngoại thương Trung Quốc còn đạt được sự cải thiện rõ rệt về cơ cấu hànghóa xuất nhập khẩu Từ chỗ xuất nhập khẩu hàng cấp thấp là chính chuyển sang xuấtnhập khẩu hàng thành phẩm công nghiệp là chính Trung Quốc đã từ chỗ thu ngoại tệchủ yếu nhờ xuất khẩu hàng cấp thấp như hàng nông sản, nguyên liệu thô sang chủyếu là xuất khẩu thành phẩm, vì vậy lượng dự trữ ngoại tệ tăng lên rất nhanh chóng
2 Ngoại thương giúp nâng cao trình độ kỹ thuật, đổi mới công nghệ trong nước
Ngoại thương Trung Quốc phát triển đã nâng cao trình độ kỹ thuật, rút ngắn được khoảng cách so với các nước phát triển trên thế giới.
Trung Quốc không ngừng tăng cường nhập khẩu thiết bị tiên tiến nhằm góp phầnnâng cao trình độ trang thiết bị kỹ thuật trong nước, phục vụ cho sản xuất và xuấtkhẩu Từ khi cải cách mở cửa đến nay, đóng góp của tài sản thiết bị nhập khẩu đối vớităng trưởng GDP không ngừng tăng lên Từ năm 1978 đến 1984, đóng góp của ngànhnhập khẩu tài sản thiết bị chiếm 4% đến 7% tăng trưởng GDP của Trung Quốc, trongkhoảng thời gian từ năm 1985 đến 1993 tỷ lệ này lên đến 12-13%, năm 1994 đạt16,5% và đến năm 2000 đạt hơn 20% [8] Sản phẩm kỹ thuật cao chiếm tới 28% cơcấu nhập khẩu năm 2002 của Trung Quốc [20]
Bên cạnh đó, thông qua hoạt động gia công xuất khẩu và thu hút đầu tư nướcngoài vào phát triển ngoại thương mà Trung Quốc ngày càng được tiếp cận với trangthiết bị kỹ thuật, công nghệ hiện đại và thậm chí là công nghệ nguồn (vì hiện nay rấtnhiều TNCs lớn của thế giới đặt các cơ sở sản xuất của họ tại Trung Quốc) Nhìnchung, trang thiết bị kỹ thuật tổng thể của ngành công nghiệp Trung Quốc đã rút ngắnkhoảng cách từ 10-15 năm so với các nước công nghiệp phát triển trên thế giới
3 Ngoại thương góp phần cải tạo cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa
Điều này được thể hiện qua mối quan hệ tương hỗ giữa sự thay đổi cơ cấu xuấtkhẩu của sản phẩm công nghiệp với cơ cấu của ngành công nghiệp Sản xuất côngnghiệp của Trung Quốc trong thời gian qua tăng trưởng với nhịp độ cao, giá trị sảnphẩm công nghiệp năm 2001 tăng 26,5 lần so với năm 1978, bình quân mỗi năm tăng15,3% [33] Sự phát triển của ngành công nghiệp Trung Quốc đã trở thành một nhân
tố chủ đạo giúp cho sự tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân, thúc đẩy sự nghiệp công