Việc một nền kinh tế xuất siêu cũng chưa hẳn là nền kinh tế đó phát triển, điều này có thể thấy rõ qua các ví dụ về các nước Trung đông - các nước đang phát triển khi mà các sản phẩm chủ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Xuân Nữ
Hà Nội, tháng 6 năm 2012
Trang 2DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 : 4
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÁN CÂN THƯƠNG MẠI 4
1.1 Một số khái niệm cơ bản về cán cân thương mại 4
1.1.1 Khái niệm về cán cân thương mại 4
1.1.2 Các trạng thái cơ bản của cán cân thương mại 4
1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến thâm hụt cán cân thương mại 7
1.2.1 Các biến số kinh tế 7
1.2.2 Các chính sách của nhà nước 10
1.3 Ảnh hưởng của thâm hụt cán cân thương mại đến nền kinh tế quốc dân 13
1.4 Kinh nghiệm điều chỉnh cán cân thương mại của một số nước trên thế giới và bài học cho Việt Nam 16
1.4.1 Kinh nghiệm của Thái Lan 16
1.4.2 Kinh nghiệm của Hàn Quốc 18
1.4.3 Kinh nghiệm của Trung Quốc 20
1.4.4 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc cải thiện cán cân thương mại 24
CHƯƠNG 2: 26
THỰC TRẠNG THÂM HỤT CÁN CÂN THƯƠNG MẠI CỦA VIỆT NAM 26 2.1 Thực trạng thâm hụt cán cân thương mại của Việt Nam những năm qua 26
2.1.1 Giai đoạn 1995-2000 26
2.1.2 Giai đoạn 2001-2005 27
Trang 32.1.4 Giai đoạn 4 tháng đầu năm 2012 36
2.2 Nguyên nhân dẫn đến thâm hụt cán cân thương mại của Việt Nam 38
2.2.1 Nguyên nhân bên trong 38
2.2.2 Nguyên nhân bên ngoài 44
2.3 Các biện pháp điều chỉnh cán cân thương mại của Việt Nam trong thời gian qua 48
2.3.1 Các biện pháp thúc đẩy xuất khẩu 48
2.3.2 Các biện pháp hạn chế nhập khẩu 50
CHƯƠNG 3: 52
ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG THÂM HỤT CÁN CÂN THƯƠNG MẠI CỦA VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM TỚI 52
3.1 Định hướng về cán cân thương mại của Việt Nam đến năm 2020 52
3.1.1 Điều chỉnh cán cân thương mại theo hướng ổn định kinh tế vĩ mô 52
3.1.2 Điều chỉnh cán cân thương mại trên cơ sở tự do hóa thương mại 53
3.2 Mục tiêu điều chỉnh cán cân thương mại của Việt Nam giai đoạn 2011 -2020 và định hướng đến năm 2030 54
3.3 Một số giải pháp khắc phục thâm hụt cán cân thương mại của Việt Nam 57
3.3.1 Giải pháp từ phía nhà nước 57
3.3.2 Giải pháp từ phía doanh nghiệp 69
3.3.3 Một số giải pháp khác 74
KẾT LUẬN 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
Trang 4EU European Union Liên minh châu Âu FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài FTA Free-trade agreement Hiệp định thương mại tự do GDP Gross domestic product Tổng sản phẩm trong nước IMF International Monetary Fund Quỹ tiền tệ quốc tế KRW South Korean won Won Hàn Quốc
NHNN State bank Ngân hàng nhà nước
NK Import Nhập khẩu
ODA Official Development Assistance Hỗ trợ phát triển chính thức THB Thai Baht Bạt Thái Lan
USD United States dollar Đô la Mỹ
VND Vietnam dong Việt Nam đồng
WTO World Trade Organization Tổ chức thương mại thế giới
XK Export Xuất khẩu
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Tỷ giá CNY/USD từ 1990 đến 2011 23 Bảng 2.1 Cán cân thương mại của Việt Nam giai đoạn 1995 -2000 26 Bảng 2.2 Tình hình cán cân thương mại của Việt Nam giai đoạn 2007-2011 .32 Bảng 2.3 Tình hình thu hút FDI giai đoạn 2006-2011 43
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Tình hình cán cân thương mại của Việt Nam giai đoạn 2001 - 2005 28 Biểu đồ 2.2 Tình hình cán cân thương mại Việt Nam 4 tháng đầu năm 2012 37 Biểu đồ 2.3 Lạm phát Việt Nam từ năm 2000 đến năm 2011 41 Biểu đồ 2.4 Diễn biến giá dầu thế giới giai đoạn 2000 - 2011 46
Trang 6LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sự kiện Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) vào ngày 11/01/2007 đánh dấu một bước tiến lớn trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Tuy nhiên bối cảnh kinh tế thế giới sau hơn 5 năm gia nhập WTO với những biến động khó lường đặc biệt là cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đã tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế nước ta nói chung và cán cân thương mại nói riêng Cán cân thương mại là chênh lệch giữa giá trị bằng tiền của xuất khẩu so với nhập khẩu của một nền kinh tế trong một thời kì nhất định Đó là mối quan hệ giữa nhập khẩu và xuất khẩu của một quốc gia Cán cân thương mại được biết đến như thặng dư thương mại nếu xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu; ngược lại,
nó được gọi là thâm hụt thương mại
Cán cân thương mại đóng vai trò quan trọng trong biểu đồ kinh tế của một quốc gia Cán cân thương mại phần nào phản ánh sức khỏe của nền kinh tế và tác động không nhỏ tới các yếu tố kinh tế vĩ mô cũng như vi mô
Nhận thức được tầm quan trọng cũng như vai trò của cán cân thương mại trong nền kinh tế cũng như mong muốn tìm hiểu nguyên nhân gây nên sự thâm hụt trong cán cân thương mại đồng thời đưa ra một số kiến nghị và giải pháp nhằm
khắc phục thâm hụt cán cân thương mại, em đã chọn đề tài “Thực trạng thâm hụt
cán cân thương mại của Việt Nam và giải pháp khắc phục.” làm đề tài khóa luận
tôt nghiệp của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng cán cân thương mại Việt Nam để từ đó đề xuất một số giải pháp cải thiện cán cân thương mại Việt Nam
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích đã nêu ở phần trên, tác giả sẽ lần lượt nghiên cứu các vấn đề:
Trang 7- Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về cán cân thương mại và cân bằng cán cân thương mại
- Phân tích thực trạng cán cân thương mại Việt Nam, các nhân tố ảnh hưởng
và nguyên nhân của thực trạng đó
- Đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện cán cân thương mại của Việt Nam trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu : Cán cân thương mại Việt Nam và các yếu tố liên quan
- Phạm vi nghiên cứu : Khóa luận tập trung nghiên cứu thực trạng cán cân thương mại hàng hóa Việt Nam trong thời gian từ năm 1995 đến quý I/2012, đồng thời đưa ra một số đề xuất về các giải pháp cải thiện cán cân thương mại Việt Nam đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030
5 Phương pháp nghiên cứu
- Dựa trên cơ sở lý luận cơ bản về kinh tế học, các lý thuyết kinh tế vĩ mô và phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử
- Khảo sát số liệu thực tế thông qua các báo cáo thống kê, báo cáo tổng kết, đánh giá kinh tế xã hội, các chuyên đề nghiên cứu về thương mại, hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam thời gian qua
- Sử dụng phương pháp thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp để nghiên cứu
6 Kết cấu khóa luận tốt nghiệp
Khóa luận gồm có 3 chương như sau :
Chương I : Lý luận chung về cán cân thương mại
Chương II : Thực trạng thâm hụt cán cân thương mại của Việt Nam
Chương III : Định hướng và giải pháp khắc phục tình trạng thâm hụt cán
cân thương mại của Việt Nam trong những năm tới
Trang 8Trong quá trình làm khóa luận, vì thời gian có hạn cũng như lượng kiến thức chưa đầy đủ để có thể phân tích đầy đủ hết mọi khía cạnh trong đề tài, nên em mong muốn nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo để em có thể hoàn thiện hơn khóa luận của mình
Em xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới Tiến sỹ Nguyễn Xuân Nữ, người
đã trực tiếp giúp đỡ em trong việc lựa chọn đề tài, cũng như hướng dẫn phương pháp nghiên cứu và triển khai và hoàn thành khóa luận này
Trang 9CHƯƠNG 1 :
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÁN CÂN THƯƠNG MẠI
1.1 Một số khái niệm cơ bản về cán cân thương mại
1.1.1 Khái niệm về cán cân thương mại
Cán cân thương mại là một bộ phận cấu thành quan trọng của cán cân thanh toán quốc tế và được phản ánh cụ thể trong cán cân vãng lai Cán cân thương mại ghi lại những thay đổi trong xuất khẩu và nhập khẩu của một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định (quý hoặc năm) hay mức chênh lệch giữa chúng
Cán cân thương mại thường được chia làm cán cân thương mại hàng hóa và cán cân thương mại dịch vụ
Cán cân thương mại là một bộ phận cấu thành tổng thu nhập quốc dân, cùng với các yếu tố: chi tiêu dùng, chi tiêu đầu tư, chi tiêu chính phủ hợp thành tổng thu nhập quốc dân Do đó, sự biến động của cán cân thương mại sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế quốc dân, trạng thái của cán cân thương mại thể hiện động thái của nền kinh tế ở các thời điểm khác nhau Chính vì vậy biến động của cán cân thương mại trong ngắn hạn và dài hạn là cơ sở để các chính phủ điều chỉnh chiến lược, đường lối, chính sách phát triển kinh tế, quy hoạch, xây dựng các mô hình phát triển, đưa ra các phương thức công nghiệp hóa, hiện đại hóa
1.1.2 Các trạng thái cơ bản của cán cân thương mại
Cán cân thương mại thặng dư
Cán cân thương mại thặng dư (xuất siêu) khi tổng lượng hàng hóa và dịch vụ của một quốc gia xuất khẩu vượt quá tổng lượng hàng hóa và dịch vụ mà quốc gia
đó nhập khẩu từ nước ngoài về, hay nói cách khác xuất khẩu ròng (mức chênh lệch của xuất khẩu trừ đi nhập khẩu) của quốc gia đó lớn hơn 0
Cán cân thương mại thặng dư cho thấy xuất khẩu tăng trưởng nhanh hơn nhập khẩu Khi đó khả năng sản xuất của nền kinh tế là hiệu quả, vì quốc gia đó có
Trang 10thể sản xuất những sản phẩm, hàng hóa thỏa mãn nhu cầu của khách hàng trong và ngoài nước
Cán cân thương mại thặng dư mang lại rất nhiều lợi ích cho quốc gia như: tăng nguồn thu ngoại tệ từ đó gia tăng dự trữ ngoại hối của quốc gia, tăng GDP, tạo công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo… do vậy khoản thu ngoại tệ từ việc xuất siêu góp phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế của đất nước thông qua việc tích lũy của cải, đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế Có thế nói, việc thặng dư cán cân thương mại là một dấu hiệu tích cực với bất kì quốc gia nào trong tiến trình phát triển kinh tế
Tuy nhiên, một nền kinh tế có thặng dư thương mại luôn duy trì ở mức cao cũng chưa hẳn là tốt Khi thặng dư thương mại cao, dự trữ ngoại hối của nước đó sẽ gia tăng nhanh chóng, điều này gây sức ép lên tỉ giá hối đoái và cán cân thanh toán Đồng thời hàng hóa nước có thể cũng phải đối mặt với các biện pháp bảo hộ khắt khe từ thị trường nước ngoài khi các nước này cho rằng đồng nội tệ đang bị định giá quá thấp so với giá trị thực để hỗ trợ xuất khẩu (ví dụ điển hình là đồng nhân dân tệ của Trung Quốc) Việc một nền kinh tế xuất siêu cũng chưa hẳn là nền kinh tế đó phát triển, điều này có thể thấy rõ qua các ví dụ về các nước Trung đông - các nước đang phát triển khi mà các sản phẩm chủ yếu là dầu thô, khoáng sản…Các quốc gia này đạt được trạng thái thặng dư cán cân thương mại chủ yếu nhờ việc xuất khẩu các nguồn tài nguyên thiên nhiên sẵn có mà nền sản xuất trong nước không thực sự phát triển
Cán cân thương mại cân bằng
Cán cân thương mại cân bằng khi tổng kim ngạch xuất khẩu của một quốc gia bằng tổng kim ngạch nhập khẩu của quốc gia đó trong một thời kỳ nhất định, hay nói cách khác là lượng hàng hóa và dịch vụ xuất khẩu bằng lượng hàng hóa dịch vụ nhập khẩu
Cán cân thương mại luôn luôn biến động xoay quanh trạng thái cân bằng do những tác động cùng chiều và ngược chiều của các hoạt động xuất nhập khẩu Sự biến động trạng thái của cán cân thương mại phần nào phản ánh được trạng thái của nền kinh tế cũng như có liên quan đến các biến số kinh tế vĩ mô như : cán cân thanh
Trang 11toán, cán cân vãng lai, nợ nước ngoài, cung cầu tiền tệ, mức tiết kiệm, đầu tư, thu nhập thực tế…
Tuy cán cân thương mại của các quốc gia khó tránh khỏi mất cân bằng liên tục theo thời gian nhưng việc cân bằng cán cân thương mại vẫn là mục tiêu dài hạn trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của của nhiều nước
Cán cân thương mại thâm hụt
Cán cân thương mại thâm hụt khi tổng kim ngạch hàng hóa dịch vụ nhập khẩu vượt quá tổng kim ngạch hàng hóa dịch vụ xuất khẩu của một quốc gia, hay mức chênh lệch xuất khẩu trừ nhập khẩu nhỏ hơn 0
Thâm hụt cán cân thương mại là yếu tố cơ bản gây nên tình trạng thâm hụt cán cân vãng lai, qua đó ảnh hưởng đến cán cân thanh toán và gia tăng gánh nặng
nợ nước ngoài Nếu thâm hụt thương mại trong thời gian dài vượt quá khả năng chịu đựng của cán cân vãng lai thì sẽ gây ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế như gia tăng nợ nước ngoài, hạn chế khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, làm mất giá đồng nội tệ, thay đổi các chính sách chi tiêu chính phủ, hoạt động đầu tư, chính sách thương mại, tác động tiêu cực đến thu nhập, việc làm, ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô
Tuy nhiên, trong một số trường hợp, thâm hụt cán cân thương mại chưa hẳn
đã mang lại những kết quả tiêu cực, điều này phụ thuộc vào chu kì kinh tế và các mục tiêu kinh tế mà các chính phủ đang theo đuổi Ví dụ một nền kinh tế có khả năng tăng trưởng tốt, hứa hẹn nhiều cơ hội đầu tư với lợi nhuận cao trong tương lại, nhu cầu nhập khẩu sẽ tăng lên (đặc biệt là máy móc và hàng công nghệ cao), kéo theo đó cán cân thương mại cũng thâm hụt (nhất là với các nước đang phát triển) Như vậy nếu có cán cân thương mại có thâm hụt cũng là để tạo tiền đề cho phát triển kinh tế ở giai đoạn tiếp theo Thực tiễn đã cho thấy ở một số nước trong tình trạng thâm hụt cán cân thương mại, nền kinh tế vẫn ổn định và đạt mức tăng trưởng cao Vấn đề là thâm hụt cán cân thương mại ở mức nào có thể đảm bảo sức chịu đựng của cán cân tài khoản vãng lai và nợ nýớc ngoài
Trang 12Đối với các nước đang công nghiệp hóa, hiện đại hóa như Việt Nam thì hiếm khi có thặng dư cán cân thương mại, vì chúng ta vẫn còn yếu kém về cơ chế, chính sách quản lý xuất nhập khẩu, mặt khác do yêu cầu phát triển kinh tế đòi hỏi phải nhập khẩu rất nhiều trong khi chất lượng cũng như khả năng cạnh tranh của nền kinh tế còn hạn chế, do đó mức tăng trưởng xuất khẩu không đủ khả năng bù đắp thâm hụt thương mại
1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến thâm hụt cán cân thương mại
1.2.1 Các biến số kinh tế
1.2.1.1 Tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái (thường được gọi tắt là tỷ giá) là sự so sánh về mặt giá cả giữa hai đồng tiền của hai nước khác nhau Cũng có thể nói tỷ giá là giá của một đồng tiền được biểu hiện bằng một số lượng giá trị của một đồng tiền khác
Tỷ giá hối đoái là nhân tố rất quan trọng đối với quốc gia, vì nó ảnh hưởng đến giá tương đối giữa giá hàng hóa sản xuất trong nước với hàng hóa trên thị trường quốc tế Khi tỷ giá giảm đồng nội tệ lên giá, hàng hóa sản xuất trong nước sẽ trở nên đắt tương đối so với hàng hóa trên thị trường quốc tế, dẫn đến xuất khẩu có
xu hướng giảm dần Trong khi đó danh mục các mặt hàng nhập khẩu có xu hướng
mở rộng do người dân có thể sử dụng những mặt hàng với giá rẻ hơn nhờ giá tính theo đồng nội tệ Mặt khác doanh nghiệp nhập khẩu có thể tăng doanh thu nhờ việc
mở rộng danh mục, đa dạng hóa các mặt hàng nhập khẩu Do đó cán cân thương mại cũng biến động theo chiều hướng giảm dần Ngược lại, khi tỷ giá tăng, đồng nội tệ mất giá, hàng hóa sản xuất trong nước sẽ trở nên rẻ tương đối so với hàng hóa trên thị trường quốc tế, sự gia tăng doanh thu dẫn đến các doanh nghiệp xuất khẩu
mở rộng danh mục hàng xuất khẩu , trong khi việc quy đổi ra nội tệ dẫn đến việc hàng hóa nhập khẩu trở nên đắt hơn dẫn đến giảm nhu cầu nhập khẩu một số mặt hàng, qua đó có tích cực đến cán cân thương mại
Trên thực tế, các tổ chức tài chính quốc tế thường khuyến nghị phá giá đồng nội tệ khi các nước gặp khó khăn về cán cân thanh toán quốc tế Biện pháp này làm gia tăng sức cạnh tranh của hàng hóa sản xuất trong nước, thu hút các nguồn lực
Trang 13đầu tư, mở rộng các ngành xuất khẩu có hiệu quả từ đó gia tăng xuất khẩu đồng thời hạn chế nhập khẩu, giúp dần cải thiện cán cân thương mại Tuy nhiên, không phải trong mọi điều kiện phá giá tiền tệ đều giúp cải thiện cán cân thương mại, việc áp dụng biện pháp này cũng cần có một số điều kiện nhất định Trong khi Hàn Quốc là một ví dụ điển hình về thành công trong việc áp dụng hiệu quả chính sách phá giá tiền tệ thì Thái Lan lại là một điển hình trong việc thất bại khi áp dụng phá giá tiền
tệ Mặc dù cán cân thương mại có được cải thiện phần nào nhưng hậu quả là nợ nước ngoài tăng một cách trầm trọng dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ năm 1997
1.2.1.2 Lạm phát
Trong kinh tế học, lạm phát là sự tăng lên theo thời gian của mức giá chung của nền kinh tế Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị thị trường hay giảm sức mua của đồng tiền
Ảnh hưởng của lạm phát đến cán cân thương mại thể hiện qua cơ chế giá, thông qua việc tăng hay giảm giá trị đồng tiền của một quốc gia Lạm phát gia tăng
sẽ làm giá cả nguyên vật liệu đầu vào sản xuất tăng, chi phí sản xuất tăng, do đó giá
cả hàng hóa sản xuất trong nước tăng gây khó khăn cho hoạt động xuất khẩu Mặt khác, lạm phát cao làm cho nền kinh tế bất ổn định, mất niềm tin của nhà đầu tư, dẫn đến việc đầu tư nước ngoài vào giảm sút, kéo theo việc giảm xuất khẩu từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài Trong khi đó, các mặt hàng nhập khẩu cũng trở nên đắt đỏ hơn, nguồn ngoại tệ thu từ xuất khẩu không đủ bù đắp cho nhập khẩu Kết quả là cán cân thương mại bị thâm hụt
bị suy giảm, gây ảnh hưởng xấu đến cán cân thương mại Mặt khác, khi lãi suất tăng, các nhà đầu tư nước ngoài sẽ có xu hướng chuyển sang đầu tư tại các thị
Trang 14trường có mức lãi suất có lợi cho mình hơn Điều này làm cản trở việc phát triển sản xuất, kinh doanh nên cũng ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu Vì vậy cán cân thương mại cũng chịu nhiều biến động
1.2.1.4 Thu nhập quốc dân trong và ngoài nước
Cán cân thương mại tỷ lệ nghịch với thu nhập trong nước: Khi thu nhập trung bình của người dân trong một quốc gia tăng lên sẽ kéo theo nhu cầu chi tiêu tăng lên, nhu cầu về hàng hóa xa xỉ cũng tăng lên, xuất hiện thêm các nhu cầu mới
Đi kèm với nó là nhu cầu nhập khẩu cũng gia tăng tác động tiêu cực đến cán cân thương mại Trong khi đó, thu nhập của người dân nước ngoài tăng, nhu cầu về hàng hóa sẽ tăng lên, xuất khẩu được khuyến khích, tạo điều kiện cải thiện cán cân thương mại Điều này có nghĩa là thu nhập nước ngoài tỷ lệ thuận với cán cân thương mại
Ngược lại, khi thu nhập trong nước giảm, nhu cầu tiêu dùng của người dân cũng giảm theo, việc nhập khẩu cũng theo đó mà suy giảm kéo theo sự cải thiện của cán cân thương mại Còn thu nhập nước ngoài giảm sẽ kéo theo việc xuất khẩu giảm, làm xấu đi cán cân thương mại
1.2.1.5 Giá cả hàng hóa thế giới
Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, các nền kinh tế thường tập chung sản xuất những gì mà mình có lợi thế so sánh so với các nền kinh tế khác, dẫn đến việc mỗi nền kinh tế đều phụ thuộc chặt chẽ vào nền kinh tế thế giới, kim ngạch xuất nhập khẩu của mỗi quốc gia cũng phụ thuộc chặt chẽ vào giá thế giới Khi giá thế giới thấp hơn giá hàng hóa trong nước, hàng hóa nước ngoài sẽ có cơ hội tràn vào thị trường nội địa, kéo theo đó là kim ngạch nhập khẩu tăng Ngược lại khi giá hàng hóa trong nước thấp hơn giá hàng hóa thế giới, quốc gia sẽ có lợi thế so sánh về mặt hàng đó, dẫn đến việc hoạt động sản xuất được đẩy mạnh, kim ngạch xuất khẩu gia tăng, tác động tốt đến cán cân thương mại
Ngoài ra, việc giá hàng hóa thế giới tăng lên cũng ảnh hưởng không nhỏ đến giá hàng hóa trong nước, gây sức ép đến lạm phát, từ đó tác động đến hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu và cán cân thanh toán của quốc gia
Trang 151.2.2 Các chính sách của nhà nước
1.2.2.1 Chính sách thương mại quốc tế
Chính sách thương mại quốc tế là các quan điểm, nguyên tắc, biện pháp thích hợp mà chính phủ dùng để điều chỉnh các hoạt động thương mại quốc tế của quốc gia trong một thời gian nhất định nhằm đảm bảo các mục tiêu trong chiến lược phát triển của quốc gia đó Các công cụ chủ yếu của chính sách thương mại quốc tế bao gồm: thuế quan, giấy phép xuất nhập khẩu, các hàng rào kỹ thuật, trợ cấp xuất khẩu, tín dụng xuất khẩu…
Mỗi quốc gia có chính sách thương mại khác nhau, tuy nhiên chúng đều chịu
sự chi phối của hai xu hướng cơ bản là: Xu hướng tự do hóa thương mại và xu hướng bảo hộ mậu dịch
Xu hướng bảo hộ mậu dịch:
Là quá trình chính phủ các nước tiến hành xây dựng và đưa vào các biện pháp thích hợp trong chính sách thương mại quốc tế nhằm hạn chế hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài bằng cách đánh thuế hàng nhập khẩu hay hạn chế lượng hàng hóa, dịch vụ được phép nhập khẩu
Chính sách bảo hộ thương mại làm giảm lượng hàng hóa nhập khẩu từ đó có thể giúp cải thiện cán cân thương mại của quốc gia Tuy nhiên, khi quốc gia áp dụng chính sách này có thể phải nhận sự trả đũa từ các nước đối tác, gây ảnh hưởng xấu tới hoạt động xuất khẩu Việc giảm đồng thời cả nhập khẩu và xuất khẩu có thể không ảnh hưởng gì đến cán cân thương mại quốc gia
Xu hướng tự do hóa thương mại:
Tự do hóa thương mại là quá trình nhà nước dần gỡ bỏ các hàng rào thuế quan và phi thuế quan của một quốc gia giúp hàng hóa di chuyển qua biên giới các nước thuận lợi hơn Đồng thời từng bước đưa vào thực hiện các chính sách, biện pháp quản lý như quy định về tiêu chuẩn kĩ thuật, chính sách chống bán phá giá, đảm bảo cạnh tranh, chống độc quyền, chính sách đảm bảo quyền sở hữu trí tuệ, thương hiệu hàng hóa theo các hiệp định đã kí kết và theo chuẩn mực chung của thế giới
Trang 16Chính sách tự do hóa thương mại tạo ra môi trường cạnh tranh tốt hơn cũng như sự bình ðẳng hơn giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước, là động lực quan trọng để các doanh nghiệp trong nước không ngừng nỗ lực nâng cao trình độ về công nghệ, lao động nếu muốn nâng cao khả năng cạnh tranh để tồn tại trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Nhờ đó năng lực sản xuất và kinh doanh xuất nhập khẩu cũng hiệu quả hơn góp phần gia tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước, cải thiện cán cân thương mại Hơn nữa chính sách tự do hóa thương mại cũng giúp hàng hóa dễ dàng thâm nhập thị trường nước ngoài hơn, mở rộng thị trường và cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu
Hai xu hướng này không bao giờ được thực hiện một cách triệt để hoàn toàn,
mà thường được kết hợp với nhau trong quá trình xây dựng chính sách thương mại quốc tế của mỗi quốc gia Trong đó xu hướng bảo hộ mậu dịch được điều chỉnh giảm dần đồng thời xu hướng tự do hóa ngày càng được tăng cường
1.2.2.2 Chính sách quản lý ngoại hối
Chính sách quản lý ngoại hối là một bộ phận của chính sách tiền tệ quốc gia, một trong những công cụ quan trọng trong việc điều tiết vĩ mô của nhà nước Nó bao gồm các quy định điều chỉnh việc thu mua, đầu tư, cho vay và các giao dịch khác về ngoại hối của các bên có liên quan nhằm thực hiện mục tiêu quản lý nhà nước qua từng thời kỳ
Thông qua các chính sách quản lý ngoại hối, chính phủ điều tiết có hiệu quả hơn các nguồn ngoại tệ trôi nổi trên thị trường, chống hiện tượng đầu cơ, lũng loạn góp phần ổn định tỷ giá hối đoái (như đã nói ở phần 1.2.1.1: tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng đến cán cân thương mại) Mặc khác, việc tạo điều kiện cho các doanh nghiệp bằng cách như miễn thuế đánh vào ngoại tệ chuyển về nước của các doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài, góp phần thúc đẩy đầu tư sản xuất, từ đó cũng giúp gia tăng lượng hàng xuất khẩu
1.2.2.3 Chính sách đầu tư
Các biện pháp và chính sách liên quan đến đầu tư có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến cán cân thương mại Nhiều nghiên cứu cho thấy để phục vụ cho
Trang 17đầu tư trong nước (nhất là các nước đang phát triển) các nước thường gia tăng nhập khẩu nguyên liệu đầu vào, cũng như các loại máy móc, thiết bị công nghệ Việc gia tăng nhập khẩu đó có ảnh hưởng trực tiếp đến cán cân thương mại
Tùy theo định hướng của mỗi quốc gia lựa chọn hướng đầu tư là sản xuất thay thế hàng nhập khẩu hay đầu tư sản xuất định hướng xuất khẩu mà sẽ có tác động đến cán cân thương mại theo các cách khác nhau Kinh nghiệm cho thấy, các nước thực hiện chính sách đầu tư sản xuất định hướng xuất khẩu có sự cải thiện cán cân thương mại trong dài hạn
Việc thu hút các nguồn vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp từ nước ngoài có tác động lớn đến việc cải thiện cán cân thương mại, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển Một trong những yếu tố có tác động rõ rệt nhất đến cán cân thương mại
là vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Việc gia tăng FDI có tác dụng bù đắp thâm hụt cán cân vãng lai, góp phần cải thiện cán cân thương mại Luồng vốn FDI chảy vào thường đi kèm với công nghệ, không những cải thiện khó khăn về vốn mà còn giúp doanh nghiệp cải thiện sản xuất, cung ứng hàng hóa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và sản xuất trong nước giúp giảm nhập khẩu Đặc biệt khi đầu tư vào các ngành hàng thay thế nhập khẩu, các nguyên phụ liệu đầu vào, công nghiệp phụ trợ một cách hiệu quả không chỉ giúp giảm nhập khẩu mà còn giúp tăng khả năng cạnh tranh về giá cho các mặt hàng xuất khẩu sản xuất ra, giúp các doanh nghiệp xuất khẩu chủ động nguyên liệu sản xuất, từ đó mở rộng việc kinh doanh xuất khẩu Không chỉ đáp ứng nhu cầu nội địa, FDI còn góp phần thúc đẩy xuất khẩu, sự xuất hiện của các doanh nghiệp FDI với công nghệ tiên tiến giúp các nước nâng cao chất lượng và đa dạng hóa các mặt hàng xuất khẩu Bên cạnh đó thông qua quan hệ, hệ thống phân phối sẵn có của các nhà đầu tư nước ngoài, hàng hóa trong nước tiếp cận các thị trường mới dễ dàng hơn, thị trường mở rộng hơn Tuy nhiên trong giai đoạn đầu khi đầu tư nước ngoài tăng, sẽ dẫn tới nhập khẩu tăng (đặc biệt là các nước đang phát triển) do việc nhập khẩu máy móc công nghệ tăng Tuy nhiên việc nhập khẩu máy móc công nghệ lại tạo tiền đề cho sản xuất sau này FDI vừa có tác động tốt đến việc cải thiện năng lực xuất khẩu, vừa tác động tốt đến việc mở rộng thị trường xuất khẩu cho các nước nhận đầu tư Nguồn thu ngoại tệ từ FDI đóng góp rất lớn vào việc cải thiện cán cân thương mại quốc tế
Trang 18Thêm vào đó, việc gia tăng các nguồn thu nhập chuyển giao từ nước ngoài như viện trợ, thu nhập ròng từ các dự án đầu tư nước ngoài, kiều hối cũng có tác dụng rất tốt trong việc bù đắp thâm hụt cán cân thương mại hàng hóa
1.3 Ảnh hưởng của thâm hụt cán cân thương mại đến nền kinh tế quốc dân
Cán cân thương mại đóng vai trò quan trọng trong biểu đồ kinh tế của một quốc gia Cán cân thương mại phần nào phản ánh sức khỏe của nền kinh tế và tác động không nhỏ tới các yếu tố kinh tế vĩ mô cũng như vi mô Thâm hụt cán cân thương mại ảnh hưởng như thế nào đến nền kinh tế là một vấn đề được rất nhiều nhà quản lý chính sách phân tích và nghiên cứu
Thâm hụt cán cân thương mại trong ngắn hạn, đối với những nước đang phát triển có những tác động tích cực đến đến nền kinh tế Các nước đang phát triển bắt đầu thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, công nghệ còn lạc hậu hơn rất nhiều so với thế giới, nguyên liệu sản xuất thiếu thốn Vì vậy, cần phải nhập một lượng lớn máy móc, thiết bị kỹ thuật, nguyên liệu để phục vụ cho sản xuất Thâm hụt cán cân thương mại trong thời điểm này là điều khó có thể tránh khỏi, và có ảnh hưởng tích cực đến nền kinh tế Nhập khẩu máy móc, thiết bị hiện đại phục vụ sản xuất cùng những nguyên liệu đầu vào chất lượng tốt, giá cả phù hợp giúp giảm giá thành, nâng cao sức cạnh tranh cho hàng hóa sản xuất trong nước Về lâu dài có thể giúp gia tăng xuất khẩu, giảm nhập khẩu hàng hóa, giúp nền kinh tế không bị phụ thuộc vào nguồn hàng hóa nước ngoài Qua đó cũng có tác động ngược trở lại, làm lành mạnh hóa cán cân thương mại
Tuy nhiên, mức thâm hụt cán cân thương mại cao trong dài hạn lại tác động tiêu cực đến nền kinh tế quốc dân Thâm hụt cán cân thương mại kéo dài sẽ gây ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái, lạm phát, GDP, giá cả, cán cân thanh toán,…làm tình hình kinh tế vĩ mô trở lên bất ổn định
Tỷ giá hối đoái của một quốc gia phụ thuộc vào chính sách tỷ giá của quốc gia đó là chính sách tỷ giá cố định, thả nồi hoàn toàn hay thả nổi có điều tiết mà chịu ảnh hưởng ít hay nhiều của thâm hụt cán cân thương mại Khi một nước duy trì chính sách tỷ giá cố định thì thâm hụt cán cân thương mại làm giảm cung ngoại tệ trên thị trường, đồng tiền quốc gia đó lên giá so với ngoại tệ Muốn giữ cố định tỷ
Trang 19giá, NHNN phải bán ngoại tệ từ dự trữ ngoại hối ra để thu về nội tệ Dẫn đến suy giảm dự trữ ngoại hối và cung tiền trong nền kinh tế, từ đó làm gia tăng lãi suất, giảm đầu tư, qua đó gián tiếp làm giảm thu nhập quốc dân Để đảm bảo cho tỷ giá được giữ cố định, trong trường hợp này NHNN đã phải hi sinh quyền kiểm soát cung tiền, một trong những biện pháp quan trọng điều hành kinh tế vĩ mô Khi chính sách tỷ giá điều chỉnh theo hướng tự do hóa, giảm dần yếu tố hành chính trong việc xác định tỷ giá giao dịch trên thị trường thì ảnh hưởng của thâm hụt cán cân thương mại càng tăng Nếu tình trạng thâm hụt cán cân thương mại quá cao và kéo dài, tình hình kinh tế trở nên căng thẳng, gây sức ép lên đồng nội tệ làm cho đồng nội tệ bị mất giá, ép buộc phải phá giá tiền tệ Điều này có thể làm gia tăng áp lực lạm phát, khi giá cả nguồn nguyên vật liệu sản xuất cũng như hàng hóa nhập khẩu tính theo nội tệ đều tăng lên, qua đó làm sản phẩm sản xuất trong nước cũng tăng giá theo Giá nội tệ giảm, lạm phát gia tăng làm mất lòng tin của người dân vào nội tệ cũng như vào các chính sách điều hành vĩ mô của nhà nước, dẫn đến dễ xảy
ra khủng hoảng kinh tế
Thâm hụt cán cân thương mại còn ảnh hưởng đến cán cân thanh toán của nước đó Đối với các nước đang phát triển, khi mà xuất khẩu dịch vụ còn chiếm tỷ trọng nhỏ bé trong tổng kim ngạch xuất khẩu và các khoản chuyển giao còn chưa đáng kể, thì sự thâm hụt cán cân thương mại quyết định tình trạng của cán cân vãng lai Người ta thường sử dụng các chỉ tiêu như tỷ lệ giữa giá trị xuất khẩu và thu nhập quốc dân, chỉ số nợ trên xuất khẩu, tỷ lệ tăng trưởng nhập khẩu trên tăng trưởng xuất khẩu, tỷ lệ mức lãi suất trả nợ trên mức tãng xuất khẩu để đánh giá khả năng chịu đựng của cán cân vãng lai Nếu như, chỉ số nợ trên xuất khẩu của một nước giảm dần theo thời gian phản ánh sự cải thiện của cán cân tài khoản vãng lai Ngược lại, nếu chỉ số đó có xu hướng tăng thì tình trạng cán cân vãng lai đang xấu
đi Would Bank đưa ra chỉ số tuyệt đối là nếu chỉ số nợ lớn hơn 275% thì tại thời điểm đó một nước đang trong tình trạng khủng hoảng nợ Hoặc nếu mức tăng xuất khẩu của một nước lớn hơn mức lãi suất trả nợ, nước đó có khả năng thanh toán các khoản nợ mà không ảnh hưởng đến phát triển kinh tế
Thân hụt cán cân thương mại sẽ ảnh hưởng đến GDP: theo phương pháp sản phẩm, GDP được tính theo công thức sau:
Trang 20ép giá khi mua sản phẩm đó ở các nước khác hay sẽ không có hàng để sử dụng Vì vậy, khi nước đó có thâm hụt cán cân thương mại kéo dài sẽ làm cho nền kinh tế nước đó phụ thuộc vào nước ngoài
Như vậy, thâm hụt cán cân thương mại trong thời gian ngắn có thể là hỗ trợ cho sản xuất nhưng trong thời gian dài lại là một điềm xấu với nền kinh tế Chính vì thế mà các nước luôn tìm cách cải thiện cán cân thương mại của mình từ thâm hụt sang thăng dư để đảm bảo sự phát triển bền vững của nền kinh tế, trong đó Thái
Lan, Hàn Quốc, Trung Quốc là những ví dụ điển hình
Trang 211.4 Kinh nghiệm điều chỉnh cán cân thương mại của một số nước trên thế giới
và bài học cho Việt Nam
1.4.1 Kinh nghiệm của Thái Lan
Thái Lan vốn là một nước có nền nông nghiệp và công nghiệp phát triển, hàng hóa xuất khẩu của Thái Lan có khả năng cạnh tranh tương đối tốt, lượng gạo xuất khẩu của Thái Lan đứng đầu thế giới Mặc dù vậy, tình trạng cán cân thương mại của Thái Lan không phải lúc nào cũng thặng dư Từ năm 1987 đến năm 1995, kinh tế Thái Lan tăng trưởng mạnh với tốc độ từ 13% trở lên đồng thời mức độ tăng trưởng của kim ngạch xuất khẩu rất cao, năm 1987 là 7,1 tỷ USD đến năm 1995 đã lên tới 54,7 tỷ tăng gấp 7, 7 lần Vậy mà, cán cân thương mại trong giai đoạn này vẫn ở trạng thái thâm hụt do nhu cầu nhập khẩu của Thái Lan rất lớn
Đến năm 1996, cán cân thương mại của Thái Lan đã bị thâm hụt nghiêm trọng với trị giá nhập siêu lên tới 16,1 tỷ USD Trước tình hình tăng trưởng kinh tế quá nóng IMF đã đưa ra lời cảnh báo rằng nền kinh tế Thái Lan có thể rơi vào khủng hoảng, và điều đó đã xảy ra Năm 1997, khủng hoảng tài chính đã xảy ra ở Thái Lan và nhanh chóng lan rộng ra các nước trong khu vực Trong 3 năm kể từ khi khủng hoảng kinh tế xảy ra, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Thái Lan suy giảm nghiêm trọng, đặc biệt là năm 2008, tốc độ tăng trưởng kinh tế là âm 2,2% Tốc độ giảm sút của kim ngạch nhập khẩu năm 1998 (33,7% so với năm 1997) cao hơn rất nhiều so với tốc độ giảm sút của kim ngạch xuất khẩu (6,7%) Vì vậy mà năm 1998, Thái Lan lần đầu tiên đạt thặng dư cán cân thương mại 12,2 tỷ USD Kể từ năm
1998 đến nay, ngoại trừ năm 2005 thì cán cân thương mại của Thái Lan luôn trong trạng thái thặng dư Để có được những thành quả này là nhờ vào các biện pháp khá hữu hiệu của Chính phủ Thái Lan
Đầu tiên phải kể đến là chính sách tỷ giá hối đoái khi Thái Lan đã phá giá đồng Balt Trước những năm khủng hoảng, Thái Lan đã duy trì một mức tỷ giá hối đoái gần như cố định, neo đồng Balt vào đồng USD là 25 Balt/USD, đồng Balt bị đánh giá cao so với USD và các đồng tiền khác Nền kinh tế của Thái Lan lại bị phụ thuộc khá lớn vào nền kinh tế của Hoa Kỳ và Nhật Bản, do vậy bất cứ sự bất ổn nào của đồng Đô la Mỹ và đồng Yên Nhật cũng ảnh hưởng đến tình hình xuất nhập
Trang 22khẩu của Thái Lan Do tình trạng thâm hụt kéo dài đã khiến áp lực giảm giá đồng Balt ngày càng tăng, dẫn đến nhu cầu ngoại tệ tăng đột biến mặc dù rằng Chính phủ
đã bán ra gần 15 tỷ USD trong gần 40 tỷ dự trữ ngoại hối nhưng đồng Balt vẫn bị phá giá Sự ép phá giá đồng nội tệ gia tăng nghiêm trọng, vượt ra ngoài khả năng chịu đựng của quỹ dự trữ ngoại hối quốc gia buộc Thái Lan phải thả nổi đồng Balt vào ngày 2/7/1997 Ngay lập tức tỷ giá THB/USD tăng lên là 28,8, tăng 17% so với trước Sau khi phá giá, đồng Balt liên tiếp bị giảm giá, tình trạng kinh tế sa sút trầm trọng Song việc phá giá đồng Balt đã đẩy mạnh xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu, cải thiện cán cân thương mại Chỉ trong vòng 16 tháng cán cân thương mại đã đạt đến trạng thái thặng dư Như vậy, phá giá tiền tệ đã mang lại một kết quả tốt cho cán cân thương mại của Thái Lan
Thứ hai là chính sách đầu tư: Thái Lan tập trung vào phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn: công nghiệp điện tử, phát triển các sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao, phát triển các hàng dệt may, giày da, đồ gỗ, Thái Lan đã thực hiện được nhiều biện pháp đầu tư trong nước khá hiệu quả Các ngành công nghiệp dịch
vụ được chú trọng và đẩy mạnh, bắt đầu giữ vai trò quan trọng hơn trong cơ cấu kinh tế Các ngành nghề đều được định hướng phát triển theo hướng phục vụ cho xuất khẩu Thái Lan cũng biết cách tận dụng được nguồn tài nguyên thiên nhiên và lao động dồi dào, giá rẻ một cách hiệu quả, thu hút FDI vào nông nghiệp, phát triển công nghiệp chế biến Điều này góp phần nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa Thái Lan trên thị trường quốc tế
Cuối cùng là chính sách thương mại: Thái Lan thực hiện chính sách mở cửa thị trường Chính phủ Thái Lan đã xúc tiến đầu tư, thu hút mạnh các nhà đầu tư nước ngoài vào liên doanh với các nhà sản xuất trong nước Thái Lan tham gia vào nhiều thỏa thuận, hợp tác song phương và đa phương Không chỉ duy trì mối quan
hệ thương mại truyền thống với các nước trong khu vực ASEAN mà còn xây dựng một mạng lưới kinh doanh với những thỏa thuận ưu đãi với nhiều quốc gia khác như Australia, Peru, New Zealand, Ấn Độ,… Qua đó, mở rộng thị trường xuất khẩu cho hàng hóa Thái Lan, góp phần thúc đẩy xuất khẩu, cải thiện cán cân thương mại
Trang 23Như vậy, qua chính sách phá giá tiền tệ, chính sách thương mại mở cửa và chính sách đầu tư vào các ngành công nghiệp mũi nhọn Thái Lan đã cải thiện được tình trạng thâm hụt cán cân thương mại trở thành một nền kinh tế có cán cân thương mại thặng dư
1.4.2 Kinh nghiệm của Hàn Quốc
Hàn Quốc là một trong những quốc gia có tốc độ phát triển nhanh nhất thế giới trong vòng 4 thập kỷ đổ lại đây Nền kinh tế chuyển biến nhanh chóng, từ một nước kinh tế kém phát triển trở thành một nước có tổng sản phẩm quốc nội đứng thứ 10 trên thế giới Khi ở vị trí xuất phát thì Hàn Quốc là một quốc gia nghèo đói
có tình trạng thâm hụt cán cân thương mại nghiêm trọng Tình hình thâm hụt cán cân thương mại của Hàn Quốc được chia thành các giai đoạn sau:
Giai đoạn 1961 – 1971: cuộc nội chiến 1950 – 1953 đẩy Hàn Quốc vào vòng xoáy của nghèo đói, siêu lạm phát và thất nghiệp Từ năm 1962 – 1966, Hàn Quốc bắt tay vào thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất để cải thiện cán cân thương mại, Tổng thống Hàn Quốc Park Chung Hee đã tiến hành thay đổi chiến lược phát triển kinh tế hướng nội trước đó sang chiến lược công nghiệp hóa định hướng xuất khẩu (Export Oriented Industrialization – EOI) thông qua nhiều chính sách can thiệp vào phát triển các ngành công nghiệp chính là các ngành xi măng, phân bón hóa học, sợi tổng hợp và các ngành đảm bảo tự cung tự cấp lương thực thực phẩm, trong đó xuất khẩu được đặt lên hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế Nhờ đó, giá trị xuất khẩu trung bình đạt 384 triệu USD (tốc độ tăng bình quân là 38,2%), giá trị nhập khẩu trung bình đạt 960 triệu USD ( tốc độ tăng bình quân là 21,7%), giá trị thâm hụt cán cân thương mại trung bình là 567 triệu, tỷ lệ thâm hụt giá trị xuất khẩu trên giá trị nhập khẩu bình quân là 262% Tốc độ tăng bình quân của xuất khẩu lớn hơn nhập khẩu và tốc độ thâm hụt cán cân thương mại giảm dần qua các năm cho thấy
sự chuyển biến tích cực trong trạng thái cán cân thương mại Hàn Quốc do Chính phủ đề ra kế hoạch phát triển kinh tế hướng ra xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu hiệu quả
Giai đoạn 1972 – 1979: trong giai đoạn này, lợi thế cạnh tranh trên thị trường thế giới giảm mạnh vì vậy mà Hàn Quốc đã tập trung vào phát triển các ngành công
Trang 24nghiệp hóa chất và công nghiệp nặng nhằm vào các ngành then chốt : sắt và thép, kim loại màu, chế tạo máy, điện tử và hóa chất nền cần nhập khẩu nhiều máy móc thiết bị và nguyên liệu với giá trị lớn Do đó, mức thâm hịt cán cân thương mại bình quân lại cấp gấp đôi giai đoạn trước nhưng tỷ lệ thâm hụt trong giá trị xuất khẩu lại giảm đi đáng kể từ mức 262% giai đoạn trước xuống còn 23%
Giai đoạn 1980 – 1996: tình trạng thâm hụt cán cân thương mại trong thời kỳ đầu những năm 80 có xu hướng giảm và có thặng dư từ năm 1986 – 1989, song sang đầu thập kỷ 90 tình trạng thâm hụt cán cân thương mại lại quay trở lại với giá trị thâm hụt lớn hơn Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tiền tệ châu Á năm 1997 mà Hàn Quốc là quốc gia chịu hậu quả nặng nề nhất đã làm cho tốc độ tăng trưởng kinh
tế giảm xuống còn 4,7% nhưng tốc độ tăng trưởng của xuất khẩu vẫn là 9,3% trong khi nhập khẩu là 0,3% và thâm hụt cán cân thương mại giảm xuống còn 8,4 tỷ USD chỉ chiếm 6,2% giá trị xuất khẩu
Giai đoạn 1997 đến nay: sau khi vượt qua cuộc khủng hoảng tài chính châu
Á năm 1997, cán cân thương mại của Hàn Quốc đã có thặng dư Trong giai đoạn này tốc độ kinh tế Hàn Quốc giữ ổn định ở mức 4,5 %, giá trị thặng dư cán cân thương mại bình quân là 22,6 tỷ USD và chiếm 9,6% trong giá trị xuất khẩu
Trải qua từng giai đoạn trên, mỗi giai đoạn Chính phủ Hàn Quốc đều có được những biện pháp khắc phục tình hình và hướng đi đúng đắn nên đã đưa nền kinh tế Hàn Quốc đi lên và cải thiện tình trạng cán cân thương mại từ thâm hụt sang thặng dư Các chính sách cải thiện thâm hụt thương mại của Hàn Quốc như sau:
Đầu tiên là chính sách tỷ giá hối đoái: như đã phân tích ở trên, tỷ giá hối đoại
có tác động mạnh mẽ đến trạng thái của cán cân thương mại Hàn Quốc đã tác động vào tỷ giá để cải thiện thâm hụt cán cân thương mại Chính sách tỷ giá hối đoái của Hàn Quốc được xây dựng từ chính sách kinh tế của từng thời kỳ nhất định để thúc đẩy được xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu, cải thiện tích cực cán cân thương mại và ổn định giá trị đồng tiền Từ năm 1962 – 1980: tỷ giá được xác định dựa trên quan hệ cung cầu ngoại tệ Do sự hạn chế của việc duy trì tỷ giá cố định làm nền kinh tế Hàn Quốc đi xuống nên từ tháng 3 năm 1965, Hàn Quốc đã thả nổi đồng KRW trên thị trường ngoại hối và chỉ duy trì một loại tỷ giá hối đoái duy nhất Nhờ vậy mà xuất
Trang 25khẩu của Hàn Quốc không ngừng tăng lên Năm 1964, sau khi tiến hành phá giá đồng KRW gần 100%, xuất khẩu của Hàn Quốc đã tăng 36,9% so với năm trước, nhập khẩu giảm 27,9% làm cho thâm hụt cán cân thương mại giảm 32,3% Đến năm
1970, thâm hụt cán cân thương mại Hàn Quốc giảm xuống còn 316,2 triệu USD Từ
1980 – nay: tỷ giá được xác định trên “ giỏ ngoại tệ phức hợp” Tháng 1/1980, Chính phủ phá giá đồng KRW 20% và hệ thống tỷ giá hối đoái cố định được thay thế bởi hệ thống hối đoái linh hoạt dựa trên sự chênh lệch lạm phát trong và ngoài nước và những yếu tố khác như tỷ giá hối đoái của đồng tiền của những đối tác thương mại lớn và các chính sách đối nội Tác động giảm giá trong thời kỳ này đã làm giảm thâm hụt cán cân thương mại Hàn Quốc rõ rệt
Thứ hai là chính sách đầu tư: Hàn Quốc phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn: chính phủ đã đề ra kế hoạch phát triển công nghiệp nặng và hóa chất nhằm vào các công nghiệp then chốt: sắt và thép, kim loại màu, chế tạo máy, điện
tử và hóa chất Tạo lập môi trường kinh tế, hỗ trợ hành chính, xây dựng chính sách khoa học công nghệ Science và Technology để phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn trên
Thứ ba là chính sách ngoại thương: hỗ trợ xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu Đối với xuất khẩu: Chính phủ cho phép các nhà xuất khẩu được thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt, cho phép giữ lại hoặc tùy ý sử dụng ngoại tệ thu được, giành cho các đặc quyền được vay bằng ngoại tệ Đối với hàng nhập khẩu: tăng mức lãi xuất lên gấp đôi với vốn vay cho trả cho hàng hóa nhập khẩu, đánh thuế cao hơn, áp dụng quota… Mở rộng ngoại thương sang các nước nhằm tạo ra nhiều thị trường xuất khẩu cho hàng hóa nước mình
Qua các chính sách của Hàn Quốc ta có thể thấy vai trò của Chính phủ Hàn Quốc trong quá trình cải thiện tình trạng cán cân thương mại
1.4.3 Kinh nghiệm của Trung Quốc
Năm 1979, Trung Quốc đã thực hiện một cuộc cải cách cải tổ và chuyển đổi kinh tế Nhờ có cuộc cải cách này mà nền kinh tế của Trung Quốc đã có những cải thiện và tăng tiến rõ rệt, tạo ra những bước phát triển nhảy vọt Năm 1970, tổng giá trị ngoại thương là 4,6 tỷ USD, nhưng đến năm 1979 đã tăng tới 29,4 tỷ USD, gấp
Trang 26hơn 5 lần so với năn 1970, đến năm 1984, tăng lên là 53,6 tỷ USD, đứng hàng thứ
18 trong các nước xuất khẩu trên thế giới Từ năm 1979 đến nay, Trung quốc luôn
có cán cân thương mại thặng dư Từ năm 1979 - 2004, thặng dư cán cân thương mại trung bình từ 20 - 40 tỷ USD, từ năm 2005 trở đi đã luôn trên mức 100 tỷ USD Đặc biệt là năm 2005 đánh dấu mức tăng trưởng kỷ lục của thặng dư cán cân thương mại của Trung Quốc đạt tới 102 tỷ USD, tăng 217,79% so với năm 2004 Những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc luôn ở mức cao trên 8%, hiện nay Trung Quốc đã vượt Nhật Bản trở thành nền kinh tế đứng thứ 2 trên giới chỉ sau
Mỹ và đang là nhà xuất khẩu lớn nhất thế giới Năm 2011, kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc đạt 1,899 nghìn tỷ USD (Nguồn: Tổng cục hải quan Trung Quốc
Nền kinh tế Trung Quốc, xuất phát từ một nền kinh tế tập trung, quan liêu bao cấp, vậy mà chỉ trong hơn 30 năm qua, kinh tế Trung Quốc đã có được bước tăng trưởng ngoạn mục Kim ngạch xuất khẩu liên tục gia tăng qua các năm và góp phần nâng cao thặng dư cán cân thương mại Từ những kết quả nói trên, ta có thể thấy được đường lối đổi mới và chính sách quản lý của Trung quốc có hiệu quả
Trước tiên nói đến chính sách ngoại thương và quản lý hành chính của Trung Quốc là theo đuổi chính sách tự dựa vào sức mình và những nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi trong quan hệ ngoại thương, tích cực phát triển mối quan hệ thương mại với các nước trên thế giới Trước năm 1980, chỉ có một số công ty chỉ định được phép tham gia hoạt động ngoại thương nhưng từ năm 1980 thì Trung Quốc đã tiến hành công cuộc mở cửa đã chấm dứt tình trạng độc quyền kinh doanh này Hế thống ngoại thương không chỉ có sự tham gia của các doanh nghiệp nhà nước mà đã xuất hiện nhiều công ty liên doanh, công ty có vốn nước ngoài, tập đoàn đa quốc gia,…
Cơ chế xuất nhập khẩu mới đã đẩy nhanh quá trình cải tổ hệ thống phân phối và thương mại Hàng hóa được nhập khẩu một cách thận trọng và có chọn lựa dựa trên
cơ sở những nhu cầu cần thiết của thị trường Xuất khẩu được khuyến khích nhằm củng cố sự phát triển kinh tế đất nước Việc giám sát và quản lí hành chính đối với hoạt động xuất nhập khẩu được thực hiện thông qua hình thức cấp giấy phép và hệ thống hạn ngạch bên cạnh biện pháp thu thuế Trong đó, Trung Quốc cho phép xuất khẩu tự do hàng hóa và công nghệ trừ những hàng hóa phải tuân theo những quy
Trang 27định và luật lệ khác Đối với hàng hóa nhập khẩu phải tuân theo những hạn chế của Chính phủ, Trung Quốc thực thi chính sách quota và giấy phép
Thứ hai là chính sách đầu tư quốc gia: Trung Quốc đã tiến hành cải cách pháp luật nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài Cơ chế kiểm tra giám sát và quản lý đầu tư nước ngoài cũng được thực hiện đơn giản, cởi mở và hiệu quả hơn Nhờ đó
mà trong các năm qua vốn FDI vào Trung Quốc liên tục tăng Đầu tư trực tiếp nước ngoài trở thành động lực và là yếu tố then chốt để nước này thực hiện công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu Vì vậy mà từ một nước nông nghiệp nghèo nàn lạc hậu, xuất khẩu nguyên liệu là chủ yếu, Trung Quốc đã trở thành một nước sản xuất và xuất khẩu chủ yếu các mặt hàng công nghệ chế tạo FDI cũng làm giảm tỷ trọng nhập khẩu của Trung Quốc bởi các cơ sở sản xuất trong nước sản xuất được hàng hóa thay thế nhập khẩu Chính vì vậy mà cán cân thương mại luôn nằm trong trạng thái thặng dư Việc thu hút vốn đầu tư FDI cũng được Trung Quốc tiến hành một cách hợp lý, chia ra thành 3 giai đoạn, mỗi giai đoạn với một chiến lược khác nhau Giai đoạn từ 1979 – 1991: là giai đoạn thử nghiệm với các khoản đầu tư quy mô nhỏ, nguồn vốn chủ yếu đến từ cộng đồng Hoa Kiều ở nước ngoài Lĩnh vực đầu tư
là các ngành cần nhiều lao động Giai đoạn từ 1992 – 2000: Trung Quốc thực hiện nới lỏng hoạt động tín dụng, cắt giảm thuế, mở cửa một số lĩnh vực nhạy cảm… Trong giai đoạn này, lượng vốn FDI vào Trung Quốc đã nhảy vọt từ 4,4 tỷ USD năm 1991 lên hơn 10 tỷ USD năm 1992, đến năm 2000 là hơn 59 tỷ Giai đoạn
2001 đến nay: sau khi Trung Quốc gia nhập WTO, các công ty nước ngoài đã tham gia hẳn vào thị trường Trung Quốc, một số lĩnh vực trước đây hạn chế nay đã được
mở cửa, nguồn vốn FDI thu được phần lớn là từ các công ty đa quốc gia, phân bố nguồn lực một cách hợp lý Theo Bộ Thương Mại Trung Quốc công bố, năm 2010, FDI đổ vào Trung Quốc đã lên tới con số kỷ lục là 105,74 tỷ USD Sự kết hợp giữa nguồn vốn, công nghệ và nhân lực chuyên sâu giá rẻ đã biến Trung Quốc thành nhà cung cấp chính các thành phẩm và bán các thành phẩm cho thế giới, mang lại giá trị xuất siêu lớn cho cán cân thương mại nước này
Sau cùng là chính sách tỷ giá hối đoái: hoàn thiện chính sách tỷ giá hối đoái chính là nhân tố quan trọng trong việc thúc đẩy xuất khẩu và nâng cao thặng dư thương mại ở Trung Quốc trong những năm vừa qua
Trang 28Nguồn: key Indicators for Asia and the Pacific 2011(ADB)
Trung Quốc đã khuyến khích xuất khẩu bằng cách phá giá đồng nội tệ từ những năm 1990, trong giai đoạn 2001 – 2005, Trung Quốc đã giữ mức tỷ giá có lợi cho xuất khẩu Nhờ vào nguồn dự trữ ngoại tệ dồi dào, vì vậy mà Trung Quốc có thể dễ dàng thao túng tỷ giá mà không lo đến sự khủng hoảng trong quá trình điều chỉnh tỷ giá Theo số liệu thống kê cho thấy, kể từ khi phá giá đồng nhân dân tệ, kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc gia tăng nhanh chóng Đặc biệt là năm 2004, tổng kim ngạch xuất khẩu tăng 35,39% mang lại thặng dư lên tới 32 tỷ USD cho cán cân thương mại Nhưng đến năm 2005, tiến hành điều hành tỷ giá theo chiều hướng giảm thì tốc độ tăng trưởng của kim ngạch xuất khẩu cũng giảm dần Thậm chí đến năm 2009, tỷ giá CNY/USD giảm xuống còn 6,38 đã kéo theo sự suy giảm 15,88% trong kim ngạch xuất khẩu Cũng trong năm 2009, thặng dư cán cân thương mại chỉ đạt khoảng 196 tỷ USD, giảm 99,4 tỷ USD so với năm 2008 Rất nhiều nghiên cứu trên thế giới chỉ ra rằng, phá giá tiền tệ từ giai đoạn 1994 -2005 có ảnh hưởng tích cực trong việc thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu của nước này, tác
Trang 29động tích cực trong việc cải thiện cán cân thương mại của Trung Quốc trong giai đoạn vừa qua
Như vậy, bài học áp dụng cách phá giá tiền tệ hợp lý, duy trì trong một khoảng thời gian nhất là một bài học cho các nước đang phát triển tìm hướng đi hợp
lý và chắc chắn nước mình
1.4.4 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc cải thiện cán cân thương mại
Qua nghiên cứu phương pháp điều chỉnh thâm hụt cán cân thương mại của
ba nước Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan có thể rút ra những bài học quý giá có thể áp dụng nhằm cải thiện cán cân thương mại của Việt Nam như sau :
Thứ nhất, cần có sự phối hợp đồng bộ, hợp lý giữa chính sách thương mại, chính sách tỷ giá, chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa Nếu chỉ thay đổi chính sách thương mại thì hiệu quả sẽ rất thấp
Thứ hai, duy trì chính sách tỷ giá hối đoái phù hợp với từng thời kỳ và chiến lược phát triển của quốc gia Lựa chọn đúng thời điểm để phá giá đồng nội tệ khuyến khích xuất khẩu, điều tiết cung cầu ngoại hối hợp lý, duy trì tỷ giá theo hướng nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, không neo giữ đồng nội tệ vào duy nhất một ngoại tệ được xem là chính sách tỷ giá hợp lý
Thứ ba, cần phát triển các ngành sản xuất trong nước, đặc biệt là các ngành mũi nhọn dựa vào lợi thế cạnh tranh quốc gia, qua đó đẩy mạnh công nghiệp hóa, phát triển xuất khẩu Cải thiện hệ thống luật pháp, tạo điều kiện cho doanh nghiệp
mở rộng mạng lưới kinh doanh, phát triển thị trường ra nước ngoài
Thứ tư, cần hỗ trợ và bảo vệ sản xuất trong nước một cách hợp lý Chính phủ
hỗ trợ doanh nghiệp trong việc xúc tiến thương mại, bao tiêu sản phẩm đặc biệt là các sản phẩm nông nghiệp cho người dân, giúp người nông dân an tâm sản xuất Ngoài ra chính phủ cũng nên bảo hộ các ngành sản xuất còn non trẻ, các ngành hàng thiết yếu trong nước, nhất là trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế, nhưng vẫn phải đảm bảo tuân theo các hiệp định thương mại quốc tế đã ký kết
Thứ năm, chính sách đầu tư cần chú trọng thu hút FDI từ các tập đoàn đa quốc gia theo cả hai hướng: thực hiện những dự án lớn, công nghệ cao hướng vào
Trang 30xuất khẩu và tạo điều kiện để một số tập đoàn đa quốc gia xây dựng các trung tâm nghiên cứu, phát triển công nghệ gắn với đào tạo nguồn nhân lực Từ đó, nâng cao khả năng cạnh tranh của các ngành sản xuất hướng về xuất khẩu trong nước, gia tăng kim ngạch xuất khẩu, cải thiện cán cân thương mại quốc gia
Trang 31CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG THÂM HỤT CÁN CÂN THƯƠNG MẠI CỦA VIỆT NAM
2.1 Thực trạng thâm hụt cán cân thương mại của Việt Nam những năm qua
Bảng 2.1: Cán cân thương mại của Việt Nam giai đoạn 1995 -2000
Đơn vị: Triệu USD
Nguồn: Giáo trình kinh tế ngoại thương
Trong giai đoạn này, nhờ chính phủ sử dụng các biện pháp phi thuế quan để hạn chế nhập khẩu một cách mạnh mẽ, hoạt động nhập khẩu bị suy giảm đáng kể, nên thâm hụt thương mại được kiềm chế ở mức thấp Đặc biệt là trong năm 1998 và
1999, tốc độ tăng trưởng nhập khẩu giảm tới mức kỷ lục là -0,8% vào năm 1998 và 2,11% vào năm 1999 Trong khi đó tốc độ tăng trưởng xuất khẩu ngoại trừ năm
1998 là 1,9% thì 3 năm còn lại đều đạt ở mức cao trên 23,3% Nhờ xuất khẩu tăng
Trang 32trưởng một cách mạnh mẽ hơn rất nhiều lần so với nhập khẩu, mà trong giai đoạn này mức cán cân thương mại cũng được cải thiện đáng kể, đặc biệt năm 1999 mức nhập siêu chỉ còn 200 triệu USD
Một nguyên nhân quan trọng nữa làm cán cân thương mại trong giai đoạn này thâm hụt thấp là do cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 Cuộc khủng hoảng làm một loạt đồng tiền của các nước bị giảm giá mạnh so với VND và USD, dẫn tới sự suy giảm sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trên thị trường thế giới Mặt khác nhu cầu ngoại tệ của các doanh nghiệp trong nước không được đáp ứng, dẫn tới khó khăn cho hoạt động xuất khẩu Trước tình hình đó, Chính phủ đã áp dụng nhiều biện pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế: hạn chế nhập khẩu hàng tiêu dùng, kích thích xuất khẩu, giảm nhập siêu và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Cụ thể
là ngân hàng nhà nước đã mở rộng biên độ giao dịch giữa tỷ giá chính thức và tỷ giá trên thị trường liên ngân hàng từ (+/-) 5% lên (+/-) 10%, dẫn tới tỷ giá trên thị trường tăng mạnh, nhưng giá cả không có nhiều biến động, kéo theo đó là sự gia tăng mạnh mẽ của kim ngạch xuất khẩu (tăng 26.6%), trong khi đó nhập khẩu chỉ tăng 4% so với năm 1996 Thêm vào đó, khủng hoảng tài chính gây khó khăn cho các nước trước đây vẫn đầu tư nhiều vào Việt Nam như Hàn Quốc, Đài Loan làm dòng vốn FDI vào Việt Nam giảm sút dẫn tới nhu cầu nhập khẩu máy móc, thiết bị
và các linh kiên cũng giảm theo Tình trạng nhập siêu theo đó mà được hạn chế
2.1.2 Giai đoạn 2001-2005
Kể từ năm 2002, cùng với sự gia tăng mạnh mẽ của tổng kim ngạch xuất nhập khẩu thì thâm hụt cán cân thương mại cũng có xu hướng gia tăng nhanh chóng Nếu như năm 2001 cán cân thương mại của nước ta chỉ thâm hụt 1,19 tỷ USD thì năm 2002 thâm hụt cán cân thương mại lên mức 3,04 tỷ USD tăng 155,7%
so với năm 2001, năm 2003 là 5,11 tỷ USD tăng 68% và vẫn tiếp tục tăng 7,37% vào năm 2004 lên mức 5,48 tỷ USD
Nguyên nhân của tình trạng này, một phần là do nền kinh tế thế giới đã bắt đầu phục hồi và phát triển mạnh mẽ sau khủng hoảng tài chính, đầu tư nước ngoài vào Việt Nam theo đó cũng dần được khôi phục Một phần, là do các cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư, chuyên môn hóa, thúc đẩy xuất khẩu như : thực hiện hiệp
Trang 33định dệt may với Hoa Kỳ, hoàn thuế giá trị gia tăng, thưởng xuất khẩu, tín dụng hỗ trợ xuất khẩu đã giúp xuất khẩu gia tăng nhanh chóng Tuy nhiên, các chính sách khuyến khích đầu tư, cùng với sự gia tăng đầu tư trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đã làm gia tăng nhu cầu nhập khẩu nguyên vật liệu, thiết bị, máy móc điều này cũng làm gia tăng kim ngạch nhập khẩu Hơn thế nữa, trong giai đoạn này các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là quần áo may mặc, giày dép, hàng điện tử… chủ yếu
là hàng gia công, giá trị gia tăng trên mỗi sản phẩm không nhiều, nên hiệu quả mang lại không được cao Do vậy, tuy khu vực đầu tư nước ngoài có ảnh hưởng đến cán cân thương mại theo hiều hướng tốt nhờ gia tăng xuất khẩu, nhưng nhập khẩu gia tăng từ khu vực này lại khiến cán cân thương mại trở nên xấu đi
Thêm vào đó, việc đáp ứng tiến trình gia nhập tổ chức thương mại quốc tế - WTO, cũng như thực hiện các cam kết quốc tế với Hoa Kỳ, AFTA,… chính phủ đã dân dần nới lỏng các biện pháp hạn chế nhập khẩu Từ đó, hàng hóa nước ngoài có
cơ hội tràn vào thị trường trong nước, gây tình trạng gia tăng khối lượng hàng hóa nhập khẩu, có ảnh hưởng không tốt đến cán cân thương mại
Biểu đồ 2.1: Tình hình cán cân thương mại của Việt Nam giai đoạn 2001-2005
Đơn vị : Triệu USD
Nguồn: Tổng cục thống kê
Trang 34Nói chung, trong giai đoạn này kim ngạch xuất nhập khẩu của nước ta tăng khá mạnh, kim ngạch xuất nhập khẩu trung bình đạt 48,15 tỷ USD tăng 102,65% so với giai đoạn 1997-2000
Về xuất khẩu:
Xuất khẩu hàng hoá 5 năm (2001 - 2005) đạt 110,6 tỷ USD, cao hơn 1,8%
so với mục tiêu đặt ra trong Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội 2001-2010, tăng bình quân 17,3%/năm Trong đó, năm 2001 đạt 15,029 tỷ USD tăng 3,8% so với năm trước; năm 2002 đạt 16,706 tỷ USD, tăng 11,2%; năm 2003 đạt 20,149 tỷ USD, tăng 20,8%; năm 2004 đạt 26,503 tỷ USD, tăng 31,5%, năm 2005 đạt 32,2 tỷ USD, tăng 21,5% (Nguồn: Niên giám thống kê 2006)
Xuất khẩu của cả khu vực doanh nghiệp trong nước và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đều tăng Tính chung cả 5 năm 2001 - 2005, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của khu vực doanh nghiệp 100% vốn trong nước là 12,6%/năm, của khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 21,9% Tỷ trọng xuất khẩu bình quân của khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong tổng xuất khẩu của cả nước có xu hướng tăng dần, đạt 57% vào năm 2005 và đạt trung bình 52,1% trong giai đoạn 5 năm 2001-2005 Trong khi đó, tỷ trọng xuất khẩu của khu vực doanh nghiệp 100% vốn trong nước lại có xu hướng giảm dần, đến năm 2005 chỉ còn 43%, tính bình quân trong 5 năm 2001-2005 là 52,1%
Về cơ cấu mặt hàng xuất khẩu, nhìn chung các nhóm hàng đều có tốc độ tăng trưởng khá Trong đó nhóm hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất (tăng 21%), dần chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu (tăng từ 35,7% vào năm 2001 lên xấp xỉ 41% vào năm 2005) Đứng thứ hai là nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản tăng 16,8%, chiếm tỷ trọng 34,2% tổng kim ngạch xuất khẩu Tiếp sau đó là nhóm hàng nông, lâm, thủy sản tăng 12%, chiếm tỷ trọng 25,1%
Đặc biệt năm 2005, ngoài dầu thô có kim ngạch xuất khẩu trên 5 tỷ USD cả nước có thêm 6 mặt hàng khác có kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD là dệt may, thuỷ sản, giày dép, hàng điện tử và linh kiện máy tính, sản phẩm gỗ và gạo Nước ta
Trang 35vẫn duy trì vị trí đứng đầu thế giới về xuất khẩu hạt tiêu, đứng thứ 2 thế giới về xuất khẩu gạo và cà phê, đứng thứ 3 thế giới về xuất khẩu hạt điều…
Trong giai đoạn này, đã có nhiều cải tiến trong cơ cấu hàng xuất khẩu theo hướng giảm dần tỷ trọng các sản phẩm thô, chưa qua chế biến, gia tăng xuất khẩu các mặt hàng đã qua chế biến, có giá trị gia tăng cao hơn, chất lượng tốt hơn, nhằm từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa sản xuất trọng nước, nâng cao chất lượng xuất khẩu
Thị trường xuất khẩu trong giai đoạn này cũng có nhiều chuyển biến tích cực, thông qua việc mở rộng thị trường xuất khẩu sang hai thị trường lớn và ổn định
là Châu Âu và Châu Mỹ giảm dần sự phụ thuộc vào các thị trường châu Á Hàng hóa Việt Nam ngày càng có xuất hiện nhiều trên các thị trường khó tính như Hoa
Kỳ, Nhật Bản, EU Ngoài ra, không thể không kể đến là thị trường Châu Phi đầy tiềm năng Năm 2005, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào châu Phi đạt 660 triệu USD
Về nhập khẩu:
Nhập khẩu hàng hoá thời kỳ 2001 - 2005 đạt khoảng 130 tỷ USD, tăng bình quân 18,9%/năm Trong đó, nhóm hàng nguyên, nhiên, vật liệu chiếm tỷ trọng lớn nhất chiếm 61,6% tổng kim ngạch nhập khẩu, tốc độ tăng trung bình 20%/ năm Đứng thứ hai là nhóm hàng máy móc, thiết bị, phụ tùng chiếm tỷ trọng 31,9%, tốc
độ tăng trung bình năm đạt 20% và đang có xu hướng gia tăng dần qua các năm Tiếp đó là nhóm hàng tiêu dùng chiếm tỷ trọng 6,8%
Nhập khẩu của khu vực doanh nghiệp trong nước chiếm tỷ trọng lớn nhưng
có xu hướng giảm dần qua các năm, đến cuối năm 2005 chiếm 64,1%, cả giai đoạn
2001 - 2005 chiếm khoảng 65%, trog khi đó khu vực có vốn đầu tư nước ngoài có
xu hướng tăng dần, cả giai đoạn chiếm khoảng 35%
Trong giai đoạn này, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao hơn so với tốc độ tăng trưởng nhập khẩu, là một dấu hiệu tích cực trong việc cải thiện cán cân thương mại (năm 2005 cán cân thương mại thâm hụt ở mức 4,3 tỷ USD giảm 21,32% so với mức 5,48 tỷ USD năm 2004) Tuy nhiên, trong giai đoạn này nhập siêu vẫn gia tăng
Trang 36với tốc độ khá nhanh, đỉnh điểm là năm 2004, nhập siêu ở mức 5,48 tỷ USD, cao nhất kể từ khủng hoảng kinh tế 1997 Bên cạnh đó, tổng giá trị nhập siêu trong 5 năm 2001-2005 đạt khoảng 19,13 tỷ USD, cao hơn rất nhiều so với chỉ tiêu đặt ra trong chiến lược là 14,5 tỷ USD Mặc dù tỷ lệ nhập siêu giảm dần trong năm cuối giai đoạn (năm 2005 nhập siêu 4,3 tỷ USD) nhưng nhập siêu ở mức cao và chưa có giải pháp giải quyết hiệu quả đã gây ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế quốc dân, làm
tình hình thâm hụt cán cân thương mại ngày càng trở lên trầm trọng
2.1.3 Giai đoạn 2006-2011
Chiều hướng cải thiện thâm hụt cán cân thương mại của năm 2005, không duy trì được bao lâu, khi bước sang năm 2006, cán cân thương mại của Việt Nam lại bắt đầu gia tăng thâm hụt trở lại Trong khi, kim ngạch xuất khẩu trong năm chỉ đạt 39,83 tỷ USD tăng 22,74% so với năm 2005, thì kim ngạch nhập khẩu lên tới xấp xỉ 45 tỷ USD, tăng 22,12% Đưa mức thâm hụt cán cân thương mại của năm lên mức 5,06 tỷ USD, tăng 17,41% so với năm 2005
Ngày 11/1/2007 đánh dấu một bước tiến lớn của ngoại thương Việt Nam, khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) Trở thành thành viên chính thức của WTO, Việt Nam có nhiều cơ hội để
mở rộng thị trường và phát triển hoạt động ngoại thương hơn Năm 2007, kim ngạch xuất khẩu cả nước đạt 48,56 tỷ USD tăng 21,93% so với năm 2006, bằng 67,9% GDP (thuộc lại cao ở châu Á và thế giới) Kim ngạch xuất khẩu bình quân đầu người đạt 568 USD, cao nhất trong giai đoạn từ trước đến lúc đó Giá trị hầu hết các mặt hàng xuất khẩu đều tăng, trong đó có 9 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD là dầu thô, dệt may, giày dép, thủy sản, sản phẩm gỗ, điện tử máy tính, cà phê, gạo và cao su với kim ngạch đạt 33 tỷ USD, chiếm 68,2% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước Cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu cũng chuyển dần từ nguyên liệu thô sang các mặt hàng chế tác (tăng từ 50,4% năm 2005 lên 52,4% năm 2007) Thị trường xuất khẩu được mở rộng, đặc biệt đã có 10 thị trường xuất khẩu đạt kim ngạch trên 10 tỷ USD
Tuy nhiên so với tiềm năng và cơ hội mang lại từ việc gia nhập WTO thì tình hình gia tăng kim ngạch xuất khẩu của năm 2007 dường như chưa đạt được kết quả
Trang 37tương xứng Trong khi đó, tổng kim ngạch nhập khẩu năm 2007 đạt 62,76 tỷ USD, đứng thứ 41 thế giới, tăng 39,8% so với năm trước đó Đã có 13 mặt hàng đạt kim ngạch từ 1 tỷ USD trở lên: Máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng đạt trên 10 tỷ USD, xăng dầu đạt trên 7 tỷ USD, sắt thép đạt gần 5 tỷ USD, vải 4 tỷ USD, điện tử máy tính và linh kiện đạt gần 3 tỷ USD Thâm hụt cán cân thương mại lên tới 14,2
tỷ USD, bằng 15,47% GDP, cao gấp gần 2,8 lần so với năm 2006 và gần gấp 2 lần
so với kế hoạch Tình trạng cán cân thương mại bị thâm hụt cao được cho là do 2 nguyên nhân chính: các nguồn vốn FDI và ODA vào Việt Nam tăng mạnh dẫn đến nhu cầu nhập khẩu máy móc, trang thiết bị, vật liệu xây dựng tăng cao, hai là do hiệu quả và sức cạnh tranh của hàng hóa sản xuất trong nước còn thấp, chưa cạnh tranh được với hàng hóa nước ngoài
Bảng 2.2: Tình hình cán cân thương mại của Việt Nam giai đoạn 2007-2011
Đơn vị: triệu USD
Trang 38gia tăng giá của hầu hết các mặt hàng trong nước, từ đó gây ảnh hưởng đến tình hình xuất nhập khẩu Theo tổng cục thống kê, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa năm
2008 đạt 62,68 tỷ USD, tăng 29,08% so với năm 2007, trong đó khu vực có vốn đầu
tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 34,9 tỷ USD tăng 25,7% , chiếm 49,7% tổng kim ngạch xuất khẩu, khu vưc kinh tế trong nước đạt 28 tỷ USD, tăng 34,7%, chiếm 50,3% Cả nước có 12 nhóm hàng đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD, trong đó có 5 hàng xuất khẩu vượt kế hoạch năm là gạo, hạt điều, giầy dép, hàng hải sản và rau quả Tuy nhiên các mặt hàng thuộc nhóm hàng có kim ngạch cao đã không hoàn thành
kế hoạch năm như: cà phê, cao su, dầu thô, than đá, chè Ngoài ra còn một số mặt hàng khác không hoàn thành kế hoạch năm như hàng dệt may, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiên, gỗ và các sản phầm làm từ gỗ Tuy kim ngạch hàng hoá xuất khẩu năm 2008 tăng khá cao so với năm 2007 nhưng nếu loại trừ trị giá tái xuất sắt, thép, vàng và yếu tố tăng giá của 8 mặt hàng chủ yếu (dầu thô, than đá, gạo, cà phê, cao su, hạt tiêu, hạt điều, chè) thì kim ngạch hàng hoá xuất khẩu chỉ tăng 13,5% Mặt khác, năm 2008, kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam lên tới 80,71
tỷ USD tăng 28,6% so với năm 2007 bao gồm khu vực kinh tế trong nước đạt 51,8
tỷ USD, tăng 26,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 28,9 tỷ USD, tăng 31,7% Tình hình nhập siêu năm 2008 tăng mạnh trong 5 tháng đầu năm, lên tới 14,4 tỷ USD Mặc dù 7 tháng cuối năm nhập siêu đã được kiềm chế ở mức thấp hơn nhưng vẫn làm cho cán cân thương mại Việt Nam cả năm thâm hụt xấp xỉ 18 tỷ USD (mức thâm hụt cao nhất từ trước đến nay) Tình trạng thâm hụt cán cân thương mại ở mức cao kỷ lục này được cho là do 3 nguyên nhân: thứ nhất, ngoài sự tăng về lượng hàng hóa nhập khẩu còn có thêm sự tăng lên mạnh mẽ của giả cả trên thị trường thế giới; thứ hai, do Việt Nam đang hội nhập mạnh mẽ vào kinh tế thế giới
và đang trong quá trình phát triển nên có nhu cầu cao về nhập khẩu máy móc thiết
bị tiên tiến phục vụ quá trình công nhiệp hóa, hiện đại hóa; thứ ba, do thu nhập ngày càng cao của người dân dẫn đến gia tăng tiêu dùng xã hội, gia tăng các nhu cầu về hàng hóa cao cấp, xa xỉ (tính riêng 5 tháng đầu năm đã có hơn 1 tỷ USD được chi ra
để nhập về nước 35.400 ô tô dưới 9 chỗ, tăng so với cùng kỳ năm 2007 là 7 lần)
Năm 2009, nhập siêu của nước ta giảm đáng kể, xuống còn 12,85 tỷ USD thấp hơn nhiều so với năm 2008 là 18 tỷ USD bằng 22,5% tổng kim ngạch xuất
Trang 39khẩu Tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước năm 2009 là 57,1 tỷ USD giảm 9,7%
so với năm 2008, hầu hết các mặt hàng chủ yếu đều có sự gia tăng sản lượng xuất khẩu so với năm 2008(trừ dầu thô có sự suy giảm 2,4% về lượng dành để cung cấp cho nhà máy lọc dầu Dung Quất) Tổng kim ngạch nhập khẩu đạt 69,95 tỷ USD giảm 13,37% so với năm 2008 Do sự suy giảm về kim ngạch xuất nhập khẩu nên quy mô thương mại quốc tế năm 2009 của Việt Nam cũng đã suy giảm rất nhiều, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt xấp xỉ 127 tỷ USD giảm 11,4% so với năm
2008 Theo số liệu từ tổng cục thống kê, hoạt động xuất khẩu có xu hướng gia tăng trong 3 tháng đầu năm với lượng kim ngạch lớn thu về từ tái xuất vàng(2,287 tỷ USD), tuy nhiên sau đó xuất khẩu lại giảm trong tháng 4 và có xu hướng tăng trong những tháng cuối năm Về phí nhập khẩu, kim ngạch tăng liên tục trong 7 tháng đầu năm,sau đó giảm trong tháng 8 và tiếp tục tăng trong những tháng sau đó Đáng chú
ý là trái ngược với 3 tháng đầu năm có sự chuyển biến tích cực trong cán cân thương mại với thặng dư 1,48 tỷ USD, thì 9 tháng tiếp đó cán cân thương mại đổi chiều liên tục thâm hụt với mức thâm hụt 14,4 tỷ USD Như vậy năm 2009, cả xuất khẩu, nhập khẩu và nhập siêu chúng ta đều không thực hiện được kế hoạch đề ra Tuy nhiên mức nhập siêu giảm khá nhiều so với năm 2008 đã ít nhiều tạo thuận lợi cho việc ổn định kinh tế vĩ mô năm 2009
Năm 2010, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam đạt gần
156 tỷ USD, tăng 23,6% so với năm 2009 Trong đó, trị giá xuất khẩu đạt 71,63 tỷ USD, tăng 25,45% và nhập khẩu xấp xỉ 84 tỷ USD, tăng 20,09% Nhập siêu là 12,4
tỷ USD, bằng 17,5% kim ngạch xuất khẩu của cả nước Tổng trị giá xuất nhập khẩu của khu vực FDI là 70,92 tỷ USD, tăng 41,5% so với năm trước Trong đó, trị giá xuất khẩu là 34,1 tỷ USD, tăng 41,2% và chiếm 47% tổng kim ngạch xuất khẩu của
cả nước Trị giá nhập khẩu của khu vực này là 36,97 tỷ USD, tăng 41,8%, chiếm 43,6% tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước Mặc dù trong năm 2010 mức thâm hụt thương mại còn khá cao, nhưng tỷ lệ tăng trưởng xuất khẩu lại cao hơn khá nhiều so với tỷ lệ tăng trưởng nhập khẩu, điều này đã tạo ra chiều hướng tích cực cho việc cải thiện cán cân thương mại
Bước sang năm 2011, tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam tăng trưởng khá ấn tượng, kim ngạch xuất nhập khẩu đạt mức cao nhất từ trước tới nay 203,66
Trang 40tỷ USD Trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt 96,91 tỷ USD, tăng 35,29% so với năm
2010, có 14 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 2 tỷ USD là: Dệt may 14 tỷ USD, tăng 25,1% so với năm 2010; dầu thô 7,2 tỷ USD, tăng 45,9%; điện thoại các loại và linh kiện 6,9 tỷ USD, tăng 197,3%; giày dép 6,5 tỷ USD, tăng 27,3%; thủy sản 6,1 tỷ USD, tăng 21,7%; điện tử máy tính 4,2 tỷ USD, tăng 16,9%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng 4,1 tỷ USD, tăng 34,5%; gỗ và sản phẩm gỗ 3,9 tỷ USD, tăng 13,7%; gạo 3,6 tỷ USD, tăng 12,2%; cao su 3,2 tỷ USD, tăng 35%; cà phê 2,7
tỷ USD, tăng 48,1%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm gần 2,7 tỷ USD, giảm 5,2%; phương tiện vận tải và phụ tùng 2,4 tỷ USD, tăng 51,3%; xăng dầu 2,1 tỷ USD, tăng 53,6% Tuy nhiên, nguyên nhân chính giúp tăng xuất khẩu năm 2011 lại là do giá thế giới tăng Chẳng hạn, đối với mặt hàng cà phê, yếu tố giá đóng góp 94,4%, với dầu thô là 91,2% và với cao su là 87,7% Tính riêng các nhóm hàng xuất khẩu có thống kê về lượng thì yếu tố tăng giá đóng góp 83,3% trong tăng kim ngạch xuất khẩu trong năm 2011 Như vậy, thành tích tăng kim ngạch xuất khẩu là không chắc chắn, có thể bị đảo ngược khi giá hàng hóa thế giới giảm Nhập khẩu năm 2011 đạt 106,75 tỷ USD, tăng 27,08% so với cùng năm trước, cao hơn mức tăng 20,1% của năm 2010 Nhập khẩu tăng cũng chủ yếu do tăng giá hàng hóa thế giới Chẳng hạn, với mặt hàng xăng dầu, yếu tố giá đóng góp 82% trong mức tăng giá trị nhập khẩu, với chất dẻo là 77,4% Riêng mặt hàng sắt thép, mắc dù lượng nhập khẩu có giảm 20,8% nhưng do tăng giá nên giá trị nhập khẩu vẫn tăng 1,9% Tính riêng các nhóm hàng nhập khẩu có thống kê về lượng thì yếu tố tăng giá đóng góp đến 97,8% trong tăng kim ngạch nhập khẩu Nhờ tình hình nhập khẩu khả quan, năm 2011 nhập siêu của nước ta chỉ còn 9,5 tỷ USD (là mức thấp nhất trong vòng 5 năm qua), là năm có
tỷ lệ nhập siêu so với kim ngạch xuất khẩu thấp nhất kể từ năm 2002
Tóm lại, trong thời gian từ 2006-2011, hoạt động xuất khẩu đã đạt được những bước tiến tích cực, nhiều mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn: từ 4 mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu trên 3 tỷ USD vào năm 2006 tăng lên 8 mặt hàng vào năm 2010 và lên 11 mặt hàng vào năm 2011.Kim ngạch nhập khẩu cũng có tốc độ tăng cao, đặc biệt trong hai năm đầu sau khi Việt Nam trở thành thành viên của WTO: bình quân đạt 68,5 tỷ USD/năm, bằng 2,6 lần con số của thời kỳ 5 năm trước
và tăng bình quân 18%/năm Năm 2011, kim ngạch nhập khẩu đạt 105,77 tỷ USD,