1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò sứ mệnh của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế quốc dân

10 327 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 29,95 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm: Theo Luật số 14/2003/QH11 của Quốc hội quy định về Luật Doanh nghiệp Nhà nước : Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần

Trang 1

Đề bài: Vai trò sứ mệnh của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế

quốc dân

I. Tổng quan về doanh nghiệp nhà nước:

1. Khái niệm:

Theo Luật số 14/2003/QH11 của Quốc hội quy định về Luật Doanh nghiệp Nhà nước : Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ

phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn

Theo quy định tại Luật doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp nhà nước bao gồm 9 loại hình sau:

- Công ty nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu toàn

bộ vốn điều lệ, thành lập, tổ chức quản lý, đăng ký hoạt động theo quy định của Luật này Công ty nhà nước được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước độc lập, tổng công ty nhà nước

- Công ty cổ phần nhà nước là công ty cổ phần mà toàn bộ cổ đông là các công ty nhà nước hoặc tổ chức được Nhà nước uỷ quyền góp vốn, được tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp

- Công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên là công ty trách nhiệm hữu hạn do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ, được tổ chức quản lý và đăng ký hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp

- Công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước có hai thành viên trở lên là công ty trách nhiệm hữu hạn trong đó tất cả các thành viên đều là công ty nhà nước hoặc có thành viên là công ty nhà nước và thành viên khác là tổ chức được Nhà nước uỷ quyền góp vốn, được tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp

- Doanh nghiệp có cổ phần, vốn góp chi phối của Nhà nước là doanh nghiệp mà cổ phần hoặc vốn góp của Nhà nước chiếm trên 50% vốn điều lệ, Nhà nước giữ quyền chi phối đối với doanh nghiệp đó

Trang 2

- Doanh nghiệp có một phần vốn của Nhà nước là doanh

nghiệp mà phần vốn góp của Nhà nước trong vốn điều lệ chiếm từ 50% trở xuống

- Công ty nhà nước giữ quyền chi phối doanh nghiệp khác là công ty sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chiếm trên 50% vốn điều lệ của doanh nghiệp khác, giữ

quyền chi phối đối với doanh nghiệp đó

- Quyền chi phối đối với doanh nghiệp là quyền định đoạt đối với điều lệ hoạt động, việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các chức danh quản lý chủ chốt, việc tổ chức quản lý và các quyết định quản lý quan trọng khác của doanh nghiệp đó

- Công ty nhà nước độc lập là công ty nhà nước không thuộc

cơ cấu tổ chức của tổng công ty nhà nước

2. Sứ mệnh:

Doanh nghiệp nhà nước là một bộ phận trong hệ thống doanh nghiệp của nền kinh tế quốc dân.giữ vai trò, vị trí quan trọng trong việc đảm bảo cân đối vĩ mô của nền kinh tế cũng như tạo

đà tăng trưởng lâu dài bền vừng và hiệu quả cho nền kinh tế Ngoài vai trò về kinh tế, DNNN còn thực hiện một số nhiệm vụ chính trị - xã hội mà Chính phủ đề ra như:

- Các tập đoàn, tổng công ty đóng vai trò quan trọng trong việc bình ổn giá cả, kiềm chế lạm phát, đảm bảo ổn định xã hội, ngăn ngừa sự suy giảm kinh tế, giữ vững tăng trưởng kinh tế Các tập đoàn, tổng công ty góp phần chủ lực bảo đảm an sinh

xã hội, duy trì việc làm cho người lao động, không để xảy ra đình công, bảo đảm thu nhập cho người lao động Các tập đoàn, tổng công ty cũng chú trọng đầu tư các dự án phát triển

cơ sở hạ tầng, thực hiện các nhiệm vụ công ích ở các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn (như Tây Nguyên, Tây Bắc, Miền Trung, ), hỗ trợ các địa phương nghèo Các tập đoàn, tổng công ty tích cực tham gia trong việc triển khai hỗ trợ khó khăn cho các huyện nghèo trên cả nước

- Các tập đoàn, tổng công ty thực hiện nhiệm vụ Chính phủ giao đầu tư những dự án trọng điểm, quan trọng phục vụ

Trang 3

những dự án lớn hoặc hiệu quả về kinh tế thấp nhưng ý nghĩa chính trị và hiệu quả về xã hội lớn mà các doanh nghiệp

thuộc các thành phần kinh tế khác không làm hoặc không có

đủ khả năng làm, đặc biệt những dự án có ý nghĩa quan trọng trong việc chuyển dịch, thay đổi căn bản cơ cấu kinh tế vùng miền theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước như Tập đoàn Dầu khí đầu tư vào Nhà máy lọc dầu Dung Quất tại Quãng Ngãi; Tập đoàn Điện lực Việt Nam đầu tư thuỷ điện Sơn La, Lai Châu, đầu tư phát triển mạng lưới điện ở Tây Nguyên và các tỉnh miền núi, khó khăn; Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam, Tập đoàn Viễn thông quân đội phát triển hệ thống thông tin liên lạc về các vùng sâu vùng xa…

3. Vai trò:

- Doanh nghiệp nhà nước là lực lượng vật chất quan trọng, và

là công cụ quản lý để nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế quốc dân Nhà nước điều tiết phát triển của các thành phần kinh tế thông qua các hệ thống pháp luật, kế hoạch và chính sách, đồng thời sử dụng doanh nghiệp nhà nước như một thực lực kinh tế, làm cơ sở đảm bảo cho những cân đối chủ yếu trong quá trình phát triển nền kinh tế quốc dân

- Doanh nghiệp nhà nước là một trong số các nguồn chủ yếu cung cấp tài chính cho ngân sách nhà nước.nhờ có đóng góp

to lớn về tài chính của các doanh nghiệp nhà nước cho ngân sách, nhà nước có thêm vốn đầu tư vào lĩnh vực kết cấu hạ tầng kinh tế kĩ thuật nhằm đảm bảo cung cấp các loại hàng hóa và dịch vụ công cộng cho xã hội, góp phần tích cực vào nâng cao tốc độ và hiệu quả phát triển nền kinh tế quốc dân

- Doanh nghiệp nhà nước là nơi đặc biệt quan trọng thu hút viện trợ vốn đầu tư nước ngoài cho phát triển kinh tế xã hội của đất nước: để đáp ứng nhu cầu to lơn về vốn cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cần tận lực khai thác các nguồn lực tài chính bên trong nước kết hợp thu hút nguồn nhân lực bên ngoài Thu hút tài trợ các nguồn vốn bên ngoài vào các lĩnh vực như khai thác than, dầu khí, chế tạo hàng điện tử, ô tô, xe

Trang 4

máy… Trong lúc các thành phần kinh tế chưa vươn lên được thì doanh nghiệp nhà nước là đối tác chính trong liên doanh liên kết với bên nước ngoài, chiếm 98% dự án liên doanh với nước ngoài, đồng thời doanh nghiệp nhà nước cũng thực hiện được các hạ tầng kỹ thuật cần thiết đẻ thu hút các doanh nghiệp có vốn trong nước và nước ngoài đầu tư

- Doanh nghiệp nhà nước đang nắm giữ những ngành, những lĩnh vực then chốt hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật quan trọng nhất cho công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, nắm giữ toàn bộ hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội có tính huyết mạch, hầu hết các doanh nghiệp lớn là doanh nghiệp nhà nước trong các ngành xây dựng (giao thông, thuỷ lợi, công nghiệp dân dụng) cơ khí, chế tạo, luyện kim, xi măng, điện

tử, hoá chất, phát dầu điện, dầu khí, thông tin liên lạc, vận tải đường sắt, đường biển, đường không, ô tô… sản xuất hàng công nghiệp tiêu dùng, chế biến nông, thuỷ hải sản xuất khẩu chiếm thị trường áp đảo trong huy động vốn và cho vay

- Các doanh nghiệp nhà nước đã góp phần quan trọng vào việc điều tiết cung cầu, ổn định giá cả, chống lạm phát, ổn định tỷ giá, khắc phục mặt trái của cơ chế thị trường

- Doanh nghiệp nhà nước chiếm 1 phần rất quan trọng trong XNK, trong đó doanh nghiệp nhà nước giữ tỷ trọng tuyệt đối trong hoạt động XNK, riêng công nghiệp năm 1999 đã xuất khẩu được 6,17 tỷ USD (chủ yếu do doanh nghiệp nhà nước) chiếm gần 54% tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn bộ nền kinh tế tổng công ty lương thực miền Nam xuất khẩu, gạo chiếm tỷ trọng 60 - 70% so với cả nước, năm 2000 doanh nghiệp nhà nước chiếm trên 50 % kim ngạch xuất khẩu

- Doanh nghiệp nhà nước đóng góp nguồn thu tập trung lớn và

ổn định cho ngân sách nhà nước Trong khi nhà nước không

dư vốn, ngân sách cấp vốn lưu động cho kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước theo quy định thì nhiều doanh nghiệp

đã tiết kiệm, hình thành vốn tự bổ sung, năng động tìm nguồn vốn bên ngoài, bao gồm vốn vay của các tổ chức tín dụng và vay cùng nhân viên doanh nghiệp

Trang 5

II. Thực trạng các doanh nghiệp nhà nước Việt Nam hiện nay :

1. Thực trạng chung:

Đến cuối 2010, có 1207 DNNN là công ty TNHH một thành viên, 1900 DN Nhà nước có cổ phần chi phối Theo báo cáo của Ban Cải cách và phát triển doanh nghiệp-Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (đơn vị chủ trì đề án), Bộ Kế hoạch và Đầu tư, DNNN hiện chiếm 70% vốn đầu tư của toàn xã hội, 50% vốn đầu tư nhà nước, 60% tín dụng của các ngân hàng thương mại, 70% nguồn vốn ODA

và chỉ đóng góp vào GDP ở mức khoảng 37-38%

2. Thành tựu :

2.1. DNNN vẫn đang là sức mạnh then chốt của Kinh

tế NN và thực hiện những sứ mệnh chính trị DNNN đang là lực lượng chính trong việc sản xuất, dựng xây, tạo ra của cải, vật chất cho đất nước Hiện nay, tuy các DNNN chỉ chiếm hơn 1% về số lượng song lại cung cấp hầu hết các sản phẩm, dịch vụ quan trọng của nền kinh tế, góp phần bảo đảm các cân đối vĩ mô (ngân sách Nhà nước, an ninh lương thực, an ninh năng lượng, cán cân thương mại…), đang là lực lượng sản xuất chủ chốt của nhiều ngành, nhiều lĩnh vực quan trọng như: Bảo đảm hơn 85% sản lượng điện, xăng dầu; thực hiện 98% sản lượng vận tải hàng không nội địa; hơn 90% hạ tầng viễn thông; 56% dịch vụ tài chính, tín dụng; 70% lượng gạo xuất khẩu; hơn 80% phân hóa học… Các doanh nghiệp luôn tạo ra hơn 30% tổng thu ngân sách, chưa tính thu từ dầu thô qua Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam; chiếm 33% tăng trưởng kinh tế Trong số các doanh nghiệp đóng thuế thu nhập doanh nghiệp các năm 2010 và năm 2011 thì doanh nghiệp nhà nước chiếm 16/20 vị trí hàng đầu, trong đó cả 10 doanh nghiệp nộp thuế nhiều nhất đều là DNNN

Các tập đoàn, tổng công ty nhà nước là những đầu tàu kinh tế, tạo nên sức mạnh kinh tế của quốc gia, vẫn tiếp tục dẫn đầu Chỉ tiêu hệ số thu nhập/tài sản (ROA)

Trang 6

và hệ số thu nhập vốn cổ phần (ROE) của các tập đoàn

và tổng công ty lớn ở cả ba khu vực nhà nước, FDI và

tư nhân có mặt trong báng xếp hạng 2010 lần lượt là 20,8%, 27,1% và 15,0%, cho thấy các chỉ tiêu về hiệu quả kinh doanh của các tập đoàn và tông công ty nhà nước không có chênh lệch lớn với khối doanh nghiệp thuộc thành phần sở hữu tư nhân và thua xa các doanh nghiệp thuộc khối FDI

2.2. Góp phần chủ yếu làm đổi thay đất nước

Hiện nay, 95% người sử dụng dịch vụ viễn thông là khách hàng của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) và Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel) Ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa chủ yếu chỉ

có dịch vụ viễn thông của hai doanh nghiệp nhà nước này Không chỉ vậy, Viettel còn đang vươn lên rất nhanh thành một doanh nghiệp viễn thông tầm cỡ toàn cầu, khi đã đầu tư mạng lưới, kinh doanh viễn thông ở 7 quốc gia Ở các quốc gia ấy, Viettel đều nhanh chóng vươn lên vị trí hãng viễn thông số 1, vượt qua nhiều

“đại gia” viễn thông của thế giới chỉ sau vài năm

Đối với ngành điện lực, hệ thống điện quốc gia đã được đưa tới tận những bản làng xa xôi nhất của Việt Nam Theo báo cáo của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN),

tỷ lệ hộ sử dụng điện trên cả nước hiện đạt 97,5%, trong

đó số hộ dân nông thôn có điện đạt 96,8%

2.3. Là công cụ để điều tiết kinh tế-xã hội :

Tại nước ta, từ 2008 đến nay, DNNN là công cụ quan trọng để bảo đảm thực hiện có hiệu quả các chính sách

ổn định vĩ mô, đối phó với những biến động thị trường, kiềm chế lạm phát, giảm thiểu những ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng kinh tế đến nước ta DNNN đã đi đầu trong việc thực hiện chủ trương cắt giảm đầu tư, chi tiêu, không tăng giá bán sản phẩm, dịch vụ thiết yếu Ví dụ: Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam

Trang 7

bán than cho ngành điện với giá bằng 67% đến 70% giá thành và bằng 35% đến 40% giá xuất khẩu; bán cho các doanh nghiệp sắt thép, xi-măng, hóa chất, giấy… bằng 60% giá xuất khẩu Tập đoàn Điện lực Việt Nam bán điện với giá tương đương 70% giá thành

3. Hạn chế, yếu kém:

3.1. Hoạt động kinh doanh ảm đạm, thiếu sự sáng tạo

Theo số liệu mới nhất của Tổng cục Thống kê năm 2011, hàng năm có khoảng 12% DNNN bị lỗ trong sản xuất kinh doanh, trong khi của khu vực doanh nghiệp nói chung là 25% Tuy nhiên, mức lỗ bình quân của một DNNN bị lỗ cao gấp 12 lần so với doanh nghiệp ngoài nhà nước

Kể từ năm 2000 khu vực quốc doanh đã tạo ra 4 triệu việc làm, tức là 9-10% tổng số việc làm trong toàn xã hội Mặc

dù tạo ra ít công ăn việc làm nhưng khu vực công đã nhận được một tỷ lệ vốn đầu tư rất lớn Khu vực công thường chiếm hơn 45% vốn đầu tư của cả nền kinh tế, trừ năm

2007 là năm mà tỷ lệ này giảm bất ngờ xuống dưới 40%; điều này xảy ra chỉ vì vốn FDI tăng lên bất ngờ Năm

2007 với GDP là 71,5 tỷ USD đã có 32,6 tỷ USD dành cho đầu tư Khoảng 15 tỷ USD hay 18% GDP là đầu tư vào vào khu vực công Đầu tư vào doanh nghiệp quốc doanh không được công bố nhưng có thể ước lượng là vào khoảng 8 tỷ USD, bằng 11% GDP vào năm 2007 Đây là con số rất lớn so với 17 tỷ USD đầu tư vào toàn bộ vào khu vực tư nhân, bao gồm toàn bộ các hoạt động kinh tế gia đình các doanh nghiệp tư, nói chúng là khu vực tạo ra 80% việc làm cho toàn xã hội

Bản báo cáo công bố trước Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 13 tháng 8 năm 2008 có kết luận là năm 2006, có 38 (40%) tập đoàn và tổng công ty có hệ số an toàn vốn vượt ngưỡng ba lần, năm ngoái có 31 đơn vị Nhiều tập đoàn, tổng công ty lớn có tổng số nợ cao hơn gấp 10 lần, tức là

"có cơ cấu tài chính bấp bênh, nợ phải trả cao gấp nhiều lần vốn chủ sở hữu nên khả năng thanh toán không được

Trang 8

bảo đảm" Các tập đoàn đều “kinh doanh có lãi, tốc độ tăng trưởng và doanh thu đều năm sau cao hơn năm trước”, song câu hỏi đặt ra là "Doanh nghiệp tăng trưởng

từ sức mạnh nội tại hay đơn thuần do bán tài sản nhà nước" Nhưng quan trọng nhất là nhận định sau của đoàn giám sát: "Chưa có cơ quan nhà nước nào nắm được đầy

đủ, kịp thời về vốn, tài sản tại các TĐ, TCT", là các bộ, tỉnh hầu như không nắm được hoạt động của DNNN, cơ quan quản lý là Bộ Tài chính lại chỉ "quản lý gián tiếp qua báo cáo từ dưới"

3.2. Cơ chế quản lý đầu tư còn nhiều bất cập

Cơ chế quản lý đầu tư còn cồng kềnh, thiếu linh hoạt đã hạn chế hiệu quả đầu tư hiệu quả của DNNN Kết quả thực hiện nhiệm vụ của DNNN chưa tương xứng với quy mô các nguồn lực được đầu tư

III. Giải pháp tái cấu trúc DNNN:

Với mục tiêu tái cấu trúc DNNN nhằm tạo ra một hệ thống DNNN hoạt đông có hiệu quả kinh doanh, đầu tư và xã hội; tạo ra sự phát triển bền vững đối với các DNNN, phát huy vai trò chủ đạo của Khu vực kinh tế NN trong đó DNNN có vị trí quan trọng, tôi có một số giải pháp sau:

- Xem xét, nghiên cứu, đánh giá lại mô hình tập đoàn kinh tế

NN đa ngành, đa lĩnh vực Các Tập đoàn kinh tế Nhà nước chỉ tập trung vào những ngành nghề chính được giao Hệ thống các công ty con được thành lập chỉ là những doanh nghiệp đóng vai trò ngành nghề phụ trợ

- Xóa bỏ các Ngân hàng, công ty tài chính, quỹ đầu tư mạo hiểm trong các Tập đoàn kinh tế NN; Thoái vốn NN do các DNNN đầu tư ở các định chế tái chính Vấn đề này cần được sớm giải quyết để khắc phục, ngắn chặn luồng tín dụng “bừa bãi” gây tình trạng nợ xấu cho các Tập đoàn KT

- Chính phủ trao quyền đại diện sở hữu cho một cơ quan duy nhất Thiết lập hệ thống giám sát chặt chẽ Tách quyền sở hữu với quyền điều hành sản xuất kinh doanh; Trao quyền quản lý, giám sát DNNN mạnh hơn nữa cho các Bộ, Ngành

Trang 9

- Tăng quy mô, năng lực điều hành, nguồn vốn cho các DNNN cần thiết phải duy trì phát triển

- Thiết lập mô hình quản trị DNNN tuân thủ các quy tắc quản trị công ty Quản trị doanh nghiệp quyết định sự sống còn và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong nền kinh tế, giúp các doanh nghiệp vững vàng hơn, tự tin và chủ động hơn trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm, tồn tại và phát triển bền vững trong thời gian tới

- Khẩn trương thiết lập hệ thống giám sát tài chính đủ mạnh, hiệu quả việc quản lý sử dụng vốn để cung cấp thông tin thường xuyên cho cơ quan quản lý giám sát

- Hoàn thiện cơ chế và ban hanh quy chế người đại diện và kiểm soát viên trong DNNN trên cơ sở quy định rõ ràng, chặt chẽ về quyền hạn, nghĩa vụ, và lợi ích để tăng cường hiệu quả giám sát Trao những chế tài đủ mạnh cho các cơ quản

lý, cơ quan giám sát, cơ quan đại diện chủ sở hữu

- Tiếp tục đẩy mạnh công tác sắp xếp, CPH DNNN:

+ Nên duy trì các DNNN 100% vốn nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh; Các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực hạ tầng; đầu tư công nghệ mới; kinh doanh các sản phẩm độc hại

+ Nên cổ phân hóa tất cả các Tập đoàn, Nhà nước chỉ nắm giữ

từ 60% đên 65% vốn Hiện nay thị trường tài chính đang không hấp dẫn, cái mà các nhà đầu tư mong muốn là đâu tư vốn để được tham gia vào quản trị doanh nghiệp 3.Khi có các “nhà tư bản” với vốn tư nhân đầu tư vào DNNN sẽ nâng cao hiệu quả quản trị, giám sát minh bạch các doanh nghiệp này

+ Bán hoàn toàn, giải thể, cho phá sản những doanh nghiệp thua lỗ mà không còn khả năng phục hồi, trong những lĩnh vực xác định không cần duy trì

+ Cổ phần hóa phải thực hiện triệt để, việc bán vốn Nhà nước nhằm đến các nhà đầu tư tư nhân, giảm thiểu các nhà đầu tư chiến lược là chính các Tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước tạo ra sự “lòng vòng”, doanh nghiệp sau khi cổ phần hóa, cổ

Trang 10

đông vẫn chỉ là các cổ đông Nhà nước Nói cách khách “cổ phần hóa” phải thừa nhân là “tư nhân hóa”

+ Chính phủ rà soát và ban hành mới danh mục các ngành, lĩnh vực nhà nước cần duy trì hình thức sở hữu 100% vốn nhà nước, hoặc nắm cổ phần, vốn góp chi phối Phê duyệt và công bố danh mục các DNNN phải cổ phần hóa, chuyển đổi

sở hữu đến 2012, kể cả các Tập đoàn kinh tế, TCT nhà nước + Tái cấu trúc hệ thống quản lý nhà nước về DNNN theo hướng quy trách nhiệm cụ thể đối với từng Bộ, Ngành, cấp quản lý, cá nhân chịu trách nhiệm trước các quyết định quản

- Cần đánh giá một cách khoa học sự tồn tại của SCIC Trên thế giới, mô hình SCIC đã có những cái tên: IRI (Italia), OIAG (Áo), Temasek (Singapor), Khazanah (Malaysia), SASAC và SDIC (Trung Quốc)… Ở châu Âu đã “hoàn tất sứ mệnh” của mình, Temasek, Khazanah, SASAC và SDIC vẫn đang hoạt động tốt Nhưng đã bắt đầu có những dấu hiệu bất

ổn Mặt khác, điều kiện kinh tế, xã hội, thể chế chính trị , dân

số, diện tích ở các quốc gia hoàn toàn không giống chúng ta Nên mô hình này đã “cũ” ở các nước

Ngày đăng: 23/05/2016, 15:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w