1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bồi dưỡng năng lực công tác quốc phòng an ninh cho đội ngũ cán bộ chủ chốt xã, phường, thị trấn ở quân khu 3 hiện nay

211 383 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 211
Dung lượng 11,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyên nhân và một số kinh nghiệm bồi dưỡng năng lực công tác quốc phòng - an ninh cho đội ngũ cán bộ chủ chốt xã, Chương 3 YÊU CẦU VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC CÔNG

Trang 1

NGUYỄN HUY HOÀNG

Bồi dỡng năng lực công tác quốc phòng - an ninh cho đội ngũ cán bộ chủ chốt xã, phờng, thị trấn

ở quân khu 3 hiện nay

Chuyờn ngành: Xõy dựng Đảng và Chớnh quyền Nhà nước

Mó số : 62 31 02 03

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1 PGS, TS Phạm Gia Cư

2 PGS, TS Trần Bỏ Thanh

HÀ NỘI - 2016

Trang 2

tr×nh nghiªn cøu cña riªng t«i C¸c sè liÖu, kÕt qu¶ nªu trong luËn ¸n lµ trung thùc, cã nguån gèc, xuÊt xø râ rµng.

TÁC GIẢ LUẬN ÁNNguyễn Huy Hoàng

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 4

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC

TIỄN BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC CÔNG TÁC QUỐC PHÒNG - AN NINH CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ

1.1 Xã, phường, thị trấn ở Quân khu 3 và năng lực công tác quốc

phòng - an ninh của đội ngũ cán bộ chủ chốt xã, phường, thị

1.2 Những vấn đề cơ bản về bồi dưỡng năng lực công tác quốc

phòng - an ninh cho đội ngũ cán bộ chủ chốt xã, phường, thị

Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM BỒI

DƯỠNG NĂNG LỰC CÔNG TÁC QUỐC PHÒNG - AN NINH CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT XÃ,

2.1 Thực trạng bồi dưỡng năng lực công tác quốc phòng - an ninh

cho đội ngũ cán bộ chủ chốt xã, phường, thị trấn ở Quân khu 3 762.2 Nguyên nhân và một số kinh nghiệm bồi dưỡng năng lực công

tác quốc phòng - an ninh cho đội ngũ cán bộ chủ chốt xã,

Chương 3 YÊU CẦU VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG BỒI

DƯỠNG NĂNG LỰC CÔNG TÁC QUỐC PHÒNG - AN NINH CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN Ở QUÂN KHU 3 HIỆN NAY 1133.1 Sự phát triển của tình hình nhiệm vụ và yêu cầu tăng cường bồi

dưỡng năng lực công tác quốc phòng - an ninh cho đội ngũ cán

bộ chủ chốt xã, phường thị trấn ở Quân khu 3 hiện nay 1133.2 Những giải pháp tăng cường bồi dưỡng năng lực công tác

quốc phòng - an ninh cho đội ngũ cán bộ chủ chốt xã,

Trang 5

CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 159

PHỤ

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Giới thiệu khái quát về luận án

Đề tài luận án có tiêu đề là: “Bồi dưỡng năng lực công tác QP - AN cho đội ngũ cán bộ chủ chốt xã, phường, thị trấn ở Quân khu 3 hiện nay” Đây là vấn đề

đã được nghiên cứu sinh có ý thức tích lũy kiến thức và kinh nghiệm trong 19 nămlàm giảng viên công tác đảng, công tác chính trị ở Học viện Chính trị và Trường Sĩquan Chính trị, trực tiếp giảng dạy, nghiên cứu về công tác đảng, công tác chính trịtrong công tác QS, QP địa phương, trong đó có vấn đề giáo dục và bồi dưỡng kiếnthức QP - AN Trong quá trình học tập, công tác, nghiên cứu sinh tích cực nghiêncứu về thực tiễn công tác giáo dục QP - AN và bồi dưỡng năng lực công tác QP -

AN cho đội ngũ CBCC xã, phường, thị trấn ở nhiều nơi, đặc biệt là ở địa bàn Quânkhu 3; đồng thời đã trực tiếp tham gia bồi dưỡng kiến thức, năng lực công tác QP -

AN cho đội ngũ này Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Xây dựng Đảng Cộng sảnViệt Nam (năm 2009), các chương giáo trình, tập bài giảng, các bài báo khoa họcđăng tải trên các tạp chí trong và ngoài quân đội do nghiên cứu sinh thực hiện cơbản liên quan đến công tác giáo dục, bồi dưỡng năng lực công tác QP - AN

Quá trình triển khai công trình, nghiên cứu sinh đã sưu tầm, nghiên cứunhiều tài liệu về công tác giáo dục QP - AN và bồi dưỡng năng lực công tác QP -AN; tham khảo kết quả nghiên cứu của các công trình, nhóm công trình khoa học

ở trong nước và ở nước ngoài có liên quan; đồng thời dựa vào thực tiễn hoạt độngbồi dưỡng năng lực công tác QP - AN cho đội ngũ CBCC xã, phường, thị trấn ởQuân khu 3, cùng với kết quả điều tra khảo sát thực tế của tác giả về vấn đề này

Nội dung chính của luận án được cấu trúc gồm 3 chương (6 tiết), đảmbảo cho nghiên cứu sinh có điều kiện triển khai nghiên cứu làm rõ những vấn

đề cơ bản về lý luận và thực tiễn, đề xuất những giải pháp tăng cường bồidưỡng năng lực công tác QP - AN cho đội ngũ CBCC xã, phường, thị trấn ởQuân khu 3 hiện nay

Trang 7

2 Lý do lựa chọn đề tài

Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc XHCN, đập tan mọi âmmưu và hành động chống phá cách mạng nước ta của các thế lực thù địch trongmọi tình huống, đòi hỏi phải thường xuyên xây dựng, củng cố nền QPTD và anninh nhân dân vững mạnh, trong đó, giáo dục, bồi dưỡng năng lực công tác QP

- AN cho các tầng lớp dân cư trong xã hội nói chung và cho CBCC các cấptrong hệ thống chính trị nói riêng là một nội dung rất quan trọng Đảng ta chỉrõ: “Phải tăng cường công tác GDQP cho toàn dân, trước hết là đối với cán bộcác cấp, các ngành của Đảng và Nhà nước” [11] “Bồi dưỡng kiến thức QP -

AN là tiêu chuẩn bắt buộc đối với cán bộ, đảng viên, là một trong những tiêuchí để xem xét, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ” [12]

Quân khu 3 là địa bàn chiến lược trọng yếu trong thế trận QPTD của cảnước, là cửa ngõ phía Đông, Đông Nam Thủ đô Hà Nội, vùng lãnh thổ rộng lớn,bao gồm cả miền núi, đồng bằng, đô thị và vùng biển đảo, giầu truyền thốngcách mạng, văn hoá, là khu vực có tiềm lực phát triển KT - XH nhanh, bềnvững, QP - AN thường xuyên được củng cố và tăng cường, nơi bố trí, chuẩn bịsẵn lực lượng cơ động của Bộ Quốc phòng và các khu căn cứ thời chiến củaĐảng, Nhà nước Đội ngũ CBCC xã, phường, thị trấn ở Quân khu 3 là một bộphận trong đội ngũ cán bộ của Đảng, Nhà nước ta; là lực lượng nòng cốt, giữvai trò quyết định trong việc nghiên cứu, quán triệt đường lối, chủ trương củaĐảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các chỉ thị, nghị quyết của cấptrên, vận dụng đúng đắn, sáng tạo vào điều kiện cụ thể của địa phương để đề

ra chủ trương, kế hoạch phát triển KT - XH, củng cố QP - AN; đồng thời, cóvai trò lãnh đạo, quản lý, điều hành, tổ chức thực hiện công tác QP - AN ở địaphương Để hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ của mình, đòi hỏi đội ngũCBCC xã, phường, thị trấn phải có phẩm chất, trình độ, năng lực toàn diện,trong đó phải có năng lực công tác QP - AN tương ứng

Bồi dưỡng năng lực công tác QP - AN cho đội ngũ CBCC xã, phường,thị trấn ở Quân khu 3 là một bộ phận trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ

Trang 8

của Đảng, Nhà nước ta, nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm, trang bị, bổsung tri thức, kỹ năng, kinh nghiệm lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm

vụ QP - AN ở địa phương, bảo đảm cho đội ngũ này có đủ khả năng đáp ứngtốt yêu cầu nhiệm vụ của từng chức danh cán bộ

Hiện nay, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc XHCN và công tác QP - AN ở địaphương trên địa bàn Quân khu 3 đã có sự phát triển với nhiều nội dung, yêu cầumới; tình hình thế giới, khu vực, đặc biệt tình hình Biển Đông có nhiều diễnbiến phức tạp, chứa đựng những yếu tố khó lường; chủ nghĩa đế quốc và các thếlực thù địch tiếp tục đẩy mạnh “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ chống phácách mạng nước ta với những âm mưu thủ đoạn hết sức thâm hiểm… Nhữngvấn đề đó đòi hỏi đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị địa phương trên địabàn Quân khu nói chung và CBCC xã, phường, thị trấn nói riêng phải thườngxuyên được bồi dưỡng năng lực công tác QP - AN

Những năm qua, hoạt động bồi dưỡng năng lực công tác QP - AN chođội ngũ CBCC xã, phường, thị trấn ở Quân khu 3 đã được các cấp uỷ, chínhquyền và các cơ quan chức năng của các địa phương quan tâm lãnh đạo, chỉđạo và tổ chức thực hiện chặt chẽ, nghiêm túc và đạt được những kết quả bướcđầu quan trọng Qua đó nhận thức, trách nhiệm, trình độ, kiến thức, kỹ năngcông tác QP - AN của đội ngũ này được nâng lên đáng kể, góp phần thúc đẩycông tác quân sự, QP - AN ở các địa phương trên địa bàn Quân khu phát triển.Tuy nhiên, trước yêu cầu mới của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc XHCN, trước sựphát triển mới của tình hình, nhiệm vụ chính trị của mỗi địa phương, nhất làcông tác quân sự, QP - AN địa phương, việc bồi dưỡng năng lực công tác QP -

AN cho đội ngũ CBCC xã, phường, thị trấn ở Quân khu 3 còn bộc lộ không ítnhững hạn chế, bất cập Điều đó làm cho năng lực công tác QP - AN của một

bộ phận CBCC xã, phường, thị trấn ở Quân khu chưa đáp ứng yêu cầu chứctrách, nhiệm vụ được giao, làm hạn chế đến kết quả thực hiện công tác quân sự,

QP - AN ở địa phương Vì vậy, nghiên cứu đề tài Bồi dưỡng năng lực công tác

Trang 9

quốc phòng - an ninh cho đội ngũ cán bộ chủ chốt xã, phường, thị trấn ở Quân

khu 3 hiện nay là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục đích

Nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản lý luận và thực tiễn về bồidưỡng năng lực công tác QP - AN cho đội ngũ CBCC xã, phường, thị trấn ởQuân khu 3, trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp tăng cường bồi dưỡng nănglực công tác QP - AN cho đội ngũ cán bộ này ở Quân khu 3 hiện nay

* Nhiệm vụ

- Tổng quan vấn đề nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án

- Luận giải làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về năng lực công tác QP

- AN và bồi dưỡng năng lực công tác QP - AN cho đội ngũ CBCC xã,phường, thị trấn ở Quân khu 3

- Đánh giá đúng thực trạng, chỉ rõ nguyên nhân và rút ra một số kinhnghiệm bồi dưỡng năng lực công tác QP - AN cho đội ngũ CBCC xã, phường,thị trấn ở Quân khu 3

- Xác định rõ yêu cầu và đề xuất những giải pháp tăng cường bồi dưỡngnăng lực công tác QP - AN cho đội ngũ CBCC xã, phường, thị trấn ở Quân khu 3hiện nay

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu

Bồi dưỡng năng lực công tác QP - AN cho đội ngũ CBCC xã, phường,

thị trấn ở Quân khu 3 hiện nay là đối tượng nghiên cứu của luận án

* Phạm vi nghiên cứu

Luận án tập trung nghiên cứu hoạt động bồi dưỡng năng lực công tác QP

-AN cho đội ngũ CBCC các xã, phường, thị trấn trên địa bàn Quân khu 3 hiện nay

Phạm vi khảo sát: Khảo sát điểm ở một số địa phương, cơ quan quân sựđịa phương, trường quân sự tỉnh, thành phố (sau đây gọi chung là cấp tỉnh),trung tâm bồi dưỡng chính trị các huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh

Trang 10

(sau đây gọi chung là cấp huyện) thuộc các tỉnh Hải Dương, Nam Định, HàNam và thành phố Hải Phòng

Tư liệu, số liệu nghiên cứu chủ yếu được giới hạn từ năm 2010 trở lạiđây Các giải pháp được đề xuất có tính cấp thiết và khả thi trong giai đoạn hiệnnay

5 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu

* Phương pháp nghiên cứu

Dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩaMác - Lênin, luận án sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của khoahọc liên ngành và chuyên ngành, trong đó, chú trọng các phương pháp: lôgic,lịch sử, phân tích, tổng hợp, điều tra, khảo sát, thống kê, so sánh, tổng kết thựctiễn và phương pháp chuyên gia

6 Những đóng góp mới của luận án

Trang 11

Xây dựng quan niệm và xác định nội dung, hình thức, biện pháp bồidưỡng năng lực công tác QP - AN cho đội ngũ CBCC xã, phường, thị trấn ởQuân khu 3.

Từ tổng kết thực tiễn, rút ra 4 bài học kinh nghiệm bồi dưỡng năng lựccông tác QP - AN cho đội ngũ CBCC xã, phường, thị trấn ở Quân khu 3

Đề xuất nội dung, biện pháp góp phần tăng cường bồi dưỡng năng lựccông tác QP - AN cho đội ngũ CBCC xã, phường, thị trấn ở Quân khu 3 hiện nay

7 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận án

Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần cung cấp thêm cơ sở khoahọc, giúp cấp uỷ, chính quyền các cấp của các địa phương trên địa bàn Quânkhu 3, đảng uỷ, chỉ huy cơ quan quân sự cấp tỉnh, cấp huyện, lãnh đạo, chỉhuy Trường Quân sự cấp tỉnh, Trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện và các

tổ chức, các lực lượng có liên quan lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện cóhiệu quả hơn đối với việc bồi dưỡng năng lực công tác QP - AN cho đội ngũCBCC xã, phường, thị trấn

Đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho công tácnghiên cứu, giảng dạy, học tập môn công tác đảng, công tác chính trị và cácmôn học liên quan đến giáo dục QP - AN ở các trung tâm giáo dục QP - AN

và các học viện, nhà trường trong và ngoài quân đội

8 Kết cấu của luận án

Luận án gồm: Mở đầu, tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến

đề tài, 3 chương (6 tiết), kết luận, danh mục các công trình khoa học của tác giả

đã được công bố liên quan đến đề tài, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục

Trang 12

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI “BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC CÔNG TÁC QUỐC PHÒNG - AN NINH CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT XÃ,

PHƯỜNG, THỊ TRẤN Ở QUÂN KHU 3 HIỆN NAY”

1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến đề tài luận án

1.1 Về xây dựng, bồi dưỡng năng lực công tác cho đội ngũ cán bộ

* Các công trình, nhóm công trình khoa học ở Liên Xô

Đại tướng A.A.Ê-pi-sép với cuốn sách Một số vấn đề công tác đảng, công tác chính trị trong các LLVT Liên Xô [73], đã khẳng định vai trò, sự cần

thiết phải đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực cho cán bộ chính trịđáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, nhất là bồi dưỡng về trình độ lý luận chính trị Tácgiả cho rằng, đội ngũ cán bộ của Đảng, trong đó có đội ngũ cán bộ chính trịtrong quân đội phải có trình độ, kiến thức về lý luận Mác - Lênin, coi đó làcẩm nang quan trọng chỉ dẫn hoạt động thực tiễn của người cán bộ Vì vậy,theo tác giả, việc bồi dưỡng và đào tạo cán bộ là con đường có hiệu quả nhấtnâng cao kiến thức lý luận và thực tiễn cho cán bộ Đại tướng A.A.Ê-pi-sépcho rằng, tổ chức cần trang bị, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ chính trị những

“kinh nghiệm hoạt động tổ chức, hoạt động Đảng Điều quan trọng là làm saocho mỗi đồng chí đó hiểu biết rõ những đặc điểm của sinh hoạt đảng trong cácLLVT” [73, tr.193] Chỉ ra các hình thức, biện pháp giáo dục, bồi dưỡng, tácgiả đặc biệt nhấn mạnh đến hình thức, biện pháp tự học, tự bồi dưỡng của cán

bộ, coi đây là hình thức quan trọng nhất để nâng cao trình độ lý luận, thực tiễn,kinh nghiệm công tác cho cán bộ

Thiếu tướng P.I.Các-pen-cô (chủ biên) với cuốn Công tác đảng - chính trị trong các LLVT Xô viết [31] đã đề cập khá toàn diện và sâu sắc về vấn đề

đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nhất là đào tạo, bồi dưỡng về lý luận, chính trị Theo

Trang 13

các tác giả, nội dung đào tạo, bồi dưỡng lý luận, chính trị cho cán bộ phải toàndiện, trong đó chú trọng “nghiên cứu khoa học Mác - Lênin, hệ tư tưởng vàđường lối chính trị của Đảng Cộng sản Liên Xô, những vấn đề thời sự của chủnghĩa cộng sản khoa học có liên quan chặt chẽ tới việc lĩnh hội lý luận quân

sự, học thuyết Mác-Lênin về chiến tranh, quân đội và bảo vệ Tổ quốc XHCN,tâm lý học và sư phạm học quân sự, lý luận và phương pháp công tác đảng -chính trị” [31, tr.132]

Các tác giả cho rằng, để huấn luyện, bồi dưỡng trình độ lý luận, chínhtrị cho đội ngũ cán bộ của Đảng phải thực hiện nhiều hình thức và phươngpháp như: giảng bài, xê-mi-na, tổ chức hội nghị lý luận, đọc tác phẩm củaV.I.Lê-nin, diễn đàn sĩ quan, tổ chức các cuộc mạn đàm lý luận, trao đổi cánhân và giải đáp, tự học tập, tự nghiên cứu và thông qua hoạt động thực tiễn [31, tr.133 - 134] Đặc biệt, các tác giả nhấn mạnh đến vai trò của hình thức,

phương pháp tự học, tự nghiên cứu và hoạt động thực tiễn Các ông cho rằng:

“Phương pháp cơ bản của việc học tập lý luận Mác-Lênin cho sĩ quan là việc

tự học, tự nghiên cứu tác phẩm của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Lênin, những nghị quyết của các đại hội, các hội nghị Trung ương Đảng” [31,tr.134]; đồng thời động viên sĩ quan tích cực tham gia hoạt động xã hội - chínhtrị, tham gia công tác cổ động, tuyên truyền, có như vậy mới bảo đảm đượcmối liên hệ chặt chẽ giữa học với hành, giữa học với đời sống đơn vị

Mác-* Các công trình, nhóm công trình khoa học của Trung Quốc

Giáo trình công tác đảng, công tác chính trị của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc, do Chương Tư Nghị làm chủ biên [109] đã xác định rõ ý nghĩa, tầm

quan trọng, nội dung và hình thức, biện pháp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Cụ thể:

Về ý nghĩa, tầm quan trọng, cuốn sách khẳng định, việc đào tạo, bồi

dưỡng cán bộ luôn có tính cấp thiết, là một trong những nhiệm vụ chiến lượclâu dài có ý nghĩa quyết định đến việc xây dựng quân đội cách mạng hóa, hiệnđại hóa và chính quy hóa Theo các tác giả: “Tăng cường bồi dưỡng, nâng caophẩm chất, năng lực của cán bộ là yêu cầu bức thiết của xây dựng “Bốn hóa”,

Trang 14

và hiện đại hóa quân đội… Quân uỷ Trung ương cần phải đưa nhiệm vụ giáodục huấn luyện cán bộ lên vị trí chiến lược, đảng ủy các cấp phải coi trọnggiáo dục, bồi dưỡng cán bộ” [109, tr.336]

Về nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ phải toàn diện,

khoa học, trên tất cả các lĩnh vực, trong đó cần đề cao kiến thức thực tiễn củangười cán bộ Các tác giả viết: “…bồi dưỡng toàn diện cho cán bộ cả về kiếnthức chính trị, quân sự, khoa học tự nhiên và kinh nghiệm thực tiễn; nhữngkiến thức thực tiễn là vấn đề quyết định sự hoàn thành nhiệm vụ của cán bộcác cấp” [109, tr.336] Đồng thời, chú trọng bồi dưỡng nâng cao năng lực sángtạo cho cán bộ, coi đó là nhiệm vụ quan trọng nhất trong hoạt động bồi dưỡngnăng lực của người cán bộ

Về hình thức, biện pháp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ phải sáng tạo, đa dạng,

trong đó xác định, học viện, nhà trường là nơi quan trọng nhất, là con đường cóhiệu quả nhất để đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đồng thời phải kết hợp chặt chẽ vớiviệc “Bồi dưỡng nâng cao trình độ cán bộ trong thực tiễn công tác” [109, tr 341].Đây là hình thức cơ bản, phương pháp chủ yếu và là truyền thống tốt đẹp trongviệc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của Đảng và Quân Giải phóng nhân dân TrungQuốc Mặt khác, các tác giả cho rằng, “tự học thành tài là con đường chủ yếu đểcán bộ đạt được tri thức, là cái nôi đào tạo ra nhân tài” [109, tr.347]

Tăng Ngọc Thành và Chu La Canh,“Thúc đẩy cải cách, tiến lên phía trước” [135] Đây là cuốn sách chuyên khảo tổng kết thành tựu, kinh nghiệm

công cuộc cải cách, mở cửa của Trung Quốc Các tác giả cho rằng, để TrungQuốc vượt qua thách thức, tiếp tục đưa công cuộc cải cách, mở cửa tiến lên,một trong những kinh nghiệm quý giá là phải coi trọng xây dựng, bồi dưỡngđội ngũ cán bộ cách mạng, năng động, sáng tạo, nhất là cán bộ mới và cốtcán cách mạng

Theo các tác giả, Đảng cần phải xây dựng và hoàn thiện “Chiến lượcnhân tài”, trọng tâm là hướng vào việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ hiền tài kếtục sự nghiệp cách mạng Để đào tạo, bồi dưỡng cán bộ có hiệu quả cần phải

Trang 15

tích cực cải cách việc dạy và học ở các trường đảng, coi trọng đưa cán bộ ranước ngoài đào tạo, bồi dưỡng; phải đa dạng hoá các loại hình đào tạo, bồidưỡng; tăng cường tính thực tiễn trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ.

Thẩm Vinh Hoa và Ngô Quang Diệu với sách chuyên khảo “Tôn trọng tri thức, tôn trọng nhân tài, kế lớn trăm năm chấn hưng đất nước” [78] đã

phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ cán

bộ Trung Quốc trong thời kỳ mới, trong đó tri thức được đề cao Các tác giảcho rằng: để xây dựng thành công CNXH mang mầu sắc Trung Quốc, thìĐảng phải tìm cho ra và đào tạo, bồi dưỡng được đội ngũ cán bộ “tài, đứcsong toàn”, hết lòng vì sự nghiệp cách mạng Vì vậy, nội dung đào tạo, bồidưỡng cán bộ phải toàn diện, cả phẩm chất và năng lực, trước hết là phẩm chấtchính trị, sự kiên trì con đường XHCN và năng lực chuyên môn nghiệp vụ.Các tác giả khẳng định: “Chúng ta cần xây dựng một đội ngũ cán bộ kiên trìcon đường XHCN, có tri thức và năng lực chuyên môn, phải tích cực bồidưỡng để có những chuyên gia kỹ thuật hàng đầu thế giới” [78, tr.146]

1.2 Về giáo dục, bồi dưỡng năng lực, kiến thức quốc phòng - an ninh

* Các công trình, nhóm công trình khoa học của Liên Xô

Đại tướng A.T.An-tu-nin (chủ biên), Phòng thủ dân sự [1] Đây là tài

liệu giáo khoa trình bày nội dung huấn luyện cho nhân dân Liên Xô về các vấn

đề phòng thủ dân sự Theo các tác giả, phòng thủ dân sự là sự nghiệp của toàndân Mỗi công dân của Tổ quốc đều phải nắm vững những kiến thức cần thiết

về phòng thủ dân sự để sẵn sàng hành động đúng đáp ứng các điều kiện đặcbiệt của chiến tranh

Các tác giả cho rằng, nội dung huấn luyện, bồi dưỡng cho nhân dân phảitoàn diện, bao gồm: phẩm chất chính trị, tinh thần và tâm lý; những kiến thứccần thiết và quy tắc về phòng tránh vũ khí huỷ diệt lớn; những kỹ năng cần thiết

để tham gia vào các biện pháp phòng thủ dân sự Phải sử dụng nhiều hìnhthức, biện pháp huấn luyện, bồi dưỡng cho nhân dân, như: giảng dạy một cách

có tổ chức; tổ chức cho nhân dân tham gia các cuộc diễn tập ở cơ sở; phải

Trang 16

“thường xuyên tự mình học tập tổ chức các buổi nói chuyện, xem phim vàxem truyền hình về các vấn đề phòng thủ dân sự…” [1, tr.31]

N.I.Nie-kra-xốp, Công tác tổ chức giáo dục thể thao quốc phòng trong trường học [115] Đây là công trình khoa học bàn về việc tổ chức các hoạt

động thể thao quốc phòng trong hệ thống trường học ở Liên Xô Tác phẩm đãtổng kết quá trình hoạt động của Hội tình nguyện giúp đỡ hải, lục, không quântoàn Liên Xô (gọi tắt là hội Đô-xáp Liên Xô) trong các trường học, nhằm giáodục tinh thần yêu nước, ý thức cảnh giác cách mạng, bồi dưỡng, huấn luyệnnhững kiến thức, kỹ năng QS, QP cần thiết cho học sinh

Theo tác giả, các chi hội Đô-xáp cơ sở có vai trò quan trọng, nhằm giúphọc sinh thực hiện “ước mơ trở thành những phi công anh dũng, những thuỷthủ can đảm, những nhà chế tạo máy bay và động cơ, những nhân viên điệnđài khéo léo, nhà sáng chế các công trình vô tuyến điện độc đáo” [115, tr.7],giúp học sinh học bắn súng giỏi, bơi lội, chèo thuyền, hành quân bộ, lái môtô,ôtô, nhảy dù… Tác giả đã trích dẫn lời của Anh hùng Liên Xô Lakop Pavơlốptrong cuốn “Tôi đã học tập được gì trong hội quốc phòng” (do Nhà xuất bảnĐô-xáp ấn hành năm 1955) rằng: “Ngay từ bây giờ, lúc mà bạn còn chưa mặc

áo lính, bạn hãy học tập một cách kiên trì tất cả những cái gì cần thiết trongchiến tranh Bạn cần phải biết đào công sự giỏi, phải biết bơi, biết bò, biếttrườn, phải hiểu động cơ hoặc ít nhất cũng phải biết lái ôtô, phải hiểu biết vôtuyến điện Và tất nhiên bạn phải biết bắn trúng đích Tất cả những cái đó, hộiĐô-xáp sẽ huấn luyện cho bạn” [115, tr.8]

N.I.Nie-kra-xốp cho rằng, việc huấn luyện cho học sinh những kiến thức

cơ bản về quân sự sẽ góp phần củng cố khả năng phòng thủ đất nước Ông kếtluận: mỗi người Xô-viết yêu nước, bất kỳ ở cương vị nào đều cần thiết đượcchuẩn bị về mặt quốc phòng

* Công trình khoa học ở Trung quốc

Tài liệu “Đại cương GDQP toàn dân của Trung Quốc” (theo Tạp chíDân binh Trung Quốc, 12/2006) [153] đã chỉ rõ:

Nhiệm vụ cơ bản của GDQP toàn dân là phổ cập kiến thức quốc

phòng, bồi dưỡng kỹ năng quân sự, bồi dưỡng nhân tài dự bị quốc phòng,

Trang 17

khơi dậy lòng yêu nước, tăng cường lòng tự tôn, tự hào dân tộc và nâng caotính tự giác chấp hành nghĩa vụ quốc phòng của công dân với phương châmtoàn dân tham gia, kiên trì lâu dài, chú trọng hiệu quả thực tế

Nguyên tắc của GDQP là: kết hợp giáo dục thường xuyên với tập trung,

giáo dục phổ cập với trọng điểm, giáo dục lý luận với thực tiễn

Nội dung GDQP gồm: lý luận quân sự; tri thức quân sự; lịch sử quân sự;

pháp quy quốc phòng; tình hình, nhiệm vụ quốc phòng và kỹ năng quân sự

Đối tượng GDQP ở Trung Quốc gồm: nhân viên công tác trong cơ quan

nhà nước; học sinh, sinh viên; dân binh trong ngạch dự bị và các đối tượng khác

Đối với đối tượng là nhân viên công tác trong cơ quan nhà nước, tài liệu

hết sức coi trọng GDQP cho cán bộ lãnh đạo Tài liệu chỉ rõ: “Cán bộ lãnh đạo

các cấp là người tổ chức, người lãnh đạo GDQP của địa phương mình, của ngànhmình, cũng là đối tượng trọng tâm của GDQP, tích cực tham gia các hoạt độngGDQP” [153, tr.6] Tài liệu cho rằng, nội dung GDQP cho cán bộ lãnh đạo phảitoàn diện, bảo đảm cho họ có tố chất lý luận tương ứng để thực hiện chức tráchquốc phòng, hiểu rõ pháp luật, pháp quy quốc phòng, nắm vững phương châmchính sách xây dựng quốc phòng; phải có ý thức quốc phòng cao, có quan điểmnhất quán gắn quốc phòng với kinh tế; có đủ kiến thức quốc phòng cần thiết, có ýthức về chủ quyền an ninh quốc gia; phải có tố chất quân sự nhất định, có thểlãnh đạo quần chúng nhân dân tham gia chiến đấu

Biện pháp GDQP đối với cán bộ lãnh đạo là: Trường đảng, học việnhành chính, trường bồi dưỡng cán bộ các cấp phải đưa GDQP vào kế hoạchdạy học, bồi dưỡng cán bộ, mở khoá trình GDQP Các địa phương, các ngànhdựa vào việc bố trí thống nhất của nhà nước để lựa chọn cán bộ lãnh đạo đibồi dưỡng ở các học viện, nhà trường quân sự; phải tổ chức các buổi báo cáotình hình, nói chuyện về tri thức quốc phòng, tổ chức các hoạt động như “ngàyquân sự”, tổ chức GDQP thường xuyên cho cán bộ lãnh đạo

* Công trình khoa học ở Cộng hoà Pháp

Cục đối ngoại, Bộ Quốc phòng Việt Nam, với tài liệu “Giới thiệu về Họcviện quốc phòng cấp cao Pháp” (Do Tuỳ viên quân sự Pháp tại Việt Nam cung cấp)[41] đã đề cập một số vấn đề cơ bản về GDQP cho cán bộ lãnh đạo cấp cao Pháp

Trang 18

Tài liệu cho rằng: Quốc phòng không còn là lĩnh vực riêng biệt của quânđội và chính quyền mà liên quan đến mọi công dân và mọi lĩnh vực hoạt độngkhác của đất nước Vì vậy, “cần thiết phải thông tin rộng rãi về nền quốcphòng cho những người chịu trách nhiệm về đời sống của đất nước và tiếp đến

là phổ cập tư tưởng quốc phòng trong toàn quốc” [41, tr.2]

Tài liệu chỉ rõ, nhiệm vụ chủ yếu của Học viện Quốc phòng là cung cấpcho các quan chức Pháp những thông tin chuyên đề trọng yếu liên quan đếnquốc phòng; nghiên cứu đề tài về quốc phòng; giúp đỡ các trường đại học vàcác cơ quan nghiên cứu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ về lĩnh vực quốc phòng

Học viên tham dự các khoá học thuộc các ngành: quân đội, các cơ quancông cộng, các xí nghiệp, các nghề tự do và báo giới Danh sách học viên đượcThủ tướng phê duyệt và công bố trên công báo

Chương trình, nội dung của các khoá học được xây dựng sao cho họcviên tiếp nhận được thông tin những vấn đề lớn về quốc phòng, bảo đảm cuốikhóa học, học viên có thể trình bày suy nghĩ và kiến nghị của mình về nền quốcphòng theo cách họ quan niệm cho một giai đoạn từ 20 đến 30 năm, đồng thờixem xét tất cả các yếu tố hạn chế về lĩnh vực này

Học viên được tiếp nhận thông tin bằng nhiều hình thức, biện pháp khácnhau như: qua các chủ đề bài giảng; qua các cuộc hội thảo, thảo luận; qua cácchuyến tham quan thực tế tới các cơ quan chỉ huy, các đơn vị tiêu biểu vềphòng thủ bảo vệ tổ quốc và các chuyến đi học tập ở nước ngoài

Kết quả học tập và những nhận định, kiến nghị của học viên mỗi khoáhọc được Học viện tổng hợp và gửi tới các bộ trưởng có liên quan thông qua

cơ quan Tổng thư ký quốc phòng Các cơ quan hữu quan có thể tìm thấynhững phân tích, kiến nghị hữu ích để giúp chính phủ hoạch định chính sáchquốc phòng của đất nước phù hợp

2 Các công trình nghiên cứu ở trong nước liên quan đến đề tài luận án

2.1 Về xây dựng, bồi dưỡng năng lực công tác cho đội ngũ cán bộ

xã, phường, thị trấn

Trang 19

Phạm Công Khâm, Xây dựng đội ngũ CBCC cấp xã nông thôn Đồng bằng sông Cửu Long, Luận án Tiến sĩ, năm 2002 [87] Trong luận án, tác giả

đã đề cập sâu sắc vị trí vai trò, đặc điểm của đội ngũ CBCC cấp xã đồng bằngsông Cửu Long, đánh giá thực trạng, chỉ ra nguyên nhân, rút ra những kinhnghiệm, đề xuất mục tiêu và hệ thống giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ nàyvững mạnh Những kinh nghiệm mà tác giả chỉ ra đáng chú ý là: xây dựng độingũ CBCC cấp xã phải sát với tình hình đặc điểm điều kiện tự nhiên, KT - XHcủa vùng, gắn xây dựng đội ngũ CBCC cấp xã với xây dựng cấp uỷ, chínhquyền và các đoàn thể vững mạnh Trong hệ thống giải pháp, tác giả luận ánđặc biệt nhấn mạnh đến nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng CBCC cấp

xã Theo tác giả, cần đổi mới mạnh mẽ chương trình, nội dung, đa dạng hóacác loại hình đào tạo, vận dụng linh hoạt các hình thức, phương pháp, tạo môitrường thuận lợi cho CBCC cấp xã phấn đấu rèn luyện đáp ứng yêu cầu sựnghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Đồng bằng sông Cửu Long

Sách chuyên khảo của Tiến sĩ Mai Đức Ngọc về Vai trò cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp xã trong việc giữ vững ổn định chính trị - xã hội ở nông thôn nước

ta hiện nay [110] Tác giả quan niệm: “Cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp xã là

những người đứng đầu, giữ vị trí trọng yếu nhất trong hệ thống chính trị ở cơ

sở, có ảnh hưởng quyết định đến chấp hành chủ trương, chính sách, nghị quyếtcủa Đảng, pháp luật của Nhà nước thông qua việc trực tiếp lãnh đạo và tổ chứcthực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội trên địabàn” [110, tr.63] Theo tác giả, đội ngũ cán bộ này có vai trò rất quan trọng: lànhững người trực tiếp thực thi đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ở cơsở; trực tiếp tác động và đại diện hợp pháp cho lợi ích chính đáng của nhân dân;

là người chủ động, sáng tạo, quyết đoán trong quá trình thực thi công vụ và thúcđẩy sự phát triển mọi mặt đời sống xã hội ở cơ sở; là người giải toả các mâuthuẫn, xung đột ở cơ sở để tạo ra sự đồng thuận trong đời sống cộng đồng

Trên cơ sở phân tích thực trạng, tác giả đề xuất 6 giải pháp nâng cao vaitrò cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp xã trong việc giữ vững ổn định chính trị - xã

Trang 20

hội ở nông thôn hiện nay Trong đó, tác giả đặc biệt đi sâu phân tích giải pháp

về “Đổi mới và tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo chủchốt cấp xã” Theo tác giả, đây là một trong những công việc quan trọng bậcnhất của công tác cán bộ ở cơ sở, quyết định chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạochủ chốt cấp xã [110, tr.190 - 191] Nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡngphải hướng vào nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý gắn với cương vị, chứctrách cụ thể của cán bộ, bao gồm ba khối kiến thức: kiến thức cơ bản và cơ sở;kiến thức nghiệp vụ chuyên ngành; kiến thức bổ trợ Phương pháp đào tạo, bồidưỡng phải bảo đảm hình thành cho người học phương pháp tư duy, phươngpháp xử lý tình huống, phương pháp lãnh đạo, quản lý ở tầm nghệ thuật.Phương pháp dạy và học phải nhằm phát huy tính tích cực chủ động, tư duynăng động, sáng tạo của người học, bồi dưỡng cho họ năng lực tự học, tự đàotạo, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên Cần mở rộng, đa dạng hoá các loạihình đào tạo, trong đó tập trung vào hai loại hình cơ bản là đào tạo tập trung vàđào tạo tại chức, lấy hình thức đào tạo tập trung là chủ yếu

Sách chuyên khảo do Nguyễn Thái Hoà chủ biên, Xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc Khmer ở cơ sở xã, phường, thị trấn khu vực Tây Nam bộ” [79] Trong cuốn sách, tác giả đã xây dựng hệ thống tiêu chuẩn chung và

tiêu chuẩn cho các chức danh cụ thể của đội ngũ cán bộ cơ sở người dân tộcKhmer Để xây dựng đội ngũ cán bộ này đạt được những tiêu chuẩn đó, tácgiả đã đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ, trong đó, tập trung đi sâu phân tíchgiải pháp về đào tạo, bồi dưỡng nâng cao phẩm chất, trình độ, năng lực côngtác cho họ; có cơ chế chính sách khuyến khích đội ngũ này tự học tập, tự bồidưỡng vươn lên đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ

Bài báo Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã các tỉnh Tây Bắc trong giai đoạn hiện nay của Cầm Thị Lai và Phạm Thị Thuý Vân, [90].

Trong bài báo, các tác giả đã luận giải làm rõ vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ,công chức cơ sở ở Tây Bắc trong phát triển KT - XH, giữ vững an ninh chính trị,trật tự an toàn xã hội ở cơ sở, địa phương; đồng thời, đề xuất những giải phápnhằm nâng cao trình độ năng lực chuyên môn, lý luận chính trị, rèn luyện đạođức cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở Tây Bắc Một trong những vấn đề

Trang 21

quan trọng mà các tác giả bài báo nêu lên là thường xuyên quan tâm bồi dưỡng,làm chuyển biến thật sự về nhận thức, trình độ, năng lực công tác cho đội ngũcán bộ, công chức cơ sở đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới

2.2 Về giáo dục, bồi dưỡng năng lực, kiến thức quốc phòng - an ninh

* Về công tác GDQP - AN toàn dân

Lê Minh Vụ (Chủ nhiệm đề tài cấp nhà nước), Đổi mới GDQP trong hệ thống giáo dục quốc gia [163] Trên cơ sở trình bày, làm rõ các quan niệm:

quốc phòng, GDQP trong hệ thống giáo dục quốc gia, đề tài đi sâu phân tíchquá trình phát triển tư duy lý luận của Đảng về quốc phòng và GDQP qua từnggiai đoạn cách mạng, nhất là trong sự nghiệp đổi mới đất nước Đề tài khẳngđịnh, đổi mới GDQP là đổi mới toàn diện tất cả các nội dung, biện pháp cấuthành GDQP, từ nhận thức đến hành động; từ nội dung, chương trình, phươngpháp giáo dục đến đánh giá kết quả; từ cơ chế tổ chức quản lý đến người dạy,người học, điều kiện đảm bảo và chế độ chính sách Yêu cầu đổi mới GDQPphải hợp lý, đồng bộ, thống nhất và phù hợp với đối tượng người học

Đề tài xác định những căn cứ, đánh giá thực trạng và rút ra những kinhnghiệm đổi mới GDQP trong hệ thống giáo dục quốc gia Trên cơ sở dự báonhững nhân tố tác động, xu hướng vận động của công tác GDQP trong hệthống giáo dục quốc gia đến năm 2020, đề tài đã xác định 3 quan điểm, 6 giảipháp cơ bản nhằm đổi mới GDQP trong hệ thống giáo dục quốc gia ở nước ta

từ nay đến năm 2020

Sách chuyên khảo của Nguyễn Bá Dương, Tư duy lý luận của Đảng ta

về đổi mới GDQP trong tình hình hiện nay [46] đã khẳng định, GDQP có vị

trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng, củng cố nền QPTD

và bảo vệ Tổ quốc XHCN Trong cuốn sách, tác giả đã phân tích sự phát triển

tư duy lý luận về đổi mới GDQP của Đảng ta; đi sâu luận giải làm rõ tính tấtyếu khách quan, nội dung, yêu cầu và những vấn đề có tính quy luật đổi mớiGDQP trong tình hình hiện nay

Trên cơ sở tổng kết, đánh giá thực tiễn, xác định rõ sự tác động của tìnhhình thế giới, khu vực, tác giả đề xuất hệ thống giải pháp hiện thực hoá tư duy

Trang 22

lý luận của Đảng ta về đổi mới GDQP trong tình hình hiện nay Theo đó, phảitiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, quản lý của Nhànước đối với công tác GDQP; đổi mới mục tiêu, khung nội dung, chương trình

và phương pháp môn học GDQP; nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên,giảng viên và các lực lượng tham gia GDQP

Trần Đình Đích, Một số vấn đề về đổi mới chương trình, nội dung GDQP hiện nay [71]; Phùng Quang Thanh, Tăng cường GDQP - AN trong thời

kỳ đất nước hội nhập kinh tế quốc tế [133]; Nguyễn Thiện Nhân, Tiếp tục đẩy mạnh GDQP - AN đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới [113]; Nguyễn Thành Đô, Một số vấn đề đổi mới, nâng cao chất lượng công tác GDQP - AN hiện nay [72]; Đỗ Bá Tỵ, Đẩy mạnh công tác GDQP - AN đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc [156] Các bài báo khoa học đã khẳng định, trong thời

gian qua, công tác GDQP - AN được triển khai sâu rộng tới mọi đối tượng, thựchiện tương đối thống nhất, đồng bộ ở mọi cấp, mọi ngành từ Trung ương đến cơ

sở, thông qua đó đã tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong cán bộ, đảng viên vàtoàn dân về nhận thức, trách nhiệm đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Tuynhiên, công tác GDQP - AN còn nhiều hạn chế bất cập, chưa đáp ứng kịp yêucầu nhiệm vụ xây dựng nền QPTD, an ninh nhân dân của từng địa phương và

cả nước, đòi hỏi sớm được khắc phục trong thời gian tới

Trên cơ sở dự báo tình hình, các tác giả đã đề xuất những giải pháp tiếptục triển khai thực hiện công tác GDQP - AN trong thời gian tới, trong đó chútrọng vào những giải pháp: Tăng cường sự lãnh đạo của cấp uỷ, sự quản lýđiều hành của chính quyền và vai trò tham mưu của các ban, ngành, đoàn thể;tiếp tục đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp, hình thức GDQP - ANphù hợp với từng đối tượng; tiếp tục kiện toàn tổ chức, nâng cao chất lượng,hiệu quả hoạt động của Hội đồng GDQP - AN các cấp

Một số bài báo về công tác GDQP - AN trên địa bàn Quân khu 3, tiêu

biểu như: Nguyễn Duy Nguyên, Công tác GDQP - AN ở Hải Dương và một

số vấn đề đặt ra [112]; Nguyễn Tiến Phong, Nhìn lại 10 năm thực hiện công tác GDQP - AN ở Thành phố Hải Phòng [117]; Nguyễn Thanh Thược, Quân khu 3

Trang 23

thực hiện tốt công tác GDQP - AN [142]; Bùi Viết Thi, Ninh Bình thực hiện tốt công tác GDQP - AN [139]; Đào Tuấn Anh, Thái Bình thực hiện tốt công tác GDQP - AN [2] Các bài báo đã khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của công

tác GDQP - AN trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời chỉ rõcông tác này trên địa bàn đã có bước chuyển toàn diện cả bề rộng và chiềusâu, đạt hiệu quả thiết thực; tuy nhiên vẫn còn những bất cập, hạn chế như:việc quán triệt và tổ chức thực hiện ở một số cơ sở thiếu chặt chẽ, nội dung,hình thức chưa đa dạng, phong phú Trên cơ sở đó, các tác giả đã đúc rút một

số kinh nghiệm, đề xuất những giải pháp nhằm không ngừng nâng cao chấtlượng của công tác GDQP - AN trên địa bàn

* Về GDQP - AN cho học sinh, sinh viên

Phạm Xuân Hảo, GDQP cho sinh viên đại học hiện nay [75]; Phạm Gia

Cư (Chủ nhiệm đề tài), Nâng cao chất lượng GDQP cho sinh viên trên địa bàn

Hà Nội hiện nay [44] Ở các góc độ tiếp cận khác nhau, các công trình khoa

học nêu trên đã phân tích làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn của vấn đề nghiêncứu, trong đó, đặc biệt đi sâu làm rõ một số quan niệm về GDQP cho sinhviên; chỉ rõ vị trí, vai trò, đặc điểm, xác định tiêu chí và những vấn đề có tínhnguyên tắc trong GDQP cho đối tượng này Trên cơ sở đánh giá thực trạng,các công trình xác định phương hướng, yêu cầu và những giải pháp cơ bản đểnâng cao chất lượng GDQP cho sinh viên trong giai đoạn hiện nay

Đặc biệt, đề tài khoa học do Tiến sĩ Phạm Gia Cư làm Chủ nhiệm đãkhẳng định: Trong giai đoạn hiện nay, GDQP cho sinh viên là nhiệm vụ chiếnlược cơ bản, thường xuyên và mang tính cấp bách đối với sự nghiệp cách mạngnước ta Thông qua GDQP, góp phần hình thành và phát triển nhân cách conngười mới XHCN, có đạo đức, có sức khoẻ; đồng thời hình thành ở họ ý thức,tri thức về quốc phòng, kỹ năng hoạt động quân sự cần thiết để tham gia vào sựnghiệp xây dựng, củng cố nền QPTD, sẵn sàng tham gia LLVT bảo vệ Tổ quốc[44, tr.13 - 14] Hệ thống giải pháp mà các tác giả đề xuất khá đồng bộ và cótính khả thi Một trong những giải pháp có tính đột phá được các tác giả luậngiải sâu sắc là thường xuyên đổi mới nội dung, chương trình, đa dạng hoá các

Trang 24

hình thức, biện pháp GDQP cho sinh viên, có như vậy mới đáp ứng kịp sự pháttriển của tình hình, nhiệm vụ, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của người học,khắc phục sự nhàm chán và nhận thức không đúng về vị trí, vai trò môn học củamột bộ phận không nhỏ cán bộ, giảng viên và sinh viên bấy lâu nay

* Bồi dưỡng năng lực, kiến thức QP - AN cho đội ngũ cán bộ các cấp của Đảng, Nhà nước và đoàn thể

Cục Nhà trường, Bộ Tổng tham mưu, GDQP đối với cán bộ công chức của Đảng, Nhà nước và đoàn thể [42]; Hồ Sỹ Luyến (Chủ biên), Tổ chức, phương pháp bồi dưỡng kiến thức quốc phòng cho cán bộ các cấp của Đảng, Nhà nước và đoàn thể [98] Các công trình này đã đi sâu phân tích làm rõ vai trò,

đặc điểm và nguyên tắc đối với công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốcphòng cho cán bộ, công chức của Đảng, Nhà nước, đoàn thể; đánh giá thực trạng

và rút ra một số kinh nghiệm, từ đó xác định phương hướng, yêu cầu và nhữnggiải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng GDQP, tổ chức, phương pháp bồi dưỡngkiến thức quốc phòng cho đội ngũ cán bộ các cấp của Đảng, Nhà nước và đoànthể

Đặc biệt, công trình do Tiến sĩ Hồ Sĩ Luyến chủ biên đã chỉ rõ, tổ chức,phương pháp bồi dưỡng kiến thức quốc phòng cho cán bộ các cấp của Đảng,Nhà nước và đoàn thể bao gồm nhiều hoạt động nhằm giải quyết thống nhất cáckhâu chỉ đạo, hiệp đồng, điều hành và tổ chức thực hiện Theo các tác giả, hìnhthức bồi dưỡng kiến thức quốc phòng cho đối tượng này gồm ba nhóm chính là:nhóm các hình thức bồi dưỡng lý luận; nhóm các hình thức bồi dưỡng năng lựcthực hành; nhóm các hình thức đánh giá kết quả bồi dưỡng Trong một hìnhthức bồi dưỡng có thể chỉ dùng một phương pháp bồi dưỡng hoặc vận dụng kếthợp các phương pháp bồi dưỡng khác nhau như: phương pháp giảng bài,phương pháp hướng dẫn - tự nghiên cứu, phương pháp thảo luận, phương phápnghiên cứu thực tế, phương pháp chỉ đạo bài tập, phương pháp đánh giá kết quảbồi dưỡng [98, tr.110 - 111] Các tác giả cho rằng, cần phải thực hiện đồng bộnhiều giải pháp bồi dưỡng, như: khảo sát, đánh giá đúng đối tượng; xây dựng

Trang 25

đội ngũ giáo viên; xây dựng hệ thống giáo trình thống nhất, hoàn chỉnh; tăngcường lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ công tác GDQP và hoàn thiện hệ thống cácvăn bản pháp quy về GDQP.

Một số công trình khoa học bàn về bồi dưỡng năng lực, kiến thức QP

-AN cho đội ngũ CBCC cấp huyện và tương đương (đối tượng 2), tiêu biểu như: Phạm Viết Vần, Bồi dưỡng kiến thức quốc phòng cho cán bộ đầu ngành cấp tỉnh, thành phố và CBCC cấp huyện, quận ở Trường Quân sự Quân khu 3 trong giai đoạn hiện nay [159]; Đàm Quốc Việt, Bồi dưỡng kiến thức quốc phòng cho CBCC cấp quận, huyện của Quân khu Thủ đô hiện nay [162]; Hà Công Chờ, Phát triển ý thức quốc phòng của học viên bồi dưỡng kiến thức quốc phòng ở Trường Quân sự Quân khu 7 hiện nay [39]; Nguyễn Văn Bạo (Chủ nhiệm đề tài), Nâng cao chất lượng bồi dưỡng kiến thức QP - AN cho đối tượng 2 ở Học viện Chính trị hiện nay [9]

Các công trình khoa học trên đây đã xây dựng quan niệm, nêu bật vịtrí, vai trò, đặc điểm, tiêu chí và những vấn đề có tính nguyên tắc bồi dưỡng

và nâng cao chất lượng bồi dưỡng kiến thức QP - AN cho đội ngũ CBCC cấphuyện, cán bộ đầu ngành cấp tỉnh, CBCC cấp cục, vụ, viện và tương đương(đối tượng 2) Trên cơ sở đánh giá thực trạng và rút ra một số kinh nghiệmbồi dưỡng, các công trình đã đề xuất những giải pháp chủ yếu nâng cao chấtlượng bồi dưỡng kiến thức QP - AN cho đội ngũ cán bộ này ở các địa bànThủ đô Hà Nội, Quân khu 3, Quân khu 7, bảo đảm cho họ có đủ phẩm chất,kiến thức và năng lực tham gia quản lý nhà nước về QP - AN ở các bộ, ban,ngành và địa phương theo cương vị chức trách được giao

Đặc biệt, công trình khoa học do Tiến sĩ Nguyễn Văn Bạo làm chủnhiệm đã đánh giá khái quát tình hình thực tiễn về giáo dục, bồi dưỡng kiếnthức QP - AN ở nước ta Từ tổng kết thực tiễn, dự báo những nhân tố tácđộng, các tác giả đã đề xuất yêu cầu nâng cao chất lượng bồi dưỡng kiến thức

QP - AN cho đối tượng 2 ở Học viện Chính trị là: phải bám sát thực tiễn tìnhhình nhiệm vụ QP - AN, gắn chặt với chức trách nhiệm vụ của người học; bồi

Trang 26

dưỡng phải trên cơ sở nắm vững quan điểm kế thừa và phát triển; phải toàndiện chuyên sâu, sát với tình hình nhiệm vụ trong giai đoạn mới; phát huy sứcmạnh tổng hợp của tất cả các lực lượng tham gia bồi dưỡng Hệ thống giảipháp mà các tác giả đề xuất khá đồng bộ, có tính khả thi, trong đó các tác giảcho rằng, giải pháp về: nâng cao nhận thức trách nhiệm của các lực lượng; đổimới nội dung, chương trình và phương pháp bồi dưỡng; phát huy tính tích cực,chủ động tự bồi dưỡng của người học là những giải pháp rất quan trọng, cótính đột phá nhằm nâng cao chất lượng bồi dưỡng kiến thức QP - AN cho đốitượng 2 ở Học viện Chính trị hiện nay

3 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố liên quan đến đề tài luận án và những vấn đề luận án tập trung giải quyết

* Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố

Các công trình khoa học trong và ngoài nước trên đây đã góp phần khẳngđịnh: đội ngũ cán bộ nói chung, trong đó có đội ngũ CBCC xã, phường, thị trấnnói riêng có vai trò hết sức quan trọng, liên quan trực tiếp đến vận mệnh củamỗi quốc gia, dân tộc và từng địa phương, cơ sở Vì vậy, đào tạo, bồi dưỡngcán bộ là nội dung cốt lõi, then chốt để xây dựng đội ngũ cán bộ vững mạnhđáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao Các công trình đều cho rằng đào tạo, bồidưỡng cán bộ là giải pháp quan trọng bậc nhất của công tác cán bộ, có ý nghĩaquyết định chất lượng đội ngũ cán bộ, nhất là ở cơ sở

Một số công trình trong và ngoài nước đã bàn khá toàn diện về bồi dưỡngnăng lực, kiến thức QP - AN cho các đối tượng, trong đó có đối tượng là độingũ cán bộ các cấp Những công trình này đều khẳng định sự cần thiết, mụctiêu, yêu cầu, nội dung, hình thức, biện pháp bồi dưỡng năng lực, kiến thức QP

- AN cho đội ngũ cán bộ, góp phần bảo đảm cho đội ngũ cán bộ có đủ khả năngtham gia quản lý nhà nước về công tác QP - AN

Trang 27

Có một số công trình đã xây dựng quan niệm, tiêu chí và những vấn đề cótính nguyên tắc giáo dục, bồi dưỡng năng lực, kiến thức QP - AN cho đội ngũcán bộ trong hệ thống chính trị của nước ta, nhất là CBCC cấp huyện, cán bộđầu ngành cấp tỉnh, CBCC cấp cục, vụ, viện và tương đương (đối tượng 2);đồng thời, chỉ rõ nội dung bồi dưỡng toàn diện cả về tri thức, kỹ năng, kỹ xảo,kinh nghiệm thực tiễn đáp ứng mục tiêu, yêu cầu đề ra Các công trình đã đánhgiá khá toàn diện thực trạng, xác định nguyên nhân và rút ra một số kinhnghiệm bồi dưỡng; trên cơ sở đó đề xuất nhiều hình thức, biện pháp bồi dưỡngtương đối phong phú, đa dạng, từ nhận thức, trách nhiệm, lãnh đạo, chỉ đạo,tham mưu, triển khai tổ chức thực hiện đến sơ tổng kết, rút kinh nghiệm

Kết quả nghiên cứu của các công trình này có giá trị thiết thực đối vớiviệc nghiên cứu, xây dựng luận án của tác giả Đây là những tài liệu cần thiết,quan trọng, cung cấp cho tác giả cơ sở lý luận, thực tiễn để luận giải nhữngvấn đề cơ bản về bồi dưỡng năng lực công tác QP - AN cho đội ngũ CBCC xã,phường, thị trấn ở Quân khu 3 hiện nay Tác giả trân trọng kế thừa kết quảnghiên cứu của các công trình này để luận giải làm rõ những nội dung mà luận

án của tác giả đặt ra

Tuy nhiên, đến nay chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu về đội ngũCBCC xã, phường, thị trấn ở Quân khu 3, về năng lực công tác QP - AN và bồidưỡng năng lực công tác QP - AN cho đội ngũ này

* Những vấn đề đặt ra luận án tập trung giải quyết

- Xây dựng quan niệm, chỉ rõ những đặc điểm cơ bản của xã, phường,thị trấn ở Quân khu 3; xây dựng quan niệm về đội ngũ CBCC xã, phường, thịtrấn ở Quân khu 3, xác định đúng thành phần, chức danh, đặc điểm và vai tròcủa đội ngũ cán bộ này

- Xây dựng quan niệm và xác định những yếu tố cấu thành, con đườnghình thành, phát triển năng lực công tác QP - AN của đội ngũ CBCC xã,phường, thị trấn ở Quân khu 3

Trang 28

- Xây dựng quan niệm, chỉ rõ đặc điểm, xác định tiêu chí và những vấn đề

có tính nguyên tắc bồi dưỡng năng lực công tác QP - AN cho đội ngũ CBCC xã,phường, thị trấn ở Quân khu 3

- Khảo sát, nhận định, đánh giá đúng thực trạng; xác định đúng nguyênnhân và rút ra một số kinh nghiệm bồi dưỡng năng lực công tác QP - AN chođội ngũ CBCC xã, phường, thị trấn ở Quân khu 3

- Dự báo, phân tích sự phát triển của tình hình, nhiệm vụ tác động trựctiếp đến hoạt động bồi dưỡng; đề xuất yêu cầu và những giải pháp tăng cườngbồi dưỡng năng lực công tác QP - AN cho đội ngũ CBCC xã, phường, thị trấn

ở Quân khu 3 hiện nay

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC CÔNG TÁC QUỐC PHÒNG - AN NINH CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN Ở QUÂN KHU 3 1.1 Xã, phường, thị trấn ở Quân khu 3 và năng lực công tác quốc phòng - an ninh của đội ngũ cán bộ chủ chốt xã, phường, thị trấn ở Quân khu 3

1.1.1 Xã, phường, thị trấn ở Quân khu 3

* Khái quát một số nét cơ bản về Quân khu 3

Quân khu 3 có vị trí chiến lược trọng yếu, then chốt về QP - AN và đốingoại trong thế trận phòng thủ của miền Bắc và cả nước; là cửa ngõ phía ĐôngNam Thủ đô Hà Nội; là vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, với vành đai tamgiác kinh tế: Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh

Quân khu 3 có Phía Bắc giáp Trung Quốc; phía Tây Bắc giáp Quân khu1; phía Tây, Tây Nam giáp Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội và Quân khu 2; phíaNam giáp Quân khu 4; phía Đông nhìn ra vịnh Bắc Bộ rộng lớn Đứng chântrên địa bàn Quân khu 3 bao gồm 9 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

Trang 29

(tỉnh Hải Dương, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình, Hà Nam, Thái Bình, HoàBình, Quảng Ninh và thành phố Hải Phòng), với 94 huyện, quận, thị xã, thànhphố thuộc tỉnh (trong đó có 3 huyện biên giới, 21 huyện miền núi, 15 huyệnven biển và 4 huyện đảo) Quân khu 3 có diện tích tự nhiên hơn 20.200km2,trên 130km đường biên giới trên bộ giáp với Trung Quốc, gần 500km bờ biển

và có trên 3.000 đảo lớn, nhỏ án ngữ phía Đông và Đông Bắc Tổ quốc Dân sốcủa các địa phương trên địa bàn Quân khu 3 là trên 12 triệu người, có 5 tôngiáo và 23 dân tộc sinh sống đan xen [167]

Quân khu 3 là vùng đất ngàn năm văn hiến, giàu truyền thống yêu nước

và cách mạng, nơi sản sinh ra nhiều bậc hiền tài của dân tộc Suốt mấy nghìnnăm lịch sử dựng nước và giữ nước, nhân dân các địa phương trên địa bànQuân khu từ đời này đến đời khác đã đổ nhiều xương máu đánh đuổi kẻ thùxâm lược để giữ vững độc lập, chủ quyền của Tổ quốc, bảo vệ quê hương;đồng thời ra sức lao động quên mình phát triển KT - XH, xây dựng cuộc sốngngày càng phồn vinh, hạnh phúc

Ngày nay, các địa phương trên địa bàn Quân khu có chính trị ổn định,kinh tế phát triển nhanh, kết cấu hạ tầng ngày càng phát triển GDP trung bìnhhàng năm tăng trưởng khá nhanh, riêng năm 2014 ước đạt 9,31%, trong đó tỉnh

Hà Nam đạt 13,5% [67] Địa bàn Quân khu 3 có hệ thống giao thông rất thuậnlợi Hệ thống đường bộ gồm có các tuyến quốc lộ: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 10, 11, 12, 18,

21 và nhiều đường liên tỉnh, liên huyện Hệ thống đường sắt có các đường: HảiPhòng - Hải Dương - Hà Nội, Ninh Bình - Nam Định - Hà Nam - Hà Nội Hệthống đường thuỷ có các sông như: sông Chu, sông Mã, sông Linh Cơ, sôngLuộc, sông Thái Bình, sông Hồng, sông Cầu, sông Đuống… Văn hoá, xã hộicủa các địa phương phát triển khá, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dânđược cải thiện rõ rệt, bộ mặt đô thị, nông thôn từng bước đổi mới; QP - ANngày càng được củng cố và tăng cường, góp phần giữ vững an ninh chính trị,trật tự an toàn xã hội trên địa bàn Quân khu và cả nước

Trang 30

Tuy nhiên, tình hình KT - XH của các địa phương trên địa bàn Quân khuđang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức Nhịp độ phát triển kinh tế của một

số địa phương chưa vững chắc; cơ cấu kinh tế còn có biểu hiện bất hợp lý, kếtcấu hạ tầng KT - XH thiếu đồng bộ và không đồng đều giữa các địa phương.Đời sống của một bộ phận nhân dân, nhất là vùng thuần nông, thuần ngư cònnhiều khó khăn Mức sống giữa thành thị và nông thôn có sự chênh lệch lớn Tệnạn xã hội, nhất là ở cơ sở có chiều hướng gia tăng và ngày càng phức tạp

Trong thời kỳ mới, nhiệm vụ của các địa phương trên địa bàn Quân khurất nặng nề Cùng với phát triển KT - XH nhanh, bền vững, từng bước cải thiện,nâng cao đời sống nhân dân, các địa phương phải thực hiện có hiệu quả côngtác quân sự, QP - AN Trong đó, phải chú trọng thực hiện tốt nhiệm vụ sẵn sàngchiến đấu và chiến đấu thắng lợi đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá củacác thế lực thù địch; chủ động xây dựng, luyện tập và sẵn sàng thực hiện cácphương án phòng ngừa, ngăn chặn, đối phó với các tình huống phức tạp có thểxảy ra, nhất là các hoạt động tranh chấp biển đảo, xâm lấn biên giới, vi phạmvùng trời, lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để thực hiện mục đích chính trịphản động; đấu tranh phòng chống buôn lậu, ngăn ngừa, xoá bỏ các tụ điểmphức tạp về tệ nạn xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trênđịa bàn Những nhiệm vụ đó đang đặt ra yêu cầu rất cao về phẩm chất, trình độ,kiến thức, năng lực công tác QP - AN của đội ngũ cán bộ đảng, chính quyền,đoàn thể ở địa phương, trong đó có đội ngũ CBCC xã, phường, thị trấn

* Quan niệm về xã, phường, thị trấn ở Quân khu 3

Theo Từ điển tiếng Việt, “xã, đơn vị hành chính cơ sở ở nông thôn, baogồm một số thôn” [161, tr.1456]; “phường, đơn vị hành chính cơ sở ở nộithành, nội thị, tổ chức theo khu vực dân cư ở đường phố, dưới quận” [161,tr.1018]; “thị trấn, khu vực tập trung dân cư, sinh hoạt chủ yếu là sản xuất thủcông nghiệp, thương nghiệp, quy mô nhỏ hơn thị xã” [161, tr.1201]

Trang 31

Như vậy, xã, phường, thị trấn là đơn vị hành chính cơ sở ở nông thôn,nội thành, nội thị, tổ chức theo khu vực dân cư, bao gồm các thôn, ấp, bản,khu phố, dưới huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh

Từ những vấn đề trên, có thể quan niệm: Xã, phường, thị trấn ở Quân khu 3 là đơn vị hành chính nhà nước thấp nhất trong hệ thống tổ chức hành chính của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam; là một thành phần cơ bản của khu vực phòng thủ cấp huyện; được tổ chức theo khu vực dân cư ở nông thôn

và thành thị, hợp thành bởi các thôn, xóm, khu phố trên địa bàn, có ranh giới, lãnh thổ, tổ chức bộ máy theo quy định của cấp có thẩm quyền; là nơi nhân dân địa phương trực tiếp sinh sống, lao động sản xuất và chiến đấu để xây dựng, bảo vệ quê hương, đất nước; có vai trò quan trọng trong phát triển

KT - XH, củng cố QP - AN ở địa phương

* Đặc điểm của xã, phường, thị trấn ở Quân khu 3

Xã, phường, thị trấn ở Quân khu 3 có đầy đủ đặc điểm của xã, phường,thị trấn Việt Nam, song do điều kiện địa lý, KT - XH và phong tục tập quánnên nó có những đặc điểm riêng Những đặc điểm đó là:

Thứ nhất, xã, phường, thị trấn ở Quân khu 3 đa dạng về địa lý, bao gồm

cả miền núi, đồng bằng, đô thị, ven biển và hải đảo.

Phần lớn địa phận Quân khu 3 thuộc vùng đồng bằng châu thổ Sông Hồng,được hình thành trên một lớp đá kết tinh cổ, trên cùng là lớp trầm tích sa bồi Địahình nơi đây thường xen kẽ giữa đồi núi, châu thổ và thung lũng, có nhiều ôchũng tự nhiên và đầm lầy; ngoài ra một số nơi là hải đảo Hiện nay, Quân khu 3

có 1.821 xã, phường, thị trấn, trong đó có 368 xã, phường, thị trấn thuộc miềnnúi, vùng cao (chiếm 20,2%), 29 xã, thị trấn đảo (chiếm 1,59%), 16 xã biên giớitrên bộ (chiếm 0,88%), 135 xã, phường, thị trấn thuộc vùng biên giới biển (chiếm7,4%), còn lại là đồng bằng, đô thị [167] Các xã, phường, thị trấn ở Quân khu 3nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, hình thành 2 mùa rõ rệt: mùa hè nóng

ẩm, mưa nhiều, mùa đông khô, lạnh; nhiệt độ trung bình trong năm khoảng từ 23

-24 độ C; lượng mưa trung bình từ 1800 - 2000mm/năm; số giờ nắng trung bình đạt

1600 - 1800 giờ/năm Được thiên nhiên ưu đãi, nên phần lớn các dân tộc Việt đềuhội tụ về đây sinh cơ lập nghiệp, hình thành nên các làng, xã

Trang 32

Điều kiện tự nhiên nơi đây đã tạo thuận lợi cho nhân dân các xã, phường,thị trấn trong vùng sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp đạt năng suất cao; pháttriển các ngành thủ công nghiệp, làng nghề, nhất là dịch vụ, du lịch, với nhiềuđiểm du lịch nổi tiếng như: Sầm Sơn, Cát Bà, Vịnh Hạ Long, Bãi Cháy, đảoTuần Châu, Cửa Ông, chợ Viềng, đền Trần, chùa Bái Đính, Nhà thờ đá PhátDiệm, Tam Cốc - Bích Động, vườn quốc gia Cúc Phương… Từ xa xưa, nhândân trong vùng đã chú ý đến sản xuất các vật phẩm tiêu dùng nông - lâm - ngưnghiệp, tiểu thủ công nghiệp… Vì thế, hoạt động thương mại, dịch vụ diễn ra từkhá sớm và tương đối nhộn nhịp, nhất là ở các địa phương vùng đồng bằng, đôthị Hiện nay ở hầu hết các thôn, làng, bản của các xã, thị trấn đều hình thànhcác chợ tạm, chợ cóc phục vụ cho nhu cầu buôn bán, sinh hoạt của người dân,nhờ đó đời sống của nhân dân từng bước được cải thiện và nâng cao Tuy nhiên,cũng từ đó mà phát sinh nhiều hệ luỵ không mong muốn như các tệ nạn xã hội,tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội phức tạp.

Thứ hai, các xã, phường, thị trấn ở Quân khu 3 có truyền thống cách mạng lâu đời trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc.

Các xã, phường, thị trấn ở Quân khu 3 có truyền thống lịch sử, văn hiếnlâu đời, là vùng đất “địa linh nhân kiệt”, nơi phát tích của các triều đại Lý, Trần,Lê…, nơi sinh ra và gắn liền với tên tuổi của nhiều anh hùng dân tộc, danh nhânvăn hoá thế giới như: Nữ tướng Lê Chân, Triệu Quang Phục, Trần Lãm, Đinh

Bộ Lĩnh, Trần Hưng Đạo, Phạm Ngũ Lão, nhà giáo lớn Chu Văn An, TrươngHán Siêu, Nguyễn Trãi, Nhà bác học lỗi lạc Lê Quý Đôn, Hoàng Hoa Thám, TôHiệu Do được thừa hưởng truyền thống lịch sử cách mạng, văn hiến lâu đời,nên người dân nơi đây giàu lòng yêu nước, lao động cần cù, sáng tạo, thực sự làlực lượng cách mạng đông đảo, là động lực to lớn trong sự nghiệp xây dựng vàbảo vệ quê hương, đất nước

Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, vớitruyền thống “đoàn kết, hy sinh, chiến thắng”, quân và dân các xã, phường, thịtrấn ở Quân khu 3 đã anh dũng, bền bỉ chiến đấu và giành được nhiều thắng lợi

Trang 33

to lớn, vẻ vang Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, quân và dân nơi đây đãtham gia đánh gần 80.000 trận, tiêu diệt gần 400.000 tên địch, bắn rơi 126 máybay các loại, đánh đổ 1.300 đầu tàu, toa xe lửa quân sự Trong cuộc khángchiến chống Mỹ, quân và dân các xã, phường, thị trấn ở Quân khu 3 đã phốihợp, hiệp đồng chặt chẽ với các đơn vị quân đội góp phần đánh thắng 2 cuộcchiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của Mỹ, cùng quân và dânThủ đô lập lên một “Điện Biên Phủ trên không”; đã đánh 39.450 trận, bắn rơi1.526 máy bay, bắn cháy, chìm 75 tàu chiến, rà, phá, tháo gỡ 68.962 quả bom,mìn, thuỷ lôi; chi viện cho các chiến trường hàng vạn thanh niên, hàng chục vạntấn lương thực và hàng hoá góp phần đắc lực thực hiện thắng lợi nhiệm vụxây dựng và bảo vệ miền Bắc XHCN, cùng đồng bào cả nước giải phóng hoàntoàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên CNXH [61].

Sau Đại thắng mùa Xuân năm 1975, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân vàdân các xã, phường, thị trấn ở Quân khu 3 đã tập trung trí tuệ và sức lực, vừahàn gắn vết thương chiến tranh; vừa phải chi viện sức người, sức của cho cáccuộc chiến tranh bảo vệ biên giới của Tổ quốc; vừa tập trung phát triển KT -

XH, củng cố QP - AN, góp phần cùng với cả nước thực hiện tốt 2 nhiệm vụchiến lược: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN

Thứ ba, các xã, phường, thị trấn ở Quân khu 3 có KT - XH phát triển khá nhanh nhưng không đồng đều; văn hoá, xã hội đa dạng, mang đậm dấu

ấn vùng miền.

Là nơi có vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên rất thuận lợi, tài nguyên thiênnhiên phong phú, đa dạng, dân cư đông đúc, mặt bằng dân trí tương đối cao,nên các xã, phường, thị trấn ở Quân khu 3 có điều kiện phát triển KT - XH khánhanh, góp phần quan trọng vào sự phát triển KT - XH của đất nước Cùng vớiđẩy mạnh sản xuất nông nghiệp tạo nên vựa lúa lớn thứ hai của cả nước, ngườidân các xã, phường, thị trấn ở Quân khu 3 đã rất chú trọng đến nghề đánh bắt,nuôi trồng thủy, hải sản, tiểu thủ công nghiệp, nhờ đó nhiều làng nghề được

Trang 34

hình thành, phát triển với những sản phẩm nổi tiếng như: Bánh đậu xanh, bánhgai, bánh cáy, tương bần, chạm bạc, chiếu cói Đặc biệt, do cơ sở hạ tầng kháđồng bộ, ngoài hệ thống đường bộ, đường thuỷ, đường sắt thuận lợi, nơi đâycòn có sân bay, bến cảng, cửa khẩu lớn, lại có nhiều danh lam thắng cảnh nổitiếng, nên hoạt động thương mại, dịch vụ, du lịch phát triển mạnh, nhờ đó đờisống của người dân không ngừng được cải thiện và nâng cao Tuy nhiên, sựphát triển KT - XH giữa các địa phương trên địa bàn Quân khu không đồng đềunhau, thậm chí có sự chênh lệch khá lớn giữa các vùng miền Các xã, phường,thị trấn thuộc miền núi, vùng cao, bãi ngang ven biển (nhất là ở tỉnh Hoà Bình,Quảng Ninh, Ninh Bình) có KT - XH kém phát triển, đời sống của người dâncòn gặp nhiều khó khăn, một số xã, thị trấn thuộc diện đặc biệt khó khăn

Xã, phường, thị trấn ở Quân khu 3 là nơi mang đậm dấu ấn văn hoá dântộc với các sản phẩm văn hoá vật thể và phi vật thể, tạo nên đời sống tinh thần

đa dạng, phong phú lành mạnh cho người dân nơi đây Hàng năm, mỗi địaphương tổ chức hàng chục lễ hội nhằm tái hiện cuộc sống nhà nông; tái hiệnphong tục, tín ngưỡng; tôn vinh các anh hùng dân tộc, những người có công vớilàng xóm, quê hương; thi tài, vui chơi giải trí Nhiều lễ hội tiêu biểu được đôngđảo du khách trong nước và thế giới biết đến như: Lễ hội Chọi trâu (HảiPhòng), Bạch Đằng (Quảng Ninh), Kiếp Bạc (Hải Dương), Chử Đồng Tử(Hưng Yên), Phủ Giầy, Đền Trần (Nam Định)

Thứ tư, trong những năm gần đây, tốc độ đô thị hoá ở các xã, phường, thị trấn ở Quân khu 3 diễn ra khá nhanh

Hiện nay, nhìn chung, cơ cấu kinh tế ở các xã, phường, thị trấn trên địaban Quân khu 3 đã có sự chuyển dịch nhanh theo hướng giảm tỉ trọng nôngnghiệp, tăng tỉ trọng công nghiệp, dịch vụ Tỉ trọng này, tính trung bình trongvùng là: nông, lâm nghiệp, thuỷ sản chiếm khoảng gần 30%, công nghiệp, xâydựng chiếm trên 40%, dịch vụ, du lịch chiếm khoảng 30% Ở các địa phương,nhất là những nơi có hệ thống cơ sở hạ tầng thuận lợi, diện tích đất nông nghiệpngày càng bị thu hẹp, nhường chỗ cho các khu công nghiệp Hiện nay, trên địabàn Quân khu có hơn 60 khu công nghiệp, với tổng diện tích đất tự nhiên lên tới

Trang 35

hơn 13.800 hecta (chiếm hơn 26% về số lượng và 23% về diện tích đất các khucông nghiệp trong cả nước) Ở nhiều địa phương đã và đang hình thành các khu

đô thị mới, hiện đại, văn minh như: khu đô thị Ecopark, Phố Nối B, Phố Hiến,Nho Quan, Bình Minh, Tam Điệp, Phát Diệm, Diêm Điền, An Bài, Đông Đô,Thái Phương, Thuỵ Xuân, Quỳnh Giao, Vũ Hội Do tốc độ đô thị hoá diễn ranhanh nên cũng nảy sinh nhiều vấn đề xã hội phức tạp phải giải quyết như các

tệ nạn xã hội, tình trạng tranh chấp đất đai, khiếu kiện kéo dài, mất an ninh trật

tự xã hội Năm 2014, có 569 lượt xã, phường, thị trấn có đơn, thư khiếu kiện lêncác cấp chính quyền, trong đó có 85 lượt đoàn/ 6.260 lượt người khiếu kiệnvượt cấp lên Trung ương (riêng huyện Văn Giang, Hưng Yên có 35 lượt đoàn/4.763 lượt người); có 29 vụ đình công của 25.550 công nhân, người lao độngtrong các công ty, xí nghiệp trên địa bàn [67]

Những đặc điểm trên đặt ra yêu cầu đối với đội ngũ CBCC xã, phường,thị trấn ở Quân khu 3 phải có phẩm chất, năng lực toàn diện, trong đó phải cónăng lực công tác QP - AN cần thiết để lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý điều hành

và tổ chức thực hiện mọi hoạt động của địa phương có hiệu quả

1.1.2 Đội ngũ cán bộ chủ chốt xã, phường, thị trấn ở Quân khu 3

* Quan niệm đội ngũ CBCC xã, phường, thị trấn ở Quân khu 3

Cán bộ, theo Từ điển tiếng Việt là “1 người làm công tác, có nghiệp

vụ chuyên môn trong cơ quan nhà nước; 2 người làm công tác có chức vụtrong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với người thường, không có chứcvụ” [161, tr.152]

Đội ngũ cán bộ là tập hợp những người làm công tác, có nghiệp vụ

chuyên môn thành một lực lượng có số lượng, chất lượng, cơ cấu đáp ứngvới yêu cầu nhiệm vụ chính trị, chức năng, hoạt động của một tổ chức chínhtrị, xã hội nhất định

Đội ngũ cán bộ của xã, phường, thị trấn là tập hợp những người có

nghiệp vụ chuyên môn trong hệ thống tổ chức hành chính ở cơ sở, phụ tráchmột lĩnh vực công tác cụ thể của tổ chức đảng, chính quyền hay ban, ngành,đoàn thể chính trị - xã hội ở xã, phường, thị trấn, có số lượng, cơ cấu, tiêuchuẩn theo quy định của Nhà nước Theo Luật Cán bộ, công chức thì, cán bộ

Trang 36

xã, phường, thị trấn được bầu cử, bổ nhiệm giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trongThường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư đảng uỷ,người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội.

Chủ chốt, theo Từ điển tiếng Việt là “quan trọng nhất, có tác dụng làm nòng cốt” [161, tr 234].

Cán bộ chủ chốt của Đảng và Nhà nước là những người nắm giữ những

chức vụ lãnh đạo, quản lý trong tổ chức đảng, chính quyền, ban, ngành, đoànthể từ Trung ương đến địa phương, là lực lượng nòng cốt, nhân tố quyết địnhthành bại của cách mạng

Từ những luận giải trên, có thể quan niệm: Đội ngũ CBCC xã, phường, thị trấn ở Quân khu 3 là những người được Đảng, Nhà nước, nhân dân giao nhiệm vụ giữ cương vị lãnh đạo, quản lý, điều hành trong tổ chức đảng, chính quyền, tổ chức chính trị - xã hội ở xã, phường, thị trấn; là lực lượng nòng cốt quán triệt, triển khai và tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chỉ thị, nghị quyết của cấp trên ở địa phương; trực tiếp đề xuất cho cấp uỷ, chính quyền quyết định những chủ trương, chương trình, kế hoạch phát triển KT - XH, củng cố QP - AN ở địa phương; lãnh đạo, quản lý, điều hành các tổ chức, các lực lượng của xã, phường, thị trấn thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở địa phương.

Cán bộ chủ chốt xã, phường, thị trấn ở Quân khu 3 bao gồm các chứcdanh: Bí thư, Phó bí thư đảng uỷ, Chủ tịch, Phó chủ tịch Hội đồng nhân dân,

Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bí thư ĐoànThanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam,Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (đối với địa phương có tổ chức Hội Nông dânViệt Nam), Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam

* Yêu cầu về phẩm chất, năng lực và phương pháp tác phong công tác của đội ngũ CBCC xã, phường, thị trấn ở Quân khu 3

Một là, yêu cầu về phẩm chất của đội ngũ CBCC xã, phường, thị trấn ở Quân khu 3

Trang 37

Phẩm chất chính trị tư tưởng

Cán bộ chủ chốt xã, phường, thị trấn ở Quân khu 3 phải có giác ngộ lợiích giai cấp sâu sắc, luôn giữ vững tính đảng, tính giai cấp Có phương hướngchính trị đúng đắn, bản lĩnh chính trị kiên định, vững vàng, tuyệt đối trungthành với lý tưởng cách mạng; tin tưởng tuyệt đối và chấp hành nghiêm chỉnhđường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, quyếttâm thực hiện hoá đường lối, chính sách đó phù hợp với tình hình thực tiễncủa địa phương, cơ sở Có nhận thức tư tưởng đúng đắn, lành mạnh, biết quantâm và bảo vệ lợi ích chính đáng của cộng đồng, trước hết là nhân dân lao độngtrên địa bàn mình phụ trách Có lòng nhiệt tình cách mạng sâu sắc, thực sự tâmhuyết và có tinh thần trách nhiệm cao với địa phương, cơ sở; có đủ ý chí, nghịlực đương đầu với mọi thức thách; táo bạo đưa ra những quyết định mang tínhđột phá để địa phương vượt qua khó khăn thử thách

Cán bộ chủ chốt xã, phường, thị trấn ở Quân khu 3 phải có ý chí chiếnđấu cao, có khả năng đấu tranh với cái sai, bảo vệ cái đúng; dũng cảm, kiênquyết đấu tranh với những tư tưởng, nhận thức và hành động sai trái, nhữnghiện tượng tiêu cực trong nội bộ và các tệ nạn xã hội Trước những vấn đềquan trọng của cơ sở hoặc bức xúc của nhân dân, đội ngũ cán bộ này phải cóchính kiến rõ ràng, không dựa dẫm ỷ lại vào tập thể

Phẩm chất đạo đức, lối sống

Là người trực tiếp tiếp xúc hàng ngày với dân, CBCC xã, phường, thịtrấn ở Quân khu 3 phải thật sự tiêu biểu về phẩm chất đạo đức, lối sống, làmgương cho cấp dưới và nhân dân noi theo Phải hết lòng vì dân, gần dân, sátdân, hiểu dân, tôn trọng nhân dân, biết dựa vào dân để hành động, tận tuỵ phục

vụ nhân dân, không cửa quyền, sách nhiễu dân, tôn trọng và phát huy quyềnlàm chủ của nhân dân ở cơ sở; biết cảm thông, chia sẻ với những khó khăn,vướng mắc của nhân dân Phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, trungthực, thẳng thắn, chính trực, công bằng, bình đẳng, nhạy bén, tế nhị, tận trungvới nước, tận hiếu với dân, tất cả vì Đảng, vì dân; không lợi dụng chức quyền

để thu vén cá nhân, làm giầu bất chính, không dung túng, bao che cho người

Trang 38

thân làm những điều phi pháp Không quan liêu, tham nhũng, lãng phí, kiênquyết đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các biểu hiện tiêu cựckhác Không cục bộ, bè phái, địa phương, họ tộc chủ nghĩa; khiêm tốn, giản dị,

tế nhị trong ứng xử; biết làm chủ bản thân trong mọi tình huống

Đội ngũ cán bộ này phải khiêm tốn, cầu thị, kính trên, nhường dưới,quý trọng nhân dân; nghiêm khắc với bản thân, rộng lượng với mọi người,bình đẳng trước pháp luật Phải có tinh thần trách nhiệm cao trước Đảng, trướcdân, biết lắng nghe ý kiến đóng góp của cán bộ dưới quyền, của đảng viên vàquần chúng ở cơ sở, kể cả những ý kiến trái ngược Đối với đồng chí, đồngnghiệp phải chân thành, thẳng thắn góp ý, làm rõ đúng sai; trong công việc phảicông tâm, công khai, rõ ràng, không thiên vị, biết hi sinh vì lợi ích chung

Hai là, yêu cầu về năng lực công tác của đội ngũ CBCC xã, phường, thị trấn ở Quân khu 3

Năng lực tư duy

Cán bộ chủ chốt xã, phường, thị trấn ở Quân khu 3 phải có tư chất thôngminh cần thiết, có kiến thức toàn diện, có tri thức chuyên môn, nghệ thuật lãnhđạo, quản lý, nắm chắc phong tục, tập quán của địa phương do mình phụ trách.Đội ngũ này phải thực sự nhạy bén trong việc tiếp thu cái mới, cái tiến bộ, vậndụng phù hợp vào thực tiễn ở địa phương; có kiến thức, hiểu biết cần thiết đểgiải quyết các nhiệm vụ ở cơ sở, nhất là nhiệm vụ mới, khó khăn, đột xuất

Cán bộ chủ chốt xã, phường, thị trấn ở Quân khu 3 phải có năng lực quántriệt, tiếp thu lý luận, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, phát hiệnnhững mâu thuẫn, vấn đề mới nảy sinh ở cơ sở; năng lực tổng kết thực tiễn vàvận dụng sáng tạo lý luận, đường lối, chính sách để xây dựng chương trình, kếhoạch phát triển KT - XH, củng cố QP - AN phù hợp với thực tế cơ sở Phải cónăng lực tuyên truyền, vận động nhân dân; biết “đem chính sách của Đảng,của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành Đồng thời đemtình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ để đặtchính sách cho đúng” [107, tr.269]

Trang 39

Đội ngũ cán bộ này phải có năng lực tham gia vào quyết định của tậpthể, cùng tập thể vạch ra mục tiêu, nhiệm vụ, chương trình, kế hoạch và biệnpháp tổ chức thực hiện cụ thể ở cơ sở cho từng giai đoạn; phải có tầm nhìn xa,khả năng dự báo, vạch phương hướng, kế hoạch phát triển KT - XH, củng cố

QP - AN sát hợp với địa phương, cơ sở

Năng lực tổ chức thực tiễn

Cán bộ chủ chốt xã, phường, thị trấn ở Quân khu 3 phải có năng lực thunhận và xử lý thông tin liên quan đến các lĩnh vực đời sống xã hội ở cơ sở mộtcách nhanh chóng, hiệu quả; có khả năng đưa ra những quyết định đúng đắn,

có tính khả thi cao Có khả năng quy tụ, đoàn kết cán bộ, đảng viên, tập hợp,khơi dậy và phát huy sức mạnh của quần chúng để tổ chức thực hiện các quyếtđịnh và các phong trào ở cơ sở Có như vậy, “dân chúng mới tin cậy cán bộ vànhận cán bộ đó là người lãnh đạo của họ” [107,tr.315]

Đội ngũ cán bộ này phải có năng lực tổ chức công tác kiểm tra, giám sátviệc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, các nghị quyết, quyếtđịnh của tập thể, qua đó phát hiện những sai sót, lệch lạc và những vấn đề mớinảy sinh; kịp thời bổ sung, phát triển, hoàn thiện, bảo đảm cho đường lối, chínhsách và các nghị quyết, quyết định được thực thi nhanh chóng, chính xác, đạthiệu quả cao ở địa phương, cơ sở

Là người trực tiếp đối mặt với thực tiễn cuộc sống vô cùng phong phú,

đa dạng ở cơ sở, đòi hỏi đội ngũ CBCC xã, phường, thị trấn ở Quân khu 3phải có năng lực sáng tạo, tính quyết đoán cao; biết tìm ra cách thức giải quyếtlinh hoạt, mềm dẻo những vấn đề mới ở cơ sở, không dập khuôn, máy móc,khiên cưỡng, gò ép Biết phán đoán tình hình chính xác, đưa ra những quyếtđịnh dứt khoát, nhanh chóng, kịp thời, đúng đắn trong những tình huống độtxuất, bất ngờ; có khả năng ngăn ngừa, giải quyết mâu thuẫn, xung đột trongnội bộ và trong nhân dân, nhất là các điểm nóng trên địa bàn; nhạy bén trongnhận thức và xử lý có hiệu quả các tình huống về QP - AN

Trang 40

Cán bộ chủ chốt xã, phường, thị trấn ở Quân khu 3 phải có khả năng tiếpxúc với các tầng lớp nhân dân; có thái độ khiêm tốn, chân thành, cởi mở, lịch sự,

tế nhị khi giao tiếp với nhân dân; biết nghe dân nói, nói cho dân nghe, hiểu rõtâm tư, tình cảm, nguyện vọng của nhân dân Khi giải quyết các công việc có liênquan đến nhân dân phải tận tình, chu đáo, dứt điểm, thấu tình, đạt lý, không gâyphiền hà, sách nhiễu với nhân dân; biết tuyên truyền, vận động, tập hợp, phát huysáng kiến của nhân dân tham gia vào mọi phong trào cách mạng ở cơ sở

Ba là, phương pháp tác phong công tác của đội ngũ CBCC xã, phường, thị trấn ở Quân khu 3

Là người đại diện của Đảng, Nhà nước ở cơ sở, đòi hỏi đội ngũ CBCC

xã, phường, thị trấn ở Quân khu 3 phải đề cao tính đảng, tính nguyên tắc, luônđứng vững trên lập trường giai cấp công nhân, xuất phát từ đường lối, quanđiểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để xem xét, giải quyếtmọi vấn đề có hiệu quả cao

Phải có phong cách làm việc thực sự dân chủ, tập thể, tôn trọng cộng sự,cấp dưới và nhân dân, không chuyên quyền, độc đoán, quan liêu xa rời quầnchúng Tác phong công tác cụ thể, tỉ mỉ, sâu sát, gần gũi nhân dân, thông cảm,chia sẻ với người dân, biết dựa vào dân và phát huy sức mạnh của nhân dân vàothực hiện mọi nhiệm vụ của địa phương, cơ sở Phải biết dùng chân lý, lẽ phải

và sự mẫu mực của mình để giáo dục, thuyết phục cấp dưới và nhân dân Nóiphải đi đôi với làm, nói ít, làm nhiều, làm đúng; dám nghĩ, dám làm, dám chịutrách nhiệm Làm việc phải có kế hoạch, khoa học, chính xác, bảo đảm cho mọihoạt động của địa phương diễn ra đồng bộ, nhịp nhàng, ăn khớp, có hiệu quả,tránh được sự chồng chéo hoặc buông lỏng, bỏ sót nội dung công việc

* Đặc điểm của đội ngũ CBCC xã, phường, thị trấn ở Quân khu 3 Thứ nhất, nguồn đầu vào của đội ngũ CBCC xã, phường, thị trấn ở Quân khu 3 khá đa dạng, nhiều thành phần, lực lượng

Đội ngũ CBCC xã, phường, thị trấn ở Quân khu là những người đượcbầu cử, bổ nhiệm từ nhiều nguồn khác nhau Đó là những sinh viên đã tốtnghiệp các trường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học; những cán bộ,

Ngày đăng: 23/05/2016, 10:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w