NGHIÊN CỨU CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ XU THẾ CHÍNH SÁCH VÀ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG SUY THOÁI KINH TẾ TOÀN CẦU
Trang 1MỤC LỤC
NGHIÊN CỨU CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
1
XU THẾ CHÍNH SÁCH VÀ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG
2 Phát triển khu công nghệ cao trong khu kinh tế, Hoàng Xuân Long. 11
3 KHƠI NGUỒN CHUYÊN GIA, TRÍ THỨC NGƯỜI VIỆT NAM Ở
NƯỚC NGOÀI THAM GIA HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC VÀ CÔNG
NGHỆ, GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO Ở VIỆT NAM, PHẠM KIẾN
4 Vai trò của cấp phát tài chính cho phát triển khoa học và công nghệ trong
nền kinh tế hiện nay, Bùi Thiên Sơn - Hà Đức Huy 26
5 PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG
KINH NGHIỆM NƯỚC NGOÀI
6 PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ SỰ PHÁT TRIỂN ĐÁNH GIÁ TÀI
SẢN VÔ HÌNH TRÊN THẾ GIỚI VÀ GỢI SUY ĐỐI VỚI VIỆT
7 TỪ CHIẾN LƯỢC ĐỔI MỚI ĐẾN NHỮNG ƯU TIÊN MỚI
TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI, SÔLÔVIÔV, V.P -
8 Định hướng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ: Kinh nghiệm
quốc tế và những gợi suy cho Việt Nam, Nguyễn Mạnh Quân. 60
9 Khoa học và đổi mới - Xu thế ở Liên bang Nga, Lê Thành Ý. 75
10 G.M.DOBROV VÀ VIỆC PHÁT TRIỂN KHOA HỌC LUẬN TẠI
Trang 22 Hoang Xuan Long
Development of hi-tech zone in economic zones
3 Pham Kien Thiet
Value originated special people in Vietnam foreign participation in Scienceand Technology activities, education and training in Vietnam
4 Bui Thien Son - Ha Duc Huy
Role of financial development for science and technology in the nationaleconomy
5 Nguyen Huu Hung
Development of Science and technology information activities in Vietnam
INTERNATIONAL EXPERIENCE
6 Nguyen Nghia, Pham Hong Truong
Analyze and evaluate the development of assessment of intangible assets andrecommendations for Vietnam
7 Soloviov, V.P - Nguyen Manh Quan trans
From innovation strategy to new priorities in social economic development
8 Nguyen Manh Quan
Strategic orientation for Science and technology development: Internationalexperiences and recommendations for Vietnam
9 Le Thanh Y
Science and innovation – Trends in Russia
10 Nguyen Huu Hung
G.M Dobrov and science of science development in Vietnam
Trang 5NGHIÊN CỨU CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
XU THẾ CHÍNH SÁCH VÀ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ TRONG SUY THOÁI KINH TẾ TOÀN CẦU
TS Lê Thành Ý 1
Tóm tắt
Thời gian dài đã qua, kinh tế thế giới tăng trưởng nặng về vốn và lao động rẻ
đã dẫn đến phát triển thiếu bền vững Chủ tịch Ngân hàng Thế giới, Robert Zoellick cho rằng, năm 2009 sẽ là năm tồi tệ nhất của kinh tế thế giới với mức tăng trưởng
âm từ 1 đến 2% Gần đây, nhiều nền kinh tế phát triển dựa trên năng suất tổng hợp
và quan trọng là vận dụng KH&CN để tái cấu trúc, hướng đến một nền kinh tế tri thức, ở đó, chính sách khoa học - công nghệ và đổi mới đóng vai trò thiết yếu Bài viết đề cập đến xu hướng chính sách, nhân tố tác động và những thay đổi nghiên cứu và phát triển trong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu.
1 Khoa học và công nghệ với phát triển kinh tế - xã hội
Trong phát triển kinh tế - xã hội đương đại, cải thiện nền kinh tế phần lớn do vậndụng tri thức vào hoạt động sản xuất kinh doanh cùng với điều chỉnh thể chế xã hội.Theo cách tiếp cận đổi mới, tăng trưởng kinh tế là kết quả tương tác tổng hợp của tổchức Nhà nước với khu vực công nghiệp, giới hàn lâm và xã hội dân sự Việc vận dụngcông nghệ mới và tiến bộ kỹ thuật vào các hệ thống kinh tế đã thúc đẩy nhanh việcchuyển hóa những quan hệ truyền thống Đổi mới công nghệ không chỉ là nguồn lựcbiến đổi kinh tế mà vai trò của nó ngày càng quan trọng trong đời sống xã hội Côngnghệ không quyết định thay đổi, nhưng đồng tiến hóa cùng với những điều chỉnh xã hội.Với cách tiếp cận hệ thống, khó mà phân định rạch ròi tác động đơn lẻ của từng côngnghệ Công nghệ được dùng luôn tương tác lẫn nhau, cùng tạo ra những tổ hợp sản xuấtbao hàm cả sự kết hợp giữa trí tuệ với công nghệ trong nền kinh tế Thực tế này đòi hỏichính sách công nghệ cần được dẫn dắt từ hiểu biết sâu sắc bản chất vấn đề của sản xuấtchứ không bởi những vấn đề lý thuyết có hạn chế phạm vi học hỏi của toàn xã hội[1,3,4]
Trang 6Sự phát triển nhanh chóng của KH&CN khiến khoa học ngày càng mang dángdấp của một ngành kinh tế Ngành kinh tế này tập hợp những yếu tố cần thiết để hìnhthành “công xưởng khoa học”, tạo ra hàng loạt sản phẩm đáp ứng nhu cầu của mọiđối tượng sản xuất, kinh doanh Theo hướng phát triển này, nghiên cứu cơ bản vànghiên cứu ứng dụng, KH&CN đang có xu thế kết hợp chặt chẽ và thời gian chuyểngiao từ nghiên cứu đến sản xuất ngày càng rút ngắn Các nhà nghiên cứu từng đưa rakhái niệm “Công nghệ hóa Khoa học; Khoa học hóa Công nghệ” với hàm nghĩa,công nghệ hiện đại được xây dựng trên cơ sở lý luận khoa học, đồng thời nền khoahọc hiện đại cũng được phát triển trên cơ sở thiết bị kỹ thuật hiện đại; nghiên cứu cơbản và nghiên cứu ứng dụng thống nhất với nhau trong quan hệ lợi ích Trong ngắnhạn, nghiên cứu cơ bản giúp cho đổi mới công nghệ và về lâu dài, nếu không cónghiên cứu cơ bản mở đường thì đổi mới công nghệ cũng khó thực hiện Cùng vớiviệc đưa nghiên cứu cơ bản xích gần nghiên cứu ứng dụng, một xu hướng mới đangnổi lên, đó là cơ bản hóa khoa học ứng dụng trong các bộ môn khoa học công nghệmới để đảm nhận vai trò nghiên cứu lý thuyết cơ bản [1,2].
Trong thực tiễn, việc khám phá ra enzyme, cắt nối các nucleotide AND làthành tựu nổi bật của khoa học cơ bản; nhưng đã ngay lập tức, thành công này cũngtạo ra những công nghệ then chốt để hình thành ngành công nghiệp mới, công nghệsinh học Thực tiễn cũng cho thấy, không chỉ có nghiên cứu ứng dụng, phát triểncông nghệ mà ngay cả nhiều nghiên cứu cơ bản cũng đã diễn ra ở ngay trong phòngthí nghiệm của những doanh nghiệp năng động Đây chính là môi trường giúp chohoạt động nghiên cứu được phát triển, tạo thuận lợi không chỉ về không gian màquan trọng là mối quan hệ tác động tương hỗ, thống nhất giữa mục tiêu và phươngthức quản lý trong nghiên cứu [2,4]
Gắn kết nghiên cứu với sản xuất đang trở thành xu thế hội tụ ở nhiều quốc gia
Đi theo hướng này, cùng với sự nổi lên của nghiên cứu ứng dụng, vai trò của nghiêncứu cơ bản ngày càng trở nên quan trọng; nghiên cứu cơ bản hoàn toàn có thể gắnvới sản xuất và mang lại ý nghĩa thực tiễn rất cao Từ tăng cường liên kết giữa cácngành khoa học, việc thâm nhập của giới kinh doanh vào hoạt động nghiên cứu đã
có tác động phá vỡ ranh giới thông thường vốn được tạo dựng trong môi trườngnghiên cứu Nhóm nghiên cứu đa ngành không còn hạn chế ở khoa học tự nhiên mà
đã mở rộng ra giữa khoa học tự nhiên với khoa học công nghệ để cùng giải quyếtnhững vấn đề của sản xuất và làm nổi bật mối quan hệ liên kết của cả khoa học tựnhiên với khoa học công nghệ và khoa học xã hội Có lẽ đây vừa là định hướng, vừa
là điều kiện để bảo đảm sự gắn kết bền vững giữa nghiên cứu khoa học và sản xuất
Trang 7Trong xu thế gắn kết khoa học với sản xuất, các doanh nghiệp toàn cầu đã tạođược những thay đổi sâu sắc Nhiều doanh nghiệp khi tổ chức lại đã gắn kết bộphận nghiên cứu với các bộ phận khác, nhất là với bộ phận Maketing; tổ chức việchợp tác các bộ phận trong doanh nghiệp dưới hình thức nhóm theo từng dự án cụthể Đối với bên ngoài, doanh nghiệp cũng đã tăng cường liên kết với những lựclượng nghiên cứu khác trong khuôn khổ của hệ thống đổi mới quốc gia Theohướng gắn nghiên cứu với sản xuất, không chỉ sản phẩm công nghệ mà ngay cả sảnphẩm nghiên cứu khoa học cũng đã trở thành hàng hóa; tính chất hàng hóa và quan
hệ thị trường của sản phẩm nghiên cứu được xác định bởi nhu cầu từ phía doanhnghiệp và những nguồn sản phẩm khoa học mang tính thị trường [3,4]
Gắn kết nghiên cứu với sản xuất đã thúc đẩy doanh nghiệp quan tâm tới hoạtđộng KH&CN; buộc các nhà khoa học phải hướng vào phục vụ thị trường, làm nảysinh những quan hệ mới, đòi hỏi trách nhiệm và sự hỗ trợ cụ thể của quản lý Nhànước Nghiên cứu hoạt động gắn khoa học với sản xuất ở nhiều quốc gia, các nhàphân tích nhận thấy, nghiên cứu cơ bản được đầu tư từ Chính phủ đóng vai trò nềntảng cho những nghiên cứu ứng dụng tư và khu vực khác; ngoài ra, Nhà nước cũngcần đặc biệt chú ý hỗ trợ doanh nghiệp trong đào tạo nhân lực có chất lượng cao Vaitrò Nhà nước không chỉ ở chỗ ban bổ chính sách mà quan trọng là hỗ trợ điều hànhtác nghiệp, điều tra tạo lập thị trường, lập kế hoạch và giữ vai trò trung gian trongnhững điều phối kết hợp các tổ chức nghiên cứu, đào tạo với doanh nghiệp [3,5]
2 Xu thế và ảnh hưởng trong đầu tư khoa học và công nghệ
Khi thảo luận về hoạt động KH&CN, người ta thường nhấn mạnh đến nguồntài chính Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu, hoạt động đổi mới có nhiều thuận lợi,phù hợp với yêu cầu phát triển, đầu tư cho nghiên cứu phát triển toàn thế giới đã cóchiều hướng gia tăng Số liệu tổng hợp cho thấy, tổng chi tiêu nội địa cho nghiêncứu phát triển (GERD) theo sức mua tương đương toàn cầu năm 2007 đạt 1.057,6 tỷUSD (chiếm 1,93% GDP), năm 2008 tăng lên 1.108 tỷ USD và dự chi của năm
2009 chừng 1.143,2 tỷ USD
Thời gian từ 1996 đến 2006, tổng GERD của các nước OECD đã tăng từ 468
tỷ USD lên 818 tỷ USD; tuy nhiên, tăng trưởng đầu tư bình quân hàng năm của khuvực này lại giảm từ 4,6% (1996 - 2001) xuống còn 2,5%/năm ở giai đoạn sau.Trong xu thế chung, các nước ngoài OECD đang là nhân tố mới, trở thành nhữngnền kinh tế gia tăng nhanh trong chi tiêu dành cho KH&CN Tổng GERD củaTrung Quốc vào năm 2007 đạt 100 tỷ USD (tăng bình quân hàng năm trên 19%) dựkiến năm 2009 sẽ lên 142,5 tỷ USD; cũng thời gian này, GERD nước Nga đã từ 9 tỷUSD lên 22,55 tỷ USD Bằng những việc làm thiết thực trong xúc tiến đầu tư
Trang 8KH&CN, những nền kinh tế ngoài OECD đã đưa tỷ trọng đầu tư trong GERD toàncầu từ 11,7% năm 1996 lên 18,4% trong năm 2005 và đang còn tiếp tục gia tăng.Đáng quan tâm trong đầu tư KH&CN là sự vượt lên của các quốc gia châu Á; Nếuđầu thập niên 1990, tỷ trọng đầu tư nghiên cứu và triển khai (R&D) của châu Á chỉbằng 54% nước Mỹ và 72% so với cộng đồng châu Âu (EU) thì đến năm 2003, tổngchi GERD đã chiếm 1,92% GDP bằng 79% của Mỹ và cao hơn 10% so với cácnước EU Với tổng đầu tư R&D năm 2008 lên 362,6 tỷ USD, châu Á đã vươn lênbằng 96,2% đầu tư của Mỹ và theo dự báo năm 2009 sẽ vượt Mỹ chừng 0,9% [3,4].Trong đầu tư R&D hướng tới phục vụ chính sách đổi mới, ở mọi quốc gia đềuhướng vào khuyến khích đầu tư doanh nghiệp Tuy nhiên, nhịp độ đầu tư doanhnghiệp toàn cầu có xu thế chậm lại sau năm 2001 Tại 27 nước EU, đến năm 2006,GERD doanh nghiệp chỉ chiếm 1,02% GDP (khó đạt được mục tiêu 2% GDP vàonăm 2010); còn ở Mỹ, chi tiêu GERD doanh nghiệp lại giảm từ 2,05% GDP (năm2000) xuống còn 1,84% vào năm 2006 Khác với phương Tây và Mỹ, tại khu vựcchâu Á, Nhật Bản vẫn duy trì mức GERD doanh nghiệp trên 2,6% GDP và ở TrungQuốc, đầu tư doanh nghiệp đang có chiều hướng tăng nhanh Nhìn chung, đóng gópcủa doanh nghiệp châu Á trong GERD gia tăng bình quân 7%/năm suốt thời gian từ
1995 đến 2003 và đến nay, tỷ trọng đầu tư cho R&D doanh nghiệp đã lên tới 70%GERD Trong sự gia tăng mạnh mẽ này, khu vực doanh nghiệp Trung Quốc đã thực
sự bùng nổ
Thông qua các doanh nghiệp, cơ quan nghiên cứu và nhiều tổ chức quốc tế,đầu tư R&D từ những nguồn vốn ngoài nước có chiều hướng gia tăng Trong xu thếbiến động toàn cầu, nhiều công ty đa quốc gia đã chuyển chức năng R&D củadoanh nghiệp và phòng thí nghiệm sang những nước mà họ bỏ vốn kinh doanh Ởhầu hết các nước OECD, nhờ có được nguồn thu từ các công ty địa phương hoặc chinhánh mới thành lập, số đông doanh nghiệp nước ngoài đều đã tham gia vào nghiêncứu thương mại Từ năm 1990 đến 2002, công ty đa quốc gia nước Mỹ đã tăng gấphai lần hoạt động R&D hải ngoại với giá trị đầu tư lên tới 21,2 tỷ USD Đáng lưu ýtrong đầu tư này là nhịp độ tăng trưởng bình quân hàng năm ở châu Á đạt 28,6%,vượt xa bình quân chung 8% và cao hơn nhiều lần vào khu vực châu Âu (4,8%).Cùng với vốn đầu tư nước ngoài, việc chuyển mạnh hoạt động R&D của cáccông ty đa quốc gia sang các doanh nghiệp và chi nhánh hải ngoại đã góp phần đáng
kể vào nâng cao giá trị sản xuất và xuất khẩu sản phẩm CNC ở những nền kinh tếđang phát triển Tại các nước châu Á, năm lĩnh vực công nghệ cao (CNC) đã tạo ra1/3 giá trị gia tăng toàn cầu Mặc dù thời gian qua, giá trị gia tăng sản phẩm CNCcủa Nhật giảm gần hai lần, song nhờ Trung Quốc tăng trên sáu lần nên giá trị xuất
Trang 9khẩu CNC châu Á đã chiếm trên 42,9% tổng giá trị toàn cầu đẩy EU xuống 32,1%
và Mỹ chỉ còn 16% [3,4]
3 Đòi hỏi bức xúc về nguồn nhân lực chất lượng cao
Trong xu thế phát triển kinh tế tri thức với nhiều ngành công nghiệp CNC, nhucầu nhân lực có trình độ và kỹ năng cao gia tăng, nhất là ở khu vực OECD, đã dẫnđến làn sóng chuyển dịch chất xám, chuyển dịch lao động khoa học kỹ thuật từnhững nước đang phát triển sang nước phát triển Từ những cơ hội việc làm được
mở ra rộng rãi, nhiều nước đã rất coi trọng chiến lược đào tạo lao động Ở nhữngnước đang phát triển, hàng loạt sáng kiến nhằm tạo thuận lợi cho việc di trú, quốc tếhóa thị trường lao động và cạnh tranh nhân tài nở rộ Những hướng phát triển mới
mở ra đòi hỏi phải tăng cường hơn nữa nguồn lao động chất lượng cao Với lợi thếnhân lực trẻ, nhóm cư dân trong tuổi học đại học cao, các nước châu Á đã gia tăngnhanh nguồn nhân lực có trình độ đại học Thống kê từ 1990 đến 2002 cho thấy, sốtốt nghiệp đại học ở châu Á đã cao gấp 2,9 lần (riêng Trung Quốc 4,2), các nướcchâu Âu giảm và Mỹ chỉ là 1,09 Trong đào tạo lao động kỹ thuật ở bậc đại họcTrung Quốc đã tăng gấp hai lần trong khi Mỹ gia tăng 26% và số bằng đại học kỹthuật được cấp hàng năm của các nước châu Á đã nhiều gấp hai lần tổng số của cả
27 nước EU và Mỹ [4, 5]
Trong tình trạng thiếu hụt nghiêm trọng lao động trình độ cao ở khu vực kinh
tế phát triển, nhiều nước đã phải mở rộng việc tuyển dụng từ bên ngoài Từ đây,hợp tác đào tạo và tăng cường phối hợp tổ chức thi cấp bằng hỗn hợp cho nhữngngành CNC đã được thực hiện ở một số vùng lãnh thổ Theo cơ chế này, Nhật Bảncùng các nước trong khu vực đã tổ chức nhiều hoạt động thiết thực để có nhiều laođộng trong ngành công nghệ thông tin Nhật Bản đã cùng sáu nước Malaysia, Mông
Cổ, Myanma, Philippin, Thái Lan và Việt Nam tổ chức nhiều kỳ thi cùng nội dung,chung tiêu chí, tiến hành vào cùng một thời gian, bảo đảm chất lượng Nhật Bản vàcấp chứng chỉ có giá trị ngang bằng với chứng chỉ cấp cho người học ở Nhật Qua 6đợt thi cùng tiến hành ở sáu quốc gia với khoảng 10.700 người tham dự, có trên1.230 đạt kết quả, đã hình thành nên đội ngũ lao động công nghệ thông tin chấtlượng cao đáng kể trong khu vực Với cách làm này, việc di chuyển nhân công côngnghệ thông tin trong vùng trở nên năng động, đã mở ra cách tiếp cận mới trong đàotạo tài năng và chuyển dịch tài năng công nghệ thông tin giữa các nước trong khuvực và trên phạm vi toàn cầu [4, 5]
4 Xu thế chính sách và nghiên cứu phát triển toàn cầu trong năm 2009
Chính sách của chính phủ giữ vai trò chủ đạo trong tạo lập môi trườngKH&CN thích hợp để thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển Trong bối cảnh suy thoái
Trang 10toàn cầu và để vực dậy nền kinh tế ở giai đoạn sau, chính sách KH&CN càng trởnên cấp thiết đối với xây dựng hạ tầng kỹ thuật nhằm mục đích tăng trưởng nhanh.Giới phân tích cho rằng, để vạch ra cam kết thực hiện tốt nhất, cần có tầm nhìnchiến lược, nhấn mạnh đến vai trò công nghệ; coi đầu tư cho công nghệ là khoản chiđáng phải theo đuổi trong quá trình phát triển Hoàn thiện môi trường thể chế là mộtphạm trù rộng, song cần lấy khoa học, công nghệ và đổi mới là một trong nhữngtrọng tâm quan trọng của cả tiến trình [3].
Trong bối cảnh toàn cầu, chính sách nghiên cứu và đổi mới mở rộng đều nhằmvào đáp ứng yêu cầu cải cách, thúc đẩy sản xuất và tăng trưởng; đồng thời với nhữngđảm bảo về việc làm, giáo dục sức khoẻ và ổn định xã hội Trước những thách thứcsuy thoái kinh tế gây ra; xu hướng chính sách KH&CN và đổi mới của nhiều nướcđang hướng vào tăng cường liên kết Tại những nước đang phát triển, tiềm lực côngnghệ giới hạn, cơ sở vật chất kỹ thuật chưa cao, đại bộ phận doanh nghiệp là những
cơ sở vừa và nhỏ thiếu nguồn vốn; xây dựng năng lực đổi mới quốc gia mạnh là vấn
đề cốt lõi để tạo tiền đề thu hút đầu tư nước ngoài cho R&D và từ đó, có điều kiệntham gia vào những chuỗi giá trị toàn cầu Thách thức trong bối cảnh hiện nay buộcnhiều nước phải cải thiện việc hợp tác trong xây dựng, thực hiện chính sách quốc gia,khu vực và quốc tế Một số nước đã giao trách nhiệm xây dựng chính sách nghiêncứu và đổi mới cho một cơ quan duy nhất nhằm tập trung cải thiện quan hệ hợp tác vàphản ánh đầy đủ mức độ ưu tiên cần thiết của chính sách [3, 5]
Mặc dù chịu sức ép về ngân sách và việc giảm tài trợ, song các nước OECD đãtìm mọi cách để tăng nguồn tài chính công cho R&D Theo đó, ngân sách EU dùng
để tăng cường chi tiêu cho nghiên cứu có thể lên đến 3% GDP vào năm 2010.Nhiều nước không thuộc EU cũng đã đặt ra những mục tiêu khuyến khích R&D caotrong những thập niên tới Trong số này, Nhật Bản đưa tổng GERD lên hơn 3,33%GDP năm 2007; tương tự Ixrael trên 4,48% GDP 2007 và Singapore lớn hơn 5%GDP của năm 2007 [3]
Gần đây, số đông quốc gia đã chuyển đổi từ tài trợ công trực tiếp cho R&Dsang hình thức gián tiếp Vào năm 2008, 21 nước OECD đã trợ giúp thuế cho R&Dthương mại Việc sử dụng ngày càng nhiều tín dụng thuế cho R&D là do các Chínhphủ đang cố gắng tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cho các hoạtđộng R&D Theo hướng này, chính sách hỗ trợ cho các hệ kinh tế tập trung, có hệthống và đổi mới đang được mở rộng theo hướng khuyến khích hợp tác giữa côngnghiệp với nghiên cứu và hỗ trợ tập trung cũng được phát triển trên quan điểm tạo
ra những đầu mối tầm cỡ quốc tế để liên kết các chuỗi giá trị đổi mới toàn cầu Từ
Trang 11đây, vai trò của liên kết và hợp tác khu vực, trong nước và ngoài nước ngày càng trởnên quan trọng [3].
Do suy thoái kinh tế toàn cầu và ảnh hưởng của nó đối với đầu tư, tăng trưởngsản xuất công nghiệp, thương mại và đời sống xã hội; những thay đổi công nghệ đãlàm cho môi trường R&D thế giới trong năm 2009 có những thay đổi đáng kể cả vềtăng trưởng, trọng tâm nghiên cứu và những hoạt động khác Cùng với bất ổn địnhcủa giá dầu mỏ, ngành công nghiệp ô tô toàn cầu tụt dốc, việc tái cấu trúc toàn diệnmột số ngành công nghiệp đã dẫn đến cảm giác môi trường R&D thêm ảm đạm.Mặc dầu các chỉ số kinh tế xấu đi, nhưng chi tiêu GERD vẫn được dự báo ở mứchơn năm 2008 trên 3,2% Điều này chứng tỏ, nhận thức và đánh giá tốt hơn trongnhững chính sách quốc gia để tập trung cho các hoạt động nghiên cứu Tự do hóakinh tế, dỡ bỏ các rào cản, dịch chuyển từ cung cấp vật liệu sang đầu tư trí tuệ vàđầu tư mạnh mẽ hơn vào KH&CN đã thể hiện năng lực đổi mới của cả Chính phủ
và doanh nghiệp, đã góp phần làm sáng sủa hơn bức tranh R&D toàn cầu
Các nhà phân tích cho rằng, năm 2009, lĩnh vực công nghệ thu hút sự tập trungcủa các cơ quan nghiên cứu đang hướng vào các hệ thống năng lượng tái tạo, côngnghệ sinh học, cung cấp nước sạch, quy trình phát triển bền vững và vận tải giá rẻ.Mặc dù đã có lúc giá dầu mỏ rớt xuống dưới 50 USD/thùng, song R&D toàncầu về năng lượng tái tạo lại vẫn gia tăng Các hệ thống tuốc bin gió phát triển nở rộtrên toàn thế giới với hạ tầng và những cơ sở sản xuất được công chúng chấp nhậnđầy khích lệ; hệ thống pin mặt trời tuy chưa phát triển rầm rộ nhưng đã triển khainhiều cơ sở lớn tại những vùng nhiều nắng Cùng với các nguồn năng lượng tái tạo,năng lượng hạt nhân đang được quan tâm trở lại
Về công nghệ sinh học, nhiều công ty dược phẩm đã có những thay đổi trongchiến lược sản phẩm với trọng tâm dồn vào công nghệ sinh học nhằm thay thế dượcphẩm dựa trên hóa chất thông thường Lãnh đạo ngành dược phẩm đều công nhậnđây là chiến lược lâu dài với hy vọng tạo ra nhiều cơ hội mới trong sản xuất kinhdoanh
Nguồn cung cấp nước sạch đang có xu thế giảm dần do hậu quả khai thác côngnghiệp và sử dụng thiếu hợp lý của các cộng đồng nông nghiệp Công nghệ cungcấp nước sạch cùng với các quy trình sản xuất mới, sử dụng ít nước hơn sẽ là giảipháp được các quốc gia tập trung nghiên cứu, phát triển và mở rộng
Cùng với suy thoái kinh tế, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường đã làmnghiêm trọng hơn tình trạng phát triển thiếu bền vững Tổng thư ký Liên Hiệp QuốcBan Ki Moon cho rằng, biến đổi khí hậu là mối đe dọa thực sự và duy nhất tới sự
Trang 12tồn tại của nhân loại Những quy trình phát triển bền vững đang là đòi hỏi bức xúc
để tiết kiệm tài nguyên, giảm chi phí sản xuất và nhất là đảm bảo cân bằng sinh tháitoàn cầu
Trên lĩnh vực giao thông, hầu hết các nhà sản xuất đang triển khai nghiên cứucác mẫu thiết kế xe hơi sử dụng ít nhiên liệu, có chi phí thấp, ít ô nhiễm như cácloại xe dùng nhiên liệu kép, pin năng lượng hoặc các hệ thống chạy điện hoàntoàn
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Tổng luận Khoa học Công nghệ Kinh tế Trung tâm Thông tin KH&CN Quốc
gia Số 211, tháng 9/2005
2 Một số vấn đề về gắn kết nghiên cứu với sản xuất Trung tâm Thông tin
KH&CN Quốc gia Hà Nội, 2005
3 Triển vọng kinh tế và Phát triển Khoa học và công nghệ thế giới Trung tâm
Thông tin KH&CN Quốc gia Hà Nội, 2009
4 Khoa học và Công nghệ châu Á một xu thế mới Trung Đức Thông tin và Phát
triển số 6, 2008
5 VITEC Exam/ITEE and VRS?ITSS Ogawa Kejni PA Japan, February, 2009.
Trang 13PHÁT TRIỂN KHU CÔNG NGHỆ CAO
TRONG KHU KINH TẾ
TS Hoàng Xuân Long 1
Tóm tắt
Phát triển khu kinh tế đang thu hút nhiều sự chú ý ở nước ta Trên thực tế đã
có những khu kinh tế được thành lập với kỳ vọng lớn như Chu Lai (Quảng Nam), Dung Quất (Quảng Ngãi), Vân Phong (Khánh Hòa), Nhơn Hội (Bình Định),… Để đạt được những thành công, chúng ta cần tìm hiểu các bài học của các nước đi trước, trong đó có kinh nghiệm về phát triển khu CNC trong khu chế xuất.
1 Kinh nghiệm của thế giới
Trên thế giới, khu chế xuất (mà khu kinh tế ở nước ta là một loại hình) đã xuấthiện từ lâu Khu chế xuất (Export Procescing Zone) ra đời đầu tiên vào năm 1956 ởkhu vực sân bay Shan non (thuộc Ai-rơ-len) và sau đó phát triển ở nhiều nơi khác.Hình thành và phát triển các khu chế xuất đã gắn liền với chiến lược công nghiệp hóahướng về xuất khẩu của các nước đang phát triển, trong đó khu chế xuất được coi làmột khâu quan trọng thu hút nguồn vốn và kỹ thuật từ bên ngoài, đồng thời là mộtcửa ngõ đánh thông con đường thâm nhập thị trường thế giới Một cách chung nhất,mục đích của việc thiết lập khu chế xuất đối với các nước đang phát triển là thu hútnguồn vốn và kỹ thuật của nước ngoài, chủ yếu của các công ty xuyên quốc gia đểvừa xâm nhập thị trường thế giới vừa tạo nên những điều kiện cần thiết cho côngcuộc công nghiệp hóa đất nước Cùng với xu hướng phát triển kinh tế và cạnh tranhkinh tế dựa trên những thành tựu của cách mạng KH&CN, nhiệm vụ thu hút nguồnlực KH&CN từ bên ngoài của các khu chế xuất ngày càng nổi bật
Mục tiêu đặt ra được thực hiện bằng nhiều phương thức khác nhau Phổ biến làcác phương thức như:
- Liên doanh, hợp doanh với đầu tư nước ngoài vốn có tiềm lực tài chính vàcông nghệ
Trang 14- Đào tạo, gửi cán bộ và công nhân đi học (điển hình như các khu chế xuất củaHàn Quốc gửi hàng nghìn cán bộ công nhân kỹ thuật thuộc nhiều ngànhnghề, đặc biệt là ngành điện tử, ra nước ngoài để đào tạo)
- Thành lập viện nghiên cứu trong khu chế xuất (điển hình như cùng với thànhlập khu chế xuất ở cảng Pasie Gudang, chính quyền Liên bang Malaysia đãthành lập Viện nghiên cứu và ứng dụng vi điện tử MIMOS - MalaysianInstitute of Microelectronic Systems)
Mặc dù đạt được một số kết quả, nhưng các phương thức trên cũng bộc lộnhững hạn chế khá cơ bản Thực tế đã chỉ ra: kết quả chuyển nhượng kỹ thuật trongcác khu chế xuất không đáng kể vì các công ty xuyên quốc gia thường chuyểnnhượng những công nghệ lỗi thời; những động cơ của các công ty xuyên quốc giavào các khu chế xuất (là nhằm vào các mục tiêu giảm chi phí sản xuất dựa trên cácyếu tố giá nhân công rẻ, giảm các khoản chi phí về vận chuyển nguyên vật liệu, vềchống ô nhiễm môi trường, về bảo hiểm xã hội,… tranh thủ những lợi ích do có ưuđãi thuế quan và những chính sách ưu đãi khác của các nước có khu chế xuất về cácphương diện tài chính, ngân hàng…) không hề bắt buộc các công ty xuyên quốc giaphải tích cực góp phần nâng cao năng lực KH&CN của nước sở tại Đây là hiệntượng phổ biến ở các khu chế xuất tại Philippin, Xrilanca, Pakistan, Bangladet, ẤnĐộ,…
Có thể lấy Thẩm Quyến làm ví dụ minh họa Sau giai đoạn đầu 5 năm hoạtđộng, đặc khu kinh tế Thẩm Quyến cùng với khu công nghiệp Shekou được đánhgiá là rất thịnh vượng và thành công trong thu hút đầu tư nước ngoài Tuy nhiên,thành công trong thu hút kỹ thuật cao lại thấp hơn dự kiến rất nhiều Một trongnhững lý do là các công ty có kỹ thuật cao nước ngoài cho rằng khuyến khích vềthuế, công lao động thấp và phí ưu đãi không phải là những yếu tố biến Trung Quốcthành nơi hấp dẫn đầu tư Từ kinh nghiệm của đặc khu kinh tế Thẩm Quyến có thểthấy rằng tiền công thấp, khuyến khích về thuế và vốn đầu tư đã thu hút một số loạiđầu tư nhất định, nhưng không phải loại mong muốn trong ngành CNC
Mặt khác, đôi khi cũng có những cơ hội mở ra nhưng lại không được khai thác
có hiệu quả Dưới tác động của cách mạng KH&CN và xu hướng quốc tế hóa hoạtđộng KH&CN, các công ty xuyên quốc gia buộc phải chuyển giao một số côngnghệ mới cho các nước sở tại Đáng tiếc những cơ hội hiếm hoi này ít được tậndụng bởi để thu hút các doanh nghiệp CNC nước ngoài thì cần phải có những điềukiện nhiều hơn những gì hiện có ở các khu chế xuất
Trước tình hình đó, một số nước đã hình thành các khu CNC trong khu chếxuất Giải pháp mới đã tỏ rõ tác dụng:
Trang 15- Thành công thường được nói tới của các khu chế xuất ở Đài Loan và HànQuốc chính là gắn liền với xuất hiện những khu CNC đảm bảo cho việcchuyển lên những trình độ cao hơn về công nghiệp chế biến.
- Sự phát triển các khu khai phát kinh tế kỹ thuật trong các thành phố mở cửavùng duyên hải phía nam Trung Quốc tạo điều kiện thu hút, làm chủ và lantỏa công nghệ nhập từ bên ngoài
- Đang có sự cạnh tranh giữa các khu chế xuất thuộc các nước khác nhau KhuCNC trong khu chế xuất có thể đóng góp vào việc tạo ra khác biệt mang lạilợi thế trong cạnh tranh này
Một vấn đề đặt ra là khu CNC có thể phát triển trong những khu chế xuất nhưthế nào Trước kia điều này thường được gắn với sự khác biệt theo các giai đoạnphát triển của khu chế xuất Cụ thể là lý thuyết về ba giai đoạn trong vòng đời củakhu chế xuất:
- Giai đoạn đầu hay còn gọi là giai đoạn phát triển, khu chế xuất có mục tiêuthu hút các nhà đầu tư nước ngoài với những điều kiện hấp dẫn nhất làm saocho các chi phí ban đầu được hoàn vốn toàn bộ hoặc một phần, tạo ra đượccông ăn việc làm càng nhiều càng tốt, khuyến khích nhập công nghệ dùngnhiều nhân công
- Giai đoạn hai là giai đoạn trưởng thành (Période de Maturite) với những đặcđiểm như: chuyển dần những công nghệ dùng nhiều nhân công, đầu tư vốn ítsang những công nghệ đầu tư vốn lớn, những ngành công nghiệp như hóachất, điện tử… có khả năng đưa công nghệ tiên tiến vào nước chủ nhà;Những mối quan hệ giữa các công nghiệp trong khu với công nghiệp quốcgia được hình thành qua các quan hệ gia công; Những ưu đãi khuyến khíchđược chuyển giao dần sang những ngành công nghiệp có hàm lượngKH&CN cao cấp
- Giai đoạn ba hay giai đoạn hòa nhập (Période D’integration), khu chế xuấtmất dần tính chất một khu vực khép kín vì nền công nghiệp chế biến nội địa
đã phát triển đạt được tiêu chuẩn cạnh tranh trên thị trường thế giới và cáccông ty nước ngoài đầu tư nhiều trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân cũngđược hưởng những ưu đãi và quyền lợi dành cho các doanh nghiệp trong khuchế xuất Đồng thời khu chế xuất có thể chuyển thành khu CNC
Với cách phân đoạn này, các khu chế xuất phải tuần tự trải qua ba bước và đếnbước phát triển cao mới có thể xuất hiện khu CNC Đó là trường hợp của các khuchế xuất ở Hàn Quốc và Đài Loan
Trang 16Lý thuyết về vòng đời của khu chế xuất đúng với một số trường hợp nhưngvẫn có những trường hợp khác Điển hình các thành phố mở cửa của Trung Quốcngay từ đầu đã chú ý thành lập một số khu CNC Ở đây phân biệt không phải vềgiai đoạn phát triển mà là liên quan tới mục tiêu, chiến lược của khu chế xuất Về bềngoài, mục tiêu của khu chế xuất Trung Quốc dường như giống với các khu chếxuất trên thế giới: phát triển hợp tác kinh tế, xúc tiến trao đổi kỹ thuật, mở rộng xuấtkhẩu, thu ngoại tệ, tăng thêm việc làm, tạo liên kết với những cơ sở kinh tế nội địa
để thúc đẩy toàn bộ nền kinh tế quốc dân… Tuy nhiên về thực chất, việc thu hútcông nghệ tiên tiến từ bên ngoài, hấp thu công nghệ để chuyển giao vào “nội địa”,hình thành mô hình mới về kết hợp kinh tế và KH&CN là những mục tiêu được đặcbiệt nhấn mạnh trong phát triển các đặc khu kinh tế của Trung Quốc
Theo kinh nghiệm thế giới, có thể tổng hợp những mục tiêu chính của nướcchủ nhà khi lập các khu chế xuất như sau: (1) Thu hút nguồn vốn và kỹ thuật tiêntiến từ bên ngoài và tăng cường thâm nhập thị trường thế giới (tập trung vào nhữngthị trường có dung lượng lớn); (2) Tạo nguồn thu nhập ngoại tệ mạnh; (3) Tạo thêmcông ăn việc làm; (4) Thúc đẩy phát triển vùng lãnh thổ kinh tế mới; (5) Đào tạocông nhân lành nghề nắm bắt được kỹ thuật công nghệ tiên tiến và hiện đại cũngnhư góp phần đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý và hoạt động kinh tế đối ngoại; (6)Tạo những mối liên kết kinh tế tích cực (trực tiếp và gián tiếp) giữa những cơ sởtrong khu chế xuất với những cơ sở của nền kinh tế quốc dân nằm ngoài khu chếxuất, đi từ khai thác cung cấp nguyên liệu tại chỗ, gia công chế biến, cung cấp bánthành phẩm và dịch vụ tại chỗ đến mở rộng diện đầu tư của công ty xuyên quốc giatrong khu chế xuất sang những khu vực khác trong nền kinh tế nước chủ nhà
Giữa các mục tiêu trên có những sự phân biệt nhất định Đứng về lợi ích lâudài của nước sở tại thì mục tiêu (1), (5), (6) là có ý nghĩa quan trọng nhất Đó khôngnhững là tiêu chuẩn cơ bản để nhìn nhận, đánh giá sự thành công hay thất bại củaviệc lập khu chế xuất mà còn là những mục tiêu có ý nghĩa chiến lược quán xuyếnnhất đòi hỏi nước chủ nhà phải có đối sách chiến lược thực tiễn thật linh hoạt vàkhôn ngoan để cuối cùng thực hiện cho bằng được
Cũng có sự khác nhau về vận dụng những mục tiêu này ở các nước khác nhautùy theo ý đồ chiến lược phát triển quốc gia Ở Ấn Độ, khu chế xuất mang ý nghĩa
là một khu biệt lập thực hiện chế độ mậu dịch tự do với thị trường thế giới Trongmột thời gian dài, các khu này chỉ được coi như một trong những chính sách điềuchỉnh kinh tế của chủ nghĩa tư bản nhà nước nhằm thúc đẩy quá trình phát triển nềncông nghiệp bản xứ theo chiến lược thay thế nhập khẩu Đối với những đặc khu
Trang 17kinh tế và các thành phố mở cửa của Trung Quốc, mục tiêu (1), (4), (5), (6) lànhững mục tiêu được quan tâm nhất
Như vậy, có thể thấy, khả năng xây dựng khu CNC trong khu chế xuất là rấtkhác nhau phụ thuộc vào sự khác nhau trong xác định mục tiêu chủ yếu của các khuchế xuất Có thể xuất hiện khu CNC trong các khu chế xuất vốn nhấn mạnh vào một
số mục tiêu phát triển kinh tế dựa trên KH&CN, mở rộng quan hệ lan tỏa công nghệ
ra toàn nền kinh tế… và cũng là mục tiêu mang tính chiến lược, lâu dài Ngược lại,không thể có khu CNC trong khu chế xuất khi giữa chúng không tồn tại mối quan
hệ nhất định về mục tiêu
2 Vấn đề của Việt Nam
Ở Việt Nam đã phát triển các khu CNC như Khu CNC Hòa Lạc, Khu CNCThành phố Hồ Chí Minh (không kể các loại hình khác như Khu nông nghiệp ứngdụng CNC, Khu phần mềm,…) và có kế hoạch xây dựng một số khu CNC khác.Thực tế cũng đang đặt ra những vấn đề phải lựa chọn về loại hình khu CNC phùhợp, mối quan hệ giữa khu CNC và vùng kinh tế xung quanh, vai trò của khu CNCtrong phát triển KH&CN và kinh tế, vai trò của khu CNC trong thu hút công nghệ
từ bên ngoài và nhân rộng trong nền kinh tế, nguồn lực phát triển khu CNC… Phát triển khu CNC trong khu kinh tế sẽ góp phần vào giải quyết các vấn đềtrên:
- Hiện tại, các doanh nghiệp trong khu kinh tế, khu chế xuất ở nước ta còn rất hạnchế về trình độ công nghệ Ngay như ở Thành phố Hồ Chí Minh, mới đây(tháng 1 năm 2009) Ban quản lý các Khu công nghiệp - Khu chế xuất (Heppza)
đã phối hợp với Sở KH&CN tiến hành khảo sát trình độ công nghệ của cácdoanh nghiệp tại các Khu công nghiệp - Khu chế xuất và kết quả là: chỉ 1% sốdoanh nghiệp trong các khu công nghiệp, khu chế xuất là đạt trình độ tiên tiến;
do nhiều doanh nghiệp có trình độ công nghệ lạc hậu nên tỷ lệ doanh nghiệp đạtmức độ tự động hóa hoàn toàn cũng chỉ chiếm 25%, bán tự động 60%; số doanhnghiệp chỉ đạt mức độ thủ công cơ khí cũng chiếm một tỷ lệ không nhỏ là 15%;
có đến 10% các doanh nghiệp tại các khu công nghiệp, khu chế xuất nói trênmua lại thiết bị với giá trị kỹ thuật chỉ còn dưới 50%2 Những hạn chế này cóliên quan tới tiềm lực CNC nói chung và khu CNC nói riêng
- Các khu CNC đều cần dựa vào những vùng kinh tế đủ lớn Chẳng hạn haikhu CNC lớn như Khu CNC Hòa Lạc và Khu CNC Thành phố Hồ Chí Minhcũng rất chú ý đến mối quan hệ với những vùng kinh tế rộng lớn hơn Khu
Trang 18CNC Hòa Lạc “ sử dụng chức năng đô thị của “Thành phố mẹ” Hà Nội,phát triển một cách thích hợp giữa Hà Nội và Khu CNC Hòa Lạc… Sự liênkết giữa Khu CNC Hòa Lạc và Hà Nội sẽ mang lại hiệu ứng tổng hợp caođối với sự thành công của Khu CNC Hòa Lạc”3; Khu CNC Hòa Lạc coi mình
“ là một thành phần cốt yếu của thành phố mới Hòa Lạc…”4 Như vậy, việcđặt khu CNC trong khu kinh tế sẽ tạo ra chỗ dựa vững chắc mà các khu CNCkhác cần phải tìm kiếm và kiến lập
- Gắn với khu kinh tế, khu CNC sẽ tranh thủ được nhiều điều kiện về địađiểm, cơ sở hạ tầng, chính sách ưu đãi, mối quan hệ mở cửa với bên ngoài,
bộ máy quản lý,… của khu kinh tế để phát triển Khi phân tích về nguyênnhân khiến một khu CNC thất bại, Richard L Thuston đã nhấn mạnh đến cácnhân tố như: duy trì lâu dài chính sách đóng cửa; hạ tầng không được pháttriển tương thích; năng lực/liên kết nội sinh về công nghệ là không đủ/khônghiệu quả; những “gói đầu tư” không thích hợp; cơ cấu pháp lý và hành chínhkhông thích hợp5 Xem xét kỹ những nhân tố này, có thể thấy rõ lợi thế củamột khu CNC nằm trong khu kinh tế là rất đáng kể
Đồng thời, để thúc đẩy có hiệu quả khu CNC trong khu kinh tế ở nước ta, cầnchú ý một số điểm sau:
1 Xác định rõ đặc thù của khu CNC trong khu kinh tế thông qua mối quan hệgiữa khu CNC và khu kinh tế:
- Về mục tiêu:
+ Tăng cường khả năng tiếp nhận, làm chủ công nghệ tiên tiến chuyển giao
từ bên ngoài vào khu kinh tế và lan tỏa công nghệ nhập ra nền kinh tế + Phát triển năng lực nội sinh về CNC của khu kinh tế
+ Hỗ trợ các doanh nghiệp hoạt động trong khu kinh tế tham gia ứng dụng,phát triển CNC
+ Đóng vai trò động lực thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu kinh tế của khu kinh tế
và của vùng theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
3 Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường - Dự án Khu CNC Hòa Lạc: “Thuyết minh Quy hoạch tổng thể và nghiên cứu khả thi giai đoạn I Khu CNC Hòa Lạc”, Hà Nội, 6/1998, trang 23.
4 Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường - Dự án Khu CNC Hòa Lạc: “Thuyết minh Quy hoạch tổng thể và nghiên cứu khả thi giai đoạn I Khu CNC Hòa Lạc”, Hà Nội, 6/1998, trang 14) (Cơ quan hợp tác quốc
tế Nhật Bản - Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “Nghiên cứu cập nhật quy hoạch chung Khu CNC Hòa Lạc tại nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, Báo cáo giữa kỳ, tháng 7/2007, trang 22.
5 Richard L Thuston “Một cách tiếp cận phát triển khu CNC - dùng khoa học và công nghệ làm đòn bẩy cho lợi thế cạnh tranh” - Viện Nghiên cứu Chiến lược và Chính sách KH&CN, Ban Thông tin - Tư liệu -
Trang 19- Về quy hoạch:
+ Xác định quan hệ hỗ trợ, bù trừ nhau giữa phân khu giải trí của khu CNC
và phân khu giải trí của khu kinh tế; tương tự như vậy đối với phân khudân cư, Trung tâm quản lý điều hành, khu bảo thuế, dịch vụ kỹ thuật vàthương mại
+ Phối hợp giữa hệ thống cơ sở hạ tầng của khu CNC và khu kinh tế
+ Phối hợp các giai đoạn phát triển của khu CNC và khu kinh tế
- Về quản lý: tích hợp chức năng và bộ máy quản lý của khu CNC với khukinh tế
2 Trên cơ sở phối hợp về mục tiêu, quy hoạch,… xây dựng các phương ánphối hợp, lồng ghép về đầu tư xây dựng của hai khu CNC và khu kinh tế để giảiquyết tối ưu bài toán về vốn
3 Xác định rõ hơn các mục tiêu của khu kinh tế ở nước ta Phân loại các khukinh tế khác nhau về tính chất công nghệ, vai trò động lực trong nền kinh tế, ý nghĩathu hút và lan tỏa công nghệ nhập,… để làm cơ sở cho việc gắn kết khu CNC vàkhu kinh tế
4 Xúc tiến nhanh những chủ trương đã có về hình thành khu CNC trong khukinh tế Cụ thể các chủ trương như phát triển khu CNC trong Khu kinh tế mở ChuLai nêu trong Quy chế Hoạt động của Khu kinh tế mở Chu Lai (Ban hành kèm theoQuyết định số 253/2006/QĐ-TTg ngày 06 tháng 11 năm 2006 của Thủ tướng Chínhphủ), Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 43/2004/QĐ-TTg ngày 23 tháng 3năm 2004 Về việc phê duyệt Quy hoạch chung xây dựng Khu kinh tế mở Chu Lai,tỉnh Quảng Nam cần được sớm triển khai trên thực tế./
Trang 20KHƠI NGUỒN CHUYÊN GIA, TRÍ THỨC NGƯỜI VIỆT NAM
Ở NƯỚC NGOÀI THAM GIA HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ, GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO Ở VIỆT NAM
TS Phạm Kiến Thiết 1
Tóm tắt
Trình bày khái quát tình hình đội ngũ trí thức Việt Nam đang sinh sống ở các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới Giới thiệu những chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm thu hút và mở rộng sự đóng góp của các trí thức Việt Nam ở nước ngoài trong các hoạt động phát triển kinh tế và bảo vệ đất nước Đề xuất một số biện pháp trước mắt để tập hợp đội ngũ trí thức người Việt Nam, phát huy các tiềm năng to lớn của họ vào sự nghiệp phát triển đất nước trong giai đoạn hội nhập quốc tế hiện nay
Từ khi giành được độc lập dân tộc đến nay, Ðảng và Nhà nước ta luôn luônkhẳng định vị trí đặc biệt quan trọng và vai trò ngày càng lớn của đội ngũ trí thứctrong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, luôn coi trọng và dành ưu tiên cao choviệc xây dựng, phát triển đội ngũ trí thức Việt Nam trong từng giai đoạn của cáchmạng và vì thế luôn có những chủ trương, quyết sách phù hợp để tập hợp, đoàn kết,xây dựng đội ngũ trí thức, phát huy mạnh mẽ vai trò của trí thức, tạo cơ hội và độnglực thúc đẩy sự cống hiến, sáng tạo của trí thức Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7(Khoá X) tháng 7 năm 2008 của Đảng Cộng sản Việt Nam "Về xây dựng đội ngũ tríthức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước" một lần nữakhẳng định lại đường lối, chủ trương đúng đắn này của Đảng, Nhà nước ta và đề racác giải pháp thực hiện trong bối cảnh mới, trong đó có giải pháp thu hút và pháthuy vai trò của trí thức người Việt Nam ở nước ngoài
Theo thống kê chính thức, đội ngũ trí thức của nước ta hiện có tới 2,6 triệungười có trình độ đại học trở lên, trong đó có 18.000 thạc sỹ, 16.000 tiến sỹ, trên6.000 giáo sư và phó giáo sư2 Bổ sung thêm vào đội ngũ này là một lực lượng khá
1 Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài - Bộ Ngoại giao.
2 Số liệu của Đề án “Xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa,
Trang 21ấn tượng, tương đối đông đảo của đội ngũ trí thức người Việt Nam ở nước ngoài với
tỷ lệ hơn 10% so với trí thức trong nước
Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 26/3/2004 của Bộ Chính trị về công tác đốivới người Việt Nam ở nước ngoài, Chương trình hành động của Chính phủ thựchiện Nghị quyết số 36 và Chỉ thị số 19/2008/CT-TTg ngày 6/6/2008 về việc tiếp tụctăng cường triển khai Chương trình hành động của Chính phủ về công tác với ngườiViệt Nam ở nước ngoài luôn khẳng định: “Người Việt Nam ở nước ngoài là một bộphận không tách rời và là nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam”, “Tiềm lựccủa cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, đặc biệt là về KH&CN, về vốn, vềkhả năng tạo các mối quan hệ giữa các tổ chức và cá nhân ở nước ngoài với nước ta
là một lợi thế và một nguồn lực quan trọng cần phải phát huy để bổ sung và hỗ trợcho sự phát triển đất nước”…
Tính đến nay, có khoảng 3,5 triệu người Việt Nam đang sinh sống ở gần 100quốc gia và vùng lãnh thổ (có tới 80% đang sống ở các nước công nghiệp phát triển
- các trung tâm kinh tế, KH&CN, giáo dục và đào tạo của thế giới) với hơn 300.000người có trình độ đại học và trên đại học (trong đó có hơn 6.000 tiến sỹ và hàngtrăm trí thức tên tuổi được đánh giá cao) được đào tạo một cách bài bản ở nhữngnước phát triển có nền giáo dục chất lượng cao, uy tín, có chuyên môn cao trongnghiên cứu, đào tạo và có nhiều kinh nghiệm làm việc ở các nước tiên tiến
Nét chung của trí thức người Việt Nam ở nước ngoài là tinh thần dân tộc, tìnhyêu quê hương đất nước và mong muốn được đóng góp xây dựng đất nước Thế hệtrí thức trẻ người Việt Nam ở nước ngoài cũng không ngừng lớn mạnh Nhiều tríthức người Việt Nam ở nước ngoài thành đạt trong các lĩnh vực khoa học, kinh tếchính trị Một số người giữ các vị trí quan trọng trong các cơ sở nghiên cứu, đàotạo, bệnh viện, công ty kinh doanh và tổ chức quốc tế có tên tuổi, hàng đầu trên thếgiới Đội ngũ các nhà khoa học trẻ gốc Việt đang trưởng thành và tập trung ởnhiều lĩnh vực khoa học chuyên ngành và kinh tế mũi nhọn của nước sở tại nhưcông nghệ điện tử, thông tin - viễn thông, chế tạo máy, điều khiển học, công nghệsinh học, khoa học vũ trụ, vật liệu mới, công nghệ nanô, năng lượng, y học, các lĩnhvực quản lý kinh tế, ngân hàng, chứng khoán Đây là một nguồn lực tiềm năng cóthể đóng góp vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng đất nước vàhội nhập quốc tế, giúp Việt Nam tiếp thu nhanh chóng các công nghệ mới, nâng caochất lượng giáo dục đào tạo, tạo dựng quan hệ hợp tác với các cơ sở kinh tế, khoahọc ở các nước
Ước tính có tới 150.000 trí thức kiều bào tại Hoa Kỳ (riêng tại thung lũngSilicon có khoảng 12.000 người Việt Nam đang làm việc và hơn 100 người làm
Trang 22việc cho Ngân hàng Thế giới…), 40.000 trí thức tại Pháp, 20.000 trí thức tạiCanada, 4.000 trí thức tại Đông Âu và Liên bang Nga, 7.000 trí thức tại Úc… Tríthức kiều bào đã có nhiều đóng góp tích cực và vô cùng quý báu vào sự nghiệp đấutranh giải phóng dân tộc trước đây, cũng như công cuộc xây dựng đất nước ngàynay.
Xác định đây là một nguồn lực quan trọng trong công cuộc phát triển và bảo
vệ đất nước, vấn đề trí thức người Việt Nam ở nước ngoài là một trong những vấn
đề được Đảng và Nhà nước ta hết sức coi trọng trong việc hoạch định đường lối vàchính sách cần thiết, bước đầu tạo thuận lợi cho kiều bào ta trở lại làm ăn, công táctại Việt Nam, tích cực tham gia đóng góp cho sự phát triển của đất nước trong nhiềulĩnh vực
Những năm qua, đặc biệt từ năm 1986 sau khi Đảng, Nhà nước và nhân dântiến hành đổi mới toàn diện trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, các kênhhoạt động nhằm thu hút trí thức người Việt Nam ở nước ngoài tham gia đóng góptích cực cho công cuộc phát triển đất nước ngày càng được mở rộng và đa dạng hoá.Qua thực tiễn công tác, các kênh hoạt động này có thể đúc kết lại như sau:
a) Trực tiếp tham gia hoặc hỗ trợ nghiên cứu khoa học và phát triển côngnghệ, chuyển giao tri thức, chuyển giao công nghệ, kinh nghiệm quản lýtiên tiến nhằm phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ đất nước;
b) Tham gia hoạt động giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực có trình độ, đápứng những đòi hỏi của đất nước;
c) Tư vấn hoạch định chính sách phát triển đất nước, các ngành kinh tế, khoahọc - công nghệ, giáo dục - đào tạo và các giải pháp thực hiện;
d) Làm cầu nối cho các hoạt động hợp tác về khoa học - công nghệ, giáo dục
và đào tạo, giữa các nhà khoa học trong nước và ngoài nước;
e) Cung cấp thông tin cập nhật cho các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế;
f)Tìm kiếm các nguồn đầu tư, hoặc tham gia đầu tư trực tiếp vào phát triểnkinh tế, khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo…
Theo các số liệu tổng hợp, phần lớn trí thức người Việt Nam ở nước ngoài vềViệt Nam tham gia vào các kênh hoạt động này là từ những nước, những trung tâmkinh tế phát triển, như: Hoa Kỳ chiếm 30,31%, Pháp: 19%, Úc: 12,23%, Canada:7,97%… Hằng năm, ước tính trung bình có khoảng 200 lượt chuyên gia, trí thứcngười Việt Nam ở nước ngoài từ các nước như Hoa Kỳ, Pháp, Đức, Nhật, Úc đượcmời về làm việc với các Bộ, ngành, địa phương, các cơ quan nghiên cứu khoa học
Trang 23hoặc các cơ sở sản xuất, trong đó có 55% lượt về làm việc với cơ quan quản lý, và45% với tổ chức khoa học - công nghệ, y tế, giáo dục - đào tạo… Trong những nămgần đây, cùng với những chuyển biến mới trong cộng đồng người Việt Nam ở nướcngoài, mối quan hệ của đội ngũ trí thức người Việt Nam ở nước ngoài với đất nướcngày càng tăng Nhiều trí thức người Việt Nam ở nước ngoài đã hợp tác tích cựcvới các cơ quan trong nước dưới nhiều hình thức khác nhau như tham gia giảngdạy, tham gia đề tài nghiên cứu, các diễn đàn, hội nghị, hội thảo khoa học; giớithiệu chuyên gia nước ngoài vào hợp tác với trong nước, mời chuyên gia trong nước
dự các sinh hoạt khoa học quốc tế; xin học bổng đào tạo, nghiên cứu; quyên góphọc bổng khuyến khích tài năng trẻ; kết hợp hoạt động sản xuất kinh doanh với ápdụng tiến bộ kỹ thuật và chuyển giao công nghệ; tham gia các chương trình hợp tácquốc tế của Việt Nam… Một số lĩnh vực đang nghiên cứu hợp tác có hiệu quả nhưtin học, điện tử, viễn thông, y học, vật liệu tổng hợp, giáo dục - đào tạo, tài chính -
kế toán, ngân hàng, xây dựng, công nghệ in, chế biến và bảo quản thực phẩm, giốngcây, nuôi trồng thuỷ sản, xử lý chất thải công nghiệp… Đặc biệt, đã có hơn 200 tríthức người Việt Nam ở nước ngoài về nước làm việc cố định, thường xuyên trongcác trung tâm nghiên cứu KH&CN, giáo dục và đào tạo hoặc đóng góp tri thức cho
sự phát triển của đất nước bằng nhiều hình thức khác nhau Ngay cả những trí thứckiều bào vốn trước đây có những quan điểm, chính kiến khác nhau nay cũng dầndần thay đổi nếp nghĩ Với họ, quê hương và dân tộc là thiêng liêng nhất Điều tâmnguyện lớn nhất trong phần cuối đời của họ là được quay trở về Việt Nam để đónggóp những gì có thể cho quê hương
Sự nghiệp phát triển khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo được Đảng vàNhà nước ta coi là quốc sách hàng đầu, được ưu tiên đầu tư cao, cũng là nơi pháthuy, thu hút được nhiều tiềm năng của trí thức người Việt Nam ở nước ngoài thamgia Trong lĩnh vực khoa học - công nghệ, đầu tư cho nghiên cứu và phát triển côngnghệ, chuyển giao tri thức - công nghệ, cung cấp thông tin, làm cầu nối giữa các cánhân, tổ chức khoa học trong nước với các trung tâm khoa học quốc tế, đặc biệttrong lĩnh vực CNC, đã thu hút một số lượng không nhỏ các chuyên gia trí thứckiều bào có uy tín, trình độ chuyên môn cao tham gia có hiệu quả Một số hội nghị
tư vấn, khoa học chuyên đề được tổ chức thành công có sự đóng góp tích cực của tríthức người Việt Nam ở nước ngoài trong việc định hướng xây dựng chính sách vàphát triển dài hạn, như: Hội nghị tư vấn chuyên đề về giáo dục đại học ở Việt Namthu hút hơn 100 giáo sư, tiến sỹ người Việt Nam ở nước ngoài; Hội nghị phát triểncông nghệ sinh học ở Việt Nam tư vấn cho chương trình phát triển công nghệ sinhhọc đến năm 2010; Hội nghị “Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài với sựnghiệp phát triển công nghệ thông tin - truyền thông (ICT) nước nhà” góp ý cho
Trang 24chính sách phát triển ICT quốc gia tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh, tháng8/2005; Hội thảo trí thức người Việt Nam ở nước ngoài góp ý cho đề án trình Hộinghị Trung ương 7 (Khoá X) về “Xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế” tổ chức tại Thànhphố Hồ Chí Minh, tháng 4/2008…
Hoạt động giáo dục - đào tạo hiện đang là một trong những lĩnh vực nóngbỏng, được mọi tầng lớp xã hội, các cấp lãnh đạo chính quyền quan tâm sâu sắc.Đảng và Nhà nước ta đang xây dựng nhiều giải pháp cấp thiết nhằm đầu tư, nângcao chất lượng, đổi mới cơ sở hạ tầng giáo dục - đào tạo trong đó có giải pháp thuhút chuyên gia, trí thức kiều bào vào lĩnh vực này Nhiều trí thức kiều bào đã cónhững đóng góp hiệu quả vào hoạt động giáo dục - đào tạo của Việt Nam, từ việctrực tiếp tham gia giảng dạy và nghiên cứu tại các trường đại học quốc gia đếnquyên góp để cấp học bổng cho các sinh viên có tài năng Có những cá nhân, tổchức người Việt Nam ở nước ngoài lại xúc tiến tham gia đầu tư mở các cơ sở đàotạo cao đẳng, đại học, sau đại học tại các thành phố lớn nhằm đào tạo nguồn nhânlực cao cho đất nước Tháng 9/2005 một nhóm trí thức kiều bào đã xây dựng đề án
về trường đại học chất lượng cao ở Việt Nam gửi Thủ tướng Chính phủ xem xét vớimong muốn tham gia đóng góp vào công tác đào tạo nhân lực cao cho quê hương,mới đây nhóm này tiếp tục đề xuất lên Chính phủ đề án cải cách giáo dục Việt Nam.Bên cạnh các hoạt động của cá nhân, riêng lẻ trong nhiều ngành và lĩnh vựckinh tế khác nhau theo các hình thức truyền thống, như chuyên gia, trí thức ngườiViệt Nam ở nước ngoài trực tiếp về làm việc theo lời mời hoặc có chương trình hợptác cụ thể có hiệu quả với các trường đại học, cơ quan nghiên cứu, khu CNC, các cơ
sở kinh tế… thời gian qua đã nổi lên những hình thức hoạt động mới có tính tổchức, tập hợp của trí thức người Việt Nam ở nước ngoài đóng góp tích cực cho sựphát triển kinh tế đất nước Ngay từ năm 1998, một nhóm trí thức kiều bào tâmhuyết, có trình độ cao, có uy tín trong giới khoa học, giáo dục - đào tạo, kinh tế trênthế giới đã tự hình thành, tập hợp nhau lại tổ chức các cuộc hội thảo mang tính traođổi, tư vấn liên quan đến công cuộc phát triển của Việt Nam, với sự tham gia củamột số chuyên gia, trí thức trong nước Hội thảo hè năm 2005 tại Đà Nẵng đưa ravấn đề giáo dục là một chủ đề chính được thảo luận Hội thảo hè năm 2008 tại NhaTrang đã thu hút được hơn 40 trí thức kiều bào tham dự với chủ đề “Trách nhiệm xãhội, ổn định và phát triển” cùng với hai cuộc tọa đàm bàn tròn “Thực trạng kinh tếViệt Nam” và “Cải cách giáo dục” Kết quả của Hội thảo là những bài tham luậnđăng tải công khai trên mạng, trên một số phương tiện thông tin đại chúng, những ýkiến đóng góp tâm huyết, có giá trị tham khảo cao đối với các vấn đề phát triển kinh
Trang 25tế, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ… cho các cơ quan nghiên cứu, quản lý
và điều hành đất nước
Một hình thức tập hợp khác và mới của trí thức người Việt Nam ở nước ngoài
là thành lập và đưa vào hoạt động những trung tâm, câu lạc bộ… của trí thức ngườiViệt Nam ở nước ngoài ở trong hoặc ngoài nước, làm đầu mối tập hợp, thu hút lựclượng trí thức kiều bào ở tất cả các nước trên thế giới hướng về phục vụ quê hương
Tổ chức Vietnamese Strategic Ventures Network (VSVN) được thành lập năm 2002tại Mỹ, quy tụ hơn 1.500 doanh nhân, trí thức mong muốn hợp tác với trong nước
về giáo dục - đào tạo Năm 2006, VSVN đã trao tặng 18.000 cuốn tài liệu khoa học
- công nghệ cho các trường đại học của Việt Nam Tháng 8/2007, VSVN đã tổ chứchội thảo tại Mỹ về cơ hội đầu tư và phát triển giáo dục tại Việt Nam Tháng12/2005, Câu lạc bộ Khoa học và Kỹ thuật Việt kiều (OVS) Thành phố Hồ ChíMinh cũng đã được thành lập, thu hút được gần 200 trí thức kiều bào tham gia đăng
ký hội viên Một số chương trình hỗ trợ về giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệđược OVS xúc tiến cho nhiều viện, trường thuộc Thành phố Hồ Chí Minh
Nhằm đáp ứng tâm tư, nguyện vọng của đông đảo giới doanh nhân, trí thứcngười Việt Nam ở nước ngoài tập hợp nhau lại trong một tổ chức, tháng 10/2008,Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý với đề xuất thành lập Hiệp hội doanh nhân ngườiViệt Nam ở nước ngoài tại Việt Nam với hội viên là người có quốc tịch Việt Nam
và gốc Việt Nam, trong số này nhiều người vừa là doanh nhân, vừa là trí thức Đây
là một kênh tập hợp, liên kết các doanh nhân người Việt Nam ở nước ngoài nhằm
hỗ trợ, trao đổi kinh nghiệm, hợp tác với nhau kinh doanh ở nước ngoài, phối hợpđầu tư về nước để chuyển giao công nghệ, kinh nghiệm quản lý tiên tiến, nâng caotrình độ lao động Việt Nam, cùng nhau tham gia thực hiện những công trình kinh tế
có quy mô đầu tư lớn, có tầm cỡ
Phát huy và thu hút tiềm năng to lớn của đội ngũ trí thức người Việt Nam ởnước ngoài vào công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc là trách nhiệm không chỉriêng của Đảng, của Nhà nước mà là của cả hệ thống chính trị và toàn dân Nghịquyết số 36 - NQ/TW của Bộ Chính trị đã khẳng định người Việt Nam ở nướcngoài là một bộ phận không tách rời, một nguồn lực của đất nước và yêu cầu cả hệthống chính trị có trách nhiệm kết hợp việc xây dựng đồng bộ các cơ chế, chínhsách với công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài, kết hợp các hoạt độngtrong nước và ngoài nước, bằng nhiều loại hình và biện pháp khác nhau phù hợp vớicác đối tượng và địa bàn khác nhau Tiềm năng của trí thức người Việt Nam ở nướcngoài là rất lớn, đây là một nguồn lực quan trọng, một “kho báu lộ thiên” rất tiềmtàng đối với sự phát triển của đất nước trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 26Mặc dù trong thời gian qua, sự đóng góp của trí thức kiều bào cho quê hương đấtnước đã thể hiện dưới nhiều hình thức đa dạng và phong phú hơn, nhưng vẫn chưaphát huy hết khả năng của nguồn lực này, còn có nhiều hạn chế và chưa đáp ứngđược yêu cầu, đòi hỏi lớn lao của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,biểu hiện rõ nét ở lượng vốn đầu tư thấp, các dự án đầu tư chủ yếu là vừa và nhỏ, cóthời gian thu hồi vốn nhanh, đặc biệt chưa có nhiều dự án trong lĩnh vực khoa học -công nghệ, giáo dục - đào tạo, nghiên cứu và ứng dụng công nghệ, cũng như thươngmại quốc tế Bên cạnh một số trí thức kiều bào có thể về nước tham gia trực tiếp cáchoạt động trong nước, còn một lực lượng đông đảo trí thức kiều bào đang làm việctại nước ngoài chưa có điều kiện về nước và chúng ta chưa có biện pháp thu hút sự
“đóng góp từ xa” của đối tượng này
Thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác đối vớingười Việt Nam ở nước ngoài, thời gian qua các Bộ, ngành, đơn vị chức năng đãchủ động triển khai xây dựng một số cơ chế, chính sách chung nhằm tháo gỡ khókhăn vướng mắc cho kiều bào về quê hương sinh sống, đầu tư, đóng góp cho đấtnước: Ban hành Luật Quốc tịch sửa đổi theo hướng cho phép người Việt Nam ởnước ngoài có quốc tịch Việt Nam trong khi mang quốc tịch nước khác; thực hiệnchế độ miễn thị thực cho người Việt Nam ở nước ngoài; xây dựng quy chế cư trúcủa người Việt Nam ở nước ngoài; sửa đổi bổ sung Luật Nhà ở tạo điều kiện thuậnlợi cho người Việt Nam ở nước ngoài mua và sở hữu nhà ở; thực hiện Luật Đầu tư
và Luật Doanh nghiệp đối với người Việt Nam ở nước ngoài… Các Bộ, ngành khoahọc - công nghệ, giáo dục - đào tạo đang xây dựng các đề án thu hút chuyên gia, tríthức người Việt Nam ở nước ngoài tham gia vào hoạt động khoa học - công nghệ,giáo dục - đào tạo tại các cơ sở đại học Việt Nam Một số tỉnh, thành phố cũng đang
đề xuất các chế độ chính sách cụ thể phù hợp với tình hình địa phương đối vớichuyên gia, trí thức là người Việt Nam ở nước ngoài về công tác thường xuyên tại
cơ sở, khu công nghiệp, khu CNC… mà tiên phong đi đầu trong hoạt động này làThành phố Hồ Chí Minh Mặc dù đã có những bước đi tích cực như thế, nhưng đếnnay vẫn còn chưa có nhiều các chính sách thu hút, tạo môi trường, điều kiện để tríthức kiều bào về đóng góp xây dựng đất nước Vẫn còn nhiều cấp chính quyền chưathực sự nhận thức đúng đắn và quan tâm đến việc thu hút và tạo điều kiện, mờichuyên gia, chưa xác định được nhu cầu hợp tác cụ thể Phần lớn những nơi đã vàđang thực hiện các chương trình hợp tác với trí thức người Việt Nam ở nước ngoàivẫn chỉ dừng ở mức cung cấp thông tin về giảng dạy ngắn ngày, tổ chức trao đổi,tọa đàm… Các bộ ngành, địa phương cũng triển khai được những cơ chế cụ thể,thiết thực cũng như dành những khoản kinh phí thích đáng để thu hút chuyên gia, tríthức người Việt Nam ở nước ngoài Chúng ta cần xây dựng các cơ chế, chính sách,
Trang 27các giải pháp đồng bộ từ vi mô đến vĩ mô, tăng cường nhận thức và phối hợp củacác ngành, các cấp để tạo ra bước chuyển mạnh mẽ, tiếp thêm động lực cho kiềubào ta nói chung và trí thức người Việt Nam ở nước ngoài nói riêng, hướng về đấtnước, tích cực tham gia đóng góp xây dựng quê hương./.
Trang 28VAI TRÒ CỦA CẤP PHÁT TÀI CHÍNH CHO PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
TRONG NỀN KINH TẾ HIỆN NAY
PGS.TS Bùi Thiên Sơn - CN Hà Đức Huy 1
Tóm tắt
Cấp phát tài chính (CPTC) giữ vai trò then chốt trong việc phát triển nền kinh
tế thế giới cũng như ở Việt Nam Nhiều quốc gia thường xuyên tăng khối lượng đầu
tư vào hoạt động đổi mới và đổi mới việc CPTC cho KH&CN, qua đó giúp cho đất nước ngày càng phát triển Ở nhiều quốc gia việc tiến hành công cuộc đổi mới chính là một chương trình quốc gia quan trọng phục vụ CNH, HĐH đất nước Đây cũng là bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong quá trình phát triển sự nghiệp KH&CN cho đất nước, cần chú ý phát triển đồng đều các nguồn CPTC cho KH&CN.
Cấp phát tài chính là các phương pháp và phương tiện thanh toán để
chuyển một nguồn tài chính từ một quỹ nhất định đến người nhận và người sử dụng,nhằm thực hiện một dự án kinh tế, xã hội hay để thành lập và phát triển một doanhnghiệp Xét trên phạm vi nền kinh tế chung, CPTC là hoạt động của nhà nước, củacác cơ quan chính quyền địa phương, thông qua ngân sách nhà nước và các quỹ tiền
tệ Phương thức CPTC ngân sách là không hoàn trả; còn phương thức CPTC tíndụng ngân hàng là phải hoàn trả theo đúng thời hạn, ngoài tiền vốn còn phải trả lãi.CPTC qua ngân sách nhà nước (cấp phát ngân sách) là phương thức cấp phát chủyếu trong hoạt động của nhà nước trên các lĩnh vực hành chính sự nghiệp, kinh tế,văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng CPTC qua ngân sách nhà nước để đầu tư rấthạn chế, chủ yếu là cho các công trình kết cấu hạ tầng và cho các xí nghiệp côngnghiệp nặng chậm thu hồi vốn Đối với các doanh nghiệp, có hai loại CPTC chủyếu: tự CPTC bằng nguồn vốn tự có của xí nghiệp (lợi nhuận, quỹ xí nghiệp ) vàCPTC từ bên ngoài (vay, phát hành cổ phiếu, cổ phần hoá )
Việc cấp phát tài chính cho các chương trình KH&CN từ phía Nhà nước và
đổi mới việc CPTC chiếm vị trí quan trọng khi xác định vai trò then chốt và động
Trang 29lực dẫn đầu trong việc phát triển nền kinh tế Việt Nam Đổi mới cho phép tạo ra lợithế trong hầu hết các lĩnh vực cạnh tranh của nền kinh tế Đối với một quốc gia nhưViệt Nam, sử dụng hiệu quả đổi mới mà được Đảng ta khởi xướng từ năm 1986 trở
đi là công cụ hữu hiệu nhất để thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội đếnnăm 2020 như: bảo đảm an ninh quốc gia, bảo vệ môi trường, nâng cao mức sống
và chất lượng cuộc sống cho người dân và công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.Thực tế cho thấy những quốc gia dẫn đầu trong lĩnh vực CNC, như Mỹ, NhậtBản, Anh, Đức, Singapore, thường xuyên tăng khối lượng đầu tư vào hoạt động đổimới KH&CN, đổi mới việc CPTC ở các quốc gia tiến hành đổi mới chính là mộtchương trình quốc gia quan trọng
Việc cấp phát tài chính tại Hoa Kỳ
Tại Hoa Kỳ, sự tham gia tích cực của nhà nước để đầu tư vào KH&CN dựatrên ba định đề thống nhất sau đây:
- Kiến thức khoa học là chìa khóa dẫn đến tương lai;
- Công nghệ là động cơ của sự phát triển kinh tế - xã hội;
- Trách nhiệm của Chính phủ là khuyến khích và đầu tư cho sự phát triển củaKH&CN quốc gia
Các chính sách ưu tiên hàng đầu của đổi mới CPTC được thực hiện ở Hoa Kỳdưới hình thức hợp tác rộng rãi giữa Chính phủ Liên bang, các hiệp hội và việnnghiên cứu trong lĩnh vực phát triển KH&CN, cũng như hình thành các cơ sở hạtầng công nghệ Chính sách này nhằm bảo đảm:
- Trong lĩnh vực chế tạo động cơ - phát triển các công nghệ bảo đảm bướcđột phá mạnh mẽ trong ngành lắp rắp xe hơi và nhiên liệu kỹ thuật;
- Trong các ngành công nghiệp xây dựng - nâng cao chu kỳ sống của cáccông trình xây dựng, bảo đảm sự an toàn của môi trường xung quanh;
- Trong lĩnh vực công nghệ tiên tiến (ATP) - kích thích những công nghệ cótính mạo hiểm cao nhưng có triển vọng sẽ tạo điều kiện thành lập nhữngsản phẩm và dịch vụ hoàn toàn mới, cũng như đưa chúng thâm nhập vào thịtrường thế giới;
- Trong lĩnh vực đầu tư lại công nghệ (TRP) - xóa bỏ sự phân tán giữa các cơ
sở công nghiệp quân sự và công nghiệp dân sự, cũng như chú ý tới những
ưu tiên mà các tổ hợp quân sự - công nghiệp của Hoa Kỳ cung cấp;
Trang 30- Trong lĩnh vực sử dụng những kết quả nghiên cứu khoa học và nhữngnghiên cứu do các phòng thí nghiệm của chính phủ tiến hành - cung cấpcác công nghệ và thực hiện việc thẩm định các dự án
Chính sách «công nghệ kép» là một phần của chương trình nhà nước về côngnghệ bảo mật của Hoa Kỳ đã kích thích đáng kể quá trình gắn kết giữa ngành côngnghiệp dân sự và công nghiệp quân sự bằng cách khắc phục những rào chắn về tổchức và kỹ thuật giữa các lĩnh vực của nền kinh tế
Phù hợp với các hướng phát triển đổi mới ưu tiên đã được lựa chọn, người taxác định được những định hướng chiến lược chính sách nhà nước của Hoa Kỳ tronglĩnh vực nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, KH&CN Mỹ trên thị trườngthế giới trong thế kỉ 21 như:
1 Bảo đảm sự khuyến khích của nhà nước đối với KH&CN;
2 Hình thành và đẩy mạnh hoạt động của các viện nghiên cứu khoa họcnhằm mở rộng lĩnh vực đổi mới Nhà nước tạo điều kiện cho sự phát triểncủa thị trường, nhưng không thay thế nó;
3 Tạo ra một môi trường kinh doanh thuận lợi để thúc đẩy hoạt động đổi mới;
4 Định hướng nghiên cứu khoa học của Hợp chủng quốc dựa trên sự thỏamãn nhu cầu của nền kinh tế theo khả năng của ngân sách;
5 Sự hỗ trợ của chính phủ dành cho các trường đại học Mỹ và quá trình hoànthiện chất lượng giáo dục ở các trường phổ thông và đại học, cao đẳng
Việc cấp phát tài chính tại Nhật
Các hoạt động đổi mới KH&CN ở Nhật đứng thứ hai trên thế giới chỉ sau Hoa
Trang 31- Thúc đẩy sự phát triển KH&CN trong các vùng khác nhau của đất nước;
- Tạo điều kiện nhằm quan tâm tới KH&CN
Trong nhiều năm liền Nhật Bản đứng đầu thế giới về mức độ chi choKH&CN Năm 1997, mức chi đó là 3,12% GDP của cả nước Những thành viênchính của quá trình đầu tư đổi mới ở Nhật là các tập đoàn tài chính - công nghiệp,các doanh nghiệp, mà chính họ CPTC cho khoảng 2/3 của sự đổi mới của đất nước.Nhà nước đóng vai trò đặc biệt tích cực trong vai trò tổng điều phối các hoạt độngnghiên cứu khoa học trong cả nước, để thực hiện các chương trình quy mô lớnnhằm phát triển KH&CN và khích lệ các công ty tư nhân
Trong vòng 20 năm gần đây tổng chi phí phát triển của KH&CN tại Nhật Bảntăng gấp tám lần, và đây là chỉ số khá lớn trên thế giới về chi phí trong lĩnh vực đổimới Từ năm 1995, việc CPTC nhà nước được áp dụng cho các công ty vừa và nhỏ,với số tiền tương đối lớn (phân bổ ngân sách đã tăng khoảng 50%) Chính Ngânsách của Nhật Bản là một yếu tố của chương trình phát triển KH&CN: vào năm
1999, để nghiên cứu các máy móc nội tiết đã cấp 11,2 tỷ yên, nghiên cứu các kỹthuật di truyền 8,7 tỷ yên,
Các biện pháp nhà nước cũng bao gồm việc giảm thuế từ 46 xuống 40%.Hiện nay, chính sách đổi mới của Nhật Bản được hình thành và thực hiệnphù hợp với kế hoạch tài chính Nhà nước cho KH&CN vào giai đoạn năm 2001 -
2015, trong đó bao gồm:
- Tăng cường CPTC quốc gia cho đổi mới KH&CN;
- Phấn đấu 30 người nhận giải thưởng Nobel trong vòng 50 năm;
- Tăng khả năng hỗ trợ cho các nhà khoa học trẻ;
- Hỗ trợ KH&CN về chăm sóc sức khỏe, công nghệ thông tin, bảo vệ môitrường, công nghệ nano;
- Nâng cao năng lực cạnh tranh của công nghệ công nghiệp thông qua sự hợptác của các tập đoàn, các chính phủ và Viện Hàn lâm;
- Cải tổ hệ thống giáo dục trong lĩnh vực KH&CN
Việc cấp phát tài chính tại các nước châu Âu
Liên minh châu Âu, một đối thủ cạnh tranh với Hoa Kỳ và Nhật Bản tronglĩnh vực hoạt động đổi mới, đã tiến hành chương trình khung nghiên cứu công nghệ,
Trang 32xác định trong giai đoạn từ năm 2002 - 2006 Ngân sách của Chương trình đã đạtcon số kỉ lục 17,5 tỷ euro Cùng với định hướng ưu tiên nghiên cứu Liên minh châu
Âu đưa vào:
- Khoa học về sự sống, bao gồm cả di truyền học;
- Công nghệ sinh học trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe;
Việc cấp phát tài chính tại Liên bang Nga
Tại Nga, năm 1997, ngân sách Liên bang chỉ cung cấp 2,28% chi tiêu ngânsách cho đổi mới, năm 1998: 2,23%, năm 1999: 2,02%, năm 2000: 1,85% và năm2001: 1,54% Ngân sách Liên bang năm 2003 bảo đảm cung cấp cho đổi mớiKH&CN trong khoảng 1,52% Tuy nhiên, Luật Khoa học và Luật Khoa học - Côngnghệ quy định nên cung cấp cho khoa học dân sự ít nhất là 4% ngân sách của Liênbang Đồng thời, những kinh nghiệm của các quốc gia phát triển kinh tế trên thếgiới cho thấy, sự phát triển đổi mới được đảm bảo bằng nguồn tài chính được cungcấp trong lĩnh vực khoa học và kỹ thuật phải chiếm 1,5% GDP
Vai trò của Nhà nước trong việc bảo đảm các điều kiện để đổi mới phải tậptrung vào ba lĩnh vực chính:
- Tổ chức đổi mới về tài chính;
- Điều chỉnh tài chính cho hoạt động đổi mới;
- Bảo đảm khuyến khích CPTC cho KH&CN của nhà nước, doanh nghiệp vàhiệp hội khoa học
Bên cạnh đó, việc tổ chức CPTC cho đổi mới ở Nga diễn ra vô cùng khó khăn
do thiếu luật quy định hoạt động đổi mới Trong nhiều năm, dự thảo bộ luật Liên
Trang 33bang “Về hoạt động đổi mới và chính sách đổi mới quốc gia” đã hai lần được đệtrình lên Đuma quốc gia Mặc dù vậy, những dự án luật này, theo quan điểm của cácnhà khoa học vẫn chưa được nghiên cứu kỹ và không thể trở thành cơ sở pháp luật
để tổ chức, điều chỉnh cũng như CPTC cho hoạt động đổi mới của Liên bang Nga.Việc CPTC không đầy đủ ở lĩnh vực KH&CN ở Nga gắn liền cùng với việc giảmkhông ít khối lượng nguồn dự trữ đầu tư trong nước, tạo ra hệ thống cho vay, thị trườngchứng khoán, hoạt động ít hiệu quả của các nhóm tài chính - công nghiệp trong lĩnh vựcKH&CN, sự thiếu hụt theo quy tắc, hình thái khác của việc tác động lẫn nhau giữa nhànước, khoa học trong định hướng việc CPTC đổi mới
Người ta cho rằng, việc CPTC trực tiếp của nhà nước cho đổi mới KH&CNhiện nay phải tập trung vào:
- Thứ nhất, phân bố có hiệu quả các nguồn vốn ngân sách;
- Thứ hai, kích thích các hội liên hiệp tăng khả năng đầu tư vào hoạt động
đổi mới và nhất là hoạt động đổi mới KH&CN.
Với mục đích này cần quay trở lại thực tiễn hình thành Quỹ phát triển trongkhuôn khổ ngân sách Liên bang Quỹ này có trách nhiệm bảo đảm thực thi các quytrình đánh giá, chọn lọc và CPTC cho các dự án đầu tư và các chương trình dựa vàoCNC Trong thời đại ngày nay, chính các nguồn lực về ngân sách là cơ sở để cácchủ thể kinh tế đất nước thực hiện hoạt động đổi mới Vì thế cho nên các dự án đổimới và chương trình đổi mới đưa ra những mạo hiểm cao, dài hạn và chi phí nhiềucho việc đầu tư, cần sử dụng những cơ chế của cấp vốn (ví dụ: cấp tiền cho ngânsách Liên bang - nguồn tài chính của công ty - tiền thu hút trên thị trường chứngkhoán - tiền phát triển ngân sách)
Phương pháp này cho phép đảm bảo thực hiện chiến lược đầu tư nhà nước đểphát triển đổi mới nước Nga, tăng cao, thống nhất và sử dụng hiệu quả các nguồn
dự trữ tiền vào tất cả các việc cấp kinh phí cho đổi mới
Việc cấp phát tài chính tại Việt Nam
Cơ chế tài chính cho KH&CN ở Việt Nam hiện nay còn bất cập, gây ảnhhưởng không nhỏ đến hoạt động sáng tạo của nhà khoa học Ðây là vấn đề đang cónhiều tranh luận, thu hút sự quan tâm của cả các nhà quản lý, nhà khoa học và xãhội
Ở Việt Nam hiện nay, cơ chế tài chính trong hoạt động KH&CN chưa hoànthiện và đang là chủ đề của những cuộc tranh luận chưa phân thắng bại giữa các nhà
Trang 34quản lý và các nhà khoa học Các nhà quản lý đánh giá đầu tư cho KH&CN ở ViệtNam mang lại hiệu quả không cao; còn các nhà khoa học thì khẳng định rằng, cơchế quản lý tài chính hiện nay đang làm lãng phí thời gian, thậm chí làm phương hạiđến lao động sáng tạo của giới khoa học và biến các nhà khoa học thành nhữngngười chỉ lo chạy chứng từ Làm tốn rất nhiều thời gian công sức Theo điều tracuối năm 2008 của chúng tôi, có ý kiến cho rằng nhiều chủ nhiệm đề tài mất đến60% thời gian cho việc giải trình về đề tài và thanh toán, quyết toán đề tài, lẽ ra sốthời gian đó có thể dành cho nghiên cứu khoa học được nhiều hơn.
Trong các cuộc tranh luận, cả hai bên đều khẳng định, đây là vấn đề ai cũngthấy, ai cũng biết, nhưng chưa bên nào đưa ra được lời giải thỏa đáng Các nhà quản
lý cho rằng, cần phải quản lý chặt đồng vốn do Nhà nước bỏ ra; còn các nhà khoahọc cho rằng, họ cần có hành lang thỏa đáng để quyết định việc chi tiêu trong hoạtđộng của mình một cách chủ động Ví dụ việc mua mẫu vật phẩm thí nghiệm từnông dân thì không thể có hóa đơn giá trị gia tăng để giải trình cho thuế giá trị giatăng (VAT) phải kê khai theo đề tài,… Do vậy ở mức độ nào đó cần có cách tiếpcận có phân biệt đến các đề tài ở các loại hình nghiên cứu khác nhau
Ðổi mới nhận thức về hoạt động khoa học và công nghệ
Theo chúng tôi, hoạt động KH&CN là một hoạt động đặc thù, lấy sự sáng tạolàm mục đích chủ đạo Vì thế, phải có cơ chế quản lý tài chính riêng cho hoạt độngKH&CN phù hợp đặc thù đó Ở nhiều quốc gia, người ta đang có xu thế đưa ba loạihoạt động: Khoa học (Science), Công nghệ (Technology) và Ðổi mới (Innovation)vào thành đối tượng quản lý chung của một Bộ Do đặc thù của hoạt động KH&CNlấy mục đích sáng tạo là chính, nên sản phẩm của hoạt động KH&CN gồm có baloại:
Thứ nhất: các công bố khoa học dưới dạng các bài báo gốc trình bày các kết
quả mới được công bố trên các tạp chí uy tín có sự phản biện của các chuyên giatrong lĩnh vực chuyên môn;
Thứ hai: các bằng phát minh sáng chế được bảo hộ trong và ngoài nước bởi
các cơ quan chuyên nghiệp;
Thứ ba: những nghiên cứu ứng dụng, thực chất là việc thử nghiệm các kết quả
có sẵn ở điều kiện cụ thể nào đó, nhất là điều kiện trong nước
Sự đổi mới về nhận thức sẽ dẫn đến những đổi mới trong nguyên tắc quản lý
và đầu tư cho hoạt động KH&CN:
Trang 35Một là: tiến hành đầu tư tập trung Với một quốc gia còn nghèo như Việt Nam,
có thể nêu một nguyên tắc chung là “có nhiều thì làm nhiều, có ít thì làm ít”, nhưngphải tập trung, nhất quyết không chia đều, trải rộng
Hai là: đầu tư tới hạn cho hoạt động KH&CN Sản phẩm khoa học khó cân đo
đong đếm bằng các đại lượng đo lường cụ thể, vì thế khó xác định mức tới hạn để
mà đầu tư
Ðổi mới nguyên tắc và cơ chế đầu tư tài chính cho khoa học và công nghệ
Theo khía cạnh tài chính thì hoạt động KH&CN cần có sự phân định rõ giữahoạt động nghiên cứu khoa học và hoạt động sáng tạo công nghệ Hoạt động nghiêncứu khoa học trong mọi thời đại, ở mọi quốc gia đều là hoạt động tiêu tiền, dù đó lànguồn tiền nào - phần lớn là nguồn tài chính công hoặc một phần tài chính do cáccông ty/hãng bỏ ra để đầu tư cho nghiên cứu dài hạn Khó có thể đưa ra thí dụ vềviệc nghiên cứu khoa học làm ra tiền
Như vậy, cần có cơ chế đặc thù cho hoạt động nghiên cứu khoa học và thước
đo hiệu quả của hoạt động này chỉ là số lượng các công trình công bố trên các tạpchí chuyên ngành Nguyên tắc cơ bản để hoạch định chính sách cho hoạt động loạinày là “kế hoạch tuân theo khả năng tài chính” Vì vậy, cơ chế tài chính chủ yếu là
cơ chế cấp phát và biện pháp quản lý chủ yếu tập trung cho quản lý việc chi ngânsách Và nếu đã là cấp phát thì người dùng tiền phải tuân thủ mọi quy định - dù làngặt nghèo của cơ quan quản lý
Hoạt động sáng tạo công nghệ không những chỉ tạo ra công nghệ, có khả năngđăng ký phát minh sáng chế, mà còn có thể mua bán trên thị trường công nghệ và cóthể tạo ra nguồn thu tài chính Chính sách tài chính đối với loại hoạt động này cần
có sự minh bạch giữa thu và chi
Ngoài ra, cũng cần có sự rõ ràng trong nguyên tắc phân chia các khoản thutrong hoạt động chuyển giao, mua bán công nghệ Trong trường hợp công nghệđược thương mại hóa thì tác giả, cơ quan chủ trì và doanh nghiệp phải tuân thủ cácthỏa thuận trước đây về phân chia quyền lợi theo pháp luật
Tuy nhiên, giữa nghiên cứu khoa học và sáng tạo công nghệ có mối liên hệ
"nhân quả" khăng khít với nhau, nhưng trong quản lý, đặc biệt là quản lý tài chínhthì sự tách bạch giữa “nhân” và “quả” lại là cần thiết
Loại hình hoạt động KH&CN thứ ba mang nặng tính ứng dụng là hình thứcvườn ươm doanh nghiệp đang được thực hiện ở nhiều quốc gia Ðây là nơi các công
Trang 36ty khởi nghiệp được tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hình thành và phát triển.Những cố gắng theo hướng này ở nước ta cũng đang trong thời kỳ khởi động, khôngtránh khỏi những vướng mắc, khó khăn về ý tưởng sản phẩm, vốn đầu tư và chínhsách hỗ trợ
Phương thức cấp phát, thanh toán cũng cần có sự đổi mới Cần có phân bổ cụthể, quy định rõ ràng về hạng mục ưu tiên tập trung đầu tư nghiên cứu cơ bản, nângcao trình độ; hạng mục cần tập trung dứt điểm để hoàn thành quy trình, phát minhsáng chế; hạng mục cần có sản phẩm cụ thể
Cơ chế, chính sách là công cụ quản lý của nhà nước, công cụ tốt và dùng đúngthì sẽ tạo ra những sản phẩm tốt Hiện nay, khi nước ta mở cửa hội nhập, việc chọnlựa cách thức làm đúng phụ thuộc nhiều vào yếu tố chủ quan của đội ngũ cán bộquản lý
Tuy nhiên, khi tiến hành chọn lựa, chúng ta còn thiếu phương pháp khoa học,chưa thật sự khách quan và thiếu tính chuyên nghiệp, vì thế cơ chế, chính sách thiếuđồng bộ, thiếu tính khả thi Khắc phục được những tồn tại trên thì chúng ta sẽ tìm rađược cách làm đúng và đồng tiền của nhân dân sẽ được tiêu một cách có hiệu quả(kể cả trong việc làm thỏa mãn sự tò mò khám phá của những người làm nghiên cứukhoa học)
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Sende P.M., Carstedt M Innovation Our Way to The Next Industrial
Revolution/MIT Sloan Management Review.- Winter, 2001.- p 7
2 Gibbons J.H., Wells W Science, Technology and Government in The United
States: Toward The Year 2000/Technology in Society: An International
Trang 376 Wolff M Perspectives/Research-Technology Management September/October,.
2001.- p 3
7 Wolff M Perspectives/Research-Technology Management September/October.
№ 4, 2002.- p 9
8 IMF World Economic Outlook - September, 2002.- p 229.
PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ Ở VIỆT NAM
PGS.TS Nguyễn Hữu Hùng 1
Tóm tắt
Giới thiệu xu thế phân tán và kết nối mạng trong tổ chức và hoạt động thông tin KH&CN tại các nước hiện nay trên thế giới Phác họa nội dung của chiến lược phát triển hệ thống thông tin KH&CN tại Việt Nam giai đoạn tới năm 2020 Đề xuất mô hình tổ chức và hoạt động của các cơ quan thông tin trọng yếu trong hệ thống thông tin KH&CN quốc gia nhằm đáp ứng yêu cầu của hệ thống đổi mới, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
1 Bối cảnh phát triển hoạt động thông tin khoa học và công nghệ
Giai đoạn hiện nay được đặc trưng bằng sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cáchmạng KH&CN, đặc biệt là của công nghệ thông tin và truyền thông đã tác động sâusắc đến sự phát triển của thế giới Thế giới đang chuyển dần từ xã hội công nghiệpsang xã hội thông tin với nền kinh tế tri thức Toàn cầu hóa kinh tế được xác định làmột xu thế khách quan, tạo cơ hội cho phát triển KH&CN sẽ có những bước tiếnnhảy vọt và những đột phá lớn, tác động nhiều mặt đến tất cả các quốc gia Tronglĩnh vực thông tin, phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và truyền thông đãtác động sâu sắc tới hình thức tổ chức của Hệ thống thông tin KH&CN Quốc gia.Lịch sử phát triển Hệ thống thông tin KH&CN Quốc gia ở hầu hết các nước đều đitừ: Phân tán - Tập trung - Phân tán Sự khác nhau ở các nước chỉ thể hiện ở chu kỳ
và mức độ phát triển
Trang 38Vào thời kỳ đầu, khi chưa có máy tính, công tác thông tin được tổ chức phântán, các bài toán thông tin đặt ra để phục vụ cho từng đơn vị cơ sở (quản lý, thốngkê, ) Việc ra đời và phát triển máy tính vạn năng cỡ lớn đã là tiền đề kỹ thuật đưathông tin vào hướng tập trung: tập trung xử lý và lưu trữ thông tin phục vụ chonhiều khách hàng xa gần Tiếp cận tập trung hóa (Centralized Approach) trong tổchức Hệ thống thông tin được coi là thích hợp ở thời kỳ này vì để có máy tính điện
tử lớn thì ít cơ quan thông tin có khả năng trang bị, từ đó hệ lụy là chưa thể thựchiện việc chia sẻ thông tin trên qui mô lớn ở toàn ngành, toàn quốc gia
Với sự ra đời của máy tính cá nhân (The PCs), Hệ thống thông tin lại trở vềthời kỳ phân tán (the Era of Decentralization) Phương thức tổ chức thông tin phântán có khả năng khắc phục các thiếu sót trên Quan điểm phân tán trong tổ chức Hệthống thông tin đã được trở lại cuộc sống song ở trình độ cao hơn nhờ các thành tựuKH&CN thu được trong lĩnh vực công nghệ từ những năm 1990 trở lại đây khi thếgiới chứng kiến sự kết hợp hai lĩnh vực công nghệ là tin học và truyền thông tạothành công nghệ thông tin và truyền thông Trước kia, các Hệ thống thông tin xâydựng theo mô hình phân tán có thể hoạt động và tồn tại theo chế độ tự trị (stand -alone basis), và việc truy cập tới các nguồn tin khác được thực hiện theo cách nốicác điểm (point - to - point circuit) Với sự có mặt của truyền thông, các cơ quanthông tin trong mô hình phân tán được hoạt động trong môi trường mạng, làm choviệc truy cập và chia sẻ thông tin trở nên năng động và hiệu quả hơn Cũng cần bổsung thêm, trong mô hình phân tán, vai trò “tự chủ” của các cơ quan thông tin đượcphát huy, vì hai lý do:
- Sản phẩm và dịch vụ thông tin đến với người dùng tin cuối cùng, khôngphải từ trên rót xuống
- Từng cơ quan thông tin trực tiếp thực hiện tương tác với người dùng tin,
từ đây, hệ lụy tạo ra lực kéo của nhu cầu, tạo tiền đề hình thành thị trườngthông tin đích thực
Phân tích quá trình hoạt động và phát triển Hệ thống thông tin các nước, vàcác Hệ thống thông tin quốc tế như: Năng lượng Hạt nhân (INIS/IAEA), Nôngnghiệp (ARGRIS/FAO), Môi trường (INFOTERA/UNEP)… đều khẳng định xu thếphát triển trong tổ chức trên đây ở các cơ quan thông tin
Sau gần 33 năm thực hiện đường lối Đổi mới của Đảng, Việt Nam đã lớnmạnh về nhiều mặt, trình độ dân trí được nâng cao, kinh tế tăng trưởng khá nhanh,công cuộc, hiện đại hóa đất nước đã đạt được những kết quả to lớn Công tác thôngtin KH&CN cũng có những bước phát triển đáng kể Tuy nhiên, so với các nướctiên tiến, nền kinh tế nước ta vẫn trong tình trạng kém phát triển, nguy cơ tụt hậu so
Trang 39với nhiều nước trong khu vực và thế giới còn lớn; KH&CN vẫn còn ở trình độ thấp.Trong bối cảnh của tiến trình toàn cầu hóa mà chúng ta cũng chấp nhận qua việcViệt Nam đã gia nhập vào Tổ chức Thương mại Thế giới và đang nỗ lực để thế giớicông nhận nền kinh tế thị trường trong thời gian sớm nhất, hoạt động dịch vụKH&CN nói chung, và dịch vụ thông tin KH&CN nói riêng vẫn chưa phát triểnngang tầm với các nước và chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệphóa và hiện đại hóa đất nước Do vậy, chúng ta cần phân tích nhằm xác định và nắmđược cái tất yếu định hướng con đường phát triển
Trong lĩnh vực kinh tế - xã hội nói chung, và hoạt động KH&CN nói riêng,Nhà nước đang tiến hành nhiều chính sách đổi mới cơ chế quản lý theo hướng pháttriển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tăng cường sự tự chủ, tự chịutrách nhiệm của các tổ chức dịch vụ KH&CN công lập Trong bối cảnh toàn cầuhóa đang trở thành một xu thế của sự phát triển mà hội nhập là hệ quả trực tiếp,cùng với hội nhập kinh tế, phát triển kinh tế thị trường, phát triển KH&CN, hệthống thông tin KH&CN quốc gia đang đứng trước cơ hội lớn để phát triển, đồngthời phải đối mặt với những thách thức không nhỏ mà toàn ngành thông tin cần cósách lược và giải pháp phù hợp
2 Đề xuất mô hình và chiến lược để phát triển hệ thống thông tin khoa học và công nghệ quốc gia giai đoạn tới năm 2020
- Mục tiêu: Trong bối cảnh hiện nay, việc hiện đại hóa hệ thống thông tinKH&CN quốc gia nhằm vào các mục tiêu sau đây:
+ Nhanh chóng tạo lập cho đất nước một nguồn lực thông tin đủ lớn đápứng yêu cầu ngưỡng an toàn thông tin quốc gia và các yêu cầu pháttriển, nâng cao năng lực khai thác và sử dụng nguồn lực thông tin trongquá trình phát triển
+ Thúc đẩy quá trình trao đổi và tương tác thông tin trong nước trên cơ sởcông nghệ tiên tiến và phương pháp luận thông tin mới
+ Xây dựng các trung tâm thông tin trọng điểm đủ mạnh
+ Tích hợp các trung tâm thông tin trọng điểm của đất nước thành mạngthông tin tổ hợp
+ Thúc đẩy việc cung cấp và nâng cao năng lực đảm bảo thông tin phục
vụ có hiệu quả quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa, và hội nhậpcủa đất nước
Trang 40Việc hiện đại hóa hệ thống thông tin KH&CN quốc gia được xây dựng dựatrên bốn tiền đề sau đây:
+ Nhu cầu phát triển trong sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đấtnước đòi hỏi phải huy động được mọi nguồn lực, trong đó nguồn lựcthông tin là vô cùng quan trọng
+ Đất nước có chương trình và kế hoạch tổng thể phát triển công nghệthông tin và truyền thông
+ Trong nước nhiều năm qua, nhờ sự quan tâm và đầu tư của nhà nước đãtồn tại và hoạt động một hệ thống thông tin KH&CN quốc gia
+ Sự phát triển tiếp theo của ngành thông tin đòi hỏi phải thực hiện chia
sẻ các nguồn lực và tương tác thông tin tích cực giữa các cơ quan thôngtin trong nước và giữa hệ thống thông tin nước ta với cộng đồng thôngtin quốc tế
- Vai trò mới của hệ thống thông tin KH&CN quốc gia:
Trong bối cảnh hiện nay, hệ thống thông tin KH&CN quốc gia phải đóng bavai trò sau đây:
+ Là nhà cung cấp thông tin (Intermediadiaries in the transfer of Information):Đây là vai trò xuất hiện rất sớm ở cơ quan thông tin Thông tin là hệ tuần hoàn củamột tổ chức Người dùng tin trong xã hội thiếu rất nhiều thông tin cần thiết và cơquan thông tin phải là người đáp ứng nhu cầu này của người dùng tin
+ Là nhà sản xuất và cung cấp loại hàng hóa xã hội đặc biệt (Producer andProvider of National Public Goods): Trong xã hội hiện đại, thông tin là một nguồnlực và là hàng hóa đặc biệt có tính xã hội sâu sắc Để tạo lập trong quốc gia một thịtrường về thông tin, các cơ quan thông tin trong hệ thống phải đưa ra các sản phẩmvới các tiêu thức của hàng hóa và được người dùng tin chấp nhận việc thanh toánhàng hóa đó
+ Là nhà quản trị nguồn lực thông tin quốc gia (Manager of NationalInformation Resources): Tài sản thông tin ở trong quốc gia là rất lớn Thông tinthực sự là nguồn lực, là tài sản của xã hội Nếu những thông tin này được quản lýtốt, được cung cấp đến tận tay người tiêu dùng cần thiết thì sẽ mang lại rất nhiều lợiích cho sự phát triển của xã hội Ngày nay, với cuộc cách mạng về CNTT, nhiệm vụquản trị thông tin này đã trở nên dễ dàng hơn
- Xu thế trong phát triển hệ thống thông tin KH&CN quốc gia của ViệtNam: