Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty cổ phần xây dựng 79 Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty cổ phần xây dựng 79 Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty cổ phần xây dựng 79 Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty cổ phần xây dựng 79 Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty cổ phần xây dựng 79 Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty cổ phần xây dựng 79 Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty cổ phần xây dựng 79
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
Kinh tế thị trường tạo môi trường để các doanh nghiệp phát triểntrong mối quan hệ kinh tế đa dạng Điều đó đã và đang diễn ra trong nềnkinh tế nước ta; ngày nay doanh nghiệp không chỉ tồn tại trong khu vựckinh tế quốc doanh với hình thức doanh nghiệp Nhà nước, nó còn tồn tại vàphát triển với các hình thức: Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữuhạn, Công ty tư nhân, Công ty liên doanh… thuộc sở hữu các thành phầnkinh tế Doanh nghiệp Nhà nước không những phải giữ vai trò điều chỉnh
vĩ mô nền kinh tế xã hội, tiến hành các nhiệm vụ sản xuất kinh doanh trongcác lĩnh vực, ngành nghề có sự cạnh tranh với các thành phần kinh tế khác.Khi điều kiện cơ chế quản lý thay đổi, khi hiệu quả sản xuất kinh doanh trởthành yếu tố sống còn của mỗi doanh nghiệp thì khu vực kinh tế quốcdoanh đã rơi vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng, mà biểu hiện tậptrung nhất là cuộc khủng hoảng về vốn Để thoát ra khỏi cuộc khủng hoảngnày và tồn tại được trong môi trường cạnh tranh với các thành phần kinh tếkhác, các doanh nghiệp Nhà nước phải vượt qua hai thử thách mới là: Đổimới phương thức tạo vốn và đổi mới cơ chế quản lý vốn để sử dụng có hiệuquả nguồn vốn huy động Việc giải quyết hai vấn đề trên thực chất là đi tìmgiải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong những mô hình tổ chứcdoanh nghiệp có khả năng thu hút và quản lý vốn thích ứng với cơ chế thịtrường
Công ty cổ phần xây dựng 79 là một trong những mô hình doanhnghiệp có những ưu thế về tạo vốn và quản lý sử dụng vốn phù hợp với cơchế đó
Xuất phát từ thực tế trên, sau thời gian thực tập tại Công ty được sựgiúp đỡ của Giám đốc - Chủ tịch hội đồng quản trị Cô Khúc Thị Lâm, AnhĐinh Xuân Nam – Kế toán trưởng cùng với sự hướng dẫn tận tình của cô
Trang 2giáo Trần Thị Thanh Tú, em đã lựa chọn đề tài " Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty cổ phần xây dựng 79".
Chuyên đề có kết cấu như sau:
Chương I: Vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp Chương II: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty cổ phần
Trang 3CHƯƠNG I HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1 Vốn của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
1.1. Doanh nghiệp và hoạt động của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp là chủ thể kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân, thựchiện các hoạt động sản xuất kinh doanh trên thị trường nhằm mục đích tối
đa hóa giá trị tài sản chủ sở hữu
Sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? sản xuất cho ai? là ba câu hỏi đặt
ra mà bất cứ doanh nghiệp nào hoạt động trong nền kinh tế thị trường cần phảiquan tâm Trong nền kinh tế thị trường, dưới áp lực của sự cạnh tranh gay gắt,cùng với sự tham gia của nhiều loại hình doanh nghiệp, nhiều thành phần kinh
tế, các doanh nghiệp đều nhằm tìm ra lời giải đáp cho ba câu hỏi cơ bản trên
với mục đích thu được lợi nhuận cao nhất Nền kinh tế thị trường cho phép
mọi doanh nghiệp được tự do kinh doanh theo khuôn khổ của pháp luật.Chính sự tự do ấy đã tạo nên các quan hệ kinh doanh, biểu hiện thông quaquan hệ mua bán trên thị trường và thái độ cư sử của từng thành viên nhằmdẫn dắt thị trường tới mục đích tìm kiếm lợi nhuận
Việc quyết định sản xuất cái gì phụ thuộc vào quan hệ giữa ngườimua và người bán Họ gặp nhau trên thị trường để tìm hiểu xem một bênthị trường cần gì và một bên là thị trường đáp ứng gì cho mình Từ thị hiếunhu cầu trên thị trường và dựa vào khả năng cung ứng của bản thân, cácdoanh nghiệp tự quyết định mình sản xuất cái gì
Sản xuất bằng phương thức nào được quyết định bởi sự canh tranhgiữa các nhà sản xuất Cách duy nhất để doanh nghiệp được về giá cả vàthu được nhiều lợi nhuận là giảm chi phí đến mức tối thiểu thông qua áp
Trang 4dụng phương thức sản xuất có hiệu quả, tiết kiệm chi phí, nâng cao năngsuất và đảm bảo chất lượng sản phẩm.
Để giải quyết câu hỏi thứ ba, đòi hỏi doanh nghiệp phải nghiên cứu
kỹ các chỉ tiêu về cung cầu giá cả, số lượng, chất lượng cũng như hình thứccạnh tranh trên thị trường Họ phải xác định được khách hàng của mình là
ai, họ cần gì và làm thế nào để đáp ứng được yêu cầu của khách hàng…
Có thể thấy mọi hoạt động của doanh nghiệp, dưới bất kỳ hình thứcnào về bản chất đều nhằm giải quyết những vấn đề cơ bản của thị trường vàthu được lợi nhuận phù hợp
1.2. Vốn trong hoạt động của doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm về vốn
Vốn luôn đóng một vai trò quan trọng trong sự tồn tại và phát triểncủa một doanh nghiệp Để định nghĩa “vốn là gì?” các nhà kinh tế đã tốnrất nhiều công sức và mỗi người đều có những định nghĩa riêng, theo quanđiểm riêng của mình
Theo quan điểm của Marx, dưới giác độ các yếu tố sản xuất, vốn đãđược khái quát hóa thành phạm trù tư bản trong đó nó đem lại giá trị thặng
dư và là ”một đầu vào của quá trình sản xuất” Định nghĩa về vốn của Marx
có một tầm khái quát lớn vì nó bao hàm đầy đủ cả bản chất và vai trò củavốn Bản chất của vốn chính là giá trị cho dù nó có thể được biểu hiện dướinhiều hình thức khác nhau: nhà cửa, tiền của…Vốn là giá trị đem lại giá trịthặng dư vì nó tạo ra sự sinh sôi về giá trị thông qua các hoạt động sản xuấtkinh doanh Tuy nhiên, do hạn chế về trình độ kinh tế lúc bấy giờ, Marx đãchỉ bó hẹp khái niệm về vốn trong khu vực sản xuất vật chất và cho rằng chỉ
có kinh doanh sản xuất vật chất mới tạo ra giá trị thặng dư cho nền kinh tế.Còn theo David Begg, tác giả cuốn “kinh tế học”, thì vốn bao gồm:vốn hiện vật và vốn tài chính doanh nghiệp Vốn hiện vật là dự trữ hànghóa đã sản xuất để sản xuất ra các hàng hóa khác, vốn tài chính là các tiền
và các giấy tờ có giá của doanh ngiệp
Trang 5Trong định nghĩa của mình, tác giả đã đồng nhất vốn với tài sản củadoanh nghiệp Thực chất vốn của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của tất
cả tài sản của doanh nghiệp dùng trong sản xuất kinh doanh Vốn của doanhnghiệp được phản ánh trong bảng cân đối tài sản của doanh nghiệp Bất cứdoanh nghiệp nào cũng cần phải có một lượng vốn nhất định để thực hiệnnhững khoản đầu tư cần thiết như chi phí thành lập doanh nghiệp, mua sắmnguyên vật liệu, trả lãi vay, nộp thuế…đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp được liên tục, chi phí mua công nghệ và máy mócthiết bị mới… để tái sản xuất mở rộng Do vậy vốn đưa vào sản xuất kinhdoanh có nhiều hình thái vật chất khác nhau để từ đó tạo ra sản phẩm hànghóa, dịch vụ tiêu thụ trên thị trường Số tiền mà doanh nghiệp thu về sau quátrình tiêu thụ phải bù đắp được chi phí đã bỏ ra và có lãi Số tiền ban đầu đãđược tăng thêm nhờ hoạt động sản xuất kinh doanh Quá trình này diễn raliên tục bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
Còn trong nền kinh tế thị trường, vốn được coi là một loại hàng hóa
Nó giống các hàng hóa khác ở chỗ có chủ sở hữu đích thực, song nó có đặcđiểm khác vì người sở hữu vốn có thể bán quyền sử dụng vốn trong mộtthời gian nhất định Cái giá của quyền sử dụng vốn chính là lãi suất Chínhnhờ có sự tách rời quyền sở hữu và quyền sử dụng nên vốn có thể lưuchuyển trong đầu tư kinh doanh và sinh lời
Dưới góc độ của doanh nghiệp, vốn là một trong những điều kiện vậtchất cơ bản kết hợp với sức lao động và các yếu tố khác làm đầu vào choquá trình sản xuất kinh doanh Sự tham gia của vốn không chỉ bó hẹp trongquá trình sản xuất riêng biệt mà trong toàn bộ quá trình sản xuất và tái sảnxuất liên tục, suốt thời gian tồn tại của doanh nghiệp, từ khi bắt đầu quátrình sản xuất dầu tiên đến chu kỳ sản xuất cuối cùng
Tóm lại, do có rất nhiều quan niệm về vốn nên rất khó có một địnhnghĩa chính xác va hoàn chỉnh về vốn Tuy nhiên có thể hiểu mọt cách kháiquát về vốn như sau:
Trang 6Vốn là toàn bộ các giá trị ứng ra ban đầu và các quá trình sản xuất tiếp theo Vốn là giá trị tạo ra giá trị thăng dư.
1.2.2 Cơ cấu vốn của doanh nghiệp
Cơ cấu vốn là thuật ngữ dùng để chỉ một doanh nghiệp sử dụng cácnguồn vốn khác nhau với một tỷ lệ nào đó để tài trợ cho tài sản của nó
Cơ cấu vốn của doanh nghiệp bao gồm:
- Vốn chủ sở hữu là phần vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệpbao gồm: Vốn điều lệ do chủ sở hữu đầu tư, vốn tự bổ sung từ lợi nhuận và
từ các quỹ của doanh nghiệp, vốn do nhà nước tài trợ (nếu có) Vốn chủ sởhữu được xác định là phần còn lại trong tài sản của doanh nghiệp sau khi
đã trừ toàn bộ nợ phải trả
- Nợ phải trả: là những khoản nợ phát sinh trong quá trình sản xuấtkinh doanh mà doanh nghiệp có trách nhiệm có trách nhiệm phải thanhtoán cho các tác nhân kinh tế như: nợ tiền vay ngân hàng, nợ các tổ chứckinh tế khác, thuế phải nộp cho nhà nước, phải trả công cho nhân viên Trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, vốn đượcphân bổ, đầu tư cho các tài sản cố định và tài sản lưu động để tiến hành sảnxuất Biểu hiện bằng tiền của tài sản cố định và tài sản lưu động là số tiền bỏ
ra để đầu tư cho các tài sản này, đó chính là vốn cố định và vốn lưu động
Và hiệu quả sử dụng tài sản cũng chính là hiệu quả sử dụng vốn đã bỏ ra đểđầu tư cho các tài sản đó Trong luận văn này, chúng ta nghiên cứu các giảipháp để sử dụng vốn cố định và vốn lưu động sao cho có hiệu quả hơn
Để nghiên cứu vấn đề này, trước hết ta cần hiểu thế nào là vốn cố định
và thế nào là vốn lưu động
Vốn cố định:
Quản lý vốn cố định là một trong những nội dung quan trọng của cốngtác quản lý tài chính daonh nghiệp Khi tham gia vào quá trình sản xuấtkinh doanh, sự vận động của vốn cố định gắn liền với hình thái biểu hiệnvật chất của nó – tài sản cố định và được tuân theo tính quy luật nhất định
Trang 7Vì vậy để quản lý, sử dụng có hiệu quả vốn cố định trước hết cần nghiêncứu tính chất và đặc điểm của tài sản cố định trong doanh nghiệp.
Trong nền sản xuất hành hóa, để tiến hành sản xuất sản phẩm, bao giờcũng có các yếu tố: sức lao động, tư liệu sản xuất và tiền Căn cứ vào tínhchất và tác dụng tham gia vào quá trình sản xuất, tư liệu sản xuất được chialàm hai bộ phận: đối tượng lao động và tư liệu lao động Tài sản cố định lànhững tư liệu lao động chủ yếu dược tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vàoquá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như máy móc, thiết bị, nhàxưởng, phương tiện vận tải, các công trình kiến trúc, các chi phí mua bằngphát minh sáng chế…
Khác với đối tượng lao động, đặc điểm cơ bản của tài sản cố định-những
tư liệu lao động chủ yếu là chúng có thể tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vàonhiều chu kỳ sản xuất Trong quá trình đó, mặc dù tài sản cố định bị hao mònsong chúnhg vẫn giữ nguyên hình thái biểu hiện vật chất ban đầu Vhỉ khi nàochúng đã bị hao mòn, hư hỏng hoàn toàn hoặc xét thấy không có lợi về mặtkinh tế thì khi đó chúng mới cần được thay thế đổi mới
Bên cạnh những đặc điểm nêu trên, một tư liệu lao động chỉ đượccoi làtài sản khi nó là sản phẩm của lao động Do đó, tài sản cố định không chỉ cógiá trị sử dụng mà còn có giá trị Nói cách khác tài sản cố định phải là mộthàng hóa như mọi hàng hóa thông thường khác Thông qua mua bán trao đổi
nó có thể chuyển quyền sở hữu và quyền sử dụng từ chủ thể này sang chủ thểkhác trên thị trường tư liệu sản xuất Việc quản lý tài sản cố định trên thực tế
là một công việc phức tạp Để giảm nhẹ khối lượng quản lý về tài chính kếtoán, người ta có những quy định thống nhất về tiêu chuẩn giới hạn của mộttài sản cố định Thông thường một tư liệu lao động phải được đồng thời thỏamãn hai tiêu chuẩn sau đây mới được coi là tài sản cố định:
+ Phải có thời gian sử dụng tối thiểu một năm trở lên
+ Phải có giá trị tối thiểu đến một mức độ nhất định Riêng tiêuchuẩn này thường xuyên điều chỉnh cho phù hợp vói tình hình thời giá của
Trang 8từng thời kỳ Hiện nay theo quy định là TSCĐ phải có trị giá từ 5 triệuđồng trở lên.
Qua những phân tích nêu trên, có thể rút ra định nghĩa về tài sản cốđịnh trong doanh nghiệp như sau:
Tài sản cố định trong doanh nghiệp là những tư liệu lao động chủ yếu mà đặc điểm của chúng là tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất Trong quá trình đó, giá trị của tài sản cố định không bị tiêu hao hoàn toàn trong lần sử dụng đầu tiên mà nó được chuyển dịch dần dần từng phần vào giá thành sản phẩm của chu kỳ sản xuất tiếp theo.
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, để mua sắm, xây dựng tài sản
cố định trước hết cần phải có một số vốn nhất định Vốn tiền tệ ứng trước
để mua sắm, xây dựng tài sản cố định hữu hình hoặc những chi phí đầu tưcho những tài sắm cố định không có hình thái vật chất được gọi là vốn cốđịnh của doanh nghiệp
Là khoản tiền ứng trước về tài sản cố định, quy mô của vốn cố định
sẽ quyết định quy mô của tài sản cố định Song đặc điểm vận động của tàisản cố định lại quyết định đến đặc điểm tuần hoàn và chu chuyển vốn cốđịnh Trên ý nghĩa của mối liên hệ này, có thể khái quát những nét đặc thù
về sự vận động của vốn cố định trong sản xuất kinh doanh như sau:
- Vốn cố định được tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất Có đặc điểmnày là do tài sản cố định có thể phát huy trong nhiều chu kỳ sản xuất, vì thếvốn cố định-hình thái biểu hiện bằng tiền của nó được tham gia vào các chu
kỳ sản xuất tương ứng
- Vốn cố định được luân chuyển từng phần Khi tham gia vào quátrình sản xuất, giá trị sử dụng của tài sản giảm dần Theo đó vốn cố địnhcũng được tách ra làm hai phần: một phần sẽ gia nhập vào chi phí sản xuấtsản phẩm (dưới hình thức chi phí khấu hao) tương ứng giảm dần giá trị sửdụng tài sản cố định Kết thúc sự biến thiên nghịch chiều đó, cũng là lúc tàisản cố định cũng hoàn thành một vòng luân chuyển
Trang 9Từ những phân tích trên có thể rút ra khái niệm về vốn cố định:
Vốn cố định của một doanh nghiệp là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước về tài sản cố định, mà đặc điểm của nó là luân chuyển dần từng phần trong nhiều chu kỳ sản xuất và hoàn thành một vòng tuần hoàn khi tài sản cố định hết thời gian sử dụng.
Trong các doanh nghiệp, vốn cố định là một bộ phận quan trọng củavốn đầu tư nói riêng, của vốn sản xuất nói chung Quy mô của vốn cố định
và trình độ quản lý, sử dụng nó là nhân tố ảnh hưởng đến trình độ trang bị
kỹ thuật Do ở vị trí then chốt và đặc điểm vận động của nó lại tuân theotính quy luật riêng nên việc quản lý vốn cố định được coi là một trọng điểmcủa công tác tài chính doanh nghiệp
Vốn lưu động:
Trong phần trên ta đã biết rằng, tư liệu sản xuất bao gồm đối tượng laođộng và tư liệu lao động Đúng vậy, mỗi một doanh nghiệp muốn tiến hànhsản xuất kinh doanh, ngoài tư liệu lao động ra còn phải có đối tượng laođộng Đối tượng lao động khi tham gia quá trình sản xuất không giữnguyên hình thái vật chất ban đầu, bộ phận chủ yếu của đối tượng lao động
sẽ thông qua quá trình chế biến hợp thành thực thể của sản phẩm và được
bù đắp khi giá trị sản phẩm được thực hiện
Đối tượng lao động trong doanh nghiệp được biểu hiện thành hai bộphận Một bộ phận là những vật tư dự trữ để chuẩn bị cho quá trình sảnxuất được diễn ra liên tục (nguyên, nhiên vật liệu), một bộ phận khác chính
là những vật tư đang trong quá trình chế biến (sản phẩm chế tạo, bán thànhphẩm) Hai bộ phận này biểu hiện dưới hình thái vật chất gọi là tài sản lưuđộng Để phục vụ cho qua trình sản xuất còn cần phải dự trữ một số công
cụ, dụng cụ, phụ tùng thay thế, vật đóng gói cũng được coi là tài sản lưuđộng Mặt khác quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp luôn gắnliền vói quá trình lưu thông Trong quá trình lưu thông còn phải tiến hànhmột số công việc như chọn lọc đóng gói, xuất giao sản phẩm và thanh
Trang 10toán…Do đó hình thành một số khoản hàng hoá và tiền tệ, vốn trong thanhtoán….
Tài sản lưu động nằm trong quá trình sản xuất và tài sản lưu động nằmtrong quá trình lưu thông thay chỗ cho nhau vận động không ngừng nhằmđảm bảo cho quá trình tái sản xuất được tiến hành liên tục và thuận lợi.Như vậy, doanh nghiệp nào cũng cần phải có một số vốn thích đáng
để đầu tư vào các tài sản ấy, số tiền ứng trước về những tài sản đó được gọi
là vốn lưu động của doanh nghiệp
Vốn lưu động được chuyển hóa qua nhiều hình thái khác nhau, bắt đầu
là tiền tệ sang hình thái vật tư hàng hóa và cuối cùng trở về hình thái tiền tệban đầu của nó Quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra liên tục khôngngừng, cho nên vốn lưu động cũng tuần hoàn không ngừng , hoàn thànhmột vòng tuần hòan sau một chu kỳ sản xuất
Tóm lại, vốn lưu động của doanh nghiệp là số tiền ứng trước về tài sảnlưu động nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất của doanh nghiệp được tiếnhành thường xuyên, liên tục Vốn lưu động luân chuyển toàn bộ giá trịngay trong một lần, tuần hoàn liên tục và hoàn thành một vòng tuần hoànsau một chu kỳ sản xuất
Vốn lưu động là điều kiện vật chất không thể thiếu được của quátrình tái sản xuất Muốn cho qua trình tái sản xuất được diễn ra liên tục,doanh nghiệp phải có đủ vốn lưu động đầu tư vào các hình thái khác nhau
đó, khiến cho các hình thái mức tồn tại hợp lý và đồng bộ với nhau Nhưvậy sẽ khiến cho chuyển hóa của vốn được thuận lợi Nếu như doanhnghiệp nào đó không đủ vốn thì tổ chức sử dụng vốn sẽ gặp khó khăn, và
do đó quá trình sản xuất cũng gặp trở ngại hoặc gián đoạn
Việc tổ chức và quản lý vốn lưu động trong quá trình sản xuất kinhdoanh là rất quan trọng Người quản lý phải biết phân phối nguồn vốn lưuđộng trong từng khâu dự trữ, sản xuất, lưu thông một cách hài hòa, không
để vốn lưu động ứ thừa quá nhiều ở bất kỳ khâu nào Doanh nghiệp sửdụng vốn lưu động càng có hiệu quả thì càng sản xuất ra được nhiều sản
Trang 11phẩm, điều đó thể hiện tốt sự kết hợp hài hòa quá trình mua sắm, sản xuất
Hiệu quả sử dụng vốn được hiểu như sau:
- Với một số vốn nhất định, doanh nghiệp phải đạt được lợi nhuận
- Ngoài khả năng của mình, doanh nghiệp phải năng động tìm nguồntài trợ để tăng số vốn hiện có nhằm mở rộng sản xuất kinh doanh, gia tăngmức lợi nhuận so với khả năng ban đầu
Ngoài ra hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp còn thể hiện ở cácchỉ tiêu về hiệu quả theo thu nhập, khả năng thanh toán, chỉ tiêu về sửdụng và phân bổ vốn
1.3.2.Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là yêu cầu bắt buộc đối với các doanhnghiệp Để đạt được điều đó, các doanh nghiệp cần phải có một hệ thốngchỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn, đảm bảo phản ánh và đánh giáđược hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Cơ cấu vốn:
Vốn của doanh nghiệp được đầu tư chủ yếu vào TSCĐ và TSLĐ.Với một lượng vốn nhất định doanh nghiệp muốn thu được kết quả cao thìcần phải có một cơ cấu vốn hợp lý Vì vậy, ta phải xem xét đến vốn đầu tưvào tài sản ra sao, hợp lý hay chưa hợp lý, ta có:
Hiệu quả sử dụng tài
Tài sản cố định và đầu tư dài hạn
Tổng tài sản
Trang 12Công thức trên cho biết một đồng vốn mà doanh nghiệp đang sử dụng
có bao nhiêu đầu tư vào TSCĐ, có bao nhiêu đầu tư vào TSLĐ Tuỳ theotừng loại hình sản xuất mà tỷ số này ở mức độ cao thấp khác nhau, nhưng
bố trí cơ cấu vốn càng hợp lý bao nhiêu thì hiệu quả sử dụng vốn càng caobấy nhiêu Nếu bố trí cơ cấu vốn làm mất cân đối giữa TSCĐ và TSLĐ dẫnđến thừa hoặc thiếu một loại tài sản nào đó sẽ có ảnh hưởng không tốt tớidoanh nghiệp
Vòng quay toàn bộ vốn:
Đây là chỉ tiêu đo lường hiệu quả sử dụng vốn trong kỳ, nó phản ánhmột đồng vốn doanh nghiệp huy động vào sản xuất kinh doanh mang lạimấy đồng doanh thu
Doanh thu thuần
Vòng quay toàn bộ vốn =
Tổng số vốn
Kỳ thu tiền bình quân.
Trong quá trình hoạt động, việc phát sinh ra các khoản phải thu, phảitrả là tất yếu Khi các khoản phải thu càng lớn chứng tỏ vốn của doanhnghiệp bị ứng đọng trong khâu thanh toán càng nhiều, có ảnh hưởng khôngtốt tới doanh nghiệp Vì vậy, các nhà phân tích tài chính rất quan tâm tớithới gian thu hồi và chỉ tiêu kỳ thu tiền bình quân với mục đích thông tin vềkhả năng thu hồi vốn trong thanh toán Chỉ tiêu này được xác định như sau: Các khoản phải thu
Kỳ thu tiền bình quân =
Doanh thu bình quân ngày
Các hoản phải thu x 360
Hoặc =
Doanh thu
Trang 13Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định.
Lợi nhuận sau thuế
- Mức doanh lợi của vốn cố định =
Vốn cố định bình quân
Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn cố định đem lại mấy đồng lợinhuận
Trong đó vốn cố định được tính như sau:
Giá trị còn lại đầu kỳ + giá trị còn lại cuối kỳVCĐ bình quân trong kỳ = - 2
Vốn cố định bình quân
- Hàm lượng vốn cố định =
Doanh thu thuần
Chỉ tiêu này cho biết một đồng doanh thu thuần cần có bao nhiêu đồngvốn cố định
Doanh thu thuần
Công suất thiết kế
Sau khi tính được các chỉ tiêu trên, người ta thường so sánh giữa cácnăm, các kỳvới nhau để xem sự biến động đó là tốt hay xấu Người ta cũng
có thể so sánh giữa các doanh nghiệp trong cùng ngành, cùnglĩnh vực đểxét khả năng cạnh tranh, tình trạng quản lý, kinh doanh có hiệu quả hay
Trang 14không,từ đó rút ra những ưu điểm, khuyết điểm, kịp thời đưa ra các biệnpháp hợp lý.
Các chỉ tiêu đánh giá sử dụng vốn lưu động
Lợi nhuận sau thuế
- Mức doanh lợi của vốn lưu động = Vốn lưu động bình quân
-Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn lưu động tạo ra mấy đồng lợinhuận
Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng tốt.Trong đó vốn lưu động được tính như sau:
VLĐ đầu tháng + VLĐ cuối tháng
VLĐ bình quân tháng = 2
( V1, V2, V3…là vốn lưu động hiện có vào đầu các tháng)
Doanh thu thuần
- Số vòng quay của vốn lưu động =
Vốn lưu động bình quân
Chỉ tiêu này đánh giá tốc độ luân chuyển vốn lưu động và cho biếttrong một năm vốn lưu động quay được mấy vòng Nếu số vòng quay càngnhiều chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng tăng và ngược lại
Trang 15- Thời gian một vòng luân chuyển:
360
Thời gian một vòng luân chuyển =
Số vòng luân chuyển vốn lưu độngChỉ tiêu này thể hiện số ngày cần thiết để vốn lưu động quay đượcmột vòng Thời gian luân chuyển càng nhỏ thì tốc độ luân chuyển vốn cànglớn, đảm bảo nguồn vốn lưu động tránh bị hao hụt mất mát trong quá trìnhsản xuất kinh doanh
- Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động:
Vốn lưu động bình quân
Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động =
Doanh thu thuần
Chỉ tiêu này cho biết để tạo ra một đồng doanh thu thì cần bao nhiêuđồng vốn lưu động
Ngoài việc xem xét hiệu quả kinh doanh dưới góc độ TSCĐ vàTSLĐ thì khi phân tích cần xem xét hiệu quả sử dụng vốn dưới góc độ sinhlời Đây là một trong những nội dung phân tích được các nhà đầu tư, tíndụng đặc biệt quan tâm Để đánh giá khả năng sinh lời của vốn, người phântích thường tính và so sánh các chỉ tiêu sau:
Trang 161.3.3.Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn
1.3.3.1 Những nhân tố khách quan
Môi trường kinh doanh:
Doanh nghiệp là một cơ thể sống, tồn tại và phát triển trong mối quan
hệ qua lại với môi trường xung quanh
- Môi trường tự nhiên:
Là toàn bộ các yếu tố tự nhiên tác động đến doanh nghiệp như khíhậu, thời tiết, môi trường Khoa học càng phát triển thì con người càngnhận thức được rằng họ là một bộ phận không thể tách rời của tự nhiên.Các điều kiện làm việc trong môi trường tự nhiên thích hợp sẽ tăng năngsuất lao động và tăng hiệu quả công việc Tính thời vụ, thiên tai, lũ lụt…gây khó khăn rất lớn cho nhiều doanh nghiệp
- Môi trường kinh tế:
Là tác động của các yếu tố như tăng trưởng kinh tế, thu nhập quốcdân, lạm phát, thất nghiệp, lãi suất, tỷ giá hối đoái… đến các hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp Chẳng hạn do nền kinh tế có lạm phát, sứcmua của đồng tiền giảm sút dẫn tới sự tăng giá các loại vật tư hàng hóa…
Vì vậy, nếu doanh nghiệp không kịp thời điều chỉnh giá trị của các loại tàisản đó thì sẽ làm cho vốn của doanh nghiệp bị mât dần theo tốc độ trượt giácủa tiền tệ
- Môi trường pháp lý:
Là hệ thống các chủ trương, chính sách, hệ thống pháp luật tác độngđến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Trên cơ sở pháp luật kinh tế và các biện pháp kinh tế, nhà nước tạomôi trường điều hành cho các doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh
và hướng các hoạt động đó theo kế hoạch vĩ mô Với bất kỳ sự thay đổi nàotrong chế độ chính sách hiện hành đều chi phối các mảng hoạt động củadoanh nghiệp Các văn bản pháp luật về tài chính, về quy chế đầu tư như
Trang 17các quy định về trích khấu hao, về tỷ lệ trích lập các quỹ, các văn bản vềthuế … đều ảnh hưởng lớn tới hoạt động của doanh nghiệp.
- Môi trường chính trị, văn hóa:
Tất cả mọi hoạt động của doanh nghiệp đều hướng tới khách hàng Do
đó các phong tục tập quán của khách hàng sẽ ảnh hưởng trưc tiếp tới hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp hoạt động trong môitrường văn hóa lành mạnh, chính trị ổn định thì hiệu quả sản xuất kinhdoanh sẽ được nâng cao
- Môi trường khoa học công nghệ: Là sự tác động của các yếu tố như
trình độ tiến bộ của KHKT, công nghệ
Trong điều kiện hiện nay, chênh lệch về trình độ công nghệ giữa cácnước rất lớn Doanh nghiệp muốn kinh doanh có hiệu quả thì cần phải nắmbắt được công nghệ hiện đại vì công nghệ hiện đại sẽ giúp doanh nghiệptăng năng suất, giảm chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao tínhcạnh tranh…
- Môi trường cạnh tranh:
Cơ chế thị trường là cơ chế có sự cạnh tranh gay gắt Bất cứ doanhnghiệp nào muốn tồn tại và phát triển cũng đều phải đứng vững trong cạnhtranh Doanh nghiệp phải sản xuất ra mặt hàng mặt hàng phải căn cứ vàonhu cầu hiện tại và tương lai Sản phẩm để cạnh tranh phải có chất lượngcao, giá thành hạ, mà điều này chỉ có ở những doanh nghiệp nâng cao hàmlượng công nghệ, kỹ thuật của TSCĐ Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải
có kế hoạch đầu tư, cải tạo, đầu tư mới tài sản cố định trước mắt cũng nhưlâu dài
Nhân tố giá cả:
Đây là nhân tố do doanh nghiệp quyết định nhưng lại phụ thuộc vàomức chung của thị trường Khi giá cả tăng, các kết quả kinh doanh tăng dẫnđến hiệu quả sử dụng vốn tăng, đồng thời sự biến động về giá cả sẽ làm cho
Trang 18hoạt động của doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn gây ảnh hưởng đến hiệuquả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
1.3.3.2 Những nhân tố chủ quan
Ngoài các nhân tố khách quan trên, còn rất nhiều nhân tố chủ quan dochính bản thân doanh nghiệp tạo nên làm ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụngvốn Nhân tố này gồm nhiều yếu tố tác động trực tiếp đến kết quả cuối cùngcủa hoạt động kinh doanh cả về trước mắt cũng như lâu dài Bởi vậy, việcxem xét, đánh giá và ra quyết định đối với các yếu tố này cực kỳ quan trọng.Thông thường, trên góc độ tổng quát, người ta xem xét những yếu tố sau:
+ Cơ cấu tài sản được đầu tư như thế nào thì hợp lý, mức độ hiện đại
so với đối thủ cạnh tranh đến đâu
+ Nguồn tài trợ được huy động từ đâu, có bảo đảm lâu dài và an toànkhông
+ Ngoài ra, qua ngành nghề kinh doanh, doanh nghiệp còn có thể tựxác định được mức độ lợi nhuận đạt được, khả năng chiếm lĩnh và pháttriển thị trường trong tương lai, sự đổi mới và đa dạng hóa sản phẩm kinhdoanh… để có kế hoạch bố trí nguồn lực cho phù hợp
- Lao động:
+ Trình độ quản lý của lãnh đạo: Vai trò của người lãnh đạo trong sảnxuất kinh doanh là rất quan trọng, thể hiện ở sự kết hợp một cách tối ưu vàhài hòa giữa các yếu tố của quá trình sản xuất kinh doanh, nhằm giảm
Trang 19những chi phí không cần thiết, đồng thời nắm bắt những cơ hội kinh doanh,đem lại cho doanh nghiệp sự tăng trưởng và phát triển.
+ Trình độ tay nghề của người lao động:
Thể hiện ở khả năng tìm tòi sáng tạo trong công việc, tăng năng suấtlao động, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
+ Cung ứng hàng hóa:là quá trình tổ chức nguồn hàng cho hoạt độngbán ra bao gồm hoạt động mua và dự trữ
Để đảm bảo việc kinh doanh và hiệu quả sử dụng vốn, mua hàng phảiđảm bảo chi phí tối ưu tức là phải hạ thấp giá thành sản phẩm đầu vào Mụctiêu chất lượng trong mua hàng là phải phù hợp với chi phí bỏ ra và nhucầu của thị trường vói khả năng thanh toán của khách hàng
Do hoạt động bán hàng phụ thuộc vào tính thời vụ của tiêu dùng và sựbiến động của sức mua, đồng thời trong hoạt động sản xuất kinh doanhluôn có những cơ hội xuất hiện một cách bất ngờ nên đòi hỏi doanh nghiệpphải luôn có một mặt hàng dự trữ thích hợp để đảm bảo tính liên tục vàtránh lãng phí trong quá trình sản xuất kinh doanh
+ Bán hàng hay tiêu thụ sản phẩm:
Là khâu quyết định đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp trong
đó việc xac định giá bán tối ưu hết sức phức tạp, thể hiện rất rõ trình độ vànăng lực tổ chức kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 20và đầu tư vốn vào các lĩnh vực không hợp lý sẽ dẫn đến tình trạng vừa thừalại vừa thiếu vốn, gây ứ đọng, hao hụt mất mát làm cho hiệu quả sử dụngvốn rất thấp.
- Mối quan hệ của doanh nghiệp:
Mối quan hệ này được đặt trên hai phương diện là quan hệ giữa doanhnghiệp với khách hàng và mối quan hệ giữa doanh nghiệp với nhà cungcấp Điều này rất quan trọng bởi nó ảnh hưởng tới nhịp độ sản xuất, khảnăng phân phối sản phẩm, lượng hàng hóa tiêu thụ…là những vấn đề trựctiếp tác động tới lợi nhuận của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp có mốiquan hệ tốt đối với khách hàng và nhà cung cấp thì nó sẽ bảo đảm tương lailâu dài cho doanh nghiệp bởi đầu vào được đảm bảo đầu đủ và sản phẩmlàm ra được tiêu thụ hết Để được vậy, doanh nghiệp cần phải có kế hoạch
cụ thể để duy trì những bạn hàng lâu năm lại vừa tăng cường thêm nhữngbạn hàng mới Biện pháp mà mỗi doanh nghiệp đề ra không giống nhau màcòn phụ thuộc vào tình hình hiện tại của từng doanh nghiệp Nhưng chủyếu là các biện pháp như: đổi mới quy trình thanh toán thuận tiện, mở rộngmạng lưới bán hàngvà thu mua nguyên vật liệu, đa dạng hóa sản phẩm…Trên đây là những nguyên nhân chủ yếu làm ảnh hưởng tới hiệu quả
sử dụng vốn của doanh nghiệp Ngoài ra còn có thể có nhiều nguyên nhânkhác tuỳ thuộc vào ngành nghề kinh doanh cụ thể của mỗi doanh nghiệp.các doanh nghiệp cần nghiên cứu, xem xét từng nguyên nhân để hạn chếmột cách tối đa những hậu quả xấu có thể xảy ra, đảm bảo cho việc tổ chứchuy động đầy đủ kịp thời vốn cho nhu cầu sản xuất kinh doanh đồng thờilàm cho hiệu quả sử dụng vốn ngày càng tăng
Trang 21CHƯƠNG II THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY
CỔ PHÀN XÂY DỰNG 79
I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG 79
1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty.
Công ty Cổ phần Xây dựng 79 là một doanh nghiệp nhà nước, tiềnthân là đội công trình 11- Công ty cầu 12- thuộc Tổng Công ty Xây dựngcông trình giao thông 1-Bộ giao thông vận tải Công ty có trụ sở chính tại :
số 16 – Phố Sài Đồng- Phường Sài Đồng- Quận Long Biên- TP Hà Nội.Điện thoại: (04) 8.276.566, (04) 8.289.071- Fax: (04)- 8.289.071 Đượcthành lập vào ngày 02/03/1997 theo quyết định số 112/QĐ/TCCB ngày15/1/1995 của Bộ trưởng Bộ Giao Thông Vận Tải
Công ty là một đơn vị hạch toán độc lập, có tư cách pháp nhân riêng,đồng thời chịu sự chỉ đạo trực tiếp của tổng công ty Công trình GT 1 Doảnh hưởng của ngành xây lắp là liên tục di chuyển khắp các miền nên việcsản xuất kinh doanh phụ thuộc rất nhiều vào địa hình, thời tiết khí hậu, giá
cả thị trường nơi thi công sản xuất Ngoài ra, sự tác động lớn nhất đó là cơchế đấu thầu xây dựng hiện nay đòi hỏi công ty phải có đội ngũ cán bộ,công nhân viên có năng lực, thiết bị, vật tư, tiền vồn phải dồi dào mới cóthể đảm bảo trúng thầu
Công ty có địa bàn hoạt động rộng khắp cả nước, thi công các côngtrình mang tính chất chiến lược của Đảng và Nhà nước, các công trìnhmang tính chất phúc lợi xã hội có tầm quan trọng cho quá trình phát triểnkinh tế của đất nước như đập Võ Lai (Lào Cai 1998 – 1999); hệ thống tiêuúng và chống lũ Phú Cường – Hòa Bình (1999 – 2000); bê tông hoá kênhNậm Rốm – Lai Châu… Nói chung, Công ty luôn đảm bảo thi công đúngtiến độ và bàn giao công trình đúng kế hoạch Công ty đã tham gia đáu thầu
Trang 22và thắng thầu xây lắp cũng như được Tổng công ty giao cho nhiều hợpđồng quan trọng Đó là những ghi nhận bước đầu về 1 phương hướng hoạtđộng kinh doanh hợp lý của Công ty Tuy vậy Công ty còn nhiều hạn chế
do là một doanh nghiệp nhà nước trước đây chủ yếu thực hiện các côngtrình do Tổng Công ty giao va trực tiếp quản lý tất cả các khâu, thực hiệntheo kế hoạch đã đề sẵn không có tính năng động, sáng tạo, cơ chế giao lưuvốn vẫn còn chịu sức ép nặng nề của các mệnh lệnh hành chính và chỉ tiêu,làm mất đi quyền tự chủ về tài chính của doanh nghiệp
Đối với công ty cổ phần xây dựng 79, nguồn vốn kinh doanh đượchình thành chủ yếu từ vốn ngân sách nhà nước, vốn tự bổ xung và vốn vayqua hệ thống ngân hàng, còn vốn huy động từ các nguồn khác như huyđộng cán bộ cộng nhân viên đóng góp, các khoản tiền nhàn rỗi trong vàngoài doanh nghiệp thì còn rất ít và không đáng kể Với thị trường vốnthiếu hụt như hiện nay nó đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiêu quả hoạt độngtài chính của công ty khi xác định một cơ cấu vốn tối ưu và lựa chọn nguồntài chính thích hợp
Việc cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước đã biến tài sản trong doanhnghiệp trở thành sở hữu hỗn hợp của nhiều chủ thể, trong đó bao gồm sở hữuNhà nước, sở hữu tập thể và sở hữu của nhiều cá nhân trên cơ sở chế độ gópvốn như vậy, đòi hỏi tổ chức bộ máy quản lý của Công ty phải được thiết kếmột cách tối ưu nhất để bảo toàn và phát triển nguồn vốn này
2 Cơ cấu bộ máy quản lý của Công ty Cổ phần Xây dựng 79
Trang 23MÔ HÌNH TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY ĐƯỢC TỔ CHỨC
THEO SƠ ĐỒ SAU:
* Giám đốc công ty hoặc phó giám đốc công ty phụ trách XDCB:
- Bổ nhiệm các chức danh Ban chỉ huy công trường
- Chỉ đạo các Chỉ huy trưởng công trường
* Phòng kỹ thuật và quản lý công trình: Thực hiện và triển khai
các chức năng nhiệm vụ:
- Tổ chức theo dõi, giám sát công trường
- Báo cáo giám đốc phụ trách về: Tiến độ, chất lượng và các vấn đềliên quan công trình
- Quản lý thống kê các dữ liệu công trình (hồ sơ kỹ thuật,kinh tế)
- Cùng với Ban chỉ huy công trường làm thủ tục nghiệm thu bàngiao công trình
Chỉ huy trưởng công
trườngBan giám đốc
Đội thi công
Phòng kỹ thuật vàquản lý công trình
Đội cung ứngvật tư
Trang 24- Theo dõi các chế độ lao động, khen thưởng, kỷ luật và an toàn laođộng công trường.
* Phòng tài chính - kế toán
- Báo cáo Giám đốc phụ trách kế hoạch vốn cho công trường
- Kiểm tra quản lý các chứng từ thanh toán công trình
- Làm thủ tục đăng ký thuế của công trường với chi cục thuế tại địaphận thi công
- Thanh quyết toán công trình đã được nghiệm thu bàn giao
* Ban chỉ huy công trường
Chỉ huy trưởng công trường:
- Báo cáo Giám đốc quản lý, các phòng chức năng về :
+ Tiến độ thi công
+ Biện pháp thi công
+ Tổ chức nhân sự, lao động + Kế hoạch vốn thi công
- Làm việc, quan hệ với Chủ đầu tư và các cơ quan liên quan đếncông trình
- Chịu trách nhiệm và giải quyết các vấn đề liên quan đến công trìnhngay cả khi công trình đã hoàn thành như:
+ Bảo hành
+ Thanh quyết toán
+ Thanh tra, kiểm tra của các cơ quan có thẩm quyền
* Các đội thi công
- Các đội thi công trực thuộc ban chỉ huy công trường chịu sự quản
lý, giám sát trực tiếp của Ban chỉ huy
* Bộ máy kế toán của Công ty Cổ phần xây dựng 79
Trang 25BỘ MÁY KẾ TOÁN CỦA CÔNG TY
- Bộ phận tài vụ: Thực hiện chức năng duyệt chi tiêu, xem xét cácchế độ chính sách được thực hiện tại các đơn vị, lo tiền vốn đảm bảo choquá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, lập các báo cáo, kế hoạch
về tài chính và thực hiện các chế độ đối với ngân sách nhà nước, cấp trên,với người lao động, người mua, người bán, ngân hàng và các cơ quan hữuquan khác, tham gia và giup đỡ giám đốc công ty trong khâu quản lý vàchấp hành pháp luật, kinh doanh sao cho có lãi
- Bộ phận kế toán: Là bộ phận theo dõi ghi chép phản ánh mọi hoạtđộng sản xuát kinh doanh bằng tiền thông qua sổ sách kế toán từ khâu dựtrữ, sản xuất, thanh toán, tieu thụ và kết quả Qua đó để căn cứ so sánh vớimục tieu đề ra với năm trước…Qua những số liệu kế toán đó mà ban giamđốc nắm được tình hình tại các khâu ra sao để có biện pháp phù hợp nhằmkinh doanh tót hơn
Bộ phận này cũng là bộ phận quản lý tài sản tiền vốn của đơn vị,thông qua công tác ghi chép, số liệu từ bộ phận này là căn cứ để trích nộp
Kế toán TSCĐ
và vật tư
Kế toán các khoản T.toán
K toán tập hợp CPSX và tính giá thành
Kế toán tổng hợp
Trang 26cho ngân sách nhà nước cấp trên và chấp hành các chỉ tiêu trong quá trìnhsản xuất kinh doanh của đơn vị thông qua báo cáo niên độ hàng năm
II- ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ KỸ THUẬT CỦA NGÀNH XÂY DỰNG
1 Những đặc điểm của ngành xây dựng
1.1 Khái quát về sản phẩm của ngành xây dựng
Sản phẩm của ngành xây dựng với tư cách là công trình xây dựng đãhoàn chỉnh theo nghĩa rộng là tổng hợp và kết tinh sản phẩm cuả nhiềungành sản xuất như các ngành chế tạo máy, ngành công nghiệp vật liệu xâydựng, ngành năng lượng, hoá chất, luyện kim… và lẽ dĩ nhiên là của ngànhxây dựng, ngành đóng vai trò tổ chức cấu tạo công trình ở khâu cuối cùng
để đưa chúng vào hoạt động
Sản phẩm trực tiếp của ngành công nghiệp xây dựng chỉ bao gồmcác công việc kiến tạo các kết cấu xây dựng làm chức năng bao che vànâng đỡ các công việc lắp đặt các thiết bị, máy móc cần thiết vào côngtrình xây dựng để đưa chúng vào hoạt động
Vì các sản phẩm công trình xây dựng thường rất lớn và phải xâydựng trong nhiều năm, nên để phù hợp với yêu cầu của công việc thanhquyết toán về tài chính, cần phân biệt sản phẩm trung gian với sản phẩmcuối cùng của xây dựng sản phẩm trung gian có thể là các công việc xâydựng, các giai đoạn và đợt xây dựng đã hoàn thành và bàn giao sản phẩmcuối cùng ở đây là công trình hay hạng mục công trình xây dựng hoànchỉnh có thể bàn giao đưa vào sử dụng
Công trình xây dựng bao gồm một hay nhiều hạng mục công trìnhnằm trong dây chuyền công nghệ đồng bộ và hoàn chỉnh để làm ra sảnphẩm cuối cùng được nêu ra trong bản luận chứng kinh tế - kỹ thuật, liênhợp công trình xây dựng bao gồm nhiều công trình xây dựng tập trung tạimột địa điểm hay một khu vực, hình thành các giai đoạn sản xuất rõ rệt và
có liên quan hữu cơ với nhau về mặt công nghệ sản xuất, để làm ra sảnphẩm cuối cùng
Trang 271.2 Các đặc điểm của sản phẩm xây dựng
Đặc điểm của sản phẩm xây dựng có ảnh hưởng rất lớn đến tổ chứcsản xuất và quản lý sử dụng vốn của doanh nghiệp Sản phẩm xây dựng với
tư cách là một công trình xây dựng hoàn chỉnh thường có các tính chất sau:
Sản phẩm của xây dựng là những công trình nhà cửa được xây dựng
và sử dụng tại chỗ, đứng cố định tại địa điểm xây dựng và phân bố tản mạn
ở nhiều nơi trên lãnh thổ Đặc điểm này làm cho sản xuất xây dựng có tínhchất lưu động cao và thiếu ổn định
Sản phẩm xây dựng phụ thuộc chặt chẽ vào điều kiện địa phương,mang nhiều tính đa dạng và cá biệt cao về công dụng, về cách cấu tạo vàphương pháp chế tạo
Sản phẩm xây dựng có kích thước lớn, chi phí lớn, thời gian xâydựng và sử dụng lâu dài Do đó, những sai lầm về xây dựng có thể gây nênlãng phí lớn, tồn tại lâu dài và khó sửa chữa Sản phẩm xây dựng chủ yếuđóng vai trò nâng đỡ và bao che, không tác động trực tiếp lên đối tượng laođộng trong quá trình sản xuất (trừ một số loại công trình đặc biệt nhưđường ống, công trình thuỷ lực, lò luyện gang thép…)
Sản phẩm xây dựng có liên quan đến nhiều ngành cả về phương diệncung cấp nguyên vật liệu cả về phương diện sử dụng sản phẩm của ngànhxây dựng làm ra Sản phẩm xây dựng mang tính chất tổng hợp về kỹ thuật,kinh tế, xã hội, văn hoá, nghệ thuật và quốc phòng
2 Những đặc điểm của sản xuất trong xây dựng
Từ những đặc điểm của sản phẩm xây dựng có thể thấy được đặcđiểm của sản xuất trong xây dựng như sau:
Thứ nhất, tình hình và điều kiện sản xuất trong xây dựng thiếu tính
ổn định, luôn biến đổi theo địa điểm xây dựng và giai đoạn xây dựng Cụthể là trong xây dựng, con người và công cụ lao động luôn luôn phải dichuyển từ công trường này đến công trường khác, còn sản phẩm xây dựng(tức là công trình xây dựng) thì hình thành và đứng yên tại chỗ, một đặc
Trang 28điểm hiếm thấy ở các ngành khác Các phương án xây dựng về mặt kỹthuật và tổ chức sản xuất cũng luôn luôn phải thay đổi theo từng địa điểm
và giai đoạn xây dựng Đặc điểm này gây ra những khó khăn cho việc tổchức sản xuất, khó cải thiện điều kiện cho người lao động, làm nảy sinhnhiều chi phí cho khâu di chuyển lực lượng sản xuất và cho công trình tạmphục vụ sản xuất Đặc điểm này cũng đòi hỏi các tổ chức xây dựng phảichú ý tăng cường tính cơ động, linh hoạt và gọn nhẹ về mặt trang bị tài sản
cố định sản xuất, lựa chọn các hình thức tổ chức sản xuất linh hoạt, tăngcường điều hành tác nghiệp, phấn đấu giảm chi phí liên quan đến vậnchuyển, lựa chọn vùng hoạt động thích hợp, lợi dụng tối đa lực lượng xâydựng tại chỗ và liên kết tại chỗ để tranh thầu xây dựng, chú ý đến nhân tốchi phí vận chuyển khi lập giá tranh thầu Đặc điểm này cũng đòi hỏi phảiphát triển rộng khắp trên lãnh thổ, các loại hình dịch vụ sản xuất phục vụxây dựng, như các dịch vụ cho thuê máy xây dựng, cung ứng và vận tải,sản xuất vật liệu xây dựng…
Thứ hai, chu kỳ sản xuất (thời gian xây dựng công trình) thường dài.
Đặc điểm này làm cho vốn đầu tư xây dựng công trình và vốn sản xuất của
tổ chức xây dựng thường bị ứ đọng lâu tại công trình đang còn xây dựng,các tổ chức xây dựng dễ gặp phải các rủi ro ngẫu nhiên theo thời gian, côngtrình xây dựng xong dễ bị hao mòn vô hình, do tiến bộ của khoa học vàcông nghệ, nếu thời gian xây dựng quá dài Đặc điểm này đòi hỏi các tổchức xây dựng phải chú ý đến nhân tố thời gian khi lựa chọn phương án,phải lựa chọn phương án có thời gian hợp lý, phải có chế độ thanh toán vàkiểm tra chất lượng trung gian thích hợp, dự trữ hợp lý…
Thứ ba, sản xuất xây dựng phải tiến hành theo đơn đặt hàng cho từng
trường hợp cụ thể, vì sản xuất xây dựng rất đa dạng, có tính cá biệt cao vàchi phí lớn
Sản phẩm xây dựng được sản xuất ra theo những yêu cầu về giá trị
sử dụng, chất lượng đã định trước của người giao thầu Do đó tiêu thụ sản
Trang 29phẩm xây dựng tức là bàn giao công trình đã hoàn thành cho đơn vị giaothầu và thu tiền về Việc tiêu thụ sản phẩm chịu ảnh hưởng khách quan củachế độ thanh toán như có thể áp dụng phương thức thanh toán theo hạngmục công trình và khối lượng hoàn thành theo giai đoạn quy ước hoặcthanh toán theo đơn vị hạng mục công trình đã hoàn thành Do đó doanhthu cũng phụ thuộc vào thời gian và tiến độ hoàn thành công việc Mặtkhác, khi thi công các công trình, công ty phải bỏ ra một lượng vốn ban đầukhá lớn nhưng khi công trình hoàn thành thì thường bên A (khách hàng)không trả hết ngay mà sau một thời gian mới thu đủ thậm chí việc thu cũngrất khó khăn qua nhiều khâu thủ tục Vì vậy, nó đã làm cho vòng quay củavốn chậm và gây không ít rủi ro cho công ty xây dựng Do đặc điểm đòihỏi các tổ chức xây dựng phải có nhiều kinh nghiệm cho các trường hợpxây dựng cụ thể và phải tính toán cẩn thận khi nhận thầu.
Thứ tư, quá trình sản xuất xây dựng rất phức tạp, các đơn vị tham gia
xây dựng công trình phải cùng nhau kéo đến hiện trường thi công với mộtdiện tích có hạn để thực hiện phần việc của mình, theo một trình tự nhấtđịnh về thời gian và không gian Đặc điểm này đòi hỏi các tổ chức xâydựng phải có trình độ tổ chức phối hợp cao trong sản xuất, coi trọng côngtác chuẩn bị xây dựng và thiết kế tổ chức thi công, phối hợp chặt chẽ giữa
tổ chức xây dựng tổng thầu, hay thầu chính và các tổ chức thầu phụ
Thứ năm, sản xuất xây dựng phải tiến hành ngoài trời nên phải chịu
nhiều ảnh hưởng của thời tiết, điều kiện làm việc nặng nhọc, ảnh hưởngcủa thời tiết làm gián đoạn quá trình thi công, năng lực sản xuất của tổ chứcxây dựng không được sử dụng điều hoà theo bốn quý, gây khó khăn choviệc lựa chọn cho trình tự thi công, đòi hỏi dự trữ vật tư nhiều hơn ảnhhưởng đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp đặc điểm này đòi hỏicác tổ chức xây dựng phải lập tiến độ thi công hợp lý để tránh thời tiết xấu,phấn đấu tìm cách hoạt động trong năm, áp dụng kết cấu lắp ghép làm sẵntrong xưởng một cách hợp lý để giảm bớt thời gian thi công tại hiện trường
Trang 30áp dụng cơ giới hoá hợp lý, chú ý độ bền chắc của máy móc, đặc biệt quantâm đến việc cải thiện điều kiện làm việc của công nhân, chú ý đến nhân tốrủi ro về thời tiết khi tính toán tranh thầu, quan tâm phát triển phương phápxây dựng trong điều kiện nhiệt đới
Thứ sáu, sản xuất xây dựng chịu ảnh hưởng của lợi nhuận chênh lệch
do điều kiện của địa điểm xây dựng đem lại Cùng một loại công trình xâydựng nhưng nếu nó được đặt ở nơi có sẵn nguồn nguyên vật liệu xây dựng,nguồn máy móc xây dựng cho thuê và sẵn nhân công thì người nhận thầuxây dựng ở trường hợp này có nhiều cơ hội hạ thấp chi phí sản xuất và thuđược lợi nhuận cao hơn
Tất cả các đặc điểm kể trên đã ảnh hưởng đến mọi khâu của sản xuấtkinh doanh xây dựng, kể từ khâu tổ chức dây chuyền công nghệ sản xuất,lập phương hướng phát triển khoa học - kỹ thuật xây dựng, xác định trình
tự của quá trình sản xuất kinh doanh, tổ chức cung ứng vật tư, cấu tạo vốn
và trang bị vốn cố định, quy định chế độ thanh toán, lập chế độ kiểm trachất lượng sản phẩm đến khâu hạch toán sản xuất kinh doanh trong xâydựng nói chung và quản lý sử dụng tài sản nói riêng Vì vậy, để nâng caohiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp xây dựng cần có những giải phápphù hợp với đặc điểm kinh tế kỹ thuật của ngành
III THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG 79
1 Đánh giá chung tình hình sản xuất kinh doanh của công ty trong vài năm gần đây
Trong những năm vừa qua, được sự chỉ đạo thường xuyên, trực tiếpcủa Tổng Công ty Xây dựng Công trình giao thông 1 cùng với sự giúp đỡ rấtlớn của Tổng Công ty về giải quyết việc làm, nâng cao năng lực quản lý, tổchức sản xuất đổi mới phương hướng kinh doanh và mua sắm thêm thiết bịtiên tiến nên công ty đã đứng vững được trên thị trường và từng bước làm ăn
có lãi
Trang 31Ta có thể thấy rõ hơn thông qua các chỉ tiêu dưới đây:
Trang 32BẢNG 1: KẾT QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH TRONG 3 NĂM 2003, 2004, 2005
Số tiền (đ) Tỷ suất trong
doanh thu Số tiền (đ)
Tỷ suất trongdoanh thu Số tiền (đ)
Tỷ suất trongdoanh thu
1 Kết quả sản xuất kinh doanh
4 Nguồn vốn kinh doanh 737.615.041 6,35% 1.575.515.041 10,33% 1.750.000.000 8,75%