3 – Chính sách về tài chính-ngân hàng của Việt Nam đối mặt với những thách thức của WTO 17 III.2.5 Năng lực cạnh tranh của các tổ chức tài chính vi mô 35 CHƯƠNG IV: TÍN DỤNG VÀ TÀI CHÍNH
Trang 1VIỆT NAM SAU KHI GIA NHẬP WTO:
TÀI CHÍNH VI MÔ VÀ TI ẾP CẬN TÍN DỤNG CỦA NGƯỜI NGHÈO Ở NÔNG THÔN
Báo cáo chính
Nhóm nghiên cứu:
TS Hà Hoàng Hợp (Trưởng nhóm) Th.s Nguyễn Minh Hương
Th.s Ngô Thị Minh Hương
Đơn vị thực hiện: Trung tâm Phát triển và Hội nhập
Vietnam Centre For Development And Integration
176 Thai Ha, Dong Da, Ha Noi, Vietnam – www.cdivietnam.org
Tel: 84 4 2163615 / 2163617 - Fax: 84 4 5377479 - Email: info@cdivietnam.org
Trang 2Các câu hỏi nghiên cứu 11
CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH BỐI CẢNH: TOÀN CẦU HOÁ, WTO ĐỐI VỚI DỊCH VỤ TÀI
III 3 – Chính sách về tài chính-ngân hàng của Việt Nam đối mặt với những thách thức của WTO 17
III.2.5 Năng lực cạnh tranh của các tổ chức tài chính vi mô 35
CHƯƠNG IV: TÍN DỤNG VÀ TÀI CHÍNH VI M Ô NÔNG THÔN – CÁC TỒN TẠI VỀ
Trang 3Bảng 2 Cung và cầu dịch vụ tài chính vi mô cho các nhóm đối tượng 29
Bảng 3 Mức lãi suất của một số ngân hàng (ngày 17 tháng 6 năm 2008) 31
Bảng 4 Hoạt động của các tổ chức trong M7 (tính đến tháng 6/2007) 36
Bảng 5 Lộ trình chính sách 38
Bảng 6 Khuyếnn ghị cho lộ trình chính sách của tài chính vi mô 47
Bảng 7 Điểum yếu, mạnh, cơ hội thách thưc cho tài chính vi mô ở Việt nam 50
Phụ lục 1: Biên bản Các đợt đi địa bàn
Phụ lục 2: Danh sách người được phỏng vấn
Trang 4LỜI GIỚI THIỆU
Nghiên cứu “VIỆT NAM SAU KHI GIA NHẬP WTO: TÀI CHÍNH VI MÔ VÀ SỰ TIẾP CẬN TÍN DỤNG CỦA NGƯỜI NGHÈO Ở NÔNG THÔN” là kết quả hợp tác hiệu quả giữa Trung tâm Phát triển và Hội nhập và ActionAid Vietnam - Tổ chức phi chính phủ quốc tế trong lĩnh vực xoá đói, giảm nghèo, với sự cộng tác của Mạng lưới tài chính vi mô M7 của ActionAid Vietnam.
Mục tiêu của nghiên cứu là phân tích các mặt chính sách,và những tác động có thể có của WTO đến các dịch vụ tài chính vi mô ở Việt Nam.
Nghiên cứu tiến hành phân tích các thách thức của toàn cầu hoá, WTO và của những chính sách có thể tác động toàn diện đến tài chính vi mô cả về chính sách lẫn thực tiễn Nghiên cứu cũng mô tả quá trình phát triển dịch vụ tài chính vi mô và đưa ra ví dụ về hoạt động của một
số tổ chức tài chính vi mô ở Việt Nam Với phương pháp nghiên cứu toàn diện gồm tổng hợp tài liệu, phân tích số liệu và trao đổi ý kiến với những người tham gia tín dụng, báo cáo nghiên cứu đã phân tích những điểm mạnh, điểm yếu, những cơ hội, những gì còn thiếu trong chính sách về tài chính vi mô, đưa ra một số khuyến nghị đối với giới hoạch định chính sách và các nhà hoạt động thực tiễn về tài chính vi mô ở Việt Nam trong thời gian tới.
Chúng tôi hy vọng rằng, báo cáo nghiên cứu này sẽ là cơ sở cho việc xem xét các chính sách tài chính vi mô và giúp cho việc thúc đẩy các hỗ trợ, hợp tác và củng cố các tổ chức và các hoạt động tài chính vi mô giành cho người nghèo ở Việt Nam.
Báo cáo này được thực hiện bởi nhóm nghiên cứu gồm Thạc sỹ Nguyễn Thị Minh Hương, Thạc sỹ Ngô Thị Minh Hương và Tiến sỹ Hà Hoàng Hợp thuộc Trung tâm Phát triển và Hội nhập Chúng tôi trân trọng cảm ơn Thac sỹ Lê Hạnh Lê, Thạc sỹ Tạ Văn Tuấn thuộc ActionAid Việt Nam và Tiến sỹ Rijk Adrianus đã giúp đỡ và cho những ý kiến thiết thực và xác đáng trong cả quá trình nghiên cứu Xin chân thành cảm ơn mạng lưới M7 và các thành viên
và các nhà lãnh đạo của ActionAid Việt Nam.
Trang 5TÓM TẮT
WTO đã mở ra nhiều cơ hội cho khu vực tài chính ngân hàng của Việt Nam, bao gồm cả các
cơ hội cho dịch vụ tài chính vi mô Ở nhiều góc độ, hội nhập đã giúp cho tăng khả năng cạnhtranh của các thể chế tài chính và thúc đây việc sử dụng hiệu quả hơn các nguồn vốn tiết kiệm
và cho vay Tuy nhiên, sự bùng nổ của khu vực ngân hàng sau khi Việt Nam ra nhập WTOtrong năm đã không đưa ra được bằng chứng rõ rang về sự cải thiện của ngành tài chính vi
mô nông thôn thông qua việc liên kết tài chính vi mô với khu vực tài chính chính thức Các cải
tổ về tài chính trong nước do vậy cũng khó có thể nói có mối liên hệ trực tiếp tới giảm nghèo
và do vậy người nghèo vẫn ít có cơ hôi hưởng lợi từ những cải tổ này
Các tổ chức tài chính vi mô ở Việt Nam trong khu vực tài chính phi chính thức tiếp tục đóngvai trò quan trong trong vi ệc giúp người nghèo Các chương trình của các tổ chức phi chínhphủ và tổ chức xã hội có tôn chỉ mục đích tốt hướng tới giảm nghèo và phát triển xã hội chongười nghèo, và cũng có khả năng tiếp cận tới người nghèo ở cơ sở và đặc biệt là phụ nữ bịthiệt thòi Nhu cầu của người nghèo, đặc biệt ở nông thôn và các vùng xa v ề dịch vụ tài chính
vi mô rất đa dạng Hai tổ chức tài chính chính thức chi phối việc cung cấp tài chính nhỏ ở ViệtNam là NHNN&PTNT và NHCSXH Trong năm 2001, NHCSXH đ ã cung cấp tín dụng tới 8.3triệu hộ gia đình ở nông thôn NHNN&PTNT có gía tr ị trung bình vay là khoảng 6.45 triệu VND
so với 1-2 triệu của NHCSXH Từ khi thành lập mới năm 2003, NHCSXH đang nhanh chóng
mở rộng hoạt động của mình, đảm trách chức năng Ngân hàng phục vụ nguơi nghèo, tậptrung vào các khoản vay trợ cấp cho nguơiừ nghèo và cac doanh nghi ệp ở các vùng xa, với
sự phát triển khoảng 500-700 chi nhánh trên 63 t ỉnh Các phản ảnh cho thấy các tổ chức tàichính vi mô và tín dụng như ngân hàng (NHNN&PTNT, NHCSXH) đang ph ục vụ người nghèonhưng cũng có xu hướng đi theo hướng cho vay lớn và cũng đa dạng hóa hơn Điều này cóthể dẫn đến việc nguời nghèo nhất chỉ có nhu cầu vay theo mùa vụ hoặc khoản rất nhỏ trongnhững lúc rủi ro có thể không nhận được dịch vụ của các ngân hàng Mặc dù co nhiều thànhtưu về tài chính vi mô, nhưng đánh giá v ề giảm nghèo của Bộ Lao động Thương binh và xãhội cho thấy tiếp cận tín dụng cho nguời nghèo vẫn còn là vấn đề Vấn nhiều hiện tượng giảmmức lãi suất như là một hình thức trợ cấp giá cho người nghèo
Mặc dù Việt Nam đã có khung pháp lý cơ bản cho các tổ chức tài chính vi mô (Nghị định 28),tạo cơ sở cho các tổ chức này chuyển đổi, nhưng các tổ chức tài chính vi mô vẫn dễ bị tổnthương trước những thay đổi nhanh chóng và thách thức của WTO Thách thức nhiều hơn là
cơ hội với khu vực tài chính Thách thức từ sự cạnh tranh gay gắt trong khu vực ngân hàng tài
Trang 6chính và sự hiện đại hóa nhanh chóng của các ngân hàng này, và vi ệc mở rộng thị phần tíchcực đã làm cho các tổ chức tài chính vi mô quy mô nh ỏ lâm vào sự yếu thế và bị động Tháchthức cũng từ cơ chế tài chinh vi mô đang đẩy người nghèo ra xa, khó có khả năng tiếp cận vớidịch vụ tài chính nông thôn hơn, v ì các nhu cầu đa dạng hơn, nhưng thủ tục cho vay cũngphức tạp và khó khăn hơn Thách thức lớn cũng là do sự bất ổn kinh tế vi mỗ, với sự thay đổichóng mạt của lãi suất và tỷ giá, khiến cho các tổ chức tài chính vi mô nhỏ không thay đổi kịp.
Các tổ chức tài chính vi mô ở Việt Nam vẫn chưa chuyển đổi được thành một nhóm các tổchức hoạt động có tiêu chuẩn, quy tắc thống nhất hoặc có một tổ chức bao trùm như Hiệp HộiCác tổ chức tài chính vi mô Việt Nam Điều này do vậy vẫn đặt các tổ chức tài chính vi mô ởViệt Nam ở vị thế yếu thế hơn khi tham gia thị trường tài chính mở cửa Trong tương lai gần,các quy định hay khung pháp lý cho các t ổ chức tài chính vi mô ở Việt nam cần tính đến cácyếu tố tác động ảnh hưởng của WTO để giúp cho các MFIs phát tri ển tốt hơn và bền vữnghơn, và tiếp nhận được các cơ hội của WTO Một trong những hạn chế còn tồn tại là sự khácbiệt về hệ thống, quản lý và các tiếp cận đã không cho phép các t ổ chức tài chính vi mô thamgia sâu hơn vào các dịch vụ tài chính được các ngân hàng quản lý
Tóm lại, các hạn chế và thách thức của khu vực tài chính vi mô được coi là lớn để các tổ chứcthiết chế này có thể phát triển theo hướng thương mại và bền vững Các hạn chế này baogồm;
Cần có một diễn đàn hoặc cơ chế trao đổi thông tin, nghiệp vụ giữa các tổ chức tài chính
vi mô
Việt nam có khung pháp lý khác tôt cho các ngân hàng th ương mại, kể cả cho các Hợp tác
xã, Quỹ tín dụng TW, Quỹ Tinh dụng nhân dân Nhưng khung phap lý vẫn chưa hoàn thiệncho các Tổ chức tài chính vi mô hoat động linh hoạt và hiệu quả
Các tổ chức TCVM có mức đầu tư còn thấp
Năng lực quản lý điều hành của các TCVM còn yếu
Trang 7Khi phân tích mô hình Kim c ương của dịch vụ tài chính vi mô ở Việt Nam, cho thây nhin chung,các quyết định và chiến lược của các tổ chức tài chính vi mô đã có tác động đến năng lựccạnh tranh trong tương lai Các t ổ chức tài chính vi mô nếu kết hợp chiến lược với nhau sẽnâng cao được năng lực cạnh tranh và đối mặt được với các thách thức của quá trình toàncầu hóa Điều kiện Cung: Tính hiệu quả, chất lượng và đầu vào cho các tổ chức tài chính vi
mô như con người, vốn, phương tiện, công nghệ và khoa học còn yếu Điều kiện Cầu: trongbối cảnh hội nhập của Việt nam, nhu cầu về tài chính vi mô rất cao, để giảm nghèo nhanh hơn
và giúp người nghèo phát triển kinh tế, tuy nhiên, dịch vụ tài chính vi mô cần đáp ứng đượccác điều kiện cạnh tranh, đa dạng hóa các dịch vụ và mức độ công nghệ thông tin Cácngành phụ trợ liên quan: Ở Việt Nam, sự phát triển nhanh chóng của một số ngành phụ trợnhư công nghệ thông tin, ngân hàng, s ản xuất chế biến nông sản v.v có thể giúp tăng tínhcạnh tranh và sự phù hợp của dịch vụ tài chính vi mô
Việt nam có nhu cầu cao cho tín dụng nhỏ Điều này được thể hiện ở tăng trưởng cho vay là47% giá trị cho vay từ nưm 1998 đến 2001 Tuy nhiên, nhiều bên tham gia khác nhau trên thịtrường tài chính nhỏ đã tạo nên hướng tiếp cận, quy chế và tác động phân tán trong khu vựcnày Nó tạo nên quan ngại về mức độ giao dịch được trợ cấp và suy yếu tính bền vững củakhu vực tài chính nhỏ Để tồn tại và phát triển, các tổ chức tài chính vi mô phi chính th ức vàquy mô nhỏ không có cách nào khác là ph ải cải tổ hơn, chuyên nghiệp hơn, có tính chiến lược
và sáng tạo trong hoạt động Duy trì hoạt động hỗ trợ xã hội cho nhóm yếu thế là cân thiếttrong bối cảnh hội nhập nhưng cần sự hỗ trợ của các chính quyền cơ sở, của các thể chế tàichính chính thức lớn hơn
Trang 8CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1 Cơ sở
Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào tháng11/2006, là thành viên thứ 150 của tổ chức này Sự kiện này là cột mốc quan trọng trong tự dothương mại với sự cạnh tranh khắc nghiệt, quá trình tư hữu hoá, và sự tham dự nhiều hơncủa các đối tác nước ngoài vào thị trường Việt Nam Là thành viên của WTO, Việt Nam camkết đổi mới chính sách tài chính và thương mại của mình cho phù hợp với những đòi hỏi củaWTO Đối với các dịch vụ tài chính, “tự do hoá” là bãi bỏ các rào cản tài chính trong nước, mởcửa nền kinh tế đón các dòng vốn và thương mại quốc tế Nó cũng có nghĩa là giảm dần sựcan thiệp trực tiếp của nhà nước thông qua cổ phần hoá những ngân hàng thuộc sở hữu nhànước, tự do hóa về giá, đặc biệt là định lãi suất theo thị trường, giảm các hạn chế về hoạtđộng liên ngành, cho phép các ngân hàng, công ty b ảo hiểm, công ty tài chính thâm nhập vàocác ngành hoạt động của nhau
Các đàm phán về thỏa thuận về dịch vụ tài chính (FSA) ở WTO nhằm mở cửa khu vựcngân hàng Việt Nam cho sự tham gia của nước ngoài, trong một số trường hợp, mở cửa sẽthúc đẩy sự phát triển thị trường ngân hàng và củng cố các thể chế ngân hàng Nhiều nghiêncứu cho rằng cải cách tài chính trong nư ớc có thể đóng vai trò giảm nghèo Tuy nhiên mối liên
hệ giữa cải cách trong khu vực tài chính với giảm nghèo không đơn giản Người nghèothường không có cơ hội tham gia vào các loại thị trường đó Phần đông các ngân hàngthương mại trong nước và ngân hàng nước ngoài đều không muốn tham gia nhóm cho vaykhông chính thức, bởi vì tiểu thương nông thôn và những người sản xuất nông nghiệp nhỏđược xem như là những người vay đầy rủi ro Đồng thời, việc tư nhân hoá các ngân hàngthuộc sở hữu Nhà nước có thể ảnh hưởng đến mục tiêu xã hội của các ngân hàng đó và lo ạitrừ những khách hàng không sinh lợi như người nghèo Như vậy, hoạt động tài chính vi mô ởkhu vực phi chính thức và quy mô nhỏ có tính sáng tạo và tính xã hội vẫn có thể là hình thứcquan trọng cho sự phát triển dịch vụ tài chính và có thể đóng góp hiệu quả cho vào giảmnghèo
Với những cam kết WTO, sẽ cùng lúc có những cơ hội tích cực và ảnh hưởng bất lợiđến việc tiếp cận các dịch vụ tài chính và tín dụng ở nông thôn Người nghèo có lẽ chỉ lànhững người hưởng lợi ít ỏi từ phát triển nhanh chóng, nhưng họ lại luôn phải chịu những hậuquả nặng nề của đổ bể Một số nghiên cứu trước đây cho thấy rằng tự do hoá tài chính trong
Trang 9nước bằng việc xoá bỏ kiểm soát lãi suất và xoá bỏ hỗ trợ tín dụng sẽ không làm cho mức tiếtkiệm tăng lên mà lại làm cho người nghèo ít có khả năng tiếp cận tín dụng ở nông thôn1 Nếunhững tác động có thể xảy ra đó không được xem xét, cân nhắc một cách rõ ràng thì nhữngngười nghèo ở Việt Nam có thể sẽ không được hưởng lợi và thậm chí có thể phải chịu nhiếutác động tiêu cực.
Năm 1989, ActionAid Việt Nam bắt đầu các hoạt động hưởng ứng Chương trình xoáđói, giảm nghèo của Chính phủ Việt Nam Các chương trình của AictionAid nhằm giảm nghèocho phụ nữ, nam giới, trẻ em thông qua việc đảm bảo các quyền và điều kiện sống công bằng
và đảm bảo công lý Từ năm 1993, phối hợp với các tổ chức đoàn thể địa phương, AAV đãphát triển và hỗ trợ các hệ thống tài chính vi mô ở nông thôn và khu vực miền núi Ước tính cóhơn 30 nghìn hộ gia đình hiện đang được hưởng lợi từ các chương trình này Bảy nhóm đãđược hình thành trong mạng lưới M7 nhằm xúc tiến hợp tác, nâng cao năng lực, và tham giavào tài chính vi mô rộng rãi hơn ở Việt Nam Với sự hỗ trợ của AAV, năm nhóm đã chuyểnthành các tổ chức tài chính vi mô và các quỹ xã hội
Trong khuôn khổ dự án tài trợ của ActionAid Italia cho M7, AAV lập kế hoạch tiến hànhmột nghiên cứu về tác động có thể xảy ra của tự do hoá thương mại đến tài chính vi mô vàđến sự tiếp cận của người nghèo đối với các dịch vụ tài chính (tín dụng ở nông thôn) ở ViệtNam Nghiên cứu này cũng thể hiện cam kết của AAV trong việc hỗ trợ các chính sách ủng hộngười nghèo và kiểm soát tác động có thể xảy ra của liên kết kinh tế, sau khi gia nhập WTO
Bản yêu cầu của nghiên cứu đã đặt ra những mục tiêu ban đầu, phạm vi nghiên cứu,quá trình, ngân sách và thời hạn hoàn thành nghiên cứu
1.2 Mục tiêu
Mục tiêu chung của nghiên cứu là đánh giá những cơ hội và tác động có thể xảy ra của
tự do hoá thương mại đến các dịch vụ tài chính giành cho người nghèo ở Việt Nam Các mục
tiêu cụ thể là:
Xác định khả năng tiếp cận của ng ười nghèo và những người có nguy cơ bị gạt ra khỏi xãhội/yếu thế với các dịch vụ tài chính từ khi Việt Nam là thành viên của WTO;
Đánh giá những cơ hội, thách thức và những rủi ro tiềm năng đối với các tổ chức tài chính
vi mô ở Việt Nam, gồm quản lý và hoạt động, khả năng tự vững, các khoản quỹ mang tính
1
Trang 101.3 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu này gồm 3 phần: (1) rà soát những chính sách liên quan và khung chínhsách các lĩnh vực ngân hàng và tài chính vi mô ở Việt Nam khi gia nhập WTO; (2) nhìn lại tìnhhình các tổ chức tài chính vi mô và các thành viên của M7 để tỉm hiều những vấn đề tồn tại ,thách thức và cơ hội cho các tổ chức này; (3) tâp hợp các bài học về thành công và thất bại từcác nước trong khu vực
Đồng thời, báo cáo cũng trình bày nghiên cứu về tiếp cận tín dụng của người nghèo ởnông thôn ở các nước khác trong khung cảnh tự do hoá thương mại Nghiên cứu cũng rà soát
tư liệu liên quan ví dụ Tín dụng vi mô của Philippines, nơi các tổ chức tín dụng vi mô đãthương mại hoá thành công và đóng góp đáng kể vào việc giảm nghèo Nghiên cứu vềPhilippines nêu rõ vai trò của chính phủ và những đổi mới tài chính trong việc tiếp cận ở nôngthôn và nhận định rằng những đổi mới tài chính sẽ góp phần cải thiện khả năng tiếp cận củangười nghèo với tín dụng ở nông thôn và làm giảm nghèo
Trong quá trình thực hiện nghiên cứu ở một số tỉnh trong 7 địa b àn của M7 để có sựphản hồi của người dân và các thể chế tín dụng vi mô, là tỉnh Sơn la (Mai Sơn), Tỉnh QuảngNinh (Đông Triều và Uông Bí), tỉnh Ninh Thuận (Ninh Phước), nhóm nghiên cứu nhận thấynguời dân và cả cán bộ địa phương nhận thức về WTO và các tác động của nó còn rất thấp.Điều này có thể hạn chế tới việc ở cấp c ơ sở, sự chuẩn bị sẵn sàng và phương thức đối phóvới các tác động bất lợi của WTO ch ưa tốt
“ Bằng cách tăng cường nhận thức về Tài chính vi mô, chúng tác có th ể đẩy mạnh quátrình vốn hóa và giảm nghèo tốt hơn” (Fazel Hasen Abed và Imran Matin, BRÃC –Bangladesh)
Trang 111.4 Phương pháp luận
Nghiên cứu được thực hiện trên cơ sở rà soát tài liệu, phỏng vấn cá nhân và tổ chức,phỏng vấn sâu một số ngân h àng như Ngân hàng Nhà nư ớc Việt Nam, Ngân hàngNông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ngân hàng Chính sách xã hội, một số ngân hàngthương mại trong nước và nước ngoài, và những tổ chức hỗ trợ dịch vụ t ài chính ởViệt Nam Các phỏng vấn ở mạng lưới M7 giúp phân tích những thách thức v à cơ hộicủa MFIs trong việc thương mại hoá, phân tích những thông tin v à chiến lược của họtrong bối cảnh mới của WTO
Nghiên cứu tài liệu bao về khung pháp lý và điều tiết đối với các ngân hàng và các t ổchức phi ngân hàng trong điều kiện gia nhập WTO
Đi địa bàn trao đổi ý kiến với mạng lưới M7 ở ba địa bàn sau: tỉnh Sơn La, Quảng Ninh
và Ninh Thuận (xem phụ lục 2 Chương trình đi địa phương)
Khảo sát gồm phỏng vấn cá nhân, toạ đàm và hội thảo ngắn với các bên liên quan,trưởng nhóm nghiên cứu trình bày những vấn đề chủ yếu và những vấn đề dịch vụ tàichính vi mô nhằm thu được những ý kiến và nhận định từ những người được hỗ trợvốn Quá trình này cũng có thể xem là những động tác cụ thể để nâng cao nhận thức
về tác động của WTO và vận động (Phụ lục 3 – danh sách những người được phỏngvấn) Khảo sát ở địa phương gồm làm việc theo nhóm với người nghèo vay theo dịch
vụ tài chính vi mô để xem xét tiếp cận của họ và phản hồi của họ về các dịch vụ tàichính vi mô
Khung phân tích
Đánh giá phân tích đã sử dụng mô hình Kim cương về ngành dịch vụ tài chính vi mô để đưa
ra khuyến nghi về chiến lược và các chọn lựa Mô hình này giúp hiểu được thực trang về tàichính vi mô ở Việt Nam, gồm các yếu tố Cung, Cầu, kết hợp với những phân tích về c ơ hội,thách thức đối với tài chính vi mô Các dịch vụ có liên quan tới tài chính vi mô cũng được phântích như là các yếu tố có lợi thế, hoặc cạnh tranh đối với t ài chính vi mô
Các câu hỏi nghiên cứu
Kỳ vọng của người nghèo và những người hưởng lợi từ tài chính vi mô như thế nào?
Những thách thức và cơ hội nào cho dịch vụ tài chính vi mô khi Việt nam hội nhập, saukhi gia nhập WTO?
Chính phủ đã làm gì để thực hiện các cam kết y êu cầu của WTO, đặc biệt liên quan
Trang 12đến dịch vụ tài chính?
Các khoảng cách về chính sách của Việt Nam c òn đang thách thức hoạt động của dịch
vụ tài chính vi mô trong bối cảnh hậu WTO để đảm bảo t ài chính vi mô tiếp tục phục vụđược người nghèo là gì?
Ngành tài chính vi mô của Việt Nam có thể bền vững v à duy trì vì mục tiêu giúp ngườinghèo trong bối cảnh hậu WTO hay không?
1.5 Giới hạn nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện ở Việt Nam, có đề cập đến Đông Nam Á, Nam Á và một sốnước trên thế giới có dịch vụ tài chính vi mô phát triển Nghiên cứu cũng rà soát một số báocáo đã có về ngành ngân hàng, tài chính và m ột số báo cáo liên quan Tuy nhiê n, số liệu về tàichính vi mô không nhiều và không được thông kê chính thức Nghiên cứu này ưu tiên tìm hiểumạng lưới M7 với tư cách là dịch vụ tài chính vi mô trong khu vực phi chính phủ, theo yêu cầucủa ActionAid Việt Nam với mẫu tham vấn tại 3 địa bàn trong phạm vi 7 tỉnh hoạt động củanhóm M7 Nghiên cứu này không đề cập nhiều đến các dịch vụ khác (như TYM của Hội Liênhiệp Phụ nữ Việt Nam hay CEF ở miền Nam và các chương tr ình phi chính phủ khác cũngđang tham gia vào thị trường tín dụng rộng lớn ở nông thôn) Điều đó có nghĩa là các phântích và khuyến nghị về tính bền vững của các định chế taì chính vi mô có thể không toàn diện
áp dụng cho mọi định chế tài chính vi mô
Nghiên cứu đã nhận được nhiều ý kiến phản hồi của các bên liên quan về ngụ ý của WTO
và toàn cầu hóa với hoạt động của tín dụng vi mô nông thôn và qua đó nhóm nghiên c ứu cũng
có thể rút ra một số nhận xét:
Nhận thức của người dân về toàn cầu hóa và WTO còn thấp do không đủ thông tin
và các phân tích đúng ở cấp địa phương
Lãnh đạo địa phương cũng thiếu thông tin về WTO và tác động có thể có kể cả mộtnăm sau khi Việt Nam đã gia nhập WTO
Quản lý các thể chế tài chính như Ngân hàng chính sách, Ngân hàng nông nghi ệp
và Phát triển Nông Thôn cũng chưa nhận thức đầy đủ về những thay đổi của khuvực tài chính và tình hình kinh t ế do tác động của WTO có thể đem lai, do đó cũnghạn chế về các giải pháp
Hầu hết người trao đổi hiểu ít về sự mở cửa của dịch vụ tài chính có thể có những
cơ hội nào cho các tổ chức tài chính vi mô
Trang 13CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH BỐI CẢNH: TOÀN CẦU HOÁ, WTO ĐỐI VỚI DỊCH VỤ TÀI CHÍNH VI MÔ Ở NÔNG THÔN – CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC
II-1 Toàn cầu hoá và WTO
1 Toàn cầu hoá gồm những hiện tượng phức hợp đang tác động đến từng quốc gia
Có ít nhất ba hiện tượng khác nhau, nhưng liên hệ với nhau, gắn với toàn cầu hoá Một là, liênkết kinh tế toàn cầu, trên thực tế đó là việc tiêu chuẩn hoá bởi các chính phủ về các giải phápchính sách kinh tế tân-tự do diện rộng và những cách tiếp cận nhằm tổ chức lại cách tác độngđến thị trường trong nước và nước ngoài Hai là, môt số quyền lực từ nhà nước được chuyểnsang các định chế khác, rõ nhất là sang những định chế điều hành toàn cầu và khu vực Thứ
ba, sự phổ biến văn hoá toàn cầu hay các nền văn hoá hình thành từ các hình thái tổ chức xãhội, lối sống, thái độ và niềm tin
2 Toàn cầu hoá dẫn đến hội nhập kinh tế Hội nhập kinh tế đem lại những thay đổi vềnhững tiêu chuẩn toàn cầu trong việc quản lý kinh tế trong nước Những tiêu chuẩn đó thểhiện chủ yếu theo các điều kiện trong “sự đồng thuận Washington” Những nhóm điều kiện đóđang hạn chế tự do đối với một số nền kinh tế đang phát triển Những nền kinh tế đang pháttriển đó đang cố gắng hội nhập với nền kinh tế thế giới với hy vọng tìm kiếm được nhiều cơhội hơn nữa để phát triển Nhưng các cơ hội lại sánh đôi cùng các thách thức Đối với nhữngnền kinh tế đang phát triển, trong đó có Việt Nam, toàn cầu hoá chủ yếu được hiểu là hội nhậpkinh tế quốc tế và tham gia vào Tổ chức Thương mại Thế giới Những nền kinh tế này cần trithức, thông tin, kinh nghiệm liên quan và hiểu biết đa văn hoá để có thể huy động mọi nguồnlực cần thiết thúc đẩy phát triển nền kinh tế của mình
3 WTO quyết định chính sách và thực hành cho mọi thành viên của nó WTO bao gồm
cả Việt nam (thành viên thứ 150 của WTO) WTO đề ra những nguyên tắc và thực hànhthương mại quốc tế, ở đó những cơ hội đều hết sức phức tạp và khó nắm bắt, đặc biệt khithành viên là nước đang phát triển Lợi thế so sánh và những kết quả thu được từ thương mạidường như ít thay đổi trong thương mại quốc tế trong bối cảnh WTO Mọi thành viên củaWTO đều tuân thủ cùng những vấn đề của thương mại quốc tế giống như chúng đã tồn tạitrước khi gia nhập WTO: tỷ giá hối đoái, thuế quan, bảo hộ
Trang 144 Hai ngụ ý chính về tác động của WTO đối với tài chính vi mô và nông thôn ở Việt Namlà: (1) những điều kiện của WTO đối với nông nghiệp vẫn sẽ đem lại nhiều thách thức và khókhăn cho Việt Nam trong cả ngắn hạn và trung hạn ; (2) những điều kiện và yêu cầu của WTO
về dịch vụ tài chính sẽ có thể mang lại nhiều cơ hội hơn sau năm 2012, khi Việt Nam có thể
đáp ứng hoàn toàn những điều kiện và yêu cầu đó Nhưng WTO trước hết vẫn là thương mại Nhiệm vụ của WTO cho chính WTO mà cho mỗi nước thành viên thúc đẩy việc gắn thương mại với thương mại công bằng, thương mại công bằng và phát triển, thương mại công bằng và xóa đói giảm nghèo Nông nghiệp và tài chính vi mô là một tập hợp nhỏ và những công cụ kỹ thuật để giúp giảm nghèo ở khu vực nông thôn Đối với dịch vụ tài chính nói chung, tài c hính nông thôn và tài chính vi mô chỉ là một phần nhỏ trong toàn bộ dịch vụ tài chính của một đất nước như Việt Nam.
5 Đổi mới ở Việt Nam khởi đầu từ năm 1986 đã tạo cơ hội và mở cửa đất nước ra nềnkinh tế thế giới Chính phủ Việt Nam đã khẳng định theo đuổi chính sách hội nhập kinh tế quốc
tế Tỷ lệ tăng trưởng cao nhiều năm đã đưa Việt Nam ra khỏi danh sách các nền kinh tếnghèo nhất thế giới, đem lại ổn định xã hội và phát triển bền vững Chính sách giảm nghèo đãgiúp giảm đáng kể tỷ lệ nghèo Những bước đi ban đầu trong việc cải cách điều hành-quản lý
đã được tiến hành từ cuối những năm 1990 thông qua cải cách hành chính và chống thamnhũng Tháng 6 năm 1994, Việt Nam đã bắt đầu đàm phán việc gia nhập GATT, vì GATT trởthành WTO năm 1995, Vi ệt Nam đã đàm phán trở thành thành viên của WTO từ 1 thángGiêng năm 2005 và kết thúc đàm phán cuối năm 2006, kết quả là trở thành thành viên thứ 150của WTO từ ngày 11 tháng Giêng năm 2007
II 2 Thách thức và cơ hội chính của WTO sau Hai Năm đầu tiên là thành viên của WTO (2007-2008)
Thách thức
6 Thách thức lớn cho Việt nam là giữ tăng trưởng ổn định Thâm hụt ngân sách năm
2007 là hơn 5,9%, đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến lạm phát cao trong hai quýđầu năm 2008 Chính phủ đã đặt chỉ tiêu tỷ lệ thâm hụt ngân sách tối đa chỉ là 3% GDP, sovới thâm hụt ngân sách trung bình là 8% GDP những năm 1980 Thâm hụt ngân sách năm
1999 là 1,3% GDP, năm 2000 là 2,7%, năm 2001 là 2,9%, năm 2002 là 2,3% và năm 2003 là2,1% Chính phủ cũng đặt mục tiêu duy trì thặng dư thu nhập vãng lai so với chi tiêu thườngxuyên là 4,5% GDP Tỷ lệ này là 5,1% năm 1999, 5,2% năm 2000, 3,9% năm 2001, 5,8% năm
2002 và 5,1% năm 2003
Trang 157 Nhận thức chính trị về việc gia nhập WTO đã được cân nhắc về những lý lẽ tánthành và phản đối, sau đó tiến tới đồng thuận Đôi khi, sự cân bằng cần có cho nên kinh tếdựa trên tri thức hơn là phân tích sâu sắc những hậu quả của việc gia nhập WTO đối với nông
nghiệp và những hoạt động khác ở khu vực nông thôn Việc xây dựng năng lực và kỹ năng cho các ngân hàng thươn g mại và các thiết chế tài chính khác được cho là ưu tiên, nhưng l ại tập trung chủ yếu nhằm vào những thị trường “lớn”, chứ không cho ngành tài chính vi mô.
8 Tăng trưởng thương mại của Việt Nam theo hướng xuất khẩu hàng hoá là rất đángghi nhận, với lợi thế so sánh đặc biệt trong lĩnh vực xuất khẩu hàng nông nghiệp Tuy nhiênvấn đề tỷ giá hối đoái vẫn còn một vấn đề khi còn vướng mắc nhằm tăng hiệu quả của việcthực hiện cơ chế tỷ giá thả nổi có điều tiết VIệc cấp vốn cho những khu vực sản xuất hàngxuất khẩu đang phát triển mạnh được ưu tiên và điều đó có nghĩa là cần cấp vốn và tín dụng
ở nông thôn cho việc sản xuất rộng rãi những mặt hàng nông nghiệp hay là mặt hàng xuất
khẩu cũng được ưu tiên Tuy nhiên, vì tài chính vi mô ch ỉ chiếm tỷ lệ nhỏ - dưới 5% tài chính
và tín dụng nông thôn Hầu hết các dịch vụ tài chính vi mô không tr ực tiếp liên quan đến việc sản xuất hàng xuất khẩu, vì thế tài chính vi mô không m ấy hấp dẫn đối với các dịch vụ tài chính thông thường.
Cơ hội
9 Hệ thống nông nghiệp và lương thực cần phải đảm bảo sự dồi dào của hàng hóanông nghiệp nhưng đối với Việt nam, trợ cấp cho hệ thống nông nghiệp và lương thực sẽkhông còn hiệu lực sau gia nhập WTO Xu hướng phát triển của nông nghiệp VIệt Nam sẽ làhướng tới cơ chế thị trường bằng việc xóa bỏ việc điều tiết giá cả, xậy dựng các trang trại và
hộ tư nhân, và cải cách hệ thống chế biến thực phẩm và các kênh phân phối Quan trọng nhất
là khuyến khích thị trường hoạt động năng động hơn Khi thị trường hoạt động tốt thì đươngnhiên nông dân và các hộ gia đình sẽ tự do sản xuất những gì mà họ muốn, theo cách mà họ
tự quyết định, và bán ra với giá tốt nhất mà họ có thể có Hội nhập là cơ hội cho hàng triệu hộ gia đình và nông dân cá thể tham gia cung cấp đầu vào cho nông nghiệp cũng như là cung cấp dịch vụ chế biến và phân phối lương thực thực phẩm, kể cả trong khi vẫn đang phải đối mặt với những biến động của ngành nông nghiệp.
10 Tham gia vào quá trình toàn c ầu hóa đã làm cho Việt Nam tuy có nhiều nhu cầu tăngcho tài chính vi mô nhưng l ại có xu hướng đi ngược lại sự phát triển của tài chính vi mô vì
Trang 16những lý do chính như sau: (i) cơ chế cho vay sẽ theo xu thế chạy theo lợi nhuận hơn là chovay vì mục đích xã hội, và yếu tố lợi nhuận và yếu tố xã hội trong việc cho vay là đối nghịchnhau (ii) nhu cầu đối với tài chính vi mô không cao
11 WTO có chính sách về minh bạch và quy tắc kinh doanh – những quy tắc và quy định vềtrách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Tính minh bạch và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
có thể mang khía cạnh xã hội của chính sách thương mại của WTO và có mối liên hệ với xóađói giảm nghèo và với tài chính nông thôn và tài chính vi mô
Hộp 1: Đánh giá tác động của việc gia nhập WTO đến hệ thống ngân hàng Việt Nam –
Cách nhìn từ phía Ngân hàng Nhà nư ớc
1 Cơ hội
Nhu cầu về dịch vụ ngân hàng gia tăng, đặc biệt là dịch vụ ngân hàng quốc tế: sự
gia tăng các luồng chu chuyển thương mại hàng hóa hai chiều (từ Việt Nam sang cácnước và từ các nước vào Việt Nam) sẽ kéo theo sự gia tăng nhu cầu về dịch vụ ngânhàng
Hiệu quả hoạt động và khả năng cạnh tranh của các ngân hàng được nâng cao:
hội nhập quốc tế sẽ buộc các ngân hàng phải hoạt động theo nguyên tắc của thịtrường, sẽ dẫn đến quá trình cơ cấu lại hệ thống ngân hàng, phân chia lại thị trườnggiữa các nhóm ngân hàng (thương mại nhà nước, thương mại cổ phần và nước ngoài)theo hướng cân bằng hơn, tiến tới các ngân hàng hoạt động theo hướng chuyên mônhóa
Cơ hội học hỏi kinh nghiệm, nâng cao trình độ công nghệ và quản trị ngân hàng được mở rộng
Khơi thông và thu hút ngu ồn vốn: hội nhập quốc tế, gia nhập WTO góp phần khơi
thông dòng vốn nhờ loại bỏ hàng rào thuế quan, tăng xuất nhập khẩu, thu hút FDI vàODA; các ngân hàng trong nư ớc có khả năng huy động các nguồn vốn từ thị trường tàichính quốc tế
2 Thách thức
Năng lực cạnh tranh của các tổ chức tín dung Việt nam còn yếu: vốn nhỏ và năng
lực tài chính yếu, chất lượng tài sản có còn thấp dẫn đến khả năng chống đỡ rủi royếu; dịch vụ của các tổ chức tín dụng trong nước còn đơn điệu và nghèo nàn, chấtlượng dịch vụ thấp và chưa tiện ích; công nghệ ngân hàng còn lạc hậu và trình độ củađội ngũ cán bộ ngân hàng còn yếu và chưa đồng bộ
Trang 17 Rủi ro ngoại sinh từ thị trường tài chính khu vực và quốc tế: Việc mở cửa thị
trường tài chính nội địa làm tăng rủi ro thị trường (giá cả, tỷ giá, lãi suất, chu chuyểnvốn,…) Trong khi đó, năng lực điều hành vĩ mô của Ngân hàng Nhà nước như kiểmsoát tỷ giá, lãi suất và lạm phát trong điều kiện tự do hóa còn nhiều hạn chế và khảnăng chống đỡ rủi ro của các NHTM còn rất thấp
Gia tăng chi phí quá m ức cho hiện đại hóa công nghệ ngân hàng so với lợi nhuận đem lại trong điều kiện tốc độ phát triển công nghệ và dịch vụ ngân hàng đang diễn ra nhanh chóng
Hệ thống pháp luật về ngân hàng còn chưa đồng bộ và nhiều quy định, đặc biệt
là quy định về quản trị điều hành chưa phù hợp với thông lệ quốc tế: tạo ra sự
phân biệt đối xử giữa các loại hình tổ chức tín dụng, giữa các nhóm tổ chức tín dụng,còn có sự bảo hộ của nhà nước đối với các NHTMNN; một số quy định pháp luật thểhiện sự can thiệp hành chính quá sâu vào ho ạt động của các tổ chức tín dụng, hạnchế quyền tự chủ kinh doanh của các tổ chức tín dụng; hiệu lực thi hành pháp luậttrong lĩnh vực ngân hàng chưa cao d ẫn đến các quyền và lợi ích hợp pháp của các tổchức tín dụng chưa được bảo vệ hợp lý
Trích bài tham luận của ông Bùi Huy Thọ - Phó trưởng Ban Giám sát Các Tập đoàn
Tài chính, Ủy ban Giám sát Tài chính Qu ốc gia
II 3 – Chính sách về tài chính-ngân hàng của Việt Nam đối mặt với những thách thức của WTO
11 Mục tiêu chủ yếu của chính sách tiền tệ ở Việt Nam là giữ ổn định giá trị đồng tiền ViệtNam (VND), kiểm soát lạm phát và thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển Tín dụng được hướngvào những hoạt động để khai thác sử dụng toàn bộ tiềm năng của các khu vực kinh tế khácnhau Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ nhưtái cấp vốn, lãi suất, tỷ giá hối đoái, hoạt động của thị trường mở và những công cụ khácnhằm điều chỉnh cung tiền NHNN áp dụng hình thức tỷ suất tái chiết khấu đồng nhất đối vớitất cả các ngân hàng thương mại từ năm 1999 Chính sách tín dụng tiếp tục được tăng cường
để thỏa mãn các yêu cầu của cấp vốn để đạt tăng trưởng kinh tế phù hợp với các mục tiêuchính sách tiền tệ Cơ chế tín dụng đã được sửa đổi theo hướng cởi mở hơn nhằm tăng hiệuquả, nâng cao tính tự chủ và tính trách nhiệm của các tổ chức tài chính, và tăng cường chấtlượng tín dụng
12 Sự đô la hoá mạnh đồng tiền Việt Nam là nguồn rủi ro thực sự đối với hệ thống tiền tệ
Trang 18điều tiết Các trung tâm giao dịch ngoại hối đã được mở từ cuối những năm 1991, và thịtrường liên ngân hàng cho các ngân hàng thương m ại đã được lập hồi tháng Mười năm 1994.NHNN theo dõi cán cân thanh toán và dự trữ ngoại tệ, NHNN có thể can thiệp vào thị trườngkhi cần thiết NHNN công bố tỷ giá hối đoái trao đổi trung bình của đồng tiền Việt Nam đối vớiđồng USD Mỹ trên thị trường ngoại hối liên ngân hàng Việc kiểm soát giao dịch tài khoảnvãng lai đã được tự do hoá Về giao dịch vốn, Việt Nam đã nới lỏng việc chuyển vốn củanhững nhà đầu tư nước ngoài và việc vay ngoại tệ của các tổ chức trong nước Việt Nam chỉcòn duy trì hạn chế đối với (1) vốn do các tổ chức trong nước chuyển ra nước ngoài đầu tư,việc này cần được sự đồng ý của các cơ quan chức năng có thẩm quyền và việc chuyểnngoại tệ phải nằm trong lượng ngoại tệ mà các tổ chức này nắm giữ; và (2) thanh toán và táithanh toán các khoản vay ngoại tệ của những tổ chức trong nước, hoạt động này phải đăng
14. Đối với ngành ngân hàng tài chính, Pháp L ệnh Ngân hàng nhà nước, Pháp lệnh các tổchức tín dụng đã được thay bằng Luật Ngân hàng nhà nước và Luật các tổ chức tín dụng.Việcsắp xếp lại các ngân hàng thương mại nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả đã được áp dụng
từ năm 2001 với nhiểu biện pháp NHNN dự kiến cho đến năm 2010 sẽ cổ phần hoá hầu hếtcác ngân hàng thương mại nhà nước, NHNN sẽ tiếp tục thực hiện chức năng quản lý nhànước, thanh tra và giám sát các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng Chất lượngtài sản, kỷ cương, quản lý rủi ro đã được cải thiện đáng kể trong các ngân hàng thương m ại
hoặc cổ phần Cho vay chính sách đã được tách khỏi các hoạt động tín dụng thương mại và được giao cho các ngân hàng chính sách xã h ội.
15 Khi tham gia vào WTO, Vi ệt nam cũng đã xây dựng được một số luật theo yêu cầu củaWTO, về các lĩnh vực đầu tư, phát triển kinh doanh Những luật này cũng có tác động tới cáchoạt động tín dụng, tuy nhiên không hẳn có tác động trực tiếp và rõ ràng đối với sự phát triểncủa tài chính vi mô của Việt Nam (bảng 1)
Trang 19Bảng 1:Lộ trình chính sách liên quan đến TCVM
1991-1995
1995- hiên nay
Tỷ lệ và cơ cấu thuế được đồng nhất, khôngphân biệt, phạm vi thuế rộng hơn, củng cốquản lý thuế
tăng
Thay thế thuế doanh thu
doanh nghiệp
Tỷ lệ đánh thuế chung là 28%, tỷ lệ thuế đặcbiệt là từ 10-20%, tạo cơ sở khuyến khích nộpthuế cho các doanh nghiệp nước ngoài vàtrong nước
quyền tiếp cận như nhau tới nguồn vốn, traođổi ngoại tệ, đất và tài nguồn, có các cơ hộiđầu tư công bằng, có quyền khiếu nại v.v
quan đến đất đai) và quyền sử dụng đất làmđảm bảo và thế chấp cho các hoạt động tíndụng
nhân (sửa đổi)
Một hệ thông thuế đơnTương thích với luật thuế tiêu thụ đặc biệt vàLuật thuế Doanh nghiệp
Trang 20CHƯƠNG 3 TÍN D ỤNG NÔNG THÔN VÀ DỊCH VỤ TÀI CHÍNH VI MÔ
III.1 Nhìn lại kinh nghiệm phát triển của T ài chính vi mô
Các kinh nghiệm và đánh giá quốc tế đều cho thấy bằng chứng tác động tích cực của tài chính thương mại và tài chính vi mô trong gi ảm nghèo, tạo việc làm cho khu vực nông thôn
16. Dịch vụ tài chính vi mô được F.W Raiffeisen nghĩ ra và áp dụng đầu tiên ở Đức vàonhững năm 1860 để đối phó với vấn đề tín dụng trong nông nghiệp, các nghề thủ công và cáccông nghiệp nhỏ ở các vùng nông thôn đúng vào thời công nghiệp hoá diễn ra nhanh chónggây áp lực lớn đối với hàng nông sản do nhập khẩu giá thấp, trong khi lãi suất thương mại thìlại cao Các hội hợp tác cho vay nhỏ dựa trên những nguyên tắc tự giúp đỡ lẫn nhau, tự chịutrách nhiệm và tự quản đã hình thành: khoản tiền gửi của các thành viên là cơ s ở để cho cácthành viên vay, và lợi nhuận được tái đầu tư hoặc chia Vì các hiệp hội riêng rẽ quá yếu khiđứng một mình, năm 1872, Raiffeisen đã lập nên Hội Liên hiệp cấp quốc gia, kết hợp cấu trúctheo hàng ngang với cấu trúc theo chiều dọc
17 Những nguyên tắc cơ bản của Raiffeisen tiếp tục là bài học cho việc thành lập các tổchức hợp tác tín dụng trên toàn thế giới, tuỳ theo sự khác nhau của từng nước, tuỳ thuộc vào
cơ cấu tín dụng đang tồn tại, những điều khoản pháp luật và những điều kiện xã hội Ở Tây
Âu, nhiều ngân hàng hoạt động ở khu vực nông thôn đều ít nhiều có liên quan đến hệ thốngRaiffeisen Ngày nay, những ngân hàng này không còn cho vay vi mô n ữa vì chúng đã chuyểnkhỏi lĩnh vực tài chính vi mô, nhưng nh ững kiến thức và kinh nghiệm được phổ biến khắp nơi
ở châu Âu, Châu Á - Philippines, Trung Quốc, Bangladesh, và… Việt Nam
18 Hiện nay, có khoảng 60 tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính vi mô ở Tây Âu, gần mộtnửa số đó được thành lập năm 2000 hoặc muộn hơn, với hoạt động quy mô nhỏ là chủ yếu.Chỉ có một số ít có tầm quốc gia như France Adie và Finland Finerva 10 tổ chức có kế hoạchphát triển danh mục cho vay để đầu tư khoảng 240% năm 2006 Ch ẳng hạn, Adie(Association pour le Droit à l‘Initiative Economique), ra đời năm 1989, hiện đã có khoảng 300nhân viên, 700 tình nguyện viên Adie cung cấp dịch vụ cho những người thất nghiệp vànhững người nhận trợ cấp xã hội – nhóm này chiếm 50% số người vay Adie cho vay tới5.000 EUR với tỷ giá thị trường, chính phủ trợ cấp tiền khởi động ban đầu và những khoảncho vay không lãi suất Adie còn tư vấn kinh doanh cho những doanh nghiệp vi mô Thu nhậpchỉ bao gồm chi phí, khoảng 30% Từ năm 1989, Adie đã cho 23.000 khách hàng vay Năm
Trang 212004, có 10.000 người vay Một ví dụ khác là Fundació Un Sol Món, tr ụ sở tại Tây Ban Nha,được thành lập bởi ngân hàng tiết kiệm Caixa Catalunya năm 2000, Fundació Un Sol Mónhoạt động cấp khu vực Nhóm khách hàng chính c ủa gồm những người không có đặc quyền
và cộng đồng, những nhà doanh nghiệp làm ăn đơn lẻ thuộc lĩnh vực dịch vụ Các sản phẩmcủa nó là các khoản cho vay kiểu ngân hàng truyền thống từ 5.000 đến 8.000EUR Từ cuốinăm 2004, lãi suất (6%) bao gồm rủi ro (4,6%) và bắt đầu bao gồm cả chi phí buôn bán (hiện
là 75%) Từ năm 2000, hơn 600 khoản vay vi mô đã được thực hiện với tổng giá trị là 5,6 triệuEUR
19 Tài chính vi mô ở Đông Á và Trung Á đã nhanh chóng phát triển, đi từ chỗ nhỏ nhoiđến trình độ công nghiệp sinh lời và ổn định Tốc độ mà khu vực này có được sự độc lập vềtài chính là đặc biệt quan trọng vì những tổ chức tài chính vi mô đều cố gắng đạt được sự tựchủ chính để bù đắp lại chi phí và khoản đầu tư hấp dẫn Có thể rút ra nhiều bài học từ tàichính vi mô ở Đông Á và Trung Á Thậm chí với quy mô nhỏ hơn và chi phí hoạt động caohơn mức trung bình, các tổ chức tài chính vi mô ở khu vực đã nhanh chóng phát triển một môhình đem lại khoản tiền lãi Sự có lãi trong lĩnh vực này xuất phát từ tín dụng mạnh của khuvực, nhờ có đội ngũ nhân viên thạo nghề, và kiểm soát chặt chẽ danh mục cho vay đầu tư.Hơn nữa, các tổ chức tài chính vi mô trong khu v ực này đã dành nhiều nguồn lực hơn cho cácdanh mục cho vay đầu tư, đó là những tài sản sinh lợi nhất, hơn là cho địa vị toàn cầu củachúng Mặc dù có thành tích tài chính đầy ấn tượng, song lĩnh vực năng động này vẫn phảiđối mặt với những thách thức khó khăn Đó là sự kém hiệu quả và hiệu suất hơn phần lớn cáckhu vực khác Mặc dù lĩnh vực tài chính vi mô ỏ nhiều nước trong khu vực bắt đầu trở nênphức tạp hơn xét về sự đa dạng sản phẩm, khu vực này nhìn chung vẫn thiếu sáng kiến vàtạo nguồn tiết kiệm hạn chế Cạnh tranh đang tăng lên giữa các lĩnh vực tài chính vi mô cũngnhư từ các ngân hàng thương m ại sẽ dẫn đến những sáng kiến mới tiếp theo, nhưng điềuquan trọng hơn là làm cho nó vươn xa hơn, vì các tổ chức tài chính vi mô buộc phải tìm kiếmnhững khách hàng mới Kế tục sự phát triển, lĩnh vực tài chính vi mô mới xây dựng có lợi thế
là có thể học tập được kinh nghiệm từ thực tiễn thành công nhất ở các khu vực khác Riêng ởĐông Âu, tài chính vi mô ti ếp tục phát triển sau những năm 1990 Có hơn 4.000 tổ chức, tổngdanh mục cho vay đầu tư là hơn 800 triệu USD và hơn 1,5 triệu người vay năm 2003 Đông
Âu có 4 mô hình (mô hình phi ph ương Tây áp dụng ở Đông Âu): liên hiệp tín dụng (hơn 4.000),phi chính phủ (31), ngân hàng tài chính vi mô (3) và ngân hàng thương m ại quy mô thấp Sựthâm nhập thị trường ước tính chiếm 11% nhu cầu tiềm năng Tỷ lệ tăng trưởng gần đây đìnhtrệ (từ năm 2002 đến 2003 chỉ là 5%) Đa số các hiệp hội tín dụng đều là những tổ chức cộngđồng rất nhỏ với danh mục cho vay trung bình dưới 100.000 USD Nhóm tài chính vi mô MFI
Trang 22phi chính phủ được thành lập với rất nhiều chương trình nhỏ có một số tổ chức lớn sinh lờinhư Fundusz Mikro Từ năm 2002, MFI lớn nhất Đông Âu về danh mục cho vay và số ngườivay có hiệu quả và khả năng vươn xa là ngân hàng tài chính vi mô ProCredit Bank Bulgaria(số người vay có hiệu quả năm 2003: 16,000, tổng số tiền cho vay là 790 triệu USD) FunduszMikro được thành lập tại Ba Lan năm 1994
Hoạt động rộng khắp đất nước (32 chi nhánh), 93 nhân viên Nhóm khách hàng lànhững doanh nhân vi mô
Sản phẩm: cho vay để khởi động các doanh nghiệp vi mô với luồng tiền dương; sửdụng biện pháp cùng ký kết thay cho việc thế chấp;
Từ năm 1994, có 33.800 doanh nghiệp vi mô được vay vốn 11.058 người vay cóhiệu quả
21 Kinh nghiệm tốt về hoạt động cộng đồng các tổ chức tài chính vi mô có thể liệt kê như sau.(Các tổ chức tài chính vi mô Việt Nam cũng có thể học tập kinh nghiệm)
Xác định sản phẩm cho thị trường
Phân tích tình hình kinh tế - xã hội của doanh nghiệp
Phân tích dòng tiền tiêu chuẩn
Thế chấp và bảo lãnh chủ yếu chỉ là động cơ thúc đẩy và niềm tin, ít ýnghĩa về mặt kết quả thu hồi vốn
Nguyên tắc tuần tự: việc hoàn trả đúng thời hạn sẽ mở ra cơ hội cho vaythêm (nhiều hơn, lâu hơn, lãi suất thấp hơn)
Trang 23 Thực hiện theo cách cho vay phi chính thức (“bên cho vay”): nhân viên chovay có trách nhiệm đối với toàn bộ quy trình vay, mức lương quy định theolãi suất thu được (phụ thuộc vào số lượng, tần suất và chất lượng cho vay)
Phi tập trung hoá, kiểm soát hiệu quả và có sự hỗ trợ của công nghệ thôngtin
Tối đa hoá lợi ích của khách hàng (tiện lợi, trình tự thủ tục không mất thờigian)
22 Tài chính vi mô của Ấn Độ phát triển cho đến hiện nay một phần nhờ nhóm tự lực(SHG) và vì lợi ích tăng trưởng đáng kể của các tổ chức tài chính vi mô (MFIs) cung c ấpnhững dịch vụ tài chính giá trị nhỏ cho những gia đình thu nhập thấp Mô hình dịch vụ tàichính vi mô này là theo kinh nghi ệm của SHGs của các tổ chức phi chính phủ theo truyềnthống của các nhóm liên doanh đồng trách nhiệm Grameen và hoạt động tiết kiệm của ngânhàng tư nhân và các liên hiệp hoạt động tín dụng Tuy nhiên, xét về mặt hiệu quả, thì hiệu quảthu được không lớn bằng việc lựa chọn mô hình tài chính vi mô MFIs d ựa trên SHG có độingũ nhân viên hoạt động hiệu quả hơn một chút so với các mô hình khác MFIs ở đô thị có thểhoạt động hiệu quả hơn nhiều Tính đến giữa năm 2006, SHGs và m ột số MFIs ước tính đãvươn tới 17 triệu gia đình Nguyên nhân để những mô hình này ở Ấn Độ có thể vươn xa đượclà:
a Đó là sáng kiến của các tổ chức phi chính phủ và có sự tham gia tích cực của cácngân hàng (ví dụ các ngân hàng Syndicate and Canara Banks ) vào các chươngtrình này
b Được quản lý tốt hơn bởi NGOs, SHGs/ hay MFIs
c Có ấn tượng hơn đối với kinh tế các địa phương
d Tỷ lệ biết chữ cao hơn và tỷ lệ tham gia cao hơn của phụ nữ vào nền kinh tế địaphương khiến họ thích hợp hơn với các MFI
23 Ngân hàng Grameen ở Bangladesh cũng đi theo con đường tương tự là hoạt động tàichính vi mô theo mô hình truyền thống của Raiffeisen Grameen Bank m ở rộng các hoạt độngcủa mình đến hãng điện thoại di động (GSM) - Hãng viễn thông Grameen Cổ phần đa số vàviệc quản lý hãng này thuộc về Telenor của Na-Uy Một trong những vấn đề chủ yếu của dịch
vụ tài chính vi mô thành công là y ếu tố văn hoá Những điều kiện pháp lý và xã hội ở
Bangladesh khác với những nơi khác
Trang 2424 Ở Việt Nam, Ngân hàng Thế giới đã và đang hỗ trợ sự phát triển của khu vực ngânhàng nông thôn (là một phần của dự án tài chính nông thôn) Dịch vụ ngân hàng di động cũngđược ngân hàng đầu tư phát triển triển khai, được thử nghiệm từ những năm 2000-2001 vớikhoảng 159 xe ngân hàng lưu đ ộng Mỗi xe ngân hàng lưu động này phục vụ khoảng 62 điểmmột tháng, mở thêm khoảng 2000 tài khoản tiết kiệm mới, trị giá khoảng 19 tỷ động, và
khoảng 2000 khoản vay, trị giá 10 tỷ dư nợ/ tháng Những xe ngân hàng lưu động này giúpcác hộ gia đình nông thôn, bao gôm các h ộ gia định dân tộc thiểu số nâng cao đời sống việclàm qua việc tiếp cận dịch vụ ngân hàng Đây có lẽ là hình thức mô hình mang lại ích lợi lớnnếu được áp dụng ở cả các ngân hàng ngoài quốc doanh
III.2 Năng lực cạnh tranh của khu vực tài chính vi mô ở Việt Nam\
Khung phân tích: Mô hình kim c ương
Môi trường tài chính vi mô, chi ến lược, các đối thủ cạnh tranh Nhin chung, các quy ết định và chiến lược của các tổ chức tài chính vi mô đã có tác động đến năng lực cạnh tranh trong tương lai Các t ổ chức tài chính vi mô nếu kết hợp chiến lược với nhau sẽ nâng cao được năng lực cạnh tranh và đối mặt được với các thách thức của quá trình toàn cầu hóa
Điều kiện Cung: Tính hiệu quả, chất lượng và đầu vào cho các tổ chức tài chính vi mô như con người, vốn, phương tiện, công nghệ và khoa học còn yếu
Điều kiện Cầu: trong bối cảnh hội nhập của Việt nam, nhu cầu về tài chính vi mô rất cao, để giảm nghèo nhanh hon và giúp ngư ời nghèo phát triển kinh tế, tuy nhiên, dịch vụ tài chính vi mô cần đáp ứng được các điều kiện cạnh tranh, đa dạng hóa các dịch vụ và mức độ công nghệ thông tin
Các ngành phụ trợ liên quan: Ở Việt Nam, sự phát triển nhanh chóng của một số ngành phụ trợ như công nghệ thông tin, ngân hàng, s ản xuất chế biến nông sản v.v có thể giúp tăng tính cạnh tranh và
sự phù hợp của dịch vụ tài chính vi mô.
Trang 25Hi nh 1 - Khung phân tích – Mô hình kim cương
Mục tiêu 2006 WTO yêu cầu mở cửa các thị trường dịch vụ
Các khó khăn về tài chính tăng lên
Ngân hàng NN&PTNT
Quỹ tín dụng nhân dân
Ngân hàng thương
mại
Chương trình mục tiêu XĐGN
Các quỹ Tc vi mô v/d M7, CEF, TYM Các quỹ do các tổ chức xã hội, Phi chính phủ
Cơ hội Kênh Huy động nguồn vốn nhiều hơn
Nhu cầu nhiều hơn
Thách thức: WTO và các yêu cầu về ngân hàng và tín dụng vi mô
Trang 26III.2.1 CUNG CHO DỊCH VỤ TÀI CHÍNH VI MÔ
25 Cung các dịch vụ tài chính vi mô ở Việt nam từ trước đến nay được chia thành khuvực chính thức và khu vực phi chính thức Hiện tại các khu vực này đang hoạt động dưới một
số luật hiện hành như Luật các tổ chức tín dụng, Luật Hợp tác xã, và cả nghị định về các tổchức tín dụng (Nghị định 28, tháng 3 năm 2005, Th ủ tướng ban hành) Tuy nhiên, m ột số tổchức xã hội đang thực hiện các dịch vụ tín dụng vi mô lại được thành lập theo nghị định 179cho các tổ chức phi chính phủ (ví dụ một số tổ chức trong nhóm M7) và một số tổ chức nhưQuỹ TYM của Hội phụ nữ hay quỹ CEF của Liên đoàn lao động
26 Trong khu vực chính thức, Ngân hàng NNPTNT, Ngân hàng Chính sách xã h ội và hệthống QTDNDTW đang chiếm ưu thế về cung cấp dịch vụ tài chính nông thôn Nhìn chung,những ngân hàng này chiếm khoảng 90% thị phần Ngân hàng NN&PTNT và Ngân hàngCSXH đang thuộc sở hữu nhà nước còn Quỹ TDTW thuộc sở hữu một phần của Ngân hàngNhà nước và một phần của các thành viên của Quỹ Quỹ tín dụng Nhân dân lại thuộc sở hữucủa các cổ đông/ thành viên Ngân hàng NN&PTNT đã cung cấp dịch vụ tài chính vi mô Tuynhiên, từ năm 2003, các khoản vay cho người nghèo đã được chuyển sang cho NHCSXHquản lý, gây cho NH CSXH ph ải gánh chịu rủi ro với các khoản nợ khó đòi Bởi vì NHCSXHcho vay lãi suất ưu đãi nên ngân hàng này không huy động lượng tiền gửi Tuy nhiên, ngânhàng NN&PTNT có một mạng lưới quốc gia vươn tới tất cả các tỉnh thành và là ngân hàng cómạng lưới chi nhánh rộng nhất Việt Nam nên lại huy động tiền gửi tốt hơn Mặc dù, ngân hàngNN&PTNT đang thay đổi chính sách phục vụ người nghèo ít hơn, và các dịch vụ không hoàntoàn hướng tới người nghèo nhưng khoảng 47% khách hàng của họ là người nghèo (chỉ thấphơn một chút so với ngân hàng CSXH, 49% (số liêu năm 2007, nguồn, NHNN) Điều này đãđặt khả năng tiếp cận người nghèo trên tổng thể của ngân hàng này cao hơn đáng k ể so vớiNgân hàng CSXH với mục tiêu là nhằm xóa đói giảm nghèo Tỷ lệ nợ quá hạn của ngân hàngNN&PTNT theo báo cáo là 5% trong khi đó tỷ lệ nợ quá hạn của NHCSXH là khoảng 1/3 hầuhết toàn hộ nghèo2 Tuy nhiên, tỉ lệ này là sau khi rà soát và xóa n ợ Con số nợ quá hạn thực
tế được xác nhận là cao hơn đáng kể mặc dù hệ thống kế toán không cho phép xác đ ịnh mộtcách chính xác Ngân hàng NN &PTNT đã thành công trong việc huy động tiền gửi cả từ các
cá nhân và từ doanh nghiệp, kết hợp với ký quỹ, đã lên tới trên 80% tổng số vốn hiện có Tuynhiên, Ngân hàng NN&PTNT vẫn chưa huy động tiền gửi từ người nghèo một cách đáng kể.Những khoản tiền gửi dưới 500,000VND (khoảng 33 đô la Mỹ) chỉ chiếm khoảng 2% tổng sốtiền gửi của ngân hàng này
2
Báo cáo nghèo, Ngân hàng th ế giới, 2006