1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

QUÁ TRÌNH ĐẤU TRANH CỦNG CỐ ĐỘC LẬP DÂN TỘC CỦA LIEN BANG MALAIXIA

197 365 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 197
Dung lượng 1,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong bốicảnh gia tăng của toàn cầu hóa, khu vực hóa và cạnh tranh địa - chính trị đangnổi lên thì vấn đề duy trì, củng cố độc lập dân tộc với thúc đẩy và hội nhậpquốc tế đang đặt ra khô

Trang 1

Häc viÖn ChÝnh trÞ quèc gia Hå ChÝ Minh

Trang 2

Häc viÖn ChÝnh trÞ quèc gia Hå ChÝ Minh

Trang 3

Lêi cam ®oan

T«i xin cam ®oan ®©y lµ c«ng tr×nh nghiªn cøu cña riªng t«i C¸c sè liÖu nªu trong luËn ¸n lµ trung thùc Nh÷ng kÕt luËn khoa häc cña luËn ¸n ch­a tõng ®­îc ai c«ng bè trong bÊt kú c«ng tr×nh nµo kh¸c.

T¸c gi¶ luËn ¸n

TrÞnh ThÞ Hoa

Trang 4

Mục lục

Trang

1.2 Những vấn đề nhỡn từ phớa Việt Nam để nghiờn cứu, rỳt kinh nghiệm 21

Chương 2: NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUÁ TRèNH ĐẤU TRANH

CỦNG CỐ ĐỘC LẬP DÂN TỘC CỦA LIấN BANG MALAYA/MALAYSIA

2.1 Khỏi quỏt lịch sử đấu tranh chống thực dõn Anh của Malaya từ

2.2 Một số nhõn tố quốc tế và khu vực ảnh hưởng đến tiến trỡnh

củng cố độc lập dõn tộc của Liờn bang Malaysia 41

Chương 3: NỘI DUNG CỦNG CỐ ĐỘC LẬP DÂN TỘC CỦA LIấN BANG

3.1 Giai đoạn 1957 - 1969: đấu tranh vỡ nhà nước Liờn bang và

3.2 Giai đoạn 1969 - 1990: thực hiện phỏt triển kinh tế đi đụi với

cụng bằng xó hội, hài hũa dõn tộc và hội nhập quốc tế 90

NHỮNG CễNG TRèNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CễNG BỐ LIấN QUAN TỚI

Trang 5

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ASEAN Association of Southeast Asian

Nations

Hiệp hội các quốc gia ĐôngNam Á

EIC British East India Company Công ty Đông Ấn Anh

DAP Democratic Action Party Đảng hành động dân chủ

GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc dânFELDA Federal Land Development

Ủy ban phát triển công

nghiệp Liên bangIIA Investment Incentive Act Luật khuyến khích đầu tưINTAN Institut National Tadbiran Awan

Negara

Học viện Hành chính Quốcgia

MAMPU Malaysian Administrative

Modernisation andManagement Planning Unit

Đơn vị Hoạch định nhân lực

và Hiện đại hóa hành chínhMalaysia

Association

Hiệp hội người Hoa Malaya

MCP Malayan Communist Party Đảng Cộng sản Malaya

MIC Malaysian Indian Congres Đại hội người Ấn Độ ở

MalayaNEP New Economic Policy Chính sách kinh tế mới

Kế hoạch cho tương lai 1

PAP People's Action Party Đảng nhân dân hành động

Trang 6

PAS Party Islam Se-Melaya Đảng Hồi giáo Malaya

PLO Palestine Liberation

Organization

Mặt trận giải phóng Palestin

RMN Royal Malaysian Navy Lực lượng Hải quân hoàng gia

MalaysiaSEATO Southeast Asia Treaty

UNHCR United Nations High

Commissioner for Refugees

Cao ủy Liên hợp quốc về

người tị nạn

ZOPFAN A Zone of Peace Freedom and

Newtrality

Khu vực hòa bình tự do vàtrung lập

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Đấu tranh giành và củng cố nền độc lập dân tộc, xây dựng dựng đấtnước và lựa chọn con đường phát triển và tiến lên xã hội hiện đại là những

vấn đề thường trực, cấp thiết của khoa học và thực tiễn chính trị Trong bốicảnh gia tăng của toàn cầu hóa, khu vực hóa và cạnh tranh địa - chính trị đangnổi lên thì vấn đề duy trì, củng cố độc lập dân tộc với thúc đẩy và hội nhậpquốc tế đang đặt ra không ít thách thức đối với các nước đang phát triển, nhất

là về bảo vệ lợi ích kinh tế cũng như duy trì bản sắc, văn hóa dân tộc, chủquyền quốc gia - dân tộc

Nằm trong khu vực Đông Nam Á, Liên bang Malaysia được biết đến

như một quốc gia có cấu trúc tộc người, giai tầng xã hội, văn hóa hết sức đa

dạng, lại bị chia cắt thành nhiều vùng lãnh thổ với trình độ phát triển khácnhau Từ khi giành độc lập đến nay, Malaysia đã vươn lên thành một quốc gia

tương đối phát triển với một nền kinh tế năng động, có sức cạnh tranh khá

cao, một xã hội phát triển hài hòa và ngày càng có uy tín cao trên trường quốc

tế Vì vậy, việc nghiên cứu quá trình đấu tranh củng cố độc lập dân tộc, nhất

là cách thức, biện pháp thúc đẩy phát triển kinh tế đi đôi với công bằng xã hội

và hài hòa dân tộc, giữ vững chủ quyền quốc gia và hội nhập quốc tế trong

các giai đoạn lịch sử khác nhau, cụ thể là từ năm 1957 đến năm 1990, giaiđoạn đầu của thời kỳ độc lập dân tộc có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc

Việc nghiên cứu này không chỉ làm rõ tính đặc thù của con đường đấu tranhcủng cố nền độc lập dân tộc, mà quan trọng hơn là hiểu rõ các cách thức, biệnpháp phát triển kinh tế, ổn định xã hội và hài hòa dân tộc, cũng như việc thích

nghi chính sách đối ngoại của quốc gia này trong một bối cảnh căng thẳng củađấu tranh ý thức hệ chính trị - tư tưởng thời kỳ Chiến tranh lạnh Nghiên cứu

Trang 8

những thành công và hạn chế của công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước củaMalaysia là hết sức bổ ích không chỉ trong học thuật mà còn phục vụ mục tiêuchính trị đối với các đảng cầm quyền ở các nước đang phát triển trong giai

đoạn hiện nay

Việt Nam và Malaysia là hai nước láng giềng trong cùng một đại gia

đình ASEAN Do đó, nghiên cứu quá trình đấu tranh củng cố độc lập dân tộc

của Liên bang Malaysia từ năm 1957 đến năm 1990 đáp ứng yêu cầu tìm hiểu

về các nước thành viên trong ASEAN nói chung, tìm hiểu tính quy luật và đặcthù của công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước của Malaysia nói riêng Mặtkhác, từ nghiên cứu này rút ra những kinh nghiệm để tham khảo cho côngcuộc đổi mới toàn diện ở Việt Nam, trong đó có việc củng cố sự đoàn kếtquốc gia - dân tộc, giữ vững chủ quyền lãnh thổ, xây dựng và củng cố bộ máy

hành chính nhà nước và hội nhập có hiệu quả trong Cộng đồng ASEAN

Một ý nghĩa quan trọng khác là việc nghiên cứu này sẽ góp phần bổsung phần còn thiếu, chưa hệ thống về nghiên cứu con đường đấu tranh củng

cố độc lập dân tộc của Malaysia trên các mặt, đặc biệt là nhận thức chúng từ

góc độ lý luận mácxít

Chính những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài "Quá trình đấ u tranh

củ ng cố độ c lậ p dân tộ c củ a Liên bang Malaysia từ năm 1957 đế n 1990"

làm luận án tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử phong trào cộng sản, công nhânquốc tế và giải phóng dân tộc

2 Mục đích và nhiệm vụ của luận án

2.1 Mụ c đích

Đề tài làm rõ nội dung củng cố độc lập dân tộc của Liên bang

Malaysia trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội… qua hai giai

đoạn: giai đoạn 1957 - 1969; giai đoạn 1969 - 1990 Từ đó rút ra bài học kinh

nghiệm đối với các nước đang phát triển

Trang 9

2.2 Nhiệ m vụ củ a luậ n án

Để đạt được mục đích đã nêu trên, luận án đặt ra và tập trung giải

quyết những nhiệm vụ chính sau:

- Phân tích bối cảnh lịch sử của quá trình đấu tranh củng cố độc lậpdân tộc của Liên bang Malaysia

- Phân tích nội dung đấu tranh củng cố độc lập dân tộc của Liên bangMalaysia trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, ngoại giao qua hai giai đoạn: 1957 - 1969 và 1969 - 1990 Từ đó làm rõ sự thành công vàhạn chế của công cuộc đấu tranh xây dựng và phát triển quốc gia - dân tộc củaMalaysia thời kỳ Chiến tranh lạnh

- Rút ra những nhận xét về quá trình đấu tranh củng cố độc lập dân tộccủa Liên bang Malaysia và một số kinh nghiệm đối với các nước đang phát triển

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1 Đố i tư ợ ng nghiên cứ u

Đề tài nghiên cứu về quá trình đấu tranh củng cố độc lập dân tộc của

Liên bang Malaysia

3.2 Phạ m vi nghiên cứ u

- Về không gian: Luận án nghiên cứu về Liên bang Malaysia ngày

nay, bao gồm 11 bang (Johore, Kedah, Kelantan, Labuan, Malacca, NegeriSembilan, Pahang, Perak, Perlis, Penang, Selangor, Terengganu, WilayahPersekutuan) (còn gọi là Tây Malaysia) và vùng lãnh thổ nằm ở phía Bắc đảo

Kalimantan (hay đảo Borneo) gồm hai bang (Sabah và Sarawak) (còn gọi làĐông Malaysia) Vùng lãnh thổ ở Borneo như Brunei và vùng phía Nam

Malaysia là Singapore ngày nay sẽ dừng lại ở mức độ nghiên cứu ở nhữngphần có liên quan

- Về thời gian: thời gian nghiên cứu đề tài được giới hạn từ năm 1957

đến năm 1990 Tuy nhiên, đây là đề tài lịch sử cho nên tác giả sẽ đề cập đến

Trang 10

một số nội dung liên quan đến thời kỳ trước năm 1957 và sau năm 1990,nhằm làm rõ những nhân tố tác động tới tiến trình củng cố độc lập dân tộc ởquốc gia này trong tiến trình lịch sử.

Mốc thời gian năm 1957, mà cụ thể là ngày 31/8/1957 là mốc thờigian thực dân Anh buộc phải trao trả độc lập cho Malaya sau gần hai thế kỷcai trị Mốc năm 1990 là dấu mốc kết thúc "Kế hoạch và triển vọng lần thứnhất" (OPP1) về phát triển kinh tế - xã hội của Malaysia, đặt ra trong vòng 20

năm, từ 1971 đến 1990, đồng thời cũng là dấu mốc kết thúc "Chính sách kinh

tế mới - NEP) (Chú giải 1).

- Về phạm vi nội dung: đề tài đề cập đến những biện pháp củng cố độc

lập dân tộc của Liên bang Malaysia trên các lĩnh vực chính trị - hành chính,kinh tế, văn hóa xã hội và an ninh quốc phòng, ngoại giao…

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý luậ n

Đề tài được thực hiện trên quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác

-Lênin về hình thái kinh tế xã hội, về nhà nước và giai cấp, về dân tộc và thời

đại, về đảng cầm quyền trong hệ thống chính trị; tư tưởng Hồ Chí Minh về

vấn đề dân tộc, giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước

Ngoài ra, tác giả cũng sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so

sánh, thống kê để hỗ trợ cho việc phân tích các nội dung nghiên cứu.

Phương pháp nghiên cứu liên ngành dân tộc học, xã hội học, văn hóa học,

Trang 11

chính trị học cũng được sử dụng trong xử lý tư liệu cũng như trong phântích làm sáng tỏ các vấn đề nghiên cứu của luận án.

- Về sử dụng thuật ngữ:

Luận án sử dụng thuật ngữ "Malaya" hay "Malaysia" theo đúng têngọi của đất nước trong từng giai đoạn lịch sử để tiện cho việc theo dõi Têngọi "Malaya" được sử dụng trong suốt thời kỳ thuộc Anh với ranh giới về mặt

địa lý là toàn bộ bán đảo Malaya (tức phần phía Tây của lãnh thổ Malaysia

ngày nay) cho đến sau thời gian Malaya được trao trả độc lập (từ 1957 1963).Tên gọi "Malaysia" được bắt đầu từ năm 1963 sau khi sáp nhập thêm hai bangthuộc đảo Borneo là Sabah và Sarawak cùng với bang Singapore ở phía namMalaya Vì vậy để đảm bảo tính chính xác khi sử dụng thuật ngữ, tên các

chương của luận án, tác giả sử dụng Malaya/Malaysia để diễn đạt về Liênbang Malaysia trong giai đoạn 1957-1990

Luận án sử dụng thuật ngữ "người Melayu" tức là để chỉ cộng đồng

người Malay bản địa để phân biệt với hai cộng đồng chính còn lại là ngườiHoa và người Ấn Độ nhập cư; còn khi sử dụng thuật ngữ "người Malaya"

nghĩa là bao gồm toàn bộ người dân sinh sống ở đất nước Malaya; thuật ngữ

"người Malaysia" để nói về tất cả các cộng đồng sinh sống tại Malaysia

Ngoài ra, luận án sử dụng thuật ngữ Islam thay cho thuật ngữ Hồigiáo Bởi lẽ, Islam là tôn giáo lớn trên thế giới mà từ trước tới nay chúng tavẫn quen cách gọi của Trung Quốc là Hồi giáo Trong bối cảnh toàn cầu hóahiện nay, thuật ngữ Islam được nhiều nước trên thế giới sử dụng, đồng thờicũng là cách gọi theo nguyên bản ghi trong kinh Coran viết bằng tiếng Arập

Thuật ngữ Muslim - tín đồ Islam (số ít) và Musulman (số nhiều) cũng

được sử dụng trong luận án Bên cạnh đó, luận án cũng giữ nguyên các cách

gọi, sử dụng thông dụng các tên gọi, thuật ngữ liên quan đến vấn đề nghiêncứu bằng tiếng Anh và tiếng Malay mà không phiên âm ra tiếng Việt

Trang 12

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

5.1 Đây là một công trình nghiên cứu tương đối có hệ thống và toàn

diện về quá trình, cách thức đấu tranh củng cố độc lập dân tộc trên các mặtkhác nhau, từ củng cố nền chính trị - hành chính quốc gia đến chủ quyền lãnhthổ, phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, an ninh quốc phòng và hội nhập quốcquốc tế của Liên bang Malaysia thời kỳ Chiến tranh lạnh

5.2 Luận án làm rõ những thành công, hạn chế của quá trình đấu tranh

củng cố nền độc lập dân tộc của Malaysia từ năm 1957 đến năm 1990, từ đórút ra những kinh nghiệm đối với các nước đang phát triển

5.3 Luận án là tài liệu tham khảo bổ ích cho việc nghiên cứu và giảng

dạy các vấn đề khác nhau về lịch sử phát triển của Liên bang Malaysia, nhất

là về sự lựa chọn thể chế chính trị, mô hình phát triển kinh tế - xã hội, về chủ

trương đoàn kết quốc gia - dân tộc cũng như về lịch sử đấu tranh vì nền độc

lập dân tộc và phát triển đất nước của các nước đang phát triển, trước hết là ởkhu vực Đông Nam Á

6 Bố cục của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,nội dung của luận án gồm 4 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Chương 2: Những nhân tố tác động đến quá trình đấu tranh củng cố

độc lập dân tộc của Liên bang Malaya/Malaysia từ năm 1957 đến năm 1990

Chương 3: Nội dung củng cố độc lập dân tộc của Liên bang Malaya/

Malaysia từ năm 1957 đến năm 1990

Chương 4: Nhận xét về quá trình củng cố độc lập dân tộc của Liên

bang Malay/Malaysia từ năm 1957 đến năm 1990 và kinh nghiệm đối với các

nước đang phát triển

Trang 13

Chương 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

Nghiên cứu về quá trình đấu tranh giành và củng cố nền độc lập dântộc và phát triển quốc gia ở các nước đang phát triển nói chung, các nướctrong khu vực Đông Nam Á nói riêng luôn là chủ đề được quan tâm, thu hút

đông đảo các nhà nghiên cứu, chính khách trong và ngoài nước Là quốc gia ởĐông Nam Á, tiến trình phát triển dân tộc của Malaysia luôn gắn với sự vậnđộng và phát triển chung của khu vực Vì vậy các nguồn tài liệu nghiên cứu

về quốc gia này cũng có sự liên quan mật thiết với các công trình nghiên cứu

về Đông Nam Á nói chung

Để đảm bảo tính khoa học, trong khuôn khổ nội dung luận án, tác giả

tham khảo một số tư liệu gốc:

(1) Các bản dịch tiếng Việt tại thư Viện quốc gia, thư viện Viện Khoahọc xã hội Việt Nam như: Hiến pháp Liên bang Malaysia; Luật pháp và các

điều luật bổ sung luật pháp của Malaysia; Các sách thông báo hàng năm của

Nhà nước Malaysia v.v

(2) Các văn kiện, tài liệu gốc tiếng Melayu và tiếng Anh gồm: "Our Declaration of Independence" (Tuyên ngôn độc lập) (31/8/1957), là văn kiện đầu

tiên của Liên bang Malaya, tuyên bố về sự thành lập Nhà nước độc lập [145];

"Pengisytiharan RUKUNEGARA" (Tuyên ngôn Nền tảng quốc gia-31/8/1970) [120] (Chú giải 2) Văn kiện này được coi là Hệ tư tưởng quốc gia của

Malaysia nhằm mục tiêu thống nhất dân tộc; "Kế hoạch và triển vọng lần thứ

nhất - OPP1"; "New Economic Policy - Chính sách kinh tế mới" (1971 - 1990)

được tác giả sưu tầm từ trang thông tin điện tử của Tổ chức dân tộc thống

nhất Malaysia (UMNO) [180] Nội dung cơ bản của NEP đề cập hai mục tiêu:(a) giảm và cuối cùng xóa bỏ tình trạng nghèo đói bằng cách tăng mức thu

Trang 14

nhập và tăng cơ hội có công ăn việc làm cho tất cả mọi người dân Malaysia,không phân biệt sắc tộc; (b) đẩy nhanh tiến trình chuyển dịch cơ cấu xã hộiMalaysia nhằm điều chỉnh sự mất cân đối kinh tế để giảm và cuối cùng loại

bỏ việc phân biệt sắc tộc thông qua sự bình đẳng về cơ hội, việc làm, thu nhập

và vai trò trong nền kinh tế

Các kế hoạch, chương trình phát triển kinh tế - xã hội của chính phủ

Malaysia được phản ánh trong các kế hoạch 5 năm Cụ thể là: First Malaysia plan 1966 - 1970 (1965), (Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất) [166]; Second Malaysia Plan 1971 - 1975 (1971), (Kế hoạch 5 năm lần thứ hai) [167]; Third Malaysia plan 1976 - 1985,(1976), (Kế hoạch 5 năm lần thứ ba) [168]; Fourth Malaysia plan 1981 - 1985,(1981), (kế hoạch 5 năm lần thứ tư) [169]; Five Malaysia plan 1986 - 1990,(1986), (kế hoạch 5 năm lần thứ năm) [170].

Đây là những cuốn sách viết về các kế hoạch phát triển kinh tế xã hội ngắn

hạn của Malaysia Mỗi cuốn sách gồm 2 phần Phần 1: điểm lại đầy đủ mọimặt những thành tựu phát triển kinh tế giai đoạn trước; phần 2: đề cập đến kếhoạch 5 năm của Malaysia Trong đó đề cập tới các số liệu, chỉ tiêu về mọimặt kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế, dịch vụ xã hội

"Wawasan 2020" (Tầm nhìn 2020) [153], là chương trình được cựu

Thủ tướng M Mahathir phát động trong toàn Liên bang (1991) nhằm xâydựng một quốc gia - dân tộc, một Tổ quốc Malaysia hài hòa và thống nhất

(3) Tài liệu của Bộ ngoại giao Việt Nam: Hiến chương ASEAN; Hiệp

ước thân thiện và Hợp tác (TAC - Treaty of Amity and Cooperation); Tuyên

bố về sự hòa hợp ASEAN I (Tuyên bố hòa hợp Bali I - 1976); Tuyên bố về sự hòa hợp ASEAN II (Tuyên bố hòa hợp Bali II - 2003) và nhiều tài liệu, văn kiện chính thức khác của ASEAN [181].

Bên cạnh đó, tác giả luận án tiếp cận với nguồn tài liệu phong phú củacác học giả nước ngoài và các nhà khoa học Việt Nam Đây là nguồn tài liệuquan trọng tập trung nghiên cứu trên nhiều phương diện: quan điểm về độc

Trang 15

lập dân tộc; về đất nước, con người, lịch sử phát triển, các chiến lược, chínhsách phát triển kinh tế - xã hội, thể chế chính trị, mô hình nền hành chínhquốc gia, đặc điểm chính trị, tôn giáo và tộc người v.v Nguồn tài liệu thamkhảo này không chỉ giúp tác giả trong việc thu thập, lựa chọn thông tin, màcòn cung cấp khung phân tích, cách lập luận, lý giả các vấn đề có tính đặc thùcủa lịch sử phát triển của đất nước Malaysia nói chung, quá trình đấu tranhcủng cố nền độc lập dân tộc và xây dựng đất nước theo hướng hiện đại nói riêng.

1.1 CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ

1.1.1 Về lịch sử của Malaysia

1.1.1.1 Tình hình nghiên cứ u ở nư ớ c ngoài

Đề tài tiếp cận tư liệu tiếng Anh và tiếng Malaysia, đây cũng là hai

ngôn ngữ chính được sử dụng ở Malaysia

Về tư liệu tiếng Anh.

Nghiên cứu về lịch sử Malaysia có các tác giả tiêu biểu như:

Winstedt R.O (1948) với cuốn Malaya and its history [174]; Swetteenham F.A (1955) với cuốn British rule in Malaya [163]; Heussler Robert (1981) với cuốn Bristih rule in Malaya: The Malayan Civil Service and its

predecessors 1867 - 1942 [137] Những công trình trên phản ánh về bức

tranh lịch sử xã hội và con người Malaya và lý giải việc áp dụng những luật

lệ, chính sách của người Anh tại đây như một "trách nhiệm" của những người

da trắng đối với "những chủng tộc non nớt" nhằm ngụy biện cho chính sáchbóc lột thuộc địa của họ Mặc dù những công trình khoa học trên mang dấu

ấn chủ quan của người nghiên cứu với những mức độ đậm nhạt khác nhau

Tuy vậy, với tinh thần khách quan khoa học, chúng tôi vẫn cố gắng chọn lọc

và tiếp thu, kế thừa những giá trị thông tin từ nguồn tư liệu này

Nhà nghiên cứu Tregonning K.G (1962) với cuốn A History of modern

Malaya của [171] đi sâu nghiên cứu về Malaya trong buổi đầu của quá trình

Trang 16

xâm thực cho đến trước năm 1957 Tác giả Nonini Donald M (1992) với

cuốn British Colonial Rule and the Resistance of the Malay Peasantry, 1900

-1957 [152] Cuốn sách đã phác họa một cách khái quát về những thay đổi của

giai cấp nông dân Mã Lai, của nông thôn Mã Lai trong hơn nửa thế kỷ bán

đảo phải gánh chịu ách thống trị của thực dân phương Tây và quân phiệt

Nhật Công trình này được tác giả luận án tham khảo phục vụ chủ đề nghiêncứu của đề tài ở một số khía cạnh sau: những tác động của quan hệ sản xuất tưbản chủ nghĩa ở bán đảo Mã Lai - hệ quả của công cuộc khai thác thuộc địacủa chính quyền Anh; chủ nghĩa dân tộc Malay; sự đàn áp đối với lực lượngcánh tả ở đây; sự điều chỉnh mối quan hệ giữa chính quyền Anh và Tổ chứcDân tộc thống nhất Mã Lai (UMNO) ảnh hưởng trực tiếp đến phong trào giảiphóng dân tộc ở Malaya

Học giả D.G.Hall (1997) với cuốn Lịch sử Đông Nam Á [22] Cuốn

sách do nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Hà Nội giới thiệu (tiếng Việt) Họcgiả D.G.E Hall đã tỏ ra hết sức am hiểu Đông Nam Á, khi ông đề cập khá chitiết về lịch sử vùng đất này từ thời kỳ sơ sử đến giai đoạn cận hiện đại Ông đãgiành nhiều công sức khi mô tả quá trình thực dân phương Tây thôn tính cácquốc gia Đông Nam Á từ thế kỷ thứ XVI; chỉ ra những chính sách cai trị đặc

trưng ở từng quốc gia trong khu vực; đường lối phát triển của các quốc gia sauđộc lập Đề tài đã tiếp công trình này ở một số nội dung liên quan đến khu vựcĐông Nam Á nói chung và Malaysia nói riêng như: chính sách thực dân ở khu

vực; các con đường giành độc lập của các quốc gia Đông Nam Á; các mô hìnhphát triển kinh tế - xã hội của các nước trong khu vực sau khi giành độc lập v.v

Vấn đề sáp nhập lãnh thổ nhằm thống nhất hệ thống hành chính Liên bang là một nội dung nghiên cứu của đề tài Mảng chủ đề này được đề cập

trong một số công trình tiêu biểu của các nhà nghiên cứu sau: Nhà nghiên cứu

Tregonning K.G (1962) với cuốn Paper on Malayan History [171] Cuốn sách

đề cập tới các thỏa thuận của các chính quyền Đông Nam Á trong vấn đề

Trang 17

tuyên bố độc lập của Malaya Nhà nghiên cứu Brackman Arnold C (1966)

với cuốn Southeast Asia's Second Front The Power Struggle in the Malay

Archipelago [129] Tác giả phân tích tình hình Liên bang Malaysia sau khi

sáp nhập năm 1963; tái hiện lại cuộc đấu tranh giành quyền lực ở quần đảoMalaya, khởi điểm từ Singapore bất ngờ rút lui khỏi Liên bang Malaysia, ảnh

hưởng của chủ nghĩa cộng sản trên quần đảo này Bên cạnh đó tác giả cũng đề

cập tới vai trò của Mỹ đối với các nước trong khu vực Đông Nam Á Nhà

nghiên cứu Tan Tai Yong (2008) với cuốn Creating "Greater Malaysia":

Decolonization and the Politics of Merger [175] Cuốn sách phân tích chuyên

sâu và tỉ mỉ các quá trình đấu tranh chính trị - ngoại giao để đi tới việc thànhlập Liên bang Malaysia năm 1963 Liên bang này là sản phẩm của sự kết hợp

các phương thức chính trị giữa Malaya, Singapore, Sarawak và Sabah Nó

cũng phản ánh nhu cầu hội nhập dưới góc độ kinh tế, chính trị của cả Malaya,Sabah, Sarawak và Singapore Cuốn sách nêu rõ những chi tiết thỏa thuậntrong các cuộc đàm phán phức tạp và khó thỏa ước giữa hai bên về các vấn đềnóng bỏng như quyền công dân, kiểm soát tài chính và sự phát triển của mộttrọng tâm thị trường có liên kết với vùng ngoại vi kinh tế của hai bang Sabah,Sarawak Ngoài ra, cuốn sách còn nghiên cứu kỹ những chi tiết trong cáccuộc đàm phán giai đoạn 1961 - 1963 (thời kỳ Singapore tồn tại ngắn ngủitrong liên bang), những lý do dẫn đến bất đồng chính trị giữa hai chính phủ

Malaya và Singapore Học giả Regina Lim (2008) với cuốn Federal-State

Relations in Sabah, Malaysia [160] Tác giả đặt vấn đề tìm ra chiến lược

nhằm điều hòa các vấn đề của dân tộc bản địa ở Sabah; Đồng thời tác giảcũng nghiên cứu lịch sử các cộng đồng tôn giáo khác, nghiên cứu những nỗlực của chính phủ trong việc củng cố nền chính trị Liên bang và chế độ kinh

tế - xã hội nhằm duy trì được mối liên kết Liên bang - Tiểu bang

Những vấn đề phức tạp nảy sinh trong quá trình sáp nhập lãnh thổ vàthành lập Liên bang Malaysia được phân tích và lý giải khá chi tiết trong

Trang 18

cuốn sách của học giả Shirashi Takashi (2009), Across the Causeway: A

Multi-dimensional Study of Malaysia-Singapore Relations [164] Cuốn sách

gồm tổng hợp 13 bài nghiên cứu về lịch sử, chính trị, an ninh khu vực, luậtpháp và kinh tế Các công trình nghiên cứu đa ngành để khám phá sự phứctạp và đa dạng của mối quan hệ giữa Malaysia và Singapore Chẳng hạn như

sự pha tạp về địa lý, liên kết kịch sử, các sự kiện và các phong trào đã từ lâukết nối con người và lãnh thổ của hai quốc gia này Tác giả đưa ra nhữngdẫn chứng về mối quan hệ giữa hai quốc gia trên được kiến tạo không chỉbởi những quan điểm khu biệt về tính dân tộc và các quỹ đạo chính trị khácnhau mà còn bởi hiện thực của sự tương tác kinh tế và cạnh tranh lẫn nhau.Bên cạnh đó là các lĩnh vực về hợp tác an ninh và việc xây dựng khu vực

Đông Nam Á định hướng thị trường cũng góp phần quan trọng vào sự tồn tại

và phát triển của hai quốc gia này

Về tư liệu tiếng Malaysia

Các công trình nghiên cứu tiếng Malaysia tiêu biểu như: Al-Attas, S

M Naguib (1972), Islam Dalam Sejarah dan Kebudayaan Melayu [119] Các

công trình này đã đưa ra những bằng chứng lịch sử của Islam đối với đời sốngtinh thần của người Melayu; sự tiếp nhận Islam và sự phát triển lịch sử ĐôngNam Á nói chung và thế giới Melayu nói riêng Tham khảo các công trìnhnày gợi ý hướng tiếp cận về vai trò của Islam trong lịch sử cũng như trong sựnghiệp xây dựng và phát triển của đất nước Malaysia sau độc lập đến nay; lý giảimối quan hệ chặt chẽ giữa tôn giáo - nhà nước - sự thống nhất dân tộc v.v

1.1.1.2 Tình hình nghiên cứ u trong nư ớ c

Nghiên cứu về Malaysia ở Việt Nam chủ yếu được bắt đầu vào thậpniên cuối của thế kỷ XX Hai công trình chuyên sâu về chủ đề giải phóng dântộc được đánh giá mang tầm bao quát những nét chung cả về lý luận lẫn thựctiễn của các phong trào ở châu Á, châu Phi và khu vực Mỹ Latinh đó là: Đỗ

Thanh Bình (chủ biên) (1999), Con đường cứu nước trong cuộc đấu tranh

Trang 19

giải phóng dân tộc ở một số nước châu Á (từ cuối thế kỷ XIX đến 1945) [4];

Đỗ Thanh Bình (2006), Lịch sử phong trào giải phóng dân tộc thế kỷ XX Một cách tiếp cận [6] Trong các công trình này, các tác giả đã đi sâu phân

-tích về điều kiện đặc thù của các quốc gia Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia có

ảnh hưởng trực tiếp đến việc lựa chọn con đường giành độc lập dân tộc Hai

công trình trên gợi ý hướng tiếp cận mới khi nghiên cứu về con đường pháttriển đất nước của các quốc gia trên thế giới

Trong khi đó, nghiên cứu về lịch sử các nước Đông Nam Á nói chung

và Malaysia nói riêng được Viện Nghiên cứu Đông Nam Á - Viện Hàn lâm

Khoa học xã hội Việt Nam (1983) công bố cuốn sách Chính sách của các cường quốc tư bản và phong trào giải phóng dân tộc ở Đông Nam Á [113].

Công trình đưa ra cứ liệu khoa học về các chính sách của thực dân tư bản

phương Tây áp đặt tại thuộc địa Đông Nam Á và hệ quả tất yếu của chính

sách thực dân là phong trào chống thực dân phương Tây đã bùng nổ ở khắp

các quốc gia Đông Nam Á; Trần Thị Vinh (1998) với cuốn Đông Nam Á từ

sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay [112], là công trình nghiên cứu

chuyên sâu về các quốc gia Đông Nam Á sau khi giành được độc lập Haicông trình này đưa ra cơ sở dữ liệu để đề tài tiếp cận về chủ đề con đường đấu

tranh giành độc lập; quá trình xây dựng và phát triển của Malaysia và các

quốc gia trong khu vực với hoàn cảnh lịch sử và điều kiện riêng của mỗi

nước Lương Ninh (2005) (chủ biên) Lịch sử Đông Nam Á [61]; Hai tác giả Lương Ninh và Vũ Dương Ninh (đồng chủ biên) (2009), Tri thức Đông Nam

Á [62] Đây là công trình mang tính khái quát cao về lịch sử hình thành,

những nét văn hóa cơ bản, các mô hình chính trị, kinh tế - xã hội của 11 quốc

gia Đông Nam Á Trong đó mô hình xây dựng nền chính trị, kinh tế - xã hội

của Malaysia gợi mở sự tiếp cận về sự nghiệp củng cố độc lập của quốc gia

này Học giả Trần Khánh chủ biên (2012), Lịch sử Đông Nam Á, Tập IV [46]; Phạm Đức Thành (chủ biên) (2012), Lịch sử Đông Nam Á, Tập V [96] Các

công trình này cung cấp lượng kiến thức tương đối có hệ thống về quá trình

Trang 20

xâm nhập, bành trướng, thiết lập chế độ cai trị và khai thác thuộc địa của chủnghĩa thực dân phương Tây, quân phiệt Nhật và con đường đấu tranh giành vàcủng cố nền độc lập dân tộc của Malaysia nói riêng và các quốc gia ĐôngNam Á nói chung trong suốt chiều dài lịch sử, nhất là từ sau Chiến tranh thếgiới lần thứ hai Qua đó gợi mở hướng nghiên cứu về tính đặc thù của Malaysiakhi lựa chọn cách thức giành độc lập khác với các nước trong khu vực.

Ngoài ra tác giả tiếp cận nhiều công trình nghiên cứu liên quan đếnmảng nội dung này được công bố trong các luận án và đăng tải trên các tạp

chí chuyên ngành như: Nghiên cứu lịch sử, Nghiên cứu Đông Nam Á, Nghiên

cứu quốc tế v.v (được đề cập trong danh mục tài liệu tham khảo)

1.1.2 Về việc xây dựng nền dân chủ tư sản, lựa chọn con đường phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng chính sách ngoại giao nhằm củng

cố độc lập dân tộc và phát triển đất nước của Malaysia

1.1.2.1 Tình hình nghiên cứ u ở nư ớ c ngoài

Về tư liệu tiếng Anh

Trước hết, góc độ nghiên cứu về các nền chính trị - xã hội, về sự lựa

chọn con đường phát triển của Malaysia Tiêu biểu là Pye Lucian W (1956) với

cuốn Guerrilla Communism in Malaya: It's Social and Political Meaning [155]; học giả Funston, N.J (1980) với cuốn Malay Politics in Malaysia, UMNO and

PAS [134] Hai công trình này đề cập tới nền chính trị ở Malaysia; về hai

đảng chính trị lớn tại Malaysia là UMNO và PAS Trong các công trình này,

tác giả đã cung cấp những nét cơ bản về hệ thống chính trị của Malaysia; về

sự đối lập của hai đảng này; những chiến lược, chiến thuật khác nhau của hai

đảng nhằm nâng cao vai trò và vị trí của mình trong nền chính trị Malaysia;

khẳng định tính quyết định của UMNO về nội dung và khuynh hướng chính

trị của đất nước này Học giả Comber Leon (2008), Malaya’s secret police

1945 - 1960 [132] Công trình đã cung cấp tư liệu về tình hình an ninh ở

Trang 21

Malaya, về lực lượng cộng sản và những ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng sản

đối với nền chính trị, xã hội ở Malaysia; tình hình các đảng phái chính trị ở

Malaysia; sự ban bố "tình trạng khẩn cấp" của chính phủ Malaya trong năm1969… Mặc dù cách nhìn nhận của các tác giả chưa thiện cảm với lực lượngcộng sản, song đây cũng là nguồn tài liệu cung cấp những thông tin hữu ích

Thứ hai, góc độ dân tộc, tôn giáo và ảnh hưởng của Islam đối với nền chính trị, xã hội Malaysia Tiêu biểu là học giả người Malaysia, Mutaib

Hussin (1980) với cuốn Islam and Ethnicity in Malay Politics [150] Trong

công trình này, tác giả đề cập tới vai trò của Islam và cộng đồng theo Islamtrong nền chính trị của Malaysia Tác giả đã nhấn mạnh đến mối quan hệ

"biện chứng" ("dealectic") giữa Islam và chủ nghĩa dân tộc của người Melayu,vai trò của Islam trong nền chính trị Malaysia cũng phụ thuộc rất nhiều vàomối quan hệ này Bởi lẽ, một mặt, Islam là cơ sở cho bản sắc dân tộc Melayu

và đẩy nó đi xa hơn, mặt khác, lại chính Islam đã chia rẽ cộng đồng này" Nhà

nghiên cứu Ratnam K.J (1985), Religion and Poliics in Malaya [151] Công

trình đề cập tới mối quan hệ giữa Islam với nền chính trị ở Malaysia Theo tácgiả, Islam đã bảo vệ quyền lợi của người Melayu, góp phần thống nhất cộng

đồng này bằng cách nhấn mạnh bản sắc riêng và quyền lợi riêng của cộngđồng đó trước các cộng đồng cư dân khác; là cơ sở để xây dựng và củng cố ý

thức dân tộc Melayu, bản sắc Melayu trong quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo;

Học giả Bakar Abu Mohamed (1987), Islam and Nationalism in

Contemporary Malay Society, [130] Học giả Jamaluddin, Khairy (2006), Out

of the cage: Umno unplugged aiside, what matters most is Malaysia [138]…

Trong các công trình này, các tác giả đề cập tới mối quan hệ đối kháng giữacái gọi là lực lượng "chủ nghĩa dân tộc và Islam" và cho rằng, chính sự đốikháng của hai lực lượng chính trị này là một biểu hiện của phong trào phục

hưng Islam hiện nay ở Malaysia Theo các tác giả thì phải đến cuối nhữngnăm 70, đầu 80 của thế kỷ XX, người Melayu mới thừa nhận Islam là một hệ

Trang 22

thống hoàn chỉnh và cần cải tạo xã hội theo đường lối Islam Quan trọng hơn,các tác giả của những công trình trên gợi mở hướng tiếp cận về vấn đề dân tộc,tôn giáo trong sự nghiệp củng cố độc lập dân tộc của Malaysia đó là: chủ nghĩadân tộc Melayu khác với chủ nghĩa dân tộc nói chung theo quan niệm phươngTây - "chủ nghĩa dân tộc Melayu chỉ là sự thể hiện ước muốn duy trì bản sắc

văn hóa, toàn vẹn chính trị và phát triển kinh tế" Đề tài tham khảo dưới góc

độ này nhằm lý giải ảnh hưởng của vấn đề Islam trong sự nghiệp củng cố độc

lập của quốc gia Malaysia

Thứ ba, nghiên cứu về các con đường phát triển kinh tế - xã hội của Malaysia Tiêu biểu là Cục xuất bản Malaysia công bố công trình Malaixia kế hoạch triển vọng lần thứ hai 1991 - 2000 đã được Nhà xuất bản Chính trị

quốc gia (1997) dịch Đây là công trình tổng hợp về kế hoạch phát triển kinh

tế - xã hội của Malaysia trong 20 năm [73] Cuốn sách đánh giá kết quả thựchiện kế hoạch triển vọng lần thứ nhất (OPP1) trong những năm 1971 - 1990

mà trọng tâm là chính sách kinh tế mới (NEP) Trong hai thập niên, NEP đã

đưa lại sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế Malaysia NEP đã giải

quyết được vấn đề nghèo đói, thất nghiệp và mất cân đối trong nền kinh tế,những vấn đề xã hội trở nên dễ quản lý hơn Trên cơ sở đánh giá về NEP,cuốn sách đã tập trung trình bày những nội dung cơ bản của kế hoạch triểnvọng lần thứ hai (OPP2) trong những năm 1991 - 2000 và chính sách pháttriển mới (NDP), nhằm mục tiêu đẩy nhanh quá trình xóa đói giảm nghèo vàchuyển dịch cơ cấu kinh tế - xã hội, điều chỉnh những mất cân đối về thu nhập

và mức sống giữa các vùng, các nhóm sắc tộc, phấn đấu đưa Malaysia trởthành "quốc gia phát triển đầy đủ" vào năm 2020

Ngoài ra, tác giả Wang Gungwu (2005), Nation-Building: Five Southeast

Asian Histories [172] Công trình nghiên cứu về các con đường phát triển của

các nước Đông Nam Á, trong đó đặc biệt quan tâm tới Malaysia Công trình

này gợi ý hướng nghiên cứu cho đề tài ở một số vấn đề sau: đặc thù của các

Trang 23

quốc gia Đông Nam Á nói chung và Malaysia nói riêng có ảnh hưởng gì đếnviệc hoạch định đường lối chính sách phát triển kinh tế - xã hội; ảnh hưởngcủa chủ nghĩa dân tộc trong chủ trương xây dựng quốc gia như thế nào; vấn

đề kinh tế, chính trị, văn hóa có ảnh hưởng như thế nào; những ảnh hưởng của

các giai cấp trong xã hội bấy giờ; các áp lực bên trong và bên ngoài khu vực

đối với việc xây dựng, củng cố nền độc lập của Malaysia

Thứ tư, toàn bộ diễn biến chính trị - ngoại giao, kinh tế, văn hóa - xã hội… của Malaysia từ năm 1957 đến 1990 có mối liên quan chặt chẽ đến những tác động của các nhân tố quốc tế và khu vực Nguồn tư liệu viết về các

vấn đề này khá phong phú Có thể kể đến như học giả Fitzsimon M.A (1953),

Colonial isues in British Politics, 1945 - 1951 [133] Công trình này đề cập

tới nhận thức của người Anh về tầm quan trọng của Malaya trong việc nângcao vai trò của nước Anh ở châu Á và ngay ở chính quốc Nước Anh phải thích

ứng bằng sự điều chỉnh chính sách trong giai đoạn 1948 - 1951 để "tiến đến

chiều hướng mới" trong những năm 1952 - 1967 Tác giả Piter A Poope (1986)

với cuốn Nước Mỹ và Đông Dương từ Roosevent đến Nixon (dịch từ tiếng Anh) [83] Tác giả Paul Kennedy (1992), Thay đổi kinh tế và xung đột quân

sự từ 1500 đến 2000 Hưng thịnh và suy vong của các cường quốc (dịch từ

tiếng Anh) [42] Hai công trình này đề cập đến trật tự thế giới thời kỳ Chiếntranh lạnh; tác động của các cường quốc lớn dưới góc độ an ninh - chính trị,

đối ngoại đối với khu vực Đông Nam Á nói chung và với Malaysia nói riêng

Về tư liệu tiếng Malaysia

Tiêu biểu là các công trình nghiên cứu về Islam trong các mối quan hệdân tộc, tôn giáo, chính sách giáo dục… ở Malaysia Học giả Abdullah, Hj Ishak

(1991), với cuốn Tulisan Jawi Hubungannya Pengan Pelijian dan Pendidikan

islam di Malaysia [118] Công trình gợi mở hướng nghiên cứu về mối quan

hệ giữa chữ viết, ngôn ngữ và Islam với chính sách giáo dục ở Malaysia, vaitrò của giáo dục Islam trong sự nghiệp phát triển đất nước Học giả Mukti Ali,

Trang 24

H.A (1991), Pelbagai Soalan Islam Di Asia Tenggana, Islamika IV [122].

Công trình nghiên cứu về sự khác nhau của Islam ở châu Á, lý giải nét đặc thùcủa Islam ở Đông Nam Á và Malaysia Cuốn sách gợi mở cho người đọc tiếpcận về con đường xây dựng Nhà nước Islam thế tục hóa ở Malaysia khác vớinhiều quốc gia Islam ở châu Á, về Islam trong chính sách đối ngoại

Ngoài ra, chủ đề về sự đóng góp của các nhà lãnh đạo Malaysia cũng

được khai thác khi nghiên cứu đề tài luận án Học giả Morais, J.V (1982) đã

viết cuốn Mahathir, Riwayat Garah Berani [121] Công trình đã tổng hợp nhiều

thông tin quan trọng giới thiệu về những đóng góp của Thủ tướng M.Mahathir trong nhiệm kỳ giữ chức vụ Thủ tướng của Malaysia (1981 - 2003)

Ông là người được giới nghiên cứu đánh giá là đã "làm thay đổi vượt bậc hìnhảnh của quốc gia dân tộc Malaysia" Nghiên cứu về đóng góp của các nhà

lãnh đạo quốc gia, gợi ý cho đề tài luận án đánh giá khách quan về vai trò củalực lượng lãnh đạo trong sự nghiệp củng cố độc lập dân tộc

1.1.2.2 Các công trình nghiên cứ u trong nư ớ c

Nghiên c u con ng c ng c c l p dân t c c a Liên bang Malaysia được nhận diện qua các công trình nghiên cứu chuyên sâu dưới nhiều góc độ: chính tr - hành chính, an ninh qu c phòng - ngo i giao, kinh t , v n hóa - xã h i.

Một số công trình tiêu biểu như: Trần Khánh (1992), Vai trò của người

Hoa trong nền kinh tế các nước Đông Nam Á [44] Đây là công trình nghiên

cứu khá sớm về Malaysia, đặc biệt là về một cộng đồng người ở Malaysia

đang nắm trong tay sức mạnh kinh tế - người Hoa Từ đó tác giả đưa ra nhận

xét về vai trò của cộng đồng này đối với sự vận hành nền kinh tế của các quốc

gia Đông Nam Á nói chung và Malaysia nói riêng Nguyễn Trí Dĩnh (1993)

với cuốn Vai trò nhà nước trong phát triển kinh tế các nước ASEAN [11].

Cuốn sách đề cập đến vai trò điều hành, quản lý của Nhà nước các quốc giatrong nhóm ASEAN-6, đưa ra một số nhận định về cách thức quản lý của Nhà

nước trong đường lối phát triển kinh tế xã hội ở các quốc gia này Tác giả

Trang 25

Phạm Đức Thành (1993) với cuốn Malaixia trên đường phát triển [94] Đây

là cuốn sách viết khái quát về quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nướcnày từ khi mới giành được độc lập (1957) đến đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX

Trong đó, tác giả phân tích về các chính sách kinh tế - xã hội mà chính phủ

Malaysia thực hiện nhằm phát triển kinh tế, cải thiện sự công bằng và bình

đẳng, ổn định xã hội, giữ vững bản sắc văn hóa dân tộc Phan Đại Doãn và

Nguyễn Trí Dĩnh (1995), Tìm hiểu kinh nghiệm tổ chức quản lý nông thôn ở

một số nước khu vực Đông Á và Đông Nam Á [12] Công trình đề cập sâu về

một số kinh nghiệm trong quản lý các vùng miền, đặc biệt là vùng nông thônthông qua các chính sách phát triển kinh tế, xã hội của các quốc gia Đông Á

và Đông Nam Á

Tác giả Phùng Xuân Nhạ (2000), Đầu tư trực tiếp nước ngoài phục vụ

công nghiệp hóa ở Malaysia - Kinh nghiệm với Việt Nam [74] Tác giả phân

tích những thành công của Malaysia trong việc thu hút FDI để thực hiện côngnghiệp hóa Từ những bài học kinh nghiệm trong thu hút FDI, tác giả cuốnsách cũng gợi ý một số chính sách và biện pháp có tính tham khảo cho cácnhà hoạch định chính sách thu hút FDI ở Việt Nam hiện nay Hai tác giả Đào

Lê Minh và Trần Lan Hương (2001), Kinh tế Malaixia [57] Đây là công trình

nghiên cứu chuyên sâu về sự phát triển kinh tế của Malaysia Tác giả Phạm

Thị Vinh với cuốn sách Islam ở Malaysia [111] Đây là công trình khoa học

nghiên cứu sâu sắc về Islam ở Malaysia Trên cơ sở kết quả nghiên cứu này,

đề tài tham khảo hướng tiếp cận nghiên cứu về nhân tố Isalm trong sự nghiệp

củng cố độc lập dân tộc của Malaysia: vị trí đặc biệt của Islam trong đời sốngchính trị, văn hóa - xã hội; Islam trong chính sách đối ngoại của Malaysia trongmỗi giai đoạn cầm quyền của các Thủ tướng

Học giả Vũ Dương Ninh (2006), Việt Nam - Thế giới và hội nhập

(Một số công trình tuyển chọn) [67] công bố 70 công trình khoa học Trong

đó đề cập tới các vấn đề như: phong trào giải phóng dân tộc ở Đông Nam Á;

Trang 26

kinh nghiệm trong phát triển kinh tế xã hội của các nước ASEAN; kinhnghiệm về hệ thống chính trị và sự phát triển của các quốc gia ASEAN; vềnguyên nhân phát triển của các nước ASEAN (nhìn từ góc độ lịch sử); về nềndân chủ tư sản và những kinh nghiệm thực tiễn; về bối cảnh quốc tế những

năm 1945 - 1946 và những năm 70 của thế kỷ XX Nội dung các chủ đề

nghiên cứu trong công trình này gợi mở hướng tiếp cận dưới góc độ củng cố

độc lập dân tộc

Chủ đề chủ quyền quốc gia dân tộc đã được tác giả Phan Văn Rân và

Nguyễn Hoàng Giáp (2010) đề cập trong cuốn Chủ quyền quốc gia dân tộc

trong xu thế toàn cầu hóa và vấn đề đặt ra với Việt Nam [86] Đây là công

trình chuyên sâu nghiên cứu về nội hàm của chủ quyền quốc gia dân tộctrong bối cảnh toàn cầu hóa, so sánh quan niệm về chủ quyền quốc gia dântộc trong thời kỳ chiến tranh lạnh Vấn đề này tác động tới cách thức củng

cố độc lập dân tộc của các quốc gia trong thời kỳ chiến tranh lạnh và trongbối cảnh toàn cầu hóa hiện nay Công trình này gợi mở một hướng tiếp cận

về cách thức bảo vệ chủ quyền quốc gia dân tộc Malaysia trong thời kỳ sau

độc lập

Bên cạnh các công trình đã được xuất bản thành sách, công bố trên các tạp chí chuyên ngành đã đề cập trong tài liệu tham khảo, còn có khá nhiều các luận văn, luận án đã được bảo vệ liên quan đến đề tài như: Một số

luận văn thạc sĩ như: tác giả Lê Thị Huyền (2005), Mahathir Mohamad với

vấn đề dân tộc và tôn giáo của Malaixia [34], tác giả Võ Thị Thu Nguyệt (2005),

Sự tiến triển trong chính sách dân tộc của Malaixia từ 1957 đến 2000 [80].

Luận án tiến sĩ của Lý Tường Vân (2014), Con đường đấu tranh giành độc

lập dân tộc của Malaya từ cuối thế kỷ XIX đến năm 1957 [106] v.v Tuy

nhiên, hiện nay chưa có một luận án nào dành chuyên sâu nghiên cứu quátrình, cách thức đấu tranh củng cố nền độc lập dân tộc của Malaysia kể từ

năm 1957 đến năm 1990

Trang 27

Nhìn chung, các công trình khoa học nghiên cứu về Malaysia đã được

đề cập từ nhiều góc độ và quan điểm tiếp cận khác nhau, nhằm khái quát hoặc

đi sâu vào những vấn đề cụ thể trên các lĩnh vực của đời sống xã hội Về cơ

bản, các nhà khoa học đã giải quyết được một số vấn đề sau:

- Các giai đoạn hình thành, phát triển các cộng đồng dân tộc, nhất là đặc

trưng văn hóa tộc người của cộng đồng người Malay, người Hoa, người gốc Ấn

cũng như vai trò của Hồi giáo trong đời sống chính trị và văn hóa của Malaysia;

- Quá trình thực dân hóa của người Anh và hệ quả kinh tế - xã hội của nó;

- Đặc điểm của phong trào chống thực dân Anh, quân phiệt Nhật củacác cộng đồng dân tộc ở Malaya và vai trò của Tổ chức Dân tộc Mã lai thốngnhất - UMNO trong cuộc đấu tranh giành độc lập;

- Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc

tế của Liên bang Malaysia v.v

Tuy nguồn tài liệu trên là khá phong phú, đề cập đến hầu hết các vấn

đề về lịch sử phát triển kinh tế - xã hội, chính trị và văn hóa tộc người của đấtnước Malaysia qua các thời kỳ, giai đoạn khác nhau, nhưng nhìn chung vẫnchưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu, mang tính tổng hợp về cách

thức đấu tranh củng cố nền độc lập và phát triển của Malaysia trong bối cảnhcạnh tranh, đối đầu ý thức hệ chính trị tư tưởng và quân sự trong thời kỳChiến tranh lạnh Hơn nữa, việc xem xét, đánh giá các quá trình chính trị,nhất là về khía cạnh củng cố nền độc lập dân tộc cũng cần có cái nhìn đachiều, bởi không ít tác giả trong nước quá nhận mạnh yếu tố đặc thù củaMalaysia mà xem nhẹ tác động của bối cảnh quốc tế v.v

1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ NHÌN TỪ PHÍA VIỆT NAM ĐỂ NGHIÊN CỨU, RÚT KINH NGHIỆM

Thứ nhất, mặc dù có nhiều công trình cả trong và ngoài nước đề cập

nhiều đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nền chính trị - hành

Trang 28

chính quốc gia, củng cố sự đoàn kết giữa các cộng đồng dân tộc cũng như sự

mở rộng các mối quan hệ quốc tế của Malaysia, kể từ khi nước này giành

được độc lập, nhưng các vấn đề trên chủ yếu được phân tích đơn lẻ, chưa đặt

chúng trong tổng thể chính sách phát triển quốc gia và trong bối cảnh các biến

đổi cả trong và ngoài Malaysia

Thứ hai, sự lựa chọn con đường phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng

nền kinh tế độc lập, tự chủ là vấn đề rất lớn, không chỉ đi tới mục tiêu xâydựng đất nước giàu mạnh, đời sống nhân dân được ấm no, phồn vinh, hạnhphúc, mà còn là sự tiếp tục bảo vệ, củng cố, giữ gìn độc lập dân tộc một cáchvững chắc nhất Về vấn đề này, các học giả có đề cập đến khi nghiên cứu vềMalaysia, song chưa phân tích sâu dưới góc độ củng cố độc lập dân tộc

Thứ ba, các công trình trên đã có đánh giá những thành công và hạn

chế của quá trình xây dựng và phát triển đất nước nói chung, bảo vệ bản sắcdân tộc, trong đó có bản sắc văn hóa tộc người và thể chế chính trị củaMalaysia, song cần tiếp tục phân tích thêm về vấn đề này, để từ đó góp phầncung cấp thêm cứ liệu khoa học và bài học kinh nghiệm cho việc hoạch định

và thực thi chính sách phát triển của các nước đang phát triển, trong đó cóViệt Nam

1.3 NHỮNG VẤN ĐỀ LUẬN ÁN TẬP TRUNG LÀM RÕ

Trên cơ sở tiếp thu kết quả nghiên cứu của các công trình trước, luận

án tập trung làm sáng tỏ một số vấn đề sau:

Một là, phân tích những nhân tố tác động đến cuộc đấu tranh củng cố

độc lập dân tộc của Malaysia từ 1957 đến 1990

Hai là, nghiên cứu tiến trình và các nội dung củng cố độc lập dân tộc

của chính phủ Malaysia đã thực hiện trong thời kỳ 1957 - 1990

Ba là, rút ra nhận xét về quá trình củng cố độc lập dân tộc của Liên

bang Malaysia

Trang 29

Bốn là, rút ra một số những kinh nghiệm củng cố độc lập dân tộc của

Liên bang Malalaysia đối với các nước đang phát triển

học giả thế giới từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc Thập niên 50, 60các học giả khu vực bắt đầu quan tâm nghiên cứu sâu về Đông Nam Á và

Malaysia Đối với học giả người bản địa thì thập niên 60 và 70 của thế kỷ XX

mới thực sự là thời điểm bùng nổ các nghiên cứu sâu về mọi khía cạnh của

đất nước Malaysia

Tác giả luận án tiếp cận nguồn tài liệu phong phú của các học giảMalaysia, các nhà nghiên cứu nước ngoài và Việt Nam Đây là nguồn tài liệuquan trọng tập trung nghiên cứu trên nhiều phương diện: về độc lập dân tộc;

địa lý, lịch sử, văn hóa, dân tộc, tôn giáo; đặc điểm phát triển kinh tế - xã hội,

những chiến lược phát triển kinh tế vĩ mô; cách thức giải quyết các vấn đề dântộc, tôn giáo; về sức mạnh tổng hợp quốc gia v.v của chính phủ Malaysia

Trên cơ sở tiếp cận nguồn tài liệu này, tác giả nghiên cứu, hệ thống hóa và

chọn lọc xử lý tư liệu để hoàn thành chủ đề nghiên cứu của luận án

Luận án sẽ là công trình nghiên cứu có hệ thống về một giai đoạn pháttriển của liên bang Malaysia trên mọi lĩnh vực Thực chất đây là quá trình đấutranh của nhân dân Malaysia nhằm bảo vệ, củng cố, xây dựng và phát triển

đất nước, khẳng định vị thế của quốc gia trong khu vực và trên thế giới

Trang 30

Liên bang Malaysia (ngày nay) nằm ở vị trí trung tâm của Đông Nam

Á, gần đường xích đạo, giữa 1 và 7 vĩ độ bắc, 100 và 119 kinh độ đông Vớidiện tích gần 330.000 km2, Malaysia có hai phần lãnh thổ tách biệt: bán đảo

Mã Lai, gồm 11 bang (còn gọi là Tây Malaysia), chiếm 40% diện tích đất

nước và vùng lãnh thổ nằm ở phía Bắc đảo Kalimantan (hay đảo Borneo) gồm

2 bang chiếm 60% diện tích Liên bang (còn gọi là Đông Malaysia)

Trong lịch sử vùng đất này từng xuất hiện một số quốc gia như Kedah,Tambradinga, Takola, Lankasuka v.v Các quốc gia này với dân số ít ỏi, do

đó cũng là chư hầu, là nơi tranh giành của các vương quốc hùng mạnh trong

khu vực Thế kỷ XIV, thế giới có những chuyển biến mạnh mẽ trong giao thương

Đó cũng là lúc vương quốc Islam Malacca ra đời và trở thành một trong

những quốc gia hùng mạnh nhất ở Đông Nam Á, thành phố Malacca trở thành

điểm trung chuyển lớn nhất ở phương Đông lúc bấy giờ trong toàn bộ "hệ thống

mậu dịch châu Á trên biển" [68, tr 348] do thương nhân quốc tế tạo nên

Năm 1509, lần đầu tiên người Bồ Đào Nha đến Malacca Năm 1511,

Bồ Đào Nha đã đánh chiếm quốc cảng này, mở đầu cho sự xâm nhập của

người châu Âu vào Malaya Đến năm 1602, người Hà Lan chiếm Kedah Năm

1641, Malacca rơi vào tay người Hà Lan Tiếp đến một số vương quốc khác

Trang 31

như Johor, Selangor, phải ký những hiệp ước bất bình đẳng với Hà Lan và

chịu sự thống trị của thực dân Hà Lan Các cuộc nổi dậy của người Melayuchống lại người Tây Ban Nha và người Hà Lan trong suốt thời kỳ này luôn bịthất bại, điển hình là cuộc cuộc nổi dậy của người dân ở bang Senlagor năm

1784 đã bị dìm trong bể máu

Cuối thế kỷ XVIII, với sức mạnh vượt trội về hải quân và hàng hóacông nghiệp, thực dân Anh trở nên thắng thế trong thương mại và phòng thủtại Đông Nam Á, giành độc quyền trên eo biển Malacca Năm 1786, ngườiAnh chủ động trong đàm phán và "chính thức tuyên bố chủ quyền của nướcAnh tại đảo Pinang và ủy quyền cho Công ty Đông Ấn của Anh toàn quyền sửdụng" [46, tr 109] Năm 1824, Malacca được người Hà Lan nhượng lại cho

người Anh Năm 1888, thực dân Anh đã hoàn thành việc xâm lược Malaya và

thiết lập chế độ cai trị của họ

Nhìn chung, cách thức và biện pháp xâm lược của thực dân Anh ởMalaya tương đối hòa bình so với thực dân Pháp ở Đông Dương Ngay từ ban

đầu, Công ty Đông Ấn của Anh (EIC) đã xác định phát triển thương mại hòa

bình ở khu vực Đông Nam Á Sau này khi EIC giải thể, chính phủ Anh cũngthông qua các thỏa thuận, hiệp định để xác lập quyền cai trị, cố gắng tránhnhững cuộc xung đột hoặc chiến tranh không cần thiết Mặt khác, người Anhnắm rõ tinh thần truyền thống của người Melayu, đó là sự hài hòa và tuân thủtrật tự xã hội Nếu tiến hành chiến tranh chống lại các Hồi vương, họ sẽ gặp

sự phản kháng quyết liệt Vì vậy, suốt từ năm 1786 cho đến năm 1914, bằngcác thỏa thuận, các khoản tiền, các Hiệp ước được ký kết giữa người Anh vớicác Quốc vương Islam này đã từng bước đem lại quyền kiểm soát toàn bộlãnh thổ Malaya cho người Anh mà họ không vấp phải một cuộc xung đột haymột cuộc chiến tranh lớn nào So với các nước thực dân phương Tây khác,thực dân Anh đã xuất hiện muộn hơn ở Malaya, song họ lại lại là lực lượng nắmquyền ở đây lâu nhất và có ảnh hưởng sâu sắc đến lịch sử của quốc gia này

Trang 32

Sau khi hoàn thành việc xâm nhập Malaya, Người Anh đã áp dụng nhữnghình thức cai trị khác nhau, từ trực tiếp đến gián tiếp, từ chế độ bảo hộ kiểu Công

sứ (Khâm sứ và Thống sứ) cho đến điều hành bằng Thống đốc hay Toàn quyền.Các hình thức cai trị được áp dụng đối với các vùng, đơn vị hành chính như sau:

- Khu định cư eo biển (Straits Settlements) gồm tỉnh Wellesley (trong

đó có đảo Pinang, Malacca, Singapore thuộc vùng đất cai trị trực tiếp của

Anh với chế độ Thống đốc Đối với đảo Pinang và bang Malacca, chế độ này

được duy trì cho đến 1946, còn đối với Singapore thì đến năm 1959

- Liên bang Malay (Federated Malay States - 1859) gồm Perak, Selangor,

Negi-Sembilan và Pahang được áp dụng chế độ cai trị nửa trực tiếp nửa gián

tiếp Đứng đầu Liên bang là Tổng Thống sứ (đến 1909 đổi thành Tổng Thư

ký) chịu sự điều hành của Thống đốc "Khu định cư eo biển" Các Hồi vươngchỉ có vị trí trên danh nghĩa, ngoại trừ lĩnh vực tôn giáo, tinh thần

- Xứ bảo hộ ngoài liên bang (Unfederated Malay States) gồm các

vương quốc như Kedah, Perlis, Kelantan, Trenganu, Johore trên bán đảo Malacca

và vương quốc Brunei Các vùng đất này chịu sự bảo hộ, cai trị gián tiếp

thông qua các Khâm sứ hay "cố vấn" Anh Các tiểu quốc bảo hộ này có tính

độc lập nhiều hơn so với các vương quốc Islam nằm trong Liên bang Tuy

nhiên, các vấn đề lớn của đất nước như ngoại giao, phòng thủ đều nằm trong

tay người Anh Thể chế chính trị của các vương quốc này không thay đổi chođến năm 1946, khi người Anh tiến hành cải tổ cơ cấu Liên bang Malay

- Hai vùng lãnh thổ phía Bắc và Tây bắc đảo Borneo (Kalimantan) là

Sarawak và Sabah cũng có thể chế cai trị nghiêng về trực tiếp hơn là gián

tiếp Ở đó có Thống đốc điều hành, nhưng không có nhiều quyền hành như

Thống đốc "Khu định cư eo biển" [46, tr 125]

Nhìn chung, tại Malaya, người Anh dùng chính sách hợp tác với cácbiện pháp thương lượng, thuyết phục là chính Ở tất cả các vùng đất thuộc địa

Trang 33

của mình đều có đại diện của Chính quyền Anh, họ đóng vai trò là Cố vấn ởhầu hết các vấn đề quan trọng, trừ lĩnh vực tôn giáo, tinh thần Người Anhthực hiện ở Malaya một hệ thống luật pháp chung, áp dụng cho cả người

Malaya và người nước ngoài Bên cạnh đó hệ thống luật pháp Islam vẫn được

áp dụng cho các cư dân Islam Người Anh đã sử dụng chính sách "lấy ngườibản xứ trị người bản xứ" Bộ máy cai trị này vừa đỡ tốn kém vừa hiệu quả đốivới người Anh Trong chính sách khai thác thuộc địa, người Anh không trựctiếp nắm toàn bộ nền kinh tế ở đây nhằm hạn chế sự chống đối từ phía thuộc

địa Họ vẫn để từng lĩnh vực kinh tế cho các thành phần cư dân trong xã hội ở

Malay nắm giữ: người Hoa vẫn giữ quyền khai thác thiếc, người Ấn trồng đồn

điền, người Melayu trồng lúa Trong các hoạt động kinh tế, người Anh chỉ

quản lý và điều hành mang tính vĩ mô thông qua việc thu thuế Điều khoản 10của "Thỏa thuận Pangco" (Anh - Perak) quy định rằng, "Việc thu và kiểm soáttất cả các nguồn thu ngân sách và quản lý chung đất nước phải được quản lýtheo lời góp ý của các vị đại diện này" [22, tr 815] Người Anh cũng đã rất

khôn khéo trong các hành động quân sự và thương mại để đạt được mục đích

của mình Việc kiểm soát và thu thuế ở Malay được người Anh đầu tư mộtphần trở lại để xây dựng cơ sở hạ tầng như đường giao thông, thông tin liênlạc Do đó, các Quốc vương bản địa như Selangor sẵn sàng đồng ý với đạidiện Anh: "Tôi sẽ rất vui mừng nếu người bạn của tôi sẽ chấn chỉnh đất nướctôi và thu tất cả thuế" [22, tr 816] Với các chính sách này, người Anh đã tạocho các Quốc vương và một bộ phận dân cư ở đây cảm giác họ vẫn cònnguyên những quyền cơ bản như quyền cai trị, quyền tự do mà không phải là

nô lệ Vì vậy, một phần trong số họ đã sẵn sàng hợp tác tích cực với ngườiAnh Thực tế, người Anh vẫn thực hiện được mục đích lớn nhất của họ là khaithác tài nguyên, sức người, sức của từ thuộc địa

Bên cạnh sự thỏa hiệp của các Tiểu vương và một bộ phận dân cư ởMalaya với Chính quyền Anh, thực dân Anh vẫn phải đối phó ít nhiều với sự

Trang 34

phản kháng của người dân bản địa Điển hình như các cuộc nổi dậy ở Perak(1875-1876), cuộc khởi nghĩa của nông dân Sabah (1894 - 1903); cuộc khởinghĩa của nông dân ở Trenganu (1928) Nhìn chung các cuộc nổi dậy chốngthực dân Anh thời điểm này đều mang tính tự phát, chưa lôi cuốn được đông

đảo các tầng lớp trong xã hội Các cuộc đấu tranh mới chỉ dừng lại ở chỗ phản

ánh sự bất mãn trước những thay đổi đang diễn ra và "nhằm cải thiện hoàn cảnhsống trước mắt hơn là hướng tới các mục tiêu tái cấu trúc xã hội" [46, tr 434].Mặt khác, Chính quyền Anh vừa dùng thủ đoạn đàn áp, vừa mua chuộc, nêncác cuộc khởi nghĩa nhanh chóng thất bại Đây là một trong những yếu tố làmcho phong trào dân tộc chủ nghĩa ở Malaya dưới thời thuộc địa Anh khôngmạnh mẽ, dồn dập và sớm như nhiều nước khác trong khu vực

Chính sách thực dân Anh ở Malaya đã để lại những hậu quả nặng nề

cho đất nước này Song ở một mức độ nhất định, chúng ta vẫn thấy những yếu

tố tích cực mà tư bản Anh đã đem đến đây Đó là quan hệ sản xuất mới tư bảnchủ nghĩa thâm nhập vào Malaya và đưa tới những biến đổi lớn lao về kinh tế -

xã hội Xã hội bị phân hóa, những tầng lớp và giai cấp mới xuất hiện tham gia

vào đời sống chính trị, tiêu biểu nhất là tầng lớp tư sản dân tộc Tầng lớp này

có mối liên hệ với nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, vừa tiếp thu tư tưởng tự docủa phương Tây lại vừa cảm nhận được sự lệ thuộc của người dân thuộc địa

Họ nuôi khát vọng giành độc lập dân tộc Mặt khác, sự phát triển của hệ thốnggiáo dục phương Tây ở Malaya đã mang lại hệ quả không mong muốn đối vớichính quyền thuộc địa, đó là đã tạo nên tầng lớp trí thức mới Họ tiếp thu tư

tưởng dân chủ tự do từ nhà trường thuộc địa hoặc từ chính quốc Vượt qua

khuôn khổ của ý thức hệ phong kiến và sự kìm kẹp của chế độ thực dân, họ

hướng về lý tưởng độc lập dân tộc, tự do, bình đẳng và nền dân chủ tư sản.Đội ngũ trí thức này ngày càng đông đảo, mang trong mình vốn văn hóa

truyền thống dân tộc và tiếp nhận những tri thức mới của thời đại, trở thànhnhững con người gánh vác sứ mệnh thức tỉnh dân tộc Điều này đúng như xétcủa Giáo sư sử học Pháp, Jan Pluvie:

Trang 35

Phong trào phục hưng của Đông Nam Á chịu ảnh hưởngmạnh mẽ của nền giáo dục phương Tây Đây là một trong những

điều bị người ta thờ ơ nhất khi nói tới trách nhiệm đối với thuộc địa,nhưng xét từ quan điểm thuộc địa một cách rõ ràng và khách quan,điều này đã góp phần làm xuất hiện tầng lớp trí thức được đào tạo ởphương Tây và họ được trưởng thành trong môi trường dân tộc chủ

nghĩa [72, tr 112]

Sự xuất hiện và trưởng thành của các giai cấp, tầng lớp mới ở Malayacũng như trong các nước thuộc địa ở Đông Nam Á được coi là yếu tố nội lực,quyết định sự phát triển và thắng lợi của cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc.Cuộc đấu tranh do giai cấp tư sản lãnh đạo đã tạo nên một luồng gió mới, mở

ra con đường mới cho phong trào giải phóng dân tộc đi tới thành công Những

hệ quả này nằm ngoài ý muốn của thực dân Anh Trong quá trình đấu tranh,các tổ chức chính trị, các đảng chính trị của giai cấp tư sản dần hình thành.Nhiều tổ chức đảng, chính trị do giai cấp tư sản, trí thức ở Malaya lãnh đạo đã

ra đời và đóng vai trò quyết định đối với tiến trình đấu tranh giải phóng dân

tộc ở Malaya, đỉnh cao là sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc

2.1.2 Giai đoạn 1945 - 1957: nhân dân Malaya đấu tranh giành

độc lập

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, phong trào đấu tranh giành độc lậpdân tộc ở Malaya có sự biến đổi sâu sắc cả về số lượng và chất lượng Sự thay

đổi này đã làm thay đổi nhanh chóng tình hình chính trị ở Malaya, đưa đến sự

ra đời của Nhà nước Liên bang Malaya độc lập Điều này được thể hiện trên

một số điểm cơ bản sau đây:

Mộ t là, vai trò củ a các tổ chứ c đả ng chính trị trong cuộ c đấ u tranh

giành độ c lậ p.

Trước hết, "Hiệp hội người Malay ở Singapore" Năm 1926, lần đầu tiên

trong Hội đồng lập pháp của "Xứ định cư eo biển", Mohammad Yunos Bin

Trang 36

Abdulah đã thành lập một tổ chức chính trị - xã hội của người Malaya là

"Hiệp hội người Malaya" tại Singapore Mục tiêu hoạt động của Hiệp hội lànhằm bảo vệ quyền lợi kinh tế của người Malaya, tuyên truyền thức tỉnh quầnchúng và lôi kéo họ tích cực tham gia vào đời sống chính trị - xã hội Ngay

sau đó, những tổ chức tương tự được thành lập ở các Tiểu vương quốc, vùng

lãnh thổ khác như ở Penang, Selangor, Negri-Sembilan v.v Thành phầntham gia các tổ chức này khá đa dạng, gồm tầng lớp trí thức, giới quý tộc,quan cai trị người bản địa… Quan điểm hoạt động của các nhà lãnh đạo của

tổ chức này khá ôn hòa, mang tính chất cải lương Tuy nhiên, ít nhiều nó đã

có ảnh hưởng khá tích cực, thúc đẩy ý thức giác ngộ và hoạt động chính trịcủa nhân dân Malaya Đây cũng là một trong những tổ chức góp phần quantrọng trong việc tập hợp lực lượng, củng cố tình đoàn kết của người Malaya

Thứ hai, "Đảng Cộng sản Malaya" (MCP) Được thành lập ngày 30

tháng 4 năm 1930, song phải đến tháng 3 năm 1934, MCP mới thông qua điều

lệ và bắt đầu tập hợp lực lượng, tổ chức quần chúng tiến hành tổng bãi công.Mục tiêu đấu tranh của MCP là giải phóng dân tộc Malaya MCP được sự ủng

hộ của đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia, đặc biệt là người Hoa Năm

1939, số đảng viên tham gia MCP khoảng 37.000 người và có các chi bộ ởhầu khắp trên lãnh thổ Malaya lúc đó (bao gồm cả Singapore) MCP đóng vaitrò lãnh đạo "Liên hiệp Công đoàn toàn Malaya" - tổ chức Công đoàn lớnnhất ở Malaya với khoảng 460.000 đoàn viên" [114, tr 56] Năm 1940, MCP

đã đưa ra "Cương lĩnh 10 điểm" nhằm tiến tới thành lập một Nhà nước Cộng

hòa dân chủ Malaya MCP có liên hệ khá mật thiết với các đảng cộng sản

khác, đặc biệt là với Đảng Cộng sản Trung Quốc Vì vậy, khi quân phiệt Nhậtxâm lược Malaya, cộng đồng người Hoa tại đây là mục tiêu đàn áp của quânđội Nhật

Trong cuộc kháng chiến chống Nhật, MCP đặt ra mục tiêu vừa chốngNhật, vừa đấu tranh chống lại chế độ bảo hộ của thực dân Anh và xóa bỏ nền

Trang 37

quân chủ ở Malaya Cương lĩnh của MCP nêu nhiệm vụ thiết lập chế độ Cộnghòa đại nghị, làm chủ chính sách thuế quan và coi công nghiệp hóa là nhiệm

vụ hàng đầu về kinh tế; đồng thời xây dựng chế độ giáo dục không mất tiềnvới ngôn ngữ dân tộc; thiết lập quan hệ ngoại giao với Liên Xô và TrungQuốc MCP đã lập ra các tổ chức công đoàn, thanh niên, nông dân, phụ nữ,

quân đội… chủ yếu là người Hoa và lãnh đạo họ đứng lên đấu tranh đìnhcông, bãi khóa… gây áp lực chính trị - xã hội với chính phủ đương thời Mặc

dù không được sự ủng hộ của chính quyền Anh, song MCP đã tiến hành

khoảng 200 trận đánh lớn vào các căn cứ của Nhật, giải phóng một phần lãnhthổ Malaya Năm 1945, sau khi Nhật đầu hàng đồng minh, quân đội Anh trởlại thiết lập chế độ quân quản ở Malaya, MCP bị cấm hoạt động

Do tác động tiêu cực từ chính sách chia rẽ dân tộc của chính quyềnAnh, đồng thời với sự trợ giúp đắc lực của các tổ chức của giai cấp tư sản, cácđại diện có ảnh hưởng của giới thượng lưu phong kiến và các nhà hoạt độngtôn giáo…, người dân Melayu bản địa nhìn nhận MCP là của người Hoa và

mục tiêu của MCP đang theo đuổi xa lạ và không phù hợp với lợi ích của

người Melayu Mặt khác, bản thân MCP còn lúng túng, chưa giành quyền

lãnh đạo tuyệt đối hoặc chưa hạ quyết tâm trong những thời điểm quyết địnhcủa lịch sử, chưa ngăn cản được sự thỏa hiệp của giai cấp tư sản Chính vì vậy,

trước sự tấn công mạnh mẽ của quân đội chính phủ và sự tranh giành ảnh hưởng

của tổ chức MCA, MCP hầu như bị cô lập hoàn toàn Đặc biệt, chiến lượcmới "dồn dân lập ấp chiến lược" mà thực dân Anh áp dụng trong thập niên 50của thế kỷ XX đã có tác dụng phá vỡ một cách có hệ thống các cuộc tiếp xúcgiữa MCP với các cộng đồng dân cư trên bán đảo, "kế hoạch này đã dẫn tớiviệc trục xuất khoảng nửa triệu người - một phần tư dân số Hoa kiều mà đa số

là những người của MCP - tới những nơi gọi là làng mới" [72, tr 133] Trongcuộc hội đàm Baling (12/1955), giữa đại diện của MCP - lãnh tụ Ching Peng,

đại diện UMNO - Thủ tướng của Malaya và đại diện bang Singapore, MCP đã

Trang 38

thất bại, Thủ tướng của Malaya đã "không công nhận hoạt động hợp pháp của

Đảng cộng sản" [132, tr 284] Kể từ đó, các cuộc truy quét gắt gao của chính

quyền Malaya đối với MCP khiến cho Đảng này tổn thất nặng nề Trên toàn bộlãnh thổ liên bang Malaya, 98% lực lượng cộng sản bị xóa sổ, thậm chí ở một số

bang như Selangor, Malacca, Negri Sembilan, Johore, Kelantan lực lượng cộng

sản hoàn toàn bị triệt tiêu [132, tr 277]

Mặc dù không giữ được vị trí lãnh đạo, song MCP có vai trò quantrọng trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở Malaya giai đoạn 1945 -

1957 Đánh giá về MCP, Giáo sư Jan Pluvie cho rằng, "Bất cứ lập luận thế

nào đi nữa thì người ta không thể phủ nhận rằng cuộc nổi dậy này đã khuấyđộng lên một loạt các sự kiện theo một con đường vòng để dẫn tới việc chấm

dứt sự cai trị thuộc địa của Anh" [72, tr 132]

Thứ ba, "Hiệp hội người Hoa ở Malaya (MCA) Sau khi MCP bị đặt ra

ngoài vòng pháp luật (23/7/1948), giới công - thương trong cộng đồng ngườiHoa ở Malaya đã tích cực tiến hành các biện pháp giành lấy ảnh hưởng trongcộng đồng này MCA ra đời vào tháng 2/1949, nhằm mục đích bảo vệ quyềnlợi và lợi ích của người Hoa, duy trì quan hệ hài hòa giữa các cộng đồng dântộc ở Malaya Mặc dù cũng là tổ chức chính trị do người Hoa lập ra, song tổchức này do giới tư sản công - thương lãnh đạo nên mâu thuẫn với MCP,tuyên bố chống lại MCP Lực lượng tham gia MCA ngày càng tăng, từ 10 vạn

người (năm 1949) lên 22 vạn người (1953) MCA chủ trương hợp tác với "Tổ

chức dân tộc thống nhất Melayu" (UMNO) trong cuộc bầu cử thị chính ở

Kuala Lumpur năm 1952 và liên minh với tổ chức "Đại hội người Ấn ở

Malaya" (MIC) năm 1955 trong các hoạt động chính trị - xã hội MCA trởthành tổ chức chính trị có quyền lực trong cộng đồng người Hoa và có ảnh

hưởng lớn trong chính trường Malaya

Thứ tư, "Đại hội người Ấn Độ ở Malaya" (MIC) Trước khi có tổ chức

MIC, người Ấn Độ ở Malaya từng thành lập "Hiệp hội trung ương người Ấn ở

Trang 39

Malaya" (1937) và có quan hệ mật thiết với Đảng Quốc đại ở Ấn Độ Cáccuộc đấu tranh của họ nhằm bảo vệ quyền lợi của giai cấp tư sản Ấn ởMalaya Sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, tại Malaya xuất hiện tổchức chính trị có tên là "Đại hội người Ấn Độ ở Malaya" (1946) Cộng đồng

người Ấn chỉ chiếm khoảng 10% trong dân cư, sống rải rác ở các bang nên họ

rất ít cử tri Mục tiêu chính trị của họ cũng bị hạn chế do chính sách phân biệtsắc tộc của thực dân Anh Các cuộc đấu tranh do MIC phát động mang nhiềutính chất tự phát Sau khi tham gia Liên minh với UMNO và MCA, (1955),MIC trở thành một trong những thành viên của Mặt trận dân tộc trong Liênminh lãnh đạo, đóng vai trò tích cực quan trọng trong sự nghiệp đấu tranh

giành độc lập dân tộc

Thứ năm, "Tổ chức dân tộc thống nhất Malay" (UMNO) Sự kiện chính

quyền Anh công bố "Sách trắng" (1946) với phương án thành lập "Liên hiệpMalaya" đã gây ra làn sóng phản đối chống lại thực dân Anh tại đây Người

Melayu đã sát cánh cùng nhau đứng dậy đấu tranh chống lại kế hoạch thành

lập Liên hiệp Malaya Tháng 3/1946, khoảng 200 đại biểu người Melayu đạidiện cho 41 tổ chức họp ở Kuala Lumpur để bàn về tổ chức chiến dịch chốnglại kế hoạch trên Trong hội nghị này, UMNO đã ra đời Ngày 11/5/1946,UMNO chính thức ra mắt, tập hợp lực lượng Chủ tịch đầu tiên của UMNO là

ông Dato Onn Ja’afar Tổ chức này lấy khẩu hiệu là "Người Malaya muônnăm" (Hidup Melayu) nhằm mục tiêu đề cao người Melayu và UMNO Hạt

nhân của UMNO là giới trí thức, tầng lớp quý tộc, tiểu tư sản dân tộc ngườiMalaya bản địa Do khai thác được tâm lý dân tộc, tính đa sắc tộc của xã hộiMalaya và dựa vào ảnh hưởng lớn của giới quý tộc các địa phương, tổ chức

UMNO đã được đông đảo các lực lượng trong xã hội hưởng ứng Ngay từđầu, UMNO chủ trương liên minh với các các tổ chức chính trị trong nước là -

MCA và MIC, nhằm mục tiêu là giành độc lập cho đất nước, xây dựng một

đất nước độc lập, thế tục Vì vậy, chỉ trong thời gian ngắn, UMNO đã trở

Trang 40

thành một chính đảng lớn nhất, thu hút được sự ủng hộ đông đảo của người

dân trong nước UMNO đã tích cực tuyên truyền, phản đối bản dự thảo Hiến

pháp thành lập "Liên hiệp Malaya", đưa ra yêu sách thành lập "Liên bangMalaya" và quyền độc lập dân tộc UMNO đóng vai trò quyết định trên bàn

đàm phán với chính quyền Anh về những điều kiện độc lập Khi Liên minh

UMNO - MCA - MIC ra đời, UMNO vẫn đóng vai trò hạt nhân của tổ chức

này và là Đảng đại diện cho Liên bang Malaya tham gia đàm phán với chính

quyền Anh về vấn đề trao trả độc lập cho quốc gia này

Thứ sáu, "Đảng Hồi giáo Malaya" - (PAS) Đảng có nguồn gốc từ trong

tầng lớp giáo viên ở nông thôn thuộc cánh tả và thuộc khuynh hướng Đại MãLai đã rời bỏ tổ chức UMNO và thành lập "Đảng Islam" (Hijbul Muslimin -1948) Đây là Đảng Islam đầu tiên ra đời ở Malaya Mục tiêu của Đảng là

"đấu tranh giành độc lập cho Malaya,… xây dựng một xã hội Islam dựa trêncác nguyên tắc Islam và Malaya là một quốc gia Islam" [157, tr 143-150].Tuy nhiên, Đảng đã gặp nhiều khó khăn trong việc tập hợp lực lượng, nhiềulãnh tụ bị bắt Đến năm 1951 Đảng được tái lập với tên gọi là "Đảng Hồi giáoMalaya" (PAS) Những nhà lãnh đạo của PAS đa số là trí thức, quý tộc Islam

Họ có vai trò và uy tín trong các trường học, các Hội đồng tôn giáo của cácbang, các nhà thờ ở các vùng nông thôn, do đó PAS thu hút được khá đônglực lượng tham gia Mặc dù PAS trở thành đối thủ mạnh mẽ của UMNO,song phải khẳng định rằng, PAS đã hoạt động khá tích cực trong cuộc đấutranh giải phóng dân tộc, góp phần thay đổi đời sống chính trị ở Malaya trước

và sau khi Malaya độc lập

Nhìn chung, sự ra đời và tồn tại nhiều tổ chức, đảng chính trị tại Liênbang Malaya là do ảnh hưởng từ chính sách chia rẽ các dân tộc, sắc tộc củachính quyền thực dân Anh và phát xít Nhật nhằm mục đích "chia để trị", phânliệt cuộc đấu tranh chống thuộc địa và đấu tranh giai cấp tại Malaya Hầu hếtcác tổ chức, đảng chính trị đều mang tính chất là các tổ chức, đảng cộng đồng

Ngày đăng: 23/05/2016, 01:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w