Giá trị theo tiếng Anh gọi là Nội hàm khái niệm “Gía trị” là: - lao động xã hội của người sản xuất hàng hoá kết tinh trong hàng hoá Ngoại diên của khái niệm : - Gía trị sử dụng Giá
Trang 1BÀI TẬP LỚN
Môn: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Chủ đề: Tập xây dựng cẩm nang thuật ngữ chuyên môn
Người làm: Trần Thị Thu Hà Khoá 49 - Lớp Quản trị kinh doanh quốc tế B
Giảng đường C111
Trang 2Hà Nội , ngày 22 tháng 9 năm 2008
I Khủng hoảng kinh tế
kinh tế kéo dài và trầm trọng hơn cả suy thoái trong
chu kỳ kinh tế tên gọi tiếng Anh là “ Economic
Crisis”
Một định nghĩa khác với cách hiểu ngày nay là trong học thuyết Kinh tế chính trị của Mác- Lênin Từ ngữ này chỉ khoảng thời gian biến chuyển rất nhanh sang giai đoạn suy thoái kinh tế Bài viết này chủ yếu về khái niệm Khủng hoảng kinh tế của Karl Marx vốn vẫn được dùng thịnh hành trong Kinh tế chính trị Marx Khủng hoảng kinh tế đề cập đến quá trình tái sản xuất đang bị suy sụp tạm thời Thời gian khủng hoảng làm những xung đột giữa các giai tầng trong xã hội thêm căng thẳng, đồng thời nó tái khởi động một quá trình tích tụ tư bản mới
Nội hàm khái niệmlà:
- sự suy giảm các hoạt động kinh tế kéo dài
- trầm trọng hơn cả suy thoáI trong chu kỳ kinh tế
Ngoại diên kháI niệm
- Xu hướng suy giảm tỷ suất lợi nhuận
Tích tụ tư bản gắn liền xu hướng chung của mức độ tập trung tư bản điều này tự nó làm giảm tỷ suất lợi nhuận và kìm hãm chủ nghĩa tư bản và có thể đI đến khủng hoảng
Trang 3- Tiêu thụ dưới mức
Nếu giai cấp tư sản thắng thế trong cuộc đấu tranh giai cấp với mục đích cắt giảm tiền lương và bóc lột thêm lao động, nhờ đó tăng tỷ suất giá trị thặng dư, khi đó nền kinh
tế tư bản phảI đối mặt với vấn đề thường xuyên là nhu cầu tiêu dùng không tương xứng với quy mô sản xuất và tổng cầu không tương xứng với tổng cung
- Sức ép lợi nhuận từ lao động
Tích tụ tư bản có thể đẩy nhu cầu thuê mướn tăng lên và làm tăng tiền lương Nếu tiền lương tăng cao sẽ ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận và khi đạt đến một mức nhất định sẽ gây ra suy thoáI kinh tế
Lịch sử phát triển của kháI niệm
Sismondi là một trong những người đầu tiên quan tâm tới khủng hoảng kinh tế
Theo Sismondi, khủng hoảng kinh tế không phảI là hiện tượng ngẫu nhiên, cục bộ Song, ông không giảI thích được triệt để vấn đề khủng hoảng Ông dùng lý luận “tiêu dùng không đủ” để giảI thích khủng hoảng kinh tế, hay lý luận khủng hoảng kinh tế được xây dựng trên cơ sở tốc độ tăng tiêu dùng không đủ Ông đã quy các mâu thuẫn của CNTB vào một mâu thuẫn: sản xuất tăng lên, còn tiêu dùng lại không theo kịp sản xuất Sở dĩ tiêu dùng lạc hậu so với sản xuất là do quan hệ phân phối không đúng, do sự không bình đẳng quá lớn về tài sản Vậy là ông đI tìm nguyên nhân của khủng hoảng kinh tế trong lĩnh vực sản xuất Theo Sismondi việc tăng tốc độ tiêu dùng không đủ lại do những nguyên nhân sau: sự phát triển của CNTB làm phá sản những người sản xuất nhỏ, do đó làm cho tiêu dùng giảm; tình cảnh điêu đứng của những người vô sản, thất nghiệp, tiền lương thấp làm giảm nhu cầu tiêu dùng; trong giai cấp tư sản cũng có khuynh hướng hạn chế tiêu dùng,
Trang 4tăng tích luỹ Từ đó, Sismondi kết luận rằng, CNTB càng phát triển thì sản xuất càng mở rộng, mặt khác tiêu dùng ngày càng giảm bớt, đó là nguyên nhân của khủng hoảng kinh tế
Theo Sismondi , khủng hoảng không nổ ra thường xuyên
là nhờ có ngoại thương , nhưng đó là lối thoát tạm thời Lối thoát chủ yếu là các nhà tư bản tiêu dùng nhiều hơn lối thoát
cơ bản là phát triển sản xuất nhỏ
Từ việc nghiên cứu lý luận khủng hoảng kinh tế của Sismondi chúng ta có thể rút ra các nhân xét sau đây:
- Điều hợp lý ở Sismondi là ở chỗ khẳng định kinh tế là tất yếu, nền sản xuất TBCN sẽ có sản xuất thừa, đó là kết quả của mâu thuẫn giữa sản xuất và tiêu dùng
- Do ông đồng nhất sản xuất với thu nhập nên không phân biệt được sự khác nhau giữăt bản và thu nhập quốc dân, không phân biệt được tiêu dùngcho sản xuất và tiêu dùng cá nhân và tiêu dùng cá nhân và do đó không thấy được vai trò của tích luỹ sản xuất
- ông xem xét khủng hoảng theo quan điểm sản xuất nhỏ, quan điểm tiểu tư sản, giảI thích sự giảm sút của thị trường là do suy dồi của sản xuất nhỏ Sở dĩ như vậy là
vì ông không hiểu nguyên nhân sâu xa của khủng hoảng kinh tế - Đó là mâu thuẫn cơ bản của CNTB
Ngoài ra, Sismondi còn đề cập đến vấn đề bảo hiểm xã hội
Nguồn tài liệu tham khảo
- Giáo trình Kinh tế chính trị Mác- Lênin, NXB Chính trị Quốc gia
- Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
- Lịch sử các học thuyết kinh tế
Trang 5II Giá trị
Khái niệm giá trị
Giá trị là lao động xã hội của người sản xuất hàng hoá kết tinh trong hàng hoá Chất của giá trị là lao động, vì vậy sản phẩm nào không có lao động của người sản xuất chứa đựng trong đó, thì nó không có giá trị Sản phẩm nào lao động hao phí để sản xuất ra chúng càng nhiều thì giá trị càng cao
Giá trị theo tiếng Anh gọi là
Nội hàm khái niệm “Gía trị” là:
- lao động xã hội của người sản xuất hàng hoá kết tinh trong hàng hoá
Ngoại diên của khái niệm :
- Gía trị sử dụng
Giá trị sử dụng là công dụng của sản phẩm có thể thoả mãn nhu cầu nào đó của con người Ví dụ: cơm để ăn, xe đạp để đi, máy móc, nguyên nhiên liệu để sản xuất…vv
Nó chỉ thể hiện ở việc sử dụng hay tiêu dùng và nó là phạm trù vĩnh viễn
- Gía trị trao đổi
Giá trị trao đổi là quan hệ tỷ lệ về lượng mà giá trị sử dụng này trao đổi với giá trị sử dụng khác Ví dụ: 1m vải
= 10kg thóc
- Gía trị thặng dư
Gía trị thặng dư là một bộ phận của giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động do công nhân làm thuê tạo ra và
bị nhà tư bản chiêm không Qúa trình sản xuất ra giá trị thặng dư chỉ là quá trình tạo ra giá trị kéo dài quá cáI điểm
mà ở đó giá trị sức lao động do nhà tư bản trả được hoàn lại bằng một vật ngang giá mới
Trang 6 Lịch sử phát triển của khái niệm “giá trị”
Chúng ta có thể thấy được lịch sử phát triển của khái niệm
“giá trị” thông qua lý luận về giá trị trong các học thuyết kinh tế của một số nhà nghiên cứu kinh tế sau:
William Petty(1623-1687)
Trong tác phẩm”Bàn về thuế khoá và lệ phí” 1662 W.Petty nghiên cứu về giá cả, chia giá cả thành 2 loại: giá cả chính trị
và giá cả tự nhiên(giá trị) Theo ông giá cả chính trị(giá cả thị trường) phụ thuộc vào nhiều yếu tố ngẫu nhiên do đó khó xác
định, còn giá cả tự nhiên (tức giá trị) là do thời gian lao động
hao phí quyết định và năng suất lao động có ảnh hưởng đến mức hao phí đó Như vậy W.Petty là người đầu tiên đã tìm
thấy cơ sở của giá cả tự nhiên là lao động Ông kết luận rằng:
số lượng lao động bằng nhau bỏ vào sản xuất là cơ sở để so
sánh giá trị hàng hoá Giá cả tự nhiên( giá trị) tỉ lệ nghịch với
năng suất lao động khai thác vàng và bạc Ông có ý định đặt
vấn đề lao động phức tạp và lao động giản đơn nhưng không thành
Tuy vậy lý thuyết giá trị lao động của ông còn có những hạn chế chưa phân biệt được các phạm trù giá trị, giá trị trao đổi với giá cả Ông tập trung nghiên cứu về giá cả một bên là hàng hoá, một bên là tiền, tức là ông mới chú ý nghiên cứu về mặt lượng Ông chỉ giới hạn lao động tạo ra giá trị trong lao động khai thác vàng và bạc Ông so sánh giá lao động khai thác vàng và bạc với lao động khác, lao động khá chỉ tạo nên của cải ở mức độ so sánh với lao động tạo ra tiền tệ Theo ông giá trị hàng hoá chính là sự phản ánh giá trị tiền tệ cũng như ánh
Trang 7sáng của mặt trăng là sự phản chiếu ánh sáng mặt trời vậy Đó
là ảnh hưởng tư tưởng chủ nghĩa trọng thương rất nặng
W.Petty đã lẫn lộn lao động với tư cách là nguồn gốc của giá trị với lao động với tư cách là nguồn gốc của giá trị sử dụng, nghĩa là ông đã đồng nhất lao động trừu tượng với lao động cụ thể Từ đó W.Petty có ý định đo giá trị bằng 2 đơn vị lao động
và đất đai ông nêu ra câu nói nổi tiếng: “ Lao động là cha, còn đất đai là mẹ của của cải” Về phương diện của cải nói như vậy
là đúng, chỉ rõ nguồn gốc giá trị sử dụng Nhưng sai lầm là ông
đã coi 2 yếu tố xác định giá trị là lao động và tự nhiên
A.Smith đã phân biệt rõ ràng giá trị sử dụng và giá trị trao
đổi Ông khẳng định giá trị sử dụng không quyết định giá trị
trao đổi và bác bỏ lý luận về sự ích lợi, sự ích lợi không có quan hệ gì đến giá trị trao đổi Ví dụ: “không có gì hữu ích bằng nước, nhưng với nó thì không thể mua được gì” Theo
A.Smith giá trị trao đổi là do lao động quyết định, giá trị là do
hao phí lao động để sản xuất ra hàng hoá quyết định đó là khái niệm đúng đắn về giá trị A.Smith còn nêu định nghĩa thứ
hai về giá trị của hàng hoá: giá trị một hàng hoá bằg số lượng lao động mà người ta có thể mua đượcnhờ hàng hoá đó đây là điều luẩn quẩn và sai lầm của A.Smith
Về cấu thành giá trị của hàng hoá, theo A.Smith trong sản xuất TBCN, tiền lương, lợi nhuận và địa tô là ba nguồn gốc đầu tiêncủa mọi thu nhập, đó là quan điểm đúng đắn song ông lại lầm ở chỗ coi các khoản thu nhập là nguồn gốc đâù tiên của mọi giá trị trao đổi Ông đã lẫn lộn 2 vấn đề hình thành giá trị
và phân phối giá trị, hơn nữa, ông cũng xem thường tư bản bất biến (C), coi giá trị chỉ có(v+m)
A.Smith đã phân biệt giá cả tự nhiên với giá cả thị trường Ông khẳng định hàng hoá được bán theo giá cả tự nhiên, nếu
Trang 8giá cả đó ngang với mức cần thiết để trả cho tiền lương, lợi nhuận và địa tô
Theo ông giá cả tự nhiên là trung tâm, giá cả thị trườnglà giá bán thực tế của hàng hoá, giá cả này nhất trí với giá cả tự nhiên khi hàng hoá được đưa ra thị trường với số lượng đủ “thoả mãn nhu cầu thực tế” Nhưng do sự biến động của cung cầu làm cho giá cả thị trường chênh lệch với giá cả tự nhiên Bản thân giá
cả tự nhiên cũng thayđổi cùng với tỷ suất tự nhiên của mỗi bộ phận cấu thành nó
Ông đã nhận thấy cả trong CNTB được đặt ra khác với trước đây Nhưng ông không thấy được trong CNTB quan trọng thực hiện giá trị gắn liền với việc phân phối lại giá trị dưới hình tháI lợi nhuận, địa tô và lợi tức Ông đã vấp vào vấn đề giá cả sản xuất
Công lao chủ yếu của A.Smith về lý luận giá trị là đã phân biệt được giá trị sử dụng và giá trị trao đổi, hơn nữa, ông đã cho rằng lao động là “ thước đo thực tế của giá trị” Song ở ông vẫn còn có những sai lầm và hạn chế về lý luận này
David Ricardo (1772-1823)
Lý luận giá trị chiếm vị trí quan trọng trong hệ thống quan
điểm của D.Ricardo Ông định nghĩa giá trị hàng hoá như sau:
“ Gía trị của hàng hoá hay số lượng của một hàng hoá nào
khác mà hàng hoá đó trao đổi, là do số lượng lao động tương đối , cần thiết để sản xuất ra hàng hoá đó quyết định chứ không phảI do khoản thưởng lớn hay nhỏ trả cho lao động đó quyết định”
Cũng như A.Smith, D.Ricardo đã phân biệt rõ hai thuộc tính của hàng hoá là giá trị sử dụng và giá trị trao đổi Ông bác bỏ
lý luận giá trị sử dụng quyết định giá trị hàng hoá, ông đã
Trang 9chứng minh rằng các nhân tố tự nhiên giúp con người tạo nên giá trị sử dụng nhưng không thêm một phần gì vào giá trị hàng hoá cả Ông có ý kiến kiệt xuất rằng “Tính hữu ích không phảI
là thước đo giá trị trao đổi, mặc dù hàng hoá rất cần thiết giá trị
này” “Gía trị khác xa với của cảI, giá trị không tuỳ thuộc vào
việc có nhiều hay ít của cải, mà tuỳ thuộc vào điều kiện sản xuất khó khăn hay thuận lợi” Theo ông sở dĩ có nhiều lầm lẫn
trongkhoa kinh tế chính trị là do người ta coi “sự tăng của cải
và tăng giá trị là một”, là do người ta quên rằng thước đo giá trị chưa phải là thước đo của cải vì của cải không phụ thuộc vào giá trị Theo ông giá trị trao đổi hàng hoá được quy định bởi lượng lao động chứa đựng trong hàng hoá, lượng lao động đó
tỷ lệ thuận với lao động tạo ra hàng hoá “tính hữu ích không tăngcùng nhịp độ với tăng giá trị” “tính hữu ích là cần thiết vì vật không có ích , nó không có được giá trị trao đổi”
D.Ricardo cho rằng hàng hoá hữu ích sở dĩ có giá trị trao đổi là do 2 nguyên nhân:
- Tính chất khan hiếm
- Lượng lao động cần thiết để sản xuất ra chúng
Như vậy là ông đã nhận thức được giá trị trao đổi được quyết định bởi lượng lao động đồng nhất của con người, chứ không phải là lượng lao động hao phí cá biệt Về điểm này ông là người đầu tiên đã phân biệt được lao động cá biệt và lao động
xã hội Nhưng nhầm lẫn của ông là cho rằng giá trị hàng hoá được điều tiết bởi lượng lao động lớn nhất hao phí trong điều kiện xấu
D.Ricardo phân biệt giá cả tự nhiên và giá cả thị trường Ông cho rằng, không có một hàng hoá nào mà giá cả không bị những ảnh hưởng của biến động ngẫu nhiên hay tạm thời Nhưng nguyện vọng của mỗi nhà tư bản muốn rút vốn mình ra khỏi một công việc kinh doanh lãi ít và đầu tư vào một công
Trang 10việc kinh doanh có lãi hơn, nguyện vọng đó không cho phép giá cả thị trường của các hàng hoá dừng lâu ở một mức nào đó cao hơn nhiều hay thấp hơn nhiều so với giá cả tự nhiên của chúng
Đề cập vấn đề tăng giá cả, D.Ricardo viết rằng viêc tăng giá
cả lên có thể là một nhân tố điều tiết một lượng cung không đủ
so với một lượng cầu đang phát triển , điều tiết việc tiền tệ sụt giá, việc đánh thuế vào những vật phẩm thiết yếu, ông đã cố gắng tìm hiểu sự vận động của giá cả Theo ông giá cả không phảI là do cung cầu quyết định, quyết định mức giá ở trong tay người sản xuất, cung cầu chỉ ảnh hưởng đến giá cả Ông viết:
“Cái có tính chất điều tiết giá trị là hao phí lao động sản xuất,
không phải quan hệ cung cầu và tâm trạng người mua.
D.Ricardo nói rõ hơn chỉ khi nào không có cạnh tranh thì tỉ lệ trao đổi có thể do “nhu cầu của người ta và do sự đánh giá tương đối của người ta đối với hàng hoá” quyết định Còn trong điều kiện cạnh tranh thì giá cả “ rốt cuộc sẽ do cạnh tranhgiữa những người bán điều tiết”
D.Ricardo đã chứng minh một cách tài tình rằng, giá trị hàng hoá giảm khi năng suất lao đông tăng lên, ông gạt bỏ sai lầm của A.Smith cho rằng lao động trong nông nghiệp có năng suất cao hơn và cho rằng sự tăng lên của của cải đi kèm với giá trị của nó giảm
D.Ricardo đã trình bày lý luận giá trị của mình từ việc phê phán A.Smith Ông đã gạt bỏ tính không triệt để , không nhất quán về cách xác định giá trị của A.Smith( giá trị = lao động mua được) D.Ricardo kiên định với quan điểm lao động là nguồn gốc giá trị , công lao to lớn cuả ông là đã đứng trên quan điểm đó để xây dựng lý luận
Trang 11khoa học của mình Đồng thời ông cũng phê phán A.Smith cho
rằng giá trị là do các nguồn gốc thu nhập hợp thành, mà
ngược lại được phân thành các nguồn thu nhập.
Về cơ cấu giá trị hàng hoá, ông cũng có ý kiến khác với sai lầm giáo điều của A.Smith bỏ C ra ngoài giá trị hàng hoá D.Ricardo cho rằng: Gía trị hàng hoá không chỉ dolao động trực tiếp tạo ra mà còn là lao động cần thiết trước đó nữa như máy móc, nhà xưởng( tức ông chỉ biết có C1-chỉ có đến K Marx mới hoàn chỉnh được công thức giá trị hàng hoá= C+V+m)
Mặt hạn chế trong lý luận giá trị của D.Ricardo là ở chỗ ông chưa vượt qua được cửa ải là không nhận được tính 2 mặt của lao động sản xuất hàng hoá Mặc dù ông và A.Smith biết rằng lao động tạo ra giá trị là một thứ lao động không kể hình thái của nó( cảm nhận gần đến nhà không biết được)
Khác với A.Smith, D.Ricardo cho rằng quy luật giá trị vẫn hoạt động trong CNTB (đúng), nhưng hoạt động như thế nào,
ông không chứng minh được, vì ông không thể giải quyết được
vấn đề giá cả sản xuất, ông đã đồng nhất hoá giá trị và giá cả sản xuất Ông cũng chưa hiểu được giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện của giá trị D.Ricardo và nói chung các nhà
kinh tế học tư sản chỉ chú ý phân tích mặt lượng giá trị, ít chú ý đến mặt chất và hoàn toàn không phân tích hình thái giá trị Đây là một trong những nhược điểm chủ yếu của kinh tế chính trị cổ điển tư sản, khuyết điểm này là do thiếu quan điểm lịch
sử, xem xét tiền tệ, tư bản là hình thái tự nhiên vĩnh viễn
Jean Baptiste Say(1766-1832)
A.Smith cho rằng lao động tạo ra giá trị và ông đã phân biệt giá trị trao đổi và giá trị sử dụng của hàng hoá D.Ricardo đã đứng vững trên cơ sở lý luận giá trị lao động và xem xét các phạm trù kinh tế dưới ánh sáng lý luận đó