1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu, thiết kế xây dựng hệ thống giám sát vị trí và một vài thông số của ôtô

58 334 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 3,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhưng trên thực tế thanh tra kiểm tra vừa qua bộ giao thông đã tước giấy phép kinh doanh của nhiều đơn vị do thiết bị vận hành không lưuđược dữ liệu, không chiết xuất được dữ liệu cần th

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG

KHOA ĐIỆN - CƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHIỆM VỤ

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP

Họ và tên sinh viên: PHẠM VĂN TÙNG Số hiệu sinh viên: 127510301045

Khóa: 2013 - 2015 Khoa: Điện - Cơ Ngành: Điện Công Nghiệp Và Dân Dụng

1 Tên đề tài:

Nghiên cứu, thiết kế xây dựng hệ thống giám sát vị trí và một vài thông số của

ôtô

2 Các số liệu ban đầu:

3 Nội dung các phần cần thuyết minh và tính toán:

Trang 2

4 Các bản vẽ, đồ thị ( ghi rõ các loại và kích thước bản vẽ ):

5 Họ tên cán bộ hướng dẫn:

6 Ngày giao nhiệm vụ đồ án:

7 Ngày hoàn thành đồ án:

Ngày tháng năm 2015

Trưởng bộ môn

( Ký, ghi rõ họ, tên)

Cán bộ hướng dẫn

( Ký, ghi rõ họ, tên)

Sinh viên đã hoàn thành và nộp đồ án tốt nghiệp ngày… tháng … năm 2015

Người duyệt

( Ký, ghi rõ họ, tên)

Sinh viên

( Ký, ghi rõ họ, tên)

Trang 3

PHẦN NHẬN XÉT TÓM TẮT CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN

1 Tinh thần, thái độ của sinh viên trong quá trình làm đề tài tốt nghiệp

………

………

………

2 Đánh giá chất lượng của Đ.T.T.N (so với nội dung yêu cầu đã đề ra trong nhiệm vụ Đ.T.T.N trên các mặt lý luận thực tiễn, tính toán giá trị sử dụng, chất lượng các bản vẽ )

………

………

………

………

………

………

………

………

………

3 Cho điểm của cán bộ hướng dẫn:

(Điểm ghi bằng số và chữ)

Ngày tháng năm 2015 Cán bộ hướng dẫn chính

(Họ tên và chữ kí)

Trang 4

NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ CỦA NGƯỜI CHẤM PHẢN BIỆN

ĐỀ TÀI TỐT NGHIỆP

1 Đánh giá chất lượng của đề tài tốt nghiệp về các mặt thu thập và phân tích

số liệu ban đầu, cơ sở lý luận chọn phương án tối ưu, cách tính toán chất lượng thuyết minh và bản vẽ, giá trị lý luận và thực tiễn đề tài

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

2 Cho điểm cán bộ chấm phản biện

(Điểm ghi bằng số và chữ)

Ngày tháng năm 2015

Người chấm phản biện

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Em xin cam đoan bản đồ án tốt nghiệp: “Nghiên cứu, thiết kế xây dựng

hệ thống giám sát vị trí và một vài thông số của ôtô” do em tự trình bày dưới

sự hướng dẫn của thầy giáo TS Nguyễn Trọng Thắng, Trường Đại Học DânLập Hải Phòng với các số liệu, hình vẽ và kết quả là hoàn toàn đúng với thực tế

Để hoàn thành đồ án này em chỉ sử dụng những tài liệu được ghi trongdanh mục tài liệu tham khảo và không sao chép hay sử dụng bất kỳ tài liệu nàokhác Nếu phát hiện ra có sự sao chép em xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

Hải phòng, ngày … tháng … năm 2015

Sinh viên thực hiện

Phạm Văn Tùng

Trang 6

LỜI CẢM ƠN

Với lòng biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn thầy TS NguyễnTrọng Thắng – người đã tận tình hướng dẫn, động viên và giúp đỡ em hoànthành đồ án tốt nghiệp này

Em cũng tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến quý Thầy, Cô đã dạy em trong thờigian học tại trường Đại Học Hải Phòng, cảm ơn quý Thầy, Cô của khoa Điện –

Cơ trường Đại Học Hải Phòng, Thầy Nguyễn Trọng Thắng – trường Đại họcDân lập Hải Phòng đã tạo điều kiện thuận lợi nhất cho em hoàn thành đồ án này

Em xin gửi lời cảm ơn đến các anh, chị, các bạn trong lớp liên thông Điệncông nghiệp và dân dụng khóa LT K4 – những người đã giúp đỡ em trong quátrình thực hiền đề tài

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 9

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ THIẾT BỊ GIÁM SÁT HÀNH TRÌNH 11

1.Khái quát chung 11

1.2 Các loại thiết bị giám sát 11

1.3 Quản lý Thiết bị giám sát và Thẻ truy cập 14

1.4 Quản lý dữ liệu 15

1.5 Khái niệm về thiết bị giám sát hành trình 16

1.6 Giới hạn của thiết bị giám sát hành trình 16

CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT CHUNG 20

2.1 Giới thiệu chung về GPS 20

2.2 Giới thiệu chung về GPRS 27

2.3 Giới thiệu chung về lập trình socket 29

2.4 Giới thiệu chung về Map API 30

CHƯƠNG III: XÂY DỰNG HỆ THỐNG GIÁM SÁT HÀNH TRÌNH 32

3.1 Tổng quan về hệ thống 32

3.1.1 Mục đích 32

3.1.2 Mô hình tổng quan của hệ thống 32

3.1.3 Nguyên lý hoạt động 33

3.1.4 Phạm vi 33

3.1.5 Tính bảo mật 33

3.1.6 Thiết bị giám sát hành trình 34

3.1.7 Hệ thống phần mềm 35

3.1.8 Các bảng dữ liệu trong CSDL 35

3.1.9 Lựa chọn công nghệ 36

3.2 THIẾT BỊ GIÁM SÁT HÀNH TRÌNH 36

3.2.1 Thiết bị giám sát hành trình thực tế 36

3.2.2 Sơ đồ mạch của thiết bị Giám sát hành trình BA2 39

3.3 Một số chức năng của thiết bị BA2 52

3.3.1 Chức năng truyền thông thông tin: 53

Trang 8

3.3.2 Chức năng đo tốc độ & cảnh báo tốc độ: 53

3.3.3 Chức năng cảnh báo: 53

3.3.4 Chức năng điều khiển 54

3.3.5 Chức năng phát hiện mức nhiên liệu trong bình chứa: 54

3.3.6 Chức năng phát hiện nhiệt độ: 54

KẾT LUẬN 56

1 CÁC VẤN ĐỀ ĐÃ NGHIÊN CỨU VÀ LÀM ĐƯỢC 56

2 HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA ĐỒ ÁN 56

3 KẾT LUẬN 57

TÀI LIỆU THAM KHẢO 58

Trang 9

LỜI NÓI ĐẦU

Trong thời đại ngày nay, công nghệ phát triển nhanh chóng, công nghệthông tin đã được áp dụng vào mọi ngành nghề, lĩnh vực trong xã hội Đặc biệttrong lĩnh vực giao thông lại càng cần thiết phải ứng dụng công nghệ thông tin,tình trạng tai nạn giao thông đang hàng ngày cướp đi sinh mạng của rất nhiềucon người Tai nạn giao thông (TNGT) là vấn đề xã hội bức xúc gây thiệt hại tolớn về người và tài sản Hàng năm tai nạn giao thông đường bộ (TNGTĐB) làmchết trên 10.000 người và bị thương khoảng 10.000 người Riêng năm 2010,theo báo cáo tham luận của Tổng cục đường bộ Việt Nam (ĐBVN) tại Hội nghịquốc tế báo cáo chiến lược đảm bảo trật tự ATGT đường bộ quốc gia đến năm

2020 và tầm nhìn đến năm 2030 thì cả nước đã xảy ra 13.713 vụ TNGT đường

bộ, làm chết 11.060 người, bị thương 10.306 người Theo ông Khuất Việt Hùng,Quyền Vụ trưởng Vận tải, Bộ Giao thông Vận tải, hiện nay 80% số vụ tai nạngiao thông có nguyên nhân từ những hành vi như: chạy xe quá tốc độ, lái xetrong tình trạng sức khỏe không đảm bảo như mệt mỏi, buồn ngủ, có sử dụngchất kích thích Chính vì vậy mà BGTVT đã quy định rõ tại điều 12 nghị định số91/2009/NĐ-CP ngày 21 tháng 10 năm 2009 về kinh doanh và điều kiện kinhdoanh vận tải bằng xe ô tô là bắt buộc phải lắp đặt thiết bị giám sát hành trình đểkiểm soát tốc độ, hành trình của xe giúp giảm thiểu tan nạn giao thông (1) Từngày 01/07/2013, xe buýt, xe khách, xe hợp đồng và xe container không có thiết

bị giám sát hành trình thì chủ xe sẽ bị phạt từ 2 đến 3 triệu đồng Doanh nghiệp

có 20% số phương tiện chạy quá tốc độ sẽ bị tước giấy phép kinh doanh 1 TheoBGTVT tới nay đã có 53 doanh nghiệp được cấp phép sản xuất là lắp đặt thiết bịgiám sát hành trình Nhưng trên thực tế thanh tra kiểm tra vừa qua bộ giao thông

đã tước giấy phép kinh doanh của nhiều đơn vị do thiết bị vận hành không lưuđược dữ liệu, không chiết xuất được dữ liệu cần thiết từ thiết bị, thiết bị hay bịmất kết nối,… Chính vì những hạn chế này, tôi mong muốn nghiên cứu đượcmột thiết bị giám sát có chất lượng tốt để góp phần giám sát các phương tiệntham gia giao thông để giảm thiểu tai nạn giao thông Luận văn này tôi sẽ

Trang 10

nghiên cứu trình bày theo hướng tìm giải pháp để xây dựng một hệ thống hoànchỉnh bao gồm thiết bị giám sát hành trình, phần mềm xử lý tại trung tâm vàphần mềm giám sát trên bản đồ Google.

Trang 11

CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ THIẾT BỊ GIÁM SÁT HÀNH TRÌNH

1 Khái quát chung

Từ ý tưởng của Max Maria von Weber thiết bị giám sát đầu tiên đã đượclắp và sử dụng trên phương tiện giao thông đường sắt vào năm 1835 Năm 1902,một kỹ sư người Đức là Otto Schulze đã đăng ký bằng sáng chế cho loại thiết bịghi tốc độ dựa trên hiệu ứng của dòng điện Phu-cô Thiết bị này được sử dụngtrên các xe của hãng ô tô E Seignol ở Frankfurt/Main năm 1908 Sự phát triển

có tính đột phá phải kể tới loại thiết bị của hãng Kienzle do kỹ sư Paul Rieggerthiết kế vào thập niên 20 của thế kỷ trước Đây chính là thiết bị khởi tổ của loạithiết bị theo dõi hành trình có kết cấu như một chiếc đồng hồ “Autorex –Uhr”được lắp trên các xe ô tô sau này Thiết bị Kienzle cho phép ghi lại hành trìnhvận hành xe dưới dạng đồ thị Quãng đường - Thời gian Ở Đức, việc bắt buộccác xe kinh doanh vận tải có khối lượng toàn bộ trên 7,5 tấn phải trang bị “Thiết

bị giám sát” đã được quy định trong Luật An toàn Giao thông công bố ngày 12-1952 Hiện nay, việc trang bị Thiết bị giám sát đã được quy định bắt buộccho tất cả các loại xe tải có khối lượng toàn bộ từ 3,5 tấn và xe khách trên 9 chỗngồi kinh doanh vận tải Từ năm 1985, theo Quy định EEC 3821/85 thì việctrang bị Thiết bị giám sát đã trở thành yêu cầu bắt buộc đối với tất cả các nướcthành viên thuộc Liên hiệp châu Âu (EU) Tuy nhiên, cũng theo quy định trên,một số loại xe dưới đây không bắt buộc phải trang bị Thiết bị giám sát:

19 Xe chở khách theo tuyến có chiều dài tuyến không lớn hơn 50 km;

- Xe có vận tốc lớn nhất không lớn hơn 40 km/h;

- Xe vận chuyển vì mục đích nhân đạo, xe cứu thương, xe cứu hộ, xe cứuhỏa;

- Xe phục vụ mục đích an ninh, quốc phòng;

- Xe chạy thử phục vụ nghiên cứu, phát triển mẫu xe mới

1.2 Các loại thiết bị giám sát

Thiết bị giám sát có 2 loại chính là thiết bị giám sát cơ khí và thiết bị giámsát điện tử

Trang 12

-Thiết bị giám sát cơ khí

Thiết bị giám sát cơ khí có kết cấu giống như một chiếc đồng hồ.Bộ phậnchính của loại thiết bị này gồm một tấm giấy hình tròn (đĩa giấy) có thể quaytheo trục đồng hồ thời gian, một đầu ghi có khả năng dịch chuyển trong phạm viđĩa giấy; Độ dịch chuyển của đầu ghi tùy thuộc vào tốc độ chạy xe Khi đĩa giấyquay hết một vòng thì tương đương với một khoảng thời gian là 24 giờ Việckiểm chuẩn và niêm phong đối với thiết bị này được thực hiện 2 năm một lần.Ngoài ra, khi có sự thay đổi về cỡ lốp hoặc tiến hành sửa chữa các bộ phận khác

có liên quan tới thông số đầu vào của thiết bị thì đều phải kiểm chuẩn lạiNhược điểm cơ bản của loại thiết bị này dễ bị làm sai lệch các thông tin hiển thị

so với thực tế Một số cách thức làm sai lệch kết quả ghi hay được lái xe ápdụng như: làm cong thanh gắn đầu ghi hoặc đặt một vật mềm cản trở khả năngdịch chuyển của đầu ghi nhằm giảm bớt tốc độ ghi trên giấy; làm sai lệch điện ápcấp cho đồng hồ để thay đổi về thời gian; tráo đổi đĩa giấy khác Ngoài ra, việclưu trữ, tra cứu dữ liệu chạy xe khi cần thiết cũng rất khó khăn và tốn nhiều thờigian

-Thiết bị giám sát điện tử

Ngày nay, trên hầu hết các xe lưu hành ở châu Âu đều lắp Thiết bị giámsát điện tử Với loại thiết bị này, về cơ bản đã loại trừ được các nhược điểm nêu

ở trên của loại Thiết bị giám sát cơ khí Ngoài ra, để chống việc làm sai lệchthông số hiện thị bằng các thiết bị tạo xung tự chế (như với xe Taxi ở Việt Nam)người ta đã mã hóa tín hiệu xung lấy từ hộp số Ngày nay hệ thống GLONASSvẫn được Cộng hoà Nga tiếp tục duy trì hoạt động Hệ thống GLONASS bao gồm

30 vệ tinh chuyển động trong ba mặt phẳng quỹ đạo (nghiêng 64.8 độ so với mặtphẳng xích đạo) xung quanh trái đất với bán kính 25.510 km (Yasuda, 2001)

Theo Quy định EEC 561/2006 có hiệu lực thi hành từ ngày 1-5-2006 thìtất cả các xe thuộc đối tượng phải trang bị Thiết bị giám sát, khi đăng ký lưuhành mới đều phải lắp loại Thiết bị giám sát điện tử; Loại thiết bị này phải cókhả năng lưu trữ được thông tin của tối thiểu 365 ngày và cho phép kết xuất dữliệu theo yêu cầu quản lý Các thông tin chính được lưu trữ trong Thiết bị giám

Trang 13

sát gồm: Ngày sản xuất của thiết bị và của đầu cảm biến tốc độ; Số khung/sốnhận dạng (VIN) của xe ô tô; Các bộ phận an toàn; Các sự cố đặc biệt như: quá

số vòng quay, các lần làm sửa đổi số liệu; Thống kê các lỗi trong thiết bị hoặctrong thẻ truy cập cấp cho lái xe; Nhận dạng người lái và việc vận hành xe củangười lái (thời gian lái, nghỉ, dừng ); Tốc độ chạy xe; Quãng đường chạy xe;Thông tin về cơ sở sửa chữa và các lần hiệu chỉnh thiết bị; Thông tin về các lần

bị kiểm tra, kết xuất dữ liệu Một số yêu cầu chính về kỹ thuật đối với Thiết bịgiám sát như:

+ Có thể chỉnh đặt được giờ theo giờ gốc quốc tế;

+ Việc tự chỉnh lại thời gian chỉ cho phép tối đa là 1 phút/mỗi tuần.Trường hợp cần điều chính lớn hơn mức trên thì phải đưa tới Cơ sở hiệu chỉnhđược Cơ quan có thẩm quyền đánh giá công nhận;

+ Độ sai lệch cho phép của thiết bị khi kiểm tra trên băng thử như sau:

- Quãng đường hiển thị so với quãng đường thử thực tế không lớn hơn 1%nhưng không được vượt quá 1 km

- Tốc độ hiển thị so với tốc độ thực tế không lớn hơn 3 km/h;

- Thời gian hiển thị so với thời gian thực tế không lớn hơn 2 phút/ngàynhưng không quá 10 phút cho 7 ngày (1 tuần)

+ Độ sai lệch cho phép của thiết bị sau khi đã được lắp lên xe như sau:

- Quãng đường hiển thị so với quãng đường thử thực tế không lớn hơn 2%nhưng không được vượt quá 1 km;

- Tốc độ hiển thị so với tốc độ thực tế không lớn hơn 4 km/h;

- Thời gian hiển thị so với thời gian thực tế không lớn hơn 2 phút/ngàynhưng không quá 10 phút cho 7 ngày (1 tuần) - Độ sai lệch cho phép của thiết

bị khi xe đưa vào khai thác sử dụng như sau:

- Quãng đường hiển thị so với quãng đường thử thực tế không lớn hơn 4

% nhưng không được vượt quá 1 km; o Tốc độ hiển thị so với tốc độ thực tếkhông lớn hơn 6 km/h;

- Thời gian hiển thị so với thời gian thực tế không lớn hơn 2 phút/ngàynhưng không quá 10 phút cho 7 ngày (1 tuần)

Trang 14

Ngoài các yêu cầu được quy định trong các văn bản pháp quy, các thiết bịgiám sát điện tử thường có thêm một số tính năng phụ trợ như: cảnh báo thờigian lái cho phép (ví dụ không quá 4 giờ), cảnh báo tốc độ (ví dụ không quá 80km/h), có sẵn cổng dự phòng dùng cho việc kết nối với các thiết bị theo dõi,giám sát khác theo yêu cầu quản lý riêng của từng doanh nghiệp vận tải

1.3 Quản lý Thiết bị giám sát và Thẻ truy cập

Do thiết bị giám sát đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong việc đảmbảo an toàn khi xe lưu hành và liên quan tới nhiều tổ chức cá nhân nên ở cácnước thuộc EU việc quản lý thiết bị này được thực hiện rất chặt chẽ, đồng bộ

Tất cả các loại Thiết bị giám sát khi đưa vào lắp trên xe đều phải được Cơquan đăng kiểm kiểm tra, chứng nhận, cấp mã số đăng ký kỹ thuật Các nộidung kiểm tra cụ thể là:

- Kiểm tra, chứng nhận cho kiểu loại Thiết bị (khi chưa lắp lên xe) ;

- Kiểm tra sự tương thích giữa xe, đầu cảm biến đo quãng đường và thiết

bị khi lắp đặt lên xe;

- Kiểm tra định kỳ tình trạng kỹ thuật của Thiết bị giám sát lắp trên xe(thường được thực hiện luôn khi xe vào kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệmôi trường)

Nhiều loại xe sản xuất lắp ráp mới đã được nhà sản xuất xe lắp sẵn Thiết

bị giám sát theo thiết kế được Cơ quan Đăng kiểm kiểm tra, chứng nhận để cungcấp cho các doanh nghiệp kinh doanh vận tải

Bên cạnh việc quản lý kỹ thuật đối với Thiết bị giám sát, Cơ quan đăngkiểm còn có nhiệm vụ tổ chức việc cấp phát và quản lý các loại thẻ truy cậpThiết bị giám sát Cách quản lý thẻ có một số nét tương tự như thẻ ATM đangđược sử dụng rộng rãi trong hệ thống ngân hàng ở nước ta Thẻ truy cập Thiết bịgiám sát là loại thẻ nhựa gắn chíp điện tử Thẻ có 4 loại để cấp cho 4 đối tượngkhác nhau liên quan trực tiếp tới việc sử dụng, quản lý thiết bị Mỗi đối tượng sửdụng thẻ chỉ được phép truy cập trong phạm vi phân cấp nhất định như sau:

- Thẻ cấp cho người lái

- Thẻ cấp cho cơ sở sửa chữa thiết bị

Trang 15

- Thẻ cấp cho doanh nghiệp

- Thẻ cấp cho kiểm soát viên

1.4 Quản lý dữ liệu

Theo Quy định 3821/85 và 6561/2006 của Ủy ban kinh tế châu Âu,doanh nghiệp có xe hoặc chịu trách nhiệm về pháp luật đối với việc khai thác sửdụng các xe phải có trách nhiệm lưu trữ, bảo quản các dữ liệu có trong Thiết bịgiám sát và cung cấp các dự liệu này khi có yêu cầu của cơ quan có thẩm quyềnnhà nước Việc kết xuất, lưu trữ bảo quản dữ liệu của doanh nghiệp như sau:

- Sau mỗi khoảng thời gian không quá 28 ngày phải thực hiện việc kếtxuất đối với dữ liệu trong Thẻ cấp cho lái xe

- Sau mỗi khoảng thời gian không quá 3 tháng phải thực hiện việc kếtxuất đối với dữ liệu có trong Thiết bị giám sát lắp đặt trên xe;

- Các dữ liệu kết xuất từ Thiết bị giám sát và Thẻ cấp cho lái xe phải đượclưu trữ tại Doanh nghiệp trong thời hạn tối thiểu là 1 năm

- Đối với các đĩa giấy sử dụng trên các Thiết bị giám sát cơ khí lắp đặttrước đây phải lưu trữ trong thời hạn tối thiểu là 1 năm; Riêng đối với các đốitượng lái xe chịu sự điều chỉnh bởi các quy định của Luật Lao động là 2 năm

Doanh nghiệp có thể bị ra tòa nếu vi phạm một trong số các điều khoảnnêu trên; ngoài ra, cũng phải liên đới chịu trách nhiệm đối với các vi phạm củalái xe do mình thuê, mướn, quản lý

Trách nhiệm lưu trữ dữ liệu đối với cơ sở sửa chữa hiệu chỉnh Thiết bịgiám sát cũng được quy định cụ thể Khi thay thế, sửa chữa Thiết bị giám sát thì

cơ sở sửa chữa phải có trách nhiệm kết xuất và lưu trữ dữ liệu có trong Thiết bịtrong thời hạn tối thiểu là 2 năm và cung cấp các dữ liệu này khi có yêu cầu củaDoanh nghiệp vận tải (chủ xe) hoặc cơ quan có thẩm quyền

Tại Việt Nam đã có một số hệ thống triển khai như:

- Công ty TNHH phát triển công nghệ điện tử Bình An Địa chỉ: P314,B8, Thanh Xuân Bắc, Quận Thanh Xuân, Hà Nội

- Công ty TNHH thương mại điện tử Vĩnh Hiên (VECOM) Địa chỉ: Số

12, đường Bàu Cát, P13, Quận Tân Bình, TP Hồ Chí Minh

Trang 16

- Công ty TNHH viễn thông TIT Địa chỉ: Số 59/27/1 Trần Phú, Quận 5,

TP Hồ Chí Minh

1.5 Khái niệm về thiết bị giám sát hành trình

Hộp đen ô tô hay còn gọi là hộp đen GPS( thiết bị giám sát hành trình),thiết bị định vị ô tô, hay thiết bị giám sát hành trình Thiết bị này có kích thướckhoảng 4 x10cm được thiết kế chắc chắn, có vỏ bằng kim loại chống va đập vàchống sốc, phù hợp với điều kiện nhiệt độ cao khoảng 70 - 80 độ C, phù hợptrong điều kiện thời thiết khắc nghiệt Hộp đen GPS cho ôtô được gắn bên trong

xe, nó kết nối với hệ thống server quản lý online qua SMS/GPRS/GPS giúpngười dùng có thể quản lý phương tiện của mình thông qua máy tính hoặc điệnthoại có kết nối Internet Mọi thông số về vị trí, tốc độ, quãng đường di chuyển,điểm dừng đỗ, đóng mở cửa, nhiên liệu… đều được hiện thị trên màn hình máytính của người quản lý 24/24h, mọi lúc, mọi nơi trên thế giới Mọi thông tin dữliệu của phương tiện đều được lưu trữ trên máy chủ server, và bên trong hộp đentrong thời gian 3 – 6 tháng gần nhất

1.6 Giới hạn của thiết bị giám sát hành trình

- Hệ thống GPS

+ Phần vũ trụ: hay cón gọi là bộ phận không gian là một hệ thống gồm

nhiều vệ tinh bay chung quanh trái đất theo các quỹ đạo khác nhau được điềukhiển bởi bộ phận điều khiển

Gồm 24 vệ tinh quay xung quanh trái đất 2 lần trong ngày quỷ đạo rất chínhxác Độ cao của vệ tinh so với mặt đất là 20.183 km chu kỳ quy xung quanh tráiđát là 11 giờ 57`58″

Phần vũ trụ sẽ đảm bảo cho bất kỳ vị trí nào trên trái dất đều có thể quansát đươc 4 vệ tinh ở góc độ 15 độ (Nếu góc ở ngưỡng 10 độ thì có thể quan sátđược 10 vệ tinh và ở góc ngưỡng 5 độ có thể quan sát được 12 vệ tinh)

Trang 17

Nhiệm vụ chủ yếu của vệ tinh :

– Ghi nhận và lưu trữ các thông tin truyền đi từ phần điều khiển

– Sử dụng dữ liệu có chọn lọc trên vệ tinh

– Duy trì chính xác độ cao của thời gian bằng các đồng hồ nguyên tử.– Chuyển tiếp thông tin đến người dùng

– Thay đổi quỹ đạo bay của vệ tinh theo sự điều khiển của mặt đất

+Phần điều khiển

Là một hệ thống các thiết bị đặt tại nhiều nơi khác nhau trên mặt đất được

sử dụng để giám sát và điều khiển các vệ tinh

Gồm một trạm điều khiển chính, 5 trạm thu số liệu, 3 trạm truyền số liệu

 Trạm diều khiển chính đặt tại Colorade Spring (Mỹ) có nhiệm vụ thuthập các dữ liệu theo dõi vệ tinh từ các trạm thu số liệu để xử lý Công nghệ

xử lý gồm : Tính lịch thiên văn, tính và hiệu chỉnh đồng hồ, hiệu chỉnh quỹ đạođiều khiển, thay thế các vệ tinh ngừng hoạt động bằng các vệ tinh dự phòng

Trang 18

 5 trạm thu dữ liệu được đặt tại Hawai, Collrade Sping , Ascesion ( BanĐại Tây Dương), Diago Garia ( Ấn Độ Dương), Kwayalien ( Nam Thái BìnhDương) Có nhiệm vụ theo dõi các tín hiệu vệ tinh để kiểm soát và dự đoán quỹđạo của chúng Mỗi trạm được trang bị những máy thu P-code để thu các tínhiệu của vệ tinh, sau đó truyền về trạm điều khiển chính.

 3 trạm truyền số liệu đặt tại Ascensionm Diago Garia , Kwayalein cókhả năng chuyển số liệu lên vệ tinh gồm lịch thiên văn mới, hiệu chỉnh đồng hồ,các thông điệp cần phát các lệnh điều khiển từ xa

- Hệ thống giám sát các thông số khác

+ Tốc độ xe chạy

Đối với thiết bị giám sát hành trình hiện nay sẽ thế hiện được vận tốc thực

tế khi xe chạy và vận tốc được đo qua GPS Thời gian cập nhật vôn tốc củaphýõng tiện được tính bằng giây

Mục đích của tính năng này nhằm theo dõi được vận tốc di chuyển của xe

và đưa ra các cảnh báo khi xe chạy vượt quá tốc độ cho phép

+ Hành trình xe chạy

Hành trình xe chạy sẽ được cập nhật trực tuyến trên wedsite của công ty

và phân bố cho các acount người dùng để quản lý Khi xe bắt đầu hành trìnhthiết bị được gắn trên các phương tiện sẽ đồng thời gửi các thông số về sever

Hành trình của xe sẽ được lưu trữ lại trên sever một thời gian để chongười dùng có thể xem trực tiếp hoặc truy xuất các dữ liệu cũ của phương tiện

+ Số lần và thời gian dừng đỗ

Trang 19

Số lần và thời gian dừng đỗ sẽ được thiết bị ghi nhận lại khi xe dừng , tất

cả các điểm dừng đỗ của xe đều được phần mềm ghi nhận lại và hiển thị trongcác báo cáo Thời gian dừng đỗ bao lâu , trong hành trình xe chạy dùng đỗ baonhiêu lần

+ Số lần đóng mở cửa của xe

Mục đích của tinh năng này nhằm quản lý số lần đóng mở cửa của xe,nhất là đối với xe khách , theo dõi xe có mở đóng cửa để đón trả khách đúngđiểm quy định

Để thực hiện được tính năng này thì thiết bị sẽ phải lấy tín hiệu trực tiếp

từ công tắc đóng mở cửa của xe

Trang 20

CHƯƠNG II

CƠ SỞ LÝ THUYẾT CHUNG

2.1 Giới thiệu chung về GPS

Hệ thống định vị toàn cầu GPS cung cấp các dịch vụ chính xác cho người

sử dụng ở mọi lúc mọi nơi trên phạm vi toàn cầu Các dịch vụ đó bao gồm:

- Xác định tọa độ

- Dẫn đường

- Cung cấp thời gian chính xác

- Kiểm soát vận tốc Hiện nay có 2 hệ thống GPS phổ biến cùng tồn tại,

đó là hệ thống Glonass-GPS của Nga và hệ thống Navstar-GPS của Mỹ Cả hai

hệ thống này đều cung cấp các dịch vụ dẫn đường có độ chính xác tương đươngnhau Tuy nhiên, hệ thống Glonass-GPS của Nga hiện vẫn chưa hoàn thiện donhững hạn chế về tài chính Hiện nay, hệ thống Navstar-GPS được sử dụng phổbiến trên thế giới Hệ thống này do hải quân Mỹ thiết lập từ năm 1978 Ban đầu

hệ thống này chủ yếu phục vụ các nhu cầu định vị, dẫn đường trong quân sự của

Mỹ Đến năm 1980 hệ thống đã được sử dụng cho các lĩnh vực dân sự ở ViệtNam đã áp dụng hệ thống định vị Navstar-GPS của Mỹ trên một số các lĩnh vực:hàng hải, địa chính, cá nhân,…

Lịch sử phát triển GPS

+Những năm 1920: Đã ra đời hệ thống dẫn đường vô tuyến

+ầu Đại chiến thế giới thứ 2: LORAN là hệ thống dẫn đường áp dụngphương pháp đo độ lệch thời gian của tín hiệu sóng vô tuyến, do Phòng thínghiệm Bức xạ Đại học MIT (MIT Radiation Laboratory) LORAN cũng là hệthống định vị trong mọi điều kiện thời tiết thực sự đầu tiên, nhưng hai chiều (vĩ

Trang 21

+1959: TRANSIT, hệ thống dẫn đường dựa trên vệ tinh hoạt động đầutiên, do Phòng thí nghiệm vật lý ứng dụng Johns Hopkins phát triển dưới sự chỉđạo của TS Richard Kirschner Mặc dù khởi đầu Transit được chế tạo để hỗ trợcho đội tàu ngầm của Mỹ nhưng những công nghệ này đã được phát triển có íchtrở thành Hệ thống định vị toàn cầu Vệ tinh Transit đầu tiên được phóng lên vũtrụ vào năm 1959

+1960: Hệ thống dẫn đường đo hiệu thời gian ba chiều (kinh độ, vị độ và

độ cao longitude, latitude and altitude) đầu tiên do Raytheon Corporation đềxuất theo yêu cầu của Air Force để làm hệ thống dẫn đường sẽ được sử dụng với(with a proposed ICBM) có thể đạt tới độ lưu động bằng chạy trên một hệ thốngđường ray Hệ thống dẫn đường được trình bày là MOSAIC (Mobile System forAccurate ICBM Control) Ý tưởng này bị hỏng khi chương trình MobileMinuteman bị hủy bỏ vào năm 1961

+ 1963 Tổng công ty Aerospace Corporation thực hiện nghiên cứu về hệthống không gian làm cơ sở cho hệ thống dẫn đường cho phương tiện chuyểnđộng nhanh theo ba chiều không gian Việc nghiên cứu này trực tiếp dẫn tới kháiniệm về hệ thống định vị toàn cầu Khái niệm liên quan đến việc đo thời gian tớicủa tín hiệu sóng vô tuyến được phát đi từ vệ tinh có vị trí chính xác đã biết Đothời gian sẽ cho khoảng cách tới vị trí vệ tinh đã biết và lần lượt có thể xác địnhđược vị trí của người sử dụng

+1963 Air Force bắt đầu hỗ trợ nghiên cứu của Aerospace, chỉ địnhnghiên cứu này bằng Dự án Hệ thống 621B Khoảng năm 1972, chương trìnhnày đã biểu diễn hoạt động của một loại tín hiệu xác định khoảng cách vệ tinhmới dựa trên tiếng ồn ngẫu nhiên giả tạo (PRN, pseudo random noise)

+1964 Timation, hệ thống vệ tinh hải quân, được phát triển dưới sự chỉđạo của Roger Easton ở Phòng nghiên cứu Hải quan (Naval Research Lab,NRL) để cải thiện đồng hồ có tính ổn định cao, khả năng truyền thời gian, vàdẫn đường 2 chiều Hoạt động của Timation theo tiêu chuẩn thời gian chuẩn vũtrụ đã cung cấp cơ sở quan trọng cho hệ thống định vị toàn cầu Vệ tinhTimation đầu tiên được phóng lên vũ trụ vào tháng 5 năm 1967

Trang 22

+1968 Bộ Quốc phòng Mỹ (DoD, Department of Defence, USA) thànhlập một ủy ban gọi là Ủy ban Thực hiện Vệ tinh Dẫn đường (NAVSEC,Navigation Satellite Executive Committee) để phối hợp nỗ lực của các nhómdẫn đường vệ tinh (Transit của Hải quân, Chương trình Trang 17 Timation, vàSECOR của Quân đội, hay còn gọi là Hệ thống đồng tương quan khoảng cáchchuỗi (Sequential Correlation of Range System) NAVSEC ký hợp đồng một sốnghiên cứu để làm sáng tỏ khái niệm dẫn đường vệ tinh cơ bản Những nghiêncứu này về một số vấn đề chính xung quanh khái niệm như lựa chọn tần số sóngmang (dải L đối lập với dải C), thiết kế cấu trúc tín hiệu, và lựa chọn định hìnhquỹ đạo vệ tinh

+1969-1972 NAVSEC quản lý các thảo luận khái niệm giữa các nhómdẫn đường vệ tinh khác nhau APL Hải quân ủng hộ nhóm Transit mở rộng,trong khi NRL Hải quân ủng hộ cho Timation mở rộng, còn Air Force thì ủng hộcho “chòm sao đồng bộ mở rộng”, tức dự án „Hệ thống 621B‟

+Tháng 4 năm 1973 Thứ trưởng Bộ Quốc phòng quyết định thiết lập mộtchương trình hợp tác ba dịch vụ để thống nhất những khái niệm khác nhau vềđịnh vị và dẫn đường thành một hệ thống Bộ quốc phòng hỗn hợp gọi là Hệthống vệ tinh dẫn đường quốc phòng (Defense Navigation Satellite System) AirForce được chỉ định làm người quản lý (điều hành) chương trình Hệ thống mớiđược phát triển qua văn phòng chương trình kết hợp (joint program office), với

sự tham gia của tất cả quân chủng quốc phòng Đại tá Brad Parkinson được chỉđịnh làm người chỉ đạo văn phòng chương trình kết hợp và được đặt trọng tráchphát triển kết hợp khái niệm ban đầu về hệ thống dẫn đường dựa trên không gian(space-based navigation system)

+Tháng 8 năm 1973 Hệ thống đầu tiên được trình bày tới Hội đồng Thunhận và Thẩm định Hệ thống Quốc phòng (Defense System Acquisition andReview Council, DSARC) bị từ chối thông qua Hệ thống được trình lênDSARC được gói gọn trong Hệ thống 621B của Air Fore và không đại diện chochương trình kết hợp Mặc dù có người ủng hộ ý tưởng của hệ thống dẫn đườngdựa trên vệ tinh mới nhưng Văn phòng Chương trình Kết hợp đã được thúc đẩy

Trang 23

khẩn trương tổng quát hóa khái niệm bao gồm xem xét và yêu cầu tất cả cácbinh chủng quốc phòng

+17/12/1973 Một khái niệm mới được trình tới DSARC và được thôngqua để thực hiện và cấp kinh phí là hệ thống NAVSTAR GPS, đánh dấu khởiđầu công nhận khái niệm (ý tưởng) (Giai đoạn I của chương trình GPS) Kháiniệm mới thực sự là một hệ thống dàn xếp (thỏa hiệp – compromise system) doĐại tá Parkinson thương lượng đã kết hợp tốt nhất giữa tất cả những khái niệm

và công nghệ dẫn đường vệ Trang 18 tinh có sẵn Cấu hình hệ thống được thôngqua bao gồm 24 vệ tinh chuyển động trong những quỹ đạo nghiêng chu kỳ 12giờ đồng hồ

+Tháng 6 năm 1974 Hãng Rockwell International được chọn làm nhàcung cấp vệ tinh cho chương trình GPS Ngày 14 tháng 7 năm 1974 Vệ tinhNAVSTAR đầu tiên được phóng lên vũ trụ Vệ tinh này được chỉ định là Vệ tinhCông nghệ Dẫn đường (NTS) số 1, về cơ bản đây là vệ tịnh Timation tân tranglại do NRL đóng Vệ tinh thứ hai (là vệ tinh cuối cùng) của nhóm NTS đượcphóng vào năm 1977 Những vệ tinh này được sử dụng cho việc đề xuất đánhgiá khái niệm (ý tưởng) và thực hiện những đồng hồ nguyên tử đầu tiên đã đượcphóng vào trong không gian (vũ trụ)

+1977 Thực hiện kiểm tra thiết bị người sử dụng ở Yuma, Arizona

+22/2/1978 Vệ tinh Block I đầu tiên được phóng Toàn bộ 11 vệ tinhBlock I được phóng trong khoảng thời gian 1978 và 1985 trên Atlas-Centaur.Những vệ tinh Block I do Rockwell International xây dựng được coi là những vệtinh mẫu phát triển được dùng để kiểm tra hệ thống Bị mất một vệ tinh dophóng trượt

+ 26/4/1980 Phóng vệ tinh GPS đầu tiên thực hiện những bộ cảm ứng Hệthống phát hiện tiếng nổ hạt nhân hoạt động tổng hợp (Integrated OperationalNucluear Detonation Detection System (IONDS) sensors)

+ 1982 Bộ Quốc phòng thông qua quyết định giảm số vệ tinh của chòm vệtinh GPS từ 24 xuống 18 tiếp theo sau tái cấu tạo lại chương trình chính doQuyết định 1979 của Văn phòng Thư ký Bộ Quốc phòng gây ra để cắt giảm kinh

Trang 24

phí 500 triệu đô la (khoảng 30%) từ ngân sách cho giai đoạn năm tài chínhFY81-FY86

+ 14/7/1983 Phóng vệ tinh GPS đầu tiên thực hiện hệ thống dò tìm tiếng

nổ hạt nhân (NDS) mới hơn

+ 16/9/1983 Theo (the Soviet downing of Korean Air flight 007), tổngthống Reagan hứa cho GPS được sử dụng cho các máy bay dân dụng hoàn toànmiễn phí khi hệ thống đưa vào sử dụng Sự kiện này đánh dấu sự bắt đầu lan tỏacông nghệ GPS từ quân sự sang dân sự

+ Tháng tư 1985 Hợp đồng thiết bị người sử dụng chính đầu tiên được giaocho JPO Hợp đồng bao gồm việc nghiên cứu, phát triển cũng như lựa chọn sảnxuất các máy thu GPS dùng cho máy bay, tàu thủy và máy thu xách tay (gọn nhẹ)

+ 1987 Bộ Quốc phòng chính thức yêu cầu Bộ Giao thông (Department ofTrang 19 Transport, DoT) có trách nhiệm thiết lập và cung cấp một văn phòngđáp ứng nhu cầu người sử dụng dân sự về thông tin GPS, dữ liệu và hỗ trợ kỹthuật Tháng 2 năm 1989, Coast Guard có trách nhiệm làm đại lý hướng dẫnDịch vụ GPS Dân sự (civil GPS service)

+1984 Khảo sát trở thành một thị trường GPS thương mại đầu bảng đượcnâng cánh! Để bù cho số vệ tinh giới hạn có sẵn trong quá trình phát triển chòm

vệ tinh, các nhà khảo sát đã chuyển qua số kỹ thuật nâng cao độ chính xác baogồm kĩ thuật GPS Vi phân (DGPS) và kỹ thuật truy theo pha sóng mang (carrierphase tracking)

+ 3/1988 Thư ký Air Force thông báo về việc mở rộng chòm GPS tới 21

vệ tinh cộng thêm 3 vệ tinh dự phòng

+ 14/2/1989 Vệ tinh đầu tiên của các vệ tinh Block II đã được phóng từCape Canaveral AFT, Florida, trên dàn phóng Delta II (Delta II booster) Phithuyền con thoi (Space Shuttle) làm bệ phóng theo kế hoạch cho các vệ tinhBlock II được Rockwell Intenational đóng Tiếp theo tai nạn Challenger 1986,Văn phòng Chương trình Kết hợp (JPO) xem xét lại và đã sử dụng Delta II làm

bệ phóng vệ tinh GPS SA (Selective Availabity) và AS (Anti-spoofing

Trang 25

+ 21/6/1989 Hãng Martine Marietta (sau khi mua xong General ElectricAstro Space Division vào năm 1992) được thắng hợp đồng xây dựng 20 vệ tinh

bổ sung (Block IIR) Chiếc vệ tinh Block IIR đầu tiên sẵng sàng để phóng vàocuối năm 1996

+ 1990 Hãng Trimble Navigation, nhà sản xuất bán máy thu GPS hàngđầu thế giới được thành lập năm 1978 hoàn thành loạt sản phẩm ban đầu

+ 25/3/1990 DoD theo Kế hoạch Dẫn đường Vô tuyến Liên bang, lần đầutiên khởi động (kích hoạt) SA (Selective Availability) làm giảm độ chính xácdẫn đường GPS có chủ định

+ 8/1990 SA được tắt đi trong chiến tranh vịnh Ba tư (Persian Gulf War).Những yếu tố đóng góp vào quyết định tắt SA bao gồm việc phủ sóng ba chiều

có giới hạn được chòm NAVSTAR cung cấp trong quỹ đạo vào thời gian đó và

sớ máy thu mã số chính xác (Precision (P)-code) trong bản kiểm kê của DoD.DoD đã mua hàng nghìn máy thu GPS dân dụng ngay sau đó không lâu đã dùngcho lực lượng liên minh trong cuộc chiến tranh

+ 1990-1991 GPS được các lực lượng liên minh dùng lần đầu tiên trongđiều kiện chiến tranh trong Chiến tranh Vịnh Ba Tư Sử dụng GPS cho Bão SaMạc Hoạt Động (Operation Desert Storm) chúng minh là cách sử Trang 20 dụngchiến thuật thành công đầu tiên của công nghệ không gian trong giới hạn thiết tríhoạt động

+29/8/1991 SA được kích hoạt lại sau Chiến tranh Vịnh Ba Tư

+1/7/1991 Mỹ đã cho phép cộng đồng thế giới sử dụng dịch vụ định vịtiêu chuẩn (SPS) GPS bắt đầu từ năm 1993 trên cơ sở liên tục và miễn phí trongvòng ít nhất 10 năm Lời đề nghị này được thông báo trong Hội nghị Dẫn đườngHàng không lần thứ 10 (the 10th Air Navigation Conference) của Tổ chức Hàngkhông Dân dụng Quốc tế (ICAO, International Civil Aviation Organization)

+5/9/1991 Mỹ mở rộng lời đề nghị 1991 vào Hội nghị thường niên ICAObằng cách cho phép thế giới sử dụng SPS trong tương lai, việc này phụ thuộcvào việc có đủ vốn, cung cấp dịch vụ này tối thiểu 6 năm có thông báo trước vềviệc chấm dứt hoạt động GPS hoặc xóa bỏ SPS

Trang 26

+8/12/1992 Bộ Trưởng Bộ Quốc phòng chính thức thông báo Khả nănghoạt động đầu tiên của GPS, có nghĩa là 24 vệ tinh trên quỹ đạo hệ thống GPSkhông còn là hệ thống đang triển khai nữa mà GPS đã có khả năng duy trì độchính xác ở mức độ sai số 100 mét và có sẵn trên toàn cầu liên tục cho người sửdụng SPS nhưđã hứa

+17/2/1994 Người quản trị FAA David Hinson thông báo GPS là một hệthống dẫn đường đầu tiên đã được thông qua để sử dựng làm phương tiện hỗ trợdẫn đường độc lập cho tất cả các phương tiện bay thông qua tiếp cận khôngchính xác (nonprecision approach)

+ 6/6/1994 Người quản trị FAA David Hinson thông báo ngừng phát triển

Hệ thống Hạ cánh Vi sóng (MLS) cho việc hạ cánh Loại II và III

+11/1994 Hãng Orbital Sciences, một nhà sản xuất tên lửa và vệ tinh hàngđầu thế giới đồng ý mua hãng Magellen Corp., một nhà sản xuất máy thu GPScầm tay ở California bằng trao đổi chứng khoán trị giá 60 triệu đô la Mỹ, manglại cho Orbital tiến gần tới mục tiêu trở thành công ty viễn thông hai chiều dựavào vệ tinh

+8/6/1994 Người quản trị FAA David Hinson thông báo thực hiện Hêthống Gia tăng Vùng rộng (WAAS, Wide Area Augmentation System) nhằmmục đích cải thiện tính hợp nhất GPS và tăng tính sẵn có cho người sử dụng dân

sự trên tất cả các phương tiện bay Giá chương trình theo dự tính mất 400-500triệu đô la Mỹ Chương trình này được lập kế hoạch thực hiện vào khoảng năm1997

+ 11/10/1994 Ủy ban hành động dẫn đường định vị Bộ Giao thông (theDepartment of Transportation Positioning / Navigation Executive Trang 21Committee) được thành lập để cung cấp diễn đàn qua đại lý nhằm thực hiệnchính sách GPS

+14/10/1994 Người quản trị FAA David Hinson nhắc lại lời đề nghị(US‟s offer) làm GPS-SPS có sẵn trong tương lai, dựa trên cơ sở liên tục vàtoàn cầu miễn phí cho người sử dụng trực tiếp trong thư gửi cho ICAO

Trang 27

+ 16/3/1995 Tổng thống Bil Clinton tái khẳng định rằng Mỹ cung cấp tínhiệu GPS cho cộng đồng người sử dụng dân dụng thế giới trong thư gửi

 Một số thông số cơ bản của hệ thống GPS

- Số lượng vệ tinh: 27 trong đó có 3 vệ tinh dự phòng

- Phương pháp khóa pha tín hiệu: Sử dụng các bộ đồng bộ

- Hiệu chỉnh thời gian hệ thống so với UTC: UTC (USNO)

- Nội dung lịch vệ tinh: 152 bít

- Khoảng thời gian phát lịch vệ tinh: 12,5 phút

- Phương pháp truy nhập tín hiệu vệ tinh: Truy nhập theo mã

2.2 Giới thiệu chung về GPRS

Ý tưởng của GPRS được thảo luận năm 1992 và đến năm 1997 được pháthành thành chuẩn Chuẩn này chứa tất cả các chức năng chính của GPRS, baogồm việc truyền dẫn điểm - điểm của số liệu người sử dụng, tương tác với mạngInternet và X.25, truyền dẫn SMS nhanh sử dụng các giao thức GPRS, cộngthêm vào đó là các chức năng về bảo mật, tập hợp các công cụ tính cước cơ bản.Một năm sau chuẩn này được bổ sung về truyền dẫn điểm - đa điểm (PTM), các

Trang 28

dịch vụ bổ sung và thêm vào đó là các chức năng tương tác với mạng bên ngoàinhư ISDN và tương tác modem…

Công nghệ GPRS cung cấp các dịch vụ số liệu trên mạng GSM, khả năngthoại của mạng không thay đổi Với mạng GSM sử dụng công nghệ TDMAvàFDMA với một TS dùng cho một kênh thông tin người sử dụng, trong khi đó,mạng GPRS khi truyền dữ liệu có thể sử dụng một TS hay có thể kết hợp nhiều

TS đồng thời cùng một lúc, bằng cách đó tốc độ truyền số liệu của GPRS có thểlên tới 171.2 kbps (về lý thuyết) khi sử dụng cả 8 TS của kênh vô tuyến cùngmột lúc Do đó tốc độ truyền dữ liệu của GPRS được nâng cao

GPRS cung cấp dịch vụ truy cập vô tuyến gói cho các MS của GSM vàchức năng định tuyến chuyển mạch gói trong mạng GSM thế hệ 2.5G Côngnghệ chuyển mạch gói được đưa ra để tối ưu việc truyền số liệu dạng cụm và tạođiều kiện cho một dung lượng truyền tải dữ liệu lớn

Đối với người sử dụng thì ưu điểm quan trọng nhất của GPRS là việc tínhcước dựa vào lưu lượng truyền tải, khi đó họ không phải trả cước cho dunglượng truyền dẫn không sử dụng đến Vì trong thời gian rỗi phổ tín hiệu đượcdành cho những người sử dụng khác một cách hiệu quả hơn

Các dịch vụ chủ yếu cho các ứng dụng với các đặc tính lưu lượng củatruyền tải tuần hoàn với khối lượng truyền dẫn nhỏ và truyền tải không tuầnhoàn với khối lượng truyền dẫn có kích cỡ nhỏ và trung bình Điều này tạo khảnăng cho hệ thống có thể phục vụ các dịch vụ và các ứng dụng mới Sự truyềntải một lượng lớn dữ liệu vẫn sẽ được duy trì qua các kênh chuyển mạch theomạch, để tránh ảnh hưởng cho phổ vô tuyến gói Các ứng dụng của GPRS có thểtiến hành từ các thiết bị truyền thông tin như một máy tính xách tay PC (thưđiện

tử, truyền dẫn file, hiển thị trang web), đến các ứng dụng đặc biệt khác cho việctruyền tải dữ liệu dung lượng thấp (nhưđo lường, điều khiển từ xa…)

Dịch vụ GPRS có thể cũng được dùng với các gói giao thức chuẩn Giaodiện giữa tập giao thức GPRS và các giao thức ứng dụng dựa trên giao thứcđiểm - điểm (PPP) hoặc vài bộ điều khiển được sử dụng chung

Trang 29

GPRS là một phương thức truyền số liệu gói trên nền mạng GSM đã cósẵn, vì vậy người ta đã thiết kế ba dạng máy cơ bản đó là: GPRS nhóm A GPRSnhóm B, GPRS nhóm C.

Nhóm A: Với nhóm A thì MS có thể kết nối đồng thời với cả dịch vụ sốliệu GPRS và dịch vụ GSM, có nghĩa là cùng một lúc máy Mobile có thể vừakết nối với truyền số liệu và thoại

Nhóm B: Khi đó MS có thể kích hoạt cả dịch vụ GPRS và dịch vụ GSM,nhưng chỉ có một dịch vụ được thực hiện tại một thời điểm, có nghĩa là vớinhóm B máy di động có thể nhận hay thực hiện cuộc gọi thoại trong khi đangkết nối truyền số liệu GPRS Nhưng trong lúc thoại thì tạm dừng truyền số liệuGPRS và đến khi thoại kết thúc dịch vụ truyền số liệu GPRS được tiếp tục mộtcách tự động

Nhóm C: Máy di động có khả năng dùng cả truyền số liệu GPRS và dịch

vụ thoại nhưng phải thực hiện bằng tay, có nghĩa là người sử dụng có khả năngdùng cả dịch vụ truyền số liệu (GPRS) và thoại Nhưng khi muốn chuyển từthoại sang số liệu GPRS hoặc ngược lại thì phải thực hiện bằng tay máy không

Ở đây số khe được kích hoạt xác định số lượng TS mà thiết bị GPRS cóthể dùng đồng thời cho cả hai đường lên và xuống là một ví dụ cụ thể cho sốlượng TS trong GPRS kiểu 3, ở đây sử dụng 3 TS cho đường xuống và 1 TS chođường lên

2.3 Giới thiệu chung về lập trình socket

Socket là một giao diện lập trình ứng dụng (API-Application ProgrammingInterface) Nó được giới thiệu lần đầu tiên trong ấn bản UNIX - BSD 4.2 dưới

Ngày đăng: 22/05/2016, 21:53

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1 Mô hình tổng quan - Nghiên cứu, thiết kế xây dựng hệ thống giám sát vị trí và một vài thông số của ôtô
Hình 3.1 Mô hình tổng quan (Trang 32)
3.2.2. Sơ đồ mạch của thiết bị Giám sát hành trình BA2 - Nghiên cứu, thiết kế xây dựng hệ thống giám sát vị trí và một vài thông số của ôtô
3.2.2. Sơ đồ mạch của thiết bị Giám sát hành trình BA2 (Trang 39)
Hình 3.4 : Hình ảnh thưc tế của Atmega1280 16AU - Nghiên cứu, thiết kế xây dựng hệ thống giám sát vị trí và một vài thông số của ôtô
Hình 3.4 Hình ảnh thưc tế của Atmega1280 16AU (Trang 41)
Sơ đồ khối : - Nghiên cứu, thiết kế xây dựng hệ thống giám sát vị trí và một vài thông số của ôtô
Sơ đồ kh ối : (Trang 42)
Sơ đồ chân Atmega 1280 16AU  : - Nghiên cứu, thiết kế xây dựng hệ thống giám sát vị trí và một vài thông số của ôtô
Sơ đồ ch ân Atmega 1280 16AU : (Trang 44)
Hình 3.6 : Sơ đồ chân ATmega1280 16AU - Nghiên cứu, thiết kế xây dựng hệ thống giám sát vị trí và một vài thông số của ôtô
Hình 3.6 Sơ đồ chân ATmega1280 16AU (Trang 44)
Hình 3.7 : Ds1307 trong thực tế - Nghiên cứu, thiết kế xây dựng hệ thống giám sát vị trí và một vài thông số của ôtô
Hình 3.7 Ds1307 trong thực tế (Trang 46)
Hình 3.9 : Sơ đồ chân IC mã 232 - Nghiên cứu, thiết kế xây dựng hệ thống giám sát vị trí và một vài thông số của ôtô
Hình 3.9 Sơ đồ chân IC mã 232 (Trang 47)
Hình 3.11 : Mạch nguyên lý Module GPS - Nghiên cứu, thiết kế xây dựng hệ thống giám sát vị trí và một vài thông số của ôtô
Hình 3.11 Mạch nguyên lý Module GPS (Trang 49)
Hình 3.14 : Sơ đồ mạch nguồn. - Nghiên cứu, thiết kế xây dựng hệ thống giám sát vị trí và một vài thông số của ôtô
Hình 3.14 Sơ đồ mạch nguồn (Trang 52)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w