1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIÊN CỨU VỀ TÁC ĐỘNG CỦA LỘ TRÌNH GIẢM LÃI SUẤT CỦA NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

62 284 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý thuyết chung về lãi suất: - Các quan điểm về lãi suất: • Karl Marx: “lãi suất là một phần của giá trị thặng dư mà nhà tư bản sản xuất phải trả cho nhà tư bản tiền tệ vì việc đã sử dụn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

ĐỀ TÀI:

NGHIÊN CỨU VỀ TÁC ĐỘNG CỦA LỘ TRÌNH GIẢM LÃI SUẤT

CỦA NHNN ĐỐI VỚI CÁC NHTM VIỆT NAM

GIAI ĐOẠN 2012-2014

GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: PHAN THỊ THU HÀNHÓM NGHIÊN CỨU: 54-CFRS LỚP TCDN 54A

HÀ NỘI 3-2014

Chương 1: Các vấn đề lí luận về tác động của lãi suất huy động với

lãi suất cho vay của các NHTM

Trang 2

I. Một số khá niệm liên quan

1. Lý thuyết chung về lãi suất:

- Các quan điểm về lãi suất:

• Karl Marx: “lãi suất là một phần của giá trị thặng dư mà nhà

tư bản sản xuất phải trả cho nhà tư bản tiền tệ vì việc đã sử dụng vốn trong một khoảng thời gian nhất định.”

• Các nhà kinh tế học về lượng cầ tài sản: “lãi suất là cơ sở để xác định chi phí cơ hội của việc nắm giữ tiền.”

• Ngân hàng thế giới: “lãi suất là tỉ lệ phần trăm của tiền lãi so với tiền vốn:”

• Các nhà kinh tế học hiện đại: “lãi suất là giá cả cho vay, là chi phí về việc sử dụng vốn và những dịch vụ tài chính khác”

 Lãi suất hiểu theo một nghĩa chung nhất là giá cả của tín dụng – giá cả của mối quan hệ vay mượn hoặc cho thuê những dịch vụ về vốn dưới hình thức tiền tệ hoặc các dạng thức tài sản khác nhau Khi đến hạn, người đi vay sẽ phải trả cho người cho vay một khoảntiền dôi ra ngoài số tiền vốn gọi là tiền lãi Tỷ lệ phần trăm của số tiền lãi trên số tiền vốn gọi là lãi suất

- Một số thuật ngữ về lãi suất:

• Lãi suất danh nghĩa (Nominal Interest Rate): là lãi suất được

sử dụng trong quan hệ vay mượn

• Lãi suất thực tế (Real Interest Rate) là chi phí thực tế mà người đi vay phải bỏ ra để có được vốn vay

Sự khác biệt giữa LS thực tế và LS danh nghĩa đến từ lạm phát (Inflation)

Ir = (In – π)/(1+π) hay xấp xỉ Ir = In - π

• Lãi suất công bố hàng năm APR (Annual Percentage Rate)

là mức LS được tính theo %/năm của một khoản vay nợ Tuy nhiên, khi kì ghép lãi không phải là 1 năm 1 lần thì thước đo phù hợp cho khoản vay là LS hiệu quả EAR (Effective Annual Rate)

Trang 3

Kỳ ghép lãi được hiểu là sau bao nhiêu lâu tiền lãi được ghép vào gốc một lần để tính thành tiền gốc cho kì lãi tiếp theo.

EAR = (1 + APR/m)n.m

• LS huy động hoặc LS nhận gửi (bid rate) là LS đầu vào, áp dụng đối với lãi mà các định chế tài chính phải trả cho các khoản tiền gửi của khách hàng

• LS cho vay (ask rate): là LS mà khách hàng phải trả khi vaytiền của định chế nhận gửi

• Căn cứ theo thời gian cho vay có LS ngắn hạn (1 năm trở xuống), LS trung hạn (1-5 năm), LS dài hạn (trên 5 năm) và

LS không kì hạn áp dụng đối với tiền gửi không kì hạn

• LS liên ngân hàng: là lãi suất mà các định chế nhận gửi cho vay lẫn nhau trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng

• LS tái chiết khấu: là LS mà NHTW áp dụng cho các định chế nhận gửi khi họ vay tiền từ cửa sổ chiết khấu của NHTW

• LS tái cấp vốn: là một biến tướng của LS tái chiết khấu tại VIệt Nam, theo đó NHNN cho các tổ chức tín dụng vay tiềnthông qua việc tái cấp vốn các hợp đồng tín dụng đã kí kết

- Một số cách phân loại LS:

• Theo nội dung hoạt động của ngân hàng:

Lãi suất nhận gửi: lãi suất ngân hàng trả cho các khoản tiền gửi vào ngân hàng

Lãi suất cho vay: lãi suất mà người đi vay phải trả cho ngân hàng (là người cho vay)

Lãi suất chiết khấu: lãi suất ngân hàng cho vay dưới hình thức chiết khấu thương phiếu hoặc giấy tờ có giá khác chưa đến hạn thanh toán của khách hàng

Trang 4

Lãi suất liên ngân hàng: lãi suất mà các ngân hàng áp dụng khi cho nhau vay trên thị trường liên ngân hàng

• Theo thời hạn: Dựa vào tiêu thức thời gian ,mỗi nước phân loại lãi suất có khác nhau

Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) phân chia lãi suất ra làm hai loại: 1)lãi suất ngắn

hạn được áp dụng cho những khoản vay có thời hạn từ 12 năm trở lại, 2) lãi suất dài

hạn được áp dụng cho những khoản vay trên 12 tháng

Ở một số nước có nền kinh tế phát triển ,như Hoa Kỳ thường phân chia lãi

suất ngắn hạn từ một năm trở xuống và lẫi suất dài hạn có thời gian trên một năm

Nhưng ở nứơc ta lãi suất theo độ dài thời gian gồm 3 loại:+Ngắn han: từ 12 tháng trở xuống

+Trung han: Trên 12 tháng đến 5 năm+Dài hạn :Trên 5 năm

• Phân loại theo loại tiền

Theo tiêu thức này,lãi suất được chi làm hai loại:

+Lãi suất nội tệ: Đây là lãi suất được tình trên cơ sở đồng tiền của

quốcgia sử dụng, được áp dụng trong khuôn khổ cho vay hoặc đi vay bằng đồng tiền củaquốc gia đó.Ví dụ ở Việt Nam lãi suất được tính trên

cơ sở VND là lãi suất nội tệ tại

Việt Nam Ở Nhật lãi suất được tính trên đồng Yên là lãi suất nội tệ của Nhật

Trang 5

+Lãi suất ngoại tệ: Đây là loại lãi suất được tính trên cơ sở những đồng tiềncủa nước ngoài được thực hiện khi vay hoặc cho va y bằng ngoại tệ.Ví dụ ở việt namđược tính trên cơ sở USD là lãi suất ngoại tệ tại Việt Nam Ở Hoa Kỳ lãi suất đượctính trên cơ sở đồng EURO là lãi suẩt ngoại tệ tại Hoa Kỳ.

• Phân loại theo phương pháp tính lãi

Phân loại theo tiêu thức này là cách phân loại mà mọi người thườn quan tâmđể quyết định vay hoặc cho vay với loại lãi suất nào và ở mức độ baonhiêu.Theotiêu thức này,thường có hai loại:

+Lãi suẩt đơn:là lãi suất chỉ được xác định trên số vốn gốc ban đầu

màkhông tính thêm tiền lãi tích lũy kỳ trước,tức là không ghép lãi vào vốn.Lãi suất đơnthường là lãi suất danh nghĩa,lãi suất ghi trên hợp đồng tín dụng

Công thức: L = V0 i nTrong đó:

V0: Vốn gốci: lãi suất

n: số thời kỳ gửi vốnThời kỳ gửi vốn phải tương đương với thời kỳ của lãi suất.+Lãi suất ghép:lãi suất này được hình thành bởi sự gép lãi đơn trong thờikỳvào vốn để tính lãi trong thời kỳ kế tiếp theo và có thể tiếp tục mãi

Khi hoàn trả tiền vay ,người đi vay trả Công thức tính lãi theo lãi ghép:

V = V0 x (1 + i)n

Trong đó:

Trang 6

V: số tiền thu được theo lãi gộp sau n kỳ.

V0: Số tiền gốc ban đầu I: LS của 1 đơn vị tiền tệ+LS hoàn vốn: Là lãi suất làm cân bằng giá trị hiện tại của tiền thu nhập nhận được trong tương lai từ một khoản đầu tư với giá trị hôm nay của khoản đầu tư đó Ví dụ: 1/1/2010: Khách hàng A mua 1 trái phiếu mệnh giá 1000đ với giá mua là 800đ, thời hạn 2 năm

Giá trị hiện tại của khoản đầu tư là 800đ

Tiền thu nhập nhận được trong tương lai (1/1/2012) là 1000đ

Lãi suất hoàn vốn là i

- Trần lãi suất huy động:

• là LS huy động cao nhất mà ngân hàng hay các tổ chức tín dụng áp dụng

Trang 7

Có thể thấy rõ ràng rằng nếu thực hiện tự do lãi suất tất yếu dẫn đến chạy đua lãi suất huy động tiền gửi, chạy đua khuyến mại diễn ra khốc liệt giữa các tổ chức tín dụng (TCTD) để tranh giành các nguồn tiền gửi Điều đó thật khó nói trước được lãi suất cho vay của các TCTD

sẽ cao đến mức nào, nếu không có "cái phanh" lãi suất trần

• Về việc áp dụng trần lãi suất ở nước ta hiện nay?

Theo những người phản bác chuyện bỏ trần lãi suất huy động, việc tái cơ cấu hệ thống ngân hàng chưa được giải quyết dứt điểm, các ngân hàng yếu kém (chủ yếu là ngân hàng nhỏ) vẫn còn tồn tại, chưa được mua bán sáp nhập, thị trường chưa lập lại cân bằng Trong bối cảnh đó, nếu những ngân hàng nhỏ, yếu kém này huy động vốn bằng cách nâng lãi suất đầu vào cao hơn mặt bằng sẽ dễ làm tái diễn tình trạng cạnh tranh không lành mạnh, giành giật khách hàng gửi tiền, thị trường xáo trộn như trước đây

Tuy nhiên, thực tế đã cho thấy dù có trần lãi suất vẫn xảy ra tình trạng cạnh tranh không lành mạnh Vụ Huyền Như với bầu Kiên liên quan đến các khoản tiền gửi hưởng lãi suất cao là một ví dụ điển hình cho cơn sóng ngầm ngay bên dưới trần lãi suất huy động

Nói cách khác, dù có cố gắng duy trì trần lãi suất thì nó cũng sẽ chẳng có tác dụng nhiều, ngoài việc tạo ra những động thái đối phó lách luật “đầy sáng tạo”, đi kèm với những phí tổn liên quan đến những động thái này

Thứ hai, nếu đã thừa nhận việc tái cơ cấu hệ thống ngân hàng chưaxong là (một trong những) nguyên nhân khiến cho các ngân hàng yếu phải nâng lãi suất thì cũng có nghĩa là đã thừa nhận rằng việc chênh lệchlãi suất là điều hiển nhiên Như vậy chuyện đòi giữ trần lãi suất là một điều phi lý

Trang 8

Thứ ba, ngân hàng nhỏ (đặc biệt là kèm thêm “yếu kém”) thường

“thấp cổ bé họng” hơn những ngân hàng lớn trên nhiều mặt Để cạnh tranh, đương nhiên là họ phải chào lãi suất tiền gửi cao hơn các ngân hàng lớn - một nguyên tắc cơ bản trong kinh tế thị trường Vậy nếu vẫn duy trì trần lãi suất thì đâu có khác gì chặn con đường sống của các ngânhàng này?

Thứ tư, và liên quan đến điểm thứ ba ở trên, cho dù có thanh lọc các ngân hàng nhỏ, yếu kém (bằng cách tái cơ cấu, cho phá sản, sáp nhập ) để còn lại các ngân hàng khỏe thì tình trạng cạnh tranh huy độngvốn bằng lãi suất chỉ có thể dẹp bỏ khi thanh khoản trong hệ thống dồi dào, khi đó các ngân hàng thậm chí còn phải đua nhau hạ lãi suất huy động, như đang xảy ra hiện nay Ngược lại, khi thanh khoản khan hiếm hơn thì ngay cả các ngân hàng khỏe nhất cũng có lúc vẫn cần phải chủ động tạo ra cuộc đua lãi suất, cuốn các ngân hàng khác theo cuộc đua

Mà tình trạng thanh khoản khan hiếm không phải là hiện tượng ít xảy ra

Điều đó có nghĩa là nâng lãi suất (từ đó gây ra cuộc đua lãi suất) không chỉ là “thủ đoạn” của các ngân hàng nhỏ, yếu và không chỉ xảy ra

ở các ngân hàng này Do đó, dù có dẹp hết những ngân hàng nhỏ, yếu thìvẫn có khả năng xảy ra những cuộc đua lãi suất mới Trong bối cảnh không còn lý do chính để duy trì trần lãi suất như vậy, nếu cứ khăng khăng giữ trần lãi suất thì đó là hành động can thiệp thô bạo vào thị trường

Thứ năm, đã là ngân hàng nhỏ thì dù họ có nâng lãi suất huy động cao hơn mặt bằng lãi suất chung, tác động của việc nâng lãi suất này lên mặt bằng lãi suất chung này là không đáng kể Nên hành động này khó

Trang 9

có thể là ngòi nổ cho cuộc đua lãi suất, nếu các ngân hàng lớn không có vấn đề gì về thanh khoản.

2.2.Một số lý thuyết liên quan:

• Hiệu ứng Fisher: mô tả mối quan hệ giữa lạm phát và hai loại lãi suất là lãi suất thực và lãi suất danh nghĩa: khi tỉ lệ lạm phát tăng lên thì tỉ lệ lãi suất danh nghĩa cũng tăng lên cùng một tỉ lệ (và ngược lại), trong khi đó tỉ lệ lãi suất thực

tế không thay đổi

Lãi suất danh nghĩa = Lãi suất thực tế + tỉ lệ lạm phát

Ví dụ, nếu ngân hàng trả cho khoản tiền tiết kiệm mà bạn gửi trong một năm với lãi suất danh nghĩa là 8%, và tỉ lệ lạm phát trong thời gian đó là 6% thì lãi suất thực tế mà bạn nhận được sẽ chỉ là 2% Như vậy, khi mà

tỉ lệ lạm phát giảm 1% thì lãi suất danh nghĩa cũng giảm 1%, mối tương quan môt-một giữa tỉ lệ lạm phát với lãi suất danh nghĩa được gọi là hiệuứng Fisher

Bên cạnh đó, lãi suất thực có tác động điều chỉnh mức tiêu dùng : một sựtăng lãi suất làm giảm sức hấp dẫn trong việc chi tiêu hiện tại hơn là chi tiêu trong tương lai của cá nhân và công ty Khi lãi suất thực tăng lên, đối với hộ gia đình sẽ giảm nhu cầu mua sắm nhà ở hoặc các hàng tiêu dùng lâu bền do chi phí tín dụng để mua sắm các hàng hóa này tăng lên Cùng với lái suất cho vay, lãi suất tiền gửi thực cũng tăng lên.sự gia tănglãi suất này tác động tới quyết định tiêu dùng của khu vực hộ gia đình theo hướng giảm tiêu dùng cho hiện tại và tăng tiết kiệm để cho tiêu dùng trong tương lai

• Quy tắc Taylor (Taylor rule) là quy tắc của chính sách tiền

tệ, quy định ngân hàng trung ương nên thay đổi lãi suất danhnghĩa ra sao để đáp ứng các thay đổi của lạm phát, GDP hoặc các điều kiện kinh tế khác Theo đó, quy tắc nói rằng nếu lạm phát tăng thêm 1% thì ngân hàng trung ương nên tăng lãi suất danh nghĩa thêm hơn 1%

Trang 10

Quy tắc lần đầu tiên được đưa ra bởi nhà kinh tế học Mỹ John B Taylor năm 1993.

Lãi suất danh nghĩa nên gắn với độ sai khác giữa tỷ lệ lạm phát mong muốn và tỷ lệ lạm phát thực tế, cũng như nên gắn với độ sai khác giữa GDP "tiềm năng" và GDP thực tế theo công thức sau:

Trong đó là lãi suất danh nghĩa ngắn hạn mà ngân hàng trung ương sẽ hướng tới, là tỷ lệ lạm phát thực tế, là tỷ lệ lạm phát mà ngân hàng trung ương mong muốn, là lãi suất thực tế cân bằng, là logarit của GDP thực tế và là Logarit của GDP tiềm năng, được xác định bằng xuhướng tuyến tính

Đôi lúc, các mục tiêu của CSTT có thể mâu thuẫn với nhau, ví dụ lạm phát vượt lạm phát mục tiêu trong khi sản lượng lại dưới mức sản lượng tiềm năng Trong trường hợp đó, quy tắc Taylor cung cấp chỉ dẫn cho các nhà hoạch định chính sách cách cân bằng các mục tiêu này qua việc thiết lập một mức lãi suất phù hợp Mức lãi suất phù hợp này thường được xem là “mức lãi suất trung hòa” Tuy nhiên, các nhà kinh tế học đãchỉ ra rằng việc xác định và tính toán mức lãi suất trung hòa này gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là sự không chắc chắn về mặt số liệu và mô hình Bên cạnh đó, có nhiều cách khác nhau trong việc xác định mức lãi suất trung hòa do các phương pháp tính và mức lãi suất trung hòa còn phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế Mặt khác, một mức lãi suất trung hòa có thể còn khiến tình trạng mâu thuẫn giữa các mục tiêu này kéo dàihơn mức cần thiết

3. Lãi suất cho vay:

- Khái niệm: LS cho vay là lãi suất mà người đi vay của ngân hàng căn cứ vào đó để trả lãi vay cho ngân hàng Trong công bố lãi suất ,lãi suất cho vay thường đứng sau lãi suất đi vay của ngân hàng

- Trần lãi suất cho vay: là mức lãi suất cao nhất mà ngân hàng hay TCTD áp dụng đối với các khoản vay nợ của người đi vay

Trang 11

Những quyết sách áp dụng trần lãi suất cho vay nhằm phát huy tác dụng tích cực cả đối với doanh nghiệp, nền kinh tế, cũng như đối với hệ thống ngân hàng, nổi bật là giảm nợ xấu; tăng số doanh nghiệp đăng ký mới và quay trở lại hoạt động; cải thiện và lành mạnh hơn mặt bằng lãi suất chung và cơ cấu tín dụng theo mục tiêu của quản lý nhà nước, niềm tin về kiểm soát lạm phát được củng cố hơn Vốn khả dụng bằng VNĐ của các TCTD khá ổn định,

dư thừa so với yêu cầu dự trữ bắt buộc và nhu cầu thanh toán Nhu cầu vay vốn qua nghiệp vụ thị trường mở giảm dần Nhờ đó, mặt bằng lãi suất có sự cải thiện đáng kể

- Lãi suất cho vay phải tuân thủ theo bất phương trình: L1 < L2 < L3 < L4 (với L1 là mức lạm phát, L2 là lãi suất huy động, L3 là lãisuất cho vay, L4 là tỷ suất lợi nhuận bình quân xã hội trong cùng

kỳ hạn lãi suất) Trong một vài thời điểm, mối quan hệ trên có thể

bị phá vỡ tạm thời, nhưng nếu nó bị phá vỡ trong 1 thời gian dài thì đó là dấu hiệu không tốt cho hệ thống ngân hàng và chắc chắn dòng vốn đang không được lưu thông một cách tự do và hiệu quả

- Lãi suất cho vay với khả năng sinh lời của doanh nghiệp:

Trong quan hệ tín dụng giữa DN và Ngân hàng, lãi suất cho vay phản ánh giá cả của đồng vốn mà người sử dụng vốn là các DN phải trả cho người cho vay là các NHTM Đối với các DN, lãi suất cho vay hình thành nên chi phí vốn và là chi phí đầu vào của quá trình SXKD Do đó, mọi sự biến động về lãi suất cho vay trên thị trường cũng đều ảnh hưởngtrực tiếp đến hiệu quả SXKD hay nói cách khác là tác động trực tiếp đếnlợi nhuận của DN và qua đó điều chỉnh các hành vi của họ các hoạt độngkinh tế Khi lãi suất cho vay của NHTM tăng sẽ đẩy chi phí đầu vào và giá thành sản phẩm tăng lên, làm suy giảm lợi nhuận cũng như khả năng cạnh tranh của DN, gây ra tình trạng thua lỗ, phá sản trong hoạt động SXKD Xu hướng tăng lãi suất Ngân hàng sẽ luôn đi liền với xu hướng cắt giảm, thu hẹp quy mô và phạm vi của các hoạt động SXKD trong nền kinh tế Ngược lại, khi lãi suất Ngân hàng giảm sẽ tạo điều kiện cho

DN giảm chi phí, hạ giá thành, nâng cao hiệu quả kinh doanh và khả

Trang 12

năng cạnh tranh Lãi suất cho vay thấp luôn là động lực khuyến khích các DN mở rộng đầu tư, phát triển các hoạt động SXKD và qua đó kích thích tăng trưởng trong toàn bộ nền kinh tế.

4. Tác động của lãi suất huy động đến lãi suất cho vay:

Lãi suất huy động giảm là cơ sở để hạ lãi suất cho vay

- Như đã biết, lãi suất huy động là chi phí mà các NHTM trả để được sử dụng các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội Khi khoản chi phí này giảm thì lợi nhuận của các ngân hàng sẽ tăng lên, do đó đểthu hút các nhà đầu tư vay vốn, các ngân hàng sẽ giảm lãi suất chovay xuống mà không ảnh hưởng đến lợi ích của ngân hàng

- Mức chênh lệch lãi suất: là mức chênh lệch giữa lãi suất huy động

và lãi suất cho vay của các NHTM Mức chênh lệch này phản ánh lợi nhuận của ngân hàng trong hoạt động tín dụng Mức chênh lệch lãi suất thấp chứng tỏ ngân hàng hoạt động có hiệu quả, góp phần cải thiện các chỉ số kinh tế xã hội, cón mức chênh lệch lãi suất cao chứng tỏ ngân hàng thu được lợi nhuận lớn từ hoạt động tín dụng Song, mức chênh lệch này cao có thể do sức ép xử lý nợ xấu của ngân hàng hay sự cân đối cơ cấu nguồn vốn vào – ra, vốn chết

- Tuy nhiên, thực tế cho thấy, không nên ngộ nhận việc hạ LSHĐ là

tự động sẽ dẫn tới ngay việc hạ LSCV nếu thiếu các quy định đi kèm "neo" mức chênh lệch LSCV với LSHĐ Lợi ích kinh doanh không dễ để các ngân hàng tự nguyện hạ LSCV nếu họ không chịusức ép cả hành chính và tài chính đủ lớn từ trên xuống và từ cạnh tranh thị trường

- Bên cạnh đó, bất kỳ chính sách nào cũng có độ trễ nhất định, vì vậy không phải khi trần lãi suất huy động hạ lãi suất cho vay sẽ giảm ngay mà phải mất khoảng 3 tháng mới có thể điều chỉnh Theo khảo sát, hiện nay tại các NHTM nhà nước, lãi suất huy động ngắn hạn từ 5-5,8%/năm trong khi lãi suất cho vay ngắn hạn

Trang 13

khoảng từ 9-10%/năm, chênh lệch khoảng 4-5%; lãi suất cho vay

kỳ hạn từ 12 tháng trở lên đang được áp dụng ở mức từ

12-13,5%/năm, thậm chí có thể cao hơn tùy vào khách hàng và tùy vào khoản vay

Nhiều NH đang tung ra các gói tín dụng giá rẻ nhưng thực tế ít có

DN đáp ứng được yêu cầu của NH về điều kiện vay vốn; đồng thời

DN cũng không dám vay vì lãi suất “khuyến mại” chỉ áp dụng trong 1 hoặc 3 tháng đầu tiên, sau đó sẽ áp dụng lãi suất theo thị trường (lấy lãi suất huy động cao nhất, cộng thêm biên độ 4-5%)

Vì vậy, sau thời gian ưu đãi, DN có thể chịu lãi suất từ

12-16%/năm tùy vào từng khách hàng và món vay

II. Can thiệp của NHNN đối với hoạt động của các NHTM:

1. Vai trò của NHNN đối với các NHTM:

Ngân hàng nhà nước Việt Nam có vai trò điều hành và kiểm soát đối vớihoạt động của các NHTM và tổ chức tín dụng trong cả nước NHNN banhành các chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ, qua đó sử dụng các công cụ kinh tế để điều chỉnh hoạt động của các NHTM theo hướng tích cực

Các công cụ thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia của NHNN:

- Công cụ tái cấp vốn:

NHNN thực hiện tái cấp vốn cho các NHTM bằng việc thực hiện các biện pháp sau

• Cho vay lại theo sơ đồ tín dụng

• Chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu, các giấy tờ ngắn hạn khác

• Cho vay có đảm bảo bằng cầm cố thương phiếu hoặc các giấy tờ ngắn hạn khác

- Công cụ lãi suất:

NHNN quyết định và công bố lãi suất cơ bản (LS huy động, LS cho vay) và LS tái cấp vốn

Trang 14

- Tỷ giá hối đoái:

Tỷ giá hối đoái của đồng Việt Nam được hình thành trên cơ sở cung cầu ngoại tệ trên thị trường có sự điều tiết của nhà nước

NHNN xác định và công bố tỷ giá hối đoái của đồng Việt Nam

- Dự trữ bắt buộc:

NHNN quy định tỉ lệ dự trữ bắt buộc đối với từng loại hình tổ chức tín dụng và từng loại tiền gửi từ 0-20% trên tổng số dư tiền gửi tại mỗi tổ chức tín dụng trong từng thời kì

- Nghiệp vụ thị trường mở:

NHNN thực hiện nghiệp vụ thị trường mở thông qua việc mua, bán tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi, tín phiếu NHNN và các giấy tờ

có giá ngắn hạn khác trên thị trường tiền tệ

2. Can thiệp trực tiếp về lãi suất của NHNN

- Khái niệm: là việc NHNN đưa ra chính sách quy định việc áp

dụng lãi suất huy động cụ thể trong hoạt động huy động vốn của các NHTM

Theo Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), trên thế giới hiện chỉ còn 2 nước can thiệp trực tiếp vào lãi suất thị trường là Trung Quốc và Việt Nam, hầu hết các nước còn lại đều đã chuyển sang cơ chế điều hành lãi suất gián tiếp Cụ thể, hiện Trung Quốc vẫn áp dụng chínhsách giới hạn trần lãi suất huy động và sàn lãi suất cho vay

Trong khi đó, Việt Nam lại giới hạn trần lãi suất cho vay thông quaLSCB (từ ngày 1/12/2009, LSCB được nâng từ 7% lên 8%, theo

đó, trần lãi suất cho vay được nâng từ 10,5%/năm lên 12%/năm)

- Lý do:

• Lãi suất có tác động điều tiết trực tiếp hoạt động tín dụng của NHTM ( cho vay và huy động vốn), tác động đến lợi nhuận

Trang 15

ngân hàng khi tính toán kết quả kinh doanh, chênh lệch lãi suất đầu ra, đầu vào.

• Lãi suất hình thành trên thị trường liên ngân hàng có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động ngân hàng; là cơ sở để các tổ chức tín dụng (TCTD) tham khảo và xác định các loại lãi suất kinh doanh; là tín hiệu quan trọng để NHTW đưa ra quyết định can thiệp thị trường thông qua các công cụ chính sách tiền tệ và các mức lãi suất như: lãi suất thị trường mở, lãi suất cho vay cầm

cố, lãi suất chiết khấu Nú phản ánh đúng bản chất “giỏ cả” trong quan hệ tín dụng, quan hệ vốn giữa ngân hàng – khách hàng và nền kinh tế

• Lãi suất là công cụ thúc đẩy sự cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại, lãi suất là giá cả của vốn, do vậy thông qua lãi suất các ngân hàng thương mại sẽ tự điều chỉnh hoạt động kinh

doanh trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng của mình mà kết quả cuối cùng là nền kinh tế, các doanh nghiệp, các tầng lớp dân cư đượclợi hơn vì sẽ được hưởng giá rẻ và chất lượng dịch vụ cao

• Lãi suất còn là công cụ để kềm chế lạm phát rất hữu hiệu thông qua chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương Trong trường hợp nền kinh tế có lạm phát, ngân hàng trung ương sẽ sử dụng chính sách thắt chặt tiền tệ, tăng lãi suất để thu hút tiền nhàn rỗi trong lưu thông về, nhằm điều hũa lượng tiền trong lưu thông, cân đối với khối lượng hàng hóa

- Căn cứ:

Căn cứ vào các tín hiệu của thị trường tiền tệ, mà cụ thể là các tín hiệu

về lãi suất cho vay, lãi suất huy động tại các NHTM Trong đó, LS huy

Trang 16

động tăng cao là biểu hiện của sự cạnh tranh về lãi suất nhằm hút vốn của các NHTM, sự cạnh tranh này nếu không được kiểm soát sẽ dẫn đếnnhững mặt tiêu cực về đạo đức kinh doanh Ngoài ra lãi suất huy động tăng cao làm tăng lãi suất cho vay, ảnh hưởng không tốt tới hoạt động của các doanh nghiệp do phải chịu một khoản chi phí vốn vay lớn, ảnh hưởng đến lợi nhuận doanh nghiệp

3. Mục tiêu của chính sách can thiệp về lãi suất:

NHNN thực hiện chính sách tiền tệ liên quan đến quy định lãi suất, trần lãi suất huy động dựa trên cơ sở lạm phát và thực trạng ngành ngân

hàng, qua đó đặt mục tiêu giảm lãi suất huy động nhằm giảm lãi suất chovay để tăng mức sinh lợi của doanh nghiệp

Để thực hiện mục tiêu đó thì bên cạnh chính sách tiền tệ, ngân hàng nhà nước cần phải đồng thời thi hành song song nhiều chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa nhằm hỗ trợ các NHTM trong việc giải quyết nợ xấu, tăng hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng qua quá trình tái

cơ cấu hệ thống,…

4. Các hình thức can thiệp:

NHNN can thiệp trực tiếp đến lãi suất kinh doanh ở các NHTM qua việcban hành các văn bản pháp luật qui định về việc áp dụng lãi suất huy động vốn tại các NHTM

Ngày 12/3/2012, NHNN ban hành thông tư số 05/2012/TT-NHNN nhằmsửa đổi, bổ sung một số điều của thông tư số 30/2011/TT-NHNN quy định lãi suất tối đa đối với tiền gửi bằng đồng Việt Nam của tổ chức, cá nhân tại các tổ chức tín dụng Thông tư qui định lãi suất tối đa đối với tiền gửi có kì hạn, không kì hạn dưới 1 tháng là 5%, lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi có kì hạn từ một tháng trở lên là 13%, riêng quĩ tín dụng nhân dân, cơ sở ấn định mức lãi suất tối đa đối với tền gửi có kì hạn từ 1 tháng trở lên là 13.5%

Cho đến nay, qua nhiều lần sửa đổi và ban hành, gần đây nhất

(17/3/2013), NHNN đã ban hành thông tư số 07/2014/TT-NHNN về

Trang 17

việc qui định lãi suất tiền gửi bằng đồng VIệt Nam của các cá nhân, tổ chức tại các tổ chức tín dụng Theo đó, tổ chức tín dụng, chi nhánh NH nước ngoài áp dụng lãi suất tiền gửi bằng đồng Việt Nam của tổ chức cá nhân không vượt quá mức lãi suất tối đa đối với tiền gửi không kì hạn, tiền gửi có kì hạn dưới 1 tháng, tiền gửi có kì hạn từ 1-6 tháng do thống đốc NHNN Việt Nam quyết định trong từng thời kì và đối với từng loại hình tổ chức tín dụng, tổ chức tín dụng áp dụng lãi suất bằng đồng Việt Nam đối với tiền gửi có kì hạn từ 6 tháng trở lên của tổ chức và cá nhân trên cơ sở cung và cầu vốn của thị trường

5. Các tiêu chí đánh giá sự can thiệp:

Sự can thiệp về lãi suất của NHNN có hiệu quả hay không được thể hiệnqua một số tiêu chí đánh giá:

- Mức chênh lệch giữa lãi suất huy động và lãi suất cho vay: đây là một tiêu chí quan trọng, phản ánh được chính sách lãi suất của NHNN có đi đúng hướng hay không Nếu mức chênh lệch lãi suất

là thấp nghĩa là hệ thồn ngân hàng đang hoạt động có hiệu quả, còn nếu mức chênh lệch lãi suất lớn chứng tỏ chính sách kém hiệu quả, vì với mục tiêu đặt ra là giảm lãi suất huy động để giảm áp lực vốn đối với các doanh nghiệp, nghĩa là người gửi tiền chịu thiệt và phần chịu thiệt đấy sẽ hỗ trợ cho các doanh nghiệp Múc chênh lệch lãi suất cao tức là phần thiệt thòi của người gửi tiền đã không được chuyển hoàn toàn sang doanh nghiệp mà đi vào lợi nhuận của các NHTM

- Tốc độ tăng trưởng tín dụng: tốc độ tăng trưởng tín dụng là một biến kinh tế quan trọng, thể hiện được tốc dộ luân chuyển vốn trong nền kinh tế, có mối quan hệ đối với tốc độ tăng trưởng GDP trong nước

- Khả năng sinh lợi của doanh nghiệp: sự can thiệp của chính sách lãi suất hiện nay của NHNN với mục tiêu nhằm giúp các doanh nghiệp trong nước thoát khỏi tình trạng khó khăn, đẩy mạnh phát

Trang 18

triển kinh tế, mở rộng sản xuất, tạo việc làm, nâng cao chất lượng cuộc sống

Sự can thiệp trực tiếp về lãi suất của ngân hàng nhà nước Việt Nam ngay

từ lúc bắt đầu đến nay đã thu được những thành quả quan trọng, góp phần trong việc ổn định kinh tế vĩ mô của đất nước

Trang 19

Chương 2: Lộ trình giảm lãi suất huy động vốn – chính sách của

NHNN về việc giảm lãi suất huy động của các NHTM

I. Tình Hình Kinh Tế Việt Nam 2013.

Kinh thế thế giới năm 2013 vẫn còn nhiều bất ổn và biến động phức tạp Tăng trưởng kinh tế của các nước thuộc khu vực đồng tiền chung châu Âu, đặc biệt là một số nước thành viên đang chịu ảnh hưởng của nợcông vẫn còn rất mờ nhạt Khủng hoảng tài chính và khủng hoảng nợ công ở châu Âu chưa hoàn toàn chấm dứt Mặc dù có một vài dấu hiệu tích cực cho thấy các hoạt động kinh tế đang phục hồi trở lại sau suy thoái nhưng triển vọng kinh tế toàn cầu nhìn chung chưa vững chắc, nhất

là đối với các nền kinh tế phát triển Việc tạo công ăn việc làm được xem là một thách thức lớn của các nước phát triển Những yếu tố không thuận lợi đó từ thị trường thế giới tiếp tục ảnh hưởng đến kinh tế - xã hộinước ta Ở trong nước, các khó khăn, bất cập chưa được giải quyết gây

áp lực lớn cho sản xuất kinh doanh: Hàng tồn kho ở mức cao, sức mua yếu, tỷ lệ nợ xấu ngân hàng ở mức đáng lo ngại, nhiều doanh nghiệp phải thu hẹp sản xuất, dừng hoạt động hoặc giải thể

Trước tình hình đó, ngay từ đầu năm, Chính phủ đã kịp thời ban hành hai Nghị quyết quan trọng là Nghị quyết số 01/NQ-CP về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế -

xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2013 và Nghị quyết số

02/NQ-CP về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh

doanh, hỗ trợ thị trường, giải quyết nợ xấu

Mục tiêu tổng quát của phát triển kinh tế - xã hội năm 2013 là: “Tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô; lạm phát thấp hơn, tăng trưởng cao hơn năm 2012 Đẩy mạnh thực hiện ba đột phá chiến lược gắn với tái cơ cấu nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng Bảo đảm an sinh xã hội và phúc lợi xã hội Nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế Tăng cường quốc phòng, an ninh và bảođảm ổn định chính trị-xã hội Tạo nền tảng phát triển vững chắc hơn cho những năm tiếp theo”

Trang 20

Trong bối cảnh tình hình trong nước và thế giới còn nhiều khó khăn, thách thức, để thực hiện tốt các mục tiêu và chỉ tiêu chủ yếu của năm, Chính phủđã chỉđạo quyết liệt các ngành, địa phương thực hiện tích cực

và đồng bộ các giải pháp, chủđộng khắc phục khó khăn để từng bước ổn định và phát triển sản xuất kinh doanh Kết quảđạt được trong năm vừa qua thể hiện sự nỗ lực cố gắng rất lớn của cả hệ thống chính trị, của toànquân và toàn dân ta

1. TĂNG TRƯỞNG KINH TỂ

Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2013 ước tính tăng 5,42% so với năm 2012, trong đó quý I tăng 4,76%; quý II tăng 5,00%; quý III tăng 5,54%; quý IV tăng 6,04% Mức tăng trưởng năm nay tuy thấp hơn mục tiêu tăng 5,5% đề ra nhưng cao hơn mức tăng 5,25% của năm

2012 và có tín hiệu phục hồi Trong bối cảnh kinh tế thế giới những năm qua có nhiều bất ổn, sản xuất trong nước gặp khó khăn, lạm phát tăng cao, Chính phủ tập trung chỉđạo quyết liệt các ngành, các cấp thực hiện ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô nên đây là mức tăng hợp lý, khẳng định tính đúng đắn, kịp thời, hiệu quả của các biện pháp, giải pháp được Chính phủ ban hành

Trong mức tăng 5,42% của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm

nghiệp và thủy sản tăng 2,67%, xấp xỉ mức tăng năm trước, đóng góp 0,48 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 5,43%, thấp hơn mức tăng 5,75% của năm trước, đóng góp 2,09 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 6,56%, cao hơn mức tăng 5,9% của năm

2012, đóng góp 2,85 điểm phần trăm

Như vậy mức tăng trưởng năm nay chủ yếu do đóng góp của khu vực dịch vụ, trong đó một số ngành chiếm tỷ trọng lớn có mức tăng khá là:Bán buôn và bán lẻ tăng 6,52%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng

9,91%; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 6,89%

Trang 21

Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, tuy mức tăng của ngành công nghiệp không cao (5,35%) nhưng ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng khá ở mức 7,44% (Năm 2012 tăng 5,80%) đã tác động đến mức tăng GDP chung Ngành xây dựng mặc dù chiếm tỷ trọng không lớn nhưng đạt mức tăng 5,83%, cao hơn nhiều mức tăng 3,25% của năm trước cũng là yếu tố tích cực trong tăng trưởng kinh tế năm nay.

Về cơ cấu trong quy mô nền kinh tế cả năm, khu vực nông, lâm nghiệp

và thủy sản chiếm tỷ trọng 18,4%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 38,3% và khu vực dịch vụ chiếm 43,3% (Năm 2012 các tỷ

trọng tương ứng là: 19,7%; 38,6% và 41,7%)

Xét về góc độ sử dụng GDP năm nay, tiêu dùng cuối cùng tăng 5,36%

so với năm 2012, đóng góp 3,72 điểm phần trăm vào mức tăng chung;tích lũy tài sản tăng 5,45%, đóng góp 1,62 điểm phần trăm; chênh lệchxuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụđóng góp 0,08 điểm phần trăm do xuất siêu

Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước

theo giá so sánh 2010 (Năm trước = 100)

Đơn vị tính: %Năm

2012

Năm 2013

Phân theo khu vực kinh tế

Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 2,68 2,67

Công nghiệp và xây dựng 5,75 5,43

Trang 22

(nguồn tổng cục thống kê năm 2013)

Tình hình hoạt động của doanh nghiệp

Ước tính năm 2013, tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới là

76955 doanh nghiệp, tăng 10,1% so với năm 2012 với tổng vốn đăng ký

là 398,7 nghìn tỷđồng, giảm 14,7% Số doanh nghiệp gặp khó khăn phải giải thể hoặc ngừng hoạt động năm nay là 60737 doanh nghiệp, tăng 11,9% so với năm trước, trong đó số doanh nghiệp đã giải thể là 9818 doanh nghiệp, tăng 4,9%; số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động là 10803 doanh nghiệp, tăng 35,7%; số doanh nghiệp ngừng hoạt động nhưng không đăng ký là 40116 doanh nghiệp, tăng 8,6%

Về hoạt động của các doanh nghiệp Nhà nước, theo kết quảđiều tra tại thời điểm 01/01/2013 cả nước có 3135 doanh nghiệp Nhà nước, bao gồm: 405 doanh nghiệp nông, lâm nghiệp và thủy sản, chiếm 12,9%;

1401 doanh nghiệp công nghiệp và xây dựng, chiếm 44,7% và 1329 doanh nghiệp dịch vụ, chiếm 42,4%

Về lý do ngừng hoạt động, 56,4% số doanh nghiệp trả lời do sản xuất thua lỗ kéo dài, 5,1% trả lời do năng lực quản lý, điều hành hạn chế và 38,5% trả lời do nguyên nhân khác như thiếu vốn sản xuất kinh doanh, không tìm kiếm được thị trường hoặc đang thuộc diện bán hoặc chờ sắp xếp lại

So với năm 2000, số doanh nghiệp nhà nước tại thời điểm 01/01/2013 bằng 54,4%, giảm 2624 doanh nghiệp; tổng doanh thu năm 2012 gấp 6,9

Trang 23

lần năm 2000; tổng lợi nhuận trước thuế gấp 9,4 lần; tổng nộp ngân sáchnhà nước gấp 8,1 lần.

Thị phần cung cấp sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ của các doanh nghiệp nhà nước cho thị trường trong nước chiếm khoảng 32,2%, trong đó thị phần của doanh nghiệp nông, lâm nghiệp và thủy sản là 41,9%; ngành công nghiệp và xây dựng là 30,4% và ngành dịch vụ là 30,5%

Trong tổng số 2893 doanh nghiệp trên, có 1347 doanh nghiệp thuộc đối tượng cổ phần hóa (tính đến 01/01/2013 đã có có 1142 doanh nghiệp đã

cổ phần hóa, chiếm 84,8% và 205 doanh nghiệp đang và chưa cổ phần hóa chiếm 15,2%) và 1546 doanh nghiệp không thuộc đối tượng cổ phầnhóa mà chuyển đổi, sáp nhập hoặc chuyển sang công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên

Qua kết quảđiều tra cho thấy, tỷ suất lợi nhuận/doanh thu của các doanh nghiệp được cổ phần hóa có xu hướng tăng so với thời điểm trước sắp xếp, đổi mới, cổ phần hóa, cụ thể: 39,6% doanh nghiệp có tỷ suất lợi nhuận tăng trên 10%; 36,5% doanh nghiệp tăng dưới 10%; 36,5% doanhnghiệp không tăng, không giảm và 8,5% doanh nghiệp giảm

Ngành Tài chính, ngân hàng, bảo hiểm:

Hết năm 2013, bức tranh hệ thống ngân hàng đã được cải thiện đáng kể với không ít những mảng màu tươi hơn nhưng vẫn chưa đủ để che lấp những mảng màu xám do tích tụ từ những năm trước đây Năm 2013 là quãng thời gian khó khăn nhất trong nhiều năm qua đối với hệ thống ngân hàng Một số điểm nghẽn của nền kinh tế vẫn chưa thông Thị trường tiền tệ và thị trường chứng khoán vẫn còn nhiều bất ổn nội tại Song, với những nỗ lực thường xuyên, liên tục, cả hệ thống đã bước đầu vượt qua những khó khăn Nhờ đó, không những rủi ro của hệ thống giảm bớt với những chuyển biến tích cực như thanh khoản khả quan hơn, lãi suất huy động đã giảm 2-3% và lãi suất cho vay giảm 3-5% - ngang bằng mức 2006, mà quá trình tái cơ cấu và kết quả hoạt động của

hệ thống ngân hàng cũng đã có những cải thiện đáng kể.a

Trang 24

Thứ nhất, quá trình tái cơ cấu ngân hàng đã đạt được những kết quả ban đầu đáng khích lệ

Được đánh giá là ngành nỗ lực nhất trong "bộ ba" tái cơ cấu nền kinh tế

(ngân hàng – doanh nghiệp Nhà nước - đầu tư công), ngành ngân hàng

đã khá chủ động triển khai tái cơ cấu hệ thống ngân hàng theo đúng mụctiêu đã được Chính phủ cũng như Ngân hàng Nhà nước (NHNN) xác định Không chỉ về vốn mà nhân sự trong ngành ngân hàng cũng có sự xáo trộn lớn Song nếu nhìn từ góc độ tích cực thì đây là động thái cần thiết để sàng lọc lại đội ngũ nhân sự ngành ngân hàng vốn được tuyển dụng quá nhiều tại thời điểm “ra ngõ gặp ngân hàng” cách đây 6-7 năm Hơn nữa, môi trường kinh doanh càng khó khăn thì những yêu cầu, đòi hỏi đối với đội ngũ nhân sự sẽ càng cao hơn, không chỉ về trình độ

chuyên môn nghiệp vụ mà cả về kỹ năng và đạo đức nghề nghiệp, và chỉqua sàng lọc, ngành ngân hàng sẽ có được đội ngũ lao động tinh hơn để

có thể phát triển một cách bền vững

Một tín hiệu đáng mừng là dấu hiệu cho thấy những “mảng sáng” trong hoạt động ngân hàng ngày càng rộng hơn là tốc

độ mở rộng mạng lưới đã và sẽ tiếp tục tăng lên trong thời giantới sau khi kế hoạch mở rộng mạng lưới của các ngân hàng chính thức được “cởi trói”(ii), đồng thời sẽ có sự quản lý chặt chẽ hơn Điều này không chỉ giúp năng động hóa thị trường lao động ngành ngân hàng mà còn giúp tránh được tình trạng phát triển cục bộ tại một số địa bàn lớn

Thứ hai, hiệu quả kinh doanh ngân hàng được cải thiện

Trang 25

Thời gian qua, dù lãi suất huy động liên tục giảm mạnh và không phải lúc nào cũng “kịch trần” nhưng người dân vẫn tiếp tục gửi tiền vào các

tổ chức tín dụng (TCTD) với kỳ hạn dài bởi đây vẫn là kênh đầu tư an toàn và hiệu quả nhất so với các kênh đầu tư khác hiện nay Tính đến cuối tháng 12/2013, tiền gửi VND của dân cư vẫn tăng 15,61% gần bằngmức tăng trưởng 16% năm 2012

Giai đoạn 2011-2012,

Ngành ngân hàng laođao vì hậu quả của tình trạng tăng trưởng quá nóngvới các điều kiện tín dụng được nới lỏng quá mức trước đó Hàng loạt các giải pháp đã được đưa ra để hạ nhiệt tín dụng, nhưng cũng bởi thế tổng lợi nhuận toàn ngành ngân hàng năm 2012 đã sụt giảm gần 50% so với năm 2011(iii) Sang năm 2013, các giải pháp tín dụng tiếp tục được điều hành linh hoạt hơn theo hướng “tái tạo” đường cong lãi suất, mở rộng tín dụng đi đôi với an toàn hoạt động của TCTD, phù hợp với mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ, đồng thời tiếp tục thực hiện các giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh

(SXKD) nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tếở mức hợp lý Nhờđó, cuối tháng 12/2013, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống gần sát mục tiêu

12% Điều này thể hiện nỗ lực rất lớn của ngành ngân hàng bởi nếu nhìnvào tốc độ tăng tín dụng các tháng năm 2013 thì có thể thấy rằng, tín dụng mới chỉ bắt đầu tăng trưởng dương từ quý II Cơ cấu tín dụng đã từng bước hợp lý, hiệu quả và an toàn hơn, đã tập trung được vốn vào lĩnh vực SXKD, nhất là tín dụng đối với các lĩnh vực ưu tiên Nhờđó, tăng trưởng kinh tế vẫn ở mức hợp lý và các ngân hàng đã bắt đầu có lãi trở lại, ngay cả những ngân hàng nhỏ

Không chỉ có vậy, hoạt động của toàn hệ thống ngân hàng đã có những biểu hiện an toàn và hiệu quả hơn Tính đến cuối tháng 31/10/2013, tỷ lệ

an toàn vốn (CAR) có giảm nhẹ, nhưng vẫn ở mức khá cao với 13,64%, cao hơn nhiều so với quy định tối thiểu 9% mà NHNN đang áp dụng; thanh khoản đangđược cải thiện và khá dồi dào so với giai đoạn trước; vốn điều lệ tăng 6,02%; vốn chủ sở hữu tăng 6,33% và ngày càng tiệm

Trang 26

cận tới quy mô vốn điều lệ; tổng tài sản Có tăng 6,66% so với cuối năm 2012.

Thứ ba, xử lý nợ xấu đã đạt được những thành công bước đầu

Tăng nợ xấu không chỉăn

mòn lợi nhuận của các ngân

là 4,55% - tiếp tục giảm so với tháng 10 là 4,73%

Việc xử lý nợ qua VAMC cũng đã có những tiến triển nhất định Tính đến ngày 24/12, VAMC đã mua được gần 32.000 tỷ đồng dư nợ gốc của gần 30 TCTD Dự kiến, năm 2014 VAMC sẽ mua khoảng 100-150

nghìn tỷ đồng Nhờ nỗ lực của Chính phủ, NHNN cũng như sự quyết liệtcủa từng TCTD trong việc xử lý nợ xấu, nên tỷ lệ nợ xấu đã giảm mạnh

từ mức 8,86% tổng dư nợ cuối năm 2012 xuống còn 4,55% đến tháng 11/2013

2 Những mảng màu tối

Mặc dù đã vượt qua được những khó khăn bước đầu nhưng chặng đường đổi mới trước mắt của hệ thống ngân hàng Việt Nam vẫn còn rất nhiều chông gai Năng lực cạnh tranh của nền kinh tế tuy có tăng nhẹ, nhưng vẫn thấp so với khu vực (xếp thứ 70/148 quốc gia) Lạm phát được kiềm chế Tính thanh khoản của hệ thống ngân hàng đã dồi dào hơn nhưng vẫn chưa ổn định,

nợ xấu đã giảm nhưng còn ở mức cao,…Vì thế, những chướng ngại vật

Trang 27

phía trước đang đặt ra nhiều thách thức không nhỏ đối với hệ thống ngânhàng trong giai đoạn tới Cụ thể:

Một là, tổng cầu suy giảm gây khó khăn cho việc hấp thụ vốn.

Tuy tăng trưởng tín dụng từ quý II trở đi đã bắt đầu dương và tăng đều đặn qua các tháng nhưng vẫn không thể đạt được mục tiêu đề ra do khả năng hấp thụ vốn rất thấp nên dù hiện nay, lãi suất cho vay đã giảm rất nhiều, nhưng dòng vốn vẫn chưa thể luân chuyển thông suốt Một mặt là

do nợ xấu tồn đọng, các DN không dễ trả được, kể cả phát mại TSBĐ, khiến cho các ngân hàng cũng thận trọng hơn Mặt khác là do các DN gặp nhiều khó khăn nên nhu cầu vay vốn cũng giảm đi Thực tế cho thấy, lợi nhuận của các DN niêm yết ngành cao su quý III/2013 giảm trên 30%, ngành khoáng sản giảm gần 60%,…(iv) Vì vậy, dù lãi suất đã

hạ, nhiều gói ưu đãi được thiết kế, song không thể giải quyết được nên việc mở rộng tín dụng gắn với nâng cao chất lượng khoản vay vẫn rất khó khăn

Hai là, nợ xấu vẫn là rào cản đối với hoạt động ngân hàng.

Dù nhìn vào các con số thì có thể thấy rằng nợ xấu đang giảm đi nhưng mức độ giảm thực tế ra sao thì vẫn chưa thể đánh giá được, bởi việc xử

lý nợ xấu phụ thuộc nhiều vào các điều kiện kinh tế vĩ mô và thị trường, trong khi tiêu thụ hàng hoá còn chậm, năng lực tài chính và khả năng trả

nợ của DN còn thấp Thị trường BĐS chậm phục hồi, TTTC trì trệ càng gây khó khăn cho việc bán, xử lý TSBĐ tiền vay để thu hồi nợ Trong khi đó các giải pháp điều hành kinh tế vĩ mô, tháo gỡ khó khăn cho

SXKD, hỗ trợ thị trường BĐS luôn có độ trễ và cần phải có thời gian phát huy tác dụng Đã vậy, các giải pháp xử lý nợ xấu lại chưa được triển khai đồng bộ mà chủ yếu vẫn là TCTD tự xử lý nợ xấu nên đã làm giảm mức độ lành mạnh tài chính, hiệu quả kinh doanh của TCTD trong ngắn hạn Cơ chế, chính sách xử lý TSBĐ còn nhiều rất vướng mắc, phức tạp, chậm được khắc phục, hoàn thiện để tạo điều kiện thuận lợi cho xử lý nợ xấu VAMC đã được thành lập, đã mua nợ, song việc giải quyết số nợ này ra sao là cả một vấn đề

Trang 28

Ba là, khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) thực hiện tái cơ cấu chậm.

Hơn 1 năm qua, tiến trình cổ phần hóa vẫn hết sức chậm chạp, năm 2012

cả nước chỉ cổ phần hóa có 13 DN, bằng 14% kế hoạch 7 tháng đầu năm nay, cũng chỉ có thêm 16 DN được cổ phần hóa Việc thoái vốn thì

ì ạch vì thị trường BĐS, TTCK đều đi xuống Thoái vốn còn theo tư duybán để cắt lỗ, chứ không phải là để phân bổ lại nguồn lực Vì thế, không những không thực hiện được chức năng là “lực đẩy” cho phát triển kinh

tế mà còn ảnh hưởng lớn tới hoạt động kinh doanh ngân hàng, bởi đây làđối tượng khách hàng rất lớn của các NHTM, là nơi hấp thụ vốn của nềnkinh tế và cũng là nơi tạo ra của cải vật chất cho xã hội nên tháo gỡ nút thắt từ phía DNNN được coi mà giải pháp quan trọng để cải thiện hoạt động tín dụng Tái cơ cấu nền kinh tế thông qua cổ phần hóa DNNN là một nhiệm vụ cấp bách trước bối cảnh suy thoái kinh tế gần đây Không những thế, cần nâng cao năng lực cạnh tranh cho những DN này để làm đầu tàu cho nền kinh tế những năm tới Muốn vậy, các DN này phải được định giá tài sản chính xác dựa trên tính công khai, hiệu quả, có chế

độ tài chính phù hợp với chuẩn mực quốc tế

II. Lộ Trình giảm lãi suất huy động vốn

1. Lộ trình giảm lãi suất giai đoạn 2011-2013

Từ tháng 9/2011 đến tháng 6/2013, NHNN đã 8 lần điều chỉnh giảm trầnlãi suất huy động tiền gửi VND Đầu năm 2011, đứng trước nguy cơ lạmphát cao, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày

24/2/2011 về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội

Ngay sau đó, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã có nhiều giải pháp

khống chế tốc độ tăng trưởng dư nợ và dư nợ cho vay đối với lĩnh vực phi sản xuất trong năm 2011 lần lượt là 20% và 16%

Trang 29

Ngày 03/03/2011, NHNN đã ban hành Thông tư số 02/TT-NHNN qui định trần lãi suất huy động VND của các TCTD là 14% Từ tháng

9/2011 đến tháng 3/2014, NHNN đã 9 lần điều chỉnh giảm trần lãi suất huy động tiền gửi VND Hiện trần lãi suất tiền gửi không kỳ hạn và có

kỳ hạn dưới 1 tháng giảm từ 1,2% xuống 1%/năm, kỳ hạn từ 1 tháng đếndưới 6 tháng giảm từ 7%/năm xuống 6%/năm, lĩnh vực ưu tiên giảm từ 9%/năm xuống 8%/năm

Đối với tiền gửi ngoại tệ, từ tháng 4/2011 đến nay, NHNN đã 3 lần điều chỉnh giảm lãi suất tiền gửi USD, đưa lãi suất tiền gửi USD của tổ chức

và cá nhân xuống còn 0,25%/năm và 1%/năm

Cùng với giảm lãi suất huy động, NHNN đã triển khai nhiều biện pháp

để giảm mặt bằng lãi suất cho vay, đặc biệt là đối với 5 lĩnh vực ưu tiên

là nông nghiệp, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp vừa và nhỏ

và doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao Riêng trong thời gian từ

tháng 6/2012 đến 6/2013, NHNN đã 5 lần điều chỉnh giảm trần lãi suất đối với các lĩnh vực và ngành nghề này Hiện nay, lãi suất cho vay đối với những lĩnh vực này dao động trong khoảng 9%/năm so với mức 13%/năm trước đây

Tính tới thời điểm hiện tại “Dư địa lãi suất khá hẹp” Theo báo cáo về triển vọng kinh tế vĩ mô Việt Nam, cập nhật đầu tháng 8 vừa được

HSBC công bố lãi suất huy động: Khó còn dư địa giảm thêm với lạm phát kỳ vọng năm tới ở mức 8% thì khả năng lãi suất tiết kiệm khó có cơgiảm thêm

Theo báo cáo của Ngân hàng nhà nước vừa đưa ra cho thấy, lãi suất huy động tiền đồng tuần qua tương đối ổn định so với tuần trước do kỳ hạn dưới 12 tháng, giảm khoảng 0.5%-1% năm ở kỳ hạn 12 tháng trở lên Nhưng trên thực tế thị trường hiện nay, cuộc đua lãi suất tiền gửi đang dần nóng lên

Trang 30

III. Lãi suất cho vay của các Ngân Hàng Thương Mại

1. Thực trạng hiên nay

Trang 31

Trong bối cảnh NH dư thừa thanh khoản, lãi suất huy động giảm, kỳ vọng mặt bằng lãi suất cho vay sẽ sớm giảm xuống đang dấy lên Trước đó, NHNN đã phát đi thông điệp năm 2014 có thể giảm lãi suấtcho vay 1-2%.

Theo đó, NHNN đã tiên phong bằng việc điều chỉnh giảm 1%/năm mức lãi suất của NHTM nhà nước áp dụng trong năm 2014 đối với dư

nợ các khoản cho vay hỗ trợ mua nhà ở từ mức 6%/năm của năm

2013 xuống 5%/năm

NHNN cũng cho biết hiện mức lãi suất cho vay phổ biến đối với 5 lĩnh vực ưu tiên là 7-9%/năm; lãi suất cho vay lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác ở mức 9-11,5%/năm đối với cho vay ngắn hạn; 11,5-

13%/năm đối với cho vay trung và dài hạn, trong đó một số doanh nghiệp có tình hình tài chính lành mạnh, minh bạch, phương án, dự ánsản xuất kinh doanh hiệu quảđã được các NHTM cho vay với mức lãisuất chỉ 6-7%/năm

Mới đây, NHNN tiếp tục kêu gọi các NHTM giảm lãi suất cho vay,

kể cả các khoản vay cũ về 13%/năm Song song đó, trong 2 tháng đầunăm, các NHTM cũng đua nhau tung ra hàng loạt gói tín dụng ưu đãi lãi suất 8-9%/năm, thậm chí có NHTM còn áp dụng lãi suất ưu đãi đặc biệt 5%/năm

Tuy nhiên, mức lãi suất cho vay thực tế của các NHTM vẫn cao hơn mức NHNN công bố Đại diện một công ty chế biến gỗ tại quận 12, TPHCM, cho biết mới đây doanh nghiệp này đã tìm đến một

NHTMCP yêu cầu vay ngắn hạn 800 triệu đồng để thực hiện hợp đồng xuất khẩu, nhưng NH cho biết lãi suất vay 13%/năm

2. Một số hạn chế của việc Dư thừa vốn do lãi suất cho vay không hấp dẫn được doanh nghiệp

Ngày đăng: 22/05/2016, 21:22

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w