Từ lâu, vấn đề an ninh lương thực đã được hết sức quan tâm, không chỉ ở phạm vi mỗi quốc gia mà còn trên toàn cầu, phản ánh rõ tính chất dễ thay đổi của giá cả hàng nông nghiệp và sự bất
Trang 1VIỆN NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ KINH TẾ TRUNG ƯƠNG
TRUNG TÂM THÔNG TIN - TƯ LIỆU
-
ĐẢM BẢO AN NINH LƯƠNG THỰC
TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM
MỤC LỤC
I AN NINH LƯƠNG THỰC CỦA THẾ GIỚI
1 An ninh lương thực của cả loài người
2 Tình hình an ninh lương thực trên thế giới
3 Tác động của an ninh lương thực thế giới đến các quốc gia, dân tộc
4 Định hướng giải pháp nhằm đảm bảo an ninh lương thực trên thế giới
II AN NINH LƯƠNG THỰC CỦA VIỆT NAM
1 An ninh lương thực quốc gia
1.1 An ninh lương thực quốc gia (toàn dân tộc) 1.2 An ninh lương thực ở Việt Nam
2 Tình hình lương thực, thực phẩm ở Việt Nam
3.4 Hiện tượng đầu cơ và tình trạng thiếu thông tin, thông tin không minh bạch trên thị trường lương thực
3.5 Hạn chế về kết cấu hạ tầng
Trang 23.6 Hạn chế về đầu tư cho phát triển nông nghiệp, nông thôn
3.7 Ảnh hưởng của tình hình lạm phát tăng cao
4 Những định hướng giải pháp nhằm đảm bảo an ninh lương thực trong thời gian tới
4.1 Nâng cao năng suất lao động trong sản xuất nông nghiệp 4.2 Ồn định diện tích đất canh tác
4.3 Chú trọng việc đào tạo nghề, tạo việc làm cho người nông dân bị mất đất nông nghiệp
4.4 Chủ động đề phòng, khắc phục những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và dịch bệnh
4.5 Hoàn thiện kết cấu hạ tầng nông thôn 4.6 Tăng cường năng lực dự trữ lương thực và cải thiện hiệu quả chuỗi cung ứng nông nghiệp
4.7 Nâng cao nhận thức của người dân nói chung và nông dân nói riêng về an ninh lương thực
KẾT LUẬN
Trang 3I AN NINH LƯƠNG THỰC CỦA THẾ GIỚI
1 An ninh lương thực của cả loài người
Cầu về các hàng hóa nông nghiệp có độ co giãn rất thấp đối với những thay đổi về giá cả bởi vì người tiêu dùng vẫn phải tiêu thụ một lượng lương thực nhất định cho dù mức giá như thế nào Tương tự như vậy, nguồn cung các sản phẩm nông nghiệp cũng không co giãn nhiều với giá, đặc biệt là trong ngắn hạn, bởi vì sản xuất nông nghiệp không thể phản ứng nhanh với những thay đổi của giá cả do
có độ trễ trong sản xuất Những đặc điểm nêu trên của cầu và cung hàng hóa nông nghiệp khiến cho những thay đổi nhỏ trong sản xuất nông nghiệp do những nhân tố bên ngoài như thay đổi về các điều kiện tự nhiên hay thời tiết cũng có thể dẫn đến
sự dao động lớn về giá cả Đối với các sản phẩm lương thực cơ bản, giá cả thị trường- và do vậy thu nhập của người nông dân- là không ổn định Từ lâu, vấn đề
an ninh lương thực đã được hết sức quan tâm, không chỉ ở phạm vi mỗi quốc gia
mà còn trên toàn cầu, phản ánh rõ tính chất dễ thay đổi của giá cả hàng nông nghiệp và sự bất trắc trong cung ứng các sản phẩm lương thực
Thừa nhận tầm quan trọng của an ninh lương thực, Hội nghị Thượng đỉnh Lương thực Thế giới (WFS), dưới sự bảo trợ của Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc (FAO), năm 1996 đã đưa ra khái niệm về an ninh lương thực trong Kế hoạch
hành động của mình như sau: “An ninh lương thực là trạng thái mà ở đó tất cả mọi
người, tại mọi thời điểm, đều có sự tiếp cận cả về mặt vật chất và kinh tế với nguồn lương thực đầy đủ, an toàn và đủ dinh dưỡng, đáp ứng chế độ ăn uống và thị hiếu lương thực của mình, đảm bảo một cuộc sống năng động và khỏe mạnh” (WFS, 1996) Khái niệm an ninh lương thực có thể được sử dụng ở nhiều cấp độ khác nhau, từ gia đình, cộng đồng cho đến quốc gia và toàn thế giới Theo nghĩa này, an ninh lương thực của cả loài người được hiểu là luôn luôn đảm bảo có sự cung cấp đầy đủ lương thực cho cả loài người, đảm bảo trên toàn thế giới không ai bị đói và mọi người đều được hưởng thụ cuộc sống năng động và khỏe mạnh
Từ khái niệm trên đây, FAO đã nêu ra một số điều kiện cơ bản cần phải được đáp ứng để đảm bảo có an ninh lương thực
(1) Sự sẵn có nguồn lương thực: sự cung ứng đầy đủ lương thực phải được đảm bảo một cách bền vững, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của thế giới do dân số gia tăng và chế độ ăn uống đang thay đổi
(2) Sự tiếp cận với nguồn lương thực: an ninh lương thực chỉ có thể đạt được khi đảm bảo có sự tiếp cận cả về mặt vật chất và kinh tế với nguồn lương thực Trong khi những nhân tố ảnh hưởng đến sự tiếp cận về mặt vật chất, chẳng hạn như chiến tranh, cấm vận xuất khẩu hoặc những vấn đề liên quan đến vận tải là phổ
Trang 4biến ở cả các nước phát triển và đang phát triển, thì những nhân tố quyết định đến
sự tiếp cận về mặt kinh tế là đặc biệt nghiêm trọng ở các nước đang phát triển
(3) Sự ổn định của nguồn cung lương thực: lương thực phải được cung ứng với giá cả hợp lý và ổn định Sự ổn định của nguồn cung lương thực có ý nghĩa quan trọng hơn đối với các nước đang phát triển, bởi vì các nước này thường phải
lệ thuộc nhiều vào nhập khẩu lương thực từ nước ngoài trong khi lại hạn chế nguồn ngoại tệ
(4) Sự an toàn, chất lượng của nguồn lương thực: nguồn lương thực cung ứng phải đảm bảo an toàn, có chất lượng tốt, thỏa mãn nhu cầu về chế độ ăn uống
và thị hiếu của người tiêu dùng
Như vậy, để có an ninh lương thực cho cả loài người thì những điều kiện trên phải được đáp ứng trên phạm vi toàn thế giới Nó đòi hỏi phải liên tục có sự cải thiện trong hoạt động sản xuất nông nghiệp, cải thiện hiệu quả của hệ thống phân phối lương thực toàn cầu và nâng cao khả năng mua hàng của các bộ phận dân cư Trong bối cảnh vai trò nông nghiệp thế giới đang thay đổi, nông nghiệp không chỉ cung cấp lương thực, thực phẩm cho con người mà còn cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp năng lượng, có ý kiến cho rằng cần phải hiểu an ninh lương thực theo nghĩa rộng hơn Theo đó, an ninh lương thực là phải đảm bảo có
đủ lương thực cho xã hội để không ai bị đói và người làm ra lương thực không bị nghèo đi, dù là nghèo đi một cách tương đối so với mặt bằng xã hội Nếu chỉ nhấn mạnh vế thứ nhất thì sản xuất sớm hay muộn cũng suy giảm, đất cho sản xuất nông nghiệp sẽ bị suy giảm, ảnh hưởng đến tính sẵn có và tính ổn định của nguồn cung lương thực
Ngày nay, việc đảm bảo an ninh lương thực, dù là theo nghĩa hẹp hay nghĩa rộng, cho cả loài người đặt ra những thách thức lớn cho các quốc gia cũng như cho cộng đồng thế giới Nó đòi hỏi sự nỗ lực của bản thân các quốc gia, đồng thời phải
có sự phối hợp, chung tay hành động giữa các quốc gia trong việc giải quyết các vấn đề an ninh lương thực
2 Tình hình an ninh lương thực trên thế giới
Đánh giá khái quát, trong vòng vài thập kỷ qua tình hình an ninh lương thực trên thế giới đã có sự cải thiện đáng kể, tuy nhiên mức độ cải thiện của mỗi khu vực là không giống nhau, và điều đáng quan ngại là thời gian gần đây đã xuất hiện những dấu hiệu cho thấy sự xấu đi của an ninh lương thực Những tiến bộ vượt bậc trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là những thành tựu đạt được từ cái gọi là “kỳ tích liên hoàn” giữa phân bón – cây trồng – tưới tiêu suốt hàng thập kỷ qua, đã góp phần làm gia tăng nhanh chóng sản lượng lương thực trên thế giới Trong vòng 4
Trang 5thập kỷ, từ năm 1955- 1995, tổng sản lượng lương thực thế giới đã tăng 124%, trong khi dân số thế giới chỉ tăng 105% Xu hướng gia tăng sản lượng lương thực tiếp tục kéo dài sang những năm đầu của thế kỷ 21 (Bảng 1)
Bảng 1 Sản lượng lương thực toàn thế giới
Đơn vị: Triệu tấn Bình quân
Tuy nhiên, một vài năm gần đây đã xuất hiện những yếu tố biểu hiện tình hình an ninh lương thực thế giới đang bị xấu đi, đặc biệt là từ năm 2007 đến nay thế giới thực sự lâm vào cái gọi là “cuộc khủng hoảng lương thực” Trước tiên là
sự sụt giảm sản lượng lương thực thế giới Sau khi sản lượng lương thực (loại có hạt) tăng liên tục và đạt mức kỷ lục gần 2.300 triệu tấn vào năm 2004 thì những năm sau đó lại sụt giảm, đến năm 2007 sản lượng chỉ còn hơn 2.100 triệu tấn (Bảng 1) Năm 2007, bình quân lương thực đầu người (có hạt) toàn thế giới xấp xỉ
320 kg, riêng châu Phi chỉ có 140 kg Trên thế giới, có tới 70 quốc gia và vùng lãnh thổ sản lượng lương thực bình quân đầu người chỉ đạt dưới 100 kg Sản lượng lương thực bình quân đầu người của nhiều nước đang phát triển ngày một giảm sút
so với thời kỳ 1999-2001, năm 2003, có 20/47 nước, năm 2004 tăng lên 34/47 nước có số liệu
Trang 6Cùng với sự sụt giảm sản lượng, dự trữ lương thực của nhiều quốc gia cũng giảm sút trong những năm qua (Bảng 2) Thực tế này đã ảnh hưởng không nhỏ đến tính sẵn sàng và tính ổn định của nguồn cung lương thực
Bảng 2 Dự trữ lúa gạo trên thế giới (cuối năm)
(Chỉ kể các quốc gia có dự trữ trên 500 nghìn tấn trong 4 năm gần đây)
Nhân tố tiếp theo khiến cho cuộc khủng hoảng lương thực trở nên trầm trọng
là sự tăng vọt của giá cả lương thực từ năm 2006 Theo tính toán của FAO, chỉ số giá lương thực đến tháng 4/2008 đạt 218,2 điểm (tăng 54% so với cùng kỳ 2007), trong đó ngũ cốc là 284 (tăng 92% so với cùng kỳ 2007), sữa là 266, thịt là 136, dầu ăn và chất béo là 269 Giá gạo bình quân năm 2007 trên 300 USD/tấn nhưng cuối tháng 4/2008 là gần 1.000 USD/tấn Giá lúa mì tháng 3/3008 tăng 130% so với cùng kỳ năm 2007, đạt gần 500 USD/tấn
Bảng 2 Chỉ số giá lương thực thế giới1
Trang 7Tháng 3/2008
Tháng 4/2008
Tháng 5/2008
Giá lương thực gia tăng trong bối cảnh lạm phát tăng cao trên toàn thế giới
đã khiến cho thu nhập thực tế của người dân, đặc biệt là người nghèo, sụt giảm nghiêm trọng, và điều này khiến cho khả năng tiếp cận nguồn lương thực của người nghèo vốn đã khó khăn càng trở nên khó khăn hơn
Điều đáng quan ngại là có nhiều yếu tố ngày càng ảnh hưởng tiêu cực đến sản lượng và giá cả lương thực, đáng chú ý là:
-Thứ nhất, diện tích đất sản xuất nông nghiệp trên thế giới đang giảm nhanh Theo FAO, mỗi năm thế giới mất đi từ 5-10 triệu ha đất nông nghiệp do đất bị
Trang 8thoái hóa; tính trong 30 năm qua, có trên 100 triệu ha bị thoái hóa Bên cạnh đó, quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ở các nước đang phát triển, nhất là ở châu Á,
đã phải sử dụng không ít diện tích tự nhiên, trong đó một tỷ lệ lớn là diện tích đất nông nghiệp, đất trồng cây lương thực Ở Trung Quốc, 10 năm qua diện tích đất canh tác giảm từ 1,95 tỷ mẫu còn 1,82 tỷ mẫu; Bănglađét mỗi năm mất 80.000 ha đất nông nghiệp (phần lớn là đất chất lượng tốt); Philippin, một thí dụ điển hình vì việc giảm diện tích trồng lương thực xuống còn khoảng 60% so với những năm 80 của thế kỷ trước Ở Việt Nam chúng ta, trong vòng 5 năm 2001-2005, đất nông nghiệp đã thu hồi chuyển sang đất phi nông nghiệp là 366.440 ha (chiếm 3,89% đất sản xuất nông nghiệp đang sử dụng)
-Thứ hai, từ ba thập kỷ cuối của thế kỷ 20 đến nay, thế giới có nhiều tiến bộ nhảy vọt về khoa học và công nghệ, nhưng nhiều nước, nhiều vùng đã không chú ý tới việc tiếp tục đầu tư vào sản xuất nông nghiệp nói chung, sản xuất lương thực nói riêng Nếu như những năm 60-70 của thế kỷ trước thế giới bước vào cuộc cách mạng xanh (trong đó việc lai tạo thành công và đưa các giống mới của các loại cây lương thực vào sản xuất đại trà), đã tạo nên những bước nhảy về sản lượng lương thực, mà chủ yếu do tăng năng suất, thì nhiều năm gần đây không được chú ý đúng mức không chỉ về giống, mà còn về kỹ thuật canh tác, thu hoạch và sau thu hoạch
Vì vậy, tốc độ tăng năng suất nông nghiệp thế giới ngày càng giảm: nếu như trong thời kỳ 1950-1990, tốc độ tăng năng suất nông nghiệp bình quân là 2,1%/năm, thì trong giai đoạn 1990-2007 tốc độ chỉ tăng bình quân 1,2%/năm
Đầu tư phát triển nông nghiệp cũng không còn là ưu tiên trong các chương trình của cộng đồng tài trợ và các tổ chức quốc tế hỗ trợ và hợp tác phát triển cho các nước đang phát triển Năm 2006, nguồn vốn vay dành cho phát triển nông nghiệp chỉ chiếm 7% ngân sách WB, trong khi năm 1982 là 30%
-Thứ ba, khí hậu trái đất đang có chiều hướng nóng lên, như hiện tượng băng tan làm nước biển dâng lên dẫn đến diện tích trồng cây lương thực bị giảm, thời tiết diễn biến phức tạp, bất thường (lũ, lụt, bão, hạn hán ), gây nhiều thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp (tăng thêm chi phí sản xuất, làm giảm năng suất cây trồng, giảm sản lượng) Theo FAO, nhiệt độ trái đất tăng 1oC thì sản lượng lúa giảm 10% (thời gian qua, nhiệt độ tăng lên trên toàn cầu đã làm giảm sản lượng thu hoạch từ 20%-40% ở nhiều khu vực thuộc châu Á, châu Phi, và Mỹ La tinh) Cũng theo FAO, khoảng 3/4 gien của các loại cây nông nghiệp, hàng trăm gien vật nuôi
có nguy cơ biến mất cũng ảnh hưởng đến năng lực sản xuất nông nghiệp
-Thứ tư, trong khi nguồn cung lương thực bị đe dọa thì nhu cầu lương thực thế giới tiếp tục tăng nhanh do sức ép dân số và thay đổi trong cơ cấu tiêu dùng,
Trang 9đặc biệt do sự gia tăng của tầng lớp trung lưu tại các nước mới nổi (Trung Quốc,
Ấn Độ, Braxin, Nga ) Theo Liên hợp quốc, dân số thế giới đã tăng từ 4,4 tỷ người năm 1980 lên 6,7 tỷ người năm 2008 và dự kiến đạt khoảng 9 tỷ người vào năm 2050 Hiện nay, tầng lớp trung lưu ở Trung Quốc là 170 triệu người, ở Ấn Độ
là 350 triệu người Trong 10 năm qua, nhu cầu của người dân Trung Quốc về thịt tăng 30%, trứng tăng 40%, sữa tăng 4 lần Cơ cấu tiêu dùng chuyển dịch theo xu hướng giảm ngũ cốc, tăng đạm đã “hấp thụ” một lượng lớn lương thực cho sản xuất chăn nuôi (để có 1 kg thịt bò, cần 10 kg ngũ cốc)
- Thứ năm, nền kinh tế thế giới trong các thập niên qua nói chung đều tăng trưởng, nhất là những năm đầu của thế kỷ 21, GDP toàn thế giới năm 2006 đã đạt 48.462 tỷ USD, gấp 1,52 lần năm 2000 (theo giá thực tế) Các nhu cầu về lương thực không chỉ tăng do dân số tăng, mà còn do nhu cầu của các ngành kinh tế khác Đặc biệt, nhiều nước như Mỹ, Tây Âu, và cả Trung Quốc, tuy ở mức độ khác nhau, đang thay năng lượng được khai thác từ dưới đất bằng năng lượng sinh học, sử dụng nhiều lương thực (chủ yếu là ngô, lúa mì, ) để sản xuất nhiên liệu sạch (ethanol và diesel sinh học) Mỹ dùng khoảng 18% ngũ cốc, 30% ngô (dự kiến tăng lên 50%) để sản xuất nhiên liệu sinh học Hiện nay, 15% quỹ đất nông nghiệp
ở Đức và Pháp, khoảng 20% đất trồng ngô tại Mỹ được dùng để sản xuất nhiên liệu sinh học Theo Liên hợp quốc, sản xuất nhiên liệu sinh học có thể làm tăng giá các hạt có dầu và ngũ cốc 30%
- Thứ sáu, thị trường nông sản thế giới bị bóp méo vì chính sách trợ cấp nông nghiệp của các nước công nghiệp phát triển Theo OECD, hàng năm, Mỹ và châu Âu trợ cấp 283 tỷ USD cho nông nghiệp Theo WB, chính sách trợ cấp này và mức thuế quan cao trong nông nghiệp của các nước phát triển đã khiến các nước đang phát triển mất khoảng 100 tỷ USD thu nhập hàng năm Vì vậy, ngay từ vòng đàm phán Urugoay (năm 1987), các nước đang phát triển, đặc biệt là nhóm các nước xuất khẩu nông sản, đã thúc đẩy đàm phán tự do hóa nông nghiệp Dù vậy, đàm phán nông nghiệp tiến triển rất chậm, hiện là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến bế tắc của vòng đàm phán Đôha Có ý kiến cho rằng bế tắc trong tự
do hóa nông nghiệp dẫn đến thực tiễn thương mại xấu ở một số nước, làm tăng mức độ nghiêm trọng của khủng hoảng lương thực Ví dụ, theo cam kết với WTO, hàng năm Nhật Bản nhập khẩu gần 800.000 tấn gạo chỉ để cất trữ trong khi nhiều nước không thể tiếp cận nguồn cung lương thực
- Thứ bẩy, việc nhiều nước xuất khẩu lương thực, khởi đầu là Ấn Độ (cuối năm 2007), và sau đó Ai Cập, Cămpuchia, Mêxicô, Kadắctan…(quý I/2008) hạn chế xuất khẩu càng khiến giá lương thực tăng cao Theo FAO, về tổng thể cung- cầu gạo trên thế giới tương đối cân bằng (năm 2007, tổng cung gạo là 538 triệu tấn,
Trang 10nhu cầu gạo là 435,7 triệu tấn) Gạo là lương thực chính cho hơn 3 tỷ người, nên là mặt hàng rất nhạy cảm Vì vậy, khi giá gạo bắt đầu tăng, nhiều nước kiểm soát giá gạo và xuất khẩu gạo do lo ngại bất ổn trong nước, khiến các nước nhập khẩu gạo
ở Đông Á, Nam Á và châu Phi “hoảng hốt” tăng cường thu mua, tích trữ, lại càng đẩy giá gạo lên rất cao
- Ngoài ra, các cuộc chiến tranh, xung đột, nội chiến kéo dài dai dẳng ở nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt là các nước châu Phi, đã ảnh hưởng trực tiếp tới sự
ổn định của nguồn cung lương thực, tới sức khỏe cộng đồng trên quy mô rộng Theo số liệu của FAO, trong số 34 quốc gia phải đối mặt với tình trạng khẩn cấp
về lương thực năm 2007 thì có tới 18 trường hợp nảy sinh từ những nguyên nhân nêu trên
3 Tác động của an ninh lương thực thế giới đến các quốc gia, dân tộc
Với cuộc khủng hoảng lương thực thế giới đang diễn ra, cộng đồng thế giới
lo ngại rằng nó sẽ phá hỏng những thành quả trong cuộc đấu tranh chống đói nghèo
mà thế giới, cũng như các quốc gia, phải mất hàng thập kỷ mới đạt được Theo FAO, so với cuộc khủng hoảng lương thực 1971-1973, cuộc khủng hoảng lần này
có phạm vi rộng hơn, mức độ nghiêm trọng hơn, với 37 nước chịu tác động trực tiếp Theo ước tính của FAO, năm 2006 thế giới có khoảng 854 triệu người sống trong tình trạng nghèo đói (trong đó có 9 triệu người ở các nước công nghiệp, 25 triệu người ở các nước đang trong thời kỳ quá độ và 820 triệu người ở các nước đang phát triển), đến năm 2007 có thêm 75 triệu người bị đói, và chỉ riêng 6 tháng đầu năm 2008 đã có thêm 50 triệu người rơi vào cảnh nghèo đói, nâng tổng số người bị đói trên thế giới lên gần 1 tỷ người FAO còn cho rằng, tình hình thậm chí
có thể xấu hơn nữa trong năm 2009, nâng số người bị đói thường trực trên thế giới lên 1,5 tỷ người Ngay tại châu Âu, một châu lục được cho là giàu có và sung túc, vẫn có đến 43 triệu người có nguy cơ bị đói do khủng hoảng lương thực
Cụ thể hơn, cuộc khủng hoảng lương thực có những tác động chủ yếu sau đây đến tình hình kinh tế, xã hội, chính trị của các quốc gia trên thế giới
- Khủng hoảng lương thực, mà biểu hiện chính là giá lương thực tăng nhanh,
là một trong những nguyên nhân chủ yếu của tình hình lạm phát toàn cầu, ảnh hưởng mạnh đến các nước chậm phát triển có tỷ trọng lương thực cao trong tiêu dùng Theo IMF, giá lương thực tăng gây ra khoảng 44% lạm phát toàn cầu (67% lạm phát ở châu Á, 43% ở Trung Đông và châu Phi) Thành quả thực hiện mục tiêu phát triển thiên niên kỷ, nhất là trong xóa đói giảm nghèo đang bị thách thức gay gắt Theo WB, giá lương thực tăng 20% thì thêm có 100 triệu người quay lại mức nghèo đói và giá lương thực tăng trong 3 năm qua khiến thành tựu giảm đói nghèo
Trang 11bị đẩy lùi 7 năm, tỷ lệ đói nghèo trên thế giới tăng từ 3-5% Hơn nữa, cuộc khủng hoảng lần này có thể làm tăng tỷ lệ suy dinh dưỡng (hiện đã là 2 tỷ người), nhất là
ở châu Phi và châu Á, tác động lâu dài đến nguồn nhân lực của các châu lục này
- Cuộc khủng hoảng lương thực thế giới có tác động nghiêm trọng đến tình hình an ninh - chính trị của không ít nước Giá lương thực tăng cao tác động trực tiếp đến chất lượng sống của người dân, thậm chí là sự sống còn của người nghèo Khủng hoảng lương thực có thể dễ dàng thổi bùng bạo lực ở những nơi nghèo khó, làm sâu sắc thêm xung đột bạo lực giữa các sắc tộc Thậm chí ở nhiều nước đã xảy
ra bạo động, biểu tình như Haiiti, Camơrun, Xênêgan, Buốckina Phaxô Hơn nữa, cuộc khủng hoảng còn đào sâu hố ngăn cách giàu- nghèo, đẩy các nước chậm phát triển lún sâu hơn vào vòng xoáy đói nghèo và bất ổn
Bên cạnh những tác động tiêu cực nêu trên, cuộc khủng hoảng lương thực lần này cũng khiến cộng đồng thế giới và các quốc gia phải nhìn nhận lại nhiều vấn
đề liên quan đến tự do hóa nông nghiệp, chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn, hay vấn đề đẩy mạnh ứng dụng khoa học và công nghệ vào sản xuất nông nghiệp Cụ thể là:
- Cuộc khủng hoảng lương thực tác động khá phức tạp và nhiều chiều đến vòng đàm phán Đôha, nhất là đàm phán nông nghiệp Một mặt, phần lớn các thành viên WTO cho rằng việc sớm kết thúc vòng Đôha sẽ giúp giải quyết khủng hoảng lương thực trong trung và dài hạn do: (i) việc hạ thấp hàng rào thuế và xóa bỏ trợ cấp sẽ giúp ổn định giá lương thực trong dài hạn; (ii) việc xóa bỏ những méo mó trong thương mại quốc tế sẽ giúp nguồn cung điều chỉnh nhanh chóng và hiệu quả đối với sự thay đổi của nhu cầu lương thực Mặt khác, có ý kiến cho rằng khủng hoảng lương thực khiến các nước có quan điểm thận trọng hơn đối với tự do hóa nông nghiệp, thậm chí có thể quay lại chủ trương “tự cấp tự túc lương thực” Tại cuộc họp của WB hồi tháng 4/2008 với sự tham gia của 150 Bộ trưởng Nông nghiệp, Bộ trưởng Nông nghiệp Pháp coi cuộc khủng hoảng lương thực hiện nay là một lý do biện minh cho bảo hộ nông nghiệp, và các nước nên tham khảo kinh nghiệm Chương trình Nông nghiệp chung châu Âu (CAP) Các tổ chức phi chính phủ (NGO) cho rằng vòng Đôha không thể giải quyết được cuộc khủng hoảng lương thực vì không tạo động lực sản xuất, mà chỉ bảo vệ lợi ích của các tập đoàn
đa quốc gia thay vì lợi ích của người nông dân, người sản xuất nhỏ
Cuộc khủng hoảng lương thực hiện nay tác động đến tiến trình đàm phán nông nghiệp trên hai khía cạnh Thứ nhất, việc nhiều nước đang phát triển cắt giảm thuế quan đối với nông sản nhằm bảo đảm an ninh lương thực có thể là tiền đề để buộc các nước phát triển đáp ứng thực chất hơn các điều kiện trong đàm phán nông
Trang 12nghiệp Thứ hai, vấn đề rào cản xuất khẩu sẽ được đề cập trong vòng Đôha (Nhật Bản và Thụy Sỹ đang tích cực thúc đẩy) có thể dẫn đến quy định mới của WTO trong lĩnh vực này
- Cuộc khủng hoảng lương thực thế giới lần này với những tác động nặng nề
đã khiến cho cộng đồng thế giới cũng như các quốc gia đều nhận thấy cần dành vị trí cao hơn cho nông nghiệp trong chiến lược phát triển của mình và dành nhiều nguồn lực hơn đầu tư cho nông nghiệp Tổng Giám đốc FAO Jaques Diouf đã nhận định rằng: "Đây là cơ hội vàng để thực hiện các chiến lược, chính sách phát triển
nông nghiệp, nhất là ở các nước nghèo"
- Cuộc khủng hoảng lần này cũng có thể tạo động lực phát triển khoa học và công nghệ trong nông nghiệp Khủng hoảng lương thực thế giới 1971-1973 đã thúc đẩy mạnh cách mạng “xanh”, cách mạng “trắng” ở các nước đang phát triển, giúp tăng năng suất nông nghiệp Tổng Thư ký Liên hợp quốc nhấn mạnh cộng đồng quốc tế cần phát triển một thế hệ công nghệ mới, tạo ra cuộc “cách mạng xanh lần thứ 2”, nâng cao sản lượng nông nghiệp một cách bền vững với những thiệt hại nhỏ nhất về môi trường
4 Định hướng giải pháp nhằm đảm bảo an ninh lương thực trên thế giới
Các phần trình bày trên đây cho thấy rằng an ninh lương thực là vấn đề có tính chất toàn cầu Vì vậy, việc thực hiện các giải pháp nhằm hạn chế và ngăn chặn khủng hoảng lương thực hiện nay, tiến tới đảm bảo an ninh lương thực bền vững, đòi hỏi sự nỗ lực và đóng góp của tất cả các quốc gia trên thế giới Về nguyên tắc, các giải pháp cần tập trung vào việc đảm bảo những nhân tố cấu thành của an ninh lương thực, đó là: sự sẵn có và ổn định của nguồn cung lương thực; khả năng tiếp cận với nguồn cung lương thực; và sự an toàn của nguồn cung lương thực Cụ thể trong bối cảnh hiện nay, các giải pháp cần hướng tới việc tăng cung lương thực và cải thiện khả năng tiếp cận với nguồn lương thực của người dân trên toàn thế giới, đặc biệt là ở những nước nghèo, những nước phải chịu tác động nghiêm trọng của khủng hoảng lương thực
- Thứ nhất, tăng cường đầu tư cho phát triển nông nghiệp, trong đó quan trọng là tập trung đầu tư cho khoa học và công nghệ, đẩy mạnh ứng dụng khoa học
và công nghệ rộng khắp trên toàn thế giới từ khâu giống đến kỹ thuật trồng trọt, thu hoạch và sau thu hoạch, đặc biệt nhấn mạnh hạn chế việc giảm diện tích đất nông nghiệp, và cải tạo nâng cao độ mầu mỡ của đất đai Từ đó nâng cao năng suất cây trồng, tăng sản lượng lương thực, hay nói cách khác là đưa thế giới bước vào cuộc “Cách mạng xanh lần thứ 2” Điều này cần có sự đầu tư rất lớn và liên tục trên toàn thế giới, đặc biệt ở các nước đang phát triển, mà ở đó năng suất thu hoạch
Trang 13trên đất nông nghiệp thấp, với sự đầu tư của các nước phát triển, các nước có thu nhập cao, và sự hợp tác, điều phối toàn cầu (vai trò này có thể thuộc về FAO) Cộng đồng quốc tế cần tính toán chuyển mục tiêu sử dụng ODA nhiều hơn vào các
dự án làm tăng độ mầu mỡ của đất nông nghiệp nói chung, đất trồng cây lương thực nói riêng
Đảm bảo đầy đủ đầu vào, nhất là hạt giống và phân bón, cho các vụ mùa, đặc biệt là cho các nông hộ nhỏ ở những nước nghèo FAO, Quỹ quốc tế Phát triển Nông nghiệp, các ngân hàng phát triển khu vực và WB có thể đẩy mạnh nỗ lực này, thông qua hợp tác với các tổ chức xã hội phi chính phủ và các nhà tài trợ song phương Điều quan trọng không chỉ là tài chính, mà còn là hệ thống phân phối nhanh chóng Bên cạnh đó, cần sáng tạo những phương thức quản lý rủi ro và bảo hiểm mùa màng cho nông hộ nhỏ
- Thứ hai, Mỹ và các nước châu Âu cần xem xét lại chính sách tăng cường
sử dụng nhiên liệu sinh học chiết xuất từ ngô và hạt có dầu2 Các quốc gia này cần tìm cách nâng nhiên liệu sinh học lên thế hệ thứ hai, sử dụng xenlulô, có thể chiết xuất từ mía Cần giảm thuế nhập khẩu ethanol vào thị trường Mỹ và châu Âu, qua
đó có thể làm tăng sản xuất nhiêu liệu sinh học từ mía, sẽ không cạnh tranh trực tiếp tới sản xuất lương thực, đồng thời tạo cơ hội cho các nước nghèo hơn như ở châu Phi hay Mỹ Latinh
- Thứ ba, tạo sự thông thoáng, bình đẳng về thương mại quốc tế, đặc biệt là
về lương thực giữa các quốc gia Một trong các biện pháp này là minh bạch hóa thông tin về sản xuất, thương mại, giá cả, dự trữ lương thực ở các quốc gia (nhất là các quốc gia sản xuất nhiều lương thực, các quốc gia dự trữ nhiều lương thực và các quốc gia sử dụng nhiều lương thực) Cần bãi bỏ việc cấm và hạn chế xuất khẩu lương thực ở những quốc gia sản xuất và xuất khẩu lương thực, nhằm tăng lượng cung và hạ giá lương thực trên thị trường thế giới Theo WB, Ấn Độ gần đây đã nới lỏng hạn chế xuất khẩu, nhưng 28 nước khác vẫn còn kiểm soát xuất khẩu Hiện chỉ có 7% tổng sản lượng gạo toàn cầu được đưa ra thị trường, và nếu Nhật Bản có thể cung cấp một phần kho dự trữ của mình vì mục đích nhân đạo, và Trung Quốc bán 1 triệu tấn gạo, thì có thể ngay lập tức giảm giá gạo trên thị trường thế giới Lâu dài hơn, cần kết thúc vòng đàm phán Đôha để loại bỏ những biến dạng thị trường do trợ cấp và thuế nông sản, để tạo ra một thị trường lương thực toàn cầu linh hoạt, hiệu quả và công bằng hơn
2 Sản lượng ngô trên toàn cầu đã gia tăng trong 3 năm qua, nhưng chương trình chiết xuất ethanol của Mỹ đã tiêu tốn 75% số gia tăng đó.
Trang 14- Thứ tư, cần phải đẩy mạnh đầu tư vào các doanh nghiệp nông nghiệp để có thể huy động khu vực tư nhân vào toàn bộ chuỗi giá trị: phát triển đất và nước bền vững; chuỗi cung ứng; giảm lãng phí; cơ sở hạ tầng và hậu cần, giúp những nhà sản xuất ở các nước đang phát triển đạt chuẩn an toàn lương thực; kết nối từ bán lẻ tới nông dân ở các nước đang phát triển; và hỗ trợ tài chính cho buôn bán lương thực Điều này sẽ góp phần cải thiện hệ thống phân phối lương thực, nhất là ở những nước nghèo, những nước sản xuất dư thừa lương thực nhưng người dân vẫn khó khăn tiếp cận với nguồn cung lương thực
- Thứ năm, cộng đồng quốc tế cần có hành động tập thể để hóa giải những rủi ro toàn cầu Những thách thức về năng lượng, lương thực và nước có mối liên quan lẫn nhau, sẽ là những yếu tố thúc đẩy kinh tế và an ninh toàn cầu Theo sáng kiến của WB, các nước phát triển và đang phát triển cần nghiên cứu để cùng tạo ra một kho “sản phẩm toàn cầu” theo mô hình Cơ quan Năng lượng Quốc tế, với những quy định rõ ràng và minh bạch Đây có thể sẽ là nguồn bảo hiểm cho người nghèo nhất, nhằm cung cấp lương thực ở mức giá chấp nhận được
Trước mắt, các tổ chức quốc tế cần dành một quỹ (không chỉ bằng tiền, mà còn bằng lương thực) nhất định và có sự thực thi nhanh chóng để góp phần như một lực lượng “phản ứng nhanh” để cứu trợ cho các vùng bị khủng hoảng lương thực nặng nề, đe dọa sinh mệnh của người dân thiếu lương thực Theo EU, trong nửa cuối năm 2009, thế giới cần 18 tỷ Euro để giúp 59 quốc gia chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng lương thực toàn cầu này, riêng các nước EU đã soạn thảo kế hoạch giảm nhẹ tác động của khủng hoảng lương thực hiện nay bằng việc thành lập quỹ trị giá 1 tỷ Euro (1,6 tỷ USD) để viện trợ lương thực, hỗ trợ tài chính cho sản xuất lương thực, các biện pháp bảo đảm dinh dưỡng cũng như hệ thống dự trữ khoản viện trợ nhân đạo Hội nghị thượng đỉnh các nước G8 (họp tại Ôsaka tháng 6/2008) đã nhất trí thành lập hệ thống dự trữ lương thực, theo đó có một số kho dự trữ lương thực và tung ra thị trường kịp thời để bình ổn giá lương thực khi cần thiết WB đã chuẩn bị một quỹ 1,2 tỷ USD để cung cấp nhanh nhằm giải quyết các nhu cầu trước mắt từ cuộc khủng hoảng lương thực cho các nước đặc biệt rủi ro để mua hạt giống, phân bón, cho các chương trình an sinh xã hội và hỗ trợ ngân sách Năm 2009, WB có kế hoạch sẽ tăng hỗ trợ cho nông nghiệp và các hoạt động có liên quan đến lương thực và thực phẩm từ 4 tỷ USD lên 6 tỷ USD Đây là những
nỗ lực hết sức quan trọng để giúp thế giới vượt qua cuộc khủng hoảng lương thực hiện nay
II AN NINH LƯƠNG THỰC CỦA VIỆT NAM
1 An ninh lương thực quốc gia
Trang 151.1 An ninh lương thực quốc gia (toàn dân tộc)
Trở lại với khái niệm an ninh lương thực do FAO đưa ra năm 1996: “An
ninh lương thực là trạng thái mà ở đó tất cả mọi người, tại mọi thời điểm, đều có
sự tiếp cận cả về mặt vật chất và kinh tế với nguồn lương thực đầy đủ, an toàn và
đủ dinh dưỡng, đáp ứng chế độ ăn uống và thị hiếu lương thực của mình, đảm bảo
một cuộc sống năng động và khỏe mạnh” (WFS, 1996) Như đã nêu, khái niệm an ninh lương thực có thể được sử dụng ở nhiều cấp độ khác nhau Phần A của Chuyên đề này đã đề cập đến an ninh lương thực của cả loài người ở cấp độ toàn cầu Còn ở cấp độ quốc gia, an ninh lương thực của toàn dân tộc được hiểu là luôn luôn đảm bảo có sự cung cấp đầy đủ lương thực cho toàn dân tộc, đảm bảo trên phạm vi toàn quốc không ai bị đói và mọi người đều được hưởng thụ cuộc sống năng động và khỏe mạnh
Để đảm bảo an ninh lương thực của một quốc gia thì quốc gia ấy phải đáp ứng được những điều kiện cơ bản của an ninh lương thực nói chung, bao gồm: (1)
Sự sẵn có nguồn lương thực; (2) Sự tiếp cận với nguồn lương thực;(3) Sự ổn định của nguồn cung lương thực; và (4) Sự an toàn, chất lượng của nguồn lương thực cung ứng
Theo quan điểm toàn diện về an ninh lương thực của mỗi quốc gia, vấn đề không chỉ là sản xuất ra lượng lương thực để đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng của người dân mà còn cần phải quan tâm đến cả ba vấn đề sau đây:
(1) Vấn đề sản xuất: Phải có đủ lương thực để cung cấp cho toàn xã hội trong mọi hoàn cảnh, ở tất cả các vùng miền, địa phương trong cả nước, tại mọi thời điểm
(2) Vấn đề phân phối: Phải có hệ thống cung ứng lương thực đến tay người tiêu dùng với mức giá mà cả người mua và người bán chấp nhận được
(3) Vấn đề thu nhập: Phải tạo điều kiện để mọi người đều có việc làm, có thu nhập để có đủ tiền mua lương thực đáp ứng nhu cầu của bản thân và gia đình
1.2 An ninh lương thực ở Việt Nam
Từ vai trò đặc biệt quan trọng của an ninh lương thực đối với đời sống xã hội, Việt Nam đã xác định đảm bảo an ninh lương thực quốc gia là yếu tố quan trọng, là nền tảng để ổn định chính trị - xã hội, phát triển kinh tế bền vững Đại hội Đảng lần thứ VIII chỉ rõ: "Phát triển nông nghiệp toàn diện hướng vào đảm bảo an
ninh lương thực quốc gia trong mọi tình huống, tăng nhanh nguồn thực phẩm và rau quả, cải thiện chất lượng bữa ăn, giảm suy dinh dưỡng " Đại hội Đảng lần thứ
Trang 16X đã nêu: “Thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và kinh tế
nông thôn, chuyển sang sản xuất các loại sản phẩm có thị trường và hiệu quả kinh
tế cao; đẩy mạnh thâm canh các loại cây trồng trên cơ sở các quy trình sản xuất
đồng bộ và tiên tiến; quy hoạch diện tích sản xuất lương thực ổn định; bảo đảm an
ninh lương thực; phát triển chăn nuôi quy mô lớn, an toàn dịch bệnh và bền vững
về môi trường Xây dựng các vùng sản xuất nông sản hàng hóa tập trung gắn với việc chuyển giao công nghệ sản xuất”. Đảng và Nhà nước đã xác định mục tiêu của chương trình an ninh lương thực quốc gia là phát triển nhanh sản xuất nông nghiệp hàng hoá theo xu hướng đa dạng và bền vững, tăng nhanh khối lượng lương thực, thực phẩm và nâng cao thu nhập, đảm bảo cho mọi người, mọi lúc, mọi nơi
có thể bảo đảm được số lượng và chất lượng lương thực, thực phẩm với yêu cầu ngày càng cao, đủ dinh dưỡng, an toàn vệ sinh để nâng cao sức khoẻ, thể lực và trí lực
An ninh lương thực ở Việt Nam bao gồm ba nội dung chính: lương thực có
đủ, lương thực được cung cấp đều và mỗi gia đình có khả năng kinh tế để có lương thực An ninh lương thực là kết quả tổng hợp của sự phối hợp nhiều hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất, lưu thông, phân phối Để phấn đấu có an ninh lương thực trong những năm vừa qua, Việt Nam tiến hành các biện pháp sau đây:
- Gia tăng sản lượng lương thực thông qua chuyển dịch cơ cấu mùa vụ, cơ cấu cây trồng, cơ cấu giống trồng và cải tiến kỹ thuật trồng trọt
- Giảm thất thoát lương thực trong thu hoạch và bảo quản thông qua cải tiến công nghệ sau thu hoạch
- Phát triển giao thông vận tải, nhất là ở nông thôn, tạo thuận lợi cho lưu thông và phát triển sản xuất lương thực hàng hoá
- Có kế hoạch và tổ chức dự trữ lương thực
- Kế hoạch hoá gia đình, tạo thêm việc làm, xoá đói giảm nghèo để gia đình nào cũng mua được lương thực
- Sử dụng lương thực tiết kiệm
- Phấn đấu giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng
Trước tình trạng thiếu hụt lương thực đang gây xáo động toàn cầu, tình trạng chao đảo của thị trường lương thực, thực phẩm đang diễn ra liên tục ở nhiều nước, Đảng và Nhà nước ta đã xác định rằng việc đảm bảo an ninh lương thực trong tương lai hướng tới việc đảm bảo khả năng tiếp cận và có thu nhập đủ để mua lương thực ở mọi vùng, mọi gia đình, trong mọi biến động thời tiết và thị trường Bên cạnh đó, chú ý tới các khía cạnh khác của an ninh lương thực như chất lượng
Trang 17bữa ăn cân đối dinh dưỡng, đảm bảo vệ sinh đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân
2 Tình hình lương thực, thực phẩm ở Việt Nam
Từ năm 1988 đến nay, nhờ các chính sách đổi mới trong sản xuất nông nghiệp, sản lượng lương thực quy thóc đều tăng mỗi năm, tốc độ tăng lương thực cao hơn tốc độ tăng dân số khoảng 3 lần, do vậy bình quân lương thực đầu người/năm đã tăng lên liên tục, ngay cả trong những năm thiên tai diễn ra nghiêm trọng Giá cả lương thực vẫn bình ổn, lương thực được phân phối cho các vùng khó khăn một cách kịp thời, đảm bảo an ninh lương thực cho hầu hết nhân dân Tuy nhiên, trước những biến động về giá gạo những tháng đầu năm 2008, chúng ta cũng bị ảnh hưởng theo xu thế chung của thế giới
2.1 Tình hình sản xuất lương thực, thực phẩm
Với những chủ trương và chính sách cụ thể đầu tư cho phát triển sản xuất nông nghiệp, tăng sản lượng nhằm đảm bảo an ninh lương thực, trong những năm vừa qua Việt Nam tiếp tục đạt được những thành tích đáng ghi nhận về sản xuất lương thực, thực phẩm (Bảng 4)
Bảng 4 Sản lượng cây lương thực qua các năm
90 – 100 ngày để trồng trước và sau mùa lũ ở Đồng bằng Sông Cửu Long Bên cạnh đó, để tăng sức cạnh tranh của gạo Việt Nam trên thị trường quốc tế, các tỉnh trọng điểm lúa thuộc vùng Đồng bằng Sông Cửu Long đã đầu tư mở rộng diện tích trồng lúa chất lượng cao, áp dụng rộng rãi các chương trình phòng trừ dịch hại tổng